Câu hỏi nghiên cứu Nghiên cứu của tôi mong muốn mang đến cho người đọc một mô tả sâu về mâu thuẫn đất đai, nghĩa là những mâu thuẫn đã xảy ra trong quá trình thu hồi quyền sử dụng đất n
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ NA
MÂU THUẪN TRONG QUÁ TRÌNH
THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP (Nghiên cứu trường hợp một làng đồng bằng sông Hồng)
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Nhân học
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của cá nhân tôi được thực hiện trong khuôn khổ chương trình đào tạo Thạc sĩ chuyên ngành Nhân học Những số liệu trong luận văn là kết quả trung thực, chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Lê Na
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến thầy giáo hướng dẫn khoa học, PGS.TS Nguyễn Văn Sửu, đã tận tình chỉ bảo trong quá trình tôi nghiên cứu và hoàn thiện luận văn
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Khoa Nhân học; Ban giám hiệu; Phòng Đào tạo của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
và hoàn thành luận văn
Nhân đây, tôi xin gửi lời cảm ơn đến: Chính quyền địa phương và cấp huyện nơi tôi nghiên cứu đã cho phép tôi khai thác tài liệu, giúp đỡ tôi trong quá trình điền dã trên địa bàn nghiên cứu; Thư viện Trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn, Thư viện Quốc gia Việt Nam đã hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi tiếp cận và khai thác nguồn văn bản lưu trữ liên quan đến đề tài luận văn
Tôi xin gửi lòng biết ơn chân thành đến những người dân ở địa bàn nghiên cứu, đã cởi mở chia sẻ và nhiệt tình cung cấp cho tôi những thông tin cần thiết để tôi có thể hoàn thành luận văn này
Tôi không thể hoàn thành luận văn này nếu không có sự hỗ trợ, động viên của gia đình tôi Tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn của mình cho gia đình bằng cách dành bản luận văn này cho tất cả những người yêu thương trong gia đình tôi
Xin cảm ơn những người bạn đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn./
Lê Na
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG 3
DANH MỤC BIỂU ĐỒ 4
DANH MỤC CÁC BẢN ĐỒ - SƠ ĐỒ 5
MỞ ĐẦU 6
1.Lý do chọn đề tài 6
2.Câu hỏi nghiên cứu 7
3.Mục đích và phạm vi nghiên cứu 7
4.Phương pháp nghiên cứu 8
5.Cấu trúc luận văn……… 10
Chư ng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU, CƠ SỞ L THU ẾT VÀ Đ A ÀN NGHI N CỨU 11
1.1 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 11
1 1 1 11
1 1 2 15
1.2 Cách tiếp cận lý thuyết 17
1 2 1
17
1 2 2 – 19
1.3 Địa bàn nghiên cứu 20
Chư ng 2 PHÁT TRI N CÔNG NGHIỆP, THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP VÀ MÂU THUẪN Ở THÔN HẠ……….…… 25
2.1 Đổi mới và chiến lược công nghiệp hóa ở Bắc Ninh 25
2 1 1 25
2 2 2 26
2.2 Dự án KCN A 28
Trang 62 2 1 28
2.2.2 30
2.3 Thu hồi đất và mâu thuẫn ở thôn Hạ……….… 32
2.3.1 Quá trình thu hồi quyền sử dụng đất tại thôn Hạ 32
2.3.2 Những phản kháng của người dân 34
Chư ng 3 THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP DƯỚI LĂNG KÍNH CỦA NHÀ NƯỚC VÀ NGƯỜI NÔNG DÂN 44
3.1 í ồ 44
3 2 ổ ứ r ồ 47
3.3 Thu hồi đất nông nghiệp từ lăng kính của người nông dân………… 57
3 3 1 ổ rọ ro ơ dân 57
3.3.2 ứ í ồ
………59
3 3 3 Ẩ ừ ị 63
KẾT LUẬN 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
PHỤ LỤC 88
Trang 7Bảng 3.3: Đánh giá nhận thức của người dân về vai trò của
chính quyền các cấp trong quá trình thu hồi
Trang 8DANH MỤC I U ĐỒ
Biểu đồ 1.1: Cơ cấu nghề nghiệp người dân thôn Hạ
trước khi thu hồi đất
22
Biểu đồ2.1: Tỷ lệ diện tích đất bị thu hồi tại thôn Hạ 32
Biểu đồ 3.1: Lý do người dân cho rằng giá đất không
Trang 9DANH MỤC CÁC ẢN ĐỒ - SƠ ĐỒ
Bản đồ 2.1: Bản đồ hành chính tỉnh Bắc Ninh 26
Bản đồ 2.2: Bản đồ Quy hoạch các khu đô thị,
công nghiệp và mạng lươi giao thông của tỉnh Bắc Ninh
27
Sơ đồ 2.1: Phối cảnh Dự án KCN A, Bắc Ninh 29
Sơ đồ 3.1: Cơ cấu tổ chức bộ máy Nhà nước
Việt Nam theo Hiến pháp 2013
48
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong gần ba thập kỷ trở lại đây, hình ảnh những khu công nghiệp rộng lớn với các trang thiết bị, máy móc hiện đại mọc lên từ những đồng lúa thẳng cánh cò bay đã không còn trở nên xa lạ với nhiều vùng nông thôn Việt Nam
Đó là kết quả từ những chính sách công nghiệp hóa của Đảng và Nhà nước trong chiến lược hiện đại hóa và công nghiệp hóa đất nước được đẩy mạnh từ những năm 1990 trong bối cảnh Đổi mới và hội nhập khu vực, quốc tế của Việt Nam Kết quả của chính sách công nghiệp hóa đã làm thay da đổi thịt nhiều vùng quê, làm
cho nền kinh tế địa phương và nền kinh tế quốc dân có nhiều biến đổi theo hướng phát triển rõ rệt Nhiều công trình nghiên cứu và các báo cáo chính sách đã ghi nhận những sự phát triển tích cực này và ghi nhận đó là sản phẩm của những quyết sách vĩ mô của Đảng và Nhà nước
Tuy nhiên, ở một chiều cạnh khác và trong một số ít hoàn cảnh, những chuyển đổi từ nông nghiệp sang công nghiệp này cũng làm nảy sinh sự căng thẳng và thậm chí là chống đối của người dân Biểu hiện cụ thể là những bức xúc của người dân bị thu hồi quyền sử dụng đất nông nghiệp, đôi khi biến thành khiếu kiện, biểu tình và các hành động chống đối khác như đã diễn ra ở Tiên Lãng (Hải Phòng), Đồng Tâm (Mỹ Đức, Hà Nội), Văn Giang (Hưng Yên) làm cho quá trình thu hồi đất gặp rất nhiều khó khăn và đặc biệt hơn
là niềm tin của người dân vào chính quyền bị giảm sút Tuy nhiên, các trường hợp này và những trường hợp khác tất cả vẫn chỉ được phản ánh thông tin đơn thuần từ các phương tiện truyền thông mà không được nghiên cứu, phân tích hết các chiều cạnh cũng làm rõ như bản chất của mâu thuẫn Đây là một khoảng trống lớn trong hiểu biết của chúng ta về mâu thuẫn đất đai hiện nay
Trang 11và bản chất nó ra sao dưới lăng kính của Nhà nước và người dân bị thu hồi
Dù số lượng trường hợp mâu thuẫn căng thẳng đến mức xuất hiện hành
vi chống đối có tính bạo động của người bị thu hồi đất là cá biệt, nhưng đó cũng là những vấn đề vừa mang tính khoa học vừa có giá trị thực tiễn cần được nghiên cứu, phân tích và lý giải để không chỉ phòng, tránh mà còn có thể có các giải pháp chống xung đột hay hòa giải mâu thuẫn hiệu quả hơn
2 Câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu của tôi mong muốn mang đến cho người đọc một mô tả sâu
về mâu thuẫn đất đai, nghĩa là những mâu thuẫn đã xảy ra trong quá trình thu hồi quyền sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn một làng ở đồng bằng sông Hồng Một số câu hỏi nghiên cứu quan trọng mà tôi đã xây dựng và tìm cách trả lời trong luận văn này là:
- Bối cảnh của mâu thuẫn là gì?
- Mâu thuẫn diễn ra dưới hình thức gì, giữa ai với ai, có những ai tham gia mâu thuẫn?
- Mâu thuẫn được giải quyết như thế nào?
- Bản chất của mâu thuẫn ở đây là về vấn đề gì?
3 Mục đích và phạm vi nghiên cứu
í ứ
Trên cơ sở giải mã được những câu hỏi trên, hy vọng luận văn của tôi
có thể ít nhiều giúp hiểu rõ hơn về đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội ở một địa bàn nông thôn Việt Nam trong quá trình chuyển đổi như thế nào Liệu những gì chúng ta chứng kiến có gì khác so với với những gì đã được mô tả và phân tích trong các công trình nghiên cứu về làng Việt truyền thống ở khu vực đồng bằng hay không? Xuất phát từ định hướng nêu trên, luận văn này của tôi tập trung nghiên cứu về những mâu thuẫn trong quá trình thu hồi đất nông nghiệp để phát triển công nghiệp trong bối cảnh Đổi mới ở
Trang 12Việt Nam
P ạ ứ
Là một nghiên cứu khoa học Nhân học, tôi muốn đi theo cách thức khá truyền thống là chọn một địa bàn nhỏ để nghiên cứu kỹ về vấn đề mâu thuẫn trong quá trình thu hồi đất Địa bàn nhỏ giúp tôi có thể thực hành phương pháp quan sát tham gia dễ dàng và hiệu quả hơn Trên cơ sở khảo sát sơ bộ, tôi chọn làng Hạ1
ở một xã thuộc tỉnh Bắc Ninh
Lý do tôi chọn tỉnh Bắc Ninh làm địa bàn nghiên cứu vì: Bắc Ninh là vùng đất văn hiến, đặc trưng cho văn hóa làng xã ở đồng bằng Sông Hồng Mặt khác, Bắc Ninh hiện là một tỉnh có tốc độ tăng trưởng công nghiệp cao nhất cả nước trong những năm qua với quy mô và tốc độ thu hồi đất nông nghiệp lớn nhằm xây dựng các khu công nghiệp Nhưng quan trọng hơn hết, ở Bắc Ninh, tôi nhận thấy làng Hạ là một địa bàn hội tụ đẩy đủ các yếu tố để giúp tôi hiểu rõ hơn về quá trình chuyển đổi từ nông nghiệp sang công nghiệp
và quá trình này gắn với những mâu thuẫn cần được nghiên cứu, lý giải
4 Phư ng pháp nghiên cứu
Ngay từ khi chuẩn bị đề cương nghiên cứu và lựa chọn địa bàn nghiên cứu, tôi đã hình dung đây là một đề tài nghiên cứu không dễ nếu không có phương pháp nghiên cứu phù hợp Thật may mắn cho tôi khi tham khảo các nghiên cứu có liên quan đến đề tài này và các đề tài khác cũng có phần nhạy cảm về nhiều khía cạnh, tôi nhận thấy vẫn có thế triển khai điền dã dân tộc học với việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ đạo của ngành như quan sát tham gia, phỏng vấn sâu, phỏng vấn có cấu trúc, khai thác các tài liệu
Trang 13thành văn ở địa phương và các nguồn tài liệu thành văn khác ở các cơ quan Nhà nước v.v… như tài liệu truyền thông (dưới dạng báo, tạp chí, …) và các văn bản chính sách đất đai…
Để có tài liệu dân tộc học, tôi đã tiến hành điền dã dân tộc ở địa bàn nghiên cứu và sử dụng phương quan sát tham gia trong suốt 2 tháng ở địa bàn nghiên cứu (tháng 4 đến tháng 6 năm 2012) Tiếp đó, tôi trở đi trở lại địa bàn nhiều lần vào tháng 12/2013, tháng 11/2014, tháng 6/2015, tháng 11/2016, tháng 2/2017 và tháng 8/2018 để tìm hiểu thêm và cập nhật, bổ sung tài liệu nghiên cứu
Để có kết quả nghiên cứu tốt nhất, tôi tiến hành chọn mẫu như sau: Tôi xin danh sách nhân khẩu của Ủy ban xã, chọn 100 mẫu để tiến hành phỏng vấn sơ bộ Thôn Hạ có 4 xóm, vì vậy tôi chọn mỗi xóm 25 mẫu, cân bằng tương đối tỷ lệ nam/nữ và các nhóm tuổi dưới 20 tuổi, từ 20-40 tuổi, từ 40-60 tuổi và trên 60 tuổi (tương đương với 12 nam-13 nữ/xóm, 6-7 người/nhóm tuổi)
Lý do tôi chọn mẫu theo cách này vì địa bàn cư trú có ảnh hưởng nhất định đến hành vi, tập quán, mức độ tham gia mâu thuẫn của người dân Đơn
cử như chỉ cách biệt 3 xóm còn lại một cánh đồng nhỏ nhưng xóm N đã có ngày hội làng là ngày hoàn toàn khác với ngày hội làng chung của cả thôn Hạ
Và dĩ nhiên giới tính và độ tuổi cũng vậy, nó cho thấy những góc nhìn khác nhau của người tham gia mâu thuẫn
Ngoài ra còn có những yếu tố khác có tác động đến kết quả nghiên cứu như mức độ ruộng đất bị thu hồi của từng hộ, xóm, trình độ học vấn, nghề phụ, cán bộ hay người dân… Những biến số này tôi chọn ngẫu nhiên
Tôi xây dựng bảng hỏi bán cấu trúc Danh sách 100 mẫu đều trả lời 1 bảng hỏi (xem Phụ lục) với các câu hỏi mang tính lựa chọn nhanh như: có-không; hiểu-không hiểu… Thông tin thu được từ bảng hỏi cung cấp dữ liệu
Trang 14giúp tôi cho ra những con số thống kê cần thiết
Sau đó, trên cơ sở phỏng vấn sơ bộ, tôi chọn ra 20 mẫu có những thông tin rõ ràng, sát với đề tài để tiến hành phỏng vấn sâu Để phỏng vấn sâu những mẫu này, tôi thiết kế một danh mục các câu hỏi (xem Phụ lục) song trong quá trình phỏng vấn tôi không chỉ giới hạn ở những câu hỏi đó mà tùy thuộc vào từng trường hợp mà mở rộng hay đào sâu để có được nhiều thông tin nhất
Ngoài ra, tôi còn thu thập các báo cáo về kinh tế - xã hội của chính quyền xã để có thêm thông tin định lượng về tình hình kinh tế, xã hội, về thu hồi đất, đền bù và nhiều vấn đề khác liên quan đến đề tài nghiên cứu của tôi ở địa bàn nghiên cứu của mình
Bên cạnh đó, sau khi tiến hành điền dã dân tộc ở địa bàn nghiên cứu, tôi dành thời gian khai thác và nghiên cứu thêm các nguồn tài liệu thành văn khác ở Hà Nội để bổ sung thông tin cho tài liệu dân tộc học tôi thu được ở địa bàn nghiên cứu
5 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn của tôi được chia làm 3 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU, CƠ SỞ L THU ẾT VÀ Đ A BÀN NGHI N CỨU
Chương 2: PHÁT TRIỂN C NG NGHIỆP, THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP VÀ MÂU THUẪN Ở TH N HẠ
Chương 3 THU HỒI ĐẤT N NG NGHIỆP DƯỚI LĂNG KÍNH CỦA NHÀ NƯỚC VÀ NGƯỜI N NG DÂN
Trang 15Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU, CƠ SỞ L THU ẾT VÀ Đ A BÀN NGHI N CỨU
1.1 Tổng qu n tài li u nghiên cứu
1.1.1 S
ị
Đất đai là một phạm trù kinh tế, chính trị, xã hội quan trọng, do đó đặc biệt nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Vậy vấn đề đất đai đã được để cập trong những công trình nghiên cứu nào, dưới những chiều cạnh nào, còn khoảng trống nào chưa được nghiên cứu? Đó là những câu hỏi tôi muốn làm rõ trong Chương 1 của luận văn nhằm làm cơ sở cho hướng nghiên cứu mới của tôi về vấn đề này
Lịch sử chế độ sở hữu đất đai ở Việt Nam được đề cập trong nhiều
công trình ví dụ như của các tác giả Hoàng Việt,
ro Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà Nội, 1999; Nguyễn Văn Thạo, Nguyễn Hữu Đạt,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004;
Nguyễn Văn Sửu, ổ í ừ
t Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010
Những công trình này cho thấy chế độ sở hữu đất đai ở Việt Nam thay đổi theo một quá trình lịch sử, từ những thế kỉ trước khi Pháp xâm lược, trong
thời kỳ Pháp thuộc, cho đến chế độ sở hữu Việt Nam đương đại
Theo tác giả Nguyễn Văn Sửu trong cuốn sách ổ í
: ừ chế độ sở hữu đất đai Việt Nam
Trang 16đương đại được xác lập với 2 lớp sở hữu: lớp sở hữu tối cao và lớp sở hữu thực và 3 loại quyền: quyền sở hữu, quyền quản lý và quyền sử dụng Nhìn theo khung phân tích này, chúng ta có thể nhận thấy, từ những năm 1980, Nhà nước nắm vai trò quyết định trong vấn đề sở hữu, quản lý, và thậm chí cả vấn
đề sử dụng đất đai ở Việt Nam Đất đai do Nhà nước quản lý và sở hữu dưới danh nghĩa toàn dân Nhà nước giao quyền sử dụng đất cho người dân và các thực thể khác trong một thời hạn nhất định Bằng cách đó, Nhà nước có thể củng cố và đảm bảo quyền lực của mình đối với vấn đề sở hữu và quản lý đất đai
ảng 1.1 Lớp sở hữu, quyền và thực thể nắm quyền đất đai từ năm 1988
Lớp sở hữu tối cao Quyền sở hữu Toàn dân
Quyền quản lý Nhà nước Lớp sở hữu thực Quyền sử dụng Cá nhân, hộ gia đình, tổ chức
Nguồn: Dẫn theo [77; tr 62]
Theo Luật đất đai sửa đổi 2003,2 đất được chia thành 3 nhóm: đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp, đất chưa sử dụng Trong đó, quyền sử dụng đất nông nghiệp được giao như sau:
- Chủ thể được giao quyền sử dụng đất gồm 7 nhóm: các tổ chức trong nước; hộ gia đình và cá nhân trong nước; cộng đồng dân cư; các cơ sở
2
Luật Đất đai sửa đổi năm 2013 đã có điều chỉnh ở nhiều điểm so với Luật Đất đai năm
2003 mà tôi chưa có điều kiện cập nhật ở đây một phần vì những mâu thuẫn này diễn ra trong khi Nhà nước áp dụng Luật Đất đai năm 2003 chứ không phải Luật Đất đai năm
2013
Trang 17tôn giáo; các tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao; Việt Kiều; và các
tổ chức, cá nhân, nước ngoài đầu tư vào Việt Nam
- Thời hạn nắm giao quyền sử dụng đất: 20 năm đối với đất trồng cây hàng năm và 50 năm đối với đất trồng cây lâu năm
- Hạn điền: 3ha/chủ sở hữu quyền sử dụng đất với đất trồng cây hàng năm; 10ha/chủ sở hữu quyền sử dụng đất đối với đất trồng cây lâu năm
- Các quyền kèm theo quyền sử dụng đất: quyền chuyển nhượng, quyền đổi, cho thuê; thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất; quyền cho thuê lại quyền sử dụng đất, tặng quyền sử dụng đất; sử dụng quyền sử dụng đất để bảo lãnh; sử dụng quyền sử dụng đất để góp vốn, quyền được đền bù khi quyền sử dụng đất bị thu hồi
Liên quan đến chế độ sở hữu đất đai Việt Nam đương đại, dù Nhà nước
đã có những quy định pháp luật rõ như trên, các nhà khoa học vẫn cho thấy còn nhiều vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện về luật pháp đất đai để việc xác lập quyền sở hữu và quyền sử dụng đất đai sát với thực tiễn, đảm bảo tính công bằng và tránh được tình trạng mâu thuẫn nảy sinh Bởi lẽ, theo tác giả Nguyễn Văn Sửu, đối với nhiều người nông dân Việt Nam, quyền sử dụng đất nông nghiệp có giá trị và ý nghĩa quan trọng vì nó là một dạng tư liệu sản xuất, một nguồn sinh kế và là một loại tài sản có giá trị Với nhiều hộ gia đình nông dân, dù đã tiếp cận các hoạt động sinh kế phi nông nghiệp, đất nông nghiệp vẫn có ý nghĩa quan trọng là tư liệu sản xuất đảm bảo một phần sinh tồn của gia đình họ đồng thời đó còn là một dạng tài sản có giá trị vì từ lâu người ta coi tấc đất tấc vàng Hơn nữa giá trị kinh tế, chính trị, xã hội của đất sẽ tăng lên khi nó trở nên khan hiếm hoặc không có các nguồn sinh kế khác thay thế cho người dân [77; tr 82]
Từ thực tế đó, tác giả Nguyễn Văn Sửu cho rằng Luật đất đai cần xem xét và coi trọng quyền tài sản cá nhân trong quyền sử dụng đất Vì, Luật đất
Trang 18đai của Việt Nam từ khi đổi mới đã coi quyền sử dụng đất là một loại tài sản được Nhà nước giao cho, hay cho thuê với những điều kiện nhất định nhưng mức độ công nhận quyền sử dụng đất như một dạng tài sản cá nhân hay coi việc nắm giữ quyền sử dụng đất như một hình thức sở hữu quyền sử dụng đất còn chưa được xác định ở mức độ cần thiết để chính sách đất đai có thể vận hành trong thực tiễn theo mô hình một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
và theo cơ chế và các quy luật của thị trường mà Việt Nam đang hướng đến [77; tr 87]
T ồ
Từ thực tế Luật đất đai chưa chú ý đúng mức đến vấn đề tài sản cá nhân trong quyền sử dụng đất nông nghiệp, bất cập và mâu thuẫn đã nảy sinh trong quá trình thu hồi quyền sử dụng đất nông nghiệp ở một số địa bàn cụ thể trong những năm vừa qua
Luật đất đai quy định Nhà nước giao quyền sử dụng đất nông nghiệp và đất thổ cư cho cá thể, hộ gia đình và các tổ chức, vì thế, Nhà nước có quyền thu hồi quyền sử dụng đất ấy với một giá đền bù do Nhà nước quy định Như thế, người nắm quyền sử dụng đất ít có tiếng nói trong vấn đề quyết định giá
cả và các quyền lợi kinh tế khác trong quá trình thu hồi và đền bù quyền sử dụng đất nông nghiệp Nhà nước là thực thể hoàn toàn quyết định: định đoạt
kế hoạch, diện tích thu hồi, giá đền bù và các khoản hỗ trợ kinh tế khác Người dân nắm quyền sử dụng phải tuân thủ chính sách của Nhà nước.[77; tr 87]
Phải đến luật đất đai sửa đổi năm 2003, nhất là Nghị định về thu hồi và đền bù quyền sử dụng đất ban hành năm 2004 mới có sự phân biệt rõ rệt hơn giữa hai loại hình thu hồi quyền sử dụng đất:
Thứ nhất là loại thu hồi quyền sử dụng đất phục vụ mục đích an ninh, quốc phòng và quốc gia, thì Nhà nước quyết định việc thu hồi và trực
Trang 19tiếp thực hiện việc thu hồi và đền bù quyền sử dụng đất để phục vụ các mục đích của Nhà nước và tập thể Trong loại hình thu hồi này, chính quyền Nhà nước hầu như thực thể hoàn toàn quyết định diện tích thu hồi, giá đền bù và các khoản hỗ trợ kinh tế khác cho người bị thu hồi
Thứ hai là loại thu hồi quyền sử dụng đất để phục vụ mục đích phát triển kinh tế cho các doanh nghiệp tư nhân hay các mục đích cá thể khác Trong trường hợp này, chính quyền Nhà nước vẫn là thực thể ra quyết định thu hồi đất và quyết định giá đền bù quyền sử dụng đất Tuy nhiên, việc thu hồi và đền bù chỉ được thực hiện khi các doanh nghiệp và tổ chức muốn sử dụng quyền sử dụng đất đã đạt được một thỏa thuận với người nắm giữ quyền
