Trước tình hình trên, để góp phần đánh giá thực trạng và tìm ra những giảipháp nhằm nâng cao chất lượng thông tin trên báo chí dành cho công chúng DTTS, tác giả đã mạnh dạn lựa chọn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ PHONG LÊ
BÁO CHÍ LÂM ĐỒNG DÀNH CHO CÔNG CHÚNG
DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI ĐỊA PHƯƠNG
Chuyên ngành: Báo chí học
Mã số : 60 32 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS ĐINH VĂN HƯỜNG
Hà Nội – Năm 2019
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi,được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Đinh Văn Hường
Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn nàytrung thực và chưa từng được công bố dưới bất kỳ hình thức nào
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Lê Phong Lê
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS.Đinh Văn Hường, là người đã luôn tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình nghiêncứu Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Viện Đào tạo Báo chí và Truyềnthông và các giảng viên đã cung cấp những kiến thức bổ ích, tạo điều kiện giúp đỡtôi trong quá trình học tập xa nhà
Xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám đốc Đài Phát thanh và Truyền hình LâmĐồng, Ban Biên tập Báo Lâm Đồng; các anh, chị phóng viên, biên tập viên củaPhòng Biên tập Tiếng dân tộc thiểu số, cơ quan thường trú Thông tấn xã Việt Namtại Lâm Đồng; lãnh đạo và người dân các xã, thôn đã luôn giúp đỡ trong quá trìnhđiều tra, thu thập tài liệu
Lời cuối cùng, tôi xin cảm ơn Ban Giám hiệu, các đồng nghiệp tại TrườngĐại học Đà Lạt, đặc biệt là Khoa Ngữ văn và Văn hóa học, người thân, bạn bè đãluôn động viên để tôi hoàn thành nghiên cứu này
Do trở ngại về mặt ngôn ngữ do không biết tiếng DTTS, thời gian nghiêncứu không nhiều; kinh nghiệm nghiên cứu còn hạn chế, địa bàn rộng đi lại khókhăn, trình độ dân trí còn thấp nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Tôirất mong nhận được sự góp ý của các nhà khoa học, các bạn đồng nghiệp để côngtrình nghiên cứu này có chất lượng tốt hơn
Hà Nội, năm 2019
Trang 4MỤC LỤC
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 7
6 Đóng góp của đề tài 8
7 Kết cấu của đề tài 9
CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN VỀ BÁO CHÍ VÀ CÔNG CHÚNG DÂN TỘC THIỂU
1.1 Dân tộc và công chúng dân tộc thiểu số tại Lâm Đồng 10
1.2 Quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước Việt Nam về dân tộc thiểu số vàthông tin cho dân tộc thiểu số 20
1.3 Mô hình quá trình truyền thông cho công chúng dân tộc thiểu số 25
1.4 Báo chí dành cho công chúng dân tộc thiểu số 27
Tiểu kết chương 1 35
CHƯƠNG 2 KHẢO SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG BÁO CHÍ LÂM ĐỒNG
2.1 Vài nét về các cơ quan báo chí được khảo sát 37
2.2 Thực trạng báo chí Lâm Đồng dành cho công chúng dân tộc thiểu số tại địa phương
41
2.3 Đánh giá bước đầu về thành công và hạn chế 68
Tiểu kết chương 2 76
Trang 5CHƯƠNG 3 MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BÁO CHÍ DÀNH CHO CÔNG CHÚNG DÂN TỘC THIỂU
SỐ TẠI LÂM ĐỒNG THỜI GIAN TỚI 77
3.1 Một số vấn đề đặt ra hiện nay 77
3.2 Nguyên nhân thành công và hạn chế 80
3.3 Kiến nghị các giải pháp chung 87
3.4 Kiến nghị cho từng cơ quan báo chí cụ thể 93
Tiểu kết chương 3 98
KẾT LUẬN 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 7DANH MỤC BẢNG Bảng 2.1: Thực trạng thông tin báo chí tiếng DTTS tại Lâm Đồng
Bảng 2.2 Thực trạng phát sóng của Đài PT-TH Lâm Đồng
Bảng 2.3: Thống kê mẫu khảo sát
Bảng 2.4: Cấu trúc chương trình PT-TH tiếng Cơ Ho và Chu Ru
Bảng 2.5: Cấu trúc chuyên mục Báo ảnh DT&MN
Bảng 2.6: Khung giờ và thời lượng phát sóng chương trình PT-TH
DANH MỤC HÌNH Hình 1.1: Trích kết quả điều tra thực trạng KT-XH 53 DTTS
Hình 1.2: Mô hình truyền thông của Clause Shanoon
Hình 2.1: Quy trình sản xuất chương trình tiếng DTTS
Hình 2.2: Quy trình sản xuất Báo ảnh DT&MN
Hình 2.3: Cơ cấu nội dung các đối tượng khảo sát
Hình 2.4: Bài viết “Kỹ thuật trồng chanh không hạt”-Báo ảnh DT&MN Hình 2.5: Hình hiệu chương trình TH DTTS
Hình 2.6: Người dẫn chương trình và background
Hình 2.7: Dàn trang Báo ảnh DT&MN
Hình 2.8: Mức độ theo dõi báo chí tiếng DTTS tại Lâm Đồng
Hình 2.9: Hạn chế của chương trình tiếng DTTS
Hình 3.1: Nhu cầu thông tin của công chúng DTTS Lâm Đồng
Hình 3.2: Khung giờ thuận tiện theo dõi chương trình của công chúng
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam là quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc, chiếm hơn 13 triệu người,đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế, xã hội, an ninh – quốcphòng của đất nước Lâm Đồng là tỉnh có 43 dân tộc anh em cùng chung sống vớihơn 300 nghìn người DTTS, là vùng trọng điểm có tầm quan trọng chiến lược tạikhu vực Tây Nguyên
Nhờ sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, công chúng DTTS tại Lâm Đồngngày càng phát triển đời sống, xóa nạn mù chữ, giảm thiểu hủ tục, tệ nạn xã hội,phát triển nông nghiệp, phấn đấu trở thành vùng nông thôn mới ngày càng tiến bộhơn Tuy nhiên, bên cạnh đó nhiều vùng dân tộc hiện nay vẫn còn khó khăn, trình
độ dân trí thấp, lại đa tôn giáo khiến các thế lực thù địch thường chọn để lôi kéo,kích động, chống phá, chia rẽ Chính vì thế, trong nhiều năm qua, Chính phủ vàNhà nước Việt Nam vẫn luôn coi công tác dân tộc là một vấn đề quan trọng, tìmcách để giúp đồng bào DTTS thoát nghèo, cải thiện đời sống mà vẫn gìn giữ đượcnhững nét văn hóa truyền thống tốt đẹp Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có nhiều
chủ trương, chính sách về DTTS Năm 2011, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 05/2011/NĐ-CP về Công tác dân tộc, trong đó nêu rõ mục đích của Đảng và Nhà
nước nhằm “đảm bảo và thúc đẩy sự bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùngphát triển, tôn trọng và giữ gìn bản sắc văn hóa của các dân tộc cùng chung sống
trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [63]
Muốn thực hiện thành công mục tiêu trên, báo chí đóng vai trò rất quan trọngtrong việc tuyên truyền các chính sách của Đảng và chủ trương của Nhà nước; phổbiến lối sống văn minh, hiện đại, xóa bỏ hủ tục lạc hậu, nâng cao dân trí Cũngchính báo chí sẽ góp phần giám sát, đánh giá hiệu quả việc thực thi những chủtrương, chính sách này Bên cạnh đó, báo chí là công cụ phản ánh chân thực cuộcsống của đồng bào DTTS, giúp họ đề đạt tâm tư, nguyên vọng của mình Nếu
Trang 9không có sự tham gia phối hợp của báo chí với các cơ quan ban, ngành trên mặt trậnthông tin thì công tác dân tộc khó đạt được những thành công nhất định như ngàyhôm nay
Thời gian qua báo chí cả nước nói chung và Lâm Đồng nói riêng đã có nhiều
cố gắng, nỗ lực để đưa thông tin cho công chúng DTTS, đạt nhiều thành tựu quantrọng Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan vẫn còn nhữnghạn chế tồn tại trong công tác thông tin trên báo chí Chẳng hạn xét về con người thì
số lượng phóng viên, nhà báo biết tiếng dân tộc còn ít, số người dân tộc có kỹ năngtác nghiệp không cao Hay những yếu tố liên quan đến khả năng, quan niệm tiếpnhận khác nhau của người DTTS Ngoài ra, báo chí dành cho DTTS đang gặpnhững thách thứ khi nhiều phương tiện truyền thông mới như mạng xã hội hay cácchương trình giải trí xuất hiện thu hút công chúng hơn Bên cạnh đó, các thế lực thùđịch chống phá, kích động, lôi kéo đồng bào DTTS tiếp cận thông tin không chínhthống hay những khó khăn về kinh tế cũng ảnh hưởng đến việc phát triển báo chídành cho công chúng DTTS Quan trọng hơn cả, là cách thức, nội dung truyền đạtvẫn còn tồn tại một số vấn đề bên cạnh những thành công đáng ghi nhận khác
Chính vì thế, nghiên cứu về báo chí dành công chúng DTTS, cụ thể là côngchúng tại tỉnh Lâm Đồng là việc làm cấp thiết sẽ phần nào giúp các cấp ủy Đảng,các ban ngành địa phương, cơ quan báo đài và các nhà nghiên cứu có cái nhìn toàndiện, khoa học và sâu sắc hơn về vấn đề này Từ đó, giúp nâng cao hiệu quả, chấtlượng của quá trình thông tin, truyền thông; hướng tới mục đích cuối cùng nhằm cảithiện đời sống văn hóa, tinh thần của người dân, phát triển kinh tế - xã hội của đấtnước
Trước tình hình trên, để góp phần đánh giá thực trạng và tìm ra những giảipháp nhằm nâng cao chất lượng thông tin trên báo chí dành cho công chúng DTTS,
tác giả đã mạnh dạn lựa chọn đề tài Báo chí Lâm Đồng dành cho công chúng dân
tộc thiểu số tại đia phương để làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học
Trang 102 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Các công trình nghiên cứu trên thế giới liên quan trực tiếp đến báo chí dànhcho công chúng DTTS không nhiều, chủ yếu là nghiên cứu về truyền thông nóichung dành cho nhóm người thiểu số (minorites) Trong đó có thể kể đến các côngtrình như:
