1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BAN TRỊ SỰ PHẬT GIÁO VIỆT NAM HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI: LỊCH SỬ VÀ THỰC TRẠNG

95 65 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 6,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết đề cập đến lịch sử hình thành Giáo hội Phật giáo Việt Nam, quá trình đồng hành của Giáo hội Phật giáoViệt Nam với đất nước trên các công cuộc như: xây dựng và bảo vệ tổ quốc;phá

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

Trang 3

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi.Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng.Những kết luận khoa học trong luận văn chưa từng được công bố trên bất kỳcông trình nào khác

Tác giả luận văn

Lê Ngọc Quang

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô giáo trong Bộ môn Tôngiáo học đã giảng dạy, trang bị kiến thức giúp tác giả nắm vững những vấn đề

lý luận và phương pháp luận để hoàn thành tốt luận văn này Đặc biệt, tác giả

xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Trần Thị Kim Oanh - người thầy

đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tác giả trong suốt quá trình làm luận văn

Con xin đê đầu đảnh lễ và tri ân chư tôn Hòa Thượng, chư Thượng tọalãnh đạo Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã quan tâm, tạo nhiềuthuận duyên cho con trong suốt quá trình học tập, bên cạnh đó nhờ sự độngviên và trợ duyên quý báu của gia đình cũng như đàn na thí chủ

Kính chúc Chư Liệt vị pháp thể khinh an, đạo lộ tấn pháp, chúng sinh

dị độ, Phật đạo viên thành!

Xin chân thành cảm ơn!

Tác giả luận văn

Lê Ngọc Quang

Trang 7

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁCH TIẾP CẬN VÀ KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CỦA BAN TRỊ SỰ GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM HUYỆN GIA LÂM 10

1.1 Một số vấn đề lý luận về cách tiếp cận 10

1.1.1 Các khái niệm cơ bản 10

1.1.2 Cách tiếp cận Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam huyện Gia Lâm là một đơn vị hành chính cấp quận/huyện/thị xã, thành phố thuộc tỉnh của Giáo hội Phật giáo Việt Nam 11

1.2 Khái quát quá trình hình thành, phát triển của Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam huyện Gia Lâm 15

1.2.1 Địa, kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội của huyện Gia Lâm 15

1.2.2 Quá trình du nhập và phát triển của Phật giáo ở huyện Gia Lâm 18

1.2.3 Các dấu mốc đánh dấu sự hình thành, phát triển của Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam huyện Gia Lâm 22

Tiểu kết chương 1 25

Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG VÀ NHỮNG THÀNH TỰU, HẠN CHẾ CỦA BAN TRỊ SỰ GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM HUYỆN GIA LÂM HIỆN NAY 27

2.1 Thực trạng hoạt động của Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam huyện Gia Lâm hiện nay 27

2.1.1 Thực trạng về thực hành niềm tin tôn giáo 27

2.1.2 Thực trạng hoạt động về công tác tổ chức hành chính đạo 38

2.1.3 Thực trạng hoạt động công tác xã hội 45

2.2 Đánh giá về những thành tựu và hạn chế của Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam huyện Gia Lâm 54

2.2.1 Những thành tựu đạt được của Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam huyện Gia Lâm 54

Trang 8

2.2.2 Những hạn chế cần khắc phục của Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo

Việt Nam huyện Gia Lâm 60

Tiểu kết chương 2 61

Chương 3 NHỮNG KHUYẾN NGHỊ, GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN TỔ CHỨC, NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG ĐỐI VỚI BAN TRỊ SỰ GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM HUYỆN GIA LÂM 63

3.1 Những khuyến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức đối với Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam huyện Gia Lâm 63

3.1.1 Những khuyến nghị, giải pháp nhằm nâng cao sự lãnh đạo của Ban Trị sự 63

3.1.2 Những khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ nhân sự 66

3.2 Những khuyến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động đối với Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam huyện Gia Lâm 68

3.2.1 Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam huyện Gia Lâm cần phát huy tính chủ động, tính kế hoạch đối với các hoạt động 68

3.2.2 Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam huyện Gia Lâm cần tăng cường mở rộng hơn nữa sự giao lưu, hợp tác 72

3.2.3 Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam huyện Gia Lâm cần tăng cường mối quan hệ với các cấp chính quyền 73

3.2.4 Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam huyện Gia Lâm cần khẳng định, phát huy vai trò lãnh đạo, ứng dụng nhuần nhuyễn giới luật Phật chế và pháp luật Nhà nước 75

Tiểu kết chương 3 76

KẾT LUẬN 78

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

PHỤ LỤC 86

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Phật giáo ra đời ở Ấn Độ vào thời kỳ văn hóa Vê- đa khi xã hội Ấn Độđang chìm trong chế độ phân biệt đẳng cấp của Bà – la – môn vô cùng khắcnghiệt Phật giáo ra đời như một sự phản kháng mạnh mẽ đối với chế độchính trị đương thời mà như C Mác đã nói: “Sự ra đời của tôn giáo chính là

sự phản ánh và phản kháng chống lại chính xã hội đó” Phật giáo đề cao sựbình đẳng, xóa bỏ phân chia đẳng cấp trong xã hội, Đức Phật đã từng nói

“Không có đẳng cấp trong dòng máu cùng đỏ như nhau, không có đẳng cấptrong giọt nước mắt cùng mặn” Với hệ tư tưởng đơn giản hóa, không cầu kỳ,rườm rà, Phật giáo chủ trương không giáo quyền, thần quyền, nên không có tổchức cầu kỳ theo một hệ thống nhất định Do vậy, ngay từ khi hành đạo Ngàichủ trương không giao giáo quyền quản lý cho ai mà chỉ hướng dẫn đệ tửnương vào giáo lý, giáo luật để duy trì, tồn tại giáo Pháp Nên thưở ban đầuPhật giáo chỉ có những nhóm người cùng đi truyền đạo, gọi là Tăng già hoặcTăng đoàn, hay giáo đoàn Thông thường, Tăng già có từ 4 người trở lên, đếnsau này khi Phật giáo được truyền đi các quốc gia với tinh thần Khế lý – Khế

cơ thì Phật giáo bắt đầu hình thành những tổ chức khác nhau nhằm thuận tiệncho việc sinh hoạt tăng đoàn và phù hợp với địa chính trị cũng như truyềnthống, văn hóa của mỗi quốc gia

Phật giáo vào Việt Nam từ rất sớm, ngay từ những thế kỷ đầu của Côngnguyên Khi vào Việt Nam Phật giáo với những “thuận duyên” (tùy duyênphương tiện), nhiều điểm tương đồng cùng văn hóa Việt Nam nên đã nhanhchóng hòa quyện vào sự phát triển chung của nền văn hóa tín ngưỡng ViệtNam trở thành Phật giáo Việt Nam Tuy nhiên, cùng với thăng trầm của lịch

sử, đến năm 1975 Việt Nam mới thống nhất hai miền Nam - Bắc, nhưng khi

Trang 10

đó ở Việt Nam vẫn tồn tại rất nhiều các tổ chức Phật giáo khác nhau hoạtđộng Với mục đích thống nhất các tổ chức, hệ phái Phật giáo tại Việt Namdưới một tổ chức duy nhất, cuộc Vận động thống nhất Phật giáo được tiếnhành và Phật giáo cũng bắt đầu có một tổ chức thống nhất trên cả nước vớiĐại hội thống nhất Phật giáo được tổ chức vào năm 1981 và được gọi là

“Giáo hội Phật giáo Việt Nam” Giáo hội Phật giáo Việt Nam hoạt động theophương châm: “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa Xã hội”, tổ chức của Giáohội luôn tuân theo Hiến chương Hiện nay thì hầu hết các tỉnh, thành, quận,huyện đều đã thành lập Ban Trị sự Công tác tổ chức của Trung ương Giáohội cũng như các Ban Trị sự điều hành tại địa phương cũng ngày một hoànthiện nhằm hòa nhịp chung cùng sự phát triển của xã hội

Trên thực tế, sự hoạt động của cấp địa phương luôn đóng vai trò khôngnhỏ vì nó là hạt nhân, nền tảng cho sự phát triển chung của Trung ương Giáohội Phật giáo Việt Nam, nên về cơ cấu, nó thuộc cấp hành chính và có condấu riêng để xử lý các vụ việc liên quan trực tiếp thuộc thẩm quyền

Phật giáo huyện Gia Lâm nằm trên địa bàn thành phố Hà Nội, đã cónhiều đóng góp đối với sự phát triển của Phật giáo thành phố Hà Nội nóiriêng, Phật giáo Việt Nam nói chung Để có được những thành tựu đó, khôngthể không kể đến vai trò của Ban Trị sự Phật giáo Việt Nam huyện Gia Lâm1

Là tu sĩ với sự trải nghiệm của bản thân, tôi luôn trăn trở làm thế nào đểcông tác Phật sự huyện nhà đạt được những kết quả tốt vì đó là sự đóng gópcho sự phát triển Phật giáo Việt Nam theo phương châm “Phật pháp - Dân tộc

- Chủ nghĩa xã hội”, trường Do vậy, tôi chọn đề tài: “Ban Trị sự Phật giáoViệt Nam huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội: lịch sử và thực trạng” làm đềtài nghiên cứu Luận văn của mình

1 Tên đầy đủ là Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam huyện Gia Lâm, gọi tắt là Ban Trị sự Phật giáo Việt Nam huyện Gia Lâm

Trang 11

2 Tình hình nghiên cứu

Ban Trị sự Phật giáo Việt Nam huyện Gia Lâm là thành phần trong cơcấu, tổ chức của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, vì vậy, khi nghiên cứu đề tàinày không thể không nhắc tới các tài liệu viết về Giáo hội Phật giáo Việt Namhiện nay nói chung, tổ chức Giáo hội Phật giáo nói riêng

Trước tiên phải kể đến các tài liệu gốc: Hiến chương của Giáo hội Phật giáo Việt Nam là văn kiện căn bản nhất mà qua đó Giáo hội Phật giáo Việt

Nam trình hiện căn cước văn hóa, thiết kế khung sườn tổ chức và quy định vềquy trình vận động của Giáo hội Hiến chương của Giáo hội Phật giáo ViệtNam đã trải qua năm lần tu chỉnh, lần gần đây nhất là tại Đại hội Phật giáo toànquốc lần thứ VII Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam gồm 13 chương,

Thứ hai là tác phẩm của các tác giả nghiên cứu:

Viết về tổ chức Phật giáo thuở ban đầu, Thích Chơn Thiện (1991) có

tác phẩm Tăng già thời Đức Phật, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam.

Trong đó, tác giả đề cập đến các vấn đề sự hình thành của Tăng già, các

Trang 12

chuẩn mực đạo đức, quy định ra nhập Tăng đoàn và những sinh hoạt củaTăng đoàn

Cuốn Hồi ký thành lập Hội Phật giáo Việt Nam (2004) của Hòa thượng

Thích Trí Hải, nhà xuất bản Tôn giáo, Hà Nội đã đề cập đến tiến trình hìnhthành hội đoàn, tổ chức Phật giáo trước khi Giáo hội Phật giáo Việt Namthành lập Cuốn sách cũng dành phần lớn nội dung đề cập đến quá trình vậnđộng thành lập Hội Phật giáo Việt Nam

Nghiên cứu về tổ chức Giáo hội Phật giáo Việt Nam, cuốn Giáo hội Phật giáo Việt Nam từ 1986 đến nay của Tiến sĩ Nguyễn Thị Minh Ngọc

(2014), nhà xuất bản Phương Đông đã đưa ra bức tranh cụ thể về quá trìnhhình thành và phát triển của Giáo hội Phật giáo Việt Nam trên nhiều góc độ.Tác giả đã trình bày sự phát triển của “hệ thống cơ cấu tổ chức của Giáo hộiPhật giáo Việt Nam đang từng bước hoàn thiện về mặt tổ chức” [51, tr.72].Đồng thời trên cơ sở khảo sát thực tiễn, tác giả chỉ ra những ưu, khuyết điểmcủa tổ chức này Tác phẩm cũng đi sâu phân tích mối quan hệ của Giáo hộiPhật giáo Việt Nam với các tổ chức Phật giáo nước ngoài Tuy là một trong

số ít công trình nghiên cứu trực tiếp đề cập tới thực trạng hoạt động, cơ cấu tổchức của Giáo hội Phật giáo Việt Nam ngày nay, song tác phẩm cũng đã đềcập tới sự phát triển hệ thống tổ chức cơ sở của Giáo hội Phật giáo Việt Nam

Viết cụ thể về một Ban trong cấu trúc tổ chức của Giáo hội Phật giáoViệt Nam, Hòa thượng.TS Thích Thanh Điện (Dương Quang Điện) (2017) có

cuốn Quá trình hình thành và phát triển của Ban Hướng dẫn Phật tử Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam giai đoạn từ 1981 đến nay, Nxb Tôn giáo.

Trong cuốn sách đó, tác giả đã khái quát quá trình hình thành và phát triểncủa Ban Hướng dẫn Phật tử Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, chỉ rathực trạng hoạt động của Ban Hướng dẫn Phật tử Trung ương Giáo hội Phậtgiáo Việt Nam,… trong các nội dung đó, ít nhiều có đề cập đến tổ chức của

Trang 13

Giáo hội Phật giáo Việt Nam bởi Ban Hướng dẫn Phật tử Trung ương là mộtban trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Đứng dưới góc độ quản lý, Ban Tôn giáo Chính phủ (2003) có Tập văn bản về tổ chức và đường hướng hành đạo của các tôn giáo tại Việt Nam, Nxb

Tôn giáo, Hà Nội Trong Tập văn bản này, tổ chức và đường hướng hành đạocủa các tôn giáo trong đó có Phật giáo được thể hiện rõ nét

Các bài viết đăng trên các tạp chí như: Bài viết “Giáo hội Phật giáoViệt Nam - 36 năm hình thành và phát triển” của Tâm Đạt (2017), đăng trên

Tạp chí nghiên cứu Phật học số 11 Bài viết đề cập đến lịch sử hình thành

Giáo hội Phật giáo Việt Nam, quá trình đồng hành của Giáo hội Phật giáoViệt Nam với đất nước trên các công cuộc như: xây dựng và bảo vệ tổ quốc;phát triển kinh tế, văn hóa; công tác đối ngoại…

Nghiên cứu của Thích Viên Thành về “Giáo hội Phật giáo Việt Namcần phát huy những thành tựu đã đạt được và tiếp tục củng cố để không

ngừng phát triển”, Kỷ yếu hội thảo kỷ niệm 20 năm thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam (2001), nhà xuất bản Tôn giáo, Hà Nội Tác giả đã chỉ ra

những khó khăn và những điều chưa làm được của Giáo hội Phật giáo ViệtNam [61, tr.197] Thích Thọ Lạc (2008), “Tổ chức Tăng đoàn thời Đức Phật

và những bài học cho việc tổ chức Giáo hội hôm nay”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo (05),…

Viết về Ban Trị sự Phật giáo Việt Nam huyện Gia Lâm chủ yếu là cácbài thông tin được đưa thường xuyên về các hoạt động của Phật giáo huyệnGia Lâm trên trang cổng thông tin điện tử Huyện Gia Lâm, Báo chí, và cáctrang tin chuyên môn của Phật giáo…

Qua sự trình bày ở trên, chúng ta thấy đã có không ít công trình viết vềcụm chủ đề tổ chức Giáo hội Phật giáo nói riêng, các vấn đề khác của Giáohội Phật giáo nói chung, nhưng công trình đề cập trực tiếp một cách hệ thống

về Ban Trị sự Phật giáo Việt Nam huyện Gia Lâm là còn vắng bóng

Trang 14

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích: Trên cơ sở quá trình hình thành, phát triển của Ban Trị sựGiáo hội Phật giáo Việt Nam huyện Gia Lâm, luận văn chỉ rõ những hoạtđộng, thành tựu và hạn chế hiện nay của Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo ViệtNam huyện Gia Lâm, trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện

tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động hơn nữa của Ban Trị sự Giáo hội Phậtgiáo Việt Nam huyện Gia Lâm

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Ban Trị sự Phật giáo Việt Nam huyện Gia Lâm

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Về không gian: những hoạt động của Ban Trị sự Phật giáo Việt Namhuyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội

- Về thời gian: Từ khi thành lập đến nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận:

Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, Phápluật của Nhà nước Việt Nam về tôn giáo và Hiến chương của Trung ươngGiáo hội Phật giáo Việt Nam

Trang 15

-5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành của tôngiáo học: cụ thể là phương pháp về nhu cầu tín ngưỡng, phương pháp cấutrúc chức năng, phương pháp về pháp chế tổ chức và một số phương phápcủa các ngành khác: triết học, có phương pháp thống nhất logic - lịch sử, sosánh, phân tích - tổng hợp, khái quát hóa Phương pháp của Nhân học, xã hộihọc như: phỏng vấn, quan sát…

6 Đóng góp của luận văn

6.1 Đóng góp về lý luận

Luận văn có thể trực tiếp, gián tiếp góp phần bổ sung về mặt lý luậnvào sự phát triển của Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam huyện Gia Lâmnói riêng, Giáo hội Phật giáo Việt Nam nói chung và sự quản lý hoạt động tôngiáo - Phật giáo của các ban ngành liên quan

6.2 Đóng góp về thực tiễn

Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tra cứu, tham khảo cho việc họctập, nghiên cứu với các đối tượng, ban ngành liên quan đến tôn giáo, văn hóatôn giáo, quản lý hoạt động tôn giáo

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Nội dungluận văn gồm 3 chương, 6 tiết

Trang 16

1.1.1 Các khái niệm cơ bản

Trong nghiên cứu này chúng tôi đề cập đến nội hàm một số khái niệm:

+ Ban Trị sự: được hiểu là bộ phận chịu trách nhiệm quản lý một

tổ chức nào đó Ở Luận văn này được triển khai nội hàm theo nghĩa, cơquan điều hành, quản lý hành chính các cấp của tổ chức Giáo hội Phậtgiáo Việt Nam

+ Phật sự: Trong Từ điển Phật học, Phật sự có các nghĩa: 1 Công hạnh

Đức Phật thể hiện Hoằng truyền Phật pháp Công hạnh cứu độ chúng sinh; 2.Mọi công hạnh thi tác sau khi tu tập chứng ngộ được gọi là Phật sự [1, tr.494].Như vậy, khái niệm Phật sự được hiểu chung nhất là các công việc học Phật,hoằng dương Phật pháp

+ Sa - môn: Phiên âm chữ Sramana từ tiếng Phạn và chữ samana từ

tiếng Pali Hán dịch là Tức, Tức tâm, Tịnh chí, Tĩnh chí, Pháp đạo, Bần đạo,Cần tức, Là người tu đạo từ bỏ cuộc sống thế tục, nỗ lực tìm cầu giải thoát

Để gọi một Tăng sĩ hay Ni cô 1 Đầu tiên ở Ấn Độ, để chỉ cho những ai cạo

bỏ râu tóc, từ bỏ cuộc sống và của cải thế gian, hướng tâm lý nỗ lực đình chỉviệc ác, siêng năng làm việc thiện Nguyên chỉ cho những tu sĩ ngoài Phậtgiáo như Kì - na giáo, đặt niềm tin vào tín ngưỡng Vệ - đà và Áo nghĩa thư 2.Tăng sĩ hay Ni cô Phật giáo [1, tr.526] Có thể hiểu nôm na, Sa môn là nhữngngười tu theo đạo Phật

Trang 17

+ Tăng già: Chi hội đoàn của các vị Tỉ khâu, Tỉ khâu ni, cũng như các

Sa di Trong nhiều trường hợp, các Cư sĩ cũng được liệt vào Tăng già [1,

tr.563]

1.1.2 Cách tiếp cận Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam huyện Gia Lâm là một đơn vị hành chính cấp quận/huyện/ thị xã, thành phố thuộc tỉnh của Giáo hội Phật giáo Việt Nam

Trong những trang lịch sử Phật giáo Việt Nam, sự kiện thống nhất chín

hệ phái tổ chức Phật giáo Việt Nam năm 1981, thành một tổ chức Phật giáoduy nhất là “Giáo hội Phật giáo Việt Nam” là một sự kiện trọng đại, sự kiệnnày mở ra cho Phật giáo Việt Nam một trang sử mới: trang sử của sự đoànviên và thống nhất Giáo hội Phật giáo Việt Nam là tổ chức duy nhất đại diệnTăng Ni, Phật tử Việt Nam trong và ngoài nước, thực hiện mục đích: “hoằngdương Phật pháp, phát triển Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong nước và ởnước ngoài, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phục vụ dân tộc, góp phầnxây dựng hòa bình, an lạc cho thế giới” [30, tr.8]

Ngay khi được thành lập, ở nhiệm kỳ đầu, Giáo hội Phật giáo Việt Nam

đã chú trọng đến việc hoàn thiện bộ máy tổ chức hành chính, vì vậy, thời kỳđầu được gọi là thời kỳ xây dựng và củng cố cơ sở của Giáo hội Phật giáoViệt Nam Thành lập Hội đồng chứng minh Trung ương Giáo hội Phật giáoViệt Nam gồm 50 vị Hòa thượng, trưởng lão tiêu biểu của các giáo hội, hệphái; hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam gồm 49 vịtiêu biểu; Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam có 6 ban chuyên ngànhhoạt động: Ban Tăng sự, Ban Giáo dục Tăng, Ni, Ban Hướng dẫn Nam Nữ

Cư sĩ Phật tử, Ban Hoằng pháp, Ban Nghi lễ, Ban Văn hóa; thành lập 28 BanTrị sự Phật giáo Tỉnh, Thành hội Còn đối với cấp quận, huyện, thị xã thì điều

26, chương VI, Hiến chương năm 1981 ghi rõ:

Huyện, quận nếu có Tăng Ni và cư sĩ Phật tử, Ban Trị sự Tỉnh hội,Thành hội có thể bổ nhiệm một Ban Đại diện gồm có: Một Chánh đại diện;

Trang 18

một Phó đại diện; một Thư ký trong hàng Tăng Ni, Phật tử ở địa phương.Những xã nếu có tự, viện, tịnh xá, tịnh thất, Niệm Phật đường, có Tăng, Ni và

cư sĩ Phật tử, xét thấy cần thiết Ban Trị sự Tỉnh, Thành hội có thể bổ nhiệmcác đại diện tại địa phương đó, để giúp quận, huyện liên hệ với các cơ sở củaGiáo hội về mặt sinh hoạt tín ngưỡng

Như vậy, ở nhiệm kỳ I của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, ở cấp hànhchính quận, huyện vẫn chưa thành lập Ban Trị sự là một cấp quản lý trong hệthống các cấp quản lý hành chính của Giáo hội mà vẫn chỉ là bầu Ban đại diện

để phụ trách liên lạc với Ban Trị sự Tỉnh hội, Thành hội với cơ cấu thành viênrất đơn giản

Trách nhiệm của Ban Đại diện quận, huyện, thị xã được quy định trongđiều 20 Nội quy Ban Thường trực Hội đồng Trị sự: Ban Đại diện Phật giáothành phố trực thuộc tỉnh, thị xã, quận, huyện và các đại diện thị trấn, xã,phường có trách nhiệm liên hệ với Tỉnh hội, Thành hội để tiếp nhận các chỉthị, nghị quyết, của Giáo hội để phổ biến, hướng dẫn Tăng Ni, cư sĩ Phật tửtrong địa phương thực hiện, đồng thời để đạt nguyện vọng và báo cáo tìnhhình hoạt động của địa phương lên Tỉnh hội, Thành hội

Trang 19

Ban Đại diện Phật giáo quận, huyện, thị xã, đều trực thuộc Ban Trị sựTỉnh, Thành hội, chưa được công nhận như một cơ quan hành chính lãnh đạo

có đầy đủ tính pháp lý và quyền hạn như cơ quan hành chính cấp quận, huyệntương đương

Nhiệm kỳ II được coi là giai đoạn phát triển các mặt hoạt động theochương trình nội dung 6 điểm của Giáo hội trong thời kỳ mới với việc bầu ra

60 thành viên Hội đồng chứng minh, 60 thành viên Hội đồng Trị sự, thành lập

33 đơn vị Ban Trị sự Phật giáo Tỉnh, Thành hội và 08 Ban ngành hoạt động(thêm 2 đơn vị mới: Ban Kinh tế tự túc nhà chùa – Từ thiện xã hội và ViệnNghiên cứu Phật học Việt Nam)

Nhiệm kỳ III, được coi là giai đoạn tiếp tục phát triển một cách toàndiện và hoàn chỉnh các mặt hoạt động của Giáo hội: 75 thành viên Hội đồngChứng minh, 70 thành viên Hội đồng Trị sự, thành lập 41 đơn vị Ban Trị sựPhật giáo Tỉnh, Thành hội và 10 ban ngành, viện (Tách Ban Kinh tế tự túcnhà chùa – Từ thiện xã hội thành Ban Kinh tế tài chính và Ban Từ thiện xãhội, thêm 01 ban mới: Ban Phật giáo Quốc tế)

Nhiệm kỳ IV, được coi là nhiệm kỳ tổng kết công tác Phật sự sau 3nhiệm kỳ với 65 thành viên Hội đồng Chứng minh, 95 thành viên Hội đồngTrị sự, thành lập 45 đơn vị Ban Trị sự Tỉnh, Thành hội

Nhiệm kỳ V, là nhiệm kỳ đầu của thế kỷ XXI, với 52 đơn vị Ban Trị sựTỉnh, Thành hội và 85 thành viên Hội đồng chứng minh, 95 thành viên Hộiđồng Trị sự chính thức và 24 thành viên Hội đồng Trị sự dự khuyết

Nhiệm kỳ VI, là nhiệm kỳ kiện toàn cơ cấu tổ chức, triển khai nội dunghoạt động theo Hiến chương đã tu chỉnh, với 58 đơn vị Ban Trị sự Tỉnh,Thành hội Phật giáo, 97 thành viên hội đồng chứng minh, 147 thành viên Hộiđồng Trị sự chính thức và 48 thành viên Hội đồng Trị sự dự khuyết Và đặcbiệt, năm nhiệm kỳ đầu Giáo hội Phật giáo Việt Nam được quy định hai cấphành chính là Trung ương và Tỉnh, Thành hội Tuy nhiên để đáp ứng nhu cầu

Trang 20

hoạt động, Đại hội Phật giáo nhiệm kỳ VI năm 2007, Giáo hội Phật giáo ViệtNam đã được quy định thêm một cấp hành chính nữa là Quận/ Huyện/ Thịhội Sự chia nhỏ thêm về cấp hành chính lãnh đạo và hỗ trợ hoạt động đã giúpcho Giáo hội Phật giáo Việt Nam hoạt động hiệu quả hơn Từ đây, cấp hànhchính Giáo hội Phật giáo Việt Nam được chia làm ba cấp: Trung ương, tỉnh/thành, quận /huyện.

Điều 37, chương VII, Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam hiệnnay quy định: “Các Quận, Huyện, Thị Xã, Thành phố thuộc tỉnh theo địa giớihành chính, được sự chấp thuận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thìđược thành lập tổ chức Giáo hội cấp quận, huyện, thị xã, thành phố, với danhxưng: GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM QUẬN, HUYỆN, THỊ XÃ,THÀNH PHỐ THUỘC TỈNH (gọi chung là cấp huyện)” [30, tr.29, 30] Vàđiều 38, “Giáo hội Phật giáo Việt Nam cấp huyện do Đại hội Đại biểu Giáohội Phật giáo Việt Nam cùng cấp suy cử Ban Trị sự để điều hành Phật sự BanTrị sự cấp huyện là cơ quan hành chính, điều hành quản lý trực tiếp mọi mặthoạt động Phật sự của Giáo hội tại địa phương” [30, tr.30]

Nhiệm kỳ VII, tiếp nối chặng đường 30 năm thống nhất Phật giáo ViệtNam, thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam,

Nhiệm kỳ VIII, với tổng số thành viên Hội đồng Chứng minh là 96 vị,Hội đồng Trị sự gồm 225 ủy viên chính thức và 45 ủy viên dự khuyết

Như vậy, Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam cấp huyện là cơquan hành chính, điều hành, quản lý trực tiếp mọi mặt hoạt động Phật sự củaGiáo hội Phật giáo địa phương với chức năng và nhiệm vụ được quy định rõràng trong các văn bản pháp quy của Giáo hội như tại điều 40 Hiến chươngGiáo hội Phật giáo Việt Nam và Quy chế hoạt động Ban Trị sự Giáo hội Phậtgiáo Việt Nam cấp quận/ huyện

Từ sự phân tích trên đây, chúng tôi chỉ ra việc tiếp cận trong nghiêncứu Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam huyện Gia Lâm là nghiên cứu

Trang 21

Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam huyện Gia Lâm với tư cách là mộtđơn vị tổ chức hành chính cấp huyện trực thuộc Ban Trị sự Giáo hội Phật giáoViệt Nam thành phố Hà Nội

1.2 Khái quát quá trình hình thành, phát triển của Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam huyện Gia Lâm

1.2.1 Địa, kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội của huyện Gia Lâm

Gia Lâm - vùng đất địa linh nhân kiệt, nằm ở cửa ngõ phía Đông củaThủ đô Hà Nội ngàn năm văn hiến, nơi giao thoa của dòng văn hoá ThăngLong và Kinh Bắc Phía Bắc giáp quận Long Biên, phía Tây Nam là dòngsông Hồng lịch sử với bờ bên kia là huyện Thanh Trì, Hoàng Mai, phía ĐôngBắc và Đông giáp với các huyện Từ Sơn, Tiên Du, Thuận Thành của tỉnh BắcNinh; phía Nam giáp với huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên

Lịch sử huyện Gia Lâm gắn liền với những thăng trầm lịch sử của thủ

đô ngàn năm văn hiến Xa xưa, Gia lâm thuộc vùng đất Long Biên, Thời Lýthuộc phủ Thiên Đức, thời Trần thuộc lộ Bắc Giang,… Trải qua bao biến cốthăng trầm của lịch sử với những thay đổi về địa giới hành chính, Gia Lâmngày nay là một huyện của thành phố Hà Nội với 20 xã, 2 thị trấn Đó là cácxã: Bát Tràng, Cổ Bi, Dương Hà, Dương Quang, Dương Xá, Đặng Xá, ĐaTốn, Đình Xuyên, Đông Dư, Kiêu Kỵ, Kim Lan, Kim Sơn, Lệ Chi, NinhHiệp, Phù Đổng, Phú Thị, Trung Màu, Yên Viên, Yên Thường, Văn Đức và 2thị trấn: Yên Viên, Trâu Quỳ

Với những thế mạnh về vị trí địa lý, nguồn lực phát triển kinh tế, GiaLâm được xác định là vùng kinh tế trọng điểm, là địa bàn quân sự chiếnlược ở phía Đông của Thủ đô Hà Nội Kinh tế của huyện Gia Lâm là sựphát triển song song của cả hai loại hình truyền thống và hiện đại Vềtruyền thống, Gia Lâm có nhiều làng nghề cổ truyền nổi tiếng, đã trở thànhthương hiệu, thu hút đông khách trong nước và quốc tế như dát vàng, may

Trang 22

da Kiêu Kỵ, chế biến thuốc bắc Ninh Giang, đặc biệt là gốm sứ Bát Tràng

đã trở thành thương hiệu:

Uống chung một chén Bát Tràng Rồi mai em có sang ngang cũng đành

Áo hồng, men ngọc, tóc xanh Dòng sông quê mãi long lanh mộng vàng

Ước gì anh lấy được nàng

Để anh mua gạch Bát Tràng về xây

Ca dao

Về hiện đại, Gia Lâm với thế mạnh về vị trí với nhiều loại hình giaothông đa dạng và thuận tiện (đường bộ, đường thủy, đường sắt), có nhiều khu

đô thị, khu công nghiệp và các trung tâm thương mại được hình thành

Về văn hóa, Gia Lâm là vùng đất nằm ở của ngõ phía Đông của Thủ đô

Hà Nội ngàn năm văn hiến, nơi giao thoa của dòng văn hóa Thăng Long vàKinh Bắc, chính vì vậy nơi đây có nền văn hóa nhiều tầng, dày và đa dạng

Đất và người Gia Lâm gắn liền với truyền thống lịch sử dựng nước vàgiữ nước của dân tộc; kiên cường bất khuất đánh đuổi giặc ngoại xâm; cần cù,thông minh, sáng tạo trong xây dựng cuộc sống Gia Lâm tự hào là quê hươngcủa hai vị thánh: Phù Đổng Thiên Vương (tương truyền, Thánh Gióng đượcsinh ra ở Phù Đổng, vùng đất thuộc huyện Gia Lâm, nằm bên bờ tả ngạn sôngĐuống) và Chử Đồng Tử (tương truyền, Chử Đồng Tử sinh ra tại làng Chử