sử dụng đất về giá đền bù và các khoản hỗ trợ khác [63; tr 88]
Như vậy, thu hồi quyền sử dụng đất nông nghiệp để xây dựng các khu công nghiệp thuộc loại hình thu hồi thứ hai đồng nghĩa với việc khi thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng khu công nghiệp, Nhà nước phải chú ý đúng mức đến vấn đề tài sản cá nhân trong quyền sử dụng đất, nâng cao tiếng nói của người dân trong việc quyết định kế hoạch thu hồi, diện tích thu hồi, giá thu hồi và các khoản hỗ trợ kinh tế khác
Điều đáng nói là trong hầu hết các trường hợp, dù là thuộc hình thức thu hồi và đền bù nào, giá đền bù cho quyền sử dụng đất bị nhiều chủ thể nắm giữ quyền sử dụng đất nông nghiệp cho là không tương xứng với giá trị thực của nó có trên thị trường và việc thu hồi, đền bù quyền sử dụng đất thường gắn với tham nhũng cũng như những sai phạm khác Thực tế cho thấy ở Việt Nam hiện nay đang cùng một lúc tồn tại hai loại giá về quyền sử dụng đất: một loại giá được định đoạt bởi các quy luật trao đổi của thị trường và một loại giá được quy định bởi Nhà nước, giống như những gì từng tồn tại (từng
bị phê phán mạnh mẽ) đối với các mặt hàng thiết yếu thời kỳ bao cấp [63; tr 89]
Trang 201.1.2
Những phân tích và tổng quan nêu trên cho thấy một hệ quả khó tránh khỏi là mâu thuẫn đất đai Đây là một vấn đề nóng trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội ở nước ta hiện nay và được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm dưới nhiều góc độ xã hội học, chính trị học, luật học, nhân học, kinh tế học
Có thể kể đến một vài công trình tiêu biểu như:
nông thôn ro ổ , Luận án Tiến sỹ Xã hội học của Phạm Văn
Tân; “ ả ạ r ả
– rạ ả (2009), Luận văn cao học của Trần Thị
Phương Nhung; “ ả ạ
nông thôn ồ ro ạ
(2009), luận văn cao học của Phạm Xuân Nguyên, v.v
Hầu hết các công trình đều đề cập được những vấn đề cơ bản như: Các đối tượng tham gia mâu thuẫn là Nhà nước, người nông dân; các hình thức của mâu thuẫn như biểu tình, khiếu kiện, xung đột ; nguyên nhân của mâu thuẫn như sai phạm của cán bộ địa phương trong quá trình thực hiện các quy định luật pháp, cán bộ địa phương tham nhũng…; các giải pháp giải quyết mâu thuẫn
Tuy nhiên, khoảng trống của những nghiên cứu này thể hiện rõ ở mấy điểm sau:
- Một, những nghiên cứu trên chỉ mới đề cập đến các đối tượng tham gia mâu thuẫn ở mức độ cơ bản nhất là cán bộ địa phương và đại đa số người dân Trong thực tế, những mâu thuẫn ấy có thể xuất phát từ những nhóm đối tượng khác nhau, ví dụ giữa Nhà nước cấp bên trên địa phương với người dân, giữa các cấp Nhà nước với nhau, giữa cán bộ địa phương với một nhóm người dân, giữa người dân với người dân… Nói cách khác, những nghiên cứu trên chưa phản ánh được cụ thể các đối tượng tham gia hoặc có
Trang 21liên quan đến mâu thuẫn đất đai
- Hai, những nghiên cứu trên đã đề cập được những biểu hiện cơ bản nhất của mâu thuẫn, song thực tế mâu thuẫn không chỉ biểu hiện ở những văn bản khiếu kiện hoặc qua những hành vi chống đối trực tiếp mà nó có thể
ẩn khuất trong đời sống thường ngày của làng xã Việt Nam
- Ba, những nghiên cứu trên chỉ ra được những nguyên nhân xảy
ra mâu thuẫn, song lại thường đơn giản quy nguyên nhân về sự việc cán bộ tham nhũng, người dân không đồng ý với giá đền bù… mà chưa cho thấy mối liên hệ đến những vấn đề nội tại phức tạp, đan xen khác trong đời sống làng
xã hiện nay Mặt khác, trong quá trình phân tích những nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn đất đai, các nghiên cứu trên chỉ liệt kê vấn đề một cách đơn tuyến, chưa đặt các vấn đề trong một trục thời gian cũng như bối cảnh không gian để xem xét sự tương tác biện chứng giữa các yếu tố
- Bốn, hầu hết những nguyên cứu đều chỉ ra được những sai phạm của cán bộ trong quá trình thu hồi dưới góc độ luật pháp và vi phạm luật pháp, song chưa đề cập được mức độ sâu hơn của vấn đề nằm trong những tồn tại dai dẳng của chế độ sử hữu đất đai Việt Nam đương đại
Để phần nào lấp những khoảng trống trên của các nghiên cứu đã có, tôi
sẽ có một khảo tả sâu hơn diễn biến của một mâu thuẫn cụ thể trên một địa bàn cụ thể bị thu hồi đất nông nghiệp Bằng cách tiếp cận đó, nghiên cứu của tôi sẽ mang lại những thông tin chi tiết hơn về những thực thể tham gia mâu thuẫn cũng như những tương tác chồng chéo, phức tạp, qua lại, thúc đẩy giữa các yếu tố Từ đó cho ta một cái nhìn toàn cảnh hơn, bản chất hơn, sâu sắc hơn về mâu thuẫn phức tạp, đa chiều, nhiều thành tố, v.v diễn ra trong quá
trình thu hồi quyền sử dụng đất nông nghiệp hiện nay
1.2 Cách ti p cận lý thu t
“ ườ ô ì ” “ ườ ô
Trang 22”
Trong nghiên cứu về nông dân và đất đai, có hai cách tiếp cận lý thuyết được nói đến nhiều trong tài liệu nghiên cứu là trường phái “Người nông dân
duy tình của James C.Scott với công trình nghiên cứu tiêu biểu là “
ạo ứ xuất bản năm 1976 và trường phái “Người
nông dân duy lý của Samuel L.Popkin với cuốn sách “
công bố năm 1979
Luận điểm cơ bản nhất của hai cách tiếp cận này có thể tóm lược như sau: Scott với nền kinh tế duy tình cho rằng sản xuất nông nghiệp là hoạt động đem lại thu nhập cơ bản cho người nông dân Việt Nam Với đặc thù của nền sản xuất nhỏ lẻ, phụ tuộc vào thời tiết, người nông dân luôn duy trì nguyên tắc “an toàn là trên hết Đáp trả quan điểm của Scott, Pokin lập luận lại rằng người nông dân duy lý khi tìm kiếm cơ hội tối đa hóa lợi nhuận trong mọi lựa chọn trước những thay đổi
Hai cách tiếp cận lý thuyết này có thể được sử dụng vào nghiên cứu của tôi thì: Nếu đồng ý người nông dân duy tình như quan điểm của Scott, nghiên cứu của tôi chỉ ra rằng những lựa chọn mang tính “duy tình của họ va chạm với những yếu tố gì, tương tác như thế nào với những thay đổi do chính sách Nhà nước đưa ra Nếu đồng ý người nông dân duy lý như Pokin thì nghiên cứu của tôi chỉ ra rằng những lựa chọn dựa mang tính duy lý của va chạm với điều gì, tương tác như thế nào với những thay đổi mà Nhà nước đưa ra Thông qua phân tích như vậy, những mâu thuẫn đất đai cho thấy bản chất của người nông dân là duy tình hay duy lý và điều ấy được biểu hiện như thế nào trong mâu thuẫn đất đai
Nhưng việc nhận định đơn giản cho rằng người nông dân chỉ là duy lý hay chỉ là duy tình cũng là một yếu điểm trong cách tiếp cận vì nó sẽ không thể giải đáp đúng và toàn diện về bản chất và những đặc điểm cơ bản trong
Trang 23hành xử của người nông dân về vấn đề ruộng đất Từ nguyên nhân dẫn đến hạn chế đó đòi hỏi các nhà nghiên cứu phải đặt những người nông dân vào một bối cảnh lịch sử cụ thể để nghiên cứu [80; tr 56-65]
Vì thế, một cách tiếp cận hợp lý hơn là kết hợp cả hai cách tiếp cận này
để phân tích và lý giải hành vi và ứng xử của người nông dân trong vấn đề mâu thuẫn đất đai hiện nay
“Qu ư – ”
Thực tế cho thấy người nông dân chỉ là một trong những thực thế của mâu thuẫn đất đai Có một cách tiếp cận khác đã đặt người nông dân trong mối quan hệ với các thực thể trong để phân tích, đó là tiếp cận quan hệ Nhà nước – xã hội của do Ben Kerkvliet thảo luận Bằng việc xem xét một số lĩnh vực như phương tiện truyền thông đại chúng, ruộng đất, tập thể hóa và phi tập thể hóa trong nông nghiệp miền Bắc nửa sau thế kỷ XX, tác giả Ben Kerkvliet
đã phân tích, lý giải các mối quan hệ giữa Nhà nước và xã hội nói chung, giữa Nhà nước và người nông dân trong làng xã ở khu vực nông thôn nói riêng và thấy được nông dân có một vị trí và ảnh hưởng đáng kể trong công cuộc hoạch định chính sách kinh tế – xã hội đối với nông thôn, nông nghiệp, nông dân Việt Nam
Với nghiên cứu này, Ben Kerkvliet cũng đã dung hòa cả hai quan niệm
“duy tình và “duy lý trong phân tích về người nông dân… ng lập luận rằng sự lựa chọn không chỉ đơn giản là vấn đề phân tích duy tình hay duy lý
và người nông dân có thể và thường mang cả hai định hướng tùy thuộc ở chỗ
họ là những người nông dân như thế nào Theo cách tiếp cận đó, nghiên cứu của tôi hướng tới lý giải một cách đúng đắn, toàn diện về những đặc điểm cơ bản của người nông dân và vấn đề ruộng đất của người nông dân Việt Nam khi đặt trong một bối cảnh cụ thể là những người nông dân châu thổ Sông Hồng trong quá trình thu hồi quyền sử dụng đất nông nghiệp để xây dựng các
Trang 24khu công nghiệp giai đoạn hiện nay
Cách tiếp cận các mối quan hệ Nhà nước – xã hội cho thấy một mâu thuẫn được hình thành từ sự tương tác qua lại giữa hai chủ thể là Nhà nước và người nông dân Mỗi bên có một lý lẽ riêng, theo đuổi một chiến lược riêng trong thời kì tập thể hóa nông nghiệp Nhà nước muốn một nền nông nghiệp tập thể hóa nhưng nông dân lại muốn bám lấy những mảnh đất nhỏ của mình Nhà nước muốn có một cơ cấu chính trị tập quyền trong khi người nông dân muốn gắn với sản xuất hộ gia đình Cuối cùng, tác giả lập luận, mong ước và sức ép của nông dân kết hợp với những điểm khiếm khuyết khác của sản xuất tập thể dẫn đến chỗ các cấp lãnh đạo quốc gia đã quyết định xóa bỏ mô hình hợp tác xã sản xuất nông nghiệp tập thể và thừa nhận mô hình sản xuất cá thể dựa trên nền tảng hộ gia đình Như vậy, nhìn theo cách này của tác giả Ben Kerkvliet thì người nông dân đã thể hiện sức mạnh, ảnh hưởng của họ đối với một chính sách lớn của quốc gia [49; tr 67-424]
Trên cơ sở đó, tôi sử dụng cả ba cách tiếp cận nêu trên để tìm hiểu và lý giải về mâu thuẫn đất đai giai đoạn hiện nay Theo đó, nghiên cứu của tôi sẽ xem xét mâu thuẫn trong quá trình thu hồi quyền sử dụng đất nông nghiệp như một sự tương tác giữa hai chủ thể là Nhà nước và người nông dân Vậy
cụ thể Nhà nước ở đây là những ai? Người nông dân là những ai? Họ theo đuổi những mục tiêu gì trong quá trình thu hồi quyền sử dụng đất nông nghiệp? Lí lẽ, lập luận, hành động mà họ dùng để bảo vệ cho những mục tiêu lựa chọn của mình là gì? Và cuối cùng, sự phản ứng của người dân có góp phần làm thay đổi chính sách Nhà nước như họ đã làm trong thời kỳ tập thể hóa nông nghiệp hay không?
Trang 25nền kinh tế thuận lợi cho việc đi lại, giao lưu, mua bán, tiếp giáp với nhiều làng nghề và đang trong quá trình thu hồi đất để xây dựng các KCN Sự giao lưu, qua lại giữa dân cư của thôn Hạ và các khu vực lân cận khá dễ dàng, thuận lợi
Trong lịch sử, người dân thôn Hạ có truyền thống anh hùng trong
nghiệp đấu tranh chống giặc ngoại xâm Họ cũng gắn bó với Nhà nước xã hội chủ nghĩa trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Lịch sử thôn Hạ đã cho thấy những mốc chuyển đổi quan trọng về quan hệ đất đai ở thôn, đó là cải cách ruộng đất (những năm 50), tập thể hóa sản xuất nông nghiệp (cuối những năm 50, đầu những năm 60), phi tập thể hóa trong nông nghiệp (những năm 1980)
Ở Thôn Hạ cũng từng diễn ra công tác thu hồi vào năm, trong đó khoảng 3000 m2, đất canh tác khoảng 2000 m2 với trên 100 hộ dân bị thu Vì diện tích thu hồi nhỏ, thuộc vào phần đất mương ngòi, đất gieo mạ, đất chia thêm, chính quyền lại nhanh chóng tổ chức tái định cư cho người dân nên công tác thu hồi được thuận lợi
Về kinh tế, cư dân thôn Hạ lấy nông nghiệp làm ngành sản xuất chính Thu nhập chính của các hộ gia đình từ khi làng được lập cho đến trước năm
2007 là từ nông nghiệp Với những điều kiện thuận lợi, thôn Hạ có thể canh tác 3 vụ/năm: 2 vụ lúa và 1 vụ hoa màu Diện tích canh tác hàng năm là khoảng 153,2ha, trong đó cấy lúa là 133,2 ha, trồng hoa màu là 20ha Các cây trồng chính của thôn Hạ là lúa (2 dòng, Q5, Khang dân, Nếp 352, Nếp khai…), hoa màu (chủ yếu là khoai tây, đậu tương, lạc…) Chăn nuôi ở thôn
Hạ cũng khá phát triển, gồm trâu, bò (Năm 2000, thôn Hạ chỉ còn 2 con trâu
và 145 con bò); Chăn nuôi gia súc, gia cầm (mỗi hộ gia đình trung bình chăn nuôi khoảng 2-3 con lợn, 10-12 gia cầm (gà, ngan, ngỗng)…
Tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ trước đây là ngành kinh tế phụ cho
Trang 26người dân thôn Hạ Thôn Hạ có một số ngành nghề như đóng đồ mộc, nghề xây dựng, mộc nề, may hàng gia công Ngoài ra, một số hộ gia đình mở các cửa hàng tạp hóa, say sát, hàn xì, sữa chữa xe đạp, xe máy với quy mô nhỏ Thu nhập của khu vực này ước tính chỉ khoảng 300-400 nghìn đồng/1 tháng
Năm 2006, số hộ dân trong thôn thôn Hạ là 720 hộ, với trên 3000 nhân
khẩu Trong đó, số lao động chiếm khoảng 50%, vào khoảng 1500 lao động
iểu đồ 1.1: Cơ cấu nghề nghiệp người dân thôn Hạ
trước khi thu hồi đất
Nguồn: Kết quả điền dã dân tộc học của tác giả
Trong 1500 lao động, lao động trong khu vực nông nghiệp chiếm hơn 90% Lao động thuộc các ngành nghề khác chiếm gần 10% Như vậy, trước khi tiến hành thu hồi đất để phát triển công nghiệp thì thôn Hạ vốn là một làng thuần nông, kinh tế nông nghiệp là ngành kinh tế chủ đạo
Trường trung học cơ sở xã có tổng số lớp là 13 lớp với số học sinh là
481 em Về chất lượng văn hóa, xếp loại khá giỏi đạt 38,6%, xếp loại trung bình đạt 37,9%, xếp loại yếu: 23,48%, kết quả thi Học sinh giỏi cấp tỉnh 2 em xếp thứ 7/13 trường, tốt nghiệp trung học cơ sở và hướng nghiệp học nghề đạt
Cơ cấu nghề nghiệp của người dân thôn Hạ
Nông nghiệp 93%
Phu hồ 4.1 % Mộc 1.3%
Đánh giấy giáp 1.2%
Buôn bán nhỏ 1.6%
Trang 2797,8% Trường trung học cơ sở đã phát động nhiều phong trào thi đua dạy tốt
và học tốt, đạt đơn vị tiên tiến cấp thị xã, trường xanh-sạch-đẹp cấp tỉnh và trường chuẩn quốc gia Thôn có một trường mầm non, được xây dựng từ năm
2001, có 3 lớp học Học sinh mầm non thôn Hạ thi tuyển vào lớp 1 đạt tỷ lệ 100%.4
Thôn Hạ không còn họ đói, hộ nghèo giảm chỉ còn 3%
Về văn hóa, xã hội, thôn Hạ vẫn duy trì lễ hội của làng vào ngày 06/02
âm lịch hàng năm Trong ngày lễ hội, thôn thường trích ra một khoản quỹ nhất định thuê các đoàn kịch, đoàn ca nhạc về biểu diễn Trong cuộc sống hàng ngày, người dân trong thôn vẫn duy trì những nếp văn hóa làng xã truyền thống Thôn có 40 tổ liên gia (mỗi tổ gồm 5, 15, 25 các hộ gia đình sinh sống gần nhau) thường xuyên giúp đỡ nhau trong những ngày giỗ chạp, cưới hỏi, tang ma
Thôn được quản lý bởi các tổ chức Đảng, cán bộ thôn và các tổ chức đoàn thể Cả thôn có khoảng 100 Đảng viên Chính quyền gồm: Trưởng thôn, các xóm trưởng xóm Ngoài ra, các hoạt động văn hóa, xã hội của thôn rất sôi động bởi sự tổ chức của các đoàn thể như: Hội người cao tuổi; Hội phụ nữ; Hội nông dân; Đoàn Thanh niên Cộng sản… Mỗi khi có việc của thôn, các cuộc họp từ các cấp được tổ chức như: Họp chi bộ thôn, họp toàn dân, Hội nghị quân dân chính…Đời sống trong thôn về cơ bản là yên ổn, bình lặng trừ những mâu thuẫn đất đai nảy sinh mà luận văn của tôi nghiên cứu
Tiểu t
Đất đai ở Việt Nam là một vấn đề đặc biệt quan trọng Trong quá trình phát triển, nhiều biến đổi đã diễn ra liên quan đến sở hữu, quản lý và sử dụng đất đai ở Việt Nam và đã được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu thể
4
Theo Báo cáo Tình hình Kinh tế - Xã hội thôn Hạ năm 2006
Trang 28hiện qua nhiều công trình nghiên cứu
Các công trình nghiên cứu đã có nhiều phân tích và lý giải về đất đai và người nông dân Ba cách tiếp cận “Người nông dân duy lý , “Người nông dân duy tình , “Quan hệ Nhà nước và xã hội đều nghiên cứu về người nông dân
ở đồng bằng sông Hồng ở các giai đoạn lịch sử khác nhau và đã giải thích về
họ theo những cách khác nhau Khai thác những điểm mạnh của cả ba cách tiếp cận này, luận văn của tôi mong muốn có một khảo tả sâu và lý giải thêm
về mâu thuẫn đất đai trong quá trình thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng một
dự án phát triển lớn của Nhà nước ở địa bàn này mà nghiên cứu của tôi chỉ tập trung vào một làng cụ thể, đó là làng Hạ (đồng thời cũng là thôn Hạ)
Trang 29Chương 2: PHÁT TRIỂN C NG NGHIỆP, THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP VÀ MÂU THUẪN Ở TH N HẠ
2.1 Đổi mới và chi n lược công nghi p h ở ắc Ninh
Ngày 01/02/1997, tỉnh Bắc Ninh hoạt động theo đơn vị hành chính mới Bắc Ninh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ: Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, là khu vực có mức tăng trưởng kinh tế cao, giao lưu linh
tế mạnh, nằm trên các trục đường giao thông quan trọng nối liền Hà Nội với các khu kinh tế, thương mại, cửa khẩu phía Bắc
Điều kiện tự nhiên của Bắc Ninh thích hợp để trồng lúa, các cây công nghiệp Lao động trong nông nghiệp là 83%, công nghiệp là 8% Bắc Ninh cũng có nhiều tài nguyên, khoáng sản phục vụ sản xuất công nghiêp Nơi đây
có nhiều làng nghề truyền thống
Nhịp độ tăng trưởng kinh tế tỉnh Bắc Ninh đạt mức khá cao, năm
1996-2000 đạt 11,6% Tuy nhiên sự phát triển của tỉnh chưa xứng với sự thuận lợi của một tỉnh cửa ngõ Thủ đô Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh Bắc Ninh theo hướng tích cực: mức chuyển dịch theo hướng tăng tỷ lệ ngành công nghiệp trong GDP nhanh hơn so với cả nước tuy nhiên tỷ trọng dịch vụ giảm, chưa xứng đáng với tiềm năng của Tỉnh
Từ năm 1996 đến 2000, tuy nhịp độ tăng trưởng kinh tế tỉnh Bắc Ninh đạt mức khá cao nhưng cơ cấu kinh tế lạc hậu, khu vực nông nghiệp hiếm tỷ trọng ca
Trang 30Để thực hiện mục tiêu đó thì đầu tư phát triển công nghiệp là ưu tiên cao trong định hướng cơ cấu sử dụng vốn đầu tư của Tỉnh Quá trình hình thành và phát triển công nghiệp tỉnh Bắc Ninh qua 10 năm (1997-2007) được khái quát qua 3 giai đoạn:
- Giai đoạn 1 (1997 -2000): Tỉnh Bắc Ninh xây dựng biện pháp ổn định và phát triển công nghiệp truyền thống, tìm tòi, tạo chính sách công nghiệp đột phá trên địa bàn
- Giai đoạn 2 (2001-2005): Ban hành chính sách tạo bước đột phá
- Nghị quyết số 02/NQ/TU (04/05/2000) về xây dựng và phát triển các KCN
Trang 31đã tạo ra bước đột phá trong phát triển công nghiệp tại địa phương Tỉnh ủy Bắc Ninh xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm là khâu đột phá quan trọng, quyết định tốc độ về phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Tỉnh vận dụng linh hoạt các chính sách của Nhà nước, chính sách của Bắc Ninh nhằm tạo ra môi trường, điều kiện thuận lợi nhất, thu hút vốn đầu tư
- Giai đoạn 3 (2005-2007): Rà soát, điều chỉnh chính sách phù hợp với giai đoạn mới, tiếp tục xây dựng lộ trình mới của chính sách phát triển công nghiệp giai đoạn tiếp theo [24, Tr 101-103]
Sau khi Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành, mô hình phát triển KCN đã nghiên cứu, ứng dụng trong năm Tính cạnh tranh trong chính sách kêu gọi đầu tư cho KCN của tỉnh Bắc Ninh không ở giá cho thuê rẻ mà ở chất lượng cơ sở hạ tầng và dịch vụ Kết quả là quy mô vốn đầu tư vào KCN của Tỉnh và số sự án tăng lên Năm 2007, có 15 nước và lãnh thổ đầu tư KCN Bắc Ninh, đứng đầu là Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc
ản đồ 2.2: Quy hoạch các khu đô thị, công nghiệp
và mạng lưới giao thông của tỉnh Bắc Ninh
Nguồn: [39; Tr 43]
Trang 32ảng 2.1 Diện tích đất và vốn đầu tư các KCN ở Bắc Ninh giai đoạn
1997-2007
hoạch (h )
V n đầu tư Tổng s
(t đồng)
Đ th c
hi n (t đồng)
Bắc Ninh là một công ty trách nhiệm hữu hạn liên doanh
Xét theo đề nghị của UBND tỉnh Bắc Ninh đã trình Chính phủ văn bản
số […] ngày 18/12/2006 và Bộ kế hoạch và Đầu tư, Thủ tướng chính phủ đã đồng ý chủ trương Công ty liên doanh trách nhiệm hữu hạn đầu tư xây dựng
Dự án KCN A ở Bắc Ninh vào ngày 04/06/2007
5
Tên Dự án đã được thay đổi vì lý do nghề nghiệp
Trang 33Dự án KCN A ở Bắc Ninh có tổng diện tích 700 ha, trong đó diện tích khu công nghiệp là 500 ha và diện tích khu đô thị và dịch vụ là 200 ha Theo
quyết định của UBND tỉnh Bắc Ninh có quyết định số [ ] 11/2007,6
Dự án KCN A thuộc địa phận các một số xã trong đó có thôn Hạ là địa bàn nghiên cứu của luận văn này
S đồ 2.1 Phối cảnh Dự án KCN A, Bắc Ninh
Nguồn: Internet Đơn giá bồi thường được thực hiện theo quyết định số [ ] 2007 của UBND tỉnh Bắc Ninh Theo đó, đơn giá bồi thường với đất nông nghiệp hạng 1- tức đất nông nghiệp sẽ thu hồi cho Dự án A là 24.000.000 đồng/1 sào Bắc
Bộ (tính cả quy định của UBND tỉnh về việc hỗ trợ thêm cho người dân khi thu hồi đất các khoản: Hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp: 9000 đồng/1m2, hỗ trợ
ổn định đời sống: 14.700 đồng/1m2, đền bù hoa màu: 5.300 đồng/1m2
)
Công ty là chủ đầu tư Dự án KCN A khẳng định Dự án KCN A ở Bắc Ninh khi đi vào hoạt động sẽ tuyển dụng 30.000 đến 35.000 lao động làm ổn định ở các nhà máy và xí nghiệp Theo đó, công ty này cam kết sẽ ưu tiên
6
Tài liệu tác giả thu thập được tại địa bàn nghiên cứu trong quá trình điền dã dân tộc học
Trang 34tuyển dụng lao động phổ thông tại địa phương
Để tiến hành thực hiện mục tiêu đó, UBND tỉnh Bắc Ninh đã ra văn bản
số […] tháng 7/2007 về việc đẩy nhanh tiến độ thực hiện xây dựng Dự án KCN A Bắc Ninh Thực hiện công văn của UBND tỉnh Bắc Ninh, UBND huyện7, Hội đồng giải phóng mặt bằng khu công nghiệp, đô thị và dịch vụ A Bắc Ninh đã có nhiều công văn thực hiện như:
- Ngày 25/07/2007, UBND huyện đã ra quyết định số 330/UBND về việc thành lập Hội đồng giải phóng mặt bằng Dự án KCN A (gồm 18 người)
- Ngày 30/07/2007, UBND huyện đã lập kế hoạch số 321/KH-UBND về
kế hoạch thực hiện giải phóng mặt bằng Dự án KCN A Bắc Ninh
Mặc dù UBND huyện đã có nhiều công văn đôn đốc quá trình giải phóng mặt bằng nhưng đến tháng 9/2007, công tác giải phóng mặt bằng không thực hiện được như dự kiến Đứng trước tình hình không kịp tiến độ đã đề ra, UBND tỉnh Bắc Ninh đã ra quyết định số […] tháng 10/2007 về việc “tập trung cao độ giải phóng mặt bằng xây dựng [Dự án KCN A] Theo đó, UBND tỉnh Bắc Ninh, UBND huyện điều chỉnh kế hoạch tiến độ thực hiện công tác bồi thường giải phóng mặt bằng cho chủ đầu tư Theo đó, 700 ha thu hồi cho Dự án KCN A Bắc Ninh sẽ không thể thu trong một lần mà phải chia
ra thành hai giai đoạn Giai đoạn I sẽ thu hồi 400 ha, muộn nhất là ngày 31/12/2007 phải bàn giao mặt bằng
Về phía Công ty chủ đầu tư Dự án KCN A, xét thấy công tác đền bù giải
7
Đây là huyện có thôn Hạ
Trang 35phóng mặt bằng gặp phải khó khăn, công ty tiếp tục gửi văn bản cho lãnh đạo huyện vào ngày 09/10/2007 đề nghị lãnh đạo huyện nhanh chóng triển khai các công tác nghiệp vụ liên quan đến việc đền bù giải phóng 400 ha (giai đoạn I), bàn giao cho chủ đầu tư vào cuối tháng 10, hoặc chậm nhất là trong tháng
11 năm 2007 chứ không thể đợi đến cuối tháng 12/2007
Ngay trong ngày 9/10/2007, UBND tỉnh Bắc Ninh đã ra quyết định thu hồi 45 ha (trong số 400 ha) để có thể tiến hành Lễ động thổ diễn ra đúng tiến
độ ban đầu UBND tỉnh Bắc Ninh cũng cũng có thông báo phần đất còn lại của xã có địa bàn thôn Hạ sẽ ra quyết định thu hồi chậm nhất vào ngày 10/10/2007
Nhưng tiến độ thu hồi đất nông nghiệp phục vụ việc xây dựng Dự án KCN A không đạt được mốc thời gian là thu hồi hết 700h trong tháng 9/2007 như ban đầu Trước sức ép của doanh nghiệp, UBND huyện đã đề ra phương
án là chia quá trình thu hồi thành 2 giai đoạn Giai đoạn I chỉ thu hồi 400 ha, trước ngày 31/12/2007 sẽ bàn giao cho công ty chủ đầu tư Dự án KCN A Sau
đó mới thu hồi nốt 300 ha còn lại trong giai đoạn II Công ty này đồng ý với phương án thu hồi thành 2 đợt nhưng phải bàn giao mặt bằng 400 ha (đợt I) cho họ cuối tháng 10/2007, muộn nhất là giữa tháng 11/2007 Vậy là tính đến thời điểm 9/10/2007, mới chỉ có 45 ha đất nông nghiệp được thu hồi để tiến hành Lễ động thổ Như vậy, Bắc Ninh là một tỉnh có nhiều làng quê với những người nông dân bao đời làm nông nghiệp, song đây cũng là một địa bàn có rất nhiều tiềm năng và lợi thế cho phát triển công nghiệp Phát huy thế mạnh này, tỉnh Bắc Ninh đã từ khá sớm trong tiến trình Đổi mới ở Việt Nam xác định được và triển khai mạnh chiến lượng công nghiệp hóa để biến nền kinh tế nông nghiệp thành nền kinh tế công nghiệp, dịch vụ
Quá trình phát triển công nghiệp đã đạt được nhiều kết quả tích cực, làm chuyển đổi một tỉnh nông nghiệp nằm sát thủ đô Hà Nội Tuy nhiên, chính
Trang 36trong quá trình này, việc thu hồi quyền sử dụng đất nông nghiệp với quy mô lớn đã diễn ra ở một số làng quê, trong đó có làng Hạ từ năm 2007 Quá trình thu hồi đất này có liên quan mật thiết giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người nông dân, và trong một số trường hợp thì mâu thuẫn đã xả ra, mà trường hợp làng Hạ là một ví dụ
2.3 Thu hồi đất và mâu thuẫn ở thôn Hạ
2.3.1 Q rì ồ ạ ô Hạ
Theo quyết định […] 2007 của Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh về việc phê duyệt phương án bồi thường diện tích thu hồi hồi đất xây dựng Dự án KCN A Bắc Ninh thuộc thôn Hạ thì diện tích thu hồi của thôn Hạ là 137 ha (trong tổng số diện tích 352 ha của xã bị thu hồi giai đoạn này), nghĩa là chiếm hơn 85% tổng diện tích đất của thôn Hạ và gần như chiếm hầu hết diện tích đất sản xuất của thôn này Như vậy, tất cả hơn 700 hộ dân của thôn đều
có đất ruộng bị thu hồi, có nhà bị thu hết và đa số là bị thu hồi gần hết đất
ruộng
iểu đồ 2.1: Tỷ lệ diện tích đất bị thu hồi tại thôn Hạ
Nguồn Theo quyết định […] của Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh
Ngày 30/1/2008, UBND huyện quyết định số […] thông báo tiền đền bù
Đất bị thu hồi 85%
Đất chưa thu hồi 15%
Trang 37cho các hộ dân của thôn Hạ bị thu hồi đất phục vụ xây dựng Dự án A Bắc Ninh theo định mức như sau:
Đền bù quyền sử dụng đất nông nghiệp: 28.440.000 đ/sào
Trong đó đền bù công cải tạo đất là 50.000 đ/m2
Tổ tác nghiệp có sử dụng phương pháp bình sai (do diện tích đo đạc thực tế là các thửa lớn, trong khi giao ruộng đến hộ là nhiều chủ, nhiều thửa nhỏ nằm trong thửa lớn Do đó, những thửa có chênh lệch nhỏ nằm trong quy định cho phép, có những thửa có chênh lệch lớn (quá nửa diện tích) cần phải được xác minh Theo quy định, sau khi xác minh xong thì sẽ bồi thường theo diện tích
đo đạc thực tế khi thu hồi
Mức độ đền bù tùy thuộc vào từng loại đất:
Đất giao lâu dài được đền bù 100% theo giá quy định
Đất tạm giao (tức đất khai hoang, phục hóa) chỉ được đền bù 30% so với giá đất quy định
Đất mặt nước, thùng hố tập thể chưa giao cho ai nên không có tiền đền
bù
Ngoài việc nhận được tiền đền bù cho phần đất bị thu hồi, người dân còn được giao thêm “đất dịch vụ Đối tượng được giao đất dân cư dịch vụ gồm các hộ gia đình, cá nhân có đất nông nghiệp bị thu hồi trên 30% đất nông
Trang 38nghiệp giao ổn định lâu dài khi thực hiện các dự án trên địa bàn xã Như vậy, hơn 700 hộ dân của thôn đều thuộc diện nhân được đất dịch vụ Phần đất dịch
vụ này được giao nhằm hỗ trợ người dân chuyển đổi nghề nghiệp và tạo công
an việc làm Với tính chất hỗ trợ, giá thu tiền sử dụng đất dịch vụ chỉ 840.000 đ/m2, nghĩa là người dân chỉ phải đóng 840.000 đ/m2 để có thể sử dụng đất dịch vụ
Tuy nhiên, Nhà nước chỉ giao đất dịch vụ cho người dân sau khi công tác thu hồi được hoàn thành Vì phải trên cơ sở quy hoạch chi tiết đã được Sở Xây dựng phê duyệt, trên cơ sở quỹ đất hiện có và đặc biệt là dựa vào mức thu hồi của từng hộ gia đình, UBND xã mới quy hoạch được vị trí của khu đất dịch vụ
2.3.2 ả ủ ườ
Quá trình thu hồi quyền sử dụng đất nông nghiệp tại thôn Hạ và những phản kháng của các hộ gia đình nông dân ở đây có thể tóm lược lại như sau Thứ nhất, theo chủ trương của UBND huyện, từ tháng 7/2007 các Ban giải phóng mặt bằng của Dự án KCN A Bắc Ninh được thành lập, song song với đó là việc hình thành tổ công tác tuyên truyền tại các thôn của xã8
Không ngoại lệ, thôn Hạ cũng nhanh chóng hình thành nên đội ngũ tuyên truyền cho
dự án thu hồi đất phục vụ xây dựng Dự án KCN A Đội tuyên truyền gồm tất
cả cán bộ của thôn Các thành viên của đội tuyên truyền nhanh chóng thực hiện nhiệm vụ của mình
Trong nhiều cuộc họp của lãnh đạo cấp xã, cấp thôn, người dân đi họp theo thông báo để nghe các chủ trương, chính sách về dự án phát triển và công tác thu hồi đất nông nghiệp ở địa phương và đối với các hộ gia đình ở thôn Hạ Tuy nhiên, các cuộc họp trở nên căng thẳng, ồn ào với nhiều ý kiến trái chiều Trong đó, đa số người dân ở thôn Hạ có ý kiến khá thống nhất là:
8
Tức xã có thôn Hạ
Trang 39(i.) Bày tỏ nguyện vọng chỉ thu hồi một phần đất nông nghiệp của họ
để học còn có thể tiếp tục sản xuất nông nghiệp;
(ii.) Cho rằng giá đền bù quyền sử dụng đất do nhà nước chi trả cho
và kiến nghị thì chính quyền cấp huyện đã quyết định ngừng sản xuất trên toàn địa bàn xã từ tháng 10/2007 Người dân bảy tỏ sự bức xúc trước việc này
và nhiều người đã yêu cầu lãnh đạo thôn cho họ tiếp tục được canh tác nông nghiệp và cuối cùng đến tháng 1 năm sau thì được chính quyền cấp huyện cho phép chỉ ngừng sản xuất ở khu vực đồng xa, theo đó người dân tiếp tục được canh tác trên phần ruộng còn lại của mình
Trong khi đó, để triển khai công tác thu hồi đất theo quy hoạch, Tổ chuyên trách của Ban giải phóng mặt bằng dự án phát triển này tiếp tục đo đạc đất trên đồng ruộng Đến đầu tháng 1/2008, chính quyền huyện ban hành Thông báo số 30/TB-GPMB về Niêm yết công khai diện tích thu hồi, phương
án thu hồi, phương án bồi thường, hỗ trợ dự án thu hồi đất xây dựng khu công nghiệp, đô thị và dịch vụ cho dự án phát triển này trên địa bàn các xã có đất bị thu hồi Theo đó, chính quyền huyện công khai danh sách các hộ gia đình có đất nông nghiệp bị thu hồi cùng với diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi của từng hộ gia đình Danh sách này được niêm yết ở nhiều nơi tại địa phương,
Trang 40bao gồm UBND xã, nhà văn hóa thôn, v.v Thời gian niêm yết kéo dài đến hết ngày 20/1/2008, tức là các hộ gia đình có 20 ngày để theo dõi thông tin về thu hồi đất nông nghiệp của họ Cùng với đó, Tổ chuyên trách của Ban giải phóng mặt bằng phát tờ khai tới từng hộ gia đình có đất nông nghiệp bị thu hồi Trên
tờ khai đó, các hộ gia đình phải ghi rõ diện tích đất nông nghiệp ghi trong Sổ
bộ thuế của gia đình và sau đó đối chiếu với diện tích đất nông nghiệp được niêm yết để kiểm tra xem thừa hay thiếu như thế nào
Sau khi đã niêm yết danh sách và phát tờ khai đến từ hộ, gần 1 tháng sau, ngày 31/1/2008, chính quyền huyện ra thông báo về việc tổ chức chi trả tiền đến bù quyền sử dụng đất nông nghiệp bị thu hồi kể từ ngày 03/2/2008 đến ngày 6/2/2008 (tức trước Tết âm lịch) cho cả 3 thôn ở địa bàn xã Tuy nhiên, tiến độ chi trả tiền đến bù này không được thực hiện bởi cán bộ thôn, chính quyền xã liên tục gặp những khiếu kiện của các hộ gia đình liên quan đến việc
đo đạc sai diện tích đất nông nghiệp của họ
Trước tình hình đó, chính quyền xã có công văn đề nghị chính quyền huyện tạm dừng chi trả tiền đền bù quyền sử dụng đất nông nghiệp vào đầu tháng 2/2008 để Tổ chuyên trách tiếp tục tiếp thu ý kiến người dân và tiến hành đo đạc lại diện tích đất nông nghiệp của những hộ gia đình có ý kiến về diện tích đất bị đo đạc sai
Sau khi đã thống nhất được với các hộ gia đình về diện tích đền bù, chính quyền huyện có thông báo về việc tiếp tục tiến hành chi trả tiền đến bù quyền
sử ụung đất nông nghiệp tại địa bàn thôn Hạ từ ngày 21 đến ngày 23/03/2008
Thứ hai, cho đến sát thời điểm chi trả tiền đến bù quyền sử dụng đất, tình
hình ở thôn Hạ vẫn khá căng thẳng Các hộ gia đình dường như bỏ bê công việc, tụ tập thành những tốp lớn, tốp nhỏ, bàn chuyện đất đai Không ít người
đi qua đi lại trên đường thôn, chửi cán bộ địa phương Vẫn những mong mỏi
và kiến nghị như cũ, họ cho rằng giá đất đền bù phải được tăng lên, và cần để