Công trình Ethnic Minorities & The Media: Changing Cultural Boundaries
(DTTS và Truyền thông: Sự thay đổi ranh giới văn hóa) do Simon Cottle (2000)chủ biên, tập hợp các bài viết liên quan DTTS trong mối quan hệ với truyền thông.Các tác giả cho rằng đây là một vấn đề cấp bách cần nghiên cứu Trong đó, SimonCottle đề cập đến những thách thức và khó khăn khi thực hiện chương trình truyềnhình cho DTTS, Karen Rose đề cập đến khán giả người da đen và nội dung truyềnhình chỉ trích liên quan tới nhóm công chúng này
Công trình Media and Ethnic Minorities (Truyền thông và DTTS) của
Valerie Alia (2005) tập trung nghiên cứu về các nhóm DTTS tại một số nước nhưCanada, Hoa Kỳ, Bắc Âu, New Zealand, Úc, Ireland trong bối cảnh truyền thôngmới Từ đó, đưa ra vai trò của ngôn ngữ, văn hóa, nhân chủng và truyền thông trongviệc đấu tranh giải phóng người thiểu số khỏi các cuộc áp bức của người bản địahay các thế lực chính trị thông qua các phương tiện truyền thông công khai
Công trình Understanding Ethnic Media: Producers, Consumers, and Societies (Hiểu về truyền thông dân tộc: Nhà sản xuất, người tiêu thụ và xã hội) của
Matthew D Matsaganis, Vikki S Katz, Sandra J Ball-Rokeach (2010) là cuốn sáchđầu tiên cung cấp tổng quan và phân tích toàn diện về cách truyền thông được sảnxuất bởi chính những người dân tộc Tạo nên bản sắc riêng với ranh giới giữa
“chúng ta” và “họ”; cũng như ảnh hưởng của truyền thông dân tộc đến các phươngtiện truyền thông lớn hơn và toàn bộ xã hội
Tác giả Nguyễn Thị Thu Thủy (2008) đã thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ tại
Đại học Tromso mang tên The role of Radio and TV in the life of ethnic minorities
Trang 11in Vietnam Case study: The H’Mong people in Lao Cai and Lai Chau province
(Vai trò của phát thanh và truyền hình trong đời sống của người DTTS tại ViệtNam: Trường hợp người H’Mông ở Lào Cai và Lai Châu) Thông qua khảo sátcông chúng, đề tài đã cho thấy được tầm quan trọng của truyền hình (VTV5) vàphát thanh (VOV4) ảnh hưởng tích cực như thế nào đến đời sống của người DTTS
2.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
Trên tạp chí Người Làm Báo có các nghiên cứu như Đề xuất một hướng tiệp cận cho phát thanh dân tộc của tác giả Vũ Quang Hào (2017), trong đó nhắc đến
việc làm phát thanh theo cách của truyền thông cộng đồng chú ý tới đối thoại bằng
cảm xúc, chỉ dẫn bằng thao tác và thuyết phục bằng lợi ích [12, tr.50] Tác giả
Thành Huy Long (2018) đề cập đến vai trò của truyền thông dân tộc, những vấn đề
bấp cập cũng như giải pháp trước mắt trong bài báo Truyền thông cho đồng bào dân tộc hiện nay [25; tr.48] Tác giả Đặng Thị Thu Hương (2018) đã nghiên cứu về Hình ảnh đồng bào dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc trên báo chí bài báo phân tích,
chỉ ra những bất cập, định kiến trong việc giới thiệu các cộng đồng DTTS vùng TâyBắc, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế đang tồn tại[17, tr.52]
Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường và Khoa Xã hội học, Học
viện Báo chí và Tuyên truyền đã có công trình nghiên cứu về Thông điệp truyền thông về dân tộc thiểu số trên báo in (2011) đề cập đến văn hóa các DTTS trên báo
chí và giải pháp để cải thiện thông điệp về DTTS trên báo chí
Bên cạnh đó, có các luận văn thạc sĩ về báo chí dành cho DTTS:
Về báo in có các đề tài như: Trương Văn Quân (2008), Các ấn phẩm báo chí
của Thông tấn xã Việt Nam phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi thời kỳ đổi mới (Khảo sát 2 ấn phẩm: Bản tin ảnh Dân tộc và Miền núi; Chuyên đề Dân tộc
và Miền núi – TTXVN từ năm 2001 đến 2007; Lữ Thị Ngọc (2010), Nâng cao chất lượng báo in phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số (Khảo sát trường hợp người Thái ở Tương Dương, Nghệ An); Đinh Thị Nhung (2015), Vấn đề đại đoàn kết dân tộc trên
Trang 12báo in hiện nay (Khảo sát trên báo Đại đoàn kết, báo Dân tộc và Phát triển, Tạp chí Dân tộc, giai đoạn 2012-2015) Liên quan trực tiếp tới Lâm Đồng có đề tài Tổ chức nội dung và trình bày Bản tin - ảnh Dân tộc miền núi khu vực Tây Nguyên (Khảo sát bản tin - ảnh, báo ảnh các báo: Lâm Đồng, Đăk Lăk, Kon Tum, Gia Lai, Đăk Nông từ tháng 6/2011 đến tháng 6/2012) của Phạm Thị Lê Hoa (2012)
Về truyền hình và phát thanh, Nguyễn Thị Lệ Thủy (2014) có đề tài Nâng
cao chất lượng chương trình phát thanh tiếng dân tộc ở các tỉnh vùng Đông Bắc;
Hà Thị Ngần (2015), Chương trình truyền hình khoa giáo dành cho đồng bào dân tộc thiểu số ở đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh Bắc Kạn; Lư Xuân Lái (2015), Tổ chức sản xuất chương trình phát thanh tiếng Khmer cho bà con dân tộc Khmer của Đài Phát thanh - Truyền hình Sóc Trăng hiện nay; Lê Thị Hồng Thu (2015), Đổi mới tổ chức sản xuất chương trình truyền hình cho đồng bào dân tộc thiểu số trên kênh VTV5 - Đài Truyền hình Việt Nam; Nguyễn Thị Ngân (2017), Chương trình tiếng Thái cho đồng bào Thái ở Tây Bắc và nhiều công trình khác
Những công trình trên được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau Đó chính lànguồn tư liệu quý giá để tác giả tham khảo và phục vụ nghiên cứu đề tài này Tuynhiên, chưa có đề tài tìm hiểu về báo chí dành cho công chúng DTTS ở Lâm Đồng.Chính vì vậy, với mong muốn góp phần bổ sung vào kho tàng kiến thức rộng lớn
nhưng còn nhiều chỗ trống, chúng tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài Báo chí Lâm Đồng dành cho công chúng dân tộc thiểu số tại địa phương.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt mục tiêu trên, chúng tôi hướng đến thực hiện các nhiệm vụ sau:
Trang 13Thứ nhất, tổng thuật khái niệm về dân tộc, dân tộc thiểu số, công chúng
truyền thông, lý thuyết về các loại hình báo chí cũng như báo chí chuyên biệt Từ đórút ra khái niệm về báo chí chuyên biệt dành cho công chúng DTTS
Thứ hai, làm rõ thực trạng các chương trình và ấn phẩm báo chí bằng tiếng
dân tộc dành cho công chúng DTTS tại Lâm Đồng về nội dung, hình thức, các yếu
tố khác như quy trình sản xuất, thời lượng, dung lượng
Thứ ba, nêu một số vấn đề đặt ra hiện nay và kiến nghị, đề xuất nhằm nâng
cao chất lượng báo chí dành cho công chúng DTTS thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là báo chí Lâm Đồng dành cho công chúngDTTS tại địa phương
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu các tác phẩm báo chí dành
cho công chúng DTTS tại Lâm Đồng từ tháng 6/2017 đến 6/2018
Phạm vi không gian:
Về loại hình, chúng tôi chọn 3 loại hình để nghiên cứu là truyền hình, phát
thanh và báo in của Đài PT-TH Lâm Đồng và Báo ảnh DT&MN của TTXVN doBáo Lâm Đồng biên dịch Lý do lựa chọn vì đây là ba nhóm tác phẩm đại diện cho
ba loại hình báo chí tiêu biểu và là ba sản phẩm báo chí tiếng DTTS của địa phươngđược công chúng theo dõi nhiều
Về ngôn ngữ, chúng tôi nghiên cứu đại diện các tác phẩm báo chí bằng hai
thứ tiếng là Chu Ru và Cơ Ho Lý do lựa chọn vì Chu Ru và Cơ Ho là hai tộc ngườibản địa cư trú lâu nhất, chiếm số dân đông ở Lâm Đồng, họ có tiếng nói thuộc haingữ hệ tiêu biểu cho người DTTS tại địa phương Chính vì thế, tiếng Chu Ru và Cơ
Ho được chọn để sản xuất chương trình PT-TH và xuất bản ấn phẩm báo in tại LâmĐồng Bên cạnh đó, chúng tôi không khảo sát báo chí tiếng phổ thông vì chỉ phục
Trang 14vụ cho số đông công chúng toàn tỉnh chứ không riêng DTTS nên khó đưa ra đánhgiá chính xác
Ngoài ra, đề tài còn nghiên cứu tham khảo nhóm công chúng DTTS ở Lâm
Đồng nhằm mục đích so sánh, đối chiếu quá trình thông tin báo chí đến với DTTSđịa phương để từ đó đưa ra đánh giả và giải pháp, khuyến nghị được đầy đủ hơn.Tuy nhiên đây chỉ là nghiên cứu bổ sung để phục vụ cho đề tài chứ không nhằm đolường hiệu quả thông tin một cách chi tiết
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện dựa trên nền tảng cơ sở lý luận báo chí và truyềnthông, các lý thuyết về công chúng, cũng như các quan điểm của Đảng, chủ trương,chính sách của Nhà nước về vấn đề dân tộc, thông tin, báo chí
Để thực hiện đề tài, tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp sau:
Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp: Chúng tôi hệ thống những lý
thuyết ở các công trình có liên quan đến đề tài để đưa ra hướng nghiên cứu thíchhợp; tập hợp các chương trình PT - TH, các ấn phẩm báo chí dành cho công chúngDTTS để so sánh, đánh giá về nội dung, hình thức và các yếu tố khác Cụ thể: Đốivới Đài PT-TH Lâm Đồng chúng tôi nghiên cứu 155 chương trình (gồm 1095 tin,bài) tiếng Cơ Ho và Chu Ru trong thời gian 6 tháng từ 10/2017 đến 3/2018 Đối vớiBáo ảnh DT&MN, nghiên cứu 12 kỳ (gồm 161 tin, bài) song ngữ Việt – Cơ Hotrong thời gian 1 năm từ 6/2017 đến 6/2018
Phương pháp điều tra xã hội học: phỏng vấn sâu nhằm thu thập ý kiến của
lãnh đạo cơ quan báo chí về công tác quản lý, chiến lược hoạt động báo chí dànhcho công chúng DTTS; thu thập ý kiến của biên tập viên, phóng viên, phát thanhviên, biên dịch phụ trách mảng DTTS và người có uy tín trong cộng đồng ngườiDTTS về báo chí tiếng DTTS tại Lâm Đồng hiện nay
Dù trọng tâm của đề tài nghiên cứu về báo chí, tuy nhiên để đưa ra đánh giá,khuyến nghị khách quan cần tìm hiểu thêm khả năng và nhu cầu tiếp nhận thông tincủa công chúng Vì thế, chúng tôi phát 150 phiếu khảo sát ở các vùng có nhiều công
Trang 15chúng DTTS sinh sống với số lượng mẫu ngẫu nhiên như sau: 100 người Cơ Ho, 50người Chu Ru đang cư trú tại xã Tu Tra, xã Đạ Ròn - huyện Đơn Dương, xã Phi Tô,
xã Đạ Đờn – huyện Lâm Hà, xã Đà Loan – huyện Đức Trọng
Bên cạnh đó đề tài cũng sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành xã hội
học, văn hóa học, dân tộc học, nhân học để có thể đưa ra những đánh giá, nhận địnhđầy đủ hơn cho kết quả nghiên cứu
6 Đóng góp của đề tài
6.1 Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở để tác giả và những người nghiêncứu báo chí quan tâm có thể bổ sung, phát triển lý luận báo chí truyền thông vềDTTS, nghiên cứu các đề tài khác trong tương lai theo hướng mở rộng tìm hiểu vềbáo chí vùng Tây Nguyên, báo chí dành cho công chúng DTTS; tìm hiểu về báo chíLâm Đồng dành cho công chúng tại địa phương không chỉ riêng người DTTS; tìmhiểu sâu hơn về nhóm công chúng tại địa phương
Đề tài bổ sung nguồn tư liệu cho những nhà nghiên cứu báo chí học có nhucầu tìm hiểu về hoạt động báo chí dành cho DTTS Bên cạnh đó, kết quả nghiêncứu cũng có thể phục vụ cho những người quan tâm nghiên cứu về dân tộc học, vănhóa học, xã hội học Lâm Đồng hay vùng Tây Nguyên
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nhờ phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động báo chí dành cho côngchúng DTTS sẽ giúp cán bộ quản lý báo chí, những người làm báo tại Lâm Đồng vànhững địa phương có công chúng DTTS có thêm cơ sở để hoạch định, cải tiến, nângcao chất lượng các chương trình, các ấn phẩm cho phù hợp với thực tế hơn
Các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương như UBND Tỉnh Lâm Đồng, BanDân tộc, Sở Thông tin và Truyền thông cũng sẽ có cái nhìn tổng quan để phối hợp,cùng nhau đảm bảo những thông điệp quan trọng được truyền tải một cách hiệu quảnhất
Trang 16Cán bộ, phóng viên, biên tập viên, biên dịch Đài PT-TH Lâm Đồng, BáoLâm Đồng, Báo điện tử và các địa phương khác có thể tham khảo, vận dụng tronghoạt động thực tiễn
Đề tài cũng là nguồn tài liệu tham khảo cho các cơ sở đào tạo, nghiên cứubáo chí truyền thông
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn gồm
3 chương:
Chương 1 Tổng quan về báo chí và công chúng dân tộc thiểu số tại Lâm Đồng.Chương 2 Khảo sát và đánh giá thực trạng báo chí Lâm Đồng dành cho công chúngdân tộc thiểu số tại địa phương
Chương 3 Một số vấn đề đặt ra và kiến nghị giải pháp để nâng cao chất lượng báochí dành cho công chúng dân tộc thiểu số tại Lâm Đồng thời gian tới
Trang 17NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ BÁO CHÍ VÀ CÔNG CHÚNG DÂN TỘC
THIỂU SỐ TẠI LÂM ĐỒNG 1.1 Dân tộc và công chúng dân tộc thiểu số tại Lâm Đồng
1.1.1 Khái niệm công chúng DTTS
1.1.1.1 Dân tộc
Stephen Harold Riggins (1992) trong công trình Ethnic Minority Media: An International Perspective (Truyền thông DTTS trong bối cảnh quốc tế) đã tổng hợp một số khái niệm về dân tộc từ nhiều nhà nghiên cứu khác nhau Theo ông, dân tộc
(ethnic) “chỉ những người cảm nhận mình như là một cộng đồng nhờ sự giống nhau
ở văn hóa, tổ tiên, ngôn ngữ, lịch sử, tôn giáo hay phong tục Không phải nghĩa là
họ hội tụ tất cả các khía cạnh này, mà chỉ là một hoặc vài đặc điểm có thể được
chọn là biểu tượng nhất tạo nên bản sắc tập thể” [58, tr.2] Theo Herberg (1989),
thuật ngữ chính xác hơn đáng lẽ phải gọi là “nhóm tôn giáo - dân tộc - chủng tộc”
(ethno – racial - religious group) nhưng vì sự đơn giản nên người ta chỉ gọi là dân
tộc Cần lưu ý rằng dân tộc không phải là một từ đồng nghĩa với thiểu số” [58, tr.2].Người bình thường có thể nghĩ rằng dân tộc không thể thay đổi trong cuộc sống,được xác định từ khi sinh ra Tuy nhiên, theo Anderson (1983) “các nghiên cứuhiện đại có xu hướng khái niệm hóa dân tộc như một công trình xã hội, một vấn đề
về bản sắc được thay đổi theo thời gian và trở thành một cộng đồng trong tiềm thứcchứ không hẳn hoàn toàn cố định” [58, tr.3]
Ở nước ta, thuật ngữ dân tộc được hiểu theo hai nghĩa khác nhau Nghĩa thứ nhất được hiểu là quốc gia dân tộc (nation), phân biệt quốc gia này với quốc gia khác, còn nghĩa thứ hai là thành phần dân tộc (ethnic), phân biệt tộc người này với tộc người khác Theo Từ điển Tiếng Việt (1992) thì dân tộc là “cộng đồng người
hình thành trong trong lịch sử có chung một lãnh thổ, các quan hệ kinh tế, một ngôn
Trang 18ngữ văn học và một số đặc trưng văn hóa và tính cách” [33, tr.255] Với nghĩa tộcngười thì dân tộc là “hình thái đặc biệt của một tập đoàn xã hội xuất hiện khôngphải do ý nguyện của con người mà là kết quả của quá trình tự nhiên, lịch sử [10,tr.8].
Hiện nay “trên thế giới có 200 quốc gia dân tộc; trong đó có tới 180 quốc gia
đa dân tộc” [19, tr.7] Trong một quốc gia đa dân tộc, các thành phần dân tộc cótrình độ phát triển không đồng đều Vì vậy, chính phủ các quốc gia đa dân tộc đềuphải xây dựng chính sách dân tộc nhằm rút ngắn khoảng cách phát triển giữa cácthành phần dân tộc Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, gồm 54 dân tộc cùngchung sống với các đặc điểm nổi bật như “cư trú phân tán và xen kẽ nhau, đoàn kếtdựng nước và giữ nước, quy mô dân số và trình độ phát triển kinh tế – xã hội khôngđồng đều, mỗi dân tộc có bản sắc văn hóa riêng góp phần tạo nên sự phong phú đadạng của nền văn hóa Việt Nam” [19, tr.8]
1.1.1.2 Dân tộc thiểu số
Để hiểu thuật ngữ DTTS, trước hết cần hiểu về nhóm người thiểu số
(Minority group) Joseph F Healey (1972) dùng khái niệm này để đề cập đến
“những nhóm người gặp một số bất lợi so với các thành viên khác trong xã hộithống trị” [57, tr.17] George Ritzer (2015) cho rằng thành viên nhóm thiểu sốthường dựa trên sự “khác biệt về các đặc điểm như: giới tính, dân tộc, chủng tộc,tôn giáo, khuyết tật, khuynh hướng tình dục hoặc nhận dạng giới tính Một người cóthể thuộc một hay nhiều nhóm thiểu số Thành viên của các nhóm thiểu số dễ bị đối
xử phân biệt ở các quốc gia và xã hội nơi họ sinh sống trong nhiều lĩnh vực baogồm nhà ở, việc làm, y tế và giáo dục.” [56, tr.150]
Dân tộc thiểu số (Ethnic Minority) theo cách hiểu trên là nhóm ít người có
sự khác biệt về chủng tộc ở xã hội họ đang sống Trong luật pháp quốc tế, không có
định nghĩa chung về DTTS Mặc dù vậy, việc bảo vệ nhóm DTTS đã được nêu
trong tuyên bố của Liên Hợp Quốc về Quyền của những người có sắc tộc, tôn giáo
và ngôn ngữ thiểu số Theo đó, họ sẽ được bảo vệ bằng nhiều cách khác nhau và
Trang 19quan trọng là được trao quyền tự quyết định các vấn đề của bản thân Hội đồng
Châu Âu đề xuất định nghĩa về các quốc gia DTTS trong Hiến chương châu Âu về Khu vực DTTS theo Công ước khung Bảo vệ DTTS Trong đó họ đề cập đến DTTS
là nhóm người có những yếu tố sau:
1 Số lượng ít hơn phần còn lại trong dân số của khu vực
2 Không ở vị trí thống trị
3 Văn hóa, ngôn ngữ, tôn giáo, chủng tộc khác với phần lớn dân số
4 Những thành viên có ý chí duy trì các đặc trưng, tên gọi và sự khácbiệt ở nhóm của họ
5 Là công dân của khu vực với tư cách là nhóm ít người
6 Là những thành viên có sự hiện diện lâu dài trên lãnh thổ [54]
Ở Việt Nam, DTTS là thuật ngữ phân biệt với dân tộc đa số khi được xét về
mặt số lượng dân cư Theo Từ điển Tiếng Việt (1992) thì DTTS là “dân tộc chiếm
số ít, so với dân tộc chiếm số đông nhất trong nước có nhiều dân tộc” [33, tr.255]
Nghị định số 05/2011/NĐ-CP (2011) về Công tác dân tộc xác định DTTS là “những
dân tộc có dân số ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi nước Cộng hòa Xã hội
Chủ nghĩa Việt Nam” [63] Việt Nam hiện nay dân tộc Kinh có số lượng đông nhất
(chiếm 85,73%) nên được gọi là dân tộc đa số, 53 dân tộc còn lại là DTTS (chiếm14,27%) Ngoài ra xuất phát từ tình hình thực tiễn về dân số, địa bàn cư trú của cácdân tộc trong hoạch định chính sách thì Đảng và Nhà nước ta còn phân loại thêm
một thuật ngữ là DTTS rất ít người Đây là những dân tộc có dân số dưới 10.000
người, cư trú ở địa bàn vùng sâu, vùng xa, khu vực giao thông khó đi lại, cơ sở kinh
tế – kỹ thuật thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao Việt Nam có 16 DTTS rất ít người, trong có
có 5 dân tộc dưới 1000 người thuộc DTTS đặc biệt ít người [63] Nghị định trên cũng đề cập đến Vùng dân tộc thiểu số để chỉ những địa bàn đông các DTTS cùng
sinh sống ổn định thành cộng đồng trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam Lâm Đồng là tỉnh có 43 dân tộc anh em cùng chung sống với hơn 300nghìn người DTTS Như vậy, Lâm Đồng được xem là vùng DTTS
Có một số tác giả gọi DTTS bằng thuật ngữ “nhóm người yếu thế”, tuy nhiên
Trang 20theo Forsythe (1989) “không nên nghĩ rằng người thiểu số là những người yếu đuối,mong manh Các định nghĩa như vậy vẫn còn nhiều yếu kém, mơ hồ và không thểchối cãi nó là nguồn gốc gây nên những sự xung đột nhạy cảm nếu không tìm hiểukỹ” [58, tr.2] Khác với nhiều quốc gia khác trên thế giới, Nhà nước ta luôn hướngtới sự bình đẳng cho người DTTS, tạo điều kiện cho người dân phát triển toàn diện
1.1.1.3 Công chúng DTTS
Công chúng DTTS là thuật ngữ được dùng để chỉ những người DTTS trongmôi trường truyền thông, cụ thể ở nghiên cứu này là trong mối quan hệ với báo chí
Theo tác giả Nguyễn Văn Dững trong công trình Cơ sở lý luận báo chí, “công
chúng báo chí là quần thể dân cư hay nhóm đối tượng mà báo chí gây ảnh hưởnghoặc hướng vào để gây ảnh hưởng Như vậy công chúng báo chí được xem xéttrong mối quan hệ với sản phẩm báo chí, với cơ quan báo chí và với nhà báo” [7, tr
139] Trong cuốn Xã hội học báo chí tác giả Trần Hữu Quang lưu ý cần phân biệt
sự khác nhau giữa công chúng với đám đông và đại chúng Công chúng của một tờbáo được hiểu là “đông đảo độc giả thuộc các tầng lớp xã hội khác nhau, đang sinhsống và làm việc tại nhiều nơi khác nhau (không tụ tập cùng một chỗ) nhưng cùngđọc tờ báo này Công chúng có những đặc trưng chính là tính quảng đại (đông đảo),tính không đồng nhất (bao gồm rất nhiều giới và tầng lớp khác nhau) và tính nặcdanh (không ai biết ai).” [36, tr.25]
Theo Denis McQuail, công chúng truyền thông (audiences) xuất phát từ xã
hội và từ chính các phương tiện truyền thông Nghĩa là do nhu cầu của dân chúngnên xuất hiện nguồn cung cấp tin thích hợp hoặc do chính phương tiện truyền thông
ra đời tạo nên một lớp công chúng mới McQuail chia công chúng truyền thông làm
bốn loại Một trong bốn loại đó là nhóm công chúng của một kênh hay một nội dung cá biệt [55, tr 370] Theo lý thuyết này thì công chúng DTTS xuất hiện khi họ
có nhu cầu được cung cấp thông tin bằng ngôn ngữ của chính mình Lúc đó, kênh
PT, TH và tờ báo tiếng DTTS ra đời vừa đáp ứng nhu cầu đó, đồng thời tạo ra mộtlớp công chúng riêng biệt gắn với các phương tiện truyền thông này
Trang 21Như vậy, công chúng DTTS chính là độc giả, khán giả, thính giả của một tờ báo hay chương trình PT, TH bằng tiếng DTTS dành riêng cho họ Cụ thể trong đề
tài này là những người DTTS sống tại Lâm Đồng đang theo dõi Báo ảnh DT&MN,
chương trình TH-PT tiếng Cơ Ho, Chu Ru của Đài PT-TH Lâm Đồng
1.1.2 Đặc điểm công chúng DTTS tại Lâm Đồng
1.1.2.1 Khái quát về tỉnh Lâm Đồng
Về điều kiện tự nhiên: Lâm Đồng là tỉnh miền núi nằm ở phía Nam Tây
Nguyên; nằm trên 3 cao nguyên và là khu vực đầu nguồn của 7 hệ thống sông lớn,địa hình tương đối phức tạp chủ yếu là núi cao đồng thời có những thung lũng nhỏbằng phẳng tạo nên những yếu tố tự nhiên khác nhau về khí hậu, thổ nhưỡng, thựcvật, động vật và những cảnh quan kỳ thú cho Lâm Đồng Lâm Đồng nằm trongkhu vực chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa biến thiên theo độ cao, trongnăm có 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô thuận lợi cho phát triển du lịch nghỉdưỡng và phát triển các loại cây trồng, vật nuôi có nguồn gốc ôn đới [75, tr.26]
Về đặc điểm dân cư: Lâm Đồng là vùng đất mới có sức thu hút dân cư trong
cả nước đến lập nghiệp, quần thể dân cư ở đây chưa ổn định và liên tục biến động,hiện tượng di dân tự do trong những năm qua vẫn còn lớn Dân số toàn tỉnh năm
2018 là 1.298.900 người, trong đó dân số nông thôn là 776.931 người, chiếm61,01% [75, tr.28]
Về kinh tế – xã hội: Lâm Đồng nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
– là khu vực năng động, có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và là thị trường có nhiều
tiềm năng lớn Toàn tỉnh có thể chia thành 3 vùng với 5 thế mạnh: Phát triển cây
công nghiệp dài ngày, lâm nghiệp, khoáng sản; du lịch - dịch vụ và chăn nuôi giasúc Lâm Đồng có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú, đa dạng Lâm Đồngđứng đầu cả nước về sản xuất chè, rau hoa chất lượng cao; đứng thứ 2 cả nước vềsản xuất cà phê; chiếm tỷ trọng đáng kể về các sản phẩm như dâu tằm tơ, hạt điều,
bò thịt sữa, mía đường, dược liệu Lễ hội, rượu cần và dệt thổ cẩm là nét đặc trưngcho văn hóa DTTS tại Lâm Đồng [75, tr.30]
Trang 22Kinh tế – xã hội Tỉnh Lâm Đồng vẫn tiếp tục tăng trưởng trong nhiều nămqua Tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh giảm 1,3% Hiện nay, toàn tỉnh có 72 xã cơ bản đạt 19tiêu chí về xây dựng nông thôn mới [62] Sự tăng trưởng này có được với sự thamgia góp phần của DTTS, qua đó đời sống của công chúng DTTS ngày càng được cảithiện hơn
1.1.2.2 Dân tộc thiểu số ở tỉnh Lâm Đồng
Theo Ban Dân tộc tỉnh Lâm Đồng, tính đến năm 2018 toàn tỉnh Lâm Đồng
có hơn 300.000 người DTTS (chiếm 24,1%) Trong đó, nhiều nhất là người Cơ Ho(51%), Mạ (11%) và Chu Ru (6.5%) Về ngôn ngữ, hiện công chúng DTTS LâmĐồng theo bốn ngữ hệ Trong đó, ngữ hệ Việt, Mường (người Việt) chiếm đa số;ngữ hệ Hán, Thái (người Tày, Nùng…) chiếm tỉ lệ nhỏ, họ là người không phải gốcTây Nguyên di cư từ nơi khác đến Còn lại hai ngữ hệ: Môn-Khomer (người Mạ vàngười Cơ Ho), Mã Lai – Đa Đảo (người Chu Ru) [8, tr.32] Bởi lý do đó mà các cơquan báo chí chọn hai thứ tiếng là Chu Ru và Cơ Ho để sản xuất các chương trình,
ấn phẩm dành cho công chúng DTTS Lâm Đồng
Người Cơ Ho tại Lâm Đồng:
Dân tộc Cơ Ho tại Lâm Đồng chiếm hơn 51% tổng số người DTTS tại LâmĐồng (152,855 người, 2018) Kinh tế chủ đạo của người Cơ Ho là trồng trọt, người
Cơ Ho cư trú ở vùng núi cao nên phát rừng, làm rẫy là canh tác chính và ngô, lúarẫy, sắn là nguồn lương thực chủ yếu Ngoài trồng trọt, người Cơ Ho còn làm kinh
tế phụ như: săn bắt, hái lượm các loại rau quả ở rừng và đánh bắt cá dưới sông,suối Trong gia đình người Cơ Ho đều nuôi trâu, bò, heo, dê, gà, vịt Tất cả cácnhóm Cơ Ho đều có nhiều nghề thủ công cung cấp sản phẩm cần thiết cho nhu cầucủa dân làng Phổ biến nhất là các nghề dệt vải thổ cẩm, đan lát đồ mây, tre, cói [42,tr.7]
Đơn vị tổ chức xã hội cao nhất mà người Cơ Ho là Bon, tương đương một làng Đứng đầu bon là già làng (Kuang bon) Về mặt tinh thần, già làng có uy tín
tuyệt đối so với các thành viên khác của làng Điều đáng chú ý là những dấu ấn mẫu
Trang 23hệ vẫn được duy trì và bảo lưu Con cái sinh ra đều theo họ mẹ, quyền thừa kế tàisản thuộc về con gái Người phụ nữ hoàn toàn đóng vai trò chủ động trong hônnhân Sau hôn lễ, chàng rể phải về ở bên nhà vợ [3, tr.83]
Người Cơ Ho tin rằng mọi mặt của đời sống đều do các thế lực siêu nhiênquyết định Đến nay các lễ nghi phong tục cổ truyền của người Cơ Ho vẫn còn đượcbảo lưu Mấy chục năm lại đây một bộ phận lớn người Cơ Ho đã tin theo những tôngiáo nhập từ bên ngoài như Thiên chúa giáo, nhất là Tin lành Kinh thánh và các tàiliệu truyền giáo khác được dịch ra tiếng Cơ Ho và các mục sư, thầy giảng đã sửdụng ngôn ngữ đó trong việc truyền giảng đạo [3, tr.84]
Người Chu Ru tại Lâm Đồng:
Năm 2018 có 19.511 người Chu Ru sống tại Lâm Đồng chiếm 6.3%, sau
người Cơ Ho và người Mạ Chu Ru còn được gọi là Cru có nghĩa là xâm đất, ám chỉ
những người mới di cư đến vùng đất mới Người Chu Ru ở Lâm Đồng trước đâyvốn là một nhóm con cháu của người Chăm, đã từng sinh sống ở vùng duyên hảiTrung Bộ [42, tr.206]
Người Chu Ru là dân tộc đã định canh định cư và làm ruộng từ lâu đời.Nghề làm gốm là nghề thủ công truyền thống của đồng bào Chu Ru, tuy nhiên kỹthuật còn thô sơ Nghề dệt ở đây không phát triển, vì vậy hầu hết y phục cổ truyềnnhư: áo, khố, váy , đều phải mua hoặc trao đổi với các dân tộc láng giềng nhưngười Chăm, Cơ Ho, Mạ
Xã hội cổ truyền Chu Ru dựa trên cơ sở làng (plei) Chủ làng, thầy cúng, bà
đỡ, già làng là những người có vai trò quan trọng trong đời sống chính trị, kinh tế
và đời sống tín ngưỡng của cộng đồng làng Gia đình mang nhiều tàn dư mẫu hệ,biểu hiện ở vai trò người vợ, người cậu và quyền thừa kế tài sản thuộc về con gái.Đứng đầu gia đình lớn thường là chồng Trong thực tế, ông chủ gia đình lớn thừahành những ý kiến của người vợ và những người anh em trai vợ Người cậu vẫnđóng vai trò quyết định trong những công việc hệ trọng của gia đình em gái như:phân chia tài sản, quyết định việc hôn nhân của các cháu, mua bán, chuyển
Trang 24nhượng ruộng đất và mọi tài sản khác [42, tr.213]
Đồng bào Chu Ru còn bảo lưu nhiều phong tục tập quán như thờ cúng tổtiên và tín ngưỡng đa thần Người Chu Ru tin rằng mọi bệnh tật đều do thần linh
(Yang) gây ra Khi có người lâm bệnh, họ mời thầy cúng đến cúng thần và trị bệnh
