1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH TƯ VẤN SỨC KHỎE TRÊN TRUYỀN HÌNH HIỆN NAY

142 73 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 142
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, số lượng các chương trình truyền hình sức khỏe được thựchiện theo hình thức liên kết sản xuất với sự tham gia của các công ty tư nhânngày càng nhiều.. Do đó, tác giả luận văn t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu nghiêm túc của cá nhân.Các kết quả nghiên cứu, khảo sát, số liệu công bố trong luận văn là hoàn toànchính xác và trung thực, không trùng lặp với bất kỳ công trình khoa học nào đãcông bố trong và ngoài nước, nếu sai phạm, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Tác giả luận văn

ĐẶNG CÔNG HƯƠNG

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện luận văn thạc sĩ báo chí với đề tài “Sản xuất chương trình tư vấn sức khỏe trên truyền hình hiện nay” tôi đã nhận

được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS NguyễnThành Lợi đã tận tình dìu dắt và có những ý kiến góp ý chân thành cho tôitrong suốt quá trình thực hiện luận văn

Tôi xin chân thành cám ơn các cán bộ, giảng viên thuộc Viện Đào tạoBáo chí và Truyền thông, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đạihọc Quốc gia Hà Nội cùng các thầy cô giảng dạy các bộ môn đã chỉ bảo, tạođiều kiện cho tôi trong quãng thời gian học tập và nghiên cứu Đồng thời, tôicũng xin được gửi lời cám ơn các anh, chị đồng nghiệp, phóng viên, biên tậpviên của Đài và các công ty truyền thông đã cung cấp cho tôi những thông tincần thiết phục vụ trong quá trình thực hiện luận văn

Cuối cùng, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến gia đình,bạn bè, những người luôn ủng hộ, động viên tôi nỗ lực để hoàn thành tốt luậnvăn này

Mặc dù có nhiều cố gắng song luận văn vẫn còn nhiều thiếu sót, tácgiả rất mong nhận được sự chỉ bảo, giúp đỡ của các thầy cô, bạn bè…để luậnvăn được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Tác giả luận văn ĐẶNG CÔNG HƯƠNG

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 5

1 Lý do lựa chọn đề tài 5

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 8

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 14

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 15

5 Phương pháp nghiên cứu 16

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 16

7 Kết cấu của luận văn 18

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SẢN XUẤT CÁC CHƯƠNG TRÌNH TƯ VẤN SỨC KHỎE TRÊN TRUYỀN HÌNH 19

1.1 Một số khái niệm liên quan 19

1.1.1 Khái niệm truyền hình 19

1.1.2 Chương trình truyền hình 20

1.1.3 Sản xuất chương trình truyền hình 21

1.1.4 Liên kết sản xuất chương trình truyền hình 24

1.1.5 Chương trình tư vấn sức khoẻ trên truyền hình 25

1.2 Quy trình và các phương thức sản xuất chương trình tư vấn sức khỏe

trên truyền hình 27

1.2.1 Quy trình sản xuất chương trình tư vấn sức khỏe trên truyền hình 27

1.2.2 Các phương thức sản xuất chương trình tư vấn sức khỏe trên truyền hình .34

1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sản xuất các chương trình tư vấn

sức khỏe trên truyền hình 39

1.3.1 Thị hiếu người xem 39

1.3.2 Định hướng của Đài truyền hình 40

1.3.3 Kinh phí và đối tác liên kết 40

1.3.4 Ekip sản xuất chương trình truyền hình 41

1.3.5 Yếu tố thời lượng và format chương trình 42

1.3.6 Những vấn đề của thực tế cuộc sống 42

Tiểu kết chương 1 43

Trang 6

Chương 2 THỰC TRẠNG SẢN XUẤT CÁC CHƯƠNG TRÌNH

TƯ VẤN SỨC KHỎE TRÊN TRUYỀN HÌNH 45

2.1 Giới thiệu về các chương trình khảo sát 45

2.1.1 Chương trình Quý hơn vàng 45

2.1.2 Chương trình Sức khỏe trong tầm tay 46

2.1.3 Chương trình Sức khỏe của bạn 47

2.2 Thực trạng hoạt động sản xuất các chương trình tư vấn sức khoẻ qua các kênh khảo sát 47

2.2.1 Nội dung 47

2.2.2 Hình thức 49

2.2.3 Quy trình sản xuất 51

2.2.4 Hiệu quả qua nghiên cứu công chúng 60

2.2.5 Điểm tương đồng và khác biệt của chương trình liên kết và chương trình đài truyền hình tự sản xuất 63

2.3 Đánh giá chung 68

2.3.1 Thành công 68

2.3.2 Hạn chế 70

2.3.3 Nguyên nhân hạn chế 72

Tiểu kết chương 2 73

Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHOA HỌC NÂNG CAO HIỆU QUẢ

SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH TƯ VẤN SỨC KHỎE

TRÊN TRUYỀN HÌNH 76

3.1 Khuynh hướng sản xuất các chương trình tư vấn sức khỏe trên truyền hình 76

3.1.1 Mở rộng liên kết sản xuất và xã hội hóa sản xuất chương trình

truyền hình 76

3.1.2 Thay thế các chương trình tư vấn sức khỏe theo format truyền thống

bằng các chương trình tư vấn sức khoẻ có format hiện đại dễ tiếp cận

công chúng hơn 77

3.1.3 Chuyên môn hóa và chuyên biệt hóa 78

Trang 7

3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất chương trình tư vấn sức khỏe

trên truyền hình 79

3.2.1 Bổ sung đủ nguồn nhân lực và thiết bị cho quá trình sản xuất

chương trình 79

3.2.2 Thống nhất, nâng cao nhận thức về hoạt động liên kết sản xuất 79

3.2.3 Mở rộng đối tượng tham gia liên kết sản xuất nhưng Đài Truyền hình

cần phải nắm chắc về vấn đề nội dung và phát sóng 80

3.2.4 Trẻ hóa nhóm đối tượng của chương trình tư vấn sức khỏe 81

3.2.5 Phối hợp với các nền tảng mạng xã hội, có kế hoạch quảng bá rõ ràng, bài bản 82

3.3 Đề xuất kiến nghị 84

3.3.1 Đề xuất với các cơ quan quản lý 84

3.3.2 Đề xuất với các Đài Truyền hình 90

Tiểu kết chương 3 93

KẾT LUẬN 95

TÀI LIỆU THAM KHẢO 98 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Sơ đồ 1.2.1.1(1): Mối liên quan giữa các chức danh trong quá trình sản xuất

tiền kỳ 28

Sơ đồ 1.2.1.1(2): Các công đoạn trong quá trình sản xuất tiền kỳ 30

Sơ đồ 1.2.1.2: Quá trình ghi hình chương trình tư vấn sức khỏe 31

Sơ đồ 2.2.3(1): Quy trình sản xuất chương trình Quý hơn vàng 51

Sơ đồ 2.2.3(2): Quy trình thực hiện chương trình liên kết sản xuất một phần giữa đài truyền hình và đơn vị truyền thông 54

Sơ đồ 2.2.3(3): Quá trình hình thành chương trình tư vấn sức khỏe

do phóng viên phát hiện đề tài 57

Sơ đồ 2.2.3(4): Quá trình hình thành chương trình tư vấn sức khỏe

với hướng xây dựng là do ban biên tập giao đề tài 58

Hình 2.2.4: Số phát sóng cũ năm 2016 của Quý hơn vàng vẫn được khán giả đón nhận 60

Bảng 2.2.5.2: So sánh một số điểm khác biệt cơ bản của chương trình

liên kết sản xuất và chương trình các Đài truyền hình tự sản xuất 64

Hình 2.2.5.2(1): Trường quay chương trình “Sức khỏe trong tầm tay” 67

Hình 2.2.5.2(2): Trường quay chương trình “Sức khỏe của bạn” 67

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Sức khỏe là nền tảng quan trọng tạo nên sự phát triển của xã hội Tổchức Y tế Thế giới (WHO) đã khẳng định: “Sức khỏe tốt là một trong nhữngquyền cơ bản của con người không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, chính kiếnchính trị hay điều kiện kinh tế, xã hội”

Tại Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta xác định chăm sóc, bảo vệ và nângcao sức khoẻ nhân dân là công tác đặc biệt quan trọng Ngày 14/1/1993, BanChấp hành Trung ương khoá VII đã ban hành “Nghị quyết chuyên đề vềnhững vấn đề cấp bách của sự nghiệp chăm sóc sức khoẻ nhân dân” Tại hộinghị Trung ương 6 khóa XII, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành “Nghịquyết số 20-NQ/TW ngày 25/10/2017 về tăng cường công tác bảo vệ, chămsóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới” Ngay sau đó, Chínhphủ đã có Nghị quyết 139/NQ-CP ban hành “Chương trình hành động củaChính phủ về chăm sóc sức khỏe nhân dân” để thực hiện Nghị quyết nói trêncủa Trung ương Đảng Nhờ đó, các chỉ số sức khoẻ, tuổi thọ bình quân đềuđược cải thiện và Việt Nam được các tổ chức quốc tế đánh giá là điểm sáng

về thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc

Với tư cách là công cụ truyền thông đắc lực, truyền tải có hiệu quả cácđường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến vớiđông đảo quần chúng nhân dân, báo chí nói chung và truyền hình nói riêng đã

có những đóng góp đáng kể trong việc phản ánh thực trạng sức khỏe củangười dân hiện nay, cung cấp thông tin về những phương pháp điều trị bệnh,những thành tựu y học tiên tiến, tư vấn sức khỏe cho cộng đồng nhằm gópphần thực hiện tốt các mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đề ra trong việc tăngcường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân

Nói riêng về lĩnh vực truyền hình, đây có thể coi là một phương tiệntruyền thông hữu hiệu để đáp ứng nhu cầu thông tin về mọi mặt của đời sống

Trang 10

xã hội, đặc biệt là thông tin về sức khỏe một cách ngắn gọn, nhanh chóng vàcùng lúc thoả mãn được nhiều đối tượng ở nhiều nơi Với lợi thế truyền tảithông tin trực quan, sinh động qua hình ảnh và âm thanh; truyền hình khôngchỉ giúp công chúng tiếp cận thông tin sức khỏe qua sự mô tả như phát thanh

mà còn cho họ thấy được những hình ảnh thực tế minh họa cho thông tin cầntruyền tải Nhờ vậy, công chúng nắm bắt thông tin về sức khỏe hiệu quả hơn,nhanh chóng hơn và dễ dàng hơn

Đứng trước những đòi hỏi của cuộc sống, truyền hình phải tự đổi mớimình và tạo nên sức hút đối với tất cả các chương trình nói chung và chươngtrình sức khỏe nói riêng; các nhà quản lý truyền hình đã mạnh dạn liên kết,hợp tác với các đối tác bên ngoài đài để sản xuất các chương trình truyềnhình, trong đó có các chương trình truyền hình tư vấn sức khỏe Hình thứcliên kết, hợp tác sản xuất này còn được gọi là hoạt động xã hội hóa sản xuấtchương trình truyền hình Đặc biệt, từ khi có văn bản của các bộ, ban, ngànhchức năng hướng dẫn việc liên kết sản xuất chương trình truyền hình, hoạtđộng này ở Việt Nam đã phát triển sôi nổi và đa dạng hơn Hoạt động liên kếtsản xuất đã đem đến cho các chương trình truyền hình tư vấn sức khỏe bứctranh đa màu sắc, công chúng có thêm nhiều sự lựa chọn mới và không thểphủ nhận những thành tựu mà hoạt động này mang lại Tuy nhiên, bên cạnh

sự đa dạng này, hoạt động liên kết sản xuất cũng đã làm xuất hiện những hạnchế, bất cập

Hiện nay, số lượng các chương trình truyền hình sức khỏe được thựchiện theo hình thức liên kết sản xuất với sự tham gia của các công ty tư nhânngày càng nhiều Chính phương thức sản xuất truyền hình thông qua liên kếtvới các doanh nghiệp bên ngoài đài đã giúp các chương trình truyền hình vềsức khỏe không chỉ tồn tại, phát triển mà còn mang lại lợi nhuận lớn cho nhàđài và các công ty truyền thông liên kết sản xuất Không thể phủ nhận lợi ích

về mặt kinh tế mà các chương trình truyền hình tư vấn sức khỏe mang lại cho

Trang 11

các cơ quan thông tấn, truyền thông cũng như lợi ích về thông tin mà côngchúng nhận được, tuy nhiên do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, từ thờilượng phát sóng, từ áp lực tiến độ, từ cách tiếp cận, thu thập và nghiên cứuthông tin… mà có không ít nội dung còn chưa thực sự phù hợp, việc sắp đặtcòn tùy tiện, thiếu khoa học, hiệu quả thông tin không cao hoặc thậm chí có

cả những thông tin chưa thực sự chính xác Có những chương trình lại sửdụng quá nhiều thuật ngữ chuyên ngành, những từ ngữ mới về bệnh tật, cũngnhư các tác nhân gây bệnh, các loại thuốc điều trị… khiến khán giả cảm thấyphức tạp và dễ nhầm lẫn Nguồn cung cấp tin tức, dữ liệu y khoa cho truyềnhình ngày càng nhiều hơn và dưới các hình thức khác nhau, gây khó khăn choviệc kiểm soát mức độ tin cậy của thông tin Đặc biệt là việc đan xen nhiềuyếu tố quảng cáo, khiến tính định hướng về chăm sóc sức khỏe đối với cộngđồng đôi khi bị lấn áp bởi yếu tố thương mại Đôi khi nội dung các chươngtrình được thực hiện không phải là do tình hình y tế, sức khoẻ cộng đồng hiệntại đang cần thiết, mà là do liên quan đến sản phẩm của nhà tài trợ Các nhàtài trợ cũng có những can thiệp thô bạo vào nội dung chương trình để đẩy yếu

tố quảng cáo sản phẩm vào, có những lúc cố tình tạo ra cách hiểu sai lệch chongười xem Do vậy, những yêu cầu về sự minh bạch, khách quan khi thông tin

tư vấn sức khoẻ đôi khi bị xem nhẹ, mà đây lại là yếu tố sống còn của cácchương trình này Nếu thông tin không minh bạch, khách quan và không đápứng đúng nhu cầu của người xem, thì sau một thời gian ắt hẳn lượng khángiản quan tâm đến chương trình sẽ đi xuống Lĩnh vực thông tin sức khoẻ liênquan trực tiếp đến sinh mệnh con người, đòi hỏi đội ngũ phóng viên, cơ quantruyền thông phải có am hiểu và có kĩ năng thông tin phù hợp, phải có đạođức và có khả năng đánh giá tác động thông tin, tránh gây hiểu lầm, tạo dưluận không tốt

Từ những thực tế trên đã đặt ra nhiều câu hỏi cần giải đáp liên quan đếnsản xuất các chương trình truyền hình tư vấn sức khỏe như: Nên sản xuất các

Trang 12

chương trình truyền hình tư vấn sức khỏe như thế nào? Có nên liên kết sảnxuất hay không? Hình thức sản xuất và liên kết sản xuất ra sao? Đối tượngnào có thể tham gia hoạt động sản xuất? Tính thương mại và tính báo chítrong các chương trình này cần được đặt ở vị trí như thế nào? Quan trọng hơn

cả là nó đã thực sự đáp ứng được nhu cầu tiếp cận thông tin của khán giả haychưa? Đây là những vấn đề khó, liên quan đến lý luận và thực tiễn, liên quanđến định hướng, mô hình phát triển, phương thức hoạt động cụ thể được quyđịnh cho từng chủ thể tham gia sản xuất Ngoài ra, công tác quản lý nói chungcũng như việc ban hành các văn bản qui phạm pháp luật vẫn chưa theo kịphoặc chậm so với sự phát triển nhanh của xu thế sản xuất Đây cũng lànguyên nhân dẫn đến sự lúng túng trong công tác chỉ đạo, quản lý, khả năngchệch hướng trong việc xác định nhiệm vụ chính trị và lợi ích kinh tế Thực tếcho thấy, hiệu quả kinh tế mang lại chỉ là một khía cạnh của vấn đề và còn rấtnhiều câu hỏi đang đặt ra, cần được nghiên cứu, xem xét và có lẽ câu trả lờichỉ có thể xuất phát từ việc phân tích sâu sắc thực tiễn hoạt động, quy trìnhhợp tác, sản xuất các chương trình truyền hình tư vấn sức khỏe cụ thể Do đó,

tác giả luận văn thực hiện nghiên cứu đề tài: “Sản xuất chương trình tư vấn sức khỏe trên truyền hình hiện nay” nhằm góp phần tìm ra giải pháp nâng cao

chất lượng thông tin tư vấn sức khỏe trên các chương trình truyền hình, từ đógiảm thiểu những vấn đề còn tồn tại trong mảng thông tin về y tế sức khỏe

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trong thời gian vừa qua đã xuất hiện nhiều ý kiến, bài viết và công trìnhnghiên cứu khoa học ở nhiều cấp độ khác nhau về hoạt động sản xuất chươngtrình truyền hình Tuy nhiên, đa số các ý kiến trên các phương tiện truyềnthông hay các bài viết, công trình nghiên cứu về hoạt động sản xuất chươngtrình truyền hình chỉ tập trung dừng lại ở việc đánh giá, nhận xét chung vềhoạt động sản xuất hơn là phân tích sâu thực trạng hoạt động sản xuất chươngtrình truyền hình ở một mảng chương trình cụ thể, như tác giả muốn đề cập

Trang 13

đến ở đây là mảng tư vấn sức khỏe Những tác động của các yếu tố kháchquan và chủ quan, trong đó bao gồm cả sự tác động của các nhà tài trợ vàochương trình tư vấn sức khoẻ trên truyền hình từ khâu sản xuất còn chưa đượcnhìn nhận thấu đáo để thấy những ưu điểm và nhược điểm của những tácđộng này Các đề tài nghiên cứu còn ít, các giáo trình giảng dạy ở các trườngđại học chưa đề cập nhiều đến hoạt động sản xuất trong mối quan hệ tổng thểvới các thành phần kinh tế tham gia sản xuất chương trình Ngay bản thân cácđài truyền hình cũng chưa có đánh giá, tổng kết hoạt động sản xuất và liên kếtsản xuất một cách bài bản, khoa học và có hệ thống Dưới đây là một số côngtrình nghiên cứu, bài viết liên quan đến vấn đề liên kết sản xuất chương trình

tư vấn sức khỏe trên truyền hình

2.1 Vấn đề thông tin tư vấn sức khỏe trên các phương tiện truyền thông đại chúng

Đề tài: “Tuyên truyền giáo dục sức khỏe trên các phương tiện truyền thông đại chúng” của tác giả Đỗ Võ Tuấn Dũng (Luận văn Thạc sĩ chuyên

ngành báo chí học, Học viện Báo chí và Tuyên truyền) Đề tài đề cập đếnthông tin sức khỏe trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng chỉ dừnglại ở mức độ khái quát về tình hình thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền giáo dụcsức khỏe mà chưa làm rõ những vấn đề liên quan đến quá trình sản xuất, thựchiện các chương trình cũng như các yếu tố tác động tới nội dung thông tin

Đề tài: “Thông tin tư vấn sức khỏe trên sóng phát thanh Việt Nam hiện nay” của tác giả Phạm Thị Hồng Giang (Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Báo

chí học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn) Luận văn đã làm rõkhái niệm về các chương trình thông tin tư vấn sức khỏe trên sóng phát thanh,

và vai trò của nó đối với công chúng Luận văn cũng chỉ ra những ưu điểm vàhạn chế trong các chương trình thông tin tư vấn sức khỏe trên sóng phátthanh, đặc biệt là các chương trình có yếu tố xã hội hóa, liên kết sản xuất

Trang 14

Đề tài: “Thông tin sức khỏe trên báo chí Việt Nam hiện nay - Vấn đề và thảo luận” của tác giả Bùi Thị Thu Thủy (Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành

Báo chí học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn) Đề tài này đã đềcập đến hệ thống lý luận về lý thuyết kênh, chương trình truyền thông đối vớivấn đề thông tin sức khỏe Tuy nhiên, tác giả Bùi Thị Thu Thủy mới dừng lại

ở việc khảo sát nội dung thông tin trên O2TV và báo Sức khỏe và đời sốngtrong năm 2009, chứ chưa nghiên cứu đánh giá từ các chuyên gia y tế về cácloại thông tin về y tế, sức khỏe Chưa đề cập đến các yếu tố gây ảnh hưởng tớinội dung thông tin trong các chương trình sức khỏe nếu như được làm vớihình thức liên kết sản xuất

Đề tài: “Thông tin y tế, sức khỏe trên báo in hiện nay” (Khảo sát 2 tờ

báo Sức khỏe và đời sống, Khoa học và đời sống từ tháng 4/2011 đến tháng4/2012) của tác giả Nguyễn Thị Thanh Hòa (Luận văn Thạc sĩ chuyên ngànhBáo chí học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn) Đề tài này đãđưa ra những ưu, nhược điểm, thành công và hạn chế của thông tin y tế, sứckhỏe trên hai tờ báo in nổi bật Đồng thời, luận văn cũng đưa ra giải pháp đốivới những thông tin y tế sức khỏe trên báo chí, đặc biệt trong bối cảnh xã hộihóa báo chí và liên kết sản xuất chương trình nở rộ như hiện nay

Bài viết “Báo động thông tin giả sức khỏe!” của PGS.TS Nguyễn Hữu

Đức trên báo Người lao động (https://nld.com.vn) Bài viết chỉ ra trên thếgiới, thông tin giả liên quan đến sức khỏe đang được cảnh báo ở mức rất tệhại và tại Việt Nam, thông tin giả loại này đang phát triển chóng mặt Nguyhại hơn nhiều người ngày nay đang xem thông tin về sức khỏe trên cácphương tiện truyền thông như một bác sĩ thật, có mặt 24/24 giờ mà khônghiểu rằng đã và đang có những thông tin không thực sự chính xác trên cácphương tiện truyền thông Tác giả khẳng định dược phẩm luôn gắn liền vớikinh doanh, không loại trừ nhiều thông tin về dược phẩm đã bị nhiễu vì mụcđích lợi nhuận

Trang 15

2.2 Vấn đề xã hội hóa, liên kết sản xuất chương trình truyền hình

Đề tài: “Vấn đề xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Đinh Thị Xuân Hòa (Luận án Tiến sĩ Báo chí học,

Học viện Báo chí và Tuyên truyền) Đề tài nghiên cứu khái quát về thựctrạng, làm rõ những thành công, hạn chế của hoạt động xã hội hóa, liên kếtsản xuất chương trình truyền hình ở Việt Nam, dự báo xu hướng phát triển vàkiến nghị các giải pháp nhằm giải quyết hợp lý về xã hội hóa, liên kết sảnxuất chương trình truyền hình phù hợp với điều kiện của Việt Nam Tuy nhiên

đề tài mới ở tầm khái quát, chưa có những đánh giá cụ thể vào từng mảng lĩnhvực chương trình khác nhau của xã hội hóa, liên kết sản xuất các chương trìnhtruyền hình

Đề tài “Bước đầu nