Để hiểu rõ được sự ảnh hưởng của sựgắn bó mẹ – con đến quá trình phát triển tâm lý trẻ em và những vấn đề hành vi thìcần quan tâm đến những đặc điểm về sự gắn bó mẹ con, từ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-NGUYỄN THỊ NHUNG
GẮN BÓ MẸ CON VÀ VẤN ĐỀ HÀNH VI CỦA TRẺ:
NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TRẺ
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Trang 2Hà Nội-2019
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-NGUYỄN THỊ NHUNG
GẮN BÓ MẸ CON VÀ VẤN ĐỀ HÀNH VI CỦA TRẺ:
NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TRẺ
Chuyên ngành Tâm lý lâm sàng
Mã số: Thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Trần Thu Hương
Trang 3Hà Nội – 2019
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sư hướng dẫn của PGS.TS Trần Thu Hương Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thưc
Người cam đoan
Nguyễn Thị Nhung
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến PGS.TS Trần Thu Hương - người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thưc hiện luận văn này.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo đang công tác, giảng dạy tại khoa Tâm lí học – Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã giúp đỡ, giảng dạy và cung cấp cho tôi rất nhiều kiến thức trong hai năm học vừa qua.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các bạn bè cùng khoá đã giúp đỡ tôi theo sát ca và cung cấp các thông tin cần thiết cho đề tài, cảm ơn cha mẹ hai trẻ tại Hà Nội đã ủng hộ và giúp đỡ tôi nhiệt tình trong quá trình quan sát.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn sư quan tâm của gia đình, bạn bè và người thân đã ủng hộ, khuyến khích và động viên tôi để bản Luận văn được hoàn thành.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 06 năm 2019
Học viên
Nguyễn Thị Nhung
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 8
1 Lý do chọn đề tài 8
2 Nhiệm vụ nghiên cứu 9
3 Khách thể nghiên cứu 9
4 Phương pháp nghiên cứu 9
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GẮN BÓ MẸ CON 12
VÀ CÁC VẤN ĐỀ HÀNH VI Ở TRẺ 12
1.1 Tổng quan về gắn bó mẹ con và vấn đề hành vi của tre 12
1.1.1 Điểm luận một số nghiên cứu về về gắn bó mẹ con 12
1.1.2 Điểm luận một số nghiên cứu về vấn đề hành vi 17
1.1.3 Các nghiên cứu về đánh giá và can thiệp liên quan đến gắn bó và vấn đề hành vi của trẻ 20
1.2 Một số vấn đề lý luận về gắn bó và vấn đề hành vi ở tre 28
1.2.1 Các khái niệm cơ bản về gắn bó 28
1.2.2 Các khái niệm về vấn đề hành vi ở trẻ 35
1.2.3 Đặc điểm phát triển của trẻ từ giai đoạn 3 đến 6 tuổi 36
1.2.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến gắn bó mẹ con 39
1.3 Các phương pháp đánh giá và can thiệp vấn đề hành vi liên quan đến gắn bó 41 1.3.1 Liệu pháp gia đình tập trung vào cảm xúc 41
1.3.2 Liệu pháp kể chuyện gắn bó: tích hợp các ý tưởng từ lý thuyết kể chuyện và gắn bó trong liệu pháp gia đình có hệ thống với các rối loạn hành vi 42
Chương 2 ĐÁNH GIÁ VÀ CAN THIỆP MỘT TRƯỜNG HỢP VỀ GẮN BÓ MẸ CON Ở TRẺ 44
2.1 Thông tin chung về thân chủ 44
2.1.1 Thông tin hành chính 44
2.1.2 Lý do thăm khám/ lời yêu cầu 45
2.1.3 Hoàn cảnh gặp gỡ 45
2.2 Đánh giá 45
Trang 72.2.1 Mô tả vấn đề 45
2.2.2 Kết quả đánh giá 46
2.2.3 Ấn tượng chung về thân chủ 60
2.3 Các vấn đề đạo đức 60
2.3.1 Đạo đức trong tiếp nhận ca lâm sàng 60
2.3.2 Đạo đức trong việc sử dụng các công cụ đánh giá và thưc hiện quy trình đánh giá 61
2.2.3 Đạo đức trong can thiệp trị liệu 62
2.3.4 Định hình trường hợp 62
2.4 Lập kế hoạch can thiệp 65
2.4.1 Xác định mục tiêu 66
2.4.2 Kế hoạch can thiệp 67
2.5 Thực hiện can thiệp 68
2.5.1 Giai đoạn 1 68
2.5.2 Giai đoạn 2 73
2.6 Đánh giá hiệu quả can thiệp 81
2.6.1 Cách thức đánh giá hiệu quả can thiệp 81
2.6.2 Kết quả đánh giá 81
2.7 Kết thúc ca và theo dõi sau can thiệp 88
2.7.1 Tình trạng hiện thời của thân chủ 88
2.7.2 Kế hoạch theo dõi sau trị liệu 88
2.8 Bàn luận chung 89
2.8.1 Bàn luận về ca lâm sàng đã thưc hiện 89
2.8.2 Tư đánh giá về chất lượng can thiệp trị liệu 90
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
PHỤ LỤC 99
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.3.1 Quá trình định hình chiến lược không an toàn 44Hình 2.3.1: Kết quả trắc nghiệm khuôn hình phức hợp - the Rey B 52Hình 2.3.2 Tranh vẽ gia đình 53
Trang 9DANH MỤC TÊN VIẾT TẮT
VIẾT TẮT CHỮ ĐẦY ĐỦ
NTLNhà tâm lý
TCThân chủ
GVHDGiáo viên hướng dẫn
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Mối liên hệ giữa mẹ và con đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển sứckhỏe, tình cảm của trẻ, đặc biệt là trong thời thơ ấu Thật vậy, người mẹ khôngnhững mang nặng đẻ đau, bảo vệ thai nhi trong suốt thai kỳ, sau đó người mẹ có vaitrò tiếp diễn duy trì sự tồn tại và phát triển của trẻ trong giai đoạn tiếp theo Từ lúctrẻ chào đời, người mẹ với vai trò là người chăm sóc cho trẻ ăn, cho trẻ ngủ, đápứng những nhu cầu cơ bản của trẻ, bao bọc, bế ẵm trẻ, người mẹ như một sợi dâyliên kết giữa trẻ với thế giới và với các mối quan hệ khác Sự gắn bó mẹ - con đượcxem như mối quan hệ xã hội đầu tiên của trẻ, sự gắn bó giữa trẻ và mẹ (người chămsóc) bảo vệ, giúp trẻ sơ sinh điều chỉnh cảm xúc tiêu cực trước những sự kiện, tìnhhuống gây căng thẳng, giúp trẻ tự tin khám phá môi trường ngay cả khi ở đó cóchứa những kích thích đáng sợ Sự gắn bó như một cột mốc phát triển lớn trongcuộc đời của trẻ và là vấn đề quan trọng trong suốt quá trình trưởng thành của mỗingười Ở tuổi trưởng thành, các đặc điểm về sự gắn bó định hình nhân cách, cảmnhận của họ về các căng thẳng, các mối quan hệ thân thiết trong cuộc sống, baogồm cả các mối quan hệ cha mẹ – con cái, quan hệ bạn bè, với bạn đời và cả cách
họ nhìn nhận về bản thân Chính vì vậy, những người hoạt động trong những lĩnhvực liên quan đến trẻ em như bác sĩ tâm thần, nhân viên công tác xã hội, giáo dục, không thể bỏ qua vai trò của sự gắn bó và áp dụng những nguyên tắc, đặc điểm của
sự gắn bó vào quá trình làm việc với đối tượng trẻ em, đặc biệt là trong lĩnh vực tâm
lý lâm sàng và sức khỏe tâm thần nhi khoa Để hiểu rõ được sự ảnh hưởng của sựgắn bó mẹ – con đến quá trình phát triển tâm lý trẻ em và những vấn đề hành vi thìcần quan tâm đến những đặc điểm về sự gắn bó mẹ con, từ đó có thể hiểu rõ nhưngnguyên tắc, các yếu tố gây ảnh hưởng và đưa ra những biện pháp tác động tâm lýphù hợp
Hơn nữa theo số liệu điều tra về gia đình Việt Nam của tổ chức UNICEF chothấy, 20% các ông bố và 7 % các bà mẹ hoàn toàn không dành một chút thời giannào cho chăm sóc con cái do phải kiếm sống Việc bố, mẹ không quan tâm chămsóc, dạy dỗ con cái ảnh hưởng xấu đến sự phát triển về thể chất và tâm lý của trẻ,
Trang 11đặc biệt là với giai đoạn ấu nhi rất cần đến sự quan tâm gắn kết với người mẹ Dovậy việc nghiên cứu đặc điểm mối quan hệ gắn bó mẹ con, các đặc điểm phát triểntâm lý của trẻ và tác động của gắn bó mẹ con đến quá trình phát triển, nguyên nhânxuất hiện những vấn đề hành vi ở trẻ để có thể đưa ra những biện pháp tác động phùhợp, và có cách nhìn nhận toàn diện về vấn đề Với những lý do trên nên tôi quyết
định nghiên cứu đề tài: “Gắn bó mẹ con và vấn đề hành vi của trẻ: nghiên cứu trường hợp trẻ”
2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Điểm luận một số nghiên cứu về gắn bó mẹ con và vấn đề hành vi ở trẻ em
- Trình bày cơ sở lý luận, đánh giá chẩn đoán về gắn bó mẹ con và vấn đềhành vi ở trẻ; thực hiện can thiệp vấn đề hành vi cho trẻ, đánh giá hiệu quả canthiệp, đưa ra kết luận và khuyến nghị phù hợp cho vấn đề hành vi trên cơ sở nghiêncứu và thực hành
3 Khách thể nghiên cứu: 1 trẻ 6 tuổi có vấn đề về hành vi liên quan đến
gắn bó mẹ con và các mối quan hệ gia đình
4 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp phân tích tài liệu
Chúng tôi tiến hành tìm hiểu, thu thập thông tin những tài liệu chuyên ngành,các công trình khoa học có các lý thuyết nghiên cứu về gắn bó mẹ con và vấn đềhành vi của trẻ, mối quan hệ giữa gắn bó mẹ con và vấn đề hành vi của trẻ, sự ảnhhưởng của gắn bó mẹ con đến quá trình phát triển tâm lý của trẻ Từ đó, phân tích,tổng hợp, xây dựng đề cương nghiên cứu, cơ sở lý luận cho đề tài
- Phương pháp hỏi chuyện lâm sàng
Hỏi chuyện lâm sàng hay phỏng vấn lâm sàng được coi là một phương phápchủ đạo, mang tính đặc thù của Tâm lý học lâm sàng Đây là một trong nhữngphương pháp thể hiện sự sáng tạo của nhà tâm lý lâm sàng trong nghiên cứu cũngnhư trong thực hành thăm khám và trị liệu
Hỏi chuyện lâm sàng là một phương pháp thu thập thông tin dựa trên cơ sởcủa mối tương tác nghề nghiệp đặc biệt giữa nhà tâm lý và khách thể nghiên cứunhằm làm rõ các đặc điểm nhân cách, các biểu hiện nhận thức, cảm xúc hành vi
Trang 12cũng như các triệu chứng, các cơ chế tâm lý và cấu trúc rối loạn/ vấn đề của họ đểhỗ trợ việc lập kế hoạch và đưa ra quyết định can thiệp phù hợp
Thông qua hỏi chuyện lâm sàng, nhà nghiên cứu cũng có thể thăm dò cácphản ứng của khách thể nghiên cứu và những người liên quan trong những tìnhhuống nhất định
Mục đích cơ bản của hỏi chuyện lâm sàng nhằm đánh giá, nhận thức, cảmxúc hành vi cũng như các đặc điểm nhân cách của khách thể nghiên cứu, phân tích
