1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CHUYỂN BIẾN XÃ HỘI VÙNG NÔNG THÔN CHÂU THỔ SÔNG HỒNG THẾ KỶ XVII XVIII

256 50 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 256
Dung lượng 2,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vùng nông thôn nói chung, vùng nông thôn châu thổ sông Hồng, do đó có ý nghĩa quan trọng, tiếp tục thu hút nhiều nghiên cứu trên mọi lĩnh vực Khi nghiên cứu về lịch sử Việt Nam thế kỷ XV

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS.TS VŨ VĂN QUÂN

Hà Nội-2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận án này do tôi viết Các số liệu, trích dẫn, tư liệu trong luận án đảm bảo độ tin cậy, trung thực, chính xác, có dẫn nguồn cụ thể Kết quả nghiên cứu tại luận án chưa từng được công bố tại bất kỳ công trình nào khác

Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Tác giả luận án

Tống Văn Lợi

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận án, tôi đã nhận được sự giúp đỡ từ nhiều người Tôi muốn gửi lời cám ơn đến:

- PGS.TS Vũ Văn Quân - thầy hướng dẫn đã tận tình và hết sức vất vả với tôi

để tôi có thể hoàn thành luận án Đồng thời, với cá nhân tôi, gia đình thầy đã luôn dành cho tôi những tình cảm tốt nhất

- Các thầy cô, bạn bè ở Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển - nơi tôi công tác là GS.TS Nguyễn Quang Ngọc, GS.TS Phạm Hồng Tung đã luôn nhắc nhở tôi phải hoàn thành nhiệm vụ Anh Đỗ Kiên đã cùng tôi chia sẻ những gì mà cả hai anh em phải đối mặt hàng ngày

- Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - cơ sở đào tạo đã tạo mọi điều kiện để tôi học tập và nghiên cứu, nơi tôi có những người bạn thật sự thân thiết dù nhiều tuổi hay ít tuổi hơn tôi mà tôi không thể kể hết tên được

Họ đã luôn hậu thuẫn tôi, mọi nơi, mọi lúc với tinh thần trách nhiệm, tình cảm hoàn toàn vô tư, trong sáng

- Bộ môn Lịch sử Việt Nam cổ trung đại - nơi những thầy cô đã luôn ủng hộ

và góp ý cho tôi những vấn đề khoa học mà luận án vấp phải GS.TSKH Vũ Minh Giang, PGS.TS Phan Phương Thảo dành cho tôi những sự nghiêm cẩn cần thiết trong khoa học, đồng thời vẫn luôn ưu ái cho cá nhân tôi

- Một người anh, một người bạn và một người em đã cùng tôi chia sẻ những đam mê trong chặng đường tìm hiểu về lịch sử Việt Nam

- Gia đình và con gái Anh Đào cùng 2 người em từ nhỏ của tôi và gia đình họ luôn âm thầm là động lực cho tôi, dù đã có những lúc tôi thật sự mệt mỏi

- Cuối cùng, một sự thành kính tri ân những tình cảm đặc biệt của GS Phan Huy Lê và PGS.TSKH Nguyễn Hải Kế đã dành cho tôi

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Tác giả

Tống Văn Lợi

Trang 5

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH ẢNH

Hình 1.1: Bản đồ vùng châu thổ sông Hồng - tứ trấn thế kỷ XVII-XVIII

Bảng 2.1: Thuế ruộng đất vào các thời điểm 1664, 1670, 1722, 1728

Bảng 2.2: Thuế 8 chợ ở Thăng Long

Bảng 3.1: Số lượng xã tự sự và tiền cấp cho quan chức từ tứ phẩm đến nhất phẩm Bảng 3.2: Cúng hậu thế kỷ XVIII ở thôn Nội, xã Bá Dương, huyện Từ Liêm

Bảng 3.3: Đóng góp của xã cho các lễ tiết trong năm

Bảng 4.1: Thuế thân vào hai thời điểm 1625 - 1722

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 6

1 Lý do chọn đề tài 6

2 Mục tiêu nghiên cứu 7

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 11

5 Nguồn tư liệu 13

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 15

7 Đóng góp mới của luận án 16

8 Bố cục luận án 17

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 18

1.1 Tổng quan tài liệu 18

1.1.1 Nghiên cứu chung về làng xã vùng nông thôn châu thổ sông Hồng 18

1.1.2 Nghiên cứu về tổ chức hành chính và thiết chế quản lý xã hội vùng nông thôn châu thổ sông Hồng 21

1.1.3 Nghiên cứu về chế độ ruộng đất và kinh tế vùng nông thôn châu thổ sông Hồng 23

1.1.4 Nghiên cứu về chuyển biến xã hội vùng nông thôn châu thổ sông Hồng 25

1.2 Địa bàn nghiên cứu 30

1.2.1 Điều kiện tự nhiên 30

1.2.2 Tổ chức đơn vị hành chính và quản lý 34

1.2.2.1 Diên cách hành chính 34

1.2.2.2 Tổ chức bộ máy 39

1.2.3 Hoạt động sản xuất 41

1.2.3.1 Sản xuất nông nghiệp 41

1.2.3.2 Thủ công nghiệp, thương nghiệp 42

Tiểu kết Chương 1 44

CHƯƠNG 2 CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHUYỂN BIẾN XÃ HỘI VÙNG NÔNG THÔN CHÂU THỔ SÔNG HỒNG THẾ KỶ XVII - XVIII 45

2.1 Tác động của bối cảnh lịch sử 45

2.1.1 Các yếu tố chính trị 45

2.1.1.1.Thiết chế chính trị “lưỡng đầu” 45

2.1.1.2 Đánh dẹp các thế lực họ Mạc và chiến tranh Trịnh - Nguyễn 49

2.1.2 Các yếu tố kinh tế 52

2.1.2.1 Sự phát triển của chế độ tư hữu ruộng đất 52

2.1.2.2 Sự khởi sắc của kinh tế hàng hoá và hưng khởi của đô thị 56

2.1.3 Các yếu tố văn hoá 60

2.1.3.1 Sự trỗi dậy của Phật giáo và tín ngưỡng dân gian 60

2.1.3.2 Tiếp xúc, giao lưu văn hoá với phương Tây 65

2.2 Tác động của chính sách nhà nước 67

2.2.1 Chính sách tô thuế 67

2.2.2 Chính sách binh dịch, lao dịch và các nghĩa vụ khác với Nhà nước 74

2.2.3 Thiên tai và hạn chế trong khắc phục của Nhà nước 79

Tiểu kết Chương 2 84

CHƯƠNG 3 DI ĐỘNG XÃ HỘI VÀ CHUYỂN BIẾN TRONG THIẾT CHẾ XÃ HỘI VÙNG NÔNG THÔN CHÂU THỔ SÔNG HỒNG THẾ KỶ XVII - XVIII 86

3.1 Di động xã hội 86

3.1.1 Dân cư 86

Trang 7

3.1.1.1 Di dân nông thôn - thành thị 86

3.1.1.2 Người nước ngoài 89

3.1.2 Cơ chế đẳng cấp và giao lưu đẳng cấp 93

3.1.2.1 Cơ chế đẳng cấp 93

3.1.2.2 Cơ chế “giao lưu” đẳng cấp 96

3.2 Chuyển biến trong thiết chế xã hội nông thôn 99

3.2.1 Mối quan hệ Nhà nước và làng xã 99

3.2.1.1 Phân chia lợi ích từ nguồn lực làng xã 99

3.2.1.2 Thiết chế quản lý: tính song hành giữa hai bộ phận nhà nước và làng xã 102

3.2.1.3 Phản ứng của làng xã trước áp lực nhà nước 108

3.2.2 Nạn cường hào, các hiện tượng xã hội nổi bật 114

3.2.2.1 Nạn cường hào 114

3.2.2.2 Hiện tượng dân xiêu tán - ngụ cư 119

3.2.2.3 Khởi nghĩa nông dân 125

Tiểu kết Chương 3 129

CHƯƠNG 4 CHUYỂN BIẾN TRONG CẤU TRÚC XÃ HỘI NGHỀ NGHIỆP VÙNG NÔNG THÔN CHÂU THỔ SÔNG HỒNG THẾ KỶ XVII - XVIII 131

4.1 Tầng lớp Nho sĩ 131

4.1.1 Tầng lớp Nho sĩ bình dân 131

4.1.2 Phân hoá trong bộ phận Nho sĩ quan liêu 134

4.2 Tầng lớp nông dân 142

4.2.1 Sự lớn mạnh của tầng lớp địa chủ 142

4.2.2 Xu hướng thu hẹp của nông dân tư hữu và tình trạng bần cùng hoá 148

4.3 Tầng lớp thợ thủ công, thương nhân và mối quan hệ giữa tiềm lực kinh tế và địa vị xã hội 154

4.3.1 Thợ thủ công và làng nghề 154

4.3.2 Thương nhân và làng buôn 159

4.3.3 Mối quan hệ giữa tiềm lực kinh tế và địa vị xã hội 166

Tiểu kết Chương 4 169

KẾT LUẬN 171

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 175

TÀI LIỆU THAM KHẢO 176

PHỤ LỤC 185

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Châu thổ sông Hồng là cái nôi của nền văn minh Việt cổ, văn hóa Đông Sơn

và quốc gia Văn Lang - Âu Lạc, nơi nuôi dưỡng và bảo tồn ý thức dân tộc trong hơn 1.000 năm Bắc thuộc, trở thành động lực, sức mạnh của sự quật khởi vào thế kỷ X,

mở ra kỷ nguyên độc lập cho quốc gia Đại Việt Đồng thời châu thổ sông Hồng được bồi đắp phù sa liên tục là địa bàn lý tưởng để sản xuất nông nghiệp Cư dân nông thôn, kinh tế nông nghiệp, xã hội nông dân là những hằng số cơ bản của châu thổ sông Hồng nói riêng, của Việt Nam nói chung Những hằng số đó, mặt tích cực

là bảo lưu các giá trị truyền thống, mặt tiêu cực là tính chất bảo thủ, khép kín

Nước ta hiện nay vẫn là một quốc gia nông nghiệp với hơn 70% dân cư đang sống ở nông thôn Phát triển nông nghiệp, nông thôn đã, đang và sẽ vẫn là mối quan tâm hàng đầu, có vai trò quyết định đối với ổn định kinh tế xã hội đất nước Vùng nông thôn nói chung, vùng nông thôn châu thổ sông Hồng, do đó có ý nghĩa quan trọng, tiếp tục thu hút nhiều nghiên cứu trên mọi lĩnh vực

Khi nghiên cứu về lịch sử Việt Nam thế kỷ XVII - XVIII, nhiều nhà nghiên cứu lưu ý đến những đặc điểm: Về lãnh thổ và thể chế chính trị, một chuỗi các sự kiện trong thế kỷ XVI dẫn đến sự hình thành Đàng Ngoài - Đàng Trong với thể chế vua Lê, chúa Trịnh và chúa Nguyễn Vua Lê, chúa Trịnh kiểm soát vùng lãnh thổ từ sông Gianh trở ra Bắc Phía nam sông Gianh, các chúa Nguyễn kế tiếp nhau khai thác, kiểm soát và xác lập chủ quyền lãnh thổ trên vùng đất phương Nam và khu vực biển đảo rộng lớn Về kinh tế và văn hóa: sự bất ổn chính trị và chia cắt lãnh thổ không kèm theo hiện tượng suy thoái về kinh tế và văn hóa mà ngược lại, kinh tế của Đại Việt có những bước phát triển, nội - ngoại thương mở rộng, giao lưu mạnh mẽ với bên ngoài Có thể thấy rõ các yếu tố chính trị, kinh tế và văn hóa thời kỳ này tương đối rõ nét nhưng những vấn đề về xã hội, trong đó có chuyển biến xã hội chưa thực sự rõ ràng Thành tựu nghiên cứu đã phác họa một bức tranh chung về Đàng Ngoài nhưng về xã hội, sự chuyển biến xã hội như thế nào vẫn rất cần được nghiên cứu, lý giải thấu đáo Bởi vì chuyển biến xã hội là một trong những nguyên nhân căn bản dẫn đến sự phát triển của xã hội Đặc biệt, chuyển biến xã hội ở vùng nông thôn châu thổ sông Hồng rất cần được nghiên cứu bài bản, đầy đủ để có thể nhận diện vai trò của khu vực này, vai trò của chuyển biến xã hội diễn ra tại đây đối với sự phát triển của lịch sử

NCS lựa chọn đề tài Chuyển biến xã hội vùng nông thôn châu thổ sông Hồng

thế kỷ XVII - XVIII để tìm hiểu vai trò của chuyển biến xã hội trên vùng nông thôn

châu thổ sông Hồng đối với lịch sử Việt Nam thế kỷ XVII - XVIII, góp phần làm rõ

Trang 9

bức tranh của chuyển biến xã hội, mặt khác gợi ý một số bài học kinh nghiệm trong cách thức quản lý làng xã hiện nay trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Khai thác các nguồn tài liệu (chính sử, tư liệu phương Tây, văn bia, hương ước…) để phác họa bức tranh chung về khu vực nông thôn châu thổ sông Hồng trong thế kỷ XVII-XVIII Thông qua phân tích chuyển biến xã hội ở khu vực nông thôn châu thổ sông Hồng, luận án lý giải căn nguyên của những hiện tượng xã hội như tính tự trị của làng xã, xiêu tán-ngụ cư, cường hào, khởi nghĩa nông dân

- Nghiên cứu, phân tích các yếu tố tác động đến chuyển biến xã hội Đại Việt trong thế kỷ XVII-XVIII, những yếu tố nào của xã hội có sự chuyển biến, quá trình chuyển biến đó diễn ra như thế nào

- Nghiên cứu một số trường hợp cụ thể để làm rõ sự chuyển biến theo loại hình khu vực, theo cơ cấu nghề nghiệp, theo đẳng cấp chính trị (thống trị-bị trị) Những phân tích này góp phần nhận diện hình ảnh của xã hội Đàng Ngoài đương thời nói chung, của người dân và các giai tầng xã hội khu vực nông thôn châu thổ sông Hồng nói riêng

- Thế kỷ XVII-XVIII thể hiện rõ rệt mối quan hệ mâu thuẫn, xung đột khó có thể điều hòa giữa thiết chế quản lý của nhà nước với sự trỗi dậy của xu hướng tự trị,

tự quản của làng xã Luận án phân tích mối quan hệ, tác động qua lại của chuyển biến xã hội khu vực châu thổ sông Hồng giữa chính quyền nhà nước với làng xã, qua

đó làm rõ các phương thức mà nhà nước tăng cường kiểm soát, quản lý các làng xã, trong khi đó làng xã tìm mọi cách “ly tâm” khỏi lực hút của nhà nước Kết cục của hai xu hướng này là nhà nước đánh mất quyền kiểm soát làng xã, làng xã rơi vào sự thao túng của cường hào, khiến cuộc sống của người dân rơi vào khủng hoảng, ảnh hưởng đến cục diện quốc gia Đại Việt thế kỷ XVII-XVIII