bằng ma thuật kết hợp kinh nghiệm y học cổ truyền Ngoài tín ngưỡng truyềnthống kể trên, hiện nay, Công giáo và đạo Tin lành đang phát triển sâu rộng trongvùng người Chu Ru ở địa phương Người Chu Ru có một vốn ca dao, tục ngữphong phú, trong đó nổi bật là những câu ca tụng chế độ mẫu hệ, đề cao vai tròcủa người phụ nữ trong xã hội cổ truyền [48]
1.1.2.3 Điều kiện và khả năng tiếp nhận thông tin
Có nhiều yếu tố chi phối đến điều kiện và khả năng tiếp nhận thông tin củađối tượng công chúng DTTS tỉnh Lâm Đồng
Một là tỉ lệ hộ nghèo còn nhiều, trình độ dân trí còn thấp Theo Sở Lao động
Thương binh và Xã hội tỉnh Lâm Đồng thì năm 2017 tỉ lệ hộ nghèo trong tỉnh đãgiảm còn 3.91% nhưng trong đó đồng bào DTTS còn 8.027 hộ, chiếm đến 66,0%
hộ nghèo của tỉnh Tỉ lệ hộ nghèo trong đồng bào DTTS gấp 6,7 lần so với ngườiKinh Hơn nữa, số hộ nghèo do thiếu hụt các dịch vụ xã hội còn cao, ảnh hưởng đếnquá trình tiếp nhận thông tin đại chúng Đặc biệt, 13,36% chưa có điều kiện sử dụngcác dịch vụ viễn thông và 13,04% chưa có các tài sản phục vụ việc tiếp cận thôngtin đại chúng như ti vi, đài… [75]
Dưới đây là một số chỉ báo liên quan đến DTTS Cơ Ho và Chu Ru theo Kết quả điều tra thực trạng KT-XH 53 DTTS năm 2018 của Ủy ban dân tộc Có tất cả
84 biểu được khảo sát nhưng người viết chỉ lập bảng các mục liên quan, có ảnhhưởng tới quá trình tiếp nhận thông tin của công chúng DTTS Lâm Đồng:
Hình 1.1: Trích kết quả điều tra thực trạng KT-XH 53 DTTS
Trang 25Nguồn Ủy ban Dân tộc (2015) Đơn vị: %
Qua bảng trên có thể thấy hiện nay, công chúng DTTS ở Lâm Đồng đã đượcphủ khắp gần hết mạng lưới điện, tỉ lệ hộ có tivi cao, nhờ đó bắt được sóng truyềnhình trung ương và cấp tỉnh dễ dàng, nhưng ngược lại số hộ có đài, radio lại khá ít,chủ yếu nghe qua loa phát thanh Số hộ có internet và máy vi tính thấp, trong khi tỉ
lệ có điện thoại đạt mức khá Đa số công chúng đều biết tiếng dân tộc mình, biếtđọc, viết chữ phổ thông chỉ một phần nhỏ không biết Công chúng đa số đều họctiểu học, nhiều người học đến cấp 2, còn cấp 3 thì chiếm tỉ lệ không cao Những nộidung này phản ảnh điều kiện vả khả năng tiếp nhận thông tin còn hạn chế của côngchúng DTTS địa phương hiện nay
Trang 26Hai là ngôn ngữ chính là tiếng DTTS, trình độ dân trí nhiều nơi còn thấp,
nhiều người lớn tuổi chỉ học đến cấp 1 hoặc không đi học nên không thành thạonghe hiểu tiếng phổ thông Ngược lại những người trẻ thì sử dụng tiếng Kinh nhiềuhơn nên việc gìn giữ ngôn ngữ, nét văn hóa thông qua chương trình tiếng DTTS làđiều cần thiết Ngoài ra, công chúng DTTS bao gồm nhiều tầng lớp với điều kiệnsống khác nhau Nhưng nhìn chung đời sống còn nhiều khó khăn, ở vùng sâu, vùng
xa nên việc tiếp cận với các phương triện truyền thông đại chúng như mua báo giấy,truy cập Internet là rất khó, chủ yếu nghe đài, xem truyền hình Nhiều người lớnkhông có điều kiện học tập phổ thông nên khả năng tiếp nhận thông tin hạn chế.Theo số liệu thống kê, 28,95% người lớn thiếu hụt về trình độ giáo dục, tỉ lệ này ởtrẻ em còn 9,02% Việc không rành chữ quốc ngữ, thậm chí không đọc được tiếngDTTS khiến việc đọc báo in trở nên khó khăn Họ chỉ có thể nghe đài hoặc xem ti
vi [75]
Ba là công chúng DTTS là lớp công chúng chuyên biệt sống ở khu vực Tây
Nguyên có ý nghĩa chiến lược quan trọng về kinh tế, chính trị lại đa sắc tộc, đa tôngiáo, còn nhiều hạn chế về trình độ, ngôn ngữ nên dễ bị các thế lực thù địch, cácthành phần chống phá chọn làm đối tượng dụ dỗ, mua chuộc, kích động Vì thế, cần
được cung cấp thông tin, phổ biến các chính sách kịp thời Trong sinh hoạt của công
chúng DTTS còn tồn tại nhiều vấn đề như hủ tục, phá rừng, buôn bán người, viphạm pháp luật do thiếu hiểu biết tường tận nên cần được cung cấp thông tinthường xuyên thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng
Bốn là tập quán sống, lao động như làm rẫy là nghề nghiệp chính, thói quen
đi ngủ sớm vào buổi tối, sinh hoạt cộng đồng, hôn nhân, tôn giáo, giao thông đi lạikhó khăn… đều có tác động đến việc tiếp nhận thông tin từ báo chí
Vì vậy báo chí tiếng DTTS đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việcphổ biến chính sách, nâng cao dân trí, cải thiện đời sống, giáo dục, giải trí, gìn giữ
và giới thiệu văn hóa; làm cầu nối giữa người dân với các cấp chính quyền Đặc biệtgiúp tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, đẩy lùi hủ tục, ngăn việc chia rẽ, chốngphá của các thế lực thù địch
Trang 271.2 Quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước Việt Nam về dân tộc thiểu số và thông tin cho dân tộc thiểu số
1.2.1 Vấn đề dân tộc thiểu số
Việt Nam luôn coi vấn đề dân tộc là một vấn đề quan trọng góp phần đưa đấtnước phát triển Trong những năm gần đây, công tác dân tộc được Đảng, Nhà nướcrất quan tâm với nhiều chính sách Theo Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư NguyễnChí Dũng thì giai đoạn 2011-2015 có 181 chính sách thể hiện trong 264 văn bản.Giai đoạn 2016-2020 có 116 chính sách nằm trong 173 văn bản Với Tây Bắc, TâyNguyên và Tây Nam Bộ, giai đoạn 2016-2020, Chính phủ đã bố trí 200.000 tỷ, tăng2,28 lần giai đoạn trước Bộ trưởng đánh giá, trong điều kiện ngân sách khó khăn vàcòn nhiều nhiệm vụ khác cần thực hiện, nguồn ngân sách này đã thể hiện sự quantâm rất lớn của Chính phủ và kết quả đạt được rất tích cực Tuy nhiên, tỷ lệ hộnghèo còn cao, thiếu bền vững; thiếu việc làm cho người dân vùng dân tộc miền núinên sẽ tiếp tục đầu tư để giúp cải thiện đời sống cho đồng bào trong những năm tới[74]
Ngược thời gian, Hội nghị lần thứ bảy của Ban chấp hành Trung ương khóa
IX đã ra Nghị quyết số 24-NQ/TW (2003) “Về công tác dân tộc” Đây là Nghị quyết
có tầm quan trọng đặc biệt, lần đầu tiên hoàn chỉnh 5 quan điểm lớn về dân tộc,công tác dân tộc và đoàn kết dân tộc trong thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước
Nhà nước Việt Nam luôn coi trọng quyền của các nhóm thiểu số, cũng nhưviệc tăng cường khối đoàn kết dân tộc nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn
dân tộc Điều 5, Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013, quy định:
“Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêmcấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt Các dântộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục,tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình Nhà nước thực hiện chính sáchphát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùngphát triển với đất nước” [67] Chính phủ Việt Nam đã có nhiều chính sách, cơ chế
Trang 28và các biện pháp để đảm bảo đời sống, các quyền của các nhóm người thiểu số:
Nghị quyết 30a của Chính phủ về xóa đói giảm nghèo, Chương trình phát triển kinh
tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi, vùng sâu, vùng xa (Chương trình
135), các chương trình chăm sóc sức khỏe, sách giáo dục và đào tạo cho đồng bàoDTTS, chính sách văn hóa bảo tồn phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc
Với sự quan tâm, chính sách, biện pháp ưu tiên nêu trên của Nhà nước, cùngvới tinh thần nỗ lực, cố gắng của đồng bào các dân tộc, tình hình kinh tế - xã hội,vùng đồng bào dân tộc đã có bước chuyển biến, tiến bộ đáng kể, cuộc sống củađồng bảo dân tộc thiểu số được cải thiện rõ rệt, quyền của các DTTS ngày càngđược đảm bảo
1.2.2 Vấn đề thông tin cho công chúng dân tộc thiểu số
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc thông tin cho đồng bào DTTS
Nghị quyết số 22 NQTW về Một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế
-xã hội miền núi đã nhấn mạnh: “Tăng cường các phương tiện thông tin đại chúng,
kể cả các phương tiện hiện đại như máy thu thanh cát-sét, máy thu hình, băng ghihình, để cải tiến và nâng cao các chương trình phát thanh, truyền hình ở địa phương,phổ biến các văn hóa phẩm và tài liệu có nội dung thiết thực, phù hợp với yêu cầu
và truyền thống của đồng bào các dân tộc Chú trọng sử dụng ngôn ngữ dân tộc (vàchữ viết nếu có) trong công tác thông tin tuyên truyền” [63, tr.12] Thủ tướng Chính
phủ ban hành Quyết định số 170/ 2003/ QĐ- TTg, ngày 14/8/2003 về Chính sách ưu
đãi hưởng thụ văn hóa Đến ngày 20/6/2007, Thủ tướng Chính phủ lại ban hành
Quyết định số 975/ QĐ- TTg về việc Cấp một số loại báo, tạp chí cho vùng DTTS
và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn
Chính vì xác định được tầm quan trọng của thông tin đối với công tác giảm
nghèo, trong Chương trình Mục tiêu về giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016
-2020, Dự án Truyền thông và Giảm nghèo về thông tin tiếp tục được triển khai với
tổng nguồn vốn là 600 tỷ đồng Dự án không chỉ nhằm tăng cường nội dung thôngtin, mà còn góp phần nâng cao khả năng tiếp cận thông tin của người dân thông quaviệc xây dựng, tổ chức thực hiện các chương trình truyền thông về công tác giảm
Trang 29nghèo, hỗ trợ sản xuất, biên tập, phát sóng, phát hành, quảng bá các sản phẩm báochí tới người dân, đặc biệt là người nghèo, đồng bào vùng DTTS và miền núi.
Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến đời sống tinh thần của nhân dân thôngqua việc cấp phát ấn phẩm báo, tạp chí cho vùng DTTS và miền núi, vùng đặc biệt
khó khăn Ngày 16/1/2017, ngay sau khi Quyết định 633/QĐ-TTg về việc “Cấp một
số ấn phẩm báo, tạp chí cho vùng DTTS và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn” hoàn
thành, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định 59/QĐ-TTg tiếp tục phê duyệt 18 ấn
phẩm báo, tạp chí được ngân sách Trung ương cấp kinh phí hàng năm nhằm tăngcường công tác thông tin, tuyên truyền tại vùng DTTS và miền núi, vùng đặc biệtkhó khăn giai đoạn 2017 - 2018
Mới đây, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 13/2018/NĐ-CP quy định chi
tiết và biện pháp thi hành Luật tiếp cận thông tin Nghị định nêu rõ các biện pháptạo điều kiện thuận lợi để người sinh sống ở khu vực miền núi, vùng có điều kiệnkinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thực hiện quyền tiếp cận thông tin Trong đó có 6loại hình thông tin được đề cập, tăng thời lượng truyền, phát bản tin đối với loạithông tin liên quan đến cơ chế, chính sách của người dân sinh sống tại khu vựcmiền núi; chú trọng chuyển tải bằng ngôn ngữ dân tộc; tăng cường cung cấp thôngtin và tạo thuận lợi cho công dân tiếp cận thông tin bằng hình ảnh, video và cácphương tiện nghe, nhìn khác
Tháng 11/2018, Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Chiến lược phát triển thông tin quốc gia đến năm 2025, tầm nhìn 2030 trên các loại hình thông tin: báo chí, xuất bản, thông tin công cộng trên Internet, thông tin cơ sở Theo đó, về báo in,
báo điện tử, mục tiêu đến năm 2025, 100% người dân ở vùng sâu, vùng xa đượctiếp cận báo in hoặc báo điện tử phục vụ nhiệm vụ chính trị, thông tin tuyên truyềnthiết yếu; giảm tỷ lệ mất cân đối trong thụ hưởng các sản phẩm báo chí giữa khuvực thành phố, thị xã và các vùng nông thôn, vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, đạtmức 60%/40% Về báo nói, báo hình, mục tiêu đến năm 2025, 70% người dân ởvùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo được nghe, xem các kênh phát thanh, kênhtruyền hình phục vụ nhiệm vụ chính trị, thông tin tuyên truyền thiết yếu của quốc
Trang 30gia và địa phương;
Phát triển mạng lưới phát hành xuất bản phẩm đảm bảo việc cung cấp xuấtbản phẩm đến các địa bàn cơ sở, trong đó ưu tiên khu vực vùng sâu, vùng xa gópphần khắc phục sự chênh lệch về hưởng thụ văn hóa giữa các khu vực; nâng caochất lượng đội ngũ người làm công tác thông tin vững vàng về chính trị, tư tưởng,
có năng lực chuyên môn, nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp, đáp ứng tốt các yêucầu nhiệm vụ đặt ra đối với từng loại hình thông tin
Cũng trong tháng 11/2018, Thủ tướng Chính phủ quyết định bổ sung 66.450triệu đồng từ nguồn dự toán chi sự nghiệp văn hóa thông tin của ngân sách trung
ương năm 2018 cho Ủy ban Dân tộc để thực hiện Đề án thí điểm cấp radio cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn, biên giới tại Quyết định
số 1860/QĐ-TTg Mục tiêu của Đề án là: “Tuyên truyền, phổ biến kịp thời các chủ
trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước nói chung, côngtác dân tộc và chính sách dân tộc nói riêng; góp phần phát triển kinh tế - xã hội, bảođảm quốc phòng, an ninh, xóa đói giảm nghèo, phát triển bền vững; nâng cao nhậnthức, tạo sự đồng thuận xã hội; ổn định chính trị vùng dân tộc thiểu số và miềnnúi Ra-đi-ô cấp cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi được sản xuất theo các tiêuchuẩn kỹ thuật phù hợp, băng tần số hoạt động của ra-đi-ô phải đảm bảo thu đượcsóng AM, FM và sóng SW (sóng ngắn) của Đài Tiếng nói Việt Nam và Đài phátthanh - truyền hình địa phương; dễ sử dụng, dùng được pin sạc và nguồn điện” [64]
Những chủ trương, chính sách trên cho thấy tầm quan trọng, sự định hướng,đầu tư của Đảng và Nhà nước dành cho công tác truyền thông, giảm nghèo về thôngtin cho đồng bào Cùng với những chủ trương này, sự vào cuộc tích cực, nhân văn
và sát sao của các phóng viên, báo chí trên cả nước… sẽ tạo nên những tác độngtích cực, góp phần nâng cao nhận thức và hành động của nhiều ngành, nhiều cấp vàcủa chính người dân - đối tượng trực tiếp của các chính sách giảm nghèo Thực hiệncác chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, diện mạo báo chí dành cho đồngbào DTTS đã có nhiều khởi sắc
Trang 311.3 Mô hình quá trình truyền thông cho công chúng dân tộc thiểu số
Có nhiều mô hình truyền thông khác nhau trong đó mô hình của HaraldLasswell và Clause Shanoon đã được đông đảo nhà nghiên cứu chấp nhận vì sự đơngiản, dễ hiểu và thông dụng
Hình 1.2 Mô hình truyền thông của Clause Shanoon
Áp dụng nghiên cứu báo chí dành cho DTTS tại Lâm Đồng thì:
S (Source): Các cơ quan, cá nhân, đơn vị… cung cấp thông tin là nguồn tin liênquan đến công chúng DTTS
M (Message): Thông điệp, nội dung thông tin
C (Channel): Kênh truyền là báo chí dành cho công chúng DTTS Lâm Đồng Trong
đề tài là Đài PT-TH Lâm Đồng và Báo ảnh DT&MN
R (Receiver): Người nhận là công chúng DTTS tại Lâm Đồng
E (Effect): Hiệu quả truyền thông cho công chúng DTTS
F (Feedback): Phản hồi, tương tác trở lại của công chúng DTTS đối với nguồnthông tin đã cung cấp
N (Noise): Nhiễu là những yếu tố tiêu cực ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quảtruyền thông
Trang 32Tuy nhiên, tác giả sẽ không nghiên cứu tất cả các yếu tố của quá trình truyềnthông, đề tài chỉ tập trung chủ yếu vào kênh truyền (Báo ảnh DT&NV, Đài PT-THLâm Đồng) Bên cạnh đó có nghiên cứu một phần về người nhận (Công chúngDTTS) và yếu tố nhiễu (Noise) ảnh hưởng đến quá trình truyền thông như (giọngđọc, chữ viết, đường truyền, âm thanh…).