và sắp xếp chúng vào một hiện tượng tâm lý hoặc tâm bệnh lý nào đó với các tiêuchí như loại hình, mức độ Hỏi chuyện lâm sàng không chỉ nhằm lắng nghe nhữngthan phiền của trẻ và những người liên quan, về vấn đề của trẻ mà còn làm rõ động
cơ tiềm ẩn và các cơ chế tâm lý bên trong của trẻ, cũng như trợ giúp tâm lý khẩncấp đối với những trường hợp cần thiết Do vậy, hỏi chuyện lâm sàng không chỉ cóchức năng chẩn đoán mà còn là bước trị liệu ban đầu Đây là hai chức năng đượcthực hiện song song trong quá trình làm việc với khách thể nghiên cứu Bằng cáchnày, nhà nghiên cứu thu thập được những thông tin cần thiết cho việc chẩn đoán,đánh giá đồng thời có thể trợ giúp bước đầu cho trẻ và những người liên quan đếnvấn đề của trẻ
Trong quá trình hỏi chuyện lâm sàng, đã cung cấp thêm cho chúng tôi nhữngthông tin quan trọng như tiểu sử cuộc đời, quá trình bệnh sử, những sự kiện quantrọng,… giúp chúng tôi xây dựng một bức tranh hoàn thiện hơn về trẻ
- Phương pháp quan sát
Phương pháp quan sát là một công cụ lâm sàng thuộc nhóm các phương pháp
mô tả, được sử dụng đặc trưng trong nghiên cứu lâm sàng Phương pháp quan sátlâm sàng là phương pháp dựa trên việc tri giác những biểu hiện sinh động ở mặtnhận thức, thái độ, cảm xúc, hành vi, các cơ chế phòng vệ của trẻ trong những bốicảnh khác nhau giúp nhà nghiên cứu có thể nhìn thấy những biểu hiện thực tế củacác quá trình và trạng thái tâm lý cũng như những vấn đề/ rối loạn của khách thểtrong những tình huống cụ thể và trong các mối tương tác với những người xungquanh Bằng phương pháp quan sát, nhà nghiên cứu có thể thu thập được cả nhữngthông tin mang tính định tính và những thông tin mang tính định lượng
Trang 13- Phương pháp nghiên cứu trường hợp
Nghiên cứu trường hợp là một trong những cách tiếp cận đặc trưng nhất củanghiên cứu lâm sàng Nhà nghiên cứu tìm hiểu, mô tả, phát hiện, xây dựng chândung tâm lý của một cá nhân hoặc một vài cá nhân Nghiên cứu trường hợp là thuthập thông tin và sắp xếp, mô tả nó theo một logic nào đó (có thể theo thời gian diễnbiến của các sự kiện, hiện tượng; cũng có thể sắp xếp theo trật tự mối quan hệ giữacác sự kiện, hiện tượng) bằng cách tìm hiểu và mô tả tiểu sử, tiền sử, hoàn cảnh giađình, môi trường sống, các sự kiện, hiện tượng diễn ra trong cuộc đời, các mối quan
hệ và cả những diễn biến nhận thức, thái độ, xúc cảm, cơ chế phòng vệ, hành vi củachủ thể Những thông tin về đối tường nghiên cứu mà nhà tâm lý lâm sàng thu thậpđược có thể có nhiều nguồn gốc khác nhau: từ chính chủ thể, từ người thân, bác sĩđiều trị, từ bạn bè, người quen của chủ thể nghiên cứu Thông qua việc tìm hiểu, môtả tiểu sử, tiền sử nhà tâm lý lâm sàng tập hợp một lượng lớn thông tin cho phép họsắp xếp lại và có thể so sánh những thông tin khác nhau từ những nguồn khác nhau
về cũng một sự kiện, hiện tượng diễn ra trong đời sống của chủ thể nghiên cứu, từ
đó phát hiện, nhận định riêng về các yếu tố của chủ thể nghiên cứu
- Trắc nghiệm phóng chiếu
Trắc nghiệm phóng chiếu mà chúng tôi sử dụng trong nghiên cứu này là trắcnghiệm chủ đề giành cho trẻ em – CAT Trắc nghiệm CAT có khả năng huy độngnhững hành vi ứng xử liên quan đến hiện tượng chuyển tiếp, thường được gợi lêntrong mọi tình huống phóng chiếu: trên thực tế, với trẻ phải kể một câu chuyện vềcác bức tranh, chúng cần phải hòa nhập với những con vật có hình người bằng cáchsáng tạo ra một hoạt cảnh phù hợp với những lớp nền tri giác và ẩn tàng
Trắc nghiệm CAT bao gồm 10 bức tranh màu đen trắng hơi mờ nhạt Trong
10 bức tranh này, người ta thấy hiện hữu những con vật quen thuộc và hoang dã,thay đổi từ bức này sang bức khác
- Phương pháp phân tích tranh vẽ
Phương pháp phân tích tranh vẽ dựa trên nền tảng lý luận của lý thuyết vềmối quan hệ giữa tâm lý và sự vận động cơ của I.M.Xechenov và lý thuyết về cơchế phóng chiếu tâm lý của S.Freud
Trang 14Từ đó mà tranh vẽ là một trong những phương pháp phóng chiếu dựa trênhình thức biểu đạt tâm lý bằng hình ảnh, biểu tượng Khi vẽ một đối tượng nào đóchủ thể có thể tỏ thái độ của mình đối với đối tượng của mình đối với đối tượng đómột cách vô thức hoặc cũng có thể có ý thức Trên cơ sở đó chúng tôi tiến hànhphân tích tranh vẽ của trẻ với mục đích lý giải những dấu hiệu lâm sàng quan sátđược, và làm rõ các mối quan hệ của trẻ từ sự biểu đạt qua tranh
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GẮN BÓ MẸ CON
VÀ CÁC VẤN ĐỀ HÀNH VI Ở TRẺ
1.1 Tổng quan về gắn bó mẹ con và vấn đề hành vi của tre
1.1.1 Điểm luận một số nghiên cứu về về gắn bó mẹ con
Đầu tiên phải nhắc đến hai quan điểm lớn của Sigmund Freud đưa ra: Một lànhững năm ít ỏi đầu tiên của cuộc đời là những năm quan trọng nhất đối với sự hìnhthành nhân cách Hai là sự phát triển đó bao gồm những giai đoạn tâm lý tính dục.Theo ông một hành vi có thể được hiểu chỉ khi người ta biết nó phát triển ra saotrong lịch sử thời thơ ấu của người đó Cả hành vi bình thường và hành vi bấtthường đều có gốc rễ trong những năm đầu khi mà cấu trúc nhân cách được thiếtlập Những tương tác sớm giữa các xung năng của trẻ và môi trường xã hội đề ra
mô hình cho học tập sau này, cho sự thích nghi xã hội và sự đương đầu với lo hãi
Từ những nền tảng lý thuyết phân tâm học cổ điển của Freud mà sau này nhiều nhàtâm lý học khác đã đề cập đến vai trò của người mẹ trong các nghiên cứu của mìnhnhư Magaret Mahler, Anna Freud (Patricia H.Miler, 2003, tr.112)
Trong lý thuyết giai đoạn phát triển của Erikson, ở giai đoạn đầu tiên – Tincậy cơ bản mặt kia là không tin cậy cơ bản (0 – 1 tuổi), đặc biệt nhấn mạnh vai tròcủa người mẹ là quan trọng hơn tất cả, người mẹ tạo nên lòng tin của đứa trẻ bằngcách đáp ứng những nhu cầu đầu của đứa trẻ thông qua những biểu hiện của đứa trẻ
“có thể đoán được là đói cho nó ăn, động viên khi nó đau buồn” Trong quan điểm
của ông cũng nêu lên rằng, về phía tương tác của người mẹ cần phải có sự tin cậyvào bản thân như một người thân thích và tin vào ý nghĩa vai trò chăm sóc củamình Nếu một sự không tin cậy nào đó xuất hiện có thể dẫn đến hệ quả xuất hiện ởcả đứa trẻ, hoặc cả lúc đứa trẻ thành người lớn có thể bị hẫng hụt, thu mình lại hoặcnghi hoặc, mất đi lòng tin Cụ thể, ông cũng nhắc đến những trải nghiệm về môimiệng – mút, cắn, mọc răng và cai sữa – là những nguyên mẫu cho phương thứctâm lý xã hội về nhận và cho (Patricia H.Miler, 2003, tr.162)
Anna Freud trong quá trình theo dõi sự phát triển của trẻ mồ côi trong chiếntranh được nuôi dưỡng trong các trại trẻ mồ côi, bà phát hiện ra rằng những đứa trẻ
Trang 16năy gặp khó khăn khi thií́t lập câc mối quan hệ xê hội, vă những vấn đề năy có thí̉chuyí̉n tií́p sang câc giai đoạn sau (Trương Khânh Hă, 2013, tr.87)
Từ lý thuyí́t cấu trúc tđm trí của Freud, Mahler phât trií̉n một lý thuyí́t mớinhằm tập trung văo tương tâc mẹ - con trong ba năm đầu đời, do đó bổ sung cho câc
lý thuyí́t giai đoạn tđm lý của Freud vă giai đoạn phât trií̉n tđm lý xê hội của Erikson
Bă tin rằng mối quan hệ mẹ con bắt đầu với giai đoạn một thực thí̉ mă bă gọi lă cộngsinh (symbiosis).Từ đó trẻ mới dần tâch ra vă hình thănh bản sắc câ nhđn riíng Đí̉ cóthí̉ lăm được điều năy, trẻ phải nội tđm hóa mối quan hệ với mẹ, phải được tạo cảmgiâc kí́t nối với mẹ trong khi vẫn phât trií̉n khả năng tự chủ của mình Rối nhiễutrong quâ trình năy sẽ dẫn đí́n mđu thuẫn kĩo dăi ở giai đoạn sau, bao gồm lo đu chia
ly vă trở ngại trong việc xđy dựng bản sắc an toăn cho câ nhđn Như vậy, việc hoănthănh thănh công câc giai đoạn trong những năm đầu tiín của cuộc sống dẫn đí́n sựtâch biệt vă câ biệt hóa Tâch biệt đề cập đí́n một quâ trình nội tđm của sự tâch biệt
về tinh thần với người mẹ, trong khi câ nhđn lă một khâi niệm tự phât trií̉n Mặc dù
có quan hệ với nhau, người ta có thí̉ phât trií̉n hơn người khâc, phần lớn phụ thuộcvăo thâi độ của người mẹ đối với đứa trẻ (David L, 2015)
Bowlby (1969/1982) người được ghi nhận lă người đề xuất ra thuyí́t gắn bó.Bằng những quan sât từ việc trẻ sơ sinh bị tâch khỏi mẹ vă ghi lại những phản ứngđau buồn của đứa trẻ thí̉ hiện với sự chia tâch Ông đưa ra giả thuyí́t hănh vi của trẻ
sơ sinh lă bií̉u hiện của mối quan hệ tình cảm giữa trẻ sơ sinh với mẹ của chúng mẵng gọi lă sự gắn bó mẹ con (mother - infant attachment ) Bowlby (1973) địnhnghĩa gắn bó lă mối quan hệ tình cảm gần gũi giữa hai người được đặc trưng bởitình cảm lẫn nhau vă mong muốn duy trì sự gần gũi Mối quan hệ gắn bó đầu tiíngiữa mẹ vă con, theo ông, được hình thănh trong những năm đầu đời vă vẫn tươngđối ổn định trong suốt thời thơ ấu, thanh thií́u niín vă trưởng thănh Sự gắn bó mẹcon được Bowlby (1973) đề xuất lă một quâ trình cực kỳ quan trọng cho sự phâttrií̉n cảm xúc lănh mạnh của câ nhđn Trong lý thuyí́t gắn bó của ông, Bowlby(1969/1982) cho rằng ní́u một người chăm sóc chính (trong hầu hí́t câc trường hợp
lă người mẹ) luôn nhạy cảm với tií́ng khóc của trẻ sơ sinh hoặc câc tín hiệu cầnthií́t khâc, mối quan hệ gắn bó bắt đầu phât trií̉n Đí́n nửa cuối năm đầu tiín, trẻ sơ