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Không gian nghiên cứu là khu vực châu thổ sông Hồng hiện nay, gồm 10 tỉnh

và thành phố: Vĩnh Phúc, Hà Nội, Bắc Ninh, Hà Nam, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình Ngược dòng lịch sử, khu vực châu thổ sông Hồng gần tương ứng với không gian của Tứ trấn Kinh Bắc, Hải Dương, Sơn Nam, Sơn Tây và phủ Phụng Thiên của thế kỷ XVII-XVIII Trong luận án, chúng tôi

sử dụng thuật ngữ châu thổ sông Hồng, đồng bằng Bắc Bộ hoặc Tứ trấn đều có chung ý nghĩa về một không gian địa lý

Đối tượng nghiên cứu là chuyển biến xã hội diễn ra ở khu vực nông thôn châu thổ sông Hồng trong thế kỷ XVII-XVIII Để xác định rõ đối tượng và phạm vi nghiên cứu cần phải làm rõ một số thuật ngữ xã hội, chuyển biến xã hội, vùng nông thôn

Trang 10

Xã hội (Social): theo định nghĩa của Từ điển xã hội học Oxford “là một nhóm

những người cùng chia sẻ một văn hóa chung, cư trú trên một vùng lãnh thổ nhất định và tự họ cảm thấy bản thân mình tạo thành một thực thể thống nhất và riêng biệt” [115a, tr.617] Bắt nguồn từ chữ Latin “Socii” nghĩa là đồng minh, theo thời gian, “Xã hội” chỉ mối quan hệ giữa con người với con người, với môi trường từ nhiên, với các thể chế Do đó, “Xã hội” là một thiết chế được tạo nên bởi các mối quan hệ của con người Mối quan hệ xã hội tồn tại trong không gian và thời gian cụ thể, mà chung nhất là thuật ngữ “Xã hội loài người” Khái niệm “Xã hội loài người” tiếp tục được chia tách thành những cấp độ nhỏ hơn: xã hội phương Đông - xã hội phương Tây; phân chia theo sự phát triển lấy giai cấp làm tiêu chí: xã hội chiếm hữu

nô lệ, xã hội phong kiến; phân chia theo cộng đồng dân cư hoặc quốc gia: xã hội Trung Hoa, xã hội Việt Nam Trong “xã hội” hình thành nên các thiết chế xã hội, cơ cấu xã hội, quan hệ xã hội… tạo nên tính đa dạng của khái niệm “xã hội”

Chuyển biến xã hội (Social-change): [Từ điển xã hội học Oxford dịch là Biến

đổi xã hội, 115a, tr.33-37] Chuyển biến xã hội thuần túy được định nghĩa dưới góc

độ xã hội học là sự thay đổi của các cơ chế trong cấu trúc xã hội (Social-structure)

Sự thay đổi cấu trúc xã hội đặc trưng bởi những thay đổi trong biểu tượng văn hóa, quy tắc ứng xử, tổ chức xã hội hoặc hệ thống giá trị Trong sự phát triển của xã hội loài người, đã hình thành nên những nhóm, cộng đồng khác nhau, tạo nên sự khác biệt giữa các nhóm cộng đồng như cộng đồng - quốc gia, cộng đồng - dân tộc… Có cộng đồng - quốc gia thống nhất về lãnh thổ với một cộng đồng cư dân duy nhất (ví

dụ Nhật Bản, Hàn Quốc…) cũng có cộng đồng - quốc gia thống nhất về lãnh thổ nhưng có nhiều cộng đồng dân tộc (ví dụ Việt Nam, Trung Quốc…) Tương tự, cộng đồng - dân tộc cũng có thể thống nhất trong một khu vực chung nhưng cũng có thể

có một cộng đồng dân tộc (theo nghĩa tộc người) nhưng phân bố ở nhiều quốc gia khác nhau) Do đó, khi xem xét chuyển biến xã hội cần phân định các nhóm cộng đồng ở những khu vực xác định

Vì vậy, đề tài Chuyển biến xã hội vùng nông thôn châu thổ sông Hồng thế kỷ

XVII-XVIII xác định khu vực châu thổ sông Hồng là một không gian địa lý, địa bàn

cư trú của cộng đồng - dân tộc (tộc người) người Việt/người Kinh chiếm tuyệt đại đa

số về dân số, do vậy, đề tài tập trung vào sự chuyển biến xã hội trong cấu trúc tộc người Việt/ Kinh Từ phân định đó, trong phạm vi không gian và thời gian xác định,

đề tài tiến hành nghiên cứu sự chuyển biến của xã hội trên các góc độ (1) tổ chức của các thiết chế hành chính và mối quan hệ, tác động qua lại của các thiết chế hành chính (2) xem xét sự chuyển biến của các cộng đồng/giai tầng - tầng lớp hoặc nhóm

xã hội, tức là chỉ xem xét nội dung chuyển biến xã hội từ tổ chức xã hội

Tổ chức xã hội: theo định nghĩa của xã hội học thì “Tổ chức xã hội” là một

hệ thống các quan hệ, tập hợp liên kết các cá nhân để đạt được mục đích nhất định

Trang 11

Một “Tổ chức xã hội” mang những nội hàm cơ bản sau: (1) được lập ra có chủ định

và các thành viên ý thức rằng tổ chức của họ tồn tại để đạt được mục đích nào đó; (2)

Tổ chức xã hội phải có sự thể hiện các quan hệ quyền lực xã hội, tức là có quan hệ lãnh đạo - phục tùng, có những cá nhân có khả năng điều chỉnh hành vi, thái độ của người khác thuộc nấc thang quyền lực thấp hơn; (3) Tổ chức xã hội là một tập hợp các vị thế và vai trò mà mỗi thành viên của tổ chức xã hội có vị thế xác định, được trao trách nhiệm và quyền hạn nhất định, dù họ là những người đứng thấp nhất trong thang bậc quyền lực của tổ chức Vì vậy, tổ chức xã hội cũng đặt ra cho những thành viên một tập hợp hành vi được làm và không được làm; (4) Vai trò của các thành viên tổ chức xã hội được thực hiện theo sự mong đợi của tổ chức Vì vậy, trong tổ chức xã hội luôn có những quy tắc điều chỉnh mối quan hệ giữa các vai trò; (5) Phần lớn mục đích và các mối quan hệ của tổ chức được chính thức và công khai Các tương tác giữa các thành viên và các thành viên của tổ chức với bên ngoài phần nhiều dựa trên vị thế và vai trò của họ được thừa nhận một cách chính thức1

Khi phân tích một hiện tượng nổi bật của xã hội thế kỷ XVII-XVIII ở khu vực đồng bằng châu thổ sông Hồng là quá trình xiêu tán - ngụ cư thì phải định danh khái

niệm Di động xã hội (social mobility) Thuật ngữ Di động xã hội “dùng để chỉ sự

chuyển dịch - thường là của xá nhân nhưng đôi khi là nhóm - giữa các vị trí khác nhau trong hệ thống phân tầng xã hội” [115a, tr.131] Nội hàm của Di động xã hội được phân tích trong luận án trên các khía cạnh: sự di động nội vùng, ngoại vùng, di động vì

lý do kinh tế, học tập, di động cá nhân, tập thể, nông dân xiêu tán (bỏ làng ra đi)

Khi phân tích chuyển biến xã hội từ sự chuyển biến của các thiết chế hành chính, trọng tâm tìm hiểu là mối quan hệ giữa chính quyền trung ương với làng xã - đơn vị hành chính phổ biến ở khu vực châu thổ sông Hồng, tức là trả lời câu hỏi: bằng cách nào mà chính quyền nhà nước đánh mất quyền kiểm soát xã thôn, đồng nghĩa là trả lời cho câu hỏi bằng cách nào xã thôn thoát khỏi sự kiểm soát của nhà nước Đây chính là mối quan hệ giữa chính quyền với làng xã khi mà chính quyền phong kiến luôn muốn kiểm soát chặt chẽ làng xã vì đây là cơ sở tồn tại của nhà nước, đồng thời làng xã - trong xu hướng phát triển của mình luôn muốn “ly tâm” để tạo ra tính tự trị, tự quản, thoát khỏi sự kiểm soát của nhà nước

Khi phân tích chuyển biến xã hội từ góc nhìn chuyển biến của các cộng đồng/giai tầng - tầng lớp hoặc nhóm xã hội, luận án đặt trọng tâm làm rõ sự phát triển theo chiều hướng có sự phân biệt giữa các cộng đồng/giai tầng - tầng lớp hoặc nhóm xã hội Các cộng đồng/giai tầng - tầng lớp hoặc nhóm xã hội như nông dân, địa chủ, quan lại, thương nhân, thợ thủ công, tầng lớp thống trị - bị trị… Nghiên cứu này trả lời cho câu hỏi: chuyển biến trong các giai tầng xã hội đã diễn ra như thế nào;

1 https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%95_ch%E1%BB%A9c_x%C3%A3_h%E1%BB%99i Truy cập 20/01/2019

Trang 12

chuyển biến này có tác động (tích cực và tiêu cực) đến vùng nông thôn châu thổ sông Hồng nói riêng, Đàng Ngoài nói chung trong thế kỷ XVII-XVIII như thế nào?

Chuyển biến xã hội là một vấn đề rộng, dùng để xem xét sự thay đổi của các thiết chế xã hội, vị trí, vai trò, cơ cấu, giai tầng, giai cấp Khi xem xét chuyển biến xã hội dưới góc nhìn lịch sử, tức là đặt nó trong thời gian và không gian cụ thể Chuyển biến xã hội không tách rời với chuyển biến kinh tế, văn hóa, và chịu sự tác động của hoàn cảnh lịch sử Trong luận án, khi xử lý vấn đề chuyển biến xã hội, ít nhiều sẽ phải đặt trong mối tương quan, tác động qua lại giữa kinh tế, văn hóa với xã hội Nghiên cứu chuyển biến xã hội vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng thế kỷ XVII-XVIII, nội dung chính của luận án tập trung vào một số nội dung cụ thể: (1) phân tích bối cảnh lịch sử như các nhân tố chính trị, kinh tế, văn hóa, các chính sách của nhà nước (tô thuế, binh dịch…) đối với Đàng Ngoài nói chung, khu vực châu thổ sông Hồng nói riêng Các điều kiện bất thường như thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh… cũng được xem xét, phân tích và là bộ phận không tách rời của hoàn cảnh lịch sử tác động đến chuyển biến xã hội, góp phần trả lời câu hỏi sự chuyển biến xã hội đó có tác động như thế nào đến các nhân tố khác?; (2) phân tích chuyển biến trong thiết chế xã hội nông thôn; chuyển biến trong thiết chế cấu trúc nghề nghiệp Đối với chuyển biến trong thiết chế xã hội nông thôn, luận án xem xét các khía cạnh: phân chia lợi ích từ nguồn lực xã thôn, thiết chế quản lý, nạn cường hào, xiêu tán, khởi nghĩa nông dân, di dân, đẳng cấp và giao lưu đẳng cấp Nội dung chuyển biến trong thiết chế cấu trúc nghề nghiệp, luận án phân tích vai trò và sự chuyển biến của nho sĩ - trí thức - quan lại, nông dân - địa chủ, thợ thủ công, thương nhân

Vùng nông thôn châu thổ sông Hồng: Nông thôn là danh từ dùng để chỉ khu

vực cư trú của những người lấy hoạt động sản xuất nông nghiệp làm kinh tế chủ đạo Vùng nông thôn châu thổ sông Hồng là khu vực được thành tạo bởi hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình, là nơi cư trú của đại đa số là người Việt/Kinh, lấy sản xuất nông nghiệp là chính Hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình chuyên chở phù sa, bồi đắp nên đồng bằng châu thổ, mà chúng ta quen gọi là châu thổ sông Hồng hoặc đồng bằng Bắc Bộ Từ rất sớm, khu vực châu thổ sông Hồng đã có người Việt sinh sống và sản xuất trồng lúa nước, đưa khu vực này trở thành trung tâm của đất nước trên nhiều phương diện: tự nhiên, dân cư, vai trò và ảnh hưởng của khu vực này với

sự phát triển của đất nước Cộng đồng cư dân cư trú quần cư ở châu thổ sông Hồng tạo thành những xóm làng Cộng đồng làng xã trải qua nhiều thăng trầm nhưng vẫn

có tính cố kết cộng đồng mạnh mẽ và có những ảnh hưởng quan trọng đến đất nước Trong xóm làng, các mối quan hệ huyết thống, địa vực, phường hội… đan xen, ràng buộc lẫn nhau Người nông dân làng xã, vì vậy có những mối quan hệ chồng chéo, phức tạp ở nhiều góc độ, khía cạnh

Trang 13

Như vậy, nội dung nghiên cứu là chuyển biến xã hội được đặt trong không gian cụ thể (châu thổ sông Hồng) và thời gian xác định (thế kỷ XVII-XVIII) Trong bối cảnh như thế, việc lựa chọn châu thổ sông Hồng làm địa bàn nghiên cứu trong hai thế kỷ XVII-XVIII tập trung vào sự chuyển biến của nông thôn-làng xã trong mối quan hệ với nhà nước, của các giai tầng Để luận giải những hiện tượng lịch sử nổi bật của thế kỷ XVII-XVIII, chúng ta xem xét sự chuyển biến của xã hội trên cả hai chiều kích: tác động của các hiện tượng, sự kiện lịch sử lớn đến bước chuyển biến của xã hội, cũng như tác động của những chuyển biến xã hội ở nông thôn châu thổ sông Hồng đến cả nước

4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

Cách tiếp cận

Trong lịch sử, loài người đều sống trong những xã hội nhất định, tức là trong

những trạng thái tập thể có tổ chức theo một hình thức và quy tắc xác định nào đó Vì vậy, nghiên cứu về các phương thức tổ chức xã hội của loài người trong một thời gian và không gian xác định của lịch sử, bao gồm cấu trúc xã hội, các cộng đồng người, các nhóm xã hội, các giai cấp, tầng lớp, các tổ chức xã hội và các phong trào

xã hội, các quan hệ xã hội, cơ chế vận hành, tương tác của cấu trúc và các quan hệ

đó, vai trò và vị thế của cá nhân và nhóm trong xã hội, các dạng thức của phân biệt

xã hội và kỳ thị xã hội, di động xã hội của cá nhân và nhóm trong cấu trúc xã hội chính là nội dung nghiên cứu cơ bản của lịch sử xã hội

Tiếp cận lịch sử xã hội theo hướng chuyển biến xã hội, chúng tôi giới hạn nội dung nghiên cứu trong mối quan hệ giữa xã thôn với chính quyền ở khu vực châu thổ sông Hồng, những chuyển biến, phân hóa của các lực lượng cơ bản trong xã hội Đại Việt thế kỷ XVII-XVIII là giới trí thức, quan chức, nông dân, địa chủ, thợ thủ công, thương nhân diễn ra như thế nào, có những đặc điểm gì, có tác động thế nào đến lịch

sử Việt Nam thế kỷ XVII-XVIII Sự phát triển của thủ công, thương nghiệp góp phần thúc đẩy sự phát triển của làng xã khu vực châu thổ sông Hồng theo xu hướng chuyên canh nông nghiệp, thủ công nghiệp hoặc thương nghiệp diễn ra như thế nào

và vai trò của chúng đối với lịch sử thế kỷ XVII-XVIII

Hướng tiếp cận biện chứng về chuyển biến xã hội là đặt trong những hoàn cảnh cụ thể, thời gian và không gian xác định Nghiên cứu chuyển biến của khu vực nông thôn không chỉ nói đến một khu vực, một đối tượng cụ thể mà là tập hợp các loại hình làng xã trong khu vực nông thôn châu thổ sông Hồng Căn cứ vào một số điểm nổi bật của làng xã mà các nhà nghiên cứu chia tách theo yếu tố nổi trội là làng nông nghiệp, làng thủ công nghiệp, làng khoa bảng, làng buôn, làng thủy cư Do đó, khi phân tích sự chuyển biến ở khu vực nông thôn cần phải thấy được mối quan hệ biện chứng của sự phát triển, tức là trong các hoàn cảnh lịch sử chung, tác động

Trang 14

chung của chính sách, của điều kiện tự nhiên thì các yếu tố nổi bật đó phát triển hay không Khi nói đến chuyển biến, tức là phải tìm hiểu những nguyên nhân và các động lực căn bản để dẫn tới sự chuyển biến đó Tương tự, khi nói đến chuyển biến giai tầng, giai cấp là nói đến một tập hợp người cụ thể, có những điểm chung nhất định Dưới tác động của các nhân tố khách quan và chủ quan thì tập hợp đó có những khuynh hướng chuyển biến, phát triển khác nhau, không thể đồng nhất

Cách tiếp cận hệ thống - cấu trúc - chức năng cho phép nhìn nhận các đối tượng có mối liên hệ mật thiết, quan hệ tương hỗ với nhau Hệ thống - cấu trúc - chức năng này có thể đứng độc lập khi phân tích một mình nó, nhưng khi đặt nó với một hệ thống khác thì chúng ta phải thấy rằng chúng có quan hệ với nhau, gắn bó hoặc triệt tiêu nhau Mối quan hệ giữa các hệ thống - cấu trúc - chức năng có sự gắn

bó mật thiết nhưng cũng không kém phần phức tạp Ví dụ như hệ thống giai tầng trong xã hội Đại Việt không có sự ngăn cách đông cứng mà trái lại, chúng luôn có sự vận động, chuyển hóa Người nho sĩ có nguồn gốc xuất thân từ nông dân nhưng sau khi đỗ đạt có thể ngay lập tức thay đổi thân phận, gia nhập tầng lớp quan chức có đặc quyền đặc lợi Tương tự, người thương nhân thì có thể kiêm luôn công việc của người sản xuất Các hệ thống - cấu trúc - chức năng riêng biệt được nghiên cứu như nông thôn, trí thức, quan chức… lại nằm trong một cấu trúc lớn, tổng hợp khác, đó là làng xã, nhà nước, chính quyền

Một điều nhận thấy trong lịch sử Việt Nam thế kỷ XVII-XVIII, các mối mâu thuẫn, xung đột giữa hai thực thể chính quyền vua Lê, chúa Trịnh, mâu thuẫn giữa chính quyền trung ương xã thôn, mâu thuẫn trong nội bộ chính quyền, nội bộ thôn

xã, nội bộ các giai tầng Do đó, lý thuyết xung đột xã hội được vận dụng để lý giải các hiện tượng xã hội có tính mâu thuẫn, đối kháng, từ đó làm rõ được sự chuyển biến của xã hội vùng nông thôn châu thổ sông Hồng thế kỷ XVII-XVIII

Phương pháp nghiên cứu

Là đề tài lịch sử nên phương pháp lịch sử và phương pháp logic là chủ đạo để tìm hiểu lịch sử Việt Nam thế kỷ XVII-XVIII, tìm hiểu chuyển biến xã hội khu vực châu thổ sông Hồng Chọn giai đoạn thế kỷ XVII-XVIII của lịch sử Việt Nam để nghiên cứu, nó có những đặc trưng riêng, đồng thời là sự kế tục của giai đoạn trước

đó, là tiền đề cho sự phát triển giai đoạn sau nên việc áp dụng các phương pháp của khoa học lịch sử như đồng đại, lịch đại là hết sức cần thiết Do đó, bức tranh chuyển biến xã hội khu vực châu thổ sông Hồng mới được mô tả cụ thể, khái quát những đặc điểm chủ yếu và xu hướng chuyển biến, phát triển của nó Các kết quả nghiên cứu liên ngành được vận dụng để làm rõ, chi tiết nội dung nghiên cứu

Đặt lịch sử Việt Nam thế kỷ XVII-XVIII, khu vực châu thổ sông Hồng thế kỷ XVII-XVIII, chuyển biến xã hội thế kỷ XVII-XVIII như một hệ thống cấu trúc có

Trang 15

những tác động qua lại với nhau Luận án đi sâu phân tích một khía cạnh của lịch sử

là lịch sử xã hội, sự chuyển biến xã hội như một nội dung của toàn bộ cấu trúc tổng thể là Việt Nam thế kỷ XVII-XVIII Luận án đồng thời cũng xem xét chuyển biến xã hội như một thực thể độc lập với những đặc điểm của sự vận động có tính chất riêng biệt, do đó, phương pháp thống kê định lượng được sử dụng nhằm tím ra những xu hướng vận động của sự việc, hiện tượng

Phương pháp thống kê định lượng bao gồm nhiều nội dung như thống kê mô

tả, thống kê chọn mẫu, phân tích dãy năng động thời gian, tìm mối liên hệ…Phương pháp định lượng thích hợp với việc nghiên cứu tư liệu đám đông nên tùy từng sử liệu

cụ thể được chúng tôi áp dụng phương pháp này Các tư liệu được lựa chọn, áp dụng phương pháp thống kê, định lượng, xâu chuỗi lại theo thời gian, theo vấn đề, theo không gian để tự nó bộc lộ các đặc điểm và xu hướng vận động Dựa vào đó, những con số, kết quả thu được từ thống kê định lượng sẽ có sức thuyết phục và hấp dẫn hơn Phương pháp định lượng được sử dụng như một thao tác nghiên cứu, tham gia vào quá trình xử lý và phân tích tư liệu, góp phần tìm ra một xu hướng phát triển nào

đó của xã hội Việt Nam trong 2 thế kỷ XVII-XVIII

Cuối cùng, cũng cần phải nói thêm, tính thuyết phục, hấp dẫn của khoa học lịch sử là tính thực chứng Các nguồn tư liệu được cân nhắc lựa chọn, đánh giá theo tiêu chí có so sánh, giám định và kiểm chứng Trong những năm qua, do có điều kiện tham gia vào các nhóm nghiên cứu, các đề tài nghiên cứu…mà bản thân tác giả luận

án có điều kiện đi điền dã, tích lũy các kiến thức trên thực địa cũng như sách vở về làng xã, về các trung tâm kinh tế, cảng thị như Thăng Long, Domea, Vân Đồn Điều kiện thuận lợi đó cho phép chúng tôi có điều kiện kiểm chứng các sử liệu với tình hình thực tế, đối sánh giữa thư tịch và thực địa

5 Nguồn tư liệu

- Các sử liệu được biên soạn bởi cơ quan quốc sử như Đại Việt sử ký toàn thư,

Đại Việt sử ký tục biên, Khâm định Việt sử thông giám cương mục; các bộ luật, văn

bản pháp luật như Quốc triều hình luật, Hồng Đức thiện chính thư, Lê triều chiếu

lệnh thiện chính, Lê triều giáo hóa điều lệ…

Đại Việt sử ký toàn thư là bộ quốc sử lớn của triều Lê Nội dung giai đoạn

nghiên cứu nằm từ quyển XVIII đến quyển XIX, tương ứng với các sự kiện từ năm

Thận Đức thứ nhất (1600) đến năm Đức Nguyên thứ 2 (1675) Tiếp nối Đại Việt sử

ký toàn thư, Đại Việt sử ký tục biên ghi chép các sự kiện từ năm đến năm 1789

Khâm định Việt sử thông giám cương mục do Quốc sử quán triều Nguyễn biên

soạn từ năm 1856 đến năm 1881, được khắc in năm Kiến Phúc 1 (1884) Nội dung sự kiện thế kỷ XVII-XVIII từ quyển 31 đến quyển 47

Trang 16

Các văn bản pháp luật như Quốc triều hình luật, Hồng Đức thiện chính thư,

Lê triều chiếu lệnh thiện chính, Lê triều giáo hóa điều lệ… ghi chép các luật, lệnh, lệ

ban hành trong thời Lê cung cấp những thông tin có tính quy phạm, chuẩn mực của nhà nước đối với từng vấn đề cụ thể trong quản lý xã hội

- Các bộ sử do cá nhân viết: Kiến văn tiểu lục, Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn, Lịch triều tạp kỷ của Ngô Cao Lãng, Lịch triều hiến chương loại chí của Phan

Huy Chú Các tác giả như Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú là quan chức, học rộng, có điều kiện tiếp xúc với nhiều nguồn tài liệu khác nhau nên thông tin đa chiều và xác

tín cao Các thể loại địa phương chí như Thượng kinh phong vật chí, Kinh Bắc phong

thổ ký… góp phần bổ sung những thông tin, ghi chép từ địa phương

- Các nguồn tư liệu của làng xã như hương ước, văn bia, gia phả… phản ánh trực tiếp đời sống sinh hoạt của làng xã, gia đình và dòng họ

Văn bia thế kỷ XVII-XVIII còn lưu giữ với số lượng lớn, tập trung chủ yếu ở vùng châu thổ sông Hồng được khai thác trên nhiều góc độ, đặc biệt là đời sống làng

xã như tập tục, bầu hậu… Cũng cần phải nói thêm, trong số 20.980 đơn vị thác bản văn bia được Viện Viễn đông Bác cổ Pháp sưu tầm vào đầu thế kỷ XX thì có 517 đơn vị thác bản văn bia có dấu hiệu ngụy tạo về niên đại (chiếm 2,46%) Các văn bia ngụy tạo niên đại tập trung ở Hà Đông (313 thác bản), Hưng Yên (72 thác bản), Hải Dương (27 thác bản), Nghệ An (100 thác bản) Tính chung, ở đồng bằng sông Hồng

có 417 thác bản ngụy tạo niên đại nhằm chứng tỏ niên đại thời Lê [75, tr.36-39] Trong luận án, chúng tôi sử dụng những văn bia có niên đại chính xác, rõ ràng

Hương ước là tài liệu do quan viên, chức dịch làng xã căn cứ vào luật pháp, quy định của nhà nước đối chiếu với tình hình thực tế của địa phương để xây dựng, được mọi thành viên làng xã tuân theo Viện Nghiên cứu Hán Nôm có 614 đầu sách mang ký hiệu AF, trong đó hương ước Bắc Ninh có 4 bản, Hà Đông (73 bản), Hải Dương (8 bản), Hưng Yên (86 bản), Kiến An (19 bản), Nam Định (46 bản), Ninh Bình (50 bản), Phúc Yên (18 bản), Thái Bình (78 bản) [100, tr.11] Viện thông tin Khoa học xã hội đã phân loại, đăng ký hơn 1.200 bản hương ước, trong đó có khoảng trên 50 văn bản biên soạn vào thế kỷ XVIII, XIX [122, 123, 35, tr.50-52] Hương ước

có niên đại thế kỷ XVII-XVIII hiện còn không nhiều Công bố của Đinh Khắc Thuân

và cộng sự tuyển dịch 65 hương ước trong công trình Tục lệ cổ truyền làng xã Việt

Nam (NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2006), trong đó Hà Nội có 18 văn bản, Hưng

Yên (13), Hải Dương (1), Hà Nam (2), Nam Định (2), Ninh Bình (4), Phúc Yên (1)

Trang 17

Ở phạm vi hẹp, gia phả ghi lại chuyện nội bộ dòng họ Tuy nhiên, do “tinh thần dòng họ” nên các gia phả có xu hướng đề cao những nhân vật lịch sử thuộc dòng họ mình lên quá thực tế nên khi sử dụng cũng cần phải phân tích thấu đáo, chặt chẽ1

- Các du ký, tường trình, báo cáo của giáo sĩ, thương nhân nước ngoài ghi chép về phong tục, tập quán của đất nước ta, có tính chất đương đại Những tư liệu này cung cấp một cách nhìn của người phương Tây về xã hội Đại Việt - một vi mẫu của xã hội phương Đông truyền thống Trong thời gian gần đây, nguồn tư liệu phương Tây được tập hợp, dịch và công bố góp phần bổ sung, đối chiếu, kiểm tra chéo những thông tin từ nguồn sử liệu Việt Nam

Nguồn tư liệu thế kỷ XVII-XVIII khá phong phú, đa dạng Các nguồn tư liệu khi được giám định, phân tích cụ thể sẽ cho thấy bức tranh tổng quát, sự kiện lớn có tầm quốc gia, khu vực, những chi tiết chung, có tính phổ biến, đồng thời là những chi tiết cụ thể với địa danh, sự kiện, hiện tượng và con người cụ thể Những điểm mạnh, điểm yếu của từng loại hình tư liệu được bổ sung, phân tích hợp lý sẽ cung cấp những thông tin có giá trị trong việc dựng lại hình ảnh chuyển biến xã hội vùng nông thôn châu thổ sông Hồng trong thời gian luận án đề cập đến

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Kết quả nghiên cứu của Luận án góp một góc nhìn về lịch sử Việt Nam thế kỷ XVII-XVIII Từ phương diện nghiên cứu chuyển biến xã hội, luận án luận giải về sự phát triển, phân hóa của tầng lớp trí thức, quan chức, nông dân, thương nhân, thợ thủ công đối với xã hội, tạo nên những sự chuyển biến của khu vực nông thôn, thậm chí

là cả đô thị và những ảnh hưởng đến lịch sử Việt Nam giai đoạn này

Mối quan hệ giữa chính quyền với làng xã thông qua các hoạt động thuế, tuyển lính cũng như các cách thức, biện pháp đối phó của xã thôn, của bộ máy chức dịch làng xã sẽ cho thấy tính hai mặt của quan hệ nhà nước - xã thôn Nhà nước, bằng hệ thống quyền lực thể hiện ý chí kiểm soát chặt chẽ xã thôn Ngược lại, xã thôn luôn tìm mọi biện pháp để đối phó với chính quyền nhằm giảm thiểu đến mức thấp nhất sự kiểm soát của chính quyền Nghiên cứu mối quan hệ nhà nước - xã thôn không chỉ giải quyết bài toán mối quan hệ đó trong lịch sử, đồng thời góp phần cho

sự nghiệp xây dựng nông thôn mới hiện nay

Luận án phân tích một số kẽ hở mà đội ngũ cường hào xã thôn lợi dụng để nhũng nhiễu người dân Luận án lý giải sự phát triển mạnh mẽ của hiện tượng mua - bán hậu, mua bán chức danh sinh đồ, lão nhiêu, ẩn giấu đinh, điền, các án phạt trong

1 Ví dụ họ Đinh ở Hàn Giang, Hải Dương có Đinh Văn Thản, Đinh Văn Phục là con Vọng quận công Đinh Bái từng nổi dậy chống chính quyền Lê - Trịnh, sau đầu hàng, được phong tước Khuê trung công (Đinh Văn Thản), Phác trung công (Đinh Văn Phục) nhưng gia phả chỉ chép công trạng của họ đối với chính quyền

Trang 18

hương ước… để làng xã tạo dựng nguồn kinh phí đáp ứng chi tiêu của xã, cũng như

để đội ngũ cường hào đục khoét, tham nhũng nguồn kinh phí này

Cuối cùng, một đóng góp có ý nghĩa và thực tiễn của đề tài là cố gắng khai thác, chắt lọc các nguồn tư liệu nhằm phác họa phần nào hiệu quả của những chính sách của nhà nước, tức là những phản ánh từ cơ sở Sự dội ngược của những phản ứng cơ sở góp phần buộc nhà nước phải điều chỉnh những chính sách cho thích hợp với tình hình mới

7 Đóng góp mới của luận án

- Luận án khai thác triệt để các nguồn tư liệu, phân tích và lý giải những yếu

tố tác động đến chuyển biến xã hội vùng nông thôn châu thổ sông Hồng thế kỷ XVIII ở hai vấn đề lớn, đó là: tác động của bối cảnh lịch sử bao gồm các yếu tố chính trị, kinh tế, văn hóa và tác động của chính sách nhà nước Trong mối quan hệ tác động qua lại này, luận án làm rõ bằng cách nào mà nhà nước đánh mất quyền kiểm soát xã thôn ở một địa bàn có vị trí chiến lược như châu thổ sông Hồng Đồng thời, bằng cách nào mà cường hào khống chế được xã thôn, tha hồ “phù thu lạm bổ”

XVII-để bóc lột người dân làng xã, buộc người dân làng xã rơi vào hoàn cảnh khó khăn

- Luận án đã phục dựng lại bức tranh về di động xã hội và chuyển biến trong thiết chế xã hội vùng nông thôn châu thổ sông Hồng trong thế kỷ XVII-XVIII Vấn

đề di dân nông thôn - thành thị, yếu tố người nước ngoài, cơ chế đẳng cấp và giao lưu đẳng cấp Bên cạnh đó nét nổi bật trong xã hội vùng nông thôn châu thổ sông Hồng thời kỳ này là sự thay đổi hay phản ứng của làng xã trước áp lực của nhà nước cùng với nạn cường hào, nông dân xiêu tán và khởi nghĩa của nông dân đã làm chuyển biến trong thiết chế xã hội nông thôn

- Luận án khai thác, phân tích các nguồn tư liệu, đặc biệt là tư liệu làng xã để làm sáng rõ những vấn đề đặt ra như căn nguyên của hiện tượng mua - bán hậu, nhiêu, sinh đồ, các hình thức phạt trong hương ước Đây là cách thức để làng xã có tài sản, đồng thời cũng là các khoản “phù thu lạm bổ” lên đầu người dân, là nguồn tài sản để đội ngũ cường hào tranh chiếm, biển thủ

- Luận án phân tích, làm rõ sự chuyển biến, phân hóa xã hội tương đối rõ nét giữa các cộng đồng, nhóm xã hội sĩ - nông - công - thương dựa trên phân tích từ mối quan hệ cấu trúc xã hội nghề nghiệp Đó là sự phân hóa mạnh mẽ trong giới trí thức nho học - quan liêu, sự lớn mạnh của trung tiểu địa chủ, sự lớn mạnh của tầng lớp thợ thủ công và thương nhân, sự bần cùng dẫn đến phá sản của nông dân tư hữu nhỏ

- Từ sự mất kiểm soát làng xã của nhà nước, sự lộng hành của nạn cường hào,

sự phân hóa mạnh mẽ của các giai tầng xã hội dưới tác động có tính tiêu cực của điều kiện tự nhiên, những mâu thuẫn không thể điều hòa trong xã hội, trong các bộ phận

Trang 19

cư dân bung ra, tạo thành hiện tượng nông dân xiêu tán và khởi nghĩa nông dân mạnh mẽ vào cuối thế kỷ XVIII, làm lung lay mô hình nhà nước Lê - Trịnh

- Đóng góp của luận án được thể hiện ở việc khai thác các nguồn tư liệu tương đối đa dạng, được kiểm chứng của các phân tích, nhận định của tác giả trong luận án

8 Bố cục luận án

Luận án gồm Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung được triển khai trong 4 chương:

Chương 1: Tổng quan tài liệu và địa bàn nghiên cứu

Chương 2: Các yếu tố tác động đến chuyển biến xã hội vùng nông thôn châu thổ sông Hồng thế kỷ XVII - XVIII

Chương 3: Di động xã hội và chuyển biến trong thiết chế xã hội vùng nông thôn châu thổ sông Hồng thế kỷ XVII - XVIII

Chương 4: Chuyển biến trong cấu trúc xã hội nghề nghiệp vùng nông thôn châu thổ sông Hồng thế kỷ XVII - XVIII

Trang 20

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan tài liệu

1.1.1 Nghiên cứu chung về làng xã vùng nông thôn châu thổ sông Hồng

Nghiên cứu về làng xã Việt Nam nói chung thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước Từ những năm cuối thế kỷ XIX, sau khi xâm lược và thiết lập bộ máy cai trị trên toàn lãnh thổ Việt Nam, người Pháp tiến hành nghiên cứu làng xã người Việt nhằm phục vụ cho thiết lập bộ máy cai trị Đáng

chú ý là cuốn La Commune Annamite au Tonkin (Làng xã An Nam ở Bắc Kỳ) của P.Ory (Paris Augustin Challamel, 1894), La Cité Annamite (Thành bang An Nam)

của C.Briffaut (Paris, 1909) [73, tr.18] Từ đầu thế kỷ XX đến năm 1954, nghiên cứu làng xã thu hút đông đảo các nhà nghiên cứu cả người Việt và người Pháp Những kết quả nghiên cứu này rất khác nhau, thậm chí mâu thuẫn do quan niệm và cách tiếp

cận của từng tác giả Ngô Tất Tố với Việc làng, Hoàng Đạo với Bùn lầy nước đọng

nêu lên những mặt lạc hậu, thủ cựu, thậm chí cần phải đổi thay trong nông thôn Việt

Nam trước Cách mạng tháng Tám Phan Kế Bính với Việt Nam phong tục nêu lên

những giá trị văn hóa lễ hội, quan hệ họ hàng tốt đẹp mà làng xã đang lưu giữ Qua

Ninh - Vân Đình với quan điểm Mác xít phân tích trong Vấn đề dân cày tình trạng

khốn khổ của người nông dân dưới ách áp bức, bóc lột của chế độ thực dân, phong kiến [10] Một số tác giả nghiên cứu các khía cạnh kinh tế của làng xã như

L’artisanat dans la province de Hadong (Ngành nghề thủ công trong tỉnh Hà Đông

(Bắc Kỳ), Les marchés de la province de Hadong, L’artisanat dans la province de Hadong (Tonkin), (Thủ công nghiệp trong tỉnh Hà Đông) của Hoàng Trong Phu1 Vũ

Văn Hiền với Proprieté Communale au Tonkin (Sở hữu làng xã ở Bắc Kỳ), Vũ Quốc Thúc với L’Economic Communaliste du Vietnam (Kinh tế làng xã Việt Nam, Hà Nội,

1951) Đáng chú ý trong giai đoạn này nhiều công trình có giá trị cao như Pierre

Gourou với cuốn Les Paysans du Delta Tonkinois (Paris, 1936) [31] Xuất phát từ

điều kiện tự nhiên, P.Gourou phân tích các đặc trưng có tính vùng miền của làng xã người Việt ở châu thổ sông Hồng, cũng như hoạt động sản xuất của người nông dân Dựa trên các số liệu điều tra thống kê, công trình của P.Gourou có độ chính xác cao

về thực trạng khu vực châu thổ sông Hồng Nguyễn Văn Huyên là tác giả có nhiều

1 Hoàng Trọng Phu: L’artisanat dans la province de Hadong, Hanoi, IDEO, 1937; Les marchés de la province

de Hadong, Hanoi, 1938; L’artisanat dans la province de Hadong (Tonkin), Hanoi, 1938 Tài liệu dịch của

Nguyễn Thừa Hỷ (chưa công bố)

Trang 21

đóng góp về vấn đề nông thôn, cư dân đồng bằng Bắc Bộ Trong Văn minh Việt Nam

(Hà Nội, 1944), Nguyễn Văn Huyên phân tích xác đáng mối quan hệ của gia đình - làng - nước trong xã hội Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám [38]

Từ năm 1954 đến năm 1986, nghiên cứu về nông thôn, làng xã, nông dân tiếp tục nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, phục vụ công cuộc xây dựng nông thôn dưới chế độ mới Ở miền Bắc, từ quan điểm tiếp cận mácxit, xuất phát từ vai trò động lực cách mạng của giai cấp nông dân, các nghiên cứu tập trung làm rõ những giá trị tích cực của giai cấp nông dân, vai trò của làng xã trong lịch sử cũng

như trong các cuộc kháng chiến Kết quả nghiên cứu đáng chú ý là cuốn Xã thôn Việt

Nam của Nguyễn Hồng Phong (Hà Nội, 1959), Nông thôn Việt Nam trong lịch sử (2

tập), Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ của Trần Từ Ở miền Nam,

thành tựu cơ bản nghiên cứu nông thôn là về các giá trị văn hóa của châu thổ sông Hồng, nổi bật là Toan Ánh với cụm công trình về văn hóa Việt Nam1

Từ sau năm 1986, các công trình nghiên cứu về nông thôn, nông nghiệp, nông

dân được đẩy mạnh Hội thảo Làng xã và vấn đề xây dựng nông thôn mới của

Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội tổ chức năm 1986 đã kết hợp giữa kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học với thực tiễn quản lý đã gắn nghiên cứu với thực tiễn, trả lời cho câu hỏi vai trò, vị trí của làng xã, của nông thôn, nông nghiệp trong sự nghiệp Đổi mới2 Một số kết quả nghiên cứu tiêu biểu về làng xã thời kỳ này có thể

kể đến Về một số làng buôn ở đồng bằng Bắc Bộ thế kỷ XVIII, XIX (Hội Sử học Việt Nam, H.1993), Một số vấn đề làng xã Việt Nam (NXB ĐHQGHN, Hà Nội, 2009),

Nông thôn và đô thị Việt Nam: Lịch sử, thực trạng và khuynh hướng biến đổi (NXB

Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2018) của Nguyễn Quang Ngọc, Một làng Việt cổ truyền

ở đồng bằng Bắc Bộ (NXB Khoa học xã hội, H.1996) của Nguyễn Hải Kế, Tìm hiểu làng Việt I (NXB Khoa học xã hội, H.1990) do Diệp Đình Hoa chủ biên, Làng xã Việt Nam, một số vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội (NXB Chính trị Quốc gia, H.2001), Từ làng đến nước - một cách tiếp cận lịch sử (NXB ĐHQGHN, H.2010) của Phan Đại

Doãn, Làng xã Việt Nam trong kháng chiến chống ngoại xâm (từ thế kỷ X đến cuối thế

kỷ XIX) của Viện Lịch sử quân sự (NXB Quân đội nhân dân, H.2006), Văn bia thời Lê

xứ Kinh Bắc và sự phản ánh sinh hoạt làng xã (NXB Văn hóa thông tin, H.2003) của

Phạm Thị Thùy Vinh Cùng với những công trình tổng hợp thì một số công trình

khảo tả cụ thể về từng làng cung cấp cái nhìn đa chiều về làng xã như Làng Chương

Dương qua di sản Hán Nôm của Chu Huy, Cung Khắc Lược, Nguyễn Trọng Hải

(NXB Văn hóa dân tộc, H.2004), Tìm lại làng Việt xưa của Vũ Duy Mền (NXB Văn

1 Cụm các công trình của Toan Ánh về văn hóa đồng bằng Bắc Bộ có tên chung là Nếp cũ, bao gồm: Hội hè

đình đám (2 quyển Thượng, Hạ), Tín ngưỡng Việt Nam (2 quyển Thượng, Hạ), Hương nước hồn quê, Các thú tiêu khiển Việt Nam…, tái bản, Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh, 2008

2 Một số tham luận của hội thảo được in trong Tạp chí Khoa học, Khoa học xã hội, Trường Đại học tổng hợp

Hà Nội, số 1, 1987

Trang 22

hóa thông tin, H.2006), Hành trình về làng Việt cổ (T.1, NXB Từ điển Bách khoa,

H.2008; T.2, NXB Văn hóa thông tin & Viện Văn hóa, H.2013) của Bùi Xuân Đính

Nghiên cứu về làng xã, nông thôn, nông nghiệp và nông dân trong lịch sử góp phần lý giải quá trình phát triển, cơ chế quản lý, vận hành của của làng xã Thống kê thư mục về làng xã Việt Nam của chúng tôi năm 2006 với 449 công trình nghiên cứu, trong đó có 416/449 là các nghiên cứu của các học giả Việt Nam (chiếm 92,6%) Các vấn đề được quan tâm rất đa dạng trên các lĩnh vực, như ruộng đất (78/449 công trình, chiếm 17,3%), văn hóa làng xã (54/449 công trình, chiếm 12%), quản lí làng xã (32/449 công trình, chiếm 7,1%)… cho thấy sức hấp dẫn của đề tài này [59] Thành tựu nghiên cứu và làng xã, nông thôn, nông nghiệp Việt Nam trong

lịch sử rất lớn, được GS Phan Huy Lê tổng kết trong bài viết Tình hình nghiên cứu

làng ở Việt Nam trong thế kỷ XX với các nội dung về tầm quan trọng và lịch sử

nghiên cứu, lịch sử hình thành và phát triển, chế độ ruộng đất và kết cấu kinh tế xã hội, bộ máy quản lý, đời sống văn hóa tín ngưỡng và những biến đổi hiện nay [56, tr.489-514] Nghiên cứu nông thôn châu thổ sông Hồng, vì thế đạt được nhiều tiến bộ quan trọng, là cơ sở quan trọng để Đảng, nhà nước ban hành các Nghị quyết về phát triển kinh tế, xã hội trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn và nông dân

Làng xã khu vực nông thôn châu thổ sông Hồng cũng là đề tài thu hút nhiều

học giả nước ngoài quan tâm nghiên cứu Có thể kể đến Jame Scott (1976) với The

Moral Economy of the Peasant: Rebellion and Subsistence in Southeast Asia:

Samuel Popkin (1976), The Rational Peasant: The Political Economy of Rural

Society in Vietnam; Sakurai Yumio (1987), The formation of the Vietnamese village,

Tokyo; Luong Van Hy (1992), Revolution in the Village, University of Hawaii Press; B.Kerkvliet (1990), State-village relation in VietNam: contested cooperation and

collectivization, Australia; John Kleinen (1999): Facing the Future, Reviving the Past: A Study of Social Change in a Northern Vietnamese Village Institute of Southeast Asia, Singapore (Bản dịch tiếng Việt: Làng Việt đối diện tương lai, hồi sinh quá khứ, Hội KHLS Việt Nam, Nxb Đà Nẵng, 2013); Nguyễn Tùng (Édité)

(1999), Mông Phụ, un village du delta du Fleuve Rouge (Việt Nam), L’Harmattan (bản dịch: Mông Phụ - một làng ở đồng bằng sông Hồng (NXB Văn hóa thông tin,

Hà Nội, 2003); Chương trình hợp tác Việt - Pháp nghiên cứu về làng xã Việt Nam vùng đồng bằng sông Hồng (1996-1999) với hai ấn phẩm: Philippe Papin và Olivier

Tessier (Chủ biên) (2002), Làng ở vùng châu thổ sông Hồng: Vấn đề còn bỏ ngỏ,

Viện Viễn đông bác cổ, Trung tâm KHXH&NV quốc gia, Hà Nội; Pascal Bergeret

(2006), Nông dân, nhà nước và thị trường ở Việt Nam (mười năm hợp tác nông

nghiệp trong lưu vực sông Hồng), NXB CTQG, Hà Nội

Các khuynh hướng tiếp cận về làng xã khu vực nông thôn của các học giả nước ngoài rất đa dạng: về một làng cụ thể (Nguyễn Tùng, J.Kleinen, Hy Văn

Trang 23

Lương), có tính chất khái quát, tranh luận (J.Scott, S.Popkin, Kerkvliet.B) cung cấp một số hướng gợi mở trong nghiên cứu về làng xã nói chung

1.1.2 Nghiên cứu về tổ chức hành chính và thiết chế quản lý xã hội vùng nông thôn châu thổ sông Hồng

Châu thổ sông Hồng là khu vực trung tâm của Đàng Ngoài trong 2 thế kỷ XVII-XVIII nằm trong cơ cấu hành chính chung của chính quyền Đàng Ngoài Tổ chức hành chính, thiết lập bộ máy quản lý hành chính là cơ sở để chính quyền quản

lý, khai thác khu vực châu thổ sông Hồng Nhóm vấn đề về tổ chức bộ máy hành chính, quan lại, luật pháp và phương thức tuyển dụng nhân sự cho bộ máy hành

chính Một số bài viết đáng chú ý như Nguyễn Đức Nhuệ: Tìm hiểu tổ chức Phiên

trong bộ máy Nhà nước thời Lê Trung Hưng (NCLS số 5 (294), IX-X/1997); Nguyễn

Văn Kim: Về cơ chế hai chính quyền cùng song song tồn tại trong lịch sử Việt Nam

và Nhật Bản (NCLS số 1 (326), I-II/2003), Trần Thị Vinh: Thể chế chính quyền Nhà nước thời Lê-Trịnh: Sản phẩm đặc biệt của lịch sử Việt Nam thế kỷ XVII-XVIII

(NCLS số 1 (332), 2004); Phương thức tuyển dụng quan lại cho bộ máy chính quyền

nhà nước ở thế kỷ XVII-XVIII (NCLS số 6 (362), 2006, tr.9-18, Số 7 (363), 2006);

Ueda Shinya: Bộ máy tài chính của chính quyền Lê-Trịnh thế kỷ XVIII qua việc phân

tích Lục phiên trong vương phủ (NCLS số 11+12 (391+392), 2008, Số 3 (395),

2009); Trần Ngọc Vương: Lưỡng đầu chế thời Lê - Trịnh và những hệ quả lịch sử

của nó [129] Kết quả nghiên cứu đã làm rõ cơ chế tuyển dụng quan lại của nhà

nước, góp phần làm thay đổi vị trí xã hội của giới nho sĩ đỗ đạt, vai trò chức năng của từng cơ quan, giải thích, nghiên cứu so sánh những điểm tương đồng và dị biệt của thể chế vua Lê - chúa Trịnh với mô hình Thiên hoàng và Mạc phủ của Nhật Bản Các nghiên cứu đánh giá cao việc tuyển chọn được một đội ngũ quan lại từ khoa cử, vai trò lấn át của Lục phiên bên phủ chúa so với Lục bộ bên triều đình vua Lê Một

số kết quả nghiên cứu cũng bước đầu phân tích hệ quả của mô hình vua - chúa đến những lựa chọn ứng xử của giới Nho sĩ, quan liêu

Một số chuyên khảo nghiên cứu về nội dung trên có điều kiện chuyên sâu, bàn

về những vấn đề có tính chất đặc thù Các công trình đáng chú ý là Chế độ chính trị

Việt Nam thế kỷ XVII-XVIII (Viện Đại học Vạn Hạnh, Sài Gòn, 1974) của Lê Kim

Ngân; Nghiên cứu về hệ thống pháp luật Việt Nam thế kỷ XV-XVIII, Một số văn bản

pháp luật Việt Nam thế kỷ XV-XVIII của Viện Nhà nước và pháp luật (NXB KHXH,

H.1994); Thiết chế và phương thức tuyển dụng quan lại của chính quyền nhà nước

trong lịch sử Việt Nam thế kỷ XVII-XVIII (NXB Chính trị Quốc gia-Sự thật, H.2012)

của Trần Thị Vinh; Nhà nước và pháp luật triều Hậu Lê với việc bảo vệ quyền con

người (NXB ĐHQGHN, H.2014) do Nguyễn Minh Tuấn, Mai Văn Thắng đồng chủ

biên, Mô hình tổ chức nhà nước ở Việt Nam thế kỷ X-XIX (NXB ĐHQGHN, H.2015)

của Phạm Đức Anh Những công trình nêu trên đã kế thừa các nghiên cứu trước đó,

Trang 24

đồng thời bổ sung những kiến giải, lập luận về sự vận hành và vai trò, đóng góp của thể chế chính trị Việt Nam thế kỷ XVII-XVIII

Bên cạnh những nghiên cứu về tổ chức chính trị, hành chính, cách thức tuyển chọn quan lại thì nghiên cứu về bộ máy quản lý và cơ chế vận hành cũng có những

thành tựu đáng kể Có thể kể đến Kinh nghiệm tổ chức quản lý nông thôn Việt Nam

trong lịch sử (NXB Chính trị quốc gia, H.1994) do Phan Đại Doãn, Nguyễn Quang

Ngọc chủ biên, Quản lý xã hội nông thôn nước ta hiện nay, một số vấn đề và giải

pháp (NXB Chính trị quốc gia, H.1996) do Phan Đại Doãn chủ biên và các tác giả

Lê Sĩ Giáo, Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Quang Ngọc, Thang Văn Phúc Đây là hai công trình có tính hệ thống, khảo sát tổ chức bộ máy, cơ chế vận hành của cấp xã, thôn, làng, bản trên phạm vi đất nước ta từ xưa đến nay Những bài học kinh nghiệm quản lý nông thôn được đúc kết, gợi mở cho việc quản lý xã thôn hiện nay

Mặc dù nhận được sự quan tâm, nghiên cứu nhưng tổ chức hành chính của các địa phương, đặc biệt là tứ trấn ở châu thổ sông Hồng là cơ sở để chính quyền Lê - Trịnh quản lý, khai thác vùng đồng bằng có vị trí trọng yếu về sản xuất lương thực, nơi cung cấp nguồn lực con người cho chính quyền chưa được giải đáp thỏa đáng

Cơ chế nào để bộ máy hành chính thực hiện việc quản lý ruộng đất, nhân đinh, thu thuế, bắt lính cũng như kiểm soát, khai thác các nguồn lực khác Vai trò và tác động của bộ máy hành chính này như thế nào đối với khu vực nông thôn vùng đồng bằng Bắc Bộ cần phải tiếp tục được bổ sung bằng các nghiên cứu mới

Song song với thiết chế quan phương, hành chính của nhà nước thì tính song hành của bộ máy tự quản, đặc biệt ở trong làng xã cũng thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều tác giả Nguồn tư liệu sử dụng để nghiên cứu tổ chức, cơ chế vận hành của bộ máy tự quản trong làng xã là hương ước, bởi đây “bộ luật thành văn” của làng

xã Bùi Xuân Đính với Lệ làng phép nước (NXB Pháp lý, H.1985), Hương ước và

quản lý làng xã (NXB Khoa học xã hội, H.1998) nêu lên vai trò của hương ước trong

bảo vệ trật tự trị an, quan hệ cư xử trong xã thôn, là thước đo quy phạm hành vi ứng

xử của mọi thành viên Đồng thời, hương ước là căn cứ để bộ máy tự quản trong làng

xã lấy làm cơ chế để thoát khỏi “lực hút” của chính quyền nhằm đưa làng xã vào quỹ

đạo chung của chính quyền Hồ Đức Thọ với Lệ làng Việt Nam trong tâm thức dân

gian (NXB Văn hóa thông tin, H.2004) giới thiệu một số bản hương ước tiêu biểu,

qua đó phân tích khái quát những tác động của hương ước đối với từng làng xã cụ

thể Vũ Duy Mền và Hoàng Minh Lợi với công trình Hương ước làng xã Bắc Bộ Việt

Nam với Luật làng Kanto Nhật Bản thế kỷ XVII-XIX (Viện Sử học, H.2001) tiến hành

nghiên cứu so sánh những điểm chung và riêng của hai loại hình văn bản này, đồng thời nhấn mạnh đến tính chất tự quản, tự trị của hương ước và luật làng Tương tự, đề

tài Nghiên cứu văn bản hương ước chữ Hán Triều Tiên từ thế kỷ XV đến đầu thế kỷ

XX do Phạm Thị Vinh làm chủ nhiệm (ĐT59/2007/HĐ-ĐT, Hà Nội, 2009), Luận án

Trang 25

Nghiên cứu văn bản hương ước chữ Hán thế kỷ XVII-XVIII của Choson và so sánh với văn bản hương ước chữ Hán Việt Nam cùng thời kỳ (Luận án Tiến sĩ khoa học

Ngữ văn, Trường Đại học sư phạm Hà Nội, Hà Nội, 2013) của Đỗ Thị Hà Thơ đặt vấn đề nghiên cứu so sánh văn bản, nội dung, giá trị của hương ước thời Choson với hương ước chữ Hán của Việt Nam nhằm tìm ra những điểm tương đồng và dị biệt loại hình hương ước của Triều Tiên và Đại Việt trong cùng khung niên đại thời gian thế kỷ XVII-XVIII

Thiết chế phi quan phương, tự trị, tự quản của từng địa phương được phân

tích thông qua hương ước như Hương ước Thái Bình của Nguyễn Thanh (NXB Văn hóa dân tộc, H.2000), Hà Nội xưa qua hương ước của Nguyễn Thế Long (NXB Hà Nội, H.2000), Hương ước Hưng Yên (NXB Dân trí, H.2017)

Tác giả Trần Từ, trong công trình Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở

Bắc Bộ dựa trên kết quả nghiên cứu điền dã khảo sát vai trò của cơ cấu tổ chức, các

loại hình tổ chức phi quan phương (ngõ, xóm, họ, giáp, phe, hội, phường) và sự vận hành của các thiết chế phi quan phương trước cách mạng tháng Tám

Tóm lại, cơ cấu tổ chức hành chính quan phương, cũng như các thiết chế phi quan phương trong xã thôn ít nhiều được đề cập, đúc kết, có giá trị tham khảo cao Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu về thể chế tự quản, phi quan phương ở nông thôn châu thổ sông Hồng nêu trên có một điểm hạn chế là nhân tố thời gian chưa được chú trọng Sự phát triển của xã thôn vào từng giai đoạn rất khác nhau nên hương ước vào thời điểm đó sẽ khác với thời điểm trước hoặc sau đó Sự khác nhau này là cơ sở

để việc tái biên, tái lập, bổ sung các điều khoản vào nhiều thời gian khác nhau Ví dụ hương ước xã Mộ Trạch được bổ sung liên tục 17 lần vào các thời điểm 1665, 1679,

1.1.3 Nghiên cứu về chế độ ruộng đất và kinh tế vùng nông thôn châu thổ sông Hồng

Nghiên cứu về chế độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp đạt được nhiều kết quả khả quan gắn với tên tuổi của các nhà nghiên cứu Phan Huy Lê, Trương Hữu Quýnh, Nguyễn Đức Nghinh, Vũ Minh Giang, Nguyễn Quang Ngọc, Vũ Huy Phúc,

Vũ Văn Quân Xã hội Việt Nam truyền thống là xã hội nông nghiệp, lấy sản xuất nông nghiệp là trụ cột kinh tế chính thì nghiên cứu về chế độ ruộng đất có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Ruộng đất là tư liệu sản xuất đặc biệt bởi thông qua đó, các mối

Trang 26

quan hệ xã hội được thể hiện và chi phối lẫn nhau Kiểm soát ruộng đất là cơ chế để nhà nước thi hành các chính sách tô thuế, ràng buộc và bóc lột người nông dân Người nông dân thông qua ruộng đất, sản xuất lương thực để nuôi sống mình và gia đình, đồng thời phải thực hiện các nghĩa vụ đóng thuế với nhà nước Đồng thời quan

hệ ruộng đất là thước đo tương ứng nhất định với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, thước đo trình độ quản lý của chính quyền

Châu thổ sông Hồng là cái nôi của sản xuất nông nghiệp lúa nước, do đó quan

hệ ruộng đất ở trên khu vực này vừa có tính lâu đời, vừa có tính kế thừa và phát triển Tương ứng với từng giai đoạn lịch sử thì chế độ ruộng đất cũng khác nhau Kết quả nghiên cứu về ruộng đất trong thời gian qua đã phác họa bức tranh chung quá trình biến đổi, phát triển của chế độ ruộng đất Tuy nhiên, vào mỗi thời kỳ chính sách về ruộng đất của nhà nước, bước phát triển các loại hình ruộng đất cũng khác nhau Ví

dụ, thời Lý - Trần, bộ phận ruộng đất thuộc sở hữu của nhà chùa rất lớn nhưng theo thời gian thì bộ phận này dần bị thu hẹp Tương tự, sự phát triển của chế độ tư hữu

về ruộng đất luôn diễn ra, nhưng nó thật sự trở nên mạnh mẽ vào thế kỷ XVIII Trong bối cảnh đó, sở hữu tư nhân về ruộng đất đồng thời với sự phát triển của địa chủ, góp phần làm phân hóa xã hội diễn ra nhanh chóng hơn khi một bộ phận địa chủ trở nên giàu có, sở hữu nhiều ruộng đất, đồng thời một bộ phận nông dân bị bần cùng hóa, nghèo đi có xu hướng gia tăng

XVII-Nghiên cứu về chế độ ruộng đất Việt Nam thế kỷ XVII-XVIII đáng chú ý là các nghiên cứu của Nguyễn Đức Nghinh, Trương Hữu Quýnh Trong thời gian từ năm 1975 đến 1994, Nguyễn Đức Nghinh liên tục công bố về tình hình ruộng đất ở các địa phương Định Công, Thượng Phúc, huyện Từ Liêm, Thụy Anh, Thái Ninh, Quỳnh Côi, Đông Quan vào giữa hai thời điểm cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đức Nghinh cho thấy có sự phân hóa trong sở hữu

tư nhân nhưng rất khác nhau giữa các khu vực, vùng miền thuộc châu thổ sông Hồng Thậm chí, bộ phận chức dịch (gồm sắc mục, xã trưởng, thôn trưởng, khán thủ)

41 làng xã thuộc huyện Từ Liêm không những không phải là địa chủ mà chỉ có mức

sở hữu rất thấp: không có ruộng đất (33,07%), sở hữu dưới 1 mẫu (7,87%) [68,

tr.50] Từ phân tích sở hữu ruộng đất, Trương Hữu Quýnh trong công trình Chế độ

ruộng đất Việt Nam thế kỷ XI - XVIII, NXB KHXH, Hà Nội, tập 2: Từ thế kỷ XVI đến XVIII (1983), khẳng định quá trình chuyển biến của giai cấp địa chủ, nông dân đã

diễn ra rất mạnh mẽ

Kết quả nghiên cứu kết cấu kinh tế của loại hình làng buôn xuất hiện ở đồng bằng Bắc Bộ từ thế kỷ XVIII của Nguyễn Quang Ngọc, Phan Đại Doãn cho thấy sự chuyển biến trong cơ cấu kinh tế của làng buôn Đó là sự suy giảm vai trò của kinh tế nông nghiệp Thương nghiệp vươn lên thành thành phần kinh tế chính, chủ đạo [69, tr.38-43; 70, tr.26-32] Kết quả nghiên cứu về làng nghề thủ công nghiệp tiêu biểu ở

Trang 27

đồng bằng Bắc Bộ như làng gốm Bát Tràng, làng đúc đồng Đại Bái của Đỗ Thị Hảo cũng khẳng định trong từng thời điểm, thủ công nghiệp đã mang lại những giá trị kinh tế cao hơn so với sản xuất nông nghiệp [32, 33]

Nghiên cứu về kinh tế cũng đạt được nhiều kết quả với sự phân hóa cao về thủ công nghiệp, nội thương và ngoại thương Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu

như: Sơ thảo lịch sử phát triển thủ công nghiệp Việt Nam của Phan Gia Bền (NXB Văn Sử Địa, Hà Nội, 1957); Thăng Long - Hà Nội thế kỷ XVII, XVIII, XIX (Hội Sử học Việt Nam xuất bản, H.1993); Kinh tế- xã hội đô thị Thăng Long-Hà Nội thế kỷ

XVII-XVIII-XIX của Nguyễn Thừa Hỷ (Nxb Hà Nội, H.2010); Đô thị cổ Hội An (Kỷ

yếu hội thảo quốc tế, Nxb KHXH, H.1991), Phố Hiến (Kỷ yếu hội thảo quốc tế, Hưng Yên, 1994); Tableau économique du Viet Nam aux XVII et XVIII sièdes, Paris,

1970 (bản dịch, Nxb Tri thức, H.2013) của Nguyễn Thanh Nhã; Thương mại thế giới

và hội nhập của Việt Nam thế kỷ XVI-XVIII (Nxb ĐHQGHN, H.2016) của Hoàng

Anh Tuấn, Hệ thống cảng thị trên sông Đàng Ngoài - Lịch sử ngoại thương Việt

Nam thế kỷ XVII-XVIII (NXB ĐHQGHN, H.2016) của Đỗ Thị Thùy Lan Các công

trình trên trình bày những yếu tố nội sinh của nền kinh tế Việt Nam với lúa gạo và các sản phẩm thủ công nghiệp trở thành hàng hóa, là nguồn thu quan trọng của nhà nước, đặc biệt là vai trò của vùng Bắc Bộ Thành tựu nghiên cứu khẳng định sự phát triển của thủ công nghiệp, đặc biệt là thương nghiệp Đàng Ngoài thế kỷ XVII-XVIII Các làng nghề thủ công như dệt, gốm sứ ở khu vực châu thổ sông Hồng rất phát triển Nhu cầu hàng hóa xuất khẩu là nhân tố kích thích sự phát triển của các làng nghề thủ công, dẫn tới quá trình chuyên môn hóa các làng nghề, làm gia tăng đội ngũ thợ thủ công với trình độ tay nghề cao Tầng lớp thương nhân cũng lớn mạnh cùng với quá trình mở rộng thị trường, hình thành các luồng tuyến buôn bán liên vùng

1.1.4 Nghiên cứu về chuyển biến xã hội vùng nông thôn châu thổ sông Hồng

Nghiên cứu về chuyển biến cơ cấu xã hội có vai trò và ý nghĩa quan trọng bởi

nó liên quan đến sự phát triển của xã hội Trong lịch sử, có những cơ cấu xã hội vào từng thời điểm giữ vị trí chi phối, và có những sự phát triển của một giai cấp nhất định dẫn đến sự thay đổi toàn cục của sự phát triển Sự chi phối của các tầng lớp tác động đến thái độ, chính sách của người cầm quyền, nhiều khi tác động đến cả thể chế chính trị, mô hình nhà nước Thời Lý - Trần tầng lớp trí thức Phật giáo giữ vai trò lớn nên mô hình nhà nước thời Lý - Trần là quân chủ thân dân Dân chúng sùng mộ đạo Phật Thời Lê sơ, trí thức Nho giáo được trọng dụng giữ vai trò trọng yếu, đề cao mô hình quân chủ chuyên chế, các giáo lý Nho giáo được phổ cập đến người dân, đến làng

xã nên chữ trung, hiếu được đề cao Khác với chuyển biến kinh tế, chuyển biến cơ cấu xã hội thường diễn ra chậm hơn nhưng có ý nghĩa quan trọng đến sự phát triển

Dù có ý nghĩa quan trọng nhưng nghiên cứu chuyển biến xã hội, chuyển biến các giai tầng, giai cấp là vấn đề khó Các nghiên cứu thường tập trung vào chuyển

Trang 28

biến cơ cấu xã hội thời hiện đại bởi thời gian nghiên cứu mới diễn ra, không quá xa thời điểm nghiên cứu, cơ cấu xã hội trong xã hội hiện đại tương đối rõ nét

Nghiên cứu về chuyển biến xã hội trong lịch sử, các nghiên cứu tập trung vào một lát cắt của xã hội là cơ cấu xã hội, cụ thể như tầng lớp quan chức, nho sĩ, tầng lớp thợ thủ công, tầng lớp thương nhân Nghiên cứu về tầng lớp quan chức thường lồng ghép với giới nho sĩ bởi sự hoán chuyển vị trí của hai bộ phận cư dân này Có

thể kể đến bài viết Về nhân cách người nho sĩ - quan liêu thời Lê - Trịnh (Kỷ yếu Việt Nam học lần 3, T.1, NXB ĐHQGHN, Hà Nội, 2008), Về nghề làm quan trong

xã hội Thăng Long - Hà Nội xưa (Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 102, 1992) của

Nguyễn Thừa Hỷ phân tích mối quan hệ giữa nho sĩ và quan chức Tác giả cho rằng đẳng cấp quan liêu được coi là ưu tú trong xã hội nhưng bị thoái hóa trở thành tầng lớp ăn bám, thống trị và bóc lột Nghiên cứu về tổ chức bộ máy hành chính và luật

pháp, đáng chú ý là tác giả Đặng Phương Nghi với công trình Les institutions

publiques du Vietnam au XVIII è siècle (Paris, 1969) nghiên cứu về tổ chức hành

chính công của Việt Nam trong thế kỷ XVIII, chủ thể là tổ chức chính quyền trung ương và địa phương Insun Yu nghiên cứu về hệ thống pháp luật, cơ cấu tổ chức của

gia đình, làng, nước trong công trình Law and Society in Seventeenth and Eighteenth

Century Vietnam (Asia research center, Korea University, 1990, bản dịch tiếng Việt: Luật và xã hội Việt Nam thế kỷ XVII - XVIII, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1994)

Nghiên cứu của Insun Yu đề cập tác động của hệ thống pháp luật đến cấu trúc gia đình, của làng xã Việt Nam thời Lê, đồng thời phân tích sự chuyển biến của nhà nước, từ kiểm soát chặt chẽ vào thời kỳ đầu của vương triều Lê và mất kiểm soát vào giai đoạn cuối (thế kỷ XVIII); sự liên tục của các giá trị truyền thống riêng có của

dân tộc Việt Nam như sự tôn trọng đối với phụ nữ Công trình Luật và xã hội Việt

Nam thế kỷ XVII - XVIII làm rõ những đặc điểm của xã hội Việt Nam truyền thống

trong mối ảnh hưởng và tác động qua lại với nhà nước và pháp luật Việt Nam Bài

viết Cấu trúc của làng xã Việt Nam ở đồng bằng Bắc Bộ và mối quan hệ của nó với

nhà nước thời Lê được Insun Yu công bố năm 2000 (NCLS, số 3 (310), V-VI/2000,

tr.22-35, Số 4 (311), VII-VIII/2000, tr.69-78) cũng gợi mở nhiều ý tưởng

Đáng chú ý nhất là nghiên cứu của Keith W.Taylor về vai trò của giới nho sĩ

(The literati) châu thổ sông Hồng vào nửa sau thế kỷ XVII trong bài viết The literati

Revival in Seventeenth-century Vietnam, Journal of Southeast Asian Studies, Vol

XVIII, No.1, March, 1987 K.W.Taylor cho rằng sự gia nhập của giới nho sĩ, đặc biệt

là nho sĩ đỗ đạt vào bộ máy chính quyền cấp trung ương đã xác lập xu hướng phát triển của đất nước là củng cố chính quyền và chú trọng đến kinh tế nông nghiệp K.W.Taylor coi việc giới nho sĩ có nguồn gốc xuất thân từ đồng bằng Bắc Bộ có lợi ích kép khi họ tham gia và nắm giữ các chức vụ quan trọng trong chính quyền Mục đích kép đó là giới nho sĩ quan liêu “muốn thiết lập sự kiểm soát mạnh của chính

Trang 29

quyền và đảm bảo vị trí của mình trong xã hội… Cả hai mục đích đều được phục vụ bằng cách tăng cường sự kiểm soát của bộ máy quan liêu về đất đai, dân số với sự can thiệp sâu vào nội bộ làng xã, giảm dần quyền tự chủ của các làng” [133, tr.2]

Công trình A history of the Vietnamese (Cambridge University Press, New York,

2013) của K.W.Taylor đề cập đến tiến trình lịch sử Việt Nam từ khởi thủy đến hiện đại Giai đoạn thế kỷ XVVI-XVIII được K.W.Taylor phân tích trong 2 chương 6: Chiến tranh 50 năm (tr.258-318) với các nội dung: tình hình Đàng Trong, Đàng Ngoài; huy động lực lượng cho chiến tranh của Đàng Trong, Đàng Ngoài, Thiên chúa giáo và thương mại Chương 7: Phân chia Đàng Trong, Đàng Ngoài (tr.319-364) trình bày vai trò của chúa Nguyễn Phúc Khoát với Đàng Trong; Trịnh Cương, Trịnh Giang và Trịnh Doanh ở Đàng Ngoài Những vấn đề nổi bật của Đàng Ngoài như cải cách của Trịnh Cương, Trịnh Giang và việc cải tổ chính quyền, Trịnh Doanh

và thời kỳ nổi dậy của nhân dân [134, tr.258-364]

Liên quan trực tiếp đến Luận án, đáng chú ý là công trình Xã hội Việt Nam từ

sơ sử đến cận đại của Lương Đức Thiệp phân tích xã hội Việt Nam trên các nội dung

Kinh tế sinh hoạt, Chính trị xã xã hội tổ chức, Xã hội sinh hoạt, Trí thức sinh hoạt [97b] Tuy nhiên, công trình mới chỉ trình bày sơ lược các nội dung của xã hội Việt Nam trước thế kỷ XIX

Công trình Cơ cấu xã hội trong quá trình phát triển của lịch sử Việt Nam do

Nguyễn Quang Ngọc chủ biên, bằng việc khảo cứu cơ cấu xã hội trong lịch sử đã khái quát đặc trưng của cơ cấu xã hội Việt Nam là “Quá trình biến đổi của cơ cấu xã hội Việt Nam luôn diễn ra một cách không bình thường”, “Cơ cấu xã hội Việt Nam chuyển đổi chậm, ranh giới giữa các giai cấp, đẳng cấp không thật rõ ràng, phân hóa

xã hội không thật triệt để” [72] Chương III: Cơ cấu xã hội Việt Nam từ thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XIX của Vũ Văn Quân phân tích cơ cấu xã hội trên bình diện cơ cấu

xã hội khu vực (nông thôn - thành thị), cơ cấu các giai tầng xã hội (giai cấp, đẳng cấp) Dựa trên phân tích các mới quan hệ kinh tế - giai cấp, cơ cấu mối quan hệ đẳng cấp, cấu trúc thứ bậc nghề nghiệp sĩ - nông - công - thương, cơ cấu xã hội thành thị , Vũ Văn Quân nhận xét rằng “cho đến giữa thế kỷ XIX, nông thôn vẫn là khu vực kinh tế - xã hội bao trùm và địa chủ - nông dân vẫn là hai giai cấp trung tâm của

xã hội Việt Nam”, “trong lúc quan hệ giai cấp không phát triển mạnh thì quan hệ đẳng cấp lại trở nên nổi bật”, “Cấu trúc các quan hệ giai cấp và đẳng cấp ở Việt Nam

là cấu trúc lỏng”, “Tính chất không thật rành mạch trong quan hệ giai cấp - đẳng cấp

là đặc điểm nổi bật của cơ cấu xã hội Việt Nam thời kỳ này” Kết quả nghiên cứu của công trình góp phần gợi mở quan trọng cho tác giả luận án

Nhìn chung, các nghiên cứu về chuyển biến xã hội đã công bố thường tập trung giải quyết vấn đề cơ cấu xã hội, cơ cấu giai cấp Mối quan hệ, chuyển biến trong các thiết chế xã hội, trong cấu trúc nghề nghiệp, sự thay đổi thân phận, vị trí

Trang 30

của từng giai cấp, từng thiết chế chưa được quan tâm nghiên cứu một cách thỏa đáng Đặc biệt, trong 2 thế kỷ XVII-XVIII, các thiết chế xã hội khu vực châu thổ sông Hồng, bao gồm quan phương và phi quan phương, khu vực nông thôn và thành thị,

sự phân hóa, chuyển biến trong các giai cấp, trong nội bộ từng giai cấp cụ thể diễn ra mạnh mẽ Nếu yếu tố thợ thủ công, thương nhân các giai đoạn trước tương đối mờ nhạt thì đến thời điểm này, sự lớn mạnh của thợ thủ công, của thương nhân với sự phát triển của phường nghề, phường buôn, làng nghề, làng buôn là hiện tượng nổi bật, khiến nhà nước phải thực thi các chính sách nhiều khi rất mâu thuẫn: khi khuyến khích, lúc hạn chế Giai cấp nông dân - vốn là bộ phận giữ vai trò chủ đạo của Việt Nam thời phong kiến thì đến thế kỷ XVII-XVIII từng bước bị bần cùng hóa, phải xiêu tán hoặc nổi dậy khởi nghĩa Không chỉ đời sống của người nông dân bị bần cùng hóa mà thương nhân, thợ thủ công cũng bị chèn ép, cấm đoán từ nhà nước

Hiện tượng nổi bật của lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XVIII là nạn xiêu tán và khởi nghĩa nông dân Các nghiên cứu về các cuộc khởi nghĩa đã giải quyết được vấn