Xá – một làng Việt cổ ven sông Hồng Hà, nay là một làng thuộc xã VănĐức, huyện Gia Lâm), là hai trong "Tứ bất tử" trong tín ngưỡng dân gianViệt Nam Gia Lâm còn gắn liền với tên tuổi của Nguyên Phi Ỷ Lan, NgọcHân công chúa, Cao Bát Quát, Lý Thường Kiệt và biết bao anh hùng hàokiệt khác mà công tích của họ đã góp phần viết lên những trang sử vàng chóilọi của dân tộc Nhân dân Gia Lâm giàu truyền thống yêu nước và cáchmạng với nhiều đức tính tốt đẹp: cần cù, chịu khó, anh hùng, thông minh,

Trang 23

sáng tạo Nhân dân Gia Lâm cùng nhân dân Thủ đô và đất nước lập thêmbao kỳ tích để xây dựng và bảo vệ quê hương góp phần làm rạng rỡ truyềnthống anh hùng bất khuất của Thủ đô Hà Nội anh hùng và dân tộc Việt Namquang vinh [Xem 74]

Người dân Gia Lâm luôn tự hào với truyền thống hiếu học của mình

Cả nước ta từ khoa thi đầu tiên thời Lý (1075) cho đến khoa thi hội cuối cùngdưới triều vua Khải Định (1919) kết thúc chế độ khoa cử Nho học có 2.898người đỗ đại khoa trong đó có 56 vị trạng nguyên Đất Thăng Long có sáu vị,thì huyện Gia Lâm có hai vị, đó là Trạng nguyên Giáp Hải (1507-1586) quêgốc ở Bát Tràng và Trạng nguyên Đặng Công Chất (1622-1683) quê ở PhùĐổng Riêng làng Bát Tràng có 364 vị đỗ đạt khoa bảng Hiện nay tại Văn chỉBát Tràng còn lưu danh được 291 vị tiên nho, tiên hiền mà nổi bật là chín vị

đỗ tiến sĩ đến trạng nguyên và nhiều quận công, mà nay tên tuổi được trântrọng ghi ở "vườn Bãi Đá" tại Văn Miếu (Hà Nội, Huế, Bắc Ninh) [Xem 74]

Gia Lâm là một vùng đất cổ, với bề dày truyền thống lịch sử của mảnhđất “địa linh nhân kiệt”, đời sống văn hóa, tín ngưỡng của người dân huyệnGia Lâm rất phong phú và đa dạng Trên địa bàn huyện Gia Lâm còn lưu giữrất nhiều những di tích lịch sử, văn hóa như: Văn chỉ Bát Tràng – ở tại làngBát Tràng, là nơi thờ Khổng tử và các bậc đại khoa tiên nho, tiên hiền củalàng Bát Tràng,…

Đời sống tôn giáo, tín ngưỡng của người dân nơi đây rất đa dạng với sựhiện diện của hầu hết các tín ngưỡng truyền thống của người Việt: Thờ ThànhHoàng làng ở các Đình: Đình Chử Xá, Đình Đông Dư Thượng, Đình LamCầu, Đình Linh Quy, Đình Ninh Giang, miếu Thuận Tốn…; thờ cúng tổ tiêntrong các gia đình và các dòng họ, tiêu biểu như: nhà thờ họ Nguyễn Huy(được xếp hạng Di tích Lịch sử Văn hóa), nhà thờ họ Đàm,… Thờ Mẫu: đềnMẫu Bát Tràng; thờ thần: đền Trúc Lâm, … Các tôn giáo lớn: Phật giáo với

số lượng lớn các ngôi chùa như: Chùa Linh Quy, chùa Bát Tràng, chùa Cổ

Trang 24

Giang, chùa Linh Quang, chùa Hạ, chùa Đào Xuyên,… Điều này đã đáp ứng,thoả mãn nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân địa phương Hệ thống di sản vănhoá này đã góp phần tạo nên những truyền thống tốt đẹp cho cộng đồng cưdân làng xã, điều chỉnh hành vi đạo đức cho mỗi thành viên của làng và là nơilưu giữ những tập tục, truyền thống văn hoá lâu đời của dân tộc.

1.2.2 Quá trình du nhập và phát triển của Phật giáo ở huyện Gia Lâm

Nằm cách trung tâm Phật giáo Luy Lâu không xa nên có thể khẳngđịnh Phật giáo xuất hiện ở vùng đất Gia Lâm từ rất sớm Điều này cũng đượcchứng minh, khẳng định bằng những dữ liệu lịch sử và những di tích lịch sửtại vùng đất này Ở Gia Lâm có những ngôi chùa rất cổ, gắn với những sựkiện quan trọng của quá trình du nhập Phật giáo vào Việt Nam

Trong Việt Nam Phật giáo Sử luận, tác giả Nguyễn Lang viết về sự du

nhập Phật giáo vào Giao Chỉ ở thế kỷ đầu, khi bình luận về quan niệm Tăng

“Danh từ Tang Môn được dùng trước danh từ Sa Môn để chỉ các vị tăng sĩngoại quốc, như ta thấy trong các bản dịch kinh điển chữ Hán sớm nhất TangMôn không phải là một đoàn thể xuất gia từ sáu người trở lên (định nghĩaSangha) mà là con người của những tu sĩ khoác áo vàng, đầu cạo trọc, từ bỏđời sống gia đình, của cải, thờ bụt, đọc kinh chữ Phạn; và sống trên sự cúngdường của người tin theo Bụt Ngoài những Tang Môn ngoại quốc, có thể cóvài người Giao Chỉ cũng được nhận học theo làm Tang Môn Có lẽ Chử Đồng

Tử là một người trong số này” [43, tr.51] Mà Chử Đồng Tử là người làngChử Xá nay thuộc xã Văn Đức, huyện Gia Lâm Như vậy, ngay từ thế kỷ đầu,buổi đầu Phật giáo du nhập vào Việt Nam đã xuất hiện ở vùng đất Gia Lâm

Một cứ liệu tiêu biểu nữa trong số đó là ngôi chùa Kiến sơ ở Gia Lâm

Về thời gian xây dựng chùa Kiến Sơ còn gây nhiều tranh cãi trong giới nghiêncứu Nhiều khả năng chùa Kiến Sơn được võ sư Trương Ma Ni xây dựng từthời nhà Đinh Gia Cát Thị khi soạn Tân đính hiệu bình Việt điện u linh tập 3,

tờ 110 ở Phù Đổng Thiên Vương truyện chép: Thần Vương tức Thiên Vương

Trang 25

Xưa thời Hùng Vương có công chinh phạt định nước, nhận phong ở đây Đếnkhi họ Triệu bị người Hán thôn tính, đất đai biên giới đều bị nội thuộc, lại trảibinh họa đốt cháy, đền miếu tiêu điều Miếng ngói tức rường tán mất gầnhết… Gặp có nhà sư Trương Ma Ni tìm được đúng dấu xưa Bèn hưng côngxây dựng danh lam, mở mang đất đai, để làm nơi thờ Phật đốt hương, gọi tên

là chùa Kiến Sơ Bên phải cửa trước chùa lại dựng một miếu thổ thần để làmnơi tụng đọc kinh sách Sau đó, vị phú hào này mời vị sư tên là Lập Đức, hiệu

là Cảm Thành đến trụ trì Không lâu sau, vào năm Canh Tý (820), thiền sư VôNgôn Thông từ Quảng Châu (Trung Quốc) sang Việt Nam và tu tại chùa Tạiđây, ông đã truyền tâm ấn cho Cảm Thành, hình thành phái thiền Vô NgônThông ở Việt Nam Dòng thiền này phát triển rất mạnh mẽ với 16 đời với 40

vị sư tổ [Xem 60, tr.27] Dòng thiền này được các tầng lớp từ vua chúa đếndân nghèo tin theo, có ảnh hưởng lớn đến đời sống văn hóa, tư tưởng trongsuốt các triều đại là Đinh, Lê, Lý, Trần và góp phần tạo nên diện mạo văn hóaViệt Sử cũng chép rằng, vua Lý Công Uẩn khi còn nhỏ cũng thường xuyênlui đến chùa, tương truyền tại chùa ông đã được Thánh Gióng báo mộng quabài thơ

Nhất bát công đức thủy Tùy duyên hóa thế gian Quang Quang trùng ảnh chiếu Một ảnh nhật đăng sơn

Hay như lịch sử chùa Vạn Xuân, xã Lệ Chi, theo cuốn thần phả "Đạivương ngọc phả" do Hàn lâm Đông các đại học sĩ Nguyễn Bính phụng soạnngày 10 tháng 9 năm Hồng Phúc nguyên niên (1572) còn lưu giữ tại Đình chobiết chùa Vạn Xuân đã tồn tại từ thời Hùng vương thứ 6 cùng với các vị thầnhoàng làng Chính thời gian này, một vị long thần được thờ trong chùa đã báomộng cho Hùng Dược biết việc mình sẽ sinh ra (đầu thai) vào bà phu nhân Đỗ

Trang 26

Thị Thục để sinh ra Hùng Hiển Sau này, vị thần hoàng của làng đã về đóngquân, xây dựng, đồn lũy bên cạnh chùa

Những thời kỳ sau, Phật giáo ở Gia lâm phát triển khá mạnh mẽ, đặcbiệt thời kỳ Lý, Trần, Lê Sau khi lên ngôi, Vua Lý Công Uẩn cho trùng tu lạichùa Kiến Sơ, xây dựng thêm nhiều chùa mới ở các vùng lân cận Một ngôichùa nổi tiếng của Gia Lâm được xây dựng thời Lý là chùa Bà Tấm (xâydựng năm 1117), ngôi chùa gắn liền với Nguyên phi, Hoàng thái hậu Ỷ Lan –một nhân vật kiệt xuất của vương triều Lý, ngưỡng mộ tài năng, công đức của

bà, dân gian sùng Phật tôn bà là Phật Bà Quan Âm,… Sau khi chuyển từ ngôi

từ tay nhà Lý sang nhà Trần, các vua Trần thực hiện chính sách ban phátnhiều đất cho họ hàng thân tộc lập trang ấp, xây dựng chùa chiền, Gia Lâmthời kỳ đó cũng được xây dựng khá nhiều chùa, như chùa Báo Ân,… Thời Lê,

có rất nhiều ngôi chùa được xây dựng: Chùa Linh Quy (tên chữ là HoaNghiêm Tự, tọa tại thôn Linh Quy, xã Kim Sơn), chùa Hạ (tên chữ là HiểnQuang Tự, tọa tại thôn Hạ, xã Dương Hà), chùa Kim Lan (tên Linh ứng tự, ở

xã Kim Lan), chùa Linh Quang (làng Công Đình, xã Đình Xuyên),…

Có nhiều cách lý giải về sự phát triển hưng thịnh của Phật giáo ở GiaLâm thời kỳ Lý, Trần, Lê, nhưng qua nghiên cứu chúng tôi đồng nhất với một

số học giả nhận định: do xuất phát từ địa kinh tế, văn hóa, chính trị xã hộivùng đất này xưa kia nằm trong vùng văn hóa Kinh Bắc - vùng văn hóa cổcủa Việt Nam, nơi có trung tâm Phật giáo Luy Lâu phát triển rất mạnh và đã

đi vào ca dao, tục ngữ: “Cầu Nam - chùa Bắc - đình Đoài”, mà Gia Lâm lạinằm chọn trong vùng văn hóa đó, cạnh trung tâm Luy Lâu nên chắc chắn Phậtgiáo đến với Gia Lâm là sớm và cũng phát triển hưng thịnh

Tuy nhiên, Phật giáo ở đây lại có không ít những đặc trưng riêng màcác vùng khác ít có được, đó là:

+ Phật giáo huyện Gia Lâm có lịch sử lâu đời do gắn liền với quá trình

du nhập Phật giáo vào Việt Nam (đặc điểm này Luận văn viết khá kỹ ở phần

Trang 27

trên về sự du nhập Phật giáo vào huyện Gia Lâm với rất nhiều những minhchứng lịch sử).