Trang 17sinh bắt đầu có niềm tin rằng người chăm sóc trẻ rất nhạy cảm Theo Bowlby(1973), sự tin tưởng của trẻ sơ sinh vào các phản ứng tích cực của người mẹ dẫnđến sự thể hiện bên trong trẻ, biểu hiện của mối quan hệ tích cực, đáng tin cậy, antoàn giữa mẹ và trẻ Đồng thời, trẻ hình thành một biểu tượng cái tôi phù hợp vớitình yêu và sự chăm sóc của người mẹ Biểu tượng nhận thức/ mô hình làm việc này(Bowlby, 1969/1982) sau đó được khái quát hóa theo mong đợi của đứa trẻ về cácmối quan hệ khác và phục vụ để định hướng các phản ứng hành vi của trẻ sơ sinhđến sự đau buồn Do đó, mô hình này trở thành nền tảng tiếp diễn cho những cảmxúc, hành vi, trẻ sơ sinh liên quan đến cảm xúc, hành vi và kinh nghiệm của chúng.Đồng thời, ông đưa ra giả thuyết rằng mô hình gắn bó an toàn trở thành khuôn mẫunhận thức cho các mối quan hệ trong suốt cuộc đời đứa trẻ (Mary S La Mont, 2010)
Bowlby (1969/1982) cũng quan sát thấy rằng một số trẻ sơ sinh đã phát triểnmột mô hình hoạt động của sự gắn bó không an toàn khi người mẹ không có cảmxúc với đứa trẻ, hoặc sự nhạy cảm hoặc phản ứng của người mẹ không nhất quánhoặc tiêu cực Mô hình gắn bó không an toàn cũng được thực hiện từ mối quan hệnền tảng của trẻ đến các mối quan hệ tiếp theo của cá nhân đó trong suốt cuộc đời
Các nhà nghiên cứu đã gợi ý rằng khoảng 90% thời gian của trẻ sơ sinh gắn
bó với mẹ, thời lượng gắn bó chính của trẻ là mẹ, mặc dù tồn tại một số tình huốngkhác như người bà, người cha, hoặc một người khác đóng vai trò chăm sóc chính.Các tác giả khác (Colin, 1996) đã chỉ ra rằng sự gắn bó được hình thành nhiều hơnvới một người chăm sóc Trong những trường hợp này, sự an toàn của mối quan hệ
có sự khác nhau với mỗi người chăm sóc khác nhau, nhưng như một quy luật nếu sựgắn bó với người chăm sóc chính rất an toàn thì sự gắn bó với những người kháccũng sẽ an toàn Bởi vì hầu hết các nghiên cứu đã tập trung vào mối quan hệ giữa
mẹ và con đánh giá này mang tính văn hóa chỉ tập trung vào mối quan hệ gắn bógiữa các bà mẹ và con nhỏ của họ trước 3 tuổi
Người chăm sóc và sức khỏe của người mẹ đóng vai trò nền tảng cho sự pháttriển chính của đứa trẻ, một số trẻ phát triển như những gì mà Bowlby (1969/1982)
mô tả là gắn bó không an toàn với người mẹ Đây là loại gắn bó ít mong muốn đượcbiểu hiện bằng tình cảm kém ổn định hoặc sự vắng mặt giữa các bà mẹ và trẻ sơ
Trang 18sinh với các hành vi kém an toàn hơn trong việc tìm kiếm sự gần gũi với nhau Sựgắn bó không an toàn đã được đặt tên là một yếu tố nguy cơ đáng kể đối với một sốrối loạn cảm xúc và hành vi ở cả thời thơ ấu và tuổi trưởng thành (Sroufe và cộngsự,2000) Một số nhà nghiên cứu đã đưa ra giả thuyết rằng hầu như tất cả các vấn đề
xã hội và cảm xúc xuất hiện ở thời thơ ấu là do các vấn đề quan hệ thiếu gắn bó antoàn với người chăm sóc chính (Raver & Zigler, 1997)
Một số tác giả khác cũng chỉ ra một khía cạnh đặc biệt cần nghiên cứu là mốiquan hệ giữa sự gắn bó mẹ con đến những vấn đề chậm phát triển và các vấn đề vềhành vi diễn ra trong giai đoạn mẫu giáo của trẻ sơ sinh tới sự chậm phát triển vàcác vấn đề hành vi Vấn đề cần thiết này được bày tỏ bởi một số nhà nghiên cứunhư họ đã chỉ ra mối quan hệ giữa sự gắn bó không an toàn ở trẻ em phát triển bìnhthường và những trẻ em gặp vấn đề về hành vi ở tuổi mẫu giáo, thanh thiếu niên vàtuổi trưởng thành (Bohlin, Hagekull, & Rydell, 2000; Park & Waters, 1989) Nhữngnghiên cứu này, không bao gồm những đứa trẻ được xác định ở độ tuổi trẻ bị chậmphát triển Bởi vì trẻ chậm phát triển được coi là có nguy cơ mắc các vấn đề về cảmxúc và hành vi, các nghiên cứu về ảnh hưởng sớm đến hành vi vấn đề trong dân sốnày dường như là tối quan trọng
Mối quan hệ sớm mẹ - con là chủ để quan tâm chính trong suốt cuộc đời củaWinnicott, bác sĩ nhi khoa và nhà phân tâm học người Anh từng nói: Một đứa trẻkhông tồn tại một mình mà nó chủ yếu là một bên của mối quan hệ mẹ - con Quan hệnày là phức tạp Mối gắn bó mẹ - con được hình thành từ vô số mối liên hệ được nuôidưỡng bằng tiếp xúc thể chất và tình cảm bằng các cuộc gặp gỡ huyễn tưởng với cácthành viên khác trong gia đình( Gerard Poussin, 2013, tr.139 – 140) Đối với ông, trẻ
sơ sinh có tiềm năng bẩm sinh, sẽ trưởng thành nhưng chỉ hoàn thiện khi có sự chămsóc của người mẹ Trẻ chỉ có thể phát triển được “cái tôi” riêng của chúng nếu chúngnhận được cái gọi là “sự hiện diện đầy đủ liên tục” của người mẹ Lúc đó “cái tôi”của người mẹ có vai trò nâng đỡ cái tôi yếu đuối chưa thể hòa nhập với môi trườngcủa trẻ Dần dần trẻ có thể tự cảm nhận, tự hòa nhập và tự xa mẹ vì trẻ đã cảm nhận
đủ sự hiện diện liên tục của mẹ Đối với Winnicott, các rối loạn tinh thần khi trưởngthành có nguồn gốc từ những kinh nghiệm đầu tiên của trẻ trong mối quan hệ với mẹ
và với môi trường xung quanh (Dana Castro, 2016)
Trang 19Như vậy, qua các công trình nghiên cứu, các tác giả nước ngoài cũng chỉ ravai trò gắn bó mẹ con trong quá trình phát triển của trẻ và đặc biệt là những vấn đềhành vi, cụ thể như sau:
- Những năm đầu đời là những năm quan trọng nhất đối với sự hình thành
nhân cách, các hành vi bình thường và bất thường đều có sự liên hệ đến những nămđầu, đặc biệt là những tương tác sớm giữa trẻ và môi trường xã hội đề ra mô hìnhhọc tập, các hành vi thích nghi và sự đối đầu với các tác nhân lo âu
- Người mẹ có vai trò quan trọng hơn tất cả, là người tạo nên lòng tin của đứa
trẻ bằng sự đáp ứng nhu cầu, chăm sóc trẻ trong giai đoạn đầu đời Người mẹ chính làngười có vai trò mang đến những trải nghiệm đầu đời của thân chủ, sự quan tâmchăm sóc của mẹ và thân chủ có thể là hệ quả dẫn đến các hành vi hụt hẫng, thumình, nghi hoặc, mất lòng tin cả ở thân chủ và cả đứa trẻ lúc trưởng thành
- Người mẹ đóng vai trò nền tảng chính của đứa trẻ, sự gắn bó không an
toàn được xem như là yếu tố nguy cơ liên quan đến một số rối loạn cảm xúc vàhành vi ở thời thơ ấu và tuổi trưởng thành
- Mối quan hệ giữa sự gắn bó mẹ con có thể liên quan đến những vấn đề
chậm phát triển và các vấn đề về hành vi diễn ra trong giai đoạn mẫu giáo của trẻ sơsinh tới sự chậm phát triển và các vấn đề hành vi
- Ở những trẻ vắng mẹ lâu ngày, thiếu hụt tình cảm của mẹ, chúng ta có thể
quan sát thấy các dấu hiệu về thể chất như sụt cân, khó ngủ, từ chối ăn, chậm pháttriển tâm vận động, dễ bị nhiễm khuẩn Về tâm lý, trẻ tự cô lập, tránh tiếp xúc với
xã hội, tự kích thích bằng những hành vi rập khuôn và có ánh nhìn xa xăm, thụđộng Trẻ có các vấn đề về hành vi như hiếu động quá mức hoặc có tính hiếu chiến,ngôn ngữ kém phát triển Trẻ thể hiện không muốn ôm mẹ, hôn mẹ, không muốnnhìn vào mắt mẹ và không nói, với người khác cũng ứng xử tương tự
Các rối nhiễu do mối quan hệ gắn bó mẹ con sớm gồm lo hãi, khủng hoảng
sự hình thành cái Tôi, rối loạn về tư duy, ngôn ngữ, duy kỉ quá, tự cao, tự đại;ngược lại là mặc cảm tự ti, giải thể nhân cách Trẻ tách khỏi những liên hệ xungquanh, không nhận thấy sự khác nhau trong ứng xử giữa người thân và người lạ.Cũng có những trẻ bộc lộ các nhu cầu khát khao tiếp xúc, vồ vập những ngườikhông quen biết
Trang 201.1.2 Điểm luận một số nghiên cứu về vấn đề hành vi
Thay vì nhấn mạnh đến các vấn đề bên trong, các khía cạnh bản năng, cácyếu tố vô thức trong quá trình phát triển và biến đổi hành vi con người, tiếp cận vềvấn đề hành vi trong tâm lý học là tập trung trực tiếp vào hành vi và các mối quan
hệ của nó với các điều kiện môi trường và nhân cách Từ quan điểm cơ bản: phầnlớn hành vi chịu ảnh hưởng của quá trình học tập được hình thành trong một tìnhhuống, bối cảnh xã hội nhất định nào đó
Khi đề cập các vấn đề hành vi cần nói đến lý thuyết hành vi cổ điển củaJ.Watson có những điểm đề cập, lý giải hành vi con người như sau: thứ nhất, hành
vi con người tuy có một số khác biệt so với động vật, nhưng bản chất hành vi người
là tổ hợp phản ứng của cơ thể để trả lời kích thích tác động vào cơ thể Thứ hai,không thừa nhận tâm lý, ý thức tham gia vào việc điều khiển hành vi người Đểnghiên cứu hay điều chỉnh hành vi nói chung và hành vi người nói riêng thì chỉ cầndựa vào yếu tố đầu trong công thức S -> R (Nguyễn Hồi Loan,Trần Thu Hương,
2018, tr.183)
Tiếp tục kế thừa và phát triển quan điểm của J.Watson, B.F.Skinner cho rằng
sự khác biệt đầu tiên giữa hành vi có điều kiện với hành vi tạo tác là hành vi có điềukiện xuất hiện nhằm tiếp nhận một kích thích củng cố còn hành vi tạo tác nhằm tạo
ra kích thích củng cố Từ đó mà ông kết luận rằng hành vi tạo tác đặc trưng cho việchọc tập hàng ngày vì thông thường hành vi mang tính tạo tác, nên cách tiếp cận cóhiệu quả nhất đối với khoa học về hành vi là nghiên cứu về điều kiện hóa và sự tắtdần các hành vi tạo tác
Lý thyết tiếp nhận thức xã hội do Albert Bandura khởi xướng, xem hành vicủa con người được hình thành dựa vào 3 cơ sở nền tảng có tương quan chặt chẽ vớinhau đó là: (1) kích thích ngoại cảnh, (2) sự củng cố bên ngoài, (3) các quá trìnhnhận thức trung gian bên trong Trong 3 yếu tố này thì quá trình thứ ba có vai tròđặc biệt quan trọng bới chúng chi phối cách mà chúng ta nhìn nhận cũng như diễngiải các kích thích từ môi trường
Như vậy tiếp cận hành vi xem xét các vấn đề hành vi con người là phản ứng của
họ đối với tác động từ môi trường xung quanh chứ không hoàn toàn là các triệu chứng
Trang 21bệnh lý Từ cơ sở nền tàng nghiên cứu về khoa học hành vi mà có nhiều quan điểm, đềtài nghiên cứu, các thiết kế, các công cụ được xây dựng nhằm hỗ trợ, phục vụ cho cácvấn đề đặt ra trong tâm lý học cũng như tâm lý học lâm sàng đáp ứng trong quá trìnhnghiên cứu, chẩn đoán, trị liệu, chăm sóc sức khỏe tâm thần, giáo dục, y tế dự phòngnói chung và giải quyết các vấn đề hành vi trẻ em nói riêng Tiêu biểu như :
Danh mục bảng phân loại bệnh quốc tế ICD – 10 được xây dựng và hoànthiện nhằm phục vụ cho quá trình chẩn đoán, chữa bệnh và nghiên cứu về bệnh tật
và các vấn đề sức khỏe Các rối loạn tâm thần và hành vi nằm ở chương 5, trong đó,Bảng phân loại bệnh quốc tế ICD – 10 liệt kê các rối loạn hành vi và cảm xúcthường khởi phát ở tuổi trẻ em và thanh thiếu niên từ mục F90 – F98 bao gồm 8 vấn
đề chính: Các rối loạn tăng động; Các rối loạn hành vi; Các rối loạn hỗn hợp hành
vi và cảm xúc; Các rối loạn cảm xúc và sự khởi phát đặc biệt ở tuổi trẻ em; Rối loạnhoạt động xã hội và sự khởi phát đặc biệt ở tuổi trẻ em và thanh thiếu niên; Các rốiloạn tic; Những rối loạn hành vi và cảm xúc khác thường khởi phát ở tuổi trẻ em vàthanh thiếu niên (WHO, 1993)
Tương tự Hiệp hội tâm thần Hoa Kỳ công bố Sổ tay thống kê và chẩn đoáncác rối loạn tâm thần rút gọn – DSM IV bao gồm các bệnh tâm thần và đưa ranhững rối loạn thường được chẩn đoán ở trẻ thơ, trẻ em và thanh thiếu niên (35) baogồm 10 mục: Chậm phát triển tâm thần; Những rối loạn về học tập; Rối loạn về kỹnăng vận động; Những rối loạn về giao tiếp; Những rối loạn phát triển lan tỏa;Những rối loạn giảm chú ý và rối loạn hành vi; Những rối loạn hành vi ăn uống vànhững rối loạn về hành vi ăn uống ở trẻ thơ hoặc trẻ em; Các rối loạn tic; Những rốiloạn kiểm soát cơ vòng; Những rối loạn khác (APA, 1996)
Từ cơ sở nền tảng dựa trên các công cụ chính ICD – 10 và DSM – IV,Frances Gardner và Daniel S Shaw tổng hợp và đưa ra: Các vấn đề về hành vi củatrẻ nhỏ và trẻ mẫu giáo từ giai đoạn 0 đến 5 tuổi bị ảnh hưởng bởi cả hai yếu tố sinhhọc và môi trường, như biểu hiện ở sự khác biệt cá nhân về đặc điểm của trẻ (ví dụ:loại hình khí chất, tính xã hội, sự chú ý) và chất lượng của môi trường chăm sóc.Các yếu tố môi trường di truyền và trước khi sinh có ảnh hưởng trong giai đoạn tuổinày Giữa các yếu tố nguy cơ, trong đó có xác suất xuất hiện rối loạn; tiểu sử, trong
Trang 22đó có sự liên quan đến một vấn đề ban đầu (ví dụ: các vấn đề chống đối ở trườngmầm non) và sau đó (rối loạn hành vi ứng xử); sự xuất hiện của rối loạn hành vi.Tính khí cực đoan thường được xem là yếu tố nguy cơ cho các vấn đề hành vi saunày (Hill, 2002), mặc dù ở mức độ khác biệt vừa phải và không có các chỉ số khác
về nguy cơ ở trẻ em hoặc các vấn đề nguy cơ từ gia đình, những khác biệt cá nhânnhư vậy có thể ảnh hưởng đến quá trình phát triển hơn là nguy cơ rối loạn Trongnhững năm gần đây, ngày càng có nhiều sự nghiên cứu thừa nhận về nhiều yếu tốtương tác sớm, quá trình chăm sóc ảnh hưởng tới sự khác biệt của trẻ sơ sinh biểuhiện như các vấn đề ăn uống, cảm xúc hoặc hành vi chống đối (Campbell, Shaw, &Gilliom, 2000) Một số tác giả khác như Thomas, Chess, Birch (1968) cũng nhấnmạnh đến tầm quan trọng và lợi ích giữa tính cách của cha mẹ ảnh hưởng đến cácvấn đề của trẻ, và ngược lại sự tác động của trẻ đối với cha mẹ, mô hình tương tácgiữa cha mẹ và con cái Do đó, mà đề đánh giá và can thiệp các vấn đề hành vi ở trẻcần tập trung vào việc thay đổi hành vi của trẻ, hành vi, các nguồn lực từ cha mẹ vàchất lượng tương tác giữa cha mẹ và con Vì trẻ em dưới 5 tuổi quá phụ thuộc vàomôi trường chăm sóc của chúng, nên cần chú trọng đến việc xác định các yếu tốnguy cơ rủi ro trong gia đình và các bối cảnh chăm sóc (ví dụ: chất lượng chăm sóchoặc người chăm sóc) giúp điều chỉnh quá trình xuất hiện hành vi sớm ở trẻ.(Michael Rutter, Dorothy Bishop, Daniel Pine, Stephen Scott, Jim Stevenson, EricTaylor, Anita Thapan, 2009, tr.883)
Như vậy, đề cập đến các vấn đề về hành vi cần quan tâm đến cả hai yếu tốsinh học và môi trường cụ thể đó là về mặt di truyền, môi trường sống, môi trườnggiáo dục, môi trường xã hội, các yếu tố văn hoá – xã hội
1.1.3 Các nghiên cứu về đánh giá và can thiệp liên quan đến gắn bó và vấn đề
hành vi của trẻ
1.1.3.1 Một số nghiên cứu về đánh giá rối loạn gắn bó mẹ con và vấn đề hành vi
Hiện tại, không có công cụ cụ thể được xác nhận để chẩn đoán rối loạn phảnứng gắn bó Chẩn đoán được thực hiện trên cơ sở phỏng vấn lâm sàng về lịch sửphát triển và quan sát hành vi Thực hiện các xét nghiệm y tế và tâm thần của trẻ đểloại trừ các triệu chứng cụ thể và các nguyên nhân thực thể hoặc các chẩn đoán
Trang 23bệnh tâm thần khác có thể giải thích cho sự thoái lui xã hội ở trẻ em Ví dụ cần loạitrừ chẩn đoán ám ảnh sợ xã hội trước khi xác định chẩn đoán rối loạn phản ứng gắn
bó Cả ám ánh sợ xã hội và rối loạn phản ứng gắn bó có thể là một triệu chứngchính của sự thoái lui xã hội ở trẻ Tuy nhiên, ám ảnh sợ xã hội liên quan đến sự lolắng dữ dội trong môi trường xã hội ngoài các mối quan hệ tương tác gia đình vàtrong rối loạn phản ứng gắn bó luôn thể hiện các mối quan hệ giữa các cá nhân đềubị xáo trộn
Mặc dù trong lĩnh vực tâm thần học và tâm lý học không có công cụ đánh giá
về rối loạn gắn bó hiệu quả, đặc biệt là đối với trẻ em trong độ tuổi đi học Tuynhiên, gần đây Trinis và cộng sự (Trinis, 2009) đã phát triển Bảng câu hỏi về cácvấn đề trong các mối quan hệ (RPQ) để phát hiện ra những rối loạn phản ứng gắn
bó (RAD) dành cho phụ huynh và giáo viên để kiểm tra tính bất biến giữa thông tinđược cung cấp Bảng câu hỏi về rối loạn phản ứng gắn bó có 17 mục đề cập đến cáctriệu chứng rối loạn tập tin đính kèm của cả hai loại, được mã hoá theo thang điểm
từ 0 đến 3 Cả hai loại tập rối loạn gắn bó đều không được đề cập riêng có thể đạtđược điểm trung bình từ 0 đến 51 điểm cao cho thấy nhiều triệu chứng rối loạn gắn
bó Kết quả nghiên cứu này dựa trên kết quả phỏng vấn rối loạn gắn bó
(Disturbances of Attachment Interview – DAI) Kết quả thu được giữa RPQ đều có
thể chấp nhận được tính nhất quán bên trong tốt và tương quan mong đợi với cácthông tin của DAI Nhìn chung RPQ là một công cụ đa thông tin có thể thu thậpnhiều thông tin, triệu chứng cho rối loạn phản ứng gắn bó ở trẻ em có vấn đềnghiêm trọng về cảm xúc và hành vi (John Wiley& Sons, 2013)
1.1.3.2 Một số nghiên cứu về can thiệp hành vi liên quan đến gắn bó mẹ con
Có nhiều tác giả nghiên cứu về các phương thức can thiệp liên quan đếngắn bó Đầu tiên phải kể đến các biện pháp can thiệp nuôi dạy con dựa trên bằngchứng để thúc đẩy gắn bó an toàn Các nghiên cứu đã chia nhỏ các biện pháphướng vào trẻ em có gắn bó vô tổ chức (D) hoặc với những trẻ được chẩn đoán làrối loạn phản ứng gắn bó (RAD) Các biện pháp can thiệp được tổ chức theo độtuổi của trẻ tại thời điểm bắt đầu can thiệp, với các kết quả nghiên cứu có ý nghĩađược liệt kê đầu tiên (chỉ đánh giá sau can thiệp) Dười đây là một số hình thức
Trang 24can thiệp cho trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ và trẻ em có sự gắn bó vô tổ chức hoặc rối loạnphản ứng gắn bó (RAD):
- Đối với nhóm trẻ sinh non:
Các can thiệp cho thấy sự cải thiện đáng kể về mặt thống kê trong gắn bó an
toàn “Chương trình thăm nhà” (The Home visiting program) được sử dụng nhằm
mục đích hỗ trợ các bà mẹ phát triển sự nhạy cảm bằng cách nhận biết các tín hiệucủa con họ, tập trung vào các tương tác và hiểu rõ về sự ảnh hưởng của chúng đốivới sự phát triển của trẻ Sự gắn bó được đánh giá trong thời gian cho ăn lúc 3tháng, 6 tháng và 12 tháng thông qua các thang đo quan sát cho ăn: đối với trẻ 3tháng quan sát sự tương tác giữa mẹ và trẻ trong khi bú; đối với trẻ 6 tháng sử dụng
mô hình mặt đối mặt; với trẻ 12 tháng sử dụng tình huống lạ Hiệu quả được đánhgiá bằng cách sử dụng hệ thống quan sát dựa trên sự gắn bó, hệ thống tương tácgiữa mẹ và trẻ, sử dụng 5 thang đo với 9 điểm khác nhau: độ nhạy cảm, sự canthiệp, trạng thái tình cảm của ngời mẹ, sự hợp tác và hành vi tự điều chỉnh
Chương trình can thiệp trị liệu tâm lý dự phòng (The PreventivePsychotherapeutic Program) được thực hiện với đối tượng cha mẹ da trắng sinhnon, có độ tuổi trung bình là 30,9 tuổi và trẻ sơ sinh có độ tuổi trung bình là 27 tuần Kế hoạch đưa ra 2 tuần/1 buổi, diễn ra các buổi trị liệu tâm lý cá nhân trước khinhập viện, nhóm phụ huynh được trị liệu tâm lý cá nhân với tần suất diễn ra là 2tuần một buổi, một ngày sẽ có những video phản hồi lại những cảm xúc, độ nhạycảm khi thăm nhà so với sự chăm sóc của điều dưỡng ở bệnh viện Cha mẹ đượctham gia từ 1 đến 8 buổi trị liệu nhóm, cũng như 1 đến 10 buổi trị liệu tâm lý cánhân theo lịch 2 tuần/1 lần cho cả bố và mẹ
Nghiên cứu và sử dụng tình huống lạ, Brish và cộng sự nhận thấy rằng cómột mối tương quan đáng kể giữa phát triển thần kinh và phát triển gắn bó mẹ controng nhóm kiểm soát, những trẻ sơ sinh có gắn bó an toàn cho thấy sự phát triểnthần kinh khỏa mạnh, 75% trẻ sơ sinh có gắn bó không an toàn cho thấy sự pháttriển thần kinh bị suy giảm và không có mối tương quan đáng kể giữa chất lượnggắn bó và sự phát triển thần kinh trong nóm can thiệp Các tác giả kết luận rằng sự
Trang 25can thiệp đã bảo vệ những đứa trẻ không khỏe mạnh về thần kinh khỏi hình thànhnhững gắn bó không an toàn
Các kế hoạch về huấn luyện cho quá trình Chu sinh , được thực hiện bởi
Jacobson và Frye (1991) áp dụng cho với các bà mẹ sinh con lần đầu (21.5 tuổi).Với hình thức can thiệp này, sử dụng một tình nguyện viên được đào tạo cụ thể chotừng người tham gia để cung cấp về mang thai, chăm sóc và phát triển trẻ em, cũngnhư những hiểu biết và sự đồng cảm tương tự như bạn bè hoặc các thành viên tronggia đình Các chuyến thăm định kỳ bắt đầu trong 3 tháng của thai kỳ, tăng tần suấttính đến ngày sinh, tiếp tục hàng tuần trong 2 đến 3 tháng sau khi sinh, và sau đótiếp tục hành tháng cho đến khi trẻ được 12 tháng tuổi
Sử dụng phương pháp phân tích các nhân tố (Q-sort procedure), Jacobson vàFrye nhận thấy rằng trẻ sơ sinh của các bà mẹ được can thiệp được đánh giá là gắn
bó an toàn hơn so với các biện pháp kiểm soát trên
Hình thức liệu pháp nghề nghiệp (Occupational Therapy) cũng được sử dụng
trong một nghiên cứu của Sajaniemi và đồng nghiệp với trẻ sơ sinh có cân nặng cựcthấp (dưới 1kg), bắt đầu từ 6 tháng tuổi Can thiệp cụ thể 1 giờ/1 tuần liệu phápnghề nghiệp được sử dụng tại nhà trong 6 tháng (tuổi trung bình của nhóm đốitượng là 20 tuổi) Điều này, được thực hiện bởi nhà trị liệu có kinh nghiệm trongđiều trị trẻ sơ sinh, bao gồm cuộc thảo luận với cha mẹ, dạy học cách thích nghi vớimôi trường gia đình, với em bé, hướng dẫn họ cách xử lý em bé để thúc đẩy sự pháttriển bình thường của trẻ (Sajaniemin,N, 2001)
Các can thiệp không cho thấy sự cải thiện đáng kể về mặt thống kê đối vớigắn bó an toàn khi sử dụng dịch vũ hỗ trợ khách hàng tại nhà, được sử dụng trongnghiên cứu bởi Beckwith Hướng tới nhóm cha mẹ có thu nhập thấp, với trẻ sơ sinhbị ốm, sinh non, có cân nặng khi sinh dưới 2kg, sinh lúc 35 tuần Kế hoạch đượcthực hiện trong 13 tháng, bao gồm một can thiệp cá nhân, hướng đến cha mẹ, tậptrung vào việc cung cấp trợ giúp quần áo, đồ chơi, phương tiện giao thông, pháttriển kỹ năng quan sát của cha mẹ giúp họ hiểu bối cảnh phát triển của trẻ Chươngtrình được thực hiện bởi y tá nhi khoa, nhà giáo dục mầm non trong bệnh viện hoặcở nhà (Beckwith, 1988)
Trang 26Trẻ dưới 1 tuổi
Các can thiệp cho thấy sự cải thiện đáng kể về mặt thống kê đối với gắn bó
an toàn, trẻ sơ sinh được sử dụng trong nghiên cứu của Anifeld và cộng sự Sự canthiệp liên quan đến việc sử dụng những chất mềm hàng ngày cho bé với mục đíchthúc đẩy sự tiếp xúc vật lý tăng lên, khuyến khích khả năng đáp ứng của mẹ lớn hơn
so với việc kiểm soát chỗ ngồi của trẻ Thời gian sử dụng trung bình là 8,5 tháng(trong khoảng 4 đến 13 tháng) Nghiên cứu thu được trẻ sơ sinh có gắn bó an toànđáng kể hơn so với nhóm đối chứng (Anissfeld,1990)
Một hình thức tiếp theo liên quan đến tiếp xúc vật lý đó là phương pháp xoa
bóp (Massage Procedure) của Hansen và Ulrey sử dụng trong nghiên cứu với cha
mẹ người da trắng ở trẻ từ 3 đến 19 tháng tuổi bắt đầu can thiệp khi được chẩn đoán
có dấu hiện chậm phát triển vận động hoặc suy giảm thần kinh Can thiệp bao gồmhai lần mooit tuần với chương trình kích thích cảm biến trong vòng 3 giờ, liên quanđến các kỹ thuật xử lý và xoa bóp đặc biệt để tạo điều kiện thư giãn và tương tác dễchịu giữa trẻ sơ sinh và người chăm sóc Điều này đã thêm vào tiêu chuẩn của mộtchương trình cho tất cả các chương trình can thiệp sớm Kết quả Hansen và Urleyđánh giá cảm giác, tiếp xúc với mọi người, kiểm soát hành vi và sự khác biệt/ tổngthể giữa cha mẹ và con cái, được đưa ra bằng cách so sánh hành vi của trẻ và cha
mẹ trong 3 lĩnh vực này Cả hai nhóm kiểm soát và can thiệp đều cải thiện các hành
vi gợi ý, tiếp xúc và tổ chức, trong khi nhóm can thiệp được báo cáo là thể hiện sựtiến bộ hơn đáng kể về hành vi phối hợp (Hansen R, Ulrey G, 1988)
Các chương trình can thiệp sớm tại nhà cũng được sử dụng trong nghiên cứucủa Roggmen và cộng sự với các gia đình sống trong một khu vực Độ tuổi chínhxác khi bắt đầu can thiệp không được báo cáo tuy nhiên dữ liệu thu thập khi trẻ 14tháng, 18 tháng đến 24 tháng và 36 tháng tuổi Can thiệp được dựa trên 3 năm, hàngtuần với các cuộc thăm nhà bởi một nhà giáo dục gia đình và các nhóm nhân viên
xã hội Nhằm mục đích thúc đẩy sự tương tác tích cực giữa cha mẹ và con cái, sựhiểu biết về sự phát triển của trẻ em, tham gia vào các hoạt động của trẻ em và hỗtrợ cha mẹ trong việc tiếp cận các dịch vụ cộng đồng Sự can thiệp này đã tạo nên
sự khác biệt tích cực có ý nghĩa thống kê đối với gắn bó an toàn sau 18 tháng tuổi(Roggman L, 2009)
Trang 27Can thiệp đến thăm nhà được sử dụng trong nghiên cứu của Doesum vàcộng sự với trẻ sơ sinh (từ 5,5 tháng đến 12 tháng) với các bà mẹ gặp các rối loạntrầm cảm nặng được đánh giá chẩn đoán dựa trên tiêu chí đánh giá của DSM – IV,đang được điều trị ngoại trú Can thiệp vao gồm 8 đến 10 buổi, trong vòng 60 đến
90 phút, kéo dài trong khoảng 3 đến 4 tháng, được hỗ trợ boải các sinh viên tốtnghiệp có bằng thạc sĩ về tâm lý học hoặc tâm thần học đã được đào tạo về phòngngừa và giáo dục sức khỏe Các kỹ thuật được sử dụng trong các buổi can thiệp trịliệu bao gồm: mô hình hóa, tái cấu trúc nhận thức, huấn luyện hành vi cho cha
mẹ, mát xa cho bé, tùy thuộc vào nhu cầu của cha mẹ Kết quả thu được ở nhómcan thiệp có điểm số đáng kể cao hơn so với nhóm trẻ em theo dõi trong vòng 6tháng (Doesum, 2008)
Các biện pháp can thiệp không cho thấy sự cải thiện đáng kể về mặt thống
kê trong mối quan hệ gắn bó an toàn Sự can thiệp cá nhân được thực hiện bởi nữnhân viên xã hội có kinh nghiệm làm việc với bà mẹ và trẻ em đã được sử dụngtrong nghiên cứu của Barnett và cộng sự Những người tham gia hầu hết thuộc tầnglớp trung lưu, hay lo lắng về vấn đề của trẻ sơ sinh Sự can thiệp nhằm mục tiêugiảm bớt sự lo lắng của các bà mẹ và thúc đẩy sự gắn bó an toàn Bao gồm các hìnhthức hỗ trợ chung, các biện pháp thúc đẩy lòng tự trọng, khuyến khích phản ứngthích hợp với tín hiệu từ trẻ sơ sinh và khuyến khích các ông bố quan tâm đến em
bé và ủng hộ vợ chăm sóc con cái Can thiệp được sử dụng trong khoảng 12 tháng(tần suất diễn ra không được báo cáo) Tuy nhiên kết quả thu được không có sựkhác biệt đáng kể giữa nhóm can thiệp và nhóm đối chứng (Barnett B, 1985)
Video phản hồi can thiệp để thúc đẩy nuôi dạy con tích cực (Video –feedback Intervention to promote Positive Parenting - VIPP) được sử dụng trongnghiên cứu của Klein – Veldman và cộng sự với các bà mẹ phân loại vào nhómkhông an toàn, bỏ mặc hoặc bận tâm với đứa con đầu lòng, tuổi trung bình từkhoảng 6,8 tháng Can thiệp được thực hiện dựa trên những lần đến thăm nhà trongkhoảng 180 phút cho một phiên làm việc Bao gồm 3 phiên phản hồi video, tài liệu
về VIPP thảo luận về trải nghiệm gắn bó của người mẹ Kết quả thu được Klein vàcộng sự không tìm thấy hiệu quả can thiệp đáng kể (Klein – Velderman, 2006)
Trang 28Tư vấn, trị liệu nhận thức hành vi và trị liệu tâm vận động đã được sử dụngtrong nghiên cứu của Murray và cộng sự trên các bà mẹ có giai đoàn trầm cảm sausinh mức độ nặng và trẻ nhỏ từ 8 đến 18 tuần tuổi bắt đầu được thực hiện can thiệp.
Tư vấn bao gồm 10 buổi, hàng tuần, các buổi làm việc diễn ra tại nhà được thựchiện bởi một chuyên gia và một nhân viên không chuyên về tư vấn nhằm hỗ trợ các
bà mẹ mới trong vai trò của họ, đặc biệt là tập trung vào mối quan hệ mẹ con Trịliệu nhận thức hành vi được dựa trên lời khuyên về các kiểu suy nghĩ tiêu cực, môhình hóa và củng cố, chủ yếu hướng đến các vấn đề về quản lý trẻ sơ sinh được xácđịnh bởi người mẹ trong quan hệ tương tác mẹ con Trị liệu tâm vận động khám phácác biểu hiện của mẹ và em bé, bằng cách tìm hiểu các phản ứng ban đầu của người
me với mục đích giyos bà mẹ ứng phó và thúc đẩy các biểu hiện tích cực của em bé.Hiệu quả trị liệu thu được không đáng kể so với nhóm đối chứng
- Với nhóm trẻ mới biết đi từ 12 tháng đến 60 tháng
Các can thiệp cho thấy sự cải thiện đáng kể về mặt thống kê trong gắn bó antoàn khi sử dụng trị liệu tâm lý cho cha mẹ trẻ mới biết đi trong nghiên cứu củaCicchetti và cộng sự và cả trong nghiên cứu của Toth và cộng sự Các nghiên cứu sửdụng nhóm đối tượng các bà mẹ đã có một giai đoạn trầm cảm mức độ nặng kể từkhi sinh con, đáp ứng các tiêu chuẩn chẩn đoán của DSM – III Can thiệp nhằm thúcđẩy mối quan hệ gắn bó cho trẻ mới biết đi thông qua các buổi trị liệu hướng dẫncha mẹ, trị liệu phân tâm, liên kết với cha mẹ với sự giám sát cá nhân hàng tuần vàtrình bày, thảo luận hàng tuần về các buổi trị liệu bằng video Sau can thiệp, tỷ lệ trẻchập chững gắn bó an toàn thay đổi đáng kể (Murray L, 2003)
- Với nhóm trẻ từ 60 tháng tuổi trở đi
Tương tự sử dụng các hình thức trên với nhóm trẻ lớn hơn các kết quả thuđược cho thấy sự cải thiện đáng kể trong gắn bó an toàn về mặt thống kê
Các can thiệp khác, được đề cập bởi nhóm nghiên cứu PPI là nhóm nghiên
cứu có sự tham gia của bệnh nhân và cộng đồng (Patient and public involvement –
PPI), không có bằng chứng đủ mạnh vào thời điểm thực hiện đánh giá có hệ thống
để cho phép nhóm nghiên cứu đưa chúng vào các can thiệp: Trò chơi trị liệu , Tâm
lý trị liệu phát triển cặp đôi và Xem, chờ đợi và Tư hỏi .
Trang 29- Trò chơi trị liệu được sử dụng trong một số Dịch vụ chăm sóc sức khoẻ
tâm thần cho trẻ em và vị thành niên ở Vương quốc Anh, nhằm mục đích xây dựng
sự gắn bó thông qua việc tập trung vào các khía cạnh chính của mối quan hệ cha mẹ
và con cái thông qua chơi, các trò chơi và một loạt các hoạt động thúc đẩy quá trìnhnuôi dưỡng
- Tâm lý trị liệu phát triển cặp đôi (Dyadic Developmental Psychotherapy – DDP) là một can thiệp tập trung vào các mối quan hệ và nhằm mục đích phát triển
và duy trì các mối quan hệ giữa nhà trị liệu trẻ em, người chăm sóc trẻ em và nhà trịliệu - người chăm sóc, có ảnh hưởng và hợp tác Không có nghiên cứu đáp ứng cáctiêu chí để đưa vào đánh giá hệ thống của chúng tôi Một nghiên cứu khả thi chomột thử nghiệm ngẫu nhiên có kiểm soát của Tâm lý học phát triển Dyadic so vớiđiều trị như bình thường đã được thực hiện
- Xem, chờ đợi và Tư hỏi (WaTCh, Wait and Wonder): Đây là liệu pháp tâm
lý làm theo sự dẫn dắt của trẻ, cụ thể và trực tiếp sử dụng các hoạt động tự phát củađứa trẻ sơ sinh trong bối cảnh chơi tự do để tăng cường sự nhạy cảm và phản ứngcủa người mẹ Trong phiên trị liệu, với phần lớn công việc được thực hiện giữa nhàtrị liệu và người mẹ Sự can thiệp liên quan đến hoạt động của người mẹ và trẻ sơsinh trên sàn nhà, quan sát và tương tác với những đáp ứng của trẻ để tăng độ nhạycảm và phản ứng của người mẹ bằng cách người mẹ có quan điểm quan sát, trongkhi trẻ vẫn có sự tiếp xúc về mặt thể chất Sau đó, người mẹ thảo luận, chia sẻnhững gì mình vừa trải nghiệm và quan sát với nhà trị liệu Đây là cách tiếp cận nàytạo không gian cho trẻ sơ sinh/trẻ em và cha mẹ để làm việc thông qua sự phát triển
và các mối quan hệ thông qua trò chơi Ngoài ra, trọng tâm của liệu pháp này còngiúp cho cha mẹ hiểu, phản ánh về màu sắc cảm xúc, suy nghĩ, và mong muốn bêntrong của trẻ qua đó cha mẹ nhận ra cá tính riêng biệt của trẻ và hiểu được các phảnứng cảm xúc của chính mình với con
Can thiệp sớm với cha mẹ hoặc người chăm sóc, đặc biệt tập trung vào sựnhạy cảm của mẹ, có hiệu quả lâm sàng trong việc thúc đẩy sự gắn bó an toàn ở trẻ
em Các nhà thực hành lâm sàng cần cân nhắc cẩn thận không chỉ với lựa chọn canthiệp mà còn cả sự phù hợp giữa can thiệp đã chọn và đặc điểm của cha mẹ / người
Trang 30chăm sóc / hoặc trẻ em khi thực hiện các can thiệp này Nghiên cứu can thiệp chấtlượng cao trong tương lai là cần thiết, đặc biệt là ở trẻ em dưới 5 tuổi bị rối loạn gắn
bó và những trẻ có gắn bó hỗn loạn (Barry Wright, 2016)
Những người chăm sóc, thân thiết yêu thương là những người có khả năngcung cấp những điều cần thiết để giúp trẻ có rối loạn gắn bó phản ứng thay đổi.Không nhất thiết là gia đình giàu có miễn là họ có thể đáp ứng được các nhu cầucơp bản của trẻ Cũng không cần thiết rằng gia đình có liên quan về mặt sinh họcvới đứa trẻ Trẻ em không cần phải được tách ra khỏi cha mẹ ngược đãi hoặc bỏ bêtrước đây nếu xác định rằng cha mẹ chúng đã được cải cách đủ để trở thành ngườichăm sóc và yêu thương chúng Điều cần thiết cho trẻ em bị ảnh hưởng để phục hồichính là chúng không còn bị bỏ rơi hoặc lạm dụng, thay vào đó là được bù đắpnhững cơ hội để tương tác yêu thương Chỉ có sự hiện diện của gia đình yêu thươngmới có thể giúp trẻ em có rối loạn phản ứng gắn bó
Can thiệp tâm lý bao gồm: Giáo dục tâm lý cho các thành viên gia đình(người lớn và trẻ em) về bản chất của rối loạn mà họ đang phải đối mặt cung cấpmột khởi đầu tốt Phương pháp giáo dục giúp các thành viên trong gia đình kiểmsoát lo lắng và mối quan tâm của họ vào bối cảnh gia đình và trang bị kiến thức cầnthiết giúp trẻ tin tưởng vào người khác và thiết lập các mối quan hệ thân thiết
Có thể đề nghị tất cả thành viên tham gia trị liệu gia đình Các nhà trị liệu giađình hiểu rất nhiều cách khác nhau mà các vấn đề cá nhân có thể ảnh hưởng đếntoàn bộ các thành viên trong gia đình và họ sử dụng kiến thức đó để giúp các thànhviên gia đình giải quyết các vấn đề để thúc đẩy sự hoà hợp trong gia đình Một nhàtrị liệu gia đình nhận thấy rằng cha mẹ thất vọng với nhau vì những khó khăn mà họphải đối mặt khi nuôi dạy một đứa trẻ có rối loạn phản ứng gắn bó và giúp cha mẹnhìn thấy những điều xảy ra và làm thế nào để họ có thể thay đổi hành vi của cha
mẹ trước khi thay đổi những vấn đề của con Phụ huynh cũng có thể được giới thiệucho các lớp học kỹ năng chăm sóc hữu ích (như chiến lược kỷ luật hiệu quả khôngliên quan đến trừng phạt) Ngoài ra, cha mẹ cũng có thể được giới thiệu đến làmviệc với một nhà trị liệu hành vi, người có thể giúp họ thiết lập kế hoạch hành vitrong gia đình để thúc đẩy sự tương tác của con họ với các thành viên khác trong gia
Trang 31đình (trong trường hợp trẻ bị kích động, bị ức chế) hoặc không khuyến khích tươngtác với người lạ (trong trường hợp trẻ em mất đoàn kết).
Với những trẻ em bị rối loạn gắn bó có thể được khuyến nghị làm việc vớicác nhà trị liệu nhận thức hành vi hoặc chơi theo định hướng của trẻ để giúp thểhiện và xử lý những cảm giác phức tạp mà chúng thể hiện trong các tình huống vàtrang bị cho trẻ kỹ năng để ứng phó các tình huống hiệu quả hơn với những tìnhhuống xuất hiện cảm xúc, hành vi tiêu cực Sự phát triển của một mối quan hệ lànhmạnh với một nhà trị liệu có thể sẽ có lợi trong quá trình điều trị của trẻ
Những biện pháp điều trị khả thi khác nhau cho rối loạn phản ứng gắn bó củatrẻ thường tập trung vào việc tăng cường các mối quan hệ gắn bó phù hợp cảu trẻ,không khuyến khích hành vi gắn bó không phù hợp/ không an toàn, giúp thúc đẩycác mối quan hệ hài hoà trong toàn bộ gia đình và tăng các hỗ trợ xã hội sẵn có cảutrẻ Mục tiêu của các can thiệp này là khuyến khích trẻ phát triển niềm tin vào khảnăng quan hệ hệ yêu thương và an toàn nhất quán; Làm tăng đáng kể khả năng củatrẻ để phát triển các mối quan hệ phù hợp và tham gia vào các hoạt động xã hội
1.2 Một số vấn đề lý luận về gắn bó và vấn đề hành vi ở tre
1.2.1 Các khái niệm cơ bản về gắn bó
1.2.1.1 Khái niệm gắn bó
Theo Ainsworth (1992/1993/1995) đưa ra: Gắn bó là một sư liên kết tình
cảm cá nhân hình thành giữa người này với người khác tồn tại theo thời gian và không gian Sư gắn bó thể hiện bằng các hành vi thúc đẩy sư gần gũi và liên kết Ở
trẻ sơ sinh những hành vi này bao gồm gần gũi, nhìn theo, bám dính và các tín hiệu(cười, khóc, gọi) Thông qua các hoạt động này mà đứa trẻ thể hiện với người chămsóc có thể là quan trọng, an toàn, thỏa mãn Một số tác giả gọi đó là nhóm các phảnứng định hướng xã hội này là “sự phụ thuộc”, trong khi những người khác lại gán
cho nó là “tình yêu” (Thomas L Crandell, Corinne Haines Crandell, 2011, tr.177)
Trong quá trình nghiên cứu Tâm lý học phát triển, tác giả Trương Thị Khánh
Hà đưa ra “Sư gắn bó là mối liên hệ cảm xúc giữa cha mẹ và con cái Nó chứa
đưng các yếu tố như tình cảm gần gũi và yêu thương Mối liên hệ qua lại đó giữa cha mẹ và con cái bắt đầu hình thành từ khi đứa trẻ sinh ra và tiếp tục phát triển sâu sắc trong thời kỳ ấu thơ của trẻ” (Trương Thị Khánh Hà, 2013, tr82)
Trang 32Sự phát triển xã hội bắt đầu bằng việc thiết lập các mối quan hệ tình cảm gầngũi giữa một đứa trẻ và người mẹ, người cha, hay người chăm sóc đứa trẻ đó Mốiquan hệ khăng khít, bền vững, tình cảm này được gọi là sự gắn bó Do trẻ chưa thể
tự ăn hay tự bảo vệ chính mình, chức năng sớm nhất của gắn bó là để bảo đảm việcsống còn (RichardJ Gerrig, Philip G.Zimbardo, 2016, tr.370)
Trong lý thuyết về sự gắn bó, Bowlby (1969) đã xác định “gắn bó như một
mối liên kết quyền năng hợp nhất hai người với nhau” Theo Bowlby và Ainsworth,
quan hệ đầu tiên và chủ yếu của em bé khi mới sinh ra không phải là với đồ vậtchung quanh mà là với con người, với người chăm sóc trực tiếp, có thể là mẹ đẻhoặc là người mẹ thay thế, tức mẹ - nuôi (Caregiver) Ngay từ trong những thángđầu, em bé không thụ động mong đợi mẹ săn sóc, mà chủ động đối với mẹ, có mộtloạt ứng xử: kêu khóc, mỉm cười, bám víu, nhìn theo, tìm theo làm cho mẹ quantâm; đây là những tín hiệu, cách diễn đạt của trẻ Điều này cho phép trẻ sử dụng sựgắn bó như một điểm tựa an toàn qua thời gian và khoảng cách Em bé có thể gợihình ảnh mẹ trong lúc mẹ đi vắng Vì vậy, khi mẹ ra đi, biểu hiện quyến luyến củatrẻ chỉ rõ nét ở những lúc trẻ mỏi mệt hoặc bực bội Ngoài mẹ, trẻ có thể gắn bó vớimột số người khác Dựa trên cách đáp ứng của mẹ, có thể phân biệt ra các kiểu gắnbó: mẹ bình thường đáp ứng thoải mái hoặc chính mẹ bị rối loạn tâm lý đáp ứngkhó khăn, khi tránh né trẻ, khi quá nuông chiều trẻ, hoặc khi hắt hủi trẻ (NguyễnKhắc Viện, 1994, tr.101)
Gắn bó là sự ràng buộc cảm xúc sâu sắc và lâu dài, kết nối người này vớingười khác thông qua thời gian và không gian (Bowlby, 1969; Ainsworth, 1973)
Như vậy, Bowlby định nghĩa gắn bó như “một sư kết nối tâm lý bền vững giữa con
người với nhau” (Nguyễn Ánh Tuyết, 2012, tr.194) Ông cho rằng, gắn bó có thể
được hiểu trong một hoàn cảnh tiến hóa mà ở đó người chăm sóc đem lại sự an toàn
và cảm giác an toàn cho trẻ Sự gắn bó mang tính thích ứng khi nó làm tăng cơ hộisống còn cho trẻ Điều này được minh chứng trong công trình nghiên cứu củaLorenz (1935) và Harlow (1958) Theo Bowlby, trẻ có một nhu cầu phổ biến là tìmkiếm sự gần gũi mật thiết với người chăm sóc trẻ khi trẻ ở vào tình huống căngthẳng hoặc bị đe dọa (Prior & Glaser, 2006)
Trang 33Bourges định nghĩa: “Gắn bó được xem là mối quan hệ ưu tiên nối kết giữa
người này với người khác mà sư lưa chọn này được dưa trên một sư ham muốn hay một nhu cầu Gắn bó được quy định bởi các kinh nghiệm có được qua các giai đoạn nhạy cảm” (dẫn theo Văn Thị Kim Cúc, 2003, tr.83)
Theo từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học, khái niệm “gắn bó” mô tảmột phương thức ứng xử trong quan hệ mẹ - con, đặc biệt ở năm đầu tiên, bao gồmquan hệ về thể chất cũng như về tâm lý Người mẹ ở đây không nhất thiết là mẹ đẻ(mẹ sinh học), mà còn là người chăm sóc hàng ngày, tức là mẹ - nuôi Gắn bó là cóquan hệ hoặc làm cho có quan hệ tinh thần, tình cảm khó tách rời nhau (Hoàng Phê,
2010, tr.320)
Từ điển tâm lý học đưa ra định nghĩa: “Gắn bó là mối liên kết chặt chẽ giữa
người này với người khác Gắn bó mô tả mối quan hệ về mặt thân thể, cũng như tâm lý giữa những người có ý nghĩa đặc biệt với trẻ, đặc biệt là người mẹ hay người nuôi dưỡng Trẻ sơ sinh tìm kiếm sự chăm sóc, gắn bó như một bước để thiết
lập cảm giác được an toàn Trong thời kỳ đầu mới sinh (1 đến 3 tháng) trẻ có phản
xạ hướng về một người bất kỳ khi người đó lại gần trẻ Từ tháng thứ 3, trẻ đã biếtphân biệt lạ, quen Gắn bó được quan sát rõ nét ở những trẻ 6 đến 12 tháng tuổi khinhững người quan trọng đối với chúng (như: bố, mẹ, những người trong gia đình vànhững người trẻ quí mến) đang chơi với chúng rồi bỏ đi Trẻ thường khóc hoặc tìmcách để theo người đó Khi người đó quay lại trẻ cảm thấy mừng hoặc hài lòng” (VũDũng, 2008,tr.200)
Theo các nhà nghiên cứu, mức độ và hình thức gắn bó (đặc biệt là trongnhững năm đầu đời của trẻ) có tác động sâu sắc đến sự phát triển tâm lý của trẻ vềsau Nếu trẻ gặp trắc trở trong thiết lập quan hệ gắn bó thì điều đó có thể gây ra ởtrẻ những bệnh về tâm lý hoặc sinh lý
Như vậy, trong nghiên cứu này, tôi đồng nhất quan điểm với Bowlby, gắn bó
là sư ràng buộc cảm xúc sâu sắc và lâu dài – một sư kết nối tâm lý bền vững giữa
trẻ và người chăm sóc Sư gắn bó cho thấy sư an toàn và cảm giác an toàn mà người chăm sóc mang lại cho trẻ.
Trang 341.2.1.2 Các biểu hiện của sư gắn bó
Sự gắn bó mẹ con đặc trưng bởi sự gắn kết mạnh mẽ, cảm xúc nồng ầm và
sự giao lưu tình cảm sâu sắc giữa mẹ và con, đặc biệt là trong năm đầu đời Người
mẹ ở đây không nhất thiết là mẹ đẻ, mà có thể là người chăm sóc trẻ hàng ngày
Biểu hiện của sự gắn bó mẹ con là các hành vi làm tăng sự gần gũi tiếp xúccủa đứa trẻ với người mẹ Từ lúc lọt lòng trẻ đã có những phản xạ như mút, bámníu, khóc, mỉm cười, thỏa mãn khi được ôm ấp vỗ về Phản xạ rúc đầu vào bụng,vào ngực mẹ, một mặt là để tìm vú, mặt khác là muốn áp vào da thịt mẹ… Tất cảcác phản ứng đó tạo ra quan hệ cảm xúc gần gũi giữa mẹ và con Quan hệ với người
mẹ qua xúc giác là mối quan hệ xuất hiện sớm nhất và có vai trò bậc nhất đối với trẻtrong năm đầu
Sư gần gũi về thể chất và cảm xúc: Gắn bó mẹ con được đặc trưng bởi sự tìm
kiếm và duy trì trạng thái gần gũi giữa trẻ và mẹ (Avant, 1979; Marecki & cs., 1985;Lobar & Philipps, 1992) Theo Bowlby (1969), người mẹ lên kế hoạch gắn bó vớicon từ trước sự ra đời của trẻ Với kế hoạch này, người mẹ đã dự kiến khoảng thờigian cùng sống với trẻ và hạn chế các tình huống gây ra sự xa cách Vì thế, sự gầngũi được xem như một điều kiện mà trong đó bố mẹ giới hạn khoảng không giangiữa họ với trẻ bằng cách tạo thuận lợi cho sự tương tác và sự phát triển của trẻ.Những tiếp xúc sớm và lặp lại từ khi trẻ sinh ra cho phép bố mẹ vững tin về sự tồntại thực của trẻ và tìm hiểu về trẻ Nuôi dưỡng, ôm ấp, đu đưa, duy trì tiếp xúc mắtkéo dài và tìm kiếm một cách tích cực những cơ hội tương tác với con là nhữnghành vi thuận lợi cho sự phát triển mối quan hệ gắn bó
Người mẹ thường dùng các cách thức giác – động khác nhau để tiếp xúc vớicon, sự đụng chạm và tiếp xúc mắt là những cách thức hiệu quả nhất trong giao tiếpvới trẻ bé (Bourassa & cs, 1986; Brazelton & Cramer, 1992) Khi trẻ khóc, cười,bám víu hay nhìn theo, nó đã góp phần vào việc duy trì sự gần gũi với bố mẹ Việcduy trì và tìm kiếm sự gần gũi làm nảy sinh các cảm giác yêu thương, an toàn và vui
vẻ ở cả trẻ và mẹ (Karen, 1994)
- Sư tương tác: Khả năng giao tiếp của trẻ và của mẹ là một mắt xích nhỏ
nhưng hết sức cần thiết cho chất lượng mối quan hệ Tương tác là một kiểu thích
Trang 35ứng trong mối quan hệ dẫn đến hình thành một loạt hành vi thỏa mãn lẫn nhau Nhưthế, hành vi của mẹ được thích ứng với những dấu hiệu mà trẻ tạo ra nhằm hìnhthành nên một phản ứng tích cực ở trẻ (Aderson, 1981)
- Sư cam kết: Việc hình thành nên mối liên kết gắn bó kéo theo một mối quan
hệ bền vững mà ở đó bố mẹ, đặc biệt là người mẹ, cảm thấy có trách nhiệm cũngnhư luôn sẵn sàng về mặt thể chất và tâm lý đối với trẻ (Bourassa, 1986) Là người
mẹ được gắn bó có nghĩa là luôn cảm thấy được ràng buộc với con, có trách nhiệm
về sự an toàn, sự trưởng thành và sự phát triển của con và đảm bảo cho con một vịtrí nhất định trong gia đình và ngoài xã hội Bởi thế, bố mẹ, nhất là người mẹ cầnthiết phải đặt trẻ vào trung tâm cuộc sống của họ và của không gian gia đình Khitrẻ xuất hiện, các hệ thống gắn bó trong gia đình được tổ chức lại; theo đó, mỗithành viên sẽ tiếp tục cảm giác an toàn và tự do trong cuộc sống chung
1.2.1.3 Các giai đoạn gắn bó mẹ con
Các giai đoạn gắn bó của trẻ với người chăm sóc theo Bowlby:
Giai đoạn tìm kiếm (0 – 3 tháng tuổi) : với giới hạn của cơ quan thụ cảm, sự
gắn bó của trẻ chưa hướng đến sự đối tượng cụ thể, chưa tỏ ra khó chịu khi người lạ
bễ ẵm Trẻ tỏ ra thích nghe giọng nói của con người hơn là những âm thanh khác,thích nghe giọng nói của mẹ hơn là của người khác Đến 2 tháng tuổi,trẻ bắt đầu thểhiện nhu cầu gắn bó qua những giao tiếp bằng mắt
Giai đoạn thiết lập (3 – 6 tháng): Biết cười đáp lại những phản ứng này đã
trở nên chọn lọc duy trì hơn, nhạy với người nuôi dưỡng hơn là với người lạ Trẻbắt đầu biết phân biệt người quen với người lạ Trẻ chưa biểu hiện rõ rệt cảm giác lo
âu khi phải tạm xa mẹ
Giai đoạn đỉnh cao (6 – 24 tháng): Phân biệt được cha mẹ với người lạ và
thể hiện sự gắn bó rất chọn lọc Nhu cầu được gần gũi mẹ rất lớn Các biểu hiện củamong muốn này được trẻ bộc lộ rõ và chủ động hơn Xuất hiện sự lo âu rõ rệt khiphải xa cách mẹ Khi đó, nếu người lạ xuất hiện, trẻ sẽ biểu hiện những thích ứngđược việc xa mẹ tạm thời và sự xuất hiện của người lạ Cảm giác được an toàn củatrẻ ổn định hơn Đối tượng và mục tiêu của sự gắn bó được mở rộng ra phản ứng rấtmạnh và bộc phát
Trang 36Giai đoạn duy trì (2 – 3 tuổi): Thích ứng được với việc xa mẹ tạm thời và sự
xuất hiện của người lạ Cảm giác được an toàn của trẻ ổn định hơn Đối tượng vàmục tiêu của sự gắn bó được mở rộng (Nguyễn Hồi Loan, Trần Thu Hương, 2018,tr.255 – 256)
1.2.1.4 Các kiểu gắn bó
Gắn bó an toàn: Trẻ có gắn bó an toàn có hướng khám phá môi trường một
cách tự do và tương tác tốt với người lạ khi có sự hiện diện của người chăm sóc Trẻ
có thể bị khó chịu bởi chia cách và nếu có, trẻ sẽ phản đối và giới hạn lại việc khámphá môi trường khi người chăm sóc vắng mặt Trong lúc gặp mặt lại, trẻ đón chàongười chăm sóc một cách tích cực và tìm kiếm tiếp xúc với người này và sẵn sàngđược dỗ dành, trẻ cũng có thể quay lại chơi sau một lúc được tái nạp năng lượngcảm xúc Hành vi của người chăm sóc được ghi nhận bởi sự nhạy bén với nhu cầucủa trẻ Đặc biệt là người chăm sóc đọc được các tín hiệu của trẻ một cách chínhxác và đáp ứng một cách nhanh chóng, phù hợp và với cảm xúc tích cực
Gắn bó tránh né không an toàn: Trong gắn bó tránh né, trẻ dường như độc lập
một cách sớm hơn bình thường Trẻ dường như không dựa vào người chăm sóc để cóđược an toàn khi người chăm sóc hiện diện, trẻ khám phá căn phòng rất độc lập và đápứng với người chăm sóc và người lạ như nhau Trẻ đáp ứng rất ít đối với sự vắng mặtcủa người chăm sóc, đôi khi trẻ thậm chí không nhìn theo khi người chăm sóc rời khỏi.Trong lúc gặp mặt lại, những trẻ này né tránh gần gũi với người chăm sóc, trẻ có thểquay đi, tránh giao tiếp mắt, và phớt lờ người chăm sóc Mặc dù trẻ có vẻ thờ ơ nhưngkhi đo lường các chỉ số sinh lý cho thấy trẻ thực ra có khó chịu Hành vi của ngườichăm sóc được ghi nhận bằng sự xa cách và thiếu vắng sự dỗ dành đi kèm với khó chịu
và giận dữ trong khi gần gũi Người ta cho rằng né tránh là sự cố gắng của trẻ đối mặtvới nhu cầu của cha mẹ muốn cách xa bằng cách trẻ giữ đáp ứng thấp và kiềm chế biểu
lộ cảm xúc mà nó có thể gây ra sự từ chối của cha mẹ
Gắn bó chống đối không an toàn: ngược lại với trẻ né tránh, trẻ có gắn bó
chống đối (cũng được gọi là hai chiều) bị bận rộn với người chăm sóc, trẻ cókhuynh hướng bám dính vào và bị ức chế từ việc khám phá căn phòng hoặc từ việctương tác với người lạ ngay cả khi có mặt của người chăm sóc Trẻ dễ bị gây khó
Trang 37chịu khi chia cách, nhưng khi gặp mặt lại, trẻ cố gắng chống đối một cách giận dữkhi gần gũi và không dễ dỗ dành Trẻ đáp ứng với mẹ bằng tìm kiếm gần gũi haichiều và từ chối Hành vi của người chăm sóc được ghi nhận bằng khả năng khôngthể dự đoán được, đôi khi người chăm sóc gần gũi quá mức và lúc khác thì lạikhông liên quan với trẻ hay khó chịu Chống đối được xem như là những cố gắngcủa trẻ nhằm để có được sự chú ý của người chăm sóc, trong khi đó giận dữ lại đến
từ việc ấm ức về chăm sóc không tương hợp
Gắn bó rối loạn tổ chức không an toàn: đây là kiểu gắn bó mới được thêm
vào sau này Trẻ bị rối loạn tổ chức hoạt động theo một cách thức không tương hợphay khác lạ Những trẻ này có thể biểu lộ ngạc nhiên hay đi lang thang xung quanhkhông có mục đích hay sợ hãi và hai chiều trong sự hiện diện của người chăm sóc,không biết là trẻ tiếp cận với người chăm sóc để được dễ chịu hay tránh né để được
an toàn Nếu trẻ tìm kiếm sự gần gũi, trẻ làm theo cách thức bóp méo như là tiếpcận với người chăm sóc và phía sau hay bất thình lình lạnh lùng và nhìn chằmchằm vào khoảng không Không giống như trẻ nhỏ có gắn bó né tránh và chốngđối, những trẻ này dường như không phát triền một chiến lược ổn định để tiếp xúcvới người chăm sóc (Nguyễn Hồi Loan, Trần Thu Hương, 2018, tr.253 – 254)
1.2.2 Các khái niệm về vấn đề hành vi ở trẻ
1.2.2.1 Vấn đề hành vi
Trẻ em đang độ tuổi phát triển và trưởng thành, thể chất và tâm lý đang biếnđộng Khác với người lớn, hành vi của trẻ nhỏ chưa bị chi phối nhiều bởi phong tụctập quán, kỷ cương, luật lệ xã hội Ranh giới giữa bình thường và bất thường khóxác định rõ Việc đánh giá bình thường và bệnh lý bao giờ cũng phải tính đến tuổiphát triển tâm lý của trẻ em, mức độ trầm trọng, sự tái diễn, kéo dài của hành vi rốiloạn Bình thường - bất thường - bệnh lý là một liên thể Không thể định nghĩa kháiniệm bình thường mà không kể đến khái niệm bệnh lý và ngược lại Bình thường cónhiều nghĩa theo các quan niệm khác nhau
Vấn đề hành vi (behavior problem): là biểu hiện triệu chứng về tình trạng
bất ổn về tình cảm hoặc giữa cá nhân, đặc biệt là ở trẻ em như cắn móng tay, đái dầm, tiêu cưc hoặc những hành vi thù địch, gây hấn, chống đối xã hội).
Trang 381.2.2.2 Các vấn đề hành vi thường xuất hiện ở trẻ
Các vấn đề sức khoẻ tâm thần ở trẻ em và thanh thiếu niên bao gồm một sốrối loạn cảm xúc và hành vi, bao gồm rối loạn trầm cảm, lo âu, rối loạn phát triểnlan toả (tự kỷ), đặc trưng là các vấn đề bên trong và bên ngoài Các vấn đề hành vigây rối như giận dữ, rối loạn tăng động giảm chú ý, rối loạn hành vi chống đối, rốiloạn hành vi thích ứng là những vấn đề phổ biến nhất ở trẻ em tuổi mẫu giáo và tuổi
đi học
Nói chung rối loạn sức khoẻ tâm thần (MHD) diễn ra phổ biến ở thời thơi ấubao gồm cả rối loạn cảm xúc – ám ảnh cưỡng chế (OCD), lo âu, trầm cảm, rối loạnthách thức chống đối (ODD), rối loạn chống đối (CD), rối loạn tăng động giảm chú
ý (ADHD) hoặc rối loạn phát triển (chậm nói/ ngôn ngữ, khuyết tật trí tuệ), rối loạnphát triển lan toả (rối loạn phổ tự kỷ) Các vấn đề về cảm xúc và hành vi (EBP)/ rốiloạn cảm xúc và hành vi (EBD) cũng có thể được phân loại thành rối loạn nội tâm(rối loạn cảm xúc như trầm cảm và lo âu) hoặc hướng ngoại (hành vi gây rối nhưADHD và CD) Dưới đây, tôi đề cập đến rối loạn hành vi thích ứng là vấn đề hành
vi liên quan đến đề tài nghiên cứu:
Các rối loạn thích ứng: Trạng thái đau khổ chủ quan và rối loạn cảm xúc,
thường gây trở ngại cho các chức năng hoạt động xã hội và hiệu suất công việc, vàchúng phát sinh trong giai đoạn thích ứng với những thay đổi đáng kể trong cuộcsống hay với một sự kiện gây stress trong cuộc sống Tác nhân gây stress có thể ảnhhưởng lên sự toàn vẹn các mối quan hệ xã hội của cá nhân (tang tóc, chia ly) hoặclên hệ thống rộng lớn hơn về các giá trị và nâng đỡ xã hội (di cư, tình trạng tỵ nạn)hay chúng tiêu biểu cho những giai đoạn khủng hoảng hoặc những giai đoạn chuyểntiếp phát triển chủ yếu (như việc đi học, việc trở thành cha mẹ, thất bại trong việcđạt được một mục tiêu cá nhân đã hy vọng từ lâu, sự về hưu) Tố bẩm cá nhân hoặctính dễ bị tổn thương đóng vai trò quan trọng trong nguy cơ mắc bệnh và trong việchình thành các biểu hiện của rối loạn sự thích ứng, tuy nhiên người ta vẫn cho rằngtình trạng này đã không xảy ra nếu như không có tác nhân gây stress Các biểu hiệnthường thay đổi và bao gồm khí sắc trầm, lo âu hay phiền muộn (hoặc hỗn hợp các
lo âu đó), cảm giác không có khả năng đối phó, dự định trước, hoặc tiếp tục trong
Trang 39hoàn cảnh hiện tại, cũng như vài mức độ giảm hiệu suất của các công việc hàngngày Đặc biệt ở tuổi thanh thiếu niên có thể có kết hợp với các rối loạn hành vi.Triệu chứng ưu thế có thể là một phản ứng trầm cảm ngắn hay kéo dài, hay một rốiloạn cảm xúc và hành vi khác Sốc văn hóa Phản ứng đau khổ Hội chứng lưu viện ở
trẻ em Loại trừ: rối loạn lo âu chia ly ở trẻ em (F93.0)
Tóm lại các vấn đề tâm lý của trẻ em và thanh thiếu niên, thường liên quanchặt chẽ với môi trường gia đình và trường học, cần quan tâm khai thác các thôngtin về lịch sử gia đình và cá nhân, các sự kiện quan trọng, các cảm xúc, các mốiquan hệ tương tác giữa các thành viên gia đình, với thầy cô giáo, với các bạn cùng
độ tuổi ;
1.2.3 Đặc điểm phát triển của trẻ từ giai đoạn 3 đến 6 tuổi
1.2.3.1 Sư phát triển hoạt động và thể chất
Từ 3 đến 6 tuổi, ở trẻ xảy ra sự tăng trưởng nhanh chóng về hình thái Bộxương được cốt hóa, cơ to ra, cơ quan hô hấp và tuần hoàn phát triển Trọng lượngnão tăng lên nhanh, vỏ não với các chức năng điều khiển, điều chỉnh phát triển, tốc
độ hình thành những phản xạ có điều kiện tăng nhanh, hệ thống tín hiệu thứ hai vàcác cơ quan phân tích cảm giác phát triển mạnh Sự phát triển nhanh của hệ thầnkinh và cơ thể là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển những chức năng tâm lý cao
Hoạt động chủ đạo ở lứa tuổi này là hoạt động vui chơi đặc biệt là trò chơiđóng vai Trò chơi đóng vai được xem như cách trẻ mô phỏng một mảng nào đó củacuộc sống người lớn trong xã hội bằng việc nhập vai vào một nhân vật nào đó đểthể hiện chức năng xã hội của họ bằng những hành động mang tính tượng trưng Tròchơi này có ý nghĩa đặc biệt, chiếm vị trí trung tâm trong hoạt động vui chơi của trẻmẫu giáo và đóng vai trò chủ đạo đối với sự phát triển của trẻ giai đoạn này, tạo racấu tạo mới trong đời sống tâm lý của trẻ (Trương Thị Khánh Hà, 2013)
1.2.3.2 Sư phát triển nhận thức và ngôn ngữ
Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ giai đoạn này diễn ra mạnh mẽ, và đến cuốituổi mẫu giáo, hầu hết các trẻ đều nắm được một cách thành thạo tiếng mẹ đẻ
Khoảng 3 tuổi trẻ đã có thể nghe hiểu và nói được những câu đầy đủ, kháphức tạp, số lượng và từ mà trẻ biết là gần 1000 từ Trẻ đã biết sử dụng liên từ và từ
Trang 40đã biết ghép câu đơn, sử dụng các thành phần phần ngữ pháp tương đối đúng Bắtchước, củng cố các cấu trúc ngôn ngữ bẩm sinh, sự phát triển nhận thức của trẻ lànhững yếu tố có vai trò quan trọng nhất ảnh hưởng tốt quá trình lĩnh hội ngôn ngữ
mẹ đẻ một cách tự nhiên
Khoảng 4 – 5 tuổi các bình diện ngôn ngữ như từ vựng, ngữ âm, ngữ điệu,ngữ pháp hầu như đã được trẻ nắm vững Đến cuối tuổi mẫu giáo, trẻ đã phát triểnngôn ngữ mạch lạc Có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tư duy Vỗn từ của trẻ lúc đó
có thể đạt tới 3000 – 4000 từ Trẻ sử dụng danh từ, động từ, tính từ, đại từ, liên từđể diễn tả các tình huống một cách thành thạo Các cấu trúc ngữ pháp và các quy tắcđều được trẻ tuân thủ khi nói (Trương Thị Khánh Hà, 2013)
1.2.3.3 Sư phát triển tâm lý
Về mặt nhận thức ở giai đoạn này, trí nhớ là quá trình phát triển mạnh mẽnhất, giúp trẻ lưu giữ khối lượng khổng lồ các hình ảnh, biểu tượng, ký hiệu, làmnguyên liệu cho các quá trình tâm lý phức tạp và cao cấp hơn sau này Ở giai đoạnnày, phần lớn là trí nhớ không chủ định trẻ không đặt mục đích phải nhớ Trí nhớ cóchủ định bắt đầu phát triển từ khoảng 4, 5 tuổi
Cũng chính vì vậy tri giác trở nên đa dạng, bao hàm những mối liên hệ khácnhau giữa đối tượng được tri giác với các sự vật, hiện tượng trẻ đã quen gặp và làmquen trong quá khứ Các hành động tri giác có chủ định như quan sát, tìm tòi bắtđầu phát triển phục vụ nhu cầu nhận thức ngày càng tăng ở trẻ
Từ 3 đến 6 tuổi, trẻ bắt đầu hình thành nhiều loại biểu tượng phức tạp hơn
Đó là những biểu tượng về khối lượng (nặng, nhẹ); về kích cỡ (to, nhỏ, lớn, bé); vềmối quan hệ không gian (trên, dưới, trước, sau, trong, ngoài); về các hiện tượngtrong thiên nhiên (mưa, nắng, sáng, tối); về so sánh số lượng, kích thước (ít hơn,nhiều hơn, to hơn, bé hơn) Đặc biệt, các em bắt đầu hình thành các biểu tượng vềcác chuẩn mực xã hội (ngoan, hư, tốt, xấu) thông qua việc tri giác các hiện tượng cụthể và được người lớn chỉ dẫn
Giai đoạn này đặc trưng bởi sự xuất hiện chức năng biểu tượng, đó là sửdụng từ ngữ, các động tác hay vật nào đó để diễn tả hay biểu thị sự vật, hiện tượng