đề thời gian, địa bàn, lực lượng lãnh đạo, lực lượng tham gia Căn nguyên sâu xa, cắt nghĩa nạn xiêu tán và khởi nghĩa nông dân diễn ra rộng rãi ở khắp mọi nơi, từ miền núi đến đồng bằng là từ sự chuyển biến mạnh mẽ trong cấu trúc xã hội, trong chuyển biến cơ cấu dân cư chưa được quan tâm đúng mức Mức độ xiêu tán, phản kháng ở khu vực nông thôn châu thổ sông Hồng trở thành mạnh mẽ, làm rung chuyển toàn bộ Đàng Ngoài, làm lung lay tận gốc và sụp đổ không cứu vãn được của

mô hình vua Lê - chúa Trịnh1 Không ai có thể phủ định sức mạnh to lớn của các cuộc khởi nghĩa với những tác động, ảnh hưởng nặng nề với chính quyền Lê - Trịnh

và xã hội Đại Việt, phản ánh biến động xã hội lớn ở Đàng Ngoài thời kỳ này Lực lượng dẫn dắt các cuộc khởi nghĩa là Nho sĩ (Nguyễn Hữu Cầu, Vũ Đình Dung, Nguyễn Danh Phương ) hoặc quý tộc tôn thất (như Lê Duy Mật ) Hiện tượng các cuộc khởi nghĩa liên tục diễn ra trong một thời gian dài, phản ánh sự bất bình của nông dân, Nho sĩ, quý tộc đối với xã hội còn phản ánh một xu hướng chuyển biến xã hội quan trọng trong nửa đầu thế kỷ XVIII cần được nghiên cứu sâu hơn, cắt nghĩa

và lý giải từ sự chuyển biến xã hội ở Đàng Ngoài

Kết quả nghiên cứu về thế kỷ XVII-XVIII đạt được những bước tiến lớn trong nghiên cứu và nhận thức, là cơ sở cho những nhận định quan trọng về giai đoạn này trong lịch sử Việt Nam Từng lĩnh vực cụ thể của xã hội Đại Việt được nghiên cứu,

1 Tần suất các cuộc khởi nghĩa diễn ra liên tục trong một không gian rộng lớn Riêng vùng đồng bằng Bắc Bộ,

từ năm 1737 đến năm 1751 có 20 cuộc khởi nghĩa với quy mô và phạm vi tác động khác nhau như khởi nghĩa Nguyễn Dương Hưng ở Tam Đảo (năm 1737), Nguyễn Tuyển - Nguyễn Cừ ở Chí Linh (1740-1741), Vũ Trác Oánh ở Thanh Miện, Hải Dương, Vũ Đình Dung ở Sơn Nam (1740) Bởi thế, nghiên cứu phong trào khởi nghĩa trong 2 thế kỷ XVII-XVIII, đặc biệt là thế kỷ XVIII đạt được một số kết quả Tuy nhiên, theo thống kê của chúng tôi, nghiên cứu về vấn đề này chủ yếu là các nghiên cứu đơn lẻ bằng các luận văn khoa học, chưa có công trình chuyên khảo chuyên sâu về vấn đề này

Trang 31

đánh giá và đạt được một số nhận thức chung cơ bản, quan trọng: đây là thời kỳ Đại Việt có xu hướng phát triển mạnh mẽ nhưng bắt đầu tiềm ẩn nguy cơ khủng hoảng Trong những nghiên cứu đó, nghiên cứu về chuyển biến xã hội ít nhiều được đề cập nhưng chưa trở thành trọng tâm nghiên cứu, chưa thực sự thu hút được sự quan tâm

của nhiều nhà khoa học

Ngoài các công trình thông sử, những công trình nghiên cứu chuyên sâu như sách chuyên khảo, bài nghiên cứu được công bố về thế kỷ XVII-XVIII và khu vực

đồng bằng châu thổ sông Hồng, thì một số luận án tiến sĩ, đáng chú ý là Cải cách

hành chính của Trịnh Cương đầu thế kỷ XVIII (Luận án tiến sĩ lịch sử, Viện Sử học,

Hà Nội, 2000) của Nguyễn Đức Nhuệ trình bày cải cách Trịnh Cương trên 2 phương diện: hành chính và kinh tế - tài chính cũng như những tác động của nó đến lịch sử

Việt Nam thế kỷ XVIII Luận án Nghiên cứu văn bia hậu thần Việt Nam (thế kỷ

XVII-XVIII) (Luận án tiến sĩ Hán Nôm, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội, 2015)

của Trần Thị Thu Hường nghiên cứu đặc điểm văn bản văn bia Hậu thần Việt Nam thế kỷ XVII - XVIII, những nội dung chính được phản ánh qua văn bia hậu thần như: Tín ngưỡng thờ thần và hậu thần, tục bầu hậu và lý do bầu hậu, đối tượng, nghi lễ đối đối với hậu thần khi còn sống cũng như khi qua đời, một số vấn đề về kinh tế, xã hội

của các địa phương trong nước thế kỷ XVII - XVIII qua văn bia hậu Luận án Thủ

công nghiệp và thương nghiệp Đàng Ngoài thế kỷ XVII-XVIII (Luận án Tiến sĩ Sử

học, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội, 2018) của Lê Thùy Linh phân tích sự phát triển và tác động của thủ công nghiệp, thương nghiệp đến kinh tế Đàng Ngoài Đóng góp của các luận án trên là phân tích các nhân tố tác động đến sự phát triển và chuyển biến của kinh tế Đàng Ngoài thế kỷ XVII-XVIII

Số lượng các công trình nghiên cứu về thế kỷ XVII-XVIII với nội dung nghiên cứu đa dạng, phong phú là minh chứng cho tính hấp dẫn của thời kỳ này Đây

là những công trình nghiên cứu có giá trị, gợi mở cho đề tài Nhìn lại các nghiên cứu

đi trước, bên cạnh những thành tựu đạt được, có thể nêu lên một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu và làm rõ như sau:

Thứ nhất, chuyển biến của xã hội Đại Việt thế kỷ XVII-XVIII phải được đặt trong bối cảnh lịch sử Những vấn đề lịch sử nổi bật của Đàng Ngoài thế kỷ XVII-XVIII như cuộc nội chiến Trịnh - Mạc, Trịnh - Nguyễn, các chính sách của nhà nước

về thuế, lính để huy động cho chiến tranh, cho nhu cầu tiêu dùng của chính quyền ảnh hưởng như thế nào đến người dân, đến vùng nông thôn châu thổ sông Hồng… Phân tích bối cảnh lịch sử để thấy rằng sự chuyển biến xã hội là tổng hợp của các nhân tố, của điều kiện khách quan và chủ quan của lịch sử Việt Nam…

Thứ hai, đặt bối cảnh làng xã ở khu vực nông thôn trong hai thế kỷ XVIII chuyển biến dưới tác động của chính quyền thì phản ứng của cộng đồng làng

Trang 32

XVII-xã diễn ra như thế nào? Sự chuyển biến nội tại trong cộng đồng XVII-xã thôn diễn ra như thế nào để đối phó với nhà nước, đảm bảo các yêu cầu của làng xã?

Thứ ba, các thiết chế xã hội (quan phương và phi quan phương) dẫn đến mối quan hệ giữa nhà nước và làng xã ngày càng có xu hướng đối kháng nhau Làng xã từng bước thoát khỏi quỹ đạo kiểm soát của nhà nước Việc nhà nước sử dụng các biện pháp mạnh áp đặt vào khu vực nông thôn nhưng không kiểm soát được, kết quả

là nông thôn “ly tâm” khỏi lực hút của nhà nước thì lại rơi vào vòng khủng hoảng mới với sự trỗi dậy và chi phối của cường hào, khiến nông thôn khu vực châu thổ sông Hồng rơi vào bế tắc, khủng hoảng Vấn đề này cần nghiên cứu thấu đáo để chỉ

ra mối liên kết của chuyển biến xã hội với khủng hoảng của khu vực nông thôn, đồng thời cắt nghĩa, lý giải sự khủng hoảng của chính quyền nhà nước Lê - Trịnh

Thứ tư, sự chuyển biến của các giai tầng xã hội diễn ra như thế nào? Giới sĩ phu trí thức, quan chức vốn luôn chỉ có một mô hình quyền lực, một mô hình chính quyền để phụng sự thì đến thế kỷ XVII-XVIII, với quá nhiều lực lượng chính trị, nhiều thể chế chính trị… thì lựa chọn và hành xử của họ là như thế nào phải được đặt

ra và phân tích cụ thể Sự phân hóa trong giới trí thức tinh hoa, quan chức sẽ càng rõ ràng hơn trong bối cảnh cuối thế kỷ XVIII với các lực lượng vua Lê, chúa Trịnh, Tây Sơn…Sự phát triển mạnh mẽ của thợ thủ công và thương nhân, sự phân hóa trong tầng lớp địa chủ - nông dân cũng như sự thối nát của bộ máy hành chính đẩy xã hội rơi vào khủng hoảng sâu sắc và toàn diện Những chuyển biến xã hội có tác động như thế nào đến sự phát triển của lịch sử Việt Nam?

1.2 Địa bàn nghiên cứu

1.2.1 Điều kiện tự nhiên

Châu thổ sông Hồng là một vùng đất rộng lớn gồm 10 tỉnh và thành phố: Vĩnh Phúc, Hà Nội, Bắc Ninh, Hà Nam, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình Tính đến ngày 31-12-2014, đồng bằng sông Hồng có diện tích 14.966,73km2, dân số là 19.979.298 người, bao gồm 116 thành phố (trực thuộc tỉnh)/quận/huyện với 372 phường, 109 thị xã/thị trấn, 1.801 xã1

Ngược dòng lịch sử hàng nghìn năm về trước, châu thổ sông Hồng được tạo thành bởi hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình Các nhà địa lý học cho biết, sông Hồng được hình thành từ sự đứt gẫy về địa chất (gọi là đứt gẫy sông Hồng) tạo thành một vũng địa võng hình tam giác với hai rìa là khối núi Tam Đảo - Nham Biền và khối núi Tản Viên Quá trình bồi lắng phù sa bởi sông Hồng bóc mòn và xâm thực ở phía thượng nguồn cao nguyên Vân Nam - Quý Châu (Trung Quốc) tạo thành một vùng đồng bằng màu mỡ, mà ngày nay chúng ta gọi là châu thổ sông Hồng hoặc

1 Tổng hợp theo Niên giám thống kê các tỉnh, thành phố Vĩnh Phúc, Hà Nội, Bắc Ninh, Hà Nam, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình năm 2014, NXB Thống kê, Hà Nội, 2015

Trang 33

đồng bằng Bắc Bộ/tam giác châu thổ sông Hồng Trên bản đồ, châu thổ sông Hồng

có hình một tam giác cân, mỗi cạnh dài chừng 180km, đáy là bờ biển Quảng Ninh - Hải Phòng - Thái Bình - Nam Định - Ninh Bình dài khoảng 150km Ba đỉnh của tam giác - tương ứng với 3 quá trình thành tạo của châu thổ sông Hồng Thượng châu thổ với đỉnh của các triền sông là Việt Trì - nơi khởi nguồn của nhà nước Văn Lang trong lịch sử Trung châu thổ với đỉnh là khu vực Cổ Loa - kinh đô của nước Âu Lạc thời An Dương Vương với 3 vòng thành đất sớm nhất trong lịch sử mà sự hiện diện của nó vẫn còn đến ngày hôm nay Khảo cổ học cũng đã phát hiện ra đoạn đê sông ở đây Hạ châu thổ với đỉnh là khu vực phố Hiến - Hưng Yên

Hình 1.1: Bản đồ vùng châu thổ sông Hồng - tứ trấn thế kỷ XVII-XVIII

(Nguồn: internet)

Châu thổ sông Hồng, như nghiên cứu của các nhà địa lý gồm hai phần: phần nổi lên trên mặt nước và phần chìm - gọi là “tiền châu thổ” Trên cơ sở của phần chìm mà phù sa sông tiếp tục bồi dần ra phía biển mà ví dụ tiêu biểu là mạn bờ biển Ninh Bình mỗi năm phù sa bồi lắng ở cửa biển gần 100m Đó là cơ sở để người Việt khai hoang, quai đê lấn biển mở rộng diện tích sản xuất Hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình gồm nhiều nhánh sông, càng tiến ra biển thì càng tỏa thành nhiều nhánh nhỏ hơn, trải ra khắp vùng đồng bằng Bắc Bộ [96, tr.112, 113] như hình nan

Trang 34

quạt Dòng sông Hồng với lưu lượng 122 tỉ m3/năm, nên hàng năm có đưa đất bồi ra biển khoảng 40m Pierre Gourou xác định dòng chảy sông Hồng đổ ra biển qua các sông Trà Lý, sông Hồng, sông Lạch Giang, sông Đáy giữ vai trò chủ đạo của quá trình mở rộng đồng bằng ra biển [31, tr.45] Đồng bằng châu thổ sông Hồng liên tục

mở rộng và phát triển

Chịu ảnh hưởng của chế độ gió mùa nên thủy văn của hệ thống sông ngòi ở miền Bắc cũng có sự thay đổi rõ rệt theo hai mùa khô và lũ Lũ sông Hồng thường lên nhanh và rút chậm, vào mùa lũ chiếm 75% tổng lượng nước cả năm, riêng tháng đỉnh lũ (tháng 8) lượng nước chiếm 21% Tính chất thất thường của lũ lụt tương ứng với tính thất thường của gió mùa ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống và sản xuất của người dân Để chế ngự và khai thác châu thổ sông Hồng, đắp đê ngăn lũ là cách thức người Việt lựa chọn để chống chọi với tính thất thường, hung dữ của các dòng sông

“Lũ lụt thì lút cả làng” nên đắp đê, bảo dưỡng, duy tu đê điều là việc lớn, quan trọng không chỉ của chính quyền mà còn là nhiệm vụ trọng yếu của từng làng xã, từng cộng đồng cư dân Hương lệ xã La Nội, Ỷ La (1752) quy định “các đoạn đê điều của hai xã do viên cán đương được bầu ở mỗi xã để trông nom hàng năm” [100, tr.192] Nhà nước quy định đê thuộc địa phận xã thôn nào thì nơi đó có trách nhiệm bồi trúc, canh phòng hàng năm, chi phí do người dân sở tại lo liệu Thôn Cự, xã Vũ Dương, huyện Quế Dương phải đắp một đoạn đường đê ngăn nước lũ, chi phí nhiều nên phải kêu gọi sự đóng góp của mọi người trong thôn [Hậu phật bi ký, 5048, Cảnh Hưng 45 (1784)] Sông Hồng hàng năm chuyên chở khoảng 100 triệu tấn phù sa màu mỡ nên quá trình đắp đê, khai thác đồng bằng, tác động của thiên nhiên làm tăng hoặc giảm

độ màu mỡ của đất Càng ra gần biển, càng có nhiều đất chua mặn, thích hợp với việc trồng cói và các loại cây chịu mặn Đất phù sa không được bồi đắp hàng năm (đất trong đê) thích hợp với việc trồng lúa Đất phù sa được bồi hàng năm (đất ngoài

đê, còn gọi là đất bãi) phù hợp với việc trồng cây hoa màu, khoai, đậu, dâu tằm Nguồn lợi đất bãi mang lại cho người dân sở tại một diện tích canh tác đáng kể, đồng thời cũng là nguồn thu của nhà nước Xã Dương Liễu, huyện Đan Phượng có khu bãi bồi bên ngoài đê được chia khẩu phần theo thứ hạng để trồng dâu, thầu dầu, khoai,

đỗ, mía, cà chua, vừng [100, tr.153, 160] Từ năm 1670, thuế đất bãi dâu theo hạng

1, 2, 3 dao động từ 1 quan 6 tiền đến 2 quan 1 tiền/mẫu Năm 1728, thuế 1 mẫu đất bãi trồng dâu là 1 quan 2 tiền, đất bãi trồng khoai đậu là 6 tiền

Châu thổ sông Hồng là không gian sinh tồn từ ngàn đời nay của người Việt Với độ màu mỡ của phù sa, nơi đây là cái nôi của nền nông nghiệp lúa nước rất phát triển Cư dân Việt cổ từng bước khai phá vùng đồng bằng màu mỡ, xây dựng thành một khu vực trù phú, giàu có Abbé Richard xác nhận “những trấn nơi dân cư tập trung đông đúc chính là những nơi trồng trọt tốt nhất và màu mỡ nhất, đặc biệt là ở vùng đồng bằng”, “Đàng Ngoài là xứ nổi tiếng đông dân số nhất, đặc biệt là ở

Trang 35

trong bốn trấn tiếp giáp với kinh thành” [41, tr.279, 289] Với một khu vực dân cư đông đúc, nền kinh tế nông nghiệp là chính yếu, châu thổ sông Hồng trở thành trung tâm kinh tế, chính trị và văn hóa của cả nước Từ rất sớm, trên địa bàn châu thổ sông Hồng, nhiều trung tâm chính trị lần lượt xuất hiện kế tiếp nhau Có thể kể đến Phong Châu (Việt Trì, Phú Thọ), Cổ Loa (Hà Nội), Luy Lâu (Bắc Ninh), Hoa Lư (Ninh Bình), Long Biên, Tống Bình, Đại La, Thăng Long, Hà Nội… Những trung tâm chính trị đó chỉ hình thành trên một khu vực có điều kiện tự nhiên thuận lợi, cư dân đông đúc, kinh tế, xã hội phát triển Ở một mức độ nào đó, châu thổ sông Hồng là trung tâm văn minh, văn hóa, chính trị, kinh tế… Năm 1009, với quyết định dời đô từ vùng Hoa Lư (Ninh Bình) hiểm yếu xuống Đại La - Thăng Long phản ánh bước trưởng thành vượt bậc của dân tộc Trong nhiều thế kỷ, Thăng Long là trung tâm của trung tâm, là cực hút các nguồn lực từ khắp bốn phương tụ hội, và từ Thăng Long lan tỏa ngược trở lại tứ trấn, lại các vùng miền khác Người Việt không chỉ khai thác mà còn làm chủ, lấy châu thổ sông Hồng làm địa bàn chiến lược Châu thổ sông Hồng trở thành nguồn lực lớn nhất của cả nước, cung cấp nhân tài vật lực cho sự phát triển của dân tộc và quốc gia Việt Nam

Châu thổ sông Hồng là xuất phát điểm của các cuộc di cư lớn đi khai phá các vùng đất mới, đặc biệt là vùng đất phía Nam của đồng bằng Các cuộc di cư đó, dù tự phát hay do nhà nước tổ chức thì nó luôn diễn ra liên tục, bền bỉ Quá trình lâu dài đó khắc họa nên một diện mạo đất nước Việt Nam như hiện nay Khai hoang là cách thức người Việt ngày càng tiến sâu xuống khu vực hạ châu thổ Bằng chứng là dấu vết của một hệ thống đê - gọi là đê Hồng Đức được đắp vào năm 1472 ở xã Phù Sa, huyện Nghĩa Hưng năm 1474 [85, tr.43] Khu vực ven biển từ cửa Đại An về cửa Muộn Hải, đối diện với đoạn đê Hồng Đức bên bờ Nam sông Đáy cũng tồn tại một

hệ thống đê Hồng Đức dài gần 25km [43, tr.140] Hệ thống đê này là minh chứng cho quá trình tiến xuống khai hoang, khai thác mở rộng diện tích sản xuất, sinh sống

ở vùng hạ châu thổ Thậm chí, đến thế kỷ XVIII, XIX, quá trình khai hoang lập làng,

mở rộng diện tích sản xuất vẫn tiếp tục diễn ra ở vùng hạ châu thổ Đầu thế kỷ XVIII, xã Lang Thâm, huyện An Dương, phủ Kinh Môn có bãi đất mới bồi đắp ven biển, nhờ công sức khai phá và đắp đê, làm đường của người dân mà năm 1705 bãi bồi đã thành ruộng, đem cấp cho suất đinh mỗi người được 8 sào rưỡi1 Xã Quần Anh, huyện Nam Chân, phủ Thiên Trường nằm ven biển, sình lầy, dân địa phương phải đắp đê khoanh vùng trồng trọt Qua hơn 30 năm cải tạo đã thành ruộng canh tác2 Năm 1773, Trịnh Sâm sai Phó đô ngự sử Nguyễn Khản kiêm làm đồn điền sứ lộ Trường Yên, xem xét địa thế, đắp đê ngăn nước mặn, mộ dân đồn điền, thu thóc đặt kho ở núi Dục Thúy để chứa Nguyễn Khản cho đắp đê ngăn nước mặn từ bờ phía

1 [Thủy lập ngoại đồng bi, 11299-11300, Vĩnh Thịnh (1707)]

2 [Tư điền bi ký/Lưu truyền vĩnh viễn, 5401-02, Cảnh Hưng 27 (1766)]

Trang 36

bắc cửa Kiền Hải huyện Yên Mô đến tổng Bồng Hải huyện Yên Khánh, đặt tên là đê Hồng Lĩnh [14, tr.352, 424], [47, tr.156]1 Đầu thế kỷ XIX, Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ tổ chức thành lập hai huyện Kim Sơn (Ninh Bình), Tiền Hải (Thái Bình), hai tổng Hoành Thu - Ninh Nhất ở ven biển huyện Hải Hậu (Nam Định) Năm 1852, Phạm Văn Nghị - từng giữ chức Đốc học tỉnh Nam Định, đứng ra xin phép triều đình cho anh trai là Phạm Văn Thanh cùng hơn chục sĩ phu văn thân khác chiêu mộ lực lượng tiến hành khai phá vùng đất bồi ven biển huyện Đại An, lập nên tổng Sĩ Lâm Quá trình khai hoang, lập làng kéo dài đến đến đầu thế kỷ XX thì hoàn thành [42, tr.99] Như vậy, châu thổ sông Hồng luôn có xu hướng phát triển ra biển Cư dân châu thổ sông Hồng lấy việc khai hoang, mở rộng diện tích canh tác là cách thức để giải quyết tình trạng thiếu hụt diện tích sản xuất khi dân số gia tăng Quá trình hình thành và phát triển của châu thổ sông Hồng kéo dài hàng nghìn năm, thậm chí hàng vạn năm, là minh chứng cho sự quan trọng của châu thổ sông Hồng đối với cư dân

mà đồng bằng này chuyên chở, nuôi dưỡng

Ngoài điều kiện đất đai màu mỡ, liên tục được mở rộng ra biển thì khí hậu và nhiệt độ là nhân tố có ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp Địa hình Việt Nam trải dài trên 15 vĩ tuyến (từ 8030’ bắc, đến 230 22’ bắc), nằm trong khu vực châu Á gió mùa, năng lượng bức xạ quanh năm dương, đạt trên 75 kcal/cm2/năm, nhiệt độ trung bình từ 220 đến 270C, lượng mưa trung bình gần 2000 mm/năm, bình quân có 0,8-1 km sông hồ trên 1 km2 đất đai

Đất, nước, nhiệt độ, khí hậu Việt Nam thuận lợi cho việc gieo trồng quanh năm Không dừng lại ở mức độ lệ thuộc vào thiên nhiên, người nông dân không ngừng khai thác, tranh thủ những lợi thế của thiên nhiên nhiệt đới để sản xuất

1.2.2 Tổ chức đơn vị hành chính và quản lý

1.2.2.1 Diên cách hành chính

Vùng đất Đàng Ngoài, thế kỷ XVII-XVIII theo mô tả của các giáo sĩ phương Tây “trải rộng như một cái đĩa bằng phẳng có bốn góc”, lớn hơn Đàng Trong gấp 4 lần, bắt đầu ở vĩ tuyến 18 cho tới vĩ tuyến 24, theo như ghi chép của A.de Rhodes [87, tr.63], [88, tr.2] Tổ chức hành chính gồm trấn, mỗi trấn được chia thành nhiều phủ Dưới phủ là huyện (ở đồng bằng) và châu (ở miền núi) Đơn vị hành chính cơ

sở là xã-thôn và các đơn vị tương đương: phường tại các đô thị (chủ yếu ở Thăng Long), sách-trang-động tại khu vực miền núi Số liệu tổng quát các đơn vị hành

chính ghi trong Thiên Nam dư hạ tập trên phạm vi đất liền gồm 1 phủ Trung Đô

(Thăng Long), 13 xứ thừa tuyên (gồm 62 phủ, 188 huyện - 48 châu, 9.0872 xã, 215

1 Đặt tên là đê Hồng Lĩnh để nhớ ơn Nguyễn Khản

2 Trương Hữu Quýnh ước lượng có khoảng 8.000 xã nhưng không cho biết nguồn gốc của con số này [86, tr.19]

Trang 37

thôn, 1825 đơn vị là hương, trại, trang, sách, phường )1 Khu vực nông thôn châu thổ sông Hồng thế kỷ XVII-XVIII gồm phần lớn diện tích 4 trấn là Sơn Nam, Kinh Bắc, Hải Dương, Sơn Tây và phủ Phụng Thiên Đơn vị hành chính tứ trấn như sau:

Phạm vi trấn Hải Dương thế kỷ XVII-XVIII tương đương với tỉnh Hải Dương

và thành phố Hải Phòng hiện nay, huyện Đông Triều nay thuộc tỉnh Quảng Ninh Như vậy, phạm vi trấn Hải Dương nếu tính theo khu vực châu thổ sông Hồng gồm 4 phủ, 17 huyện, 1.275 xã/thôn/phường

1 Đây là số liệu xử lý trực tiếp theo từng đơn vị Số liệu theo ghi chép của Điển chế và pháp luật Việt Nam thời

trung đại (2011), T.1, Thiên Nam dư hạ tập (Tập X), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.313 gồm có phủ Trung

đô, 13 thừa tuyên, 53 phủ, 180 huyện, 50 châu, 3 hương, 83 phường, 1.184 xã, 211 thôn, 602 trang, 456 sách,

481 động, 45 trại, 47 sở, 33 châu (bãi), 30 nguồn, 9 vạn, 3 tuần, 3 trường, 3 giáp, 2 nha, 1 quán, 1 phố Số liệu này khác so với số liệu của tôi Lý do khác nhau là do số liệu cộng của Điển chế nhầm lẫn

Trang 38

Phạm vi trấn Sơn Nam thế kỷ XVII-XVIII gồm 11 phủ, 41 huyện, 2.343 đơn

vị hành chính cấp cơ sở Tháng giêng năm 1723, chúa Trịnh Cương tách hai phủ Trường Yên, Thiên Quan từ trấn Sơn Nam thuộc về trấn Thanh Hoa [82, tr.438] Tháng giêng năm 1741, chúa Trịnh chia Sơn Nam thành Sơn Nam thượng và Sơn Nam hạ [14, tr.176] Sơn Nam thượng tương ứng với phạm vi tỉnh Hưng Yên, Hà Nam và một phần thành phố Hà Nội Sơn Nam Hạ tương ứng với phạm vi tỉnh Thái Bình, Nam Định và một phần tỉnh Ninh Bình Hai phủ Trường Yên, Thiên Quan trấn Thanh Hoa tương ứng với tỉnh Ninh Bình hiện nay

3 Trấn Sơn Tây

Trang 39

Phạm vi trấn Sơn Tây thế kỷ XVII-XVIII gồm 6 phủ 24 huyện, tương ứng với

một phần thành phố Hà Nội hiện nay, tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ Không gian thuộc

châu thổ sông Hồng gồm phủ Quốc Oai (tương ứng với diện tích các huyện Chương

Mỹ, Đan Phượng, Thạch Thất, quận Nam - Bắc Từ Liêm thuộc thành phố Hà Nội

hiện nay) Phủ Tam Đới (trừ huyện Bạch Hạc nay thuộc tỉnh Phú Thọ) tương ứng với

tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay Phủ Quảng Oai tương ứng với khu vực Ba Vì, Phúc Thọ,

Sơn Tây (Hà Nội) Phủ Đoan Hùng, Đà Dương nay thuộc tỉnh Phú Thọ Theo phạm

vi khu vực châu thổ sông Hồng thuộc trấn Sơn Tây là 3 phủ Quốc Oai, Quảng Oai,

Tam Đới (trừ huyện Bạch Hạc) với 12 huyện, 699 xã/thôn/phường

Trang 40

Trấn Kinh Bắc gồm 4 phủ, 20 huyện, 1.134 xã thôn phường Tính theo không

gian châu thổ sông Hồng chỉ gồm 3 phủ Thuận An, Từ Sơn, Bắc Hà (trừ 2 huyện

Hiệp Hòa, Việt Yên), tương ứng với tỉnh Bắc Ninh, huyện Đông Anh, Mê Linh, Gia

Lâm và quận Long Biên (thuộc thành phố Hà Nội), một phần thuộc tỉnh Vĩnh Phúc

hiện nay với 12 huyện, 691 xã/thôn/phường

5 Phủ Phụng Thiên

Phủ Phụng Thiên là đơn vị hành chính đặc biệt - kinh đô, gồm 2 huyện Vĩnh

Xương và Quảng Đức, mỗi huyện có 18 phường Phủ Phụng Thiên nay là các quận

Hoàn Kiếm, Ba Đình, Tây Hồ, Hai Bà Trưng, Đống Đa, thành phố Hà Nội

Kết quả thống kê số lượng đơn vị hành chính các cấp (phủ, huyện,

xã/thôn/phường) có khác biệt ít nhiều, cụ thể như sau:

Theo Hồng Đức bản đồ, vùng châu thổ sông Hồng có 22 phủ, 83 huyện, 5.132

xã/thôn/phường [37a, 8-33] Cả nước có 8.820 xã, 201 thôn, 442 động, 451 sách, 314

trang [131, tr.192]

Thống kê theo Thiên Nam dư hạ tập có 22 phủ, gồm 84 huyện, 5.155

xã/thôn/phường Cả nước gồm 11.140 đơn vị xã/thôn/phường, trong đó Đàng Ngoài là

10.268 đơn vị xã/thôn/phường, Đàng Trong có 872 đơn vị xã/thôn/phường A.Richard

đến Đàng Ngoài khoảng giữa thế kỷ XVIII ước lượng có “9000 thôn xóm, được gọi

tên là xã, và 3.000 những đơn vị phụ mà người ta gọi là trại” [96, tr.290]

Thống kê từ Đại Việt địa dư toàn biên vào đầu thế kỷ XIX cho biết tứ trấn

(Sơn Nam, Sơn Tây, Kinh Bắc, Hải Dương) có 5.180 đơn vị hành chính cấp cơ sở,

gồm 32 phường, 4.893 xã, 151 thôn, 111 trang, 21 châu, 4 sách [90, tr.157-160]

Tương tự, số liệu theo Các tổng trấn xã danh bị lãm, khu vực châu thổ sông Hồng có

5.663 xã thôn, phường, trang trại [48, tr.16]

Như vậy, không gian khu vực đồng bằng sông Hồng vào thế kỷ XVII-XVIII

gần tương đương với phạm vi tứ trấn, cụ thể là phạm vi của 22 phủ, 83/84 huyện với

khoảng 5.200 đơn vị cấp cơ sở là xã/thôn/phường, chiếm một nửa tổng số đơn vị hành

Ngày đăng: 07/12/2019, 07:58

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w