Như một lời tri ân dành cho những chiến công thầm lặng của những người lính hoạt động bí mật, nhà văn Phạm Quang Đẩu đã đề cập và khai thác hướng đi mới cho đề tài chiến tranh và người l
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
ĐÀO THỊ THANH THỦY
NHÂN VẬT NGƯỜI LÍNH TRONG TIỂU
THUYẾT MỘT NGÀY LÀ MƯỜI NĂM VÀ ĐƠN
TUYẾN CỦA PHẠM QUANG ĐẨU
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
HÀ NỘI 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
ĐÀO THỊ THANH THỦY
NHÂN VẬT NGƯỜI LÍNH TRONG TIỂU
THUYẾT MỘT NGÀY LÀ MƯỜI NĂM VÀ ĐƠN
TUYẾN CỦA PHẠM QUANG ĐẨU
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số: 60 22 01 21
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Nguyễn Bích Thu
HÀ NỘI 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập và thực hiện luận văn Cao học, tôi đã nhận được rất nhiều sự chỉ dẫn nhiệt tình của các thầy - cô khoa Văn học, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) Tôi vô cùng quý trọng, biết ơn sự chỉ bảo đó và xin được chân thành gửi lời tri ân đến toàn thể các thầy - cô giáo
Đặc biệt, tôi xin ngỏ lời cảm ơn sâu sắc nhất đến PSG.TS Nguyễn Bích Thu, cô đã nhiệt tình hướng dẫn, chỉ dạy, giúp tôi hoàn thành luận văn Và hơn hết, trong quá trình làm luận văn, tôi đã học tập ở cô một tinh thần nghiên cứu khoa học nghiêm túc, cẩn thận, tỉ mỉ và một thái độ làm việc hết mình Xin được gửi tới cô sự biết ơn và lòng kính trọng chân thành nhất
Bên cạnh đó, có một người cũng quan trọng không kém, ông đã hướng dẫn, tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm luận văn, đó là nhà văn Phạm
Quang Đẩu - tác giả của hai cuốn tiểu thuyết Một ngày là mười năm và Đơn tuyến mà tôi nghiên cứu Ông đã cung cấp cho tôi một số tài liệu và thông tin vô
cùng hữu ích, chia sẻ cho tôi rất nhiều kiến thức về văn học Xin được gửi tới ông lời cảm ơn sâu sắc nhất
Cuối cùng, cảm ơn gia đình và những người thân yêu đã luôn tin tưởng, động viên và ủng hộ Cảm ơn bạn bè và đồng nghiệp những người luôn sẵn sàng giúp đỡ tôi hoàn thành tốt luận văn của mình
Hà Nội, tháng…năm…2019
Đào Thị Thanh Thủy
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
3.1 Đối tượng nghiên cứu 5
3.2 Phạm vi nghiên cứu 5
4 Phương pháp nghiên cứu 5
5 Đóng góp của luận văn 6
6 Cấu trúc luận văn 7
Chương 1: PHẠM QUANG ĐẨU VÀ ĐỀ TÀI NGƯỜI LÍNH TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM SAU 1975 8
1.1 Đề tài người lính trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 8
1.1.1 Bối cảnh lịch sử, xã hội và những yêu cầu đổi mới văn học sau 1975 8
1.1.2 Một số khuynh hướng viết về chiến tranh trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 14
1.2 Sự nghiệp sáng tác của nhà văn Phạm Quang Đẩu 19
1.2.1 Đôi nét về cuộc đời, sự nghiệp của nhà văn Phạm Quang Đẩu 19
1.2.2 Đề tài người lính trong sáng tác của Phạm Quang Đẩu 20
1.2.3 Một vài sơ lược về tiểu thuyết Một ngày là mười năm và Đơn tuyến của Phạm Quang 22
Chương 2: NHÂN VẬT NGƯỜI LÍNH TRÊN MẶT TRẬN THẦM LẶNG CỦA CUỘC CHIẾN TRONG TIỂU THUYẾT MỘT NGÀY LÀ MƯỜI NĂM VÀ ĐƠN TUYẾN CỦA PHẠM QUANG ĐẨU 26
2.1 Mặt trận thầm lặng trong chiến tranh trong tiểu thuyết Một ngày là mười năm và Đơn tuyến 26
2.1.1 Mặt trận thầm lặng nhưng không bình yên 26
Trang 52.1.2 Mặt trận thầm lặng – nơi những lính chiến đấu âm thầm 31
2.2 Gương mặt người lính trong cuộc chiến thầm lặng 36
2.2.1 Những phẩm chất cao đẹp của người lính trong cuộc chiến thầm lặng 36
2.2.2 Tình yêu trong chiến tranh 48
2.2.3 Những suy ngẫm của người lính về những năm tháng đã qua 55
Chương 3: NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN CHÂN DUNG NGƯỜI LÍNH TRONG TIỂU THUYẾT MỘT NGÀY LÀ MƯỜI NĂM VÀ ĐƠN TUYẾN 64
3.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 64
3.1.1 Nghệ thuật miêu tả ngoại hình 64
3.1.2 Nghệ thuật miêu tả nội tâm 68
3.1.3 Tổng hợp nguyên mẫu có thật và hư cấu 72
3.2 Nghệ thuật tổ chức kết cấu 79
3.2.1 Kết cấu theo dòng ý thức 79
3.2.2 Kết cấu theo tuyến sự kiện 83
3.3 Ngôi kể 87
3.3.1 Người kể chuyện ngôi thứ nhất 87
3.3.2 Người kể chuyện ngôi thứ ba 90
KẾT LUẬN 95 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bén duyên với nghiệp văn chương khi đã gần vào độ tuổi trung niên, khởi đầu là những tập thơ, sau đó là những tập truyện ngắn…nhưng gây được tiếng vang và sự chú ý hơn cả khi Phạm Quang Đẩu đến với tiểu thuyết Và đặc biệt là khi ông đi sâu khai thác vào đề tài chiến tranh với nhân vật trung tâm là những người lính Nhân vật người lính là một mảnh đất màu mỡ, đã từng mời gọi rất nhiều người viết gieo trồng và gặt hái thành công Nhưng thật lạ, qua ngòi bút của Phạm Quang Đẩu nó không bị bạc màu, cũ kĩ mà xanh tươi và mang nét độc đáo riêng về đối tượng thẩm mỹ Nhà văn Phạm Quang Đẩu đã tìm được “mảnh đất” làm nên tên tuổi của mình Có lẽ bằng vốn sống phong phú, cùng những trải nghiệm thực tế của gần 40 năm sống trong quân ngũ, từng
là lính chiến ở giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mĩ, sau đó tham gia hoạt động viết báo cho báo Quân đội nhân dân bởi vậy mà đọc những trang viết của ông, người đọc thấy bức tranh hiện thực về chiến tranh tàn khốc cùng chân dung của những người lính trên mặt trận thầm lặng là tuyên truyền-võ trang và
tình báo hiện ra thực sống động Hai cuốn tiểu thuyết Một ngày là mười năm và Đơn tuyến của ông viết về giai đoạn cách mạng vô vàn khó khăn và tổn thất,
nhưng đã trụ vững nhờ vào lòng tin yêu của nhân dân, của người lính đối với
cách mạng Tiểu thuyết Một ngày là mười năm của ông được nhận giải Văn học sông Mê Kông của Hội nhà văn 3 nước Đông Dương Đơn tuyến đã được trao giải A trong cuộc thi tiểu thuyết, truyện và kí về đề tài Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống nhân kỉ niệm 70 năm truyền thống Công an nhân dân
(19/8/1945 - 19/8/2015) do Hội nhà văn Việt Nam và Bộ Công an tổ chức
Đã có rất nhiều bài viết, công trình, nhiều luận văn luận án nghiên cứu về
đề tài chiến tranh với nhân vật trung tâm là người lính Đối với nhiều nhà văn
Trang 7cùng thế hệ với Phạm Quang Đẩu viết về đề tài này, sáng tác của họ cũng được nhiều người viết chọn làm đối tượng nghiên cứu Tuy nhiên sau gần 40 năm ngày đất nước thống nhất, mới chỉ có một số lượng khiêm tốn các tác phẩm văn xuôi viết về người lính làm tình báo Tác phẩm văn học của Việt Nam viết về
các nhà hoạt động tình báo đầu tiên chính là cuốn Hồi ký Đội tình báo thiếu niên của tác giả Phạm Thắng, NXB Hà Nội 1964, về sau cuốn này được phát triển thành truyện dài có tên Đội thiếu niên tình báo Bát sắt lấy chất liệu có thật
từ “Đội thiếu niên tình báo Bát sắt”, từ đó đến nay mới chỉ có vài ba tác phẩm viết về các nhà tình báo có thật ngoài đời Như một lời tri ân dành cho những chiến công thầm lặng của những người lính hoạt động bí mật, nhà văn Phạm Quang Đẩu đã đề cập và khai thác hướng đi mới cho đề tài chiến tranh và người
lính trong hai cuốn tiểu thuyết Một ngày là mười năm và Đơn tuyến …Hai tác
phẩm này thực sự gây được tiếng vang và được đông đảo bạn đọc đón nhận
Chọn đối tượng nghiên cứu là Nhân vật người lính trong tiểu thuyết Một ngày
là mười năm và Đơn tuyến của Phạm Quang Đẩu, chúng tôi muốn làm rõ hơn
sự đa dạng, phong phú và mới lạ của tiểu thuyết viết về chiến tranh cũng như quy luật vận động của văn học trong điều kiện thời bình
Với những lí do trên, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài cho luận văn của
mình Nhân vật người lính trong tiểu thuyết Một ngày là mười năm và Đơn tuyến của Phạm Quang Đẩu Thực hiện đề tài này, chúng tôi mong muốn góp
phần tìm hiểu những đóng góp của Phạm Quang Đẩu cho nền văn học nước nhà trên phương diện đề tài chiến tranh với nhân vật trung tâm là những người lính, qua đó cho thấy diện mạo đặc sắc của văn xuôi thời viết về chiến tranh và người lính kì đổi mới
Trang 82 Lịch sử vấn đề
Mặc dù Phạm Quang Đẩu được biết đến là một nhà văn với nhiều tác phẩm được đánh giá cao, được trao nhiều giải thưởng uy tín Song cho đến nay, vẫn chưa có một công trình nào tập trung đi sâu vào nghiên cứu từ các phương diện nội dung cho đến những đặc điểm nghệ thuật trong những sáng tác của ông Trong quá trình tìm hiểu cuộc đời và sự nghiệp văn chương của nhà văn Phạm Quang Đẩu, chúng tôi đã tìm được những bài báo, bài nghiên cứu hay bài phỏng vấn, những bài viết giới thiệu tác phẩm và sự nghiệp sáng tác của ông như sau:
Nhà văn Trần Hoài Dương - nguyên trưởng ban Văn xuôi tuần báo Văn
nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam, sau khi xong cuốn tiểu thuyết Một ngày là mười năm do tác giả Phạm Quang Đẩu gửi tặng nhân dịp cuốn sách vừa được
nhận giải Văn học Mê Kông, từ TP Hồ Chí Minh đã viết mail trả lời lại bằng
những lời nhận xét xác đáng và chân tình: “Tập tiểu thuyết của anh Đẩu, Dương đọc liền trong hai đêm, anh Đẩu ạ Dương có một vài ý kiến sơ bộ như thế này Điều trước tiên, đây là một cuốn tiểu thuyết đầy ắp vốn sống, đắt giá để viết nên cuốn sách này Gợi lên được không khí, đời sống của cả một giai đoạn lịch sử, với những nhân vật có da có thịt, có cá tính, có số phận riêng biệt nhưng vấn thấy rõ bóng dáng của cả một thế hệ, nhất là thế hệ chống Pháp vừa qua Tôi rất thèm có được một vốn sống như anh, anh Đẩu ạ Cách viết cũng sinh động, bố cục chặt chẽ, thấy rõ bút lực của người viết còn rất sung sức, mạnh mẽ Nói chung, là một tác phẩm khá hay, rất đáng đọc…”
Tiến sĩ văn học Phạm Quang Trung , Đại học Đà Lạt đã viết một bài nhận
xét cuốn tiểu thuyết Một ngày là mười năm với nhan đề “ Đọc Một ngày là mười năm của Phạm Quang Đẩu” đăng trên website http://www.pqtrung.com: “Xin các nhà văn đang chất chứa những dự định tái tạo lại một thời vinh quang chưa
Trang 9xa mà thật giàu ý nghĩa của dân tộc hãy vững tin vào những suy nghĩ cùng những hy vọng nơi người đọc Riêng với tác giả Một ngày là mười năm, anh hoàn toàn có thể yên tâm vì những trang viết tâm huyết mà sâu đậm của mình, bởi đó thật sự là những dòng chữ “thú vị” với những cứ liệu lịch sử đưa ra đều “rõ ràng, chân thật” Đó quả là một phần “bảo tàng sống về chiến tranh cách mạng” của lịch sử dân tộc ta trong sự gắn bó máu thịt với những người bạn chí tình chí nghĩa như dân tộc Lào anh em ” [84].
Sau khi đọc xong Đơn tuyến, GS.TSKH Đào Vọng Đức – nguyên viện
trưởng Viện Vật lí Việt Nam cũng đã có ý kiến phản hồi về cuốn tiểu thuyết này: “ Cuốn Đơn tuyến đã gợi nhớ trong tôi hình ảnh người bạn trí tuệ khoa học sâu rộng, tâm hồn trong sáng, cùng với nhiều kỉ niệm những lần gặp gỡ trong các sinh hoạt học thuật mấy chục năm qua Cuốn sách phản ảnh một cách chân thực và sinh động về một thời hoạt động tình báo của GS Nguyễn Đình Ngọc - nhà khoa học tài năng và tâm huyết của đất nước” [22]
Tiến sĩ văn học Nguyễn Thị Huệ - giảng viên Đại học Tuyên truyền báo
chí cũng đã có một bài viết sâu sắc về cuốn tiểu thuyết Đơn tuyến đăng trên báo Quân đội nhân dân cuối tuần, số 983, ngày 2 - 11 – 2014, bài viết có tên Lấp lánh vẻ đẹp trí tuệ của một nhà tình báo công an nhân dân xuất sắc: “Từ một nguyên mẫu ngoài đời, nhà văn đã chưng cất, nhào nặn thành một hình tượng nghệ thuật nổi bật với phẩm chất của một nhà tình báo, nhà khoa học tỏa sáng vẻ đẹp lấp lánh của một trí tuệ sâu rộng, một bản lĩnh kiên cường, một tâm hồn trong sáng Trong ngổn ngang, bề bộn các sự kiện và con người của dòng chảy dào dạt của cuộc sống, nhà văn rất công phu lựa chọn được những gì tiêu biểu, điển hình nhất, mang tính nghệ thuật ngay trong bản thân
nó Xét một cách tương đối, trong trường hợp này, nhà văn Phạm Quang Đẩu
Trang 10qua Đơn tuyến đã có thể rút ngắn khoảng cách giữa cuộc sống và sự sáng tạo nghệ thuật” [31]
Qua những ý kiến tổng hợp trên, có thể thấy cả hai cuốn tiểu thuyết Một ngày là mười năm và Đơn tuyến của Phạm Quang Đẩu đều nhận được những lời
khen ngợi và được các nhà nghiên cứu đánh giá cao Đặc biệt, khi đánh giá về nội dung và nghệ thuật của cả hai cuốn tiểu thuyết, các tác giả đều có sự thống nhất khi khẳng định giá trị hiện thực chân thực, sâu sắc cùng những nhân vật và
sự kiện lịch sử có thật đã được nhà văn nhào nặn, biến hóa một cách đầy hấp dẫn
và giàu sức thuyết phục
Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa thành tựu nghiên cứu của những người đi
trước, thông qua luận văn Nhân vật người lính trong tiểu thuyết Một ngày là mười năm và Đơn tuyến của Phạm Quang Đẩu, người viết mong muốn có thể
tham khảo sát và phân tích cụ thể, toàn diện hơn chiến tranh và cuộc đời của những người lính được tái hiện trong hai cuốn tiểu thuyết của nhà văn này
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nhân vật người lính trong tiểu thuyết Một ngày là mười năm và Đơn tuyến của Phạm Quang Đẩu
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sẽ mở rộng phạm vi nghiên cứu qua việc so sánh Phạm Quang Đẩu với một số tác giả viết về nhân vật người lính như Nguyễn Minh Châu, Bảo Ninh, Hữu Mai, Chu Lai, Văn Lê, …
4 Phương pháp nghiên cứu
Để làm sáng tỏ mục tiêu của luận văn, chúng tôi sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Trang 11- Phương pháp phân tích, tổng hợp: với phương pháp này, chúng tôi sẽ chia nhỏ tác phẩm, đi sâu vào phân tích để thấy được nghệ thuật miêu tả, xây dựng nhân vật
- Phương pháp liên ngành: lịch sử, văn hóa học, nghệ thuật học được dùng để tiếp cận, nhằm nhận thức, tìm hiểu và khai thác đối tượng
- Phương pháp so sánh: để thấy được những nét đặc sắc của Phạm Quang Đẩu trong tương quan với các tác giả cùng đề tài
- Phương pháp loại hình: nhận diện các khuynh hướng tiểu thuyết viết về chiến tranh trong văn học Việt Nam sau 1975 và phân tích sự đổi mới nghệ thuật của nó theo đặc trưng thể loại văn học
- Phương pháp tự sự học: khai thác các giá trị của tác phẩm, đi sâu nhận thức hình thái kết cấu, ngôi kể, quy luật vận động, sáng tác, và đặc trưng thẩm
mĩ của thể loại tiểu thuyết
5 Đóng góp của luận văn
Thực hiện đề tài Nhân vật người lính trong tiểu thuyết Một ngày là mười năm và Đơn tuyến của Phạm Quang Đẩu, chúng tôi muốn làm sáng tỏ giá trị
nhân đạo trong nội dung của các cuốn tiểu thuyết, thấy được vẻ đẹp tâm hồn của những người lính, tình yêu quê hương đất nước sâu đậm của họ và những chiêm nghiệm, suy tư về những năm tháng anh hùng, gian khổ đã qua qua dòng
kí ức của những người lính Chúng tôi hi vọng luận văn này ít nhiều cũng cung cấp cho độc giả thấy được những đóng góp mới mẻ của Phạm Quang Đẩu cho
đề tài chiến tranh - người lính trong nền văn học cách mạng Việt Nam sau 1975
Về nghệ thuật, luận văn chỉ ra những đặc điểm nổi bật trong tiểu thuyết
Một ngày là mười năm và Đơn tuyến của Phạm Quang Đẩu trong cách xây
dụng hệ thống nhân vật đa dạng; sự đan xen hòa quyện giữa những sự kiện yếu
Trang 12tố có thật trong lịch sử với sự tưởng tượng hư cấu của tác giả; ngôi kể linh hoạt
dễ dẫn truyện và kết nối các mối quan hệ của nhân vật trong truyện dễ dàng
Ngoài ra, chúng tôi mong muốn kết quả nghiên cứu của luận văn cũng góp phần thấy được phong cách riêng của Phạm Quang Đẩu trên văn đàn và chất nhân văn làm nên giá trị trong các tác phẩm của Phạm Quang Đẩu Bổ sung thêm nguồn tư liệu tham khảo cho việc nghiên cứu văn học viết về đề tài lực lượng vũ trang và chiến tranh cách mạng sau năm 1975
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, luận văn được chia thành 3 chương chính: Chương 1: Phạm Quang Đẩu và đề tài người lính trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975
Chương 2: Nhân vật người lính trên mặt trận thầm lặng của cuộc chiến
trong tiểu thuyết Một ngày là mười năm và Đơn tuyến của Phạm Quang Đẩu
Chương 3: Nghệ thuật thể hiện nhân vật người lính trong tiểu thuyết Một
ngày là mười năm và Đơn tuyến của Phạm Quang Đẩu
Trang 13Chương 1 PHẠM QUANG ĐẨU VÀ ĐỀ TÀI NGƯỜI LÍNH TRONG TIỂU
THUYẾT VIỆT NAM SAU 1975
1.1 Đề tài người lính trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975
1.1.1 Bối cảnh lịch sử, xã hội và những yêu cầu đổi mới văn học sau 1975
1.1.1.1 Bối cảnh lịch sử và xã hội
Với chiến thắng mùa xuân năm 1975, lịch sử dân tộc mở ra thời kỳ mới - thời kỳ độc lập, thống nhất đất nước Tuy nhiên khi bước vào thới kỳ hòa bình, đất nước cũng phải đối mặt với vô vàn những khó khăn, thử thách Hậu quả nặng nề của hai cuộc chiến tranh ác liệt và kéo dài, cho đến nay, sau 30 năm vẫn chưa thể khắc phục hết Chiến tranh hầu như đã tàn phá hầu như tất cả các thành phố, đô thị và hàng nghìn làng xóm, các tuyến đường giao thông, bến cảng ở miền Bắc, nhiều vùng rộng lớn ở miền Nam – nơi diễn ra các chiến dịch quân
sự Các trận đánh lớn đã khiến nhiều nơi trở thành những miền đất chết, đất cháy Môi trường bị huỷ hoại nặng nề bởi chất độc điôxin Nền kinh tế vốn lạc hậu, thấp kém của một xứ sở bị chiến tranh tàn phá keó dài càng trở nên thê thảm hơn, tụt hậu trong khu vực Cơ chế quan liêu bao cấp với nhiều bất cập, trì trệ … khiến cho đời sống nhân dân muôn phần khó khăn Cuộc sống sau chiến tranh quả là không kém phần gai góc, phức tạp Nhìn nhận thực tế lúc bấy giờ,
nhà văn Nguyễn Khải đã nhận xét: “Chiến tranh ồn ào náo động mà lại có cái yên tĩnh giản dị của nó Hòa bình yên tĩnh, thanh bình mà lại chứa chấp những sóng ngầm, những gió xoáy bên trong” [26, tr.11]
Trước sự khủng hoảng trầm trọng, sâu sắc trên mọi lĩnh vực đời sống của thời kỳ hậu chiến, đổi mới trở thành con đường lựa chọn khẩn thiết Tại nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) đã chỉ rõ: Đổi mới là “nhu cầu bức thiết”,
là “vấn đề có ý nghĩa sống còn của toàn dân tộc” Từ đó, Đảng chủ trương xóa
Trang 14bỏ nên kinh tế quan liêu bao cấp, xây dựng nền kinh tế mở, vận hành theo cơ chế thị trường Đường lối mới và cơ chế thị trường đã thực sự tạo ra không khí dân chủ, sôi nổi, hồ hởi, phấn khởi trong cả nước Tất cả các phương diện kinh
tế, chính trị, văn hóa, xã hội đều có sự chuyển biến mạnh mẽ, tích cực, củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng Nhờ sự đổi mới mà nền kinh tế nước ta thoát khỏi sự khủng hoảng và từng bước được phục hồi khiến cho đời sống nhân dân ngày càng ổn định, nâng cao, có điều kiện quan tâm đến nhu cầu riêng tư của con người Với phương châm đổi mới tư duy, “nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật” của Đảng đã đem đến đời sống dân chủ, cởi “trói” con người khỏi những định hướng khắt khe, nghiêm ngặt của thời kỳ trước, cho
phép “tiếp cận tối đa những sự thật của cuộc đời ở dạng nguyên khởi, chất phác, mộc mạc, không chau chuốt trang trí, tô điểm” [ 26, tr.12] Tinh thần mở
cửa của thời đại mới đã tạo điều kiện cho con người tiếp cận các vấn đề hiện thực đời sống khách quan, đa chiều, công bằng hơn Nhiều vấn đề thuộc về chiến tranh đã qua cũng được nhìn nhận lại, bớt cực đoan, duy lí Con người hôm nay nhận thức về cuộc chiến ở cả niềm tự hào về chiến thắng và sức mạnh dân tộc, và cả cái giá đắt đỏ để có được nó Xu thế mở cửa , hội nhập quốc tế, hợp tác cùng phát triển bền vững đã góp phần xoa dịu mối hận thù dân tộc, giai cấp, giúp con người một thời ở hai chiến tuyến đối địch xích lại gần, thấu hiểu nhau hơn Đường lối đổi mới được thông qua là tiền đề quan trọng, thúc đẩy sự đổi mới mạnh mẽ của nền văn học, tạo ra luồng sinh khí mới đưa văn học tới những bứt phá trong sự phát triển Trong văn học, đánh dấu cho sự đổi mới tư tưởng trong đội ngũ văn nghệ sĩ bắt đầu từ cuối năm 1987 là cuộc gặp gỡ với đại diện giới văn nghệ sĩ của tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị Theo đó văn học sẽ phát triển trên tinh thần đổi mới tư duy và nhìn thẳng vào sự thật, khuyến khích tìm tòi, thử nghiệm trong sáng tạo nghệ thuật, giúp các văn nghệ sĩ vượt qua những e ngại, rụt rè, lo sợ sự kiểm duyệt,
Trang 15sợ cả những cái “thường lơ lửng đâu đó trong không trung”, tự tin nói thẳng,
nói thật những suy nghĩ, quan điểm cá nhân về các vấn đề gai góc của cuộc sống, mạnh dạn bức phá, thử nghiệm những tìm tòi, sáng tạo, những cách thức thể hiện mới Các vấn đề về vai trò, chức năng của văn học cũng được xem xét, điều chỉnh, diễn đạt lại Có thể nói, làn sóng đổi mới ngoài xã hội, nhu cầu đổi mới trong ý thức của người cầm bút làm sôi động bầu không khí sáng tác, đưa văn học thoát khỏi sự bế tắc, khủng hoảng, bổ khuyết “khoảng chân không” của văn học thời kỳ hậu chiến Trong bối cảnh đó, văn học viết về chiến tranh, về đề tài người lính nói chung, tiểu thuyết nói riêng cũng có sự chuyển động tích cực,
tự làm mới mình để phù hợp với yêu cầu của thời đại và thị hiếu mới của công chúng
Ngoài ra cũng nhờ có chính sách cởi mở và đúng đắn Giao lưu văn hóa, văn học thế giới trở nên sôi nổi, cũng đã có những tác động tích cực đến các nhà văn Việt Nam, họ có điều kiện nắm bắt xu hướng chung của văn học thế giới khi khai thác đề tài người lính, điều này đã tạo nên sự thay đổi trong diễm ngôn
về người lính trong tiểu thuyết Chiến tranh được tái hiện trong tiểu thuyết không chỉ nhằm mô phỏng quan điểm chính trị của một thể chế, giai cấp, ý thức
hệ hoặc tung hô lực lượng chiến thắng, mà nó còn thể hiện như là diễn ngôn về thân phận con người, diễn ngôn chấn thương, diễn ngôn về văn hóa… Học tập kinh nghiệm từ những tác phẩm văn học của thế giới viết về người lính, các nhà văn Việt Nam đã khắc phục cái nhìn thiên kiến, thô kệch khi đánh giá về con người Con người trong văn học sau 1975 viết về người lính được soi xét lại trong cái nhìn đa chiều, có sự gặp gỡ với mẫu hình chung của con người trong văn học hiện đại thế giới Các tiểu thuyết lớn của văn học thế giới con đem đến cho các nhà văn Việt Nam những gợi ý quan trọng về cách thức thể hiện Những kinh nghiệm của dòng ý thức, độc thoại nội tâm, sự linh hoạt trong điểm nhìn trần thuật, thủ pháp kỳ ảo… Ở nhiều tiểu thuyết viết về người lính như:
Trang 16Ông cố vấn (1987), Nỗi buồn chiến tranh (1987), Ăn mày dĩ vãng (1991), Những bước tường lửa (2004), Mùa hè giá buốt (2012),… đã đem lại cho mảng
tiểu thuyết này những sắc diện mới Việc khám phá con người bên trong cũng như tiếp cận hiện thực đã mở ra những chiều kích mới trong tâm thế sáng tạo của người cầm bút
1.1.1.2 Những thay đổi trong tâm lí thị hiếu của độc giả
Sự đổi mới trong văn học đã tạo ra sự đổi mới trong nhận thức và quan niệm của con người với những nhu cầu và thị hiếu khác trước Công chúng tiếp nhận văn học hôm nay không còn đơn giản, một chiều như thời kì trước Độc giả của tiểu thuyết viết về vấn đề chiến tranh không chỉ là những người đã từng trải nghiệm cuộc sống chiến tranh Phần đông họ được sinh ra sau 1975, trong
đó đông đảo, nhạy cảm nhất là những độc giả thuộc thế hệ 8X, 9X - những người được sinh ra ở thời bình của đất nước Tiểu thuyết viết về chiến tranh không tạo ra sức hấp dẫn như là những tác phẩm viết về các vấn đề của cuộc sống hiện tại của họ như hôn nhân, tình yêu … Ngoài ra, còn phải kể đến những dòng tiểu thuyết mang đậm tính chất thương mại, giải trí
Giai đoạn văn học 1945 - 1975 trước đó chưa tạo ra được mối quan hệ bình đẳng giữa độc giả với nhà văn và tác phẩm Vì vậy, người đọc dễ dàng đồng tình với quan điểm của nhà văn, ít có nhu cầu đối thoại Hoàn cảnh “thông diễn” mới của thời kỳ sau hòa bình đã tạo nên vị thế dân chủ hơn cho công chúng tiếp nhận văn học Họ có nhận thức riêng, quan đểm của riêng mình về những điều mà họ biết và mục đích tìm đến văn học của con người ngày nay không giống nhau, có người tìm đến tác phẩm văn học do nhiệm vụ nghiên cứu,
có người lại muốn có thêm sự hiểu biết về đời sống quanh mình, có người lạ tìm đến văn học đơn giản chỉ để thư giãn và giải trí Sau chiến tranh độc giả có điều kiện tìm hiểu về cuộc chiến tranh của dân tộc từ nhiều kênh thông tin khác nhau,
Trang 17ví dụ như: qua những tư liệu lịch sử của ta, tài liệu mật của đối phương, những cuốn nhật kí, hồi kí, thư từ của các cựu quân nhân hai bên… cho nên sự hiểu biết của họ về chiến tranh, quan niệm và cách nhìn về chiến tranh cũng không còn giống trước Mặt khác, sự phát triển của thời đại công nghệ thông tin, các tài liệu ở thư viện đều được số hóa, các tiểu thuyết nổi tiếng viết về chiến tranh cũng được giới thiệu rộng rãi ở Việt Nam Trong điều kiện sống hiện nay, độc giả có ít thời gian để đọc tiểu thuyết nhiều tập hoặc tiểu thuyết dày Tất cả những điều này đã tạo ra sự thay đổi trong việc tiếp nhận tác phẩm văn học viết
về vấn đề chiến tranh Như vậy, sự chuyển đổi hình thái xã hội đã tạo nên sự chuyển động thay đổi trên nhiều phương diện của văn học, trong đó có công chúng tiếp nhận Nhu cầu, thị hiếu, mục đích hướng đến văn học của công chúng tiếp nhận hôm nay đã có nhiều điểm khác biệt so với trước Điều này đã ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển văn học
1.1.1.3 Nhu cầu đổi mới lối viết của nhà văn
Đi cùng với sự thay đổi trong tâm lí thị hiếu của độc giả, các nhà văn cũng phải thay đổi về cách tiếp cận cuộc sống, nhìn nhận con người và các vấn
đề của xã hội đa chiều và có những góc nhìn mới lạ, độc đáo hơn Giờ đây văn học nghệ thuật không còn được hiểu đơn giản chỉ như là công cụ của chính trị,
là vũ khí của công tác tư tưởng, là phương tiện tuyên truyền, giáo dục quần
chúng, mà là “một bộ phận trọng yếu của cách mạng tư tưởng và văn hóa”, “là
bộ phận đặc biệt nhạy cảm của văn hóa, thể hiện khát vọng của con người về chân, thiện, mỹ, có tác dụng bồi dưỡng tình cảm, tâm hồn, nhân cách, bản lĩnh của các thế hệ công dân, xây dựng môi trường đạo đức trong xã hội…”[42]
Điều này đã thúc đẩy tư duy sáng tạo nghệ thuật của các nhà văn cũng phải từng bước thay đổi nếu như họ không muốn bị bỏ lại phía sau Từ sau năm 1975, những quan niệm nghệ thuật mới về con người, trong đó có hình tượng người lính cũng đã có sự nhìn nhận khác trước, đa chiều hơn, trung thực hơn, không
Trang 18phiến diện một chiều như trước nữa Các nhà văn tập trung khai thác chiều sâu nội tâm của hình tượng người chiến sĩ Đó là những suy nghĩ của họ sau khi cuộc chiến đã đi qua, là những sự hy sinh mất mát trong chiến tranh, những dằn vặt, trăn trở khi người lính buông súng trở về tái hòa nhập với cuộc sống đời thường, tình yêu và hạnh phúc của họ, giá trị và thước đo những giá trị cuộc sống như thế nào v.v…
Nếu như người lính thời chiến được các nhà văn thể hiện gần như trong một không gian phẳng, và hầu như tất cả đều được quy vào bốn phẩm chất cơ bản là: yêu nước, căm thù giặc, chiến đấu dũng cảm, có phẩm chất lạc quan cách mạng – rất dễ nhận diện, thì hình tượng những người lính thời bình đã khác trước rất nhiều Mặt trái của chiến tranh, những tác động tiêu cực và những di chứng của chiến tranh được khai thác từ nhiều phía Những éo le, bi kịch của chiến tranh đã để lại những vết thương trong tâm hồn, tình cảm của nhiều người lính “hậu chiến” Hình tượng người lính đã chuyển từ khuynh hướng sử thi sang cảm hứng nhân văn, với những nhức nhối về thân phận con người Trước 1975, hình tượng người lính là những người giầu chất lý tưởng, hầu như không có những mâu thuẫn xung đột nội tâm Sau chiến tranh, hình tượng người lính được nhìn nhận lại với nhiều điểm mới, mà rõ nét nhất là sự
“vênh lệch” giữa phẩm chất người lính, người anh hùng thời chiến trước đây với những ứng xử của họ trong cuộc sống đời thường, trong các mối quan hệ riêng tư Sự xung đột giữa “ánh sáng và bóng tối”, giữa “rồng phượng lẫn rắn rết”, giữa “thiên thần và quỷ sứ”… trong các sáng tác của Bảo Ninh, Ma Văn Kháng và nhiều nhà văn khác là có thật! Những người lính trước đây được khắc họa là những người “làm chủ hoàn cảnh”, có khả năng khắc phục mọi trở ngại
để đạt được mục tiêu, lý tưởng, thì, nói một cách khái quát, người lính sau chiến tranh chịu sự chi phối nghiệt ngã của hoàn cảnh, tác động đến số phận và tính cách của con người họ Đó chính là tinh thần nhân văn, nhân bản trong các sáng
Trang 19tác của các nhà văn viết về người lính sau chiến tranh, người lính thời bình Đó cũng là sự nhìn nhận đúng về con người và khả năng của con người Có thể thấy
ở thời kỳ mới, các nhà văn đã có cái nhìn đầy đủ và bao dung hơn về chiến tranh Từ đó ta nhận ra rằng: cốt lõi của quá trình đổi mới nằm ở việc các cây bút đã có nhận thức đúng đắn về bản chất thẩm mỹ của văn học, về sứ mệnh cao
cả của những người viết sử bằng văn, và cả ở việc nhận thức văn chương cũng
là một nghề, một nghiệp
Nhờ nhu cầu đổi mới, mỗi nhà văn cũng đã góp phần thúc đẩy văn học viết về chiến tranh nói chung, tiểu thuyết nói riêng, vận động phát triển, trở nên hấp dẫn hơn, mới mẻ hơn trong cách nhìn về lịch sử Ý thức sáng tao vừa tạo nên những tác phẩm mang dấu ấn truyền thống dân tộc, vừa hội nhập với văn học thế giới ngày nay
1.1.2 Một số khuynh hướng viết về chiến tranh trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975
1.1.2.1 Khuynh hướng thể hiện con người bị chấn thương và những số phận bi kịch
Nếu như trước năm 1975, cảm hứng chủ đạo trong tiểu thuyết chiến tranh
là cảm hứng anh hùng thì sau 1975, cái bi và cảm hứng bi kịch dần trở thành chủ đạo Sau 1975, đi liền với nhu cầu được “nói thật” là băn khoăn về việc văn học có quyền hay không được phép nói về bi kịch của con người Theo nghị quyết 05 của Bộ Chính trị đã thừa nhận những quyền ấy của văn học, coi văn nghệ là “tiếng nói của lương tri, của sự thật” Vậy là, văn học với tư cách là một sản phẩm tinh thần, nó có quyền nói về nỗi buồn, về bi kịch, thậm chí cả niềm thất vọng trước nhân tình thế thái Nằm trong mạch vận động chung, cái bi và cảm hứng bi kịch dần trở thành phạm trù chủ đạo của tiểu thuyết về chiến tranh Các tác phẩm giai đoạn này không chỉ viết về chiến tranh từ góc độ lịch sử dân tộc mà nhiều tiểu thuyết còn nhìn chiến tranh qua số phận cá nhân hay đời tư
Trang 20của con người Với những góc nhìn mới, nhà văn đã xây dựng thành công hình tượng nhân vật bị chấn thương và những số phận bi kịch Đó là những người bị chiến tranh cướp đi sự cân bằng tâm lí Có thể do “hội chứng chiến tranh” hoặc
do mâu thuẫn giữa khát vọng hạnh phúc cá nhân với hoàn cảnh hiện tại, đến thời bình, rất nhiều nhân vật phải chịu số phận bi kịch Không ít các nhà văn tâm niệm rằng khi viết về nỗi đau, viết về bi kịch cá nhân để tố cáo chiến tranh, nhận chân giá trị chiến thắng, để tri ân đồng bào, đồng chí, để trân trọng sự sống, trân trọng hòa bình Chính vì thế, con người bị chấn thương ngày càng xuất hiện nhiều và trở thành kiểu nhân vật mới của tiểu thuyết về chiến tranh Các tác
phẩm tiêu biểu là: Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai), Tàn đen đốm đỏ (Phạm Ngọc Tiến), Đại tá không biết đùa (Lê Lựu), Bến đò xưa lặng lẽ (Xuân Đức), Tiểu thuyết Một ngày là mười năm và Đơn tuyến
của Phạm Quang Đẩu những người lính của chúng ta mặc dù không trực tiếp cầm súng ra trận “mặt đối mặt” với kẻ thù nhưng họ luôn bị ám ảnh trong tâm trí của mình cái chết của đồng đội, những thói quen đến “lập dị” của “bệnh nghề
nghiệp” để lại ngay cả khi đất nước đã độc lập, thống nhất Đến khi hòa bình,
họ tiếp tục bị “hội chứng chiến tranh” hành hạ, nhiều người không tìm được trạng thái cân bằng, không hòa nhập được vào hiện tại, nhất là với các mối quan
hệ thời bình, trở thành “lạc thời” và thường rơi vào bi kịch bế tắc Đi sâu vào số phận bất hạnh của con người tức là văn học đã cân đo chiến tranh bằng cái cân nhân tính Tuy viết về bi kịch, về mất mát, đau thương nhưng nhà văn không bao giờ mất niềm tin ở con người, họ vẫn nhìn ra vẻ đẹp tiềm tàng trong tâm hồn những người biết gắng gỏi chắt chiu từng “giọt” nhân tính giữa môi trường bạo lực phi nhân Đó chính là chiều sâu nhân đạo mà một số tiểu thuyết viết về chiến tranh trong thời gian gần đây đạt được
Ngoài ra, sau 1975, người viết quan tâm đến những mảng hiện thực còn khuất lấp, hiện thực trong lòng người, hiện thực “của riêng anh” Nhìn từ số
Trang 21phận cá nhân, chiến tranh là sự bất thường, phi lí, khốc liệt, nó để lại những di chứng nặng nề và thường đồng nghĩa với tai họa, nỗi buồn, chết chóc, đói khổ,
sự hủy diệt tình yêu đó là những điều phi lí nhất mà chiến tranh gây ra cho cuộc sống con người Không né tránh hiện thực bất lực ấy, nhà văn đã đem đến cái nhìn toàn diện hơn về một chặng lịch sử hào hùng nhưng cũng đầy bi thương của dân tộc Tính chất khốc liệt của chiến tranh đã được nói tới trong văn chương sau 1975, song có rất ít các cuốn sách viết về “cuộc chiến thầm lặng” của những người lính làm tình báo hoặc làm vũ trang tuyên truyền trên mặt trận thầm lặng chống kẻ thù Hướng ngòi bút của mình tới những người chiến sĩ “ít người biết đến” ấy, nhà văn Phạm Quang Đẩu từ những tư liệu lịch
sử có thật thu nhặt được đã viết lên hai cuốn tiểu thuyết Đơn Tuyến và Một ngày
là mười năm Đây là những tác phẩm gây ấn tượng với người đọc bằng những
trang văn “chân thật” nhưng cũng có chút “ma mị, hư ảo” Tiếp cận hiện thực này, dù chỉ trên trang giấy, tâm hồn người đọc vẫn bị chấn động mạnh bởi niềm xót xa, thương cảm Nhìn chiến tranh từ số phận con người, nỗi buồn cùng sự trăn trở vượt lên số phận đã trở thành âm hưởng xuyên suốt nhiều tác phẩm Khi xây dựng kiểu nhân vật chấn thương, cái tâm, cái tài của nhà văn thể hiện ở chỗ rọi ánh ánh sáng vào vùng khuất tối, nhìn ra nét đẹp của nhân tính ẩn sau những hành động có vẻ tầm thường hoặc kì quặc
1.1.2.2 Khuynh hướng khám phá người anh hùng lưỡng diện
Sau 1975, trong bộ phận tiểu thuyết về chiến tranh, các tác phẩm thuộc
về thể tài lịch sử dân tộc chiếm vị trí quan trọng Nhân vật anh hùng lưỡng diện
đã trở thành kiểu nhân vật trung tâm Người anh hùng lưỡng diện có thể là nhân vật bất toàn (theo quan niệm truyền thống): dũng cảm trong chiến đấu nhưng
còn không ít khiếm khuyết trong đời thường Họ có thể là nhân vật bất toàn như
Nhị Nguyễn, Lèng Cảnh, Nguyễn Văn Bình trong Một ngày là mười năm, nhân vật “tôi” Nguyễn Đình Ngọc, Hai Tân trong Đơn tuyến của Phạm Quang Đẩu
Trang 22hoặc là người anh hùng có đời sống nội tâm không đơn giản như Vũ Ngọc Nhạ
trong Ông cố vấn - Hồ sơ một điệp viên (Hữu Mai), hay Nguyễn Sĩ Việt trong Mùa hè giá buốt (Văn Lê)
Kiểu nhân vật anh hùng lưỡng diện góp phần quan trọng trong sự đổi mới tiểu thuyết sử thi Khi nhân vật sử thi anh hùng truyền thống được thay thế bằng người anh hùng lưỡng diện, hiện thực chiến tranh cũng được soi chiếu từ những chiều kích khác nhau Bên cạnh cảm hứng chủ đạo là ngợi ca, nhiều tiểu thuyết
sử thi còn có những cảm hứng nghệ thuật khác như: cảm hứng bi tráng, cảm hứng thế sự, cảm hứng nhân bản Ngoài ra, khi khám phá người anh hùng lưỡng diện còn là sự thay đổi về quan niệm về người anh hùng với cái nhìn công bằng hơn về những người bên kia chiến tuyến Xét về quan điểm giai cấp
và chính trị, họ là kẻ thù nhưng từ phương diện số phận cá nhân, họ là những kẻ bất hạnh Qua đó, có lẽ một số nhà văn muốn thể hiện thông điệp: chiến tranh là
bi kịch chung của toàn dân tộc, dù thế nào thì người lính phía bên kia vẫn là những con dân Việt Nam Họ không chủ động chọn con đường này nhưng lịch
sử đã “chọn” họ để làm kẻ chiến bại, thừa nhận con người đời thường ở họ cũng
là một cách hoá giải hận thù dân tộc
Nhân vật anh hùng lưỡng diện góp phần quan trọng cho sự đổi mới tiểu thuyết sử thi sau 1975 Tiếc là, số lượng nhân vật được xây dựng thành công và
để lại ấn tượng sâu sắc chưa có nhiều Kể cả trong những tác phẩm có quy mô
tương đối lớn, tác giả cũng chỉ thường dồn tâm huyết cho một nhân vật (Ông cố vấn – Hồ sơ một điệp viên, Tư Thiên, Mùa hè giá buốt,…) Còn nếu như tác
phẩm có một nhóm nhân vật chính thì nhóm nhân vật ấy cũng chưa thực sự sắc
nét (Năm 1975 họ đã sống như thế, Đất trắng, Những bức tường lửa,…) Đây
có lẽ là nguyên nhân chính làm cho tiểu thuyết sử thi của ta chưa đạt được thành tựu như kì vọng
Trang 231.1.2.3 Khuynh hướng thể hiện con người đời thường và những vấn đề thế sự
Sau 1975, khuynh hướng đạo đức – thế sự hình thành và dần trở thành một trong những khuynh hướng chủ đạo Điểm đến của các tác phẩm này là những chuyện hàng ngày, chuyện ứng xử và chuyện nhân sinh muôn thuở Nằm trong tiến trình chung tiểu thuyết về chiến tranh cũng chuyển sang thể hiện con người đời thường và những vấn đề thế sự Từ góc nhìn thế sự, với người trong cuộc – những người trực tiếp tham chiến hoặc có mối liên hệ mật thiết với người lính – chiến tranh luôn không phải trò đùa, nó đã cướp đi bao sinh mạng,
để lại bao khoảng trống không gì bù đắp nổi; nó cướp đi quyền được hạnh phúc, được học hành của biết bao cõi đời hư thực Còn với những người cùng thời nhưng không can dự vào chiến tranh: “chiến tranh là cơ hội để làm giàu” (ông
Phát - Thời của những tiên tri giả), là “tội nợ kiếp nhân sinh giữa cõi trần ai” (lời của nhân vật Nhài - Sống khó hơn là chết), hoặc “chiến tranh đúng là ngu ngốc” (lời của nhân vật Quế - Cõi đời hư thực) Hành trình từ chiến tranh
sang hòa bình và công cuộc mưu sinh của con người thời hậu chiến là vô cùng khó khăn nhưng hành trình trở lại với đời thường của người lính cách mạng cũng không hề dễ khi con người ta quen với một môi trường mà vấn đề sống chết được đặt ra cao hơn là vấn đề mưu sinh, là vấn đề tiền bạc, thậm chí là tình cảm yêu thương Có người còn rơi vào suy nghĩ cực đoan đối với con người và
cuộc sống hiện tại (Chính – Không phải trò đùa), có người coi tất cả ý nghĩa đối
với mình nằm ở vinh quang quá khứ, có người mang hoài bão lớn những không vượt qua được thử thách trong thời bình (một số người cựu chiến binh – Sống khó hơn chết) Chấp nhận cuộc sống như nó vốn có, thay đổi bản thân là việc làm không dễ Một người lính cần phải học cách thích nghi với sự phức tạp, đa đoan của đời thường Đó là triết lí mà không ít tác giả gửi gắm trong sáng tác của mình
Trang 241.2 Sự nghiệp sáng tác của nhà văn Phạm Quang Đẩu
1.2.1 Đôi nét về cuộc đời, sự nghiệp của nhà văn Phạm Quang Đẩu
Nhà văn Phạm Quang Đẩu sinh ngày 15/8/1948 Quê gốc Cố Bản, Vụ Bản, Nam Định Hiện nay, ông đang sống và làm việc tại thành phố Hà Nội Thuở nhỏ, ông chăn trâu cắt cỏ với những bạn dân tộc Mường Cha ông là một người say mê văn học và truyền lòng say mê ấy cho con cái Ngày ấy, xung quanh bàn học của cậu bé Phạm Quang Đẩu toàn là sách văn học Xôviết, văn học dịch của Anh, Pháp, Tây Ban Nha…Sau khi lớn lên, Phạm Quang Đẩu trở thành một kỹ sư cơ khí, và sau chín năm làm kỹ thuật trong quân đội, ông chuyển nghề viết báo viết, viết văn Hiện ông mang quân hàm đại tá, công tác
tại soạn báo Quân đội nhân dân thuộc Tổng cục Chính trị, Đảng viên Đảng
Cộng sản Việt Nam, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1999)
Bén duyên với văn chương khá muộn, Phạm Quang Đẩu bắt đầu sáng tác
từ những năm đầu thập niên 80 thế kỷ XX Tuy nhiên ông đã có những đóng góp không nhỏ cả về số lượng lẫn chất lượng của tác phẩm Ông sáng tác thành công chủ yếu trên hai thể loại là thơ và văn xuôi
Về thơ có: Gió lang thang (1992), Rào tơ nhện (2000), Tơ trời và gió
(2006)
Về văn xuôi có: Bức tranh vui (truyện thiếu nhi) (1983); Bẩy ngày tự thú (tiểu thuyết) (1991); Lời tiên tri độc ác (tiểu thuyết) (1993); Ngõ toàn dở hơi (truyện ngắn) (1997); Bí mật khu rừng chiến địa (truyện ngắn) (1998); Người trợ thủ công lý (ký) (2002); Cơn sốc (tiểu thuyết) (2002); Sét đánh vào thị trấn (2003); Một ngày là mười năm (tiểu thuyết) (2009); Đánh đu cùng số phận (tiểu thuyết) (2012); Đơn tuyến (tiểu thuyết chân dung) (2013, tái bản năm 2015); Anh chàng kỳ cục (truyện ngắn) (2014)
Trang 25Với sự sáng tạo miệt mài, không ngừng nghỉ ấy, nhà văn Phạm Quang Đẩu đã nhận được rất nhiều giải thưởng sáng giá: hai giải thưởng truyện ngắn của Hội Nhà văn Việt Nam vào các năm 1982, 1986; một giải thưởng Văn học
Mê Kông về tiểu thuyết Một ngày là mười năm, năm 2010, giải A cuộc thi sáng
tác tiểu thuyết, truyện và kí về đề tài “Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống (2012-2015)” do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn tổ chức cho tiểu thuyết
Đơn tuyến
1.2.2 Đề tài người lính trong sáng tác của Phạm Quang Đẩu
Chiến tranh đã lùi xa nhưng đề tài người lính (trong và sau chiến tranh),
đề tài chiến tranh cách mạng vẫn không hề vơi cạn.Trong đội ngũ những người viết văn quân đội, Phạm Quang Đẩu nhập cuộc làng văn hơi muộn Mãi đến năm 1983, khi vào tuổi 35, ông mới có tập truyện ngắn đầu tay và gần sau đó
gần 10 năm, ông mới có cuốn tiểu thuyết đầu tiên Ông tự nhận, "tạng tôi có lẽ
về già mới viết được" Quả vậy, năm 2007, sau khi về hưu, Phạm Quang Đẩu
viết khoẻ, có nhiều tác phẩm được dư luận chú ý và nhiều tác phẩm được giải trong thời gian này Điều đặc biệt là trong tất cả các tiểu thuyết ít nhiều đều có
bóng dáng người lính chiến, hay người lính hậu chiến, riêng 2 cuốn Một ngày là mười năm và Đơn tuyến thì nhân vật người lính trong chiến tranh (chống Pháp
và chống Mỹ) là nổi trội, xuyên suốt và cả hai cuốn đều được nhận giải cao Có thể thấy Phạm Quang Đâu khổng chỉ là nhà văn có duyên với các giải thưởng
mà còn là nhà văn có duyên với đề tài chiến tranh và người lính
Cơ duyên sáng tác cuốn tiểu thuyết Một ngày là mười năm rất tình cờ và
bất ngờ Mấy năm về trước, Bộ Quốc phòng đã có cuộc vận động để một số nhà văn trong và ngoài quân đội viết về đề tài chiến tranh Từng là sỹ quan kỹ thuật tham gia phục vụ kháng chiến, sau đó lại trở về hoạt động văn học và báo chí trong quân đội thì đây đều là “vốn liếng” quý giá để Phạm Quang Đẩu bắt tay
Trang 26vào viết cuốn tiểu thuyết Một ngày là mười năm Đáng lẽ, cuốn này được in ở
NXB Quân đội, song do việc giám định muộn nên không thể ra mắt trong năm
2009 Sau đó, diễn ra Hội nghị quốc tế dịch văn học Việt Nam ra nước ngoài, Phạm Quang Đẩu có nhờ Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam gửi tặng một cuốn cho vị Chủ tịch Hội Nhà văn Lào tham dự hội nghị Nhà thơ Hữu Thỉnh đã giữ lại đọc trước khi gửi và gọi điện thúc Phạm Quang Đẩu dự giải Để rồi năm
2010, cuốn tiểu thuyết Một ngày là mười năm được trao Giải Văn học sông Mê
Kông lần thứ ba diễn ra ở thủ đô Viêng Chăn (Lào)
Sau thành công của Một ngày là mười năm, nhà văn Phạm Quang Đẩu lại
lên ý tưởng viết cuốn tiểu thuyết tiếp theo về một nhân vật có thật trong ngành công an Đã có nhiều bài báo viết về nhân vật ấy, nhưng chưa ai viết thành sách Ông là giáo sư toán học, kiêm nhà tình báo Nguyễn Đình Ngọc, lúc sinh thời sống rất khép kín Ông đã mất cách đây nhiều năm, mang theo xuống mồ bao bí mật, câu chuyện ly kỳ hấp dẫn, có cả những số phận cùng bi kịch của người trong cuộc suốt thời gian dài hoạt động trong lòng địch Phạm Quang Đẩu tâm niệm rằng: “sẽ cố gắng dựng lại cuộc đời Nguyễn Đình Ngọc sống bằng tư liệu, bằng sự tưởng tượng và bằng kinh nghiệm đã viết 6 cuốn tiểu thuyết vừa qua”
[35] Và khi hoàn thành, cuốn sách này mang tên Đơn tuyến đã được đông đảo
bạn đọc đón nhận, được giới chuyên môn đánh giá cao và đây là cuốn tiểu thuyết đầu tiên viết về nhà tình báo công an trong chống Mỹ cứu nước
Hai cuốn tiểu thuyết Một ngày là mười năm và Đơn tuyến giống như một
phần “bảo tàng sống về chiến tranh cách mạng” của lịch sử dân tộc ta trong những năm tháng gay go, ác liệt của cuộc kháng chiến chống chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ Thế hệ nhà văn chống Mỹ trong Hội Nhà văn Việt Nam hôm nay đều ở tuổi 60- 80 cả Tức là, họ đều lên lão từ lâu, hầu hết đã qua thời
kỳ đỉnh của sức viết cùng đỉnh cao tác phẩm đã công bố của mình Nói vậy
Trang 27không có nghĩa là lứa nhà văn chống Mỹ không thể tiếp tục sáng tạo để có thêm tác phẩm để đời Thực tế không ít nhà văn trong nước và thế giới ở tuổi lên lão mới trình làng những tác phẩm đáng chú ý nhất, chí ít cũng không thua kém những cái đã viết thời trẻ Vả lại từ lâu y học đã chứng minh rằng, người làm công việc sáng tạo có thể lại có “thời kỳ bừng sáng” ở tuổi ngoài 60 Và có thể
nói, qua Một ngày là mười năm và Đơn tuyến, nhà văn Phạm Quang Đẩu đã
“bừng sáng” khi trở lại với cuộc sống đời thường Hãy còn nhiều hy vọng thành công, cho những ai ở tuổi xế chiều như ông, vẫn coi viết văn là cái nghiêp sáng tạo nghệ thuật cao quý, là thú chơi tao nhã không thể chối bỏ chừng nào còn sống, còn yêu thương con người trên cõi đời này, còn muốn có đóng góp dù là
nhỏ nhoi cho nền văn hóa văn nghệ nước nhà!