+ Phật giáo huyện Gia Lâm có biểu hiện rõ về sự hỗn dung giữa Phậtgiáo và tín ngưỡng dân gian Việt Nam (đặc biệt là tín ngưỡng thờ Mẫu, thờ

Nữ thần) qua cấu trúc và việc thực hành tín ngưỡng tôn giáo tại các chùa, nhưchùa Đông Dư Thượng, chùa Hạ, Chùa Yên Mỹ, cụ thể:

Chùa Đông Dư Thượng (Nội Long Tự - nghĩa là chùa trong mắt rồng)

ở xã Đông Dư, trong chùa ngoài ban thờ Phật còn có nhà thờ Tổ, nhà Mẫu.Trong cấu trúc xây dựng, mặt bằng di tích bao gồm chùa chính hình chữ đinh,nhà Tổ, nhà Mẫu nằm bên trái chùa, xung quanh là khu vườn rộng và sângạch trước sau Điện thờ Mẫu nằm bên trái phía sau chùa chính, là một dãynhà năm gian, với kết cấu vì kèo kiểu giá chiêng trang trí hổ phù, rồng chầumặt trời, hoa lá thực vật Trong nhà Mẫu, chính điện thờ Tam Tòa ThánhMẫu, phía ngoài là hai pho tượng cậu, tượng cô, bên phải thờ Thượng NgànThánh Mẫu, bên trái thờ Đức Thánh Trần Hưng Đạo, là vị tướng tài ba cócông với nước Sự xuất hiện nhà thờ Tổ và nhà thờ Mẫu trong khuôn viênchùa đã cho thấy sự hỗn dung mạnh mẽ giữa Phật giáo với các tín ngưỡng bảnđịa Việt Nam như tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên hay tín ngưỡng thờ Mẫu,…Người dân khi đến chùa không chỉ lễ Phật mà còn lễ Mẫu, lễ các vị thần khác

mà dân làng mình tôn sùng… và đây cũng là một đặc điển rất riêng của Phậtgiáo Việt Nam

Chùa Hạ có tên chữ là Hiển Quang tự, thuộc thôn Hạ, xã Dương Hàđược khởi dựng khoảng cuối thời Lê, là một ngôi chùa có quy mô tương đốilớn ở thời xưa, khi đó tiếng vang của chùa lan rộng khắp xứ Kinh Bắc Điềuđặc biệt ở ngôi chùa là chùa Hạ không chỉ thờ Phật mà còn thờ các các vị sư

tổ đã có công với chùa và còn thờ cả mẫu Thoải Giải thích về lý do thờ mẫuThoải ở chùa là do chùa nằm cạnh sông và sự tích về mẫu Thoải nơi đây cónhiều dị bản khác nhau Có truyền thuyết cho rằng, Mẫu Thoải là con Lạc

Trang 28

Long Quân, được giao quản lý sông biển ở nước Nam và đóng dinh ở sôngNguyệt Đức Một bà là Thủy Trinh Động Đình Ngọc Nữ công chúa, một bà làHoàng Hà đoan khiết phu nhân Bà thứ 3 là Tam Giang công chúa Các bàđều trông coi sông biển, làm mưa và âm phù cho các cuộc chiến đấu bảo vệđất nước Đời Lê Thánh Tông khi kéo quân đánh giặc phương Nam, thuyềnnhà vua vừa gặp cuồng phong, các bà sai tướng giúp dẹp yên gió và vị tướng

ấy được vua phong là Nguyệt Nga công chúa Mẫu Thoải được thờ ở nhiềunơi nhưng nơi đây ngoài ngày lễ chính thì vào ngày sóc và vọng dân làng vẫnđến lễ bà [Xem 74]

Chùa Yên Mỹ, xã Dương Quang là một di tích kiến trúc đặc trưng chođặc điểm dung hợp tín ngưỡng, tôn giáo của người Việt Chùa có tên chữ

là Phúc Nhân Tự Yên Điều đặc biệt ở ngôi chùa này là sự đan xen giữa thờ Phật và tín ngưỡng thờ Pháp Điện (một trong "Tứ pháp") của vùng đất Siêu

Loại, Thuận Thành Bắc Ninh xưa Vì vậy, di tích vừa có nét chung của mộtngôi chùa thờ phật lại có nét riêng khác hẳn với những di tích khác trongvùng Chính nét riêng đó đã làm nên giá trị phi vật thể đặc biệt của ngôi chùa,giúp các nhà nghiên cứu có thêm tư liệu tìm hiểu về lịch sử hình thành, tồn tại

và phát triển của tín ngưỡng thờ Tứ pháp ở Việt Nam

+ Phật giáo huyện Gia Lâm có lịch sử gắn liền với lịch sử hình thànhlàng xã nên lượng tín đồ Phật tử rất đông

+ Phật giáo huyện Gia Lâm hiện nay gắn với sự biến động mạnh mẽ(Đô thị hóa) của vùng đất ngoại thành, cửa ngõ thủ đô trong công cuộc côngnghiệp hóa, hiện đại hóa

1.2.3 Các dấu mốc đánh dấu sự hình thành, phát triển của Ban Trị

sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam huyện Gia Lâm

Phật giáo - giai đoạn đầu hình thành, đức Phật không đề ra vấn đề tổchức thành Giáo hội Phật giáo Thưở đầu khi Đức Phật rời bỏ cuộc sốngnhung lụa, rời bỏ vợ con đi tìm chân lý, bên dòng sông Anoma, Ngài cắt tóc

Trang 29

đổi vương y, khoác lên mình bộ cà sa hoại sắc, Ngài đã trở thành một tu sĩ,một Sa - môn Sau một thời gian dài kiên trì, nỗ lực tu tập, Ngài đã chứngngộ, trở thành vị Đại Sa - môn, lãnh đạo giáo đoàn gồm những vị Sa - môn.Nhưng với vị thế xuất thân là một Thái tử, hơn ai hết Ngài hiểu rõ tính haimặt của sự lãnh đạo bằng quyền lực vì vậy thời đức Phật, Ngài trực tiếp điềuhành Tăng già, Ngài ban hành giới luật, khuyên tập thể Tăng già sống theo

“lục hòa” Có nhiều cách lý giải, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, Đức Phậtkhông chủ trương tạo ra bộ máy tổ chức điều hành, vì bộ máy tổ chức điềuhành sẽ đi liền với việc tạo ra quyền lực, khi có quyền lực sẽ dẫn đến các vấn

đề hệ lụy: tranh chấp, lạm quyền, lợi dụng quyền, kết bè phái,… Bằng trí tuệsiêu phàm và khả năng cảm hóa, Ngài đã lãnh đạo giáo đoàn Tăng già tuyđông đảo mà không có tranh chấp lớn xảy ra Nhưng sau này khi Phật giáophát triển và được truyền bá vào các nước thì lại khác, đặc biệt là Việt Nam,ngay thưở đầu vào thì Phật giáo đã có sự thành lập về tổ chức nhất định Quanhận định của nhà sử học Nguyễn Lang:

“Trong ba trung tâm Phật giáo thời Hán, trung tâm Luy Lâu là trungtâm có tổ chức Tăng đoàn sớm nhất Trong sách Lý Hoặc Luận, viết về những

tệ trạng của giới tăng sĩ Giao Châu vào hạ bán thế kỷ thứ hai, Mâu Tử nói “Samôn ngày nay có kẻ lại thích uống rượu ngon, có khi có vợ con, biết cất giữtiền bạc, của quý, lại chuyên môn lừa dối” Như vậy ta biết rằng tăng đoànGiao Châu thời đó đã khá đông đảo – chỉ khi nào quá đông đảo mới có nhiều

tệ đoan như vậy Danh từ “Sa môn ngày nay” mà Mâu tử dùng không thể đểchỉ một số ít tăng sĩ Ấn Độ có mặt tại Giao Châu, mà là chỉ cho số đông tăng

sĩ Giao Châu vậy”[43, tr.34]

Hay “Trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, căn cứ vào sách Thiền uyểntập anh thì cách thức tổ chức của Phật giáo Việt Nam là dựa vào sơn môn, tổđình Còn mô hình tổ chức như Giáo hội hiện nay phải đến thế kỷ XX mớiđược biết đến” [19, tr.35]

Trang 30

Chính lẽ đó mà Phật giáo huyện Gia Lâm hiện có nhiều sơn môn, tổđình lớn, ví như: Tổ đình Đào Xuyên với dòng thiền Lâm Tế ở Việt Nam vìChùa Đào Xuyên và chùa Ninh Hiệp (Gia Lâm) vốn là chốn tu hành của pháiLâm Tế bắt đầu từ tổ Chuyết Công Viễn Văn Theo sử sách, thiền sư ChuyếtCông Viễn Văn tên Thiên Lộ, họ Lý, pháp danh Hải Trừng, năm 1630, ôngsang Đại Việt vào Đàng Trong hoằng pháp Năm 1633, ông tới kinh thànhThăng Long, ở lại chùa Khán Sơn giảng dạy Phật pháp Đến thế kỷ XIX,thiền phái Lâm Tế được truyền từ chùa Bà Đá về chùa Đào Xuyên Về sau,hàng năm đến ngày 24 tháng Hai Âm lịch là ngày Giỗ Tổ Đào Xuyên thì cácchùa cùng dòng Lâm Tế trong vùng đều quy tụ về chùa lễ Phật

Thiền phái Vô Ngôn Thông: Vô Ngôn Thông là phái thiền của Trung

Quốc truyền vào Việt Nam năm 820 Theo Việt Nam Phật giáo sử luận của

Nguyễn Lang có viết “Niên hiệu Nguyên Hòa thứ 15 đời Đường (năm 820)

Vô Ngôn Thông từ Quảng Châu qua Việt Nam, đến chùa Kiến Sơ, làng PhùĐổng, huyện Tiên Du (Bắc Ninh)2” [43, tr.167] Phương pháp tu tập của VôNgôn Thông rất khác lạ, “Vô Ngôn Thông cư trú chùa Kiến Sơ, ngoài hai bữacơm cháo thì dành hết thì giờ vào việc thiền tọa, quay mặt vào vách, khôngnói năng gì” [43, tr.168] Trong thời gian truyền đạo, ông đã ở lại chùa Kiến

Sơ 6 năm, truyền lại phương pháp tu tập cho Cảm Thành Thiền phái VôNgôn Thông được truyền thừa trong thời gian bốn thế kỷ, trải qua 17 thế hệ

“Nhưng khác với thiền phái Trung Hoa, thiền phái này cũng như thiền phái

Tỳ Ni Đa Lưu Chi, đã rất gần gũi với đời sống xã hội, tham dự vào đời sốngnhập thế trong khi vẫn duy trì được sinh hoạt tâm linh độc lập của mình” [43,tr.204] Thiền phái Vô Ngôn Thông chú ý nhiều đến sự đốn ngộ “chủ trươngcon người có thể, trong một giây lát, đạt được quả vị giác ngộ, khỏi cần đi quamột giai đoạn tiệm tiến” [43, tr.176]; nhấn mạnh đến nguyên tắc vô đắc

2 Năm 1961, xã Phù Đổng sát nhập vào Huyện Gia Lâm, trong xã có làng Phù Đổng

Trang 31

(không có đối tượng của sự giác ngộ, phải tự bản thân mình thực hiện lấy);đặc trưng của thiền phái này là sử dụng thoại đầu, dùng hình ảnh cụ thể đểlàm phương tiện đi đến giác ngộ,…

Trước năm 1981, Phật giáo ở huyện Gia Lâm vẫn tổ chức theo lối sơnmôn, tổ đình, chủ yếu là sự quản lý trong sinh hoạt, phương pháp tu tập theotừng môn, phái chứ chưa có sự tổ chức quản lý toàn diện về mọi mặt

Năm 1981, Giáo hội Phật giáo Việt Nam ra đời, là mái nhà chung thốngnhất của Tăng Ni, Phật tử cả nước, và với Hiến chương Giáo hội Phật giáoViệt Nam cho phép thành lập Ban Đại diện Phật giáo tại các quận/huyện/ thị

xã, Ban Đại diện Phật giáo Việt Nam huyện Gia Lâm ra đời với 07 thành viên

do cố Hòa Thượng Thích Quang Nhân làm Chánh Đại diện

Đến năm 2007, với việc quyết định thành lập Ban Trị sự Giáo hội Phậtgiáo Việt Nam cấp quận/huyện/thị xã/ thành phố trực thuộc, Trưởng Ban Trị

sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã ký quyết định thành lập Ban Trị sự Giáohội Phật giáo Việt Nam huyện Gia Lâm – đánh dấu mốc ra đời của Ban Trị sựGiáo hội Phật giáo Việt Nam huyện Gia Lâm Ban Trị sự Phật giáo Việt Namhuyện Gia Lâm là tổ chức quản lý cấp huyện của Giáo hội Phật giáo ViệtNam, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Namthành phố Hà Nội

Tiểu kết chương 1

Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập năm 1981 là kết quả củaquá trình dài vận động, thống nhất 9 tổ chức, hệ phái trong đại gia đình Phậtgiáo Việt Nam Đây là sự kiện mang tính bước ngoặt lịch sử bởi truyềnthống đoàn kết hòa hợp của Phật giáo Việt Nam đã được phát huy Từ khithành lập đến nay, Giáo hội Phật giáo Việt Nam luôn chú trọng công táchoàn thiện tổ chức để công tác quản lý đạt được kết quả tốt nhất Đến nay,

cơ cấu tổ chức hành chính của Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã hoàn thiệnvới ba cấp: Trung ương, tỉnh/ thành phố, quận/huyện/thị xã/thành phố thuộc

Trang 32

tỉnh Cấp quản lý quận/huyện/thị xã/ thành phố trực thuộc do Ban Trị sựGiáo hội Phật giáo Việt Nam cấp quận/huyện/ thị xã/ thành phố thuộc tỉnhchịu trách nhiệm quản lý.

Gia Lâm là vùng đất cửa ngõ thủ đô, có truyền thống văn hóa lâu đời,giàu bản sắc Nằm trong ngã ba giao lưu giữa văn hóa Kinh Bắc và văn hóaThăng Long, Phật giáo có duyên hội ngộ với nơi đây từ rất sớm, từ nhữngbước đường của buổi đầu du nhập Phật giáo vào Việt Nam Sự phát triển củaPhật giáo huyện Gia Lâm gắn liền với những bước đường phát triển Phật giáoViệt Nam

Ban Trị sự Phật giáo Việt Nam huyện Gia Lâm là thành phần tổ chứccấp quận/huyện trong bộ máy tổ chức hành chính của Giáo hội Phật giáo ViệtNam dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Namthành phố Hà Nội Và Ban Trị sự Phật giáo huyện Gia Lâm ra đời là trên cơ

sở các tổ chức sa môn và tổ đình trước năm 1981

Trang 33

Chương 2.

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG VÀ NHỮNG THÀNH TỰU, HẠN CHẾ

CỦA BAN TRỊ SỰ GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM

HUYỆN GIA LÂM HIỆN NAY

2.1 Thực trạng hoạt động của Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam huyện Gia Lâm hiện nay

Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam quy định về chức năng,nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Trị sự cấp huyện có mục đầu tiên: “Tổ chứcthực hiện chủ trương, đường hướng, chương trình hoạt động Phật sự tại địaphương theo hướng dẫn của Giáo hội Phật giáo Việt Nam các cấp” Vậy kháiniệm Phật sự được hiểu như thế nào? Trong Từ điển Phật học: Phật sự đượchiểu có các nghĩa: 1 Công hạnh Đức Phật thể hiện Hoằng truyền Phật pháp.Công hạnh cứu độ chúng sinh; 2 Mọi công hạnh thi tác sau khi tu tập chứngngộ được gọi là Phật sự” [1, tr.494] Như vậy, khái niệm hoạt động Phật sự ta

có thể hiểu là toàn bộ các công việc liên quan đến quá trình tu tập Phật giáo

và ứng dụng Phật giáo vào đời sống của con người Để thuận tiện cho việctriển khai vấn đề thực trạng hoạt động của Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo ViệtNam huyện Gia Lâm, chúng tôi chia nội hàm khái niệm hoạt động Phật sựthành ba mảng hoạt động chính: thực hành niềm tin tôn giáo, công tác tổ chứchành chính đạo và công tác xã hội

2.1.1 Thực trạng về thực hành niềm tin tôn giáo

Thực hành niềm tin tôn giáo có thể hiểu là những hoạt động tín ngưỡngcủa tín đồ nhằm thể hiện lòng tin của họ vào một tôn giáo nhất định Đối vớiPhật giáo thì việc thực hành niềm tin tôn giáo là các hoạt động tín ngưỡng củacác tu sĩ, cư sĩ, tín đồ Phật tử nhằm thể hiện lòng tin với đức Phật với kinhđiển, giáo lý, giáo luật của Ngài Các hoạt động tín ngưỡng gồm: tu tập, hành

vi thờ cúng, hoạt động hướng dẫn Phật tử,… Thực hành niềm tin tôn giáo

Trang 34

-Phật giáo có ý nghĩa vô cùng quan trọng bởi nó giúp duy trì, củng cố, pháttriển niềm tin của tín đồ đối với Phật giáo và mặt khác nó khẳng định vai tròcủa Phật giáo, giúp truyền bá, phát triển Phật giáo ra cộng đồng.

Nhận thức được tầm quan trọng của các hoạt động thực hành niềm tintôn giáo đối với sự tồn tại, phát triển của Phật pháp huyện Gia Lâm, Ban Trị

sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam huyện Gia Lâm rất chú trọng đến các hoạtđộng này, điều đó thể hiện: Dưới sự dẫn dắt của Ban Trị sự Giáo hội Phậtgiáo Việt Nam huyện Gia Lâm, các Tăng Ni trong huyện đã thực hiện đúngphương châm hoạt động thực hành niềm tin tôn giáo làm chỗ dựa tâm linhcho bà con Phật tử, sát cánh cùng dân làng, hướng dẫn họ những sự kiện quantrọng trong cuộc đời: cưới xin, làm nhà, tang ma, ; Ban Trị sự Phật giáohuyện Gia Lâm luôn chú trọng đến việc tổ chức các ngày lễ lớn thường niêncủa Phật giáo một cách chu đáo, phong phú, hiệu quả; Với các hoạt động tutập hàng ngày của tín đồ, chỉ đạo Tăng Ni và các cơ sở tự viện, đề cao hơnnữa tinh thần hành trì giới luật của các Tăng Ni để giữ gìn kỷ cương ổn địnhtrong Tăng đoàn; tăng cường các hoạt động hướng dẫn Phật tử,…

Gắn liền truyền thống Phật giáo Việt Nam, ngôi chùa đã trở thành nơichăm sóc đời sống tâm linh của người dân trong làng, điều đó thể hiện trongcâu thành ngữ “đất vua, chùa làng” Ngôi chùa đã thực sự trở thành nơi tincậy để người dân tìm đến lễ Phật cầu an đầu năm, tìm đến sự thanh tịnh trongtâm hồn, vị sư trong chùa trở thành người sẻ chia những tâm tư nguyện vọng,người hướng dẫn sinh hoạt tín ngưỡng trong làng,

Hiện trên địa bàn huyện Gia Lâm hiện có 90 ngôi chùa, cũng như cácđịa phương khác của Việt Nam, ngôi chùa đã thực sự trở thành trung tâm sinhhoạt văn hóa, tín ngưỡng của cả cộng đồng dân cư thôn làng, xóm phường.Với đặc trưng của vùng đất giàu truyền thống lịch sử, văn hóa, nhiều ngôichùa nơi đây có sức ảnh hưởng đã vượt ra khỏi phạm vi một làng, một xã haymột phường mà trở thành liên vùng

Trang 35

Nhận thấy tầm quan trọng của nhân tố con người là các Tăng Ni trong

sự nghiệp hoằng dương Phật pháp, bởi họ chính là cầu nối giữa Phật giáo vớitín đồ, người dân Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam huyện Gia Lâmluôn đôn đốc, nhắc nhở các Tăng Ni trong toàn huyện phải gần gũi tín đồ, gầndân, luôn làm chỗ dựa tinh thần cho họ Theo tinh thần đó, các Tăng Ni tronghuyện vừa là người thầy tâm linh vừa là người bạn sẽ chia, đồng hành với tín

đồ Phật tử, với dân làng trong nhiều ngày lễ lớn của làng, của gia đình dòng

họ (vòng đời người) Ví như:

Trong đời sống tín ngưỡng của làng: các ngày lễ hội truyền thống củalàng, các vị sư trụ trì các chùa trong huyện đều tích cực tham với vai tròngười đồng hành, sẻ chia, hướng dẫn Thông thường, cũng như các làng quêkhác của Việt Nam, mỗi làng (phường, xã) ở huyện Gia Lâm đều có cả đình,chùa, các lễ hội của đình của làng hàng năm được coi là lễ hội truyền thốngcủa làng Vào các dịp lễ hội truyền thống đó, các chùa cũng nhộn nhịp, các vi

sư trong chùa cũng tấp nập cùng nhân dân trong làng chuẩn bị cho lễ hội.Ngày hội chính, trong chùa cũng trang hoàng, mở cửa cho người đi hội vào lễPhật Các vị sư trong làng cũng giữ vai trò chủ chốt trong việc thực hành nghi

lễ trong chùa cho người dân ngày lễ Ví dụ như chùa Đào Xuyên, ngày hộilàng Đào Xuyên, hầu hết nhân dân trong làng đều đến chùa lễ Phật song songvới việc tham dự lễ hội bên đình Bản thân tôi, là sự trụ trì chùa Đào Xuyêncũng được mời vào ban tổ chức lễ hội của làng

Hay trong đời sống tín ngưỡng trong các gia đình: Trong gia đình thìkhi đứa trẻ sinh ra, đầy tháng, đầy năm, rất nhiều các gia đình mời các nhà sưđến giúp gia đình làm lễ đầy tháng, đầy năm, ban phúc lành cho đứa trẻ khỏemạnh, hay ăn, chóng lớn, ngoan ngoãn, thông minh Các dịp quan trọng nhưđào móng xây nhà, về nhà mới, khai trương cửa hàng,… cũng có sự hiện diệncủa các vị nhà sư với mong muốn đem lại may mắn, lộc tài cho gia chủ

Trang 36

Sự kiện quan trọng của đời người là lễ kết hôn, khởi đầu của một chặngđường mới, cho ra đời một gia đình nhỏ, cũng rất nhiều người chọn ngôi chùa

là nơi diễn ra sự kiện quan trọng này, và lễ cưới diễn ra ở chùa được gọi là lễHằng thuận Ngày nay, xu hướng làm lễ Hằng thuận tại chùa bên cạnh lễ cướichính thức ở gia đình đang có xu hướng gia tăng ở huyện Gia Lâm Hằngthuận có nghĩa là luôn luôn hòa thuận, tương kính nhường nhịn nhau, và đócũng là nguyên tắc, mong muốn đầu tiên trong đời sống vợ chồng để xâydựng một gia đình hạnh phúc Trong lễ Hằng thuận đó, các cặp vợ chồngđược nghe sư thầy ân cần chỉ dạy về đạo lý vợ chồng, được nghe giảng kinhThi Ca La Việt – cuốn kinh chứa dựng lời dạy của Đức Phật về bổn phận,trách nhiệm của vợ và chồng trong hôn nhân, gia đình Điều này có ý nghĩa

vô cùng quan trọng, bởi những người trẻ kết hôn, bắt đầu cuộc sống vợ chồng

là bắt đầu với nhiều thử thách, chông gai với bao bỡ ngỡ, những lời dạy vềđạo lý vợ chồng như những hành trang để họ bắt đầu hành trình mới khỏi bỡngỡ, thêm tự tin Những hành trang ấy, cùng với những lời chúc phúc của chưTăng, chư Ni trong không khí trang nghiêm, thanh tịnh của ngôi chùa là khởiđầu vô cùng tốt đẹp với lứa đôi Khi được hỏi về ý nghĩa lễ Hằng thuận, một

người trong gia đình có tổ chức lễ Hằng thuận tại chùa… cho biết: “Gia đình con theo Phật, nên đám cưới con của con tổ chức lễ Hằng thuận tại chùa, con mong muốn với những gì được học từ Phật, được thầy chỉ dạy các cháu sẽ có ý thức hơn về trách nhiệm của mình trong hôn nhân để sống tử

tế, hạnh phúc hơn” 3

Một sự kiện đặc biệt quan trọng khác của đời người mà người dân tìmđến Phật giáo, tìm đến với chỗ dựa về tâm linh là tang ma Đối với các giađình Phật tử, gia đình khi có người ốm nặng, họ đã hàng ngày đến chùa tụngkinh cho người ốm được bình an, thanh thản, ít chịu đau đớn, ở nhà cũng rấtnhiều gia đình mở kinh Phật cho người ốm nghe để tâm hồn họ được thanh

3 Phỏng vấn Phật tử chùa Đào Xuyên

Trang 37

thản, thảnh thơi Khi người ốm không thể qua khỏi trọng bệnh, qua đời, cácgia đình đều mời sư thầy đến tham gia các nghi thức tang ma, hội Phật tử sẽcùng đến tụng kinh cho người chết được siêu thoát, ra đi thanh thản, có thểtụng kinh nhiều ngày sau đó Và rất nhiều người trước khi mất có nguyệnvọng sau khi mất đi được gia đình đưa lên chùa, nương nhờ cửa Phật Khôngchỉ đối với các gia đình Phật tử mà các gia đình người dân trong huyện GiaLâm hiện nay cũng có xu hướng mời sư thầy thực hiện các nghi lễ tang macho người thân với mong muốn nhờ hồng phúc của sư thầy, nhờ sự từ bi củaĐức Phật người chết được siêu thoát Ở các xã phường, thôn xóm, khu phốtrong địa bàn huyện đều có hội vãi sinh hoạt trong các chùa, khi các gia đìnhtrong xã, phường, thôn xóm, khu phố đó có người mất, hội vãi đều đến độkinh cho người mất, cũng trợ giúp gia đình lo việc đại sự.

Với những biến cố bất ngờ của cuộc đời, người dân huyện Gia Lâmcũng tìm đến với các vị sư thầy để sẻ chia: Tìm đến với các vị sư để sẻ chianhững nỗi niềm trong cuộc sống, những khúc mắc trong đời sống gia đình,công việc, chia sẻ những nỗi đau mất mát của sự chia ly, tan vỡ; chia sẻnhững niềm vui, những hạnh phúc, Ví như, có gia đình trong đời sống vợchồng gặp phải những mẫu thuẫn khúc mắc, vợ chồng không hòa thuận,người chồng vướng phải các tệ nạn xã hội: nghiện rượu, lô đề cờ bạc,… vềnhà lại đối xử tệ bạc với vợ con, người vợ buồn rầu tìm đến cửa chùa ĐàoXuyên, tâm sự với tôi về những vất vả, lo toan, những nỗi niềm trong cuộcsống Qua tìm hiểu, tôi cũng biết người chồng đó vì là người trong thôn xómgần chùa, trong những dịp tình cờ gặp người chồng, tôi đã chủ động gợichuyện hỏi thăm về gia đình, khuyên răn người chồng về trách nhiệm với giađình, về trách nhiệm người đàn ông với xã hội Qua nhiều lần như vậy, thái

độ người chồng đã có những biến chuyển theo hướng tích cực Hay có bà mẹ

có con đột ngột qua đời do tai nạn, bà mẹ buồn rầu, đau khổ tìm đến cửa chùathắp nén nhang lên bàn thờ Phật với mong muốn con mình thanh thản ở thế

Trang 38

giới bên kia, đến chùa được nghe giáo lý nhà Phật, người mẹ hướng theo Phậtpháp, tích cực tụng kinh, làm việc thiện nên tâm lý cũng được giải tỏa phần

nào, lại thấy cuộc sống mình có ích hơn Có Phật tử chia sẻ: “Khi gặp biến cố trong hôn nhân, gia đình tan vỡ, con rất hận chồng, chỉ muốn chết, nhưng khi đến chùa gặp được thầy, nghe thầy giảng gải về giáo lý Phật giáo, trong

đó có Nhân - Duyên con, đã hiểu ra rằng mối quan hệ của chúng con như vậy là đã hết duyên, gắng gượng chỉ thêm đau khổ nên con không cố chấp nữa, con đã tha thứ cho chồng không oán hận cuộc đời nữa và đồng ý chia tay với chồng để tốt cho cả hai và con cái Cũng từ khi đó đến nay, con thường xuyên về chùa lễ Phật nghe thày giảng kinh sách để lòng được thanh thản, nhẹ bớt.” 4

Tín đồ và người dân huyện Gia Lâm tìm đến với ngôi chùa vào cácngày lễ, tết để thắp nén nhang thành tâm lên bàn thờ Phật, cầu mong sự chởche trước cuộc sống với bộn bề lo toan, với những biến đổi thăng trầm củacuộc sống, đến để thả hồn vào những giây phút thảnh thơi, an bình chốn cửaPhật từ bi Tạm gác ngoài cửa chùa những xô bồ của cuộc sống

Gia Lâm là vùng đất cửa ngõ thủ đô đang phát triển mạnh mẽ với cácquá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đời sống người dân nơi đây đang đặt

ra những vấn đề bức thiết: nhịp sống quá nhanh với nhiều áp lực về cho tâm

lý về công việc, về các vấn nạn đạo đức xuống cấp (tệ nạn xã hội mức độngày gia tăng phức tạp);… Ban lãnh đạo Giáo hội Phật giáo địa phương nơiđây thực sự đã trở thành nơi chỉ đạo, hướng dẫn các Tăng, Ni giúp người dângiải tỏa, cân bằng tâm lý để tiếp tục quay trở lại cuộc sống đời thường với tâm

lý sẵn sàng, vui tươi

Với sự phân tích trên đây, cho thấy các Tăng Ni trong địa bàn huyệndưới sự quản lý của Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam huyện Gia Lâm

và bản thân những thành viên trong Ban Trị sự đã làm rất tốt công tác hướng

4 Phỏng vấn Phật tử chùa Đào Xuyên

Trang 39

dẫn, thực hành niềm tin tôn giáo, khẳng định vị thế của Phật giáo trong đờisống người dân

Hàng năm, Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam huyện Gia Lâmluôn chú trọng đến việc tổ chức các ngày lễ lớn thường niên của Phật giáo: LễCầu An tết Nguyên Đán, lễ Rằm Tháng Giêng, Lễ Phật Đản, Lễ Vu Lan, với hình thức đa dạng, phong phú, trang nghiêm, hiệu quả Bởi, Ban Trị sựGiáo hội Phật giáo Việt Nam huyện Gia Lâm luôn ý thức được rằng việc tổchức tốt các ngày lễ lớn của Phật giáo có ý nghĩa quan trọng không chỉ đốivới tín đồ Phật giáo mà đây còn là dịp quan trọng để mọi người dân được thỏamãn niềm tin tôn giáo và đặc biệt các ngày lễ này cũng chính là nét đẹp vănhóa trong làng, trong tâm thức người Việt

Nhận thức được tầm quan trọng đó, hàng năm, Ban Trị sự Phật giáoViệt Nam huyện Gia Lâm khi nhận được sự chỉ đạo trực tiếp từ Ban Trị sựThành hội Phật giáo Hà Nội, đã lên kế hoạch cụ thể, phối hợp với các cơ quanchức năng của huyện ra văn bản hướng dẫn về việc tổ chức các sự kiện theođúng tinh thần của Thành hội Phật giáo Hà Nội và phù hợp với điều kiện cụthể của huyện “Cùng không khí đón xuân vui tươi của nhân dân Thủ đô, lễcầu an tết Nguyên Đán và ngày rằm Tháng Giêng đã được chư Tăng Ni trụtrì các chùa trong huyện được tổ chức tốt Năm 2012, Đại lễ Phật Đản Phậtlịch 2556 năm, Ban Trị sự Phật giáo huyện Gia lâm với sự chỉ đạo trực tiếpcủa Ban Trị sự Thành hội Phật giáo Hà Nội và các cơ quan chức năng củahuyện, Đại lễ kính mừng Phật Đản được tổ chức tại chùa Đào Xuyên, ChưTăng Ni Phật tử trong toàn huyện về dự đông đủ và trang nghiêm trọng thể.Ngoài ra còn các lễ lớn như Phật Đản, Vu Lan báo hiếu, húy kỵ Tổ Sư cũng được tổ chức tại chùa trong toàn huyện rất trang nghiêm trọng thể vàđầy tính đạo vị”5

5 GHPGVN huyện Gia Lâm (2012), Báo cáo Công tác Phật sự năm 2012 và phương hướng hoạt động năm 2013.

Trang 40

Và kết quả, các ngày lễ của Phật giáo luôn được các chùa trong huyệnGia Lâm tổ chức trang nghiêm, đúng với tinh thần Phật giáo, tín đồ Phật tửtrong huyện được thỏa mãn với niềm tin tín ngưỡng của mình Khi được hỏicâu hỏi về mức độ tham gia các lễ hội Phật giáo, gần 80% tín đồ Phật giáohuyện Gia Lâm trả lời thường xuyên tham gia các lễ hội Phật giáo trên địabàn huyện, khi được hỏi về ý nghĩa lễ hội Phật giáo, tín đồ N.M.V trả lời:

“Con tham gia ngày lễ Vu Lan Bồn này vì con thấy rất ý nghĩa, là cơ hội để con soi lại bản thân, bố con đã mất từ lâu, con chỉ còn mẹ nhưng thực sự con chưa dành nhiều thời gian cho mẹ Thường ngày con chỉ quan tâm đến bữa

ăn cho mẹ mà chưa thực sự hiểu mẹ mong muốn gì Qua những buổi lễ như thế này (khi con được cài bông hoa hường màu đỏ), được nghe các thầy giảng giải về đạo lý, con thực sự thấy thấm thía và hãnh diện vì con còn mẹ - người đã bù đắp cho con tất cả về tinh thần lẫn vật chất rất nhiều Con tự nhắc mình dẫu dù cuộc sống còn vất vả nhưng phải bứt thời gian để quan tâm đến mẹ nhiều hơn, dành nhiều thời gian cho mẹ Và không để mẹ phiền lòng” 6 Thực tế, mỗi một dịp lễ ở các chùa trong địa bàn huyện diễn ra, không

chỉ thu hút sự tham gia của các tín đồ Phật tử mà thu hút sự tham gia của đôngđảo người dân địa phương trong huyện và các địa phương lân cận, thậm chí cảmột số tỉnh khác cũng đổ về Lễ hội Phật giáo đã trở thành lễ hội chung củangười dân trong vùng Khi được hỏi về cảm nghĩ khi tham gia lễ hội, bà

P.V.H nói: “Con chưa quy y cửa Phật, nhưng con cũng hay tham gia các lễ hội, như lễ Phật đản hôm nay, con rất vui, không khí rất náo nhiệt, người dân mình cũng rất khấn khởi, đến được nghe giáo lý Phật giáo con thấy cũng rất gần với lời dạy ông bà mình” 7

Với đời sống tu tập của Tăng Ni trong toàn huyện, Ban Trị sự Giáo hộiPhật giáo Việt Nam huyện Gia Lâm luôn sát sao chỉ đạo, đôn đốc, nhắc nhở

6 Phỏng vấn tín đồ Phật giáo M.M.V tại khóa lễ Vu Lan chùa Bát Tràng

7 Phỏng vấn bà P.V.H tại buổi lễ Phật Đản tại chùa Linh Quy

Ngày đăng: 07/12/2019, 08:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Biên dịch Đạo Uyển (Chân Nguyên, Nguyễn Tường Bách, Thích Nhuận Châu) (2016), Từ Điển Phật học, Công ty sách Thời Đại và Nxb Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ Điển Phật học
Tác giả: Ban Biên dịch Đạo Uyển (Chân Nguyên, Nguyễn Tường Bách, Thích Nhuận Châu)
Nhà XB: NxbTôn giáo
Năm: 2016
2. Ban Tôn giáo Chính phủ (2003), Tập văn bản về tổ chức và đường hướng hành đạo của các tôn giáo tại Viêt Nam, Nxb Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập văn bản về tổ chức và đườnghướng hành đạo của các tôn giáo tại Viêt Nam
Tác giả: Ban Tôn giáo Chính phủ
Nhà XB: Nxb Tôn giáo
Năm: 2003
3. Ban Tôn giáo Chính phủ (2008), Tôn giáo và công tác quản lý Nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo, NxbTôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôn giáo và công tác quản lý Nhà nướcđối với các hoạt động tôn giáo
Tác giả: Ban Tôn giáo Chính phủ
Nhà XB: NxbTôn giáo
Năm: 2008
4. Ban Thường trực Hội Đồng Trị Sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam (2001), “Giáo hội Phật giáo Việt Nam 20 năm thành lập và phát triển”, Tạp chí Nghiên cứu Phật học, số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáohội Phật giáo Việt Nam 20 năm thành lập và phát triển”, Tạp chí "Nghiên cứuPhật học
Tác giả: Ban Thường trực Hội Đồng Trị Sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Năm: 2001
7. Trần Lâm Biền (1996), Chùa Việt, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chùa Việt
Tác giả: Trần Lâm Biền
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 1996
9. Thích Minh Châu (1989), Lịch sử đức Phật Thích Ca, Giáo hội Phật giáo Việt Nam, trường Cao cấp Phật học Việt Nam cơ sở II Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử đức Phật Thích Ca
Tác giả: Thích Minh Châu
Năm: 1989
10. Thích Minh Châu (2002), “Bảy nguyên lý phát triển Giáo hội”, Kỷ yếu hội thảo:Giáo hội Phật giáo Việt Nam 7/11/1981- 7/11/2001, Nxb Tôn giáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảy nguyên lý phát triển Giáo hội”, "Kỷ yếu hội thảo:"Giáo hội Phật giáo Việt Nam 7/11/1981- 7/11/2001
Tác giả: Thích Minh Châu
Nhà XB: Nxb Tôn giáo
Năm: 2002
11. Thích Trí Chơn (2001), Lược khảo quá trình hình thành và phát triển của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Luận văn triết học, Thư viện Phân viện Nghiên cứu Phât học, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược khảo quá trình hình thành và phát triển củaGiáo hội Phật giáo Việt Nam
Tác giả: Thích Trí Chơn
Năm: 2001
12. Viên Chiếu (2012), Tích truyện Pháp cú tập 2, Nxb Tôn giáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tích truyện Pháp cú tập 2
Tác giả: Viên Chiếu
Nhà XB: Nxb Tôn giáo
Năm: 2012
13. Nguyễn Văn Chế (2003), “Các tông phái trong đạo Phật”, Tạp chí Nghiên cứu Phật học, số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tông phái trong đạo Phật”
Tác giả: Nguyễn Văn Chế
Năm: 2003
14. Đoàn Trung Còn (1995), Các tôn phái đạo Phật, Nxb Thuận Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tôn phái đạo Phật
Tác giả: Đoàn Trung Còn
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 1995
15. Nguyễn Đăng Duy (1999), Phật giáo với văn hóa Việt Nam, Nxb Hà Nội 16. Nguyễn Hồng Dương (2012), Quan điểm đường lối của Đảng về tôn giáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật giáo với văn hóa Việt Nam", Nxb Hà Nội16. Nguyễn Hồng Dương (2012)
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy (1999), Phật giáo với văn hóa Việt Nam, Nxb Hà Nội 16. Nguyễn Hồng Dương
Nhà XB: Nxb Hà Nội16. Nguyễn Hồng Dương (2012)
Năm: 2012
18. Nguyễn Hồng Dương, Nguyễn Quốc Tuấn (2008), Phật giáo với văn hóa - xã hội Việt Nam thời kỳ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật giáo với văn hóa - xã hội Việt Nam thời kỳ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Nguyễn Hồng Dương, Nguyễn Quốc Tuấn
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2008
19. Nguyễn Tất Đạt (2011), Mối quan hệ giữa Nhà nước và Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối quan hệ giữa Nhà nước và Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tất Đạt
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
20. Tâm Đạt (2017), Giáo hội Phật giáo Việt Nam – 36 năm hình thành và phát triển” Tạp chí nghiên cứu Phật học số 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí nghiên cứu Phật học
Tác giả: Tâm Đạt
Năm: 2017
21. Đại Tạng Kinh Việt Nam, Hòa thượng Thích Minh Châu dịch (1996), Kinh Tăng Chi Bộ, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh Tăng Chi Bộ
Tác giả: Đại Tạng Kinh Việt Nam, Hòa thượng Thích Minh Châu dịch
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1996
22. Lê Tâm Đắc (2012), Phong trào chấn hưng Phật giáo ở Bắc kỳ, Nxb Chính trị Quốc gia, Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong trào chấn hưng Phật giáo ở Bắc kỳ
Tác giả: Lê Tâm Đắc
Nhà XB: NxbChính trị Quốc gia
Năm: 2012
23. Dương Quang Điện (Thích Thanh Điện) (2017), Quá trình hình thành và phát triển của Ban Hướng dẫn Phật tử Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam giai đoạn từ 1981 đến nay, Nxb Tôn giáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình hình thành vàphát triển của Ban Hướng dẫn Phật tử Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam giai đoạn từ 1981 đến nay
Tác giả: Dương Quang Điện (Thích Thanh Điện)
Nhà XB: Nxb Tôn giáo
Năm: 2017
24. TS. Ngô Văn Giá (chủ nhiệm đề tài) (2006), Những biến đổi về giá trị văn hóa truyền thống ở các làng ven đô Hà Nội trong thời kỳ đổi mới, Đề tài Nghiên cứu khoa học cấp Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những biến đổi về giá trịvăn hóa truyền thống ở các làng ven đô Hà Nội trong thời kỳ đổi mới
Tác giả: TS. Ngô Văn Giá (chủ nhiệm đề tài)
Năm: 2006
25. Giáo hội Phật giáo Việt Nam (1981), Kỷ yếu Đại hội đại biểu toàn quốc giáo hội Phật giáo Việt Nam lần thứ I, Ban văn hoá trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Đại hội đại biểu toàn quốc giáohội Phật giáo Việt Nam lần thứ I
Tác giả: Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Năm: 1981

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w