1.4 Báo chí dành cho công chúng dân tộc thiểu số
1.4.1 Khái niệm báo chí, báo chí chuyên biệt và các loại hình báo chí
Thuật ngữ Báo chí theo Từ điển Tiếng Việt là “báo và tạp chí xuất bản định kỳ” [33, tr.256], trong cuốn Cơ sở lý luận báo chí truyền thông thì báo chí được
hiểu là “một loại hình hoạt động thông tin chính trị – xã hội” [41, tr.51] để phân biệtvới hoạt động thông tin giao tiếp cá nhân Các nhà báo là một thành viên chuyênnghiệp (hoặc không chuyên nghiệp) trong hệ thống thông tin đại chúng tham giavào việc sản xuất ra thông tin để cung cấp cho các cơ quan truyền thông đại chúng.Theo nhà báo Đức Dũng thì báo chí “lấy hiện thực khách quan làm đối tượng đểphản ánh Thông tin báo chí là một quá trình liên tục, xuyên suốt trong mối quan hệtrực tiếp giữa nhà báo – tác phẩm báo chí – công chúng báo chí” [5, tr.7] Theo tácgiả Dương Xuân Sơn thì “báo chí là phương tiện truyền thông đại chúng truyền tảithông tin, các sự kiện, hiện tượng đang diễn ra trong hiện thực khách quan một cáchnhanh chóng, chính xác và trung thực đến đông đảo công chúng, nhằm tích cực hóađời sống thực tiễn” [40, tr.45] Trong quá trình truyền thông đại chúng “báo chíđóng vị trí trung tâm, vai trò nền tảng; nó chi phối sức mạnh, bản chất và khuynhhướng vận động của truyền thông đại chúng” [40, tr.27]
Báo chí chuyên biệt dành cho công chúng DTTS:
Ngày nay báo chí đã phát triển theo hướng hình thành những mô hình truyềnthông chuyên biệt, hướng tới những đối tượng công chúng cụ thể Do công chúngnói chung mang đặc điểm đa dạng về nhân học như độ tuổi, giới tính, sở thích, tínhcách, dân tộc… nên việc truyền một thông điệp bất kỳ đến cho công chúng chỉmang hiệu quả cho một nhóm người nhất định Biết được điều này nên những năm
Trang 33gần đây, nhiều kênh truyền hình, phát thanh, nhiều chương trình, ấn phẩm, chuyêntrang dành riêng cho các nhóm đối tượng cụ thể đã ra đời như: Kênh truyền hìnhANTV tập trung đề cập đến các vấn đề an ninh xã hội, VTV5 là kênh truyền hìnhdân tộc, VTV6 dành cho giới trẻ, VTV7 là kênh truyền hình giáo dục, kênh HTVCPhụ Nữ, VTC11 Kids TV cho thiếu nhi, VTC16 3NTV chuyên về nông nghiệp,nông thôn, nông dân; về phát thanh có VOV Giao thông, VOH Giao thông-đô thị,các kênh chuyên về âm nhạc, giải tri; báo in có rất nhiều chuyên san về ẩm thực,làm đẹp, thể thao, công nghệ… Tất cả những sản phẩm báo chí trên chính là báo chíchuyên biệt
Vậy báo chí chuyên biệt chính là sản phẩm báo chí hướng tới một nhóm đốitượng công chúng cụ thể có đặc điểm chung nhất định về về nhân học, hoặc giốngnhau về nhu cầu, sở thích tiếp nhận thông tin Báo chí dành cho công chúng DTTSđược xem là một loại hình truyền thông chuyên biệt dành cho đối tượng công chúng
là người DTTS thông qua ngôn ngữ của chính DTTS tại địa phương đó bằng cácloại hình khác nhau
Các loại hình báo chí dành cho công chúng DTTS:
Có bốn loại hình báo chí hiện nay là báo in (báo giấy), phát thanh (báo nói),truyền hình (báo hình) và báo điện tử (báo trực tuyến) Mỗi loại hình có những đặctrưng riêng liên quan tới công chúng DTTS
Báo in là “ấn phẩm định kỳ chuyển tải nội dung thông tin mang tính thời sự
và được phát hành rộng rãi trong xã hội thông qua các công cụ như máy in, mực in
và giấy in” [40, tr.79] Báo in đặc trưng bởi chữ viết, hình ảnh; người đọc chủ độngtiếp nhận bằng thị giác, lựa chọn nội dung yêu thích để theo dõi một hoặc nhiều lầnmột cách dễ dàng Đối với công chúng DTTS, báo in có ưu điểm khi có thể cấp phát
ở vùng sâu, vùng xa với chi phí không quá tốn kém và không đòi hỏi có phươngtiện truyền thông hiện đại, có đường dây điện, sóng âm, cáp, mạng internet như cácloại hình khác Báo in dễ truyền tay nhau để công chúng cùng cập nhật thông tin Vìthế, đến nay báo in vẫn được xem là một công cụ truyền thông hữu hiệu cho công
Trang 34chúng DTTS tuy nhiên đối với những người dân không quen đọc hoặc mù chữ hoặckhông có thời gian đọc báo thì loại hình này không hiệu quả
Phát thanh là “loại hình truyền thông đại chúng chuyển tải thông tin vànhững sự kiện, hiện tượng đang diễn ra trong hiện thực khách quan qua âm thanhnhờ sóng điện từ và sóng truyền thanh, tác động vào thính giác của công chúng”[40, tr 131] Âm thanh ở đây bao gồm lời nói, tiếng động, âm nhạc và các tiếngđộng khác Về đặc trưng của phát thanh đối với công chúng DTTS, đây là mộtphương tiện có nhiều công chúng có thể sử dụng nhất do không cần biết chữ, khôngcần phương tiện, thiết bị phức tạp Chỉ cần một chiếc máy cát-xét, điện thoại diđộng có thể dò sóng radio hoặc loa truyền thanh tại địa phương là công chúng cóthể vừa đi làm vừa nghe thông tin mà không cần tập trung xem hình ảnh như tivihay không cần đọc chữ như báo in Phát thanh tác động trực tiếp vào người nghemọi lúc, mọi nơi Đây được xem là loại hình tối ưu nhất dành cho công chúngDTTS Tuy nhiên hạn chế của phát thanh là khó nghe lại thông tin, việc lựa chọnthông tin không nhiều và chủ động
Truyền hình là loại hình truyền thông mà thông điệp được truyền trongkhông gian tích hợp cả hình ảnh và âm thanh tạo cho người xem cảm giác sốngđộng của hiện thực cuộc sống [40;176] Đối với công chúng DTTS thì việc tiếp cậnthông tin qua sóng truyền hình sẽ đem lại hình ảnh sinh động, trực quan, dễ hiểu.Nhất là đối với các tin tức liên quan đến chỉ dẫn, phương pháp thì truyền hình pháthuy tốt hơn phát thanh và hấp dẫn hơn so với báo in Tuy nhiên, để xem đượctruyền hình đòi hỏi phải có kinh phí đầu tư thiết bị, chưa kể nếu ở vùng sâu, vùng
xa khó khăn trong việc tiếp sóng thì theo dõi chương trình là trở ngại cho côngchúng
Ngoài ra còn có báo điện tử là một loại hình tích hợp được hình thành từ
“những ưu thế của báo in, báo nói, báo hình, sử dụng yếu tố công nghệ cao như mộtnhân tố quyết định, quy trình sản xuất và truyền tải thông tin dựa trên nền tảngmạng Internet toàn cầu” [40, tr.234] Tuy nhiên trong đề tài nghiên cứu chỉ phântích 3 loại hình là báo in, báo nói và báo hình Báo trực tuyến do chưa có phiên bản
Trang 35tiếng DTTS nên tạm thời chưa được phân tích mà chỉ dùng tham khảo trong phần
đề xuất giải pháp
1.4.2 Vai trò của báo chí dành cho công chúng DTTS
Báo chí có vai trò, chức năng quan trọng trong đời sống xã hội Trong đó cóthể nhắc đến các chức năng như “giáo dục tư tưởng, quản lý, giám sát xã hội, pháttriển văn hóa và giải trí” [41, tr.73] Nền kinh tế càng phát triển thì báo chí cũngkhông ngừng đổi mới, năng động và sáng tạo hơn trong tác nghiệp và ngày càngbám sát đời sống xã hội Với những thành công đã đạt được trong nhiều năm qua,lần nữa khẳng định báo chí giữ vai trò xung kích và là người bạn đồng hành tin cậy,từng bước làm thay đổi tư duy, hành động của đồng bào các DTTS Ngoài vai tròđối với công chúng nói chung kể trên thì báo chí mang những sứ mệnh riêng trongviệc thông tin, truyền thông cho đồng bào DTTS
Trước hết, báo chí được xem là kênh quan trọng trong việc truyền thông
chính sách, đặc biệt là trong công tác xóa đói giảm nghèo Trong Hội thảo Đánh giá
về hiệu quả của công tác giảm nghèo (7/2017), ông Ngô Trường Thi - Vụ trưởng,
Chánh Văn phòng Quốc gia về giảm nghèo (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội)cho rằng “Hơn 10 năm trước, khi về các bản, làng để triển khai chính sách giảmnghèo, hầu hết bà con đều không biết mình sẽ được hỗ trợ những gì, thủ tục ra sao.Nhưng giờ đây đã khác, đa phần bà con đã hiểu rõ quyền lợi và trách nhiệm củamình; thậm chí sẵn sàng nêu ý kiến nếu cán bộ làm chưa đúng Có được sự chuyểnbiến này, là do công tác tuyên truyền, thông tin về chính sách, về công tác giảmnghèo đã được thực hiện rất tích cực, rộng khắp Trong đó, các phóng viên, nhà báocủa các đơn vị báo chí từ Trung ương đến địa phương chính là những nhân tố quantrọng giúp bà con” [74] Chung quan điểm, Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh
và Xã hội - Nguyễn Trọng Đàm, cũng ghi nhận những đóng góp to lớn và vai tròquan trọng của báo chí, của các phương tiện truyền thông đại chúng trong cuộcchiến chống đói nghèo của Việt Nam trong những năm vừa qua Theo Thứ trưởng,
“công tác giảm nghèo mỗi một giai đoạn mới lại có cách tiếp cận và những yêu cầumới Giai đoạn 2016 - 2020, phương châm thực hiện giảm nghèo của Việt Nam
Trang 36cũng có nhiều thay đổi, chính vì vậy rất cần đến công tác truyền thông, các nhà báo,phóng viên… tuyên truyền cho người nghèo, cho đồng bào DTTS kịp thời hiểuđược những thay đổi của chương trình, chính sách” [77] Bên cạnh đó, các chínhsách khác của Nhà nước nhờ báo chí mà được phổ biến đến công chúng DTTS mộtcách chính xác, rộng khắp như chính sách về Bảo hiểm y tế, xây dựng Nông thônmới – Đô thị văn minh.
Thứ hai, báo chí cung cấp các thông tin chỉ dẫn, nhất là trong lĩnh vực nông
nghiệp Nhờ các phương tiện truyền thông đại chúng mà công chúng DTTS có cơ
hội được tiếp cận với các kỹ thuật canh tác mới, hiểu biết về các phương pháp chănnuôi và trồng trọt theo công nghệ cao mang lại hiệu quả tối ưu, góp phần tăng năngsuất, tăng doanh thu Báo chí thông tin về các tấm gương, trường hợp điển hình làmkinh tế giỏi để công chúng học hỏi, từ đó áp dụng và phổ biến cho những người tạixóm, thôn của mình Không còn làm ăn tự phát, ngẫu hứng theo kinh nghiệm dângian mà nhờ báo chí công chúng DTTS có thêm kiến thức để áp dụng những thànhtựu của khoa học công nghệ vào đời sống Bên cạnh các thông tin chỉ dẫn về nôngnghiệp là những thông tin chỉ dẫn bổ ích khác góp phần cải thiện chất lượng cuộcsống của công chúng như các phương pháp phòng, chống, xử lý dịch bệnh (sốt xuấthuyết, sởi, ăn chín, uống sôi…), các phương pháp chăm sóc trẻ nhỏ, bà mẹ sau sinhv.v…
Thứ ba, báo chí đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, nâng cao cảnh
giác về các vấn đề phức tạp trong xã hội Chính các bài viết thường xuyên của báo
chí trên khắp các phương tiện truyền thông đã kịp thời định hướng tư tưởng chođồng bào DTTS và phản bác, ngăn chặn những luận điệu sai trái của các thế lực thùđịch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để kích động, chia rẽkhối đại đoàn kết dân tộc, gây mất ổn định chính trị, xã hội Qua đó “giúp ngườidân đủ “sức miễn dịch” và có khả năng “tự đề kháng” cao trước mọi âm mưu, thủđoạn xuyên tạc, kích động ly khai, chia rẽ dân tộc” [25, tr.48]
Thời gian qua, lợi dụng sự kém hiểu biết, nhẹ dạ, cả tin của công chúngDTTS mà nhiều kẻ xấu đã lợi dụng lừa đảo Nhờ báo chí lên tiếng mà người dân
Trang 37mới có thêm thông tin để cảnh giác hơn Như vụ việc Nhiều gia đình dân tộc thiểu
số ở Lâm Đồng kiệt quệ vì tín dụng đen (VTV24, 7/2018), Lâm Đồng: Báo động
"bán hàng đa cấp" trong vùng dân tộc thiểu số (Báo Lao Động, 12/2016), Nhiều nông dân Lâm Đồng trắng tay khi lao vào “vòng xoáy”… tiền ảo (Kenh14.vn, 6/2018),
bên cạnh đó là những vụ việc khác như lừa đảo xuất khẩu lao động, bán đá quý giả,
du lịch miễn phí bán sản phẩm giả cho người cao tuổi Những vụ việc như vậy nếukhông có sự thông tin của báo chí thì công chúng không thể thường xuyên nâng caocảnh giác, lên tiếng, đấu tranh với các loại tội phạm đang tồn tại trong vùng đồngbào gây mất an ninh, trật tự
Thứ tư, báo chí góp phần phổ biến, tuyên truyền chính sách pháp luật Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án Đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và tuyên truyền, vận động đồng bào vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2017 – 2021, để làm được điều này báo chí đóng vai trò không nhỏ Nhờ vậy
công chúng biết cách sống và làm theo pháp luật, không có những hành vi sai tráinhư vi phạm luật giao thông, lừa đảo, trộm cắp, nghiện hút,…
Thứ năm, báo chí góp phần xóa bỏ hủ tục lạc hậu 11/2018, Đoàn công tác
gồm Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Sở VH-TT&DL, Ban Dân tộc, Ủy ban MTTQ TỉnhLâm Đồng đã khảo sát thực trạng tồn tại các phong tục, tập quán lạc hậu trong vùngDTTS tại 5 huyện có đông người đồng bào DTTS bản địa sinh sống và ghi nhận vẫncòn tồn tại các phong tục, tập quan hết sức lạc hậu Trong đó có thể kể đến như việc
mê tín dị đoan tin vào thần linh, ma quỷ, chữa bệnh bằng cách cúng bái, thuê thầy
về trả công vô cùng tốn kém có khi bằng cả một con trâu mà người thì ngày càngbệnh nặng thêm Hay hủ tục thách cưới, tảo hôn, hôn nhân cận huyết, phạt vạ nặng
nề khi ngoại tình theo luật tục Để đẩy lùi hủ tục thì ngoài việc truyền thông trựctiếp, báo chí là công cụ hữu hiệu tác động đến suy nghĩ của công chúng Giúp thayđổi dần quan niệm của công chúng DTTS, hướng đến một cuộc sống văn minh hơn[69]
Thứ sáu, báo chí góp phần giữ gìn và phát huy ngôn ngữ, văn hóa truyền
thống tốt đẹp Ngày nay, xã hội càng phát triển thì những nét đẹp trong văn hóa
Trang 38truyền thống dẫn có nguy cơ bị mai một và biến mất Nhất là những người DTTStrẻ tuổi đang dần không còn duy trì ngôn ngữ, chữ viết hay những phong tục, tậpquán, lễ hội, âm nhạc tốt đẹp của cha ông DTTS Lâm Đồng có nhiều di sản vănhóa dân gian đặc sắc cần được gìn giữ Báo chí là công cụ giúp bảo tồn những nétđẹp trong văn hóa của đồng bào DTTS Báo chí vừa giúp công chúng tiếp cận vớivăn hóa của các vùng miền, các dân tộc khác trong tỉnh, trong nước; vừa giúp côngchúng lan tỏa văn hóa truyền thống của dân tộc mình đến những vùng, miền khác
Thứ bảy, báo chí làm cầu nối giữa công chúng DTTS với các cơ quan chínhquyền Thông qua báo chí, người dân có thể phát biểu ý kiến, nguyện vọng củamình về các vấn đề trong đời sống xã hội Qua đó, thể hiện sự giám sát và phản biện
xã hội của mình Tuy nhiên, vai trò này vẫn chưa được thể hiện rõ nét khi nhiềucông chúng DTTS còn tham gia vào quá trình truyền thông một cách thụ động, chưađược tạo điều kiện để có thể nói lên tâm tư của mình Nếu báo chí giúp công chúngthực hiện được chức năng này thì việc truyền thông sẽ ngày càng trở nên hiệu quảhơn
1.4.3 Hệ thống báo chí dành cho công chúng DTTS
Dù trong hoàn cảnh nào, Đảng và Nhà nước luôn tôn trọng, khuyến khích vàgiúp đỡ các DTTS giữ gìn và phát huy tiếng nói, chữ viết và nền văn hoá của tộcngười mình Với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước trong vấn đề thông tin vàtruyền thông cho công chúng DTTS, hiện nay công chúng DTTS nước ta có thểtheo dõi tin tức bằng tiếng DTTS thông qua nhiều phương tiện khác nhau
Đối với phát thanh, có những chương trình dành riêng cho đối tượng là đồngbào DTTS như Hệ phát thanh dân tộc của Đài TNVN (hệ VOV4) và các chươngtrình phát thanh tiếng dân tộc của các Đài Phát thanh và Truyền hình các tỉnh miềnnúi Ngay từ năm 1956, VOV đã tiến hành sản xuất và phát sóng các chương trìnhphát thanh tiếng dân tộc thiểu số với mục tiêu tuyên truyền đường lối, quan điểmcủa Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, công cuộc kháng chiến, kiến quốc,góp phần nâng cao dân trí, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc Cho đến thời
Trang 39điểm này, VOV đã phát sóng 12 thứ tiếng dân tộc thiểu số là Mông, Thái, Dao, Ê
Đê, Ba Na, Gia Rai, Cơ Ho, Mơ Nông, Xơ đăng, Chăm, Khơ me, Cơ Tu với thờilượng phát sóng gần 30 giờ hàng ngày Theo tác giả Nguyễn Thế Kỷ, hiện nay “nộidung của các chương trình tiếng dân tộc còn thiếu tính chuyên biệt, kết cấu cácchương trình phát thanh tiếng dân tộc nhìn chung còn đơn điệu, một chương trìnhchỉ có thời lượng 30-45 phút và mỗi ngày chỉ có 1 chương trình nên kết cấu của 12chương trình của 12 tiếng dân tộc tương đối giống nhau, ít cải biến, thay đổi từnhiều năm nay Đây là nhược điểm rất lớn cần khắc phục” [77]
Đối với Truyền hình, từ ngày 10/2/2002, Đài THVN đã xây dựng riêng kênhtruyền hình dành cho đồng bào DTTS với tên gọi tắt là kênh VTV5 Ngày17/10/2016, kênh truyền hình Quốc gia VTV5 Tây Nguyên chính thức ra mắt khángiả cả nước và hiện có 5 Đài Phát thanh và Truyền hình các tỉnh Tây Nguyên làKon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng cùng phối hợp với VTV5tham gia sản xuất các chương trình Kênh VTV5 Tây Nguyên phát sóng không chỉphản ánh toàn diện về đời sống kinh tế - xã hội 5 tỉnh Tây Nguyên, đáp ứng nhu cầuthông tin, văn hóa ngày càng cao của đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn màđây còn là kênh truyền thông quan trọng góp phần tuyên truyền chủ trương, chínhsách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác dân tộc và miền núi Hiện nay,kênh đang phát sóng 8 thứ tiếng của đồng bào các tỉnh Tây Nguyên gồm Ê Đê, Ba
Na, Gia Rai, Mơ Nông, Cơ Ho, Giẻ Triêng, Xê Đăng và Chu Ru Bên cạnh đó, kênhdành thời lượng cho một bản tin thời sự và một chuyên mục chuyên đề chuyên sâubằng tiếng Việt nhằm phản ánh kịp thời tình hình kinh tế - xã hội của khu vực TâyNguyên cũng như các lĩnh vực trong đời sống văn hóa của đồng bào DTTS
Về báo in, ngày 20/1/1991, Bản tin ảnh Dân tộc và miền núi ra số đầu tiên
với số lượng 10.000 bản/kỳ Đây là ấn phẩm xuất bản hàng tháng và là ấn phẩm duynhất của hệ thống thông tin đại chúng Việt Nam dành riêng cho đồng bào DTTS và
miền núi vào thời điểm đó Hiện nay, Báo ảnh DT&MN là ấn phẩm của TTXVN và
là ấn phẩm báo chí song ngữ duy nhất ở Việt Nam được xuất bản bằng chữ viết củađồng bào các DTTS với 12 song ngữ bao gồm: Việt – Khơ Me, Việt – Ba Na, Việt-
Trang 40Ja Rai, Việt - Ê Đê, Việt - Chăm, Việt - Mông, Việt – Cơ Ho, Việt – Mơ Nông, Việt
- Tày, Việt - Xê Đăng, Việt - Cơ Tu và Việt - Hoa Báo ảnh DT&MN hiện đượcphát hành tại 45 tỉnh, thành phố và vùng đồng bào dân tộc với số lượng 75.000 bản/kỳ/tháng Ấn phẩm đã trở thành cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với bà con, góp phầnđắc lực vào việc bảo tồn tiếng nói, chữ viết của đồng bào các dân tộc, đẩy lùi các hủtục lạc hậu, mê tín dị đoan, văn hóa phẩm độc hại, chống lại sự chia rẽ, phá hoạikhối đại đoàn kết dân tộc của các thế lực thù địch, phản động, tạo sự đồng thuận đểxây dựng quê hương
1.4.4 Tiêu chí đánh giá chất lượng tác phẩm báo chí dành cho DTTS
Đến nay không chỉ báo chí dành cho công chúng DTTS mà báo chí dành chocông chúng nói chung vẫn đang được bàn luận xung quanh từ khóa “chất lượng”(quality) Thế nào là một tác phẩm báo chí chất lượng? Lý luận báo chí truyềnthông đã chỉ ra các tiêu chí đánh giá chất lượng thông tin đó là “tính độc đáo, tínhđại chúng và tính hợp thời (đúng lúc) trong mối quan hệ thống nhất giữa nội dung
và hình thức Tác phẩm báo chí là điểm trung gian (cầu nối) của hệ thống Nhà
báo-Tác phẩm-Công chúng” [41, tr.57] Tại Hội thảo Khám phá tương lai của tin tức
năm 2018 do Google Newsgeist tổ chức với sự tham gia của hơn 150 nhà báo đãcùng nhau bàn luận về này Trong đó có thể tóm lại một số ý về chất lượng báo chí
đó là: “Một là, sự tiện lợi, dễ dàng, không sai lệch; Hai là, sở thích cá nhân; Ba là,giá trị gia tăng; Bốn là, mức độ liên quan; Năm là, sự đa dạng, thu hút và giải trí;Sáu là, sự tác động; Bảy là sự trải nghiệm của cảm xúc; Tám là sự mới mẻ” [60].Dựa vào cơ sở trên ta có thể rút ra một số tiêu chí để đánh giá chất lượng tác phẩmbáo chi dành cho người DTTS như sau:
Về mặt nội dung: thông tin phải phong phú, mang lại cho công chúng một
lượng thông tin mới, phản ánh đúng, kịp thời, đi vào những vấn đề thiết thực nhất
mà công chúng đang quan tâm hoặc đang thiếu thông tin Cụ thể với công chúngDTTS, thông tin cần phải đảm bảo các yêu cầu:
Nội dung định hướng dư luận, mang lập trường chính trị rõ ràng, đúng đắn