1.2.3 Khái quát tiểu thuyết Một ngày là mười năm và Đơn tuyến của Phạm Quang
1.2.3.1 Khái quát tiểu thuyết Một ngày là mười năm
Tiểu thuyết Một ngày là mười năm được nhà văn Phạm Quang Đẩu viết
năm 2008 và xuất bản bởi nhà xuất bản Lao Động Đến năm 2010, cuốn này đoạt giải thưởng Văn học sông Mê Kông lần III trong tổng số 10 giải thưởng trao cho các nhà văn ba nước: Việt Nam (3); Campuchia (3); Lào (4) Ông sang Viên Chăn nhận giải thưởng của Hội Nhà văn các nước Đông Dương Sau đó, cuốn tiểu thuyết này được tái bản ngay năm đó và được “sốt sột” dịch sang
tiếng Lào Bản thân tác giả Phạm Quang Đẩu cũng từng tâm sự rằng “Cách đây hai năm, tôi nảy ra ý định viết một cuốn tiểu thuyết sử thi mà nhân vật chính xuyên suốt cả một giai đoạn lịch sử của đất nước, tôi nghĩ ngay đến bác Nguyễn Như Kim Bác là nhân chứng, là gương mặt của một thời, hội đủ các đức tính [ ] Sau một năm viết miệt mài, tôi đã hoàn thành cuốn tiểu thuyết với tựa Một ngày là mười năm Nhân vật chính xuyên suốt tất nhiên là phải dụng công hư
Trang 28cấu, song trong đó có bác Nguyễn Như Kim gần như được lấy nguyên mẫu trong đoạn đầu đời nhân vật”[17]
Một ngày là mười năm - cuốn tiểu thuyết viết về chiến tranh, viết về
người lính quả cảm, anh hùng trong mặt trận “thầm lặng” Họ lặng lẽ, kín đáo tiếp sức cho cuộc chiến, góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng Điều đặc biệt hơn cả, họ cũng là “con người” bằng da bằng thịt, có lí trí và cũng có trái tim Tác giả Phạm Quang Đẩu đã quan tâm khai thác cái góc cạnh rất riêng, rất người ấy của người lính Điều đó khiến cho hình ảnh của họ trở nên sống động
và chân thực hơn bao giờ hết Có lẽ vì thế mà chiến tranh đã đi qua nhưng nỗi đau còn đọng lại Những biến cố, những sự kiện được khảo sát lại với cái nhìn của người trong cuộc Lịch sử là không thể thay đổi, song bài học lịch sử lại rất
có ích cho tương lai
1.2.3.2 Khái quát tiểu thuyết Đơn tuyến
Sau thành công của Một ngày là mười năm, nhà văn Phạm Quang Đẩu lại
ấp ủ trong mình nhiều dự định và ý tưởng viết văn mới, viết cuốn tiểu thuyết tiếp theo về một nhân vật có thật trong ngành công an Và “dự định” ấy đã được
ông dày công tâm huyết viết ra cuốn tiểu thuyết Đơn tuyến Tác phẩm đã đoạt giải A cuộc thi sáng tác tiểu thuyết, truyện và kí về đề tài Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống (2012-2015) do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn tổ
chức
Tiếp tục khai thác về đề tài người lính dựa trên một nguyên mẫu có thật, Phạm Quang Đẩu đã tái hiện cả một giai đoạn chiến đấu ác liệt của dân tộc, không chỉ trên những chiến trường đầy mưa bom bão đạn, đó còn là cuộc đấu trí đầy dũng cảm của những người công an tình báo Nhìn lại, cuộc kháng chiến
chống Mỹ cứu nước qua hơn 15 năm, mới được đọc cuốn Ông cố vấn của nhà
văn Hữu Mai, viết về nhà tình báo quân đội, thiếu tướng Vũ Ngọc Nhạ, người
Trang 29từng làm “cố vấn” cho hai đời tổng thống ngụy Sài Gòn trong vỏ bọc một cha
cố từng trải, uyên thâm Rồi phải đợi đến 32 năm sau ngày đất nước thống nhất,
bạn đọc nước ta mới biết đến cuốn Điệp viên hoàn hảo của nhà sử học, kiêm
nhà văn Mỹ Larry Berman cũng viết về một nhà tình báo quân đội khác - thiếu tướng Phạm Xuân Ẩn, trong vỏ bọc Trưởng văn phòng đại diện tạp chí Mỹ Time ở Sài Gòn
Có thể thấy đề tài chiến tranh và người lính đã quá quen thuộc trong kho tàng văn chương nước nhà nhưng nó không bao giờ là cũ nếu có các thế hệ nhà văn tâm huyết, tài năng và sáng tạo Đọc những trang văn của Phạm Quang Đẩu,
ta thấy rõ sự nhanh nhạy, mạch lạc, chặt chẽ của một người viết nhiều kinh nghiệm trong khai thác tư liêu, sự kiện, cùng một vốn sống phong phú và tư duy sắc sảo Phạm Quang Đẩu luôn tâm đắc với tâm sự của nhà văn Nga nổi tiếng
K.Pauxtopski: “Tôi sống và làm việc, yêu, đau khổ, hi vọng, mơ ước, chỉ biết chắc một điều rằng, sớm hay muộn trong tuổi trưởng thành hoặc thậm chí trong tuổi già, tôi sẽ viết Tôi viết không phải vì đặt cho mình nhiệm vụ ấy, mà bản chất tôi phải đòi hỏi như vậy Và bởi vì văn học đối với tôi là một hiện tượng đẹp đẽ nhất thế giới” [75] Phải chăng đó cũng là tự bạch của chính nhà
văn Phạm Quang Đẩu?
Tiểu kết
Có thể thấy, suốt từ năm 1975 đến nay, mảng đề tài chiến tranh trong văn học đã trải qua nhiều chặng đường phát triển khác nhau Sau khi đất nước hòa bình, đề tài này lại càng phong phú hơn với nhiều cây bút từng khoác áo lính và
cả những cây bút trẻ Đến nay, đề tài này – với độ lùi thời gian cần thiết để chúng ta có thể đánh giá một cách khách quan, công bằng; đã trở thành vỉa quặng giá trị cho các nhà văn khai thác Viết về chiến tranh như một sự tri ân; chiến tranh là một hiện thực đa chiều cần nhận thức lại, viết về chiến tranh là
Trang 30viết về số phận con người, viết về nhân tính; viết về chiến tranh bằng kinh nghiệm cá nhân trên cơ sở hư cấu nghệ thuật Tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 viết về chiến tranh phát triển thành ba khuynh hướng chính Trong đó khuynh hướng khám phá người anh hùng lưỡng diện có số lượng tác phẩm nhiều nhất
và đã có những cách tân nhất định nhằm đáp ứng thị hiếu người đọc Khuynh hướng thể hiện con người bị chấn thương và số phận bi kịch manh nha từ sau
1975 và đạt được những kết tinh nghệ thuật vào cuối thập niên 80, đầu thập niên 90; sự đổi mới của tiểu thuyết chiến tranh thuộc về khuynh hướng này Khuynh hướng thể hiện con người đời thường và những vấn đề thế sự cũng đạt được những thành tựu đáng kể Cả ba khuynh hướng trên đã và sẽ tiếp tục tác động qua lại, hỗ trợ cho nhau cùng phát triển Phạm Quang Đẩu thuộc thế hệ nhà văn chống Mỹ, đến nay vẫn còn sáng tác miệt mài, bền bỉ Hầu như năm nào ông cũng cho ra đầu sách mới Lặng thầm và khiêm nhường nhưng Phạm Quang Đẩu đang dần tỏa sáng và khẳng định được vị trí của mình trên văn đàn Tác phẩm của ông không chỉ được giới chuyên môn trong nước đánh giá cao,
mà còn được giới chuyên môn và độc giả nước ngoài trân trọng, đón nhận nồng
nhiệt Tiểu thuyết Một ngày là mười năm và Đơn tuyến là hai cuốn tiểu thuyết
viết về chiến tranh có ý nghĩa nhân văn sâu sắc đối với các thế hệ người dân Việt Nam, nó góp phần để lại các bài học quý báu cho thế hệ sau thấy được quá khứ hào hùng và bi tráng của dân tộc Nhà văn Phạm Quang Đẩu đã có thể rút ngắn khoảng cách giữa cuộc sống và sự sáng tạo nghệ thuật Tác phẩm vừa đáp ứng nhu cầu thông tin sự thật, vừa thoả mãn nhu cầu thông tin thẩm mĩ đối với người đọc Điều này cũng rất dễ hiểu bởi lẽ ngay trong sự thực cũng có cái thẩm
mĩ Như nhà văn, nhà triết học Nga Sécnưnsepxki đã viết: “Trong hiện thực có nhiều sự kiện đáng tôn là kịch và tiểu thuyết mà các nhà văn vĩ đại đã viết ra”
Trang 31Chương 2:
NHÂN VẬT NGƯỜI LÍNH TRÊN MẶT TRẬN THẦM LẶNG CỦA
CUỘC CHIẾN TRONG TIỂU THUYẾT MỘT NGÀY LÀ MƯỜI NĂM
VÀ ĐƠN TUYẾN CỦA PHẠM QUANG ĐẨU 2.1 Mặt trận thầm lặng của cuộc chiến trong tiểu thuyết Một ngày là
mười năm và Đơn tuyến
2.1.1 Mặt trận thầm lặng nhưng không bình yên
Nhà văn Phạm Quang Đẩu đã đi sâu khai thác vẻ đẹp anh hùng của những người chiến sĩ cộng sản trên mặt trận thầm lặng, không có tiếng súng tiếng đạn nhưng dữ dội, sóng gió Đây là một mặt trận chứa đựng đầy hiểm nguy, khó khăn thử thách tới từ nhiều phía và không thể nào lường trước được
rủi ro Đó là nhân vật Nhị Nguyễn trong tiểu thuyết Một ngày là mười năm
Ông được cấp trên giao nhiệm vụ chuyển 18kg vàng ròng xuyên bán đảo Đông
Dương sang Thái Lan mua một số khí tài quân sự “Con đường hữu nghị thiên biến vạn hoá, dài hàng ngàn kilômet, qua biên giới bốn nước mà không ai có thể định vị cụ thể vị trí của nó trên bản đồ Mỗi chuyến đi có một lịch trình riêng, cung đường riêng Cho nên địch muốn ngăn chặn, cô lập ta mà không thể Nhưng nguy hiểm thì luôn rình rập bất cứ đoàn nào, trong lúc nào, ở đoạn nào” [19, tr 33-34] Sau đó ông lại được nhận nhiệm vụ mới là làm “võ trang
tuyên truyền” khu vực Nam Lào Trong suốt một hành trình dài ấy, đã có biết bao hiểm nguy rình rập “Kẻ thù” của người chiến sĩ ấy không phải là những trái mìn, viên đạn mà là sự khắc nghiệt của khí hậu, sự khó khăn của địa hình, những dịch bệnh, cọp, thổ phỉ nơi rừng thiêng nước độc Và đã có đôi lần tưởng chừng cận kề với cái chết trong gang tấc Nhị Nguyễn cũng những người đồng đội gần như phải di chuyển bằng đường rừng để tránh tai mắt và bị lộ tẩy Họ
không có thời gian để nói chuyện với nhau “Leo hết núi này lại tiếp đỉnh núi khác, càng đi rừng càng rậm rạp và ánh nắng hầu như trong xuyên qua nổi
Trang 32tầng tầng lớp lớp tán lá cành cuộng che chắn trên cao, làm cho mọi vật trước mặt họ cũng sẫm sẫm, mờ mờ Phải chú ý lắm mới phân biệt được là sáng, trưa hay chiều” [18, tr.10] Đêm xuống, người lính mới thấm thía hơn bao giờ hết sự
uy hùng, man dại của rừng già “Giữa lòng đêm tịch mịch, mới có dịp nghe mọi cung bậc của bản nhạc bất tận, man dại nơi hoang sơ chưa dấu chân người Bản hoà tấu hỗn độn chỉ làm tăng thêm sự cô đơn cùng nỗi bất lực, hãi hùng của con người khi phút chốc lạc vào không gian hồng hoang tiền sử” [ 18,
tr.46] Ngỡ tưởng khi vạn vật chìm trong giấc ngủ, con người cũng được nghỉ ngơi sau một ngày dài vất vả, thì giờ đây trong khoảng không gian đất trời yên tĩnh ấy, vẫn có những con người đang ngày đêm chiến đấu âm thầm không ngừng nghỉ Ai biết được rằng đằng sau bức màn đêm u tịch, những bóng cây
âm u của rừng già, những người lính như Nhị Nguyễn, Lèng Cảnh, Nguyễn Văn Bình đang chống chọi lại muôn vàn khó khăn, nguy hiểm Bóng tối đã ghê
sợ, nhưng đó chưa phải là tất cả những mối đe doạ, người lính còn phải đối mặt với những cơn sốt rét rừng hoành hành, suýt chút nữa là bỏ xác nơi rừng thiêng nước độc Khi vừa đi qua đất Sốp Sang, ba người lại chui vào một khu rừng mưa nhiệt đới – nơi có rất nhiều loài thú dữ Và thật oái oăm, quật đổ Nhị Nguyễn không phải là con thú có sức mạnh đáng sợ mà là một loài tí ti, di nhẹ
đủ tan, đó là muỗi rừng Căn bệnh này khiến cho ông bị sốt cao, lúc thì hầm hập như lò than, lúc lại rét run như rơi vào bể băng Một người chiến sĩ vốn rắn rỏi, khoẻ mạnh giờ đây chân không bước nổi, sa sẩm mặt mày, ngã bệt dí, chân tay
chổng cả lên trời Khi đã dần hồi phục, Nhị Nguyễn soi gương, “ông giật mình như thế thấy một người khác: má hóp, da xanh lớt, mắt vàng khè, môi thâm xì”
[18, tr.49] Hoàn cảnh của Nhị Nguyễn rất giống với hai câu thơ của nhà thơ Quang Dũng khi miêu tả hiện thực khốc liệt của chiến tranh mà người lính Tây
Tiến phải chịu đựng: “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc / Quân xanh màu lá giữ oai hùm” Đã có biết bao nhiêu chiến sĩ của ta chưa kịp ra trận đã tử trận vì
Trang 33căn bệnh sốt rét nguy hại ấy Phải được đọc những trang văn chân thật như thế này người đọc mới phần nào hiểu được những hi sinh âm thầm của người lính, đặc biệt là của những chiến sĩ đảm nhận những nhiệm vụ âm thầm – phía sau của chiến trường đầy bom rơi, đạn nổ Những ngày dài hành quân, bạ đâu ngủ đấy, kiếm được gì ăn đấy, thiếu thốn mọi thứ “Căn phòng ngủ quen thuộc” của
Nhị Nguyễn và đồng đội chính là những cánh rừng, để khi tỉnh dậy “quần áo, đầu tóc ai cũng ướt nhèm sương núi” [18, tr.52].Có những khoảng thời gian dài họ toàn “nốc lương khô, chẳng hạt cơm cuộng rau nào, xót ruột lắm” Thậm chí, nhiều khi đói quá, không có gì ăn, bụng réo ầm ầm, Nhị Nguyễn nhìn thấy
“một cây và quả sai lúc lỉu” đã “chọn ăn liền ba quả to nhất, bụng no căng” và
chỉ đến chiều “ông thấy đầu óc choáng váng, sa sẩm mặt mày, ngã ngồi cạnh gốc vả Rồi từ miệng, nôn thốc tháo mọi thứ có trong dạ dày, tiếp đếm ra cả mật xanh, mật vàng” [18, tr.177] Hoá ra thứ quả ông ăn chính là quả vả, nhưng khi
ăn lúc đói dễ say, cững như bị ngộ độc Cái chết có thể cận kề bất cứ khi nào, nó cũng “âm thầm” len lỏi vào cuộc sống của những người lính ẩn mình làm nhiệm vụ Đâu phải chỉ ra chiến trường nơi có khói lửa, đạn bom ta mới thấu cảm hết sự khốc liệt của chiến tranh? Và đâu cứ phải ẩn mình có nghĩa sẽ bình yên? Nhị Nguyễn và đồng đội của mình đang dấn thân vào một mặt trận thầm lặng nhưng không bao giờ bình lặng
Không chỉ có Nhị Nguyễn và đồng đội trong tiểu thuyết Một ngày là mười năm mà trong cuốn tiểu thuyết tiếp theo viết về người lính Đơn tuyến,
Phạm Quang Đẩu cũng tiếp tục khai thác mặt trận âm thầm nhưng không hề bình yên của sĩ quan tình báo Nguyễn Đình Ngọc Để có thể đi theo con đường này, Nguyễn Đình Ngọc phải giấu kín thân phận của mình với gia đình và những người thân, thậm chí với cả vợ con Để tạo được cái “vỏ bọc” chắc chắn, ông đã hăng say học tập miệt mài với bề dày thành tích Hơn mười năm trôi dạt trên đất Pháp, phải xa quê hương, gia đình, bè bạn đấy là một “cực hình” tra
Trang 34tấn dành cho những người làm tình báo như ông Nhiều khi Nguyễn Đình Ngọc rất thèm được ăn một bữa cơm gia đình, được ăn những món ăn mẹ nấu Trong trận chiến ấy, ông còn không có thời gian để ăn uống, bởi vậy ông quyết định mỗi ngày chỉ ăn một bữa để tiết kiệm thời gian, cũng là vừa dưỡng sinh, bảo vệ
sức khoẻ theo Yoga Ấn Độ “Mấy ngày đầu cảm thấy đói, hơi chóng mặt, tôi tự nhủ phải ăn bù cho bữa sau, thế là ăn cố, trước ba bát hay bốn, năm bát Dần thành quen” [22, tr.108] Và nhờ “sáng kiến” ấy Nguyễn Đình Ngọc có thêm
thời gian lên lớp, chấm bài, nghiên cứu, đọc sách báo, tạp chí chuyên ngành mới về các lĩnh vực mình quan tâm Và nhờ “sáng kiến” ấy, ông được mệnh danh là “giáo sư lập dị” Có lẽ, nghề nghiệp đã khiến cho ông không thể có được một cuộc sống bình thường giống như bao người khác Ngay căn nhà mà ông ở cũng được thiết kế vô cùng đặc biệt với chiếc cửa buồng có một dãy hàng dọc bẩy cái khoá: khoá bi, khoá số, khoá một chìa, hai chìa, đồng, gang, sắt, mục đích để kẻ đột nhập khó lòng mở cửa vào nhà Đặc biệt Nguyễn Đình Ngọc tránh đi phương tiện xe cơ giới, chỉ cuốc bộ hoặc cưỡi xe đạp và thường xuyên
đi ngược chiều để “cắt đuôi” kẻ theo dõi Nghề tình báo quan trọng là phải biết giữ mồm giữ miệng giữ bí mật, phải chăng vì thế mà nó “âm thầm” thật nhưng sóng gió lại bủa quanh cuộc sống gia đình, hôn nhân của Nguyễn Đình Ngọc Ngỡ tưởng rằng ông đã có một cuộc hôn nhân mỹ mãn bên người con gái tài sắc Trịnh Thị Nguyệt Tỉnh, nhưng để cái vỏ bọc ấy được chân thật nhất mà ông đã đánh mất hạnh phúc của chính mình Vỏ bọc ấy càng bền chắc bao nhiêu thì vợ con lại càng xa dần ông bấy nhiêu Và cuối cùng khi nó đã vượt qua cái ngưỡng của sự chịu đựng thì hôn nhân bắt đầu rạn nứt và đổ vỡ Ngót nửa thế kỷ phục
vụ cách mạng với hơn 20 năm hoạt động tình báo trong những “vỏ bọc” khác nhau để vượt qua nhiều cam go, thử thách, Nguyễn Đình Ngọc đã phải hi sinh
và đánh đổi rất nhiều thứ trong đó có gia đình, có tình yêu và hạnh phúc
Trang 35Không chỉ là một chiến trường tranh đấu ngầm đầy quyết liệt mà nhiều khi hoạt động trong mặt trận ấy, họ cũng không tránh khỏi những lần bị bắt giam trong tù, chịu mọi đòn tra khảo, tra tấn của bọn thực dân Một mình họ cũng phải chịu đựng nỗi đớn về thể xác, từng ngày từng ngày mòn mỏi sống không bằng chết, nhưng không hé răng tiết lộ dù chỉ một chút thông tin Nhị
Nguyễn trong Một ngày là mười năm may mắn sống sốt sau trận thuỷ chiến trên
tầu “Sông Lô” nhưng ông bị bọn giặc bắt giữ, chúng giam ông ở nhà tù khét tiếng bót Catinat Tuy ông chỉ bị giam và tra hỏi ở đây hơn một tháng nhưng ấn tượng ngược đãi tù nhân khủng khiếp thì không bao giờ có thể quên được Mấy trăm con người trần trụi từ nhiều miền nép sát vào nhau, vuốt nước trên mặt không kịp, đầu tóc, quần áo rã rượi bị giam hãm trong một căn phòng không
mái che chỉ vỏn vẹn hơn hai chục mét vuông “Đứng chán mỏi, tất cả ngồi thụp, chụm đầu vào nhau, đêm thì lại nằm nghiêng thân sát thân như cá xếp làm mắm trong bể chượp bê tông” [18, tr 111] Không chỉ khổ sở trong sinh hoạt, ngủ nghỉ mà tới miếng ăn cũng kham khổ vô cùng “Các nắm cơm ném lăn lóc trên nền xi măng ướt nhèm, gạo hầm bã bời nhạt nhẽo, phải bẻ ra từng miếng nhỏ
và nhanh tay chấm kẻo đống muối trắng đổ trên sàn đang bị tan rã hết theo nước mưa Có cái thùng sắt đựng canh cải lõng bõng pha mùi rỉ sét tanh ngòm
để bên cạnh cửa ra vào Muốn nuốt trôi miếng cơm khô khốc, không có thìa múc, người ta phải cụm lòng bàn tay thọc vào thùng, hớt nước, cuộng rau vả ập lên mồm” [18, tr 111] Quả đúng là ăn uống còn kém cả con vật trong chuồng
Họ bị ngược đãi không còn là con người nữa Ấy thế mà biết bao nhiêu chiến sĩ của ta – trong đó có Nhị Nguyễn đã âm thầm vượt qua nó, nhẫn nhịn, tủi nhục với tia hi vọng một ngày được tự do, ra khỏi tù lại tiếp tục chiến đấu chống lại
kẻ thù Sự dã man, tàn ác của quân giặc chưa dừng lại ở đấy, khủng khiếp hơn
cả có lẽ vẫn là những món đòn tra khảo sống không bằng chết của chúng Những ngày ở tù, Nhị Nguyễn cũng được nếm đủ những thủ đoạn của chúng,
Trang 36nào là “cột hai ngón cái vào hai sợi dây điện và nó điềm nhiên quay manheto Điện vọt cao áp, giật ông ngã bổ chửng, tim thót ngừng đập Nó dìm đầu ông vào bể nước cho sặc, nhấc ra lại dìm, cứ thế một hồi bụng ông căng như cái trống, nằm thẳng cẳng trên sàn nước ồng ộc tuôn ra mồm, ra mũi” [18, tr 112]; khi thì “Nó bắt ông quỳ hai đầu gối lên sàn, ép ngực vào mép ghế đẩu và dùng chày gỗ nện thình thịch lên lưng sau mấy lần “hự”, máu ứa đầy miệng, ngất xỉu” [18, tr 112]; còn một món đặc sản khác nữa “vẫn chày gỗ ấy, gõ liên hồi xung quanh đầu ông, không gõ quá mạnh, chỉ vừa phải cho không quỵ ngay mà phải đứng lên khi cảm thấy đầu như muốn nổ tung mới ngã gục” [18, tr 112]
Nhưng tất cả đòn tra khảo tàn ác ấy vẫn không mạnh bằng tình yêu nước của người lính quả cảm ấy Nó có thể tra tấn họ về thể xác nhưng ý chí và lòng nồng nàn yêu nước, lòng căm thù giặc bầm gan tím ruột thì không có một thứ vũ khí nào có thể tước đoạt Thế mới thấy mặt trận ấy thầm lặng nhưng chưa bao giờ bình yên
2.1.2 Mặt trận thầm lặng – nơi những lính chiến đấu âm thầm
Những người lính trong hai cuốn tiểu thuyết Một ngày là mười năm và Đơn tuyến đều được giao những nhiệm vụ tuyệt mật, càng ít người biết càng tốt
và phải tuyệt đối giữ mồm giữ miệng, có thể hi sinh mạng sống nhưng không được phép tiết lộ nhiệm vụ được giao, thông tin được nhận, bởi nó liên quan và ảnh hưởng tới cả một chiến dịch hoặc mạng sống của trăm nghìn đồng đội khác
Trong Một ngày là mười năm, mặc dù nhiều lần Nhị Nguyễn nghĩ tới việc được
cầm súng ra trận, được giết giặc, nhưng duyên số lại để anh nhận những nhiệm
vụ bên ngoài chiến trường Đầu tiên, anh được cử mang 18kg vàng ròng sang Thái để mua một số linh kiện, vật tư, thiết bị phục vụ ngành truyền thông – thông tin Một số vàng lớn như vậy, một hành trình dài xuyên bán đảo Đông Dương trong suốt một trăm bảy ba ngày mà bên cạnh ông chỉ có hai người bạn đồng hành, bảo vệ Suốt dọc đường đi, họ đã gặp biết bao nguy hiểm, không chỉ
Trang 37đối mặt với những cánh rừng già âm u đầy hổ, thổ phí, muỗi rừng mà họ còn phải đấu trí, đấu lực với bao tai mắt, sự dò xét của kẻ thù Theo lời khuyên của
cơ sở, họ không mang súng theo vì khi đi đường rất có thể bị khám xét nhưng Nhị Nguyễn học được cách giấu súng vào phía bụng dưới nên ông mang theo phòng khi gặp nguy Khi ba người đang trôi chậm trên con thuyền trên khúc sông giao thoa của hai nhánh sông Nậm Muôn và Nậm Ca Đinh, thì nhác thấy trên bờ có toán lính đi tuần, súng khoác vai, yêu cầu thuyền tiến vào bờ để khám xét Ba lô vàng vẫn để trên đầu sạp, trong giờ phút nguy kịch ấy, Nhị Nguyễn đã rất nhanh trí nghĩ ra một cách, ông lấy một đoạn dây để dòng cái ba
lô vàng xuống sông để bọn lính tuần không phát hiện trên thuyền Bốn người trên thuyền nhanh chóng phối hợp, từ từ thả cái ba lô xuống Khi thuyền cập bến, tên đội trưởng bắt xuất trình giấy tờ, yêu cầu kiểm tra hành lí và chúng lục tung hai ba lô khám xét Trước tình thế ấy, Nhị Nguyễn đã phân tích, đưa ra
những trường hợp xấu nhất và cách giải quyết “chúng khám từng người thì sao, khẩu súng ngắn ông vẫn giấu dưới bụng, nếu chúng lần ra không cách gì khác
là phải liều, khử cả hai và ép chủ thuyền tháo chạy Hoặc giả, chúng nhìn thấy sợi dây thép đáng ngờ buộc ngoài mui thuyền” [18, tr 95] May mà những điều xấu nhất ấy, không xảy ra, bọn lính lên bờ, cả ba lúc này mới thở phào Vậy mà, sau chặng đường đầy tai ương rình rập, bao lần sống chết cận kề, bao lần tim đập thình thịch, họ vẫn giữ được số vàng vẹn nguyên, đặt chân an toàn lên đất Thái Thế mới thấy, những công việc thầm lặng này, đâu chỉ cần sự dũng cảm,
mà hơn tất cả còn cần có sự mưu trí, nhanh nhạy, ứng biến với mọi khó khăn không thể lường trước Nhưng đến phút chót, trên đường quay ngược từ đất Thái về quê hương cùng kiện hàng, Nhị Nguyễn cũng mười hai người lính thuỷ thủ trên con tầu Sông Lô đã gặp bất trắc Những con người vô danh ấy, đã hi sinh âm thầm, để lại sinh mạng dưới biển Đông trong nhiệm vụ chuyển hàng về nước, chỉ còn Nhị Nguyễn may mắn sống sót Nó trở thành nỗi ám ảnh cả cuộc
Trang 38đời ông, khiến ông tự dày vò chính bản thân mình, và Nhị Nguyễn lại rơi vào một cuộc chiến thầm lặng – đấu tranh với toà án lương tâm của bản thân Ông luôn luôn nghĩ về đồng đội, căm thù giặc sâu sắc “bức bối niềm căm uất trào sôi”
và đòi hỏi kẻ thù phải trả cho hết món nợ với ông và những người đồng đội Sau mất mát đau thương, trắng tay ấy, Nhị Nguyễn được cấp trên cắt cử đi học tiếp, được bồi dưỡng học ngành vật lí hạt nhân Mặc dù biết học cũng là một nhiệm
vụ nhưng ông đã xin được nhập ngũ chứ không nhập học “tổn thất vừa qua vẫn
ám ảnh ghê gớm Ra trận là cách để giải toả tinh thần tốt nhất” [18, tr 120]
Mặc dù được sự động viên, khuyên giải của huynh trưởng Tạ Quang Bửu
“Chiến tranh là một mất một còn Không tránh được rủi ro, mà lần này thực sự
là trắng tay Kẻ chiến bại phải biết chấp nhận và vượt lên làm lại” [18, tr 121]
nhưng đến năm 1951, Nhị Nguyễn vẫn quyết định nhập ngũ Ông được giao
nhiệm vụ làm võ trang tuyên truyền, ông đã lên thẳng cấp trên bảo “tôi tình nguyện nhập ngũ là để được trực tiếp chiến đấu chứ đâu lại về hậu cứ sau lưng địch thế này!” [18, tr 122] Tới vùng đất cao nguyên Bô Lô Vên ấy, ông gặp lại trạm trưởng không biết đùa Đỗ Trường, hai người cùng nhau giải quyết chuyện nội bộ các bản ở đây, đem lại sự đoàn kết dân tộc, để cùng nhau kề vai sát cánh tiêu diệt kẻ thù Họ phải vừa vận động vừa võ trang để dàn xếp, thuyết phục các bản cùng nhau dồn sức chống Pháp chứ không phải dồn sức chống lẫn
nhau thế này “Bọn Tây khôn lỏi, toạ sơn quan hổ đầu Khi hai bên bị thương, chúng thịt túa lua cả hai con hổ què cho mà xem Đừng mắc mưu chúng, phải hợp sức đánh Tây trước, đòi nợ sau” [18, tr.127] Trong lúc Nhị Nguyễn đang
cố gỡ rỗi thì sự nóng nảy của Đỗ Trường khiến cho sự việc càng lúc càng rắc rối
khi đã tự ý giết chết trưởng bản Phắc Phai với lí do “trưởng bản Phắc Phai lâu nay tỏ ra cứng đầu trong hoà giải với Đác Bun, hắn trở thành vật cản cho liên minh giữa các tộc Nha Hởn” [18, tr 146] Cái chết của trưởng bản Phắc Phai đã đảo lộn tình thế, sự nghi kị bao trùm Pha Lan, trưởng bản Nai Koong Nõn rất
Trang 39buồn và hoang mang Đã vậy, khi cấp trên biết chuyện, gọi hai người về lại khen ngợi việc làm của Đỗ Trường khiến Nhị Nguyễn cảm thấy không phục Ông cảm thấy hụt hẫng, chán nản và từng nghĩ hay là bỏ quách đây đi, về nước chiến đấu cho nhẹ đầu óc Thế mới thấy, làm lính võ trang tuyên truyền không phải chuyện đơn giản, những cuộc chiến nội bộ, những cuộc chiến âm thầm đánh vào mặt trận tư tưởng mới thực sự là khó giải quyết Sau đó, nhờ việc vạch mặt và giết được tên ác ôn sếp Su đã khiến cho buôn làng hả lòng hả dạ thêm vững tin vào cán bộ Việt Nam
Không chỉ có Nhị Nguyễn, nhân vật chính Nguyễn Đình Ngọc trong tiểu
thuyết Đơn tuyến cũng đã cho bạn đọc thấy những chiến công anh hùng của dân
tộc được tạo nên từ một phần công lao to lớn của những nhà tình báo hoạt động trên mặt trận thầm lặng Đây là thời điểm đồng bào, chiến sĩ sắp ca khúc khải hoàn thì ông cùng các điệp viên hoạt động đơn tuyến khác lại âm thầm bước vào một mặt trận mới Để lấy được tin báo, trước tiên Nguyễn Đình Ngọc phải mất thời gian để tạo vỏ bọc lấy lòng tin từ giới trí thức Sài Gòn, để lấy được tin báo, ông phải xâm nhập vào lòng địch, tạo dựng các mối quan hệ Trong trận chiến này, nhà tình báo ấy gần như chỉ có một mình tự xoay sở Đến người vợ chung chăn chung gối, ông cũng không được phép nói ra Bởi cái nghề ấy cần phải giữ mồm giữ miệng và cuối cùng khiến hôn nhân rạn nứt Nguyễn Đình Ngọc phải rời xa Việt Nam trong suốt mười năm dài, ông âm thầm chịu đựng sự
cô đơn, nỗi nhớ quê hương, gia đình, bạn bè, thậm chí có những điều giản đơn như ăn những món ăn thanh đạm của quê hương cũng là một mong ước xa xỉ Nhưng những hi sinh to lớn ấy đã được đền bù lại bằng những chiến công lớn
của ông Khi về nước, ông được cấp trên giao nhiệm vụ “luồn sâu, leo cao trong giới trí thức, thượng lưu Sài Gòn Từ mối quan hệ hiện có, cần mở rộng đến các tướng tá quân đội nguỵ, cố vấn Mỹ” Chỉ thị chỉ ngắn gọn như vậy, còn
cách thức thực hiện để hoàn thành nhiệm vụ ra sao thì chẳng có ai nói cả, nó yêu
Trang 40cầu người điệp viên phải nhanh nhạy, mưu trí và thận trọng Ngay sau khi nhận được nhiệm vụ, Nguyễn Đình Ngọc đã tạo mối quan hệ với gia đình nhà em rể
vợ Nghiêm Văn Phú Ông dùng tài lẻ xem tử vi của mình khiến Phú rất thích thú, có chút men rượu, Phú đã say sưa kể về cuộc hành quân sắp tới - cuộc hành quân Cedan Falls Bằng trí nhớ siêu đẳng của mình, nhà tình báo của ta đã ghi nhớ hết trong đầu và không sót chi tiết nào Một vấn đề nữa lại được đặt ra, giờ phải chuyển tin đi bằng cách nào? Nguyễn Đình Ngọc bỏ qua những cách truyền tin cũ như giấu các cuộn phim trong bánh trứng cuộn, miếng nem chua gói lá chuối hay bóc một phần đế dép, gấp nhỏ tài liệu rồi cho vào đó rồi dùng
keo dán lại đế dép như cũ… “Ông cẩn trọng bóc lớp võ nhãn hiệu của hộp sữa còn nguyên, lật mặt trái của nó, dùng mực hoá học viết lên đó toàn bộ những hiểu biết được về cuộc hành quân Cedar Falls, rồi dán lại như cũ” trao cho Cô Phương Lan” [22, tr.122] Cấp trên đã khen ngợi tinh thần khẩn trương của
Nguyễn Đình Ngọc và ghi nhận những tin tức cung cấp kịp thời Ông tiếp tục luồn sâu vào giới trí thức, thượng lưu Sài Gòn, ông kết thân với vợ chồng người bạn cũ Vương Mộng Ngọc và trung tá Jason Kaatz Nhờ tài bói toán “bất đắc dĩ”
ấy, ông đã “thuần phục” được vợ chồng Vương Mộng Ngọc Từ đó, mối quan
hệ lại được mở rộng hơn, ông quen biết thêm cả thiếu tá Jack Smith Qua những câu chuyện thăm dò, ông đã cũng cấp chính xác về cuộc tấn công của liên quân
Mỹ - Việt vào vùng Móc Câu - Mỏ Vẹt, tránh cho ta những tổn thất lớn Trong quá trình hoạt động tình báo, Nguyễn Đình Ngọc còn kịp thời thông báo những tin tức quan trọng, góp phần không nhỏ tạo nên thắng lời của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ Tuy nhiên, trong suốt cuộc đời làm điệp viên, sau đó về già nghỉ hưu, thậm chí tới lúc chết, Nguyễn Đình Ngọc vẫn không hề tiết lộ những chiến công âm thầm ấy của mình cho bất kì ai, đặc biệt là những nhà báo, nhà văn Những tại liệu họ thu thập được vô cùng ít và một phần qua người đồng chí gắn bó với ông cung cấp Có thể thấy việc làm này của ông là do tính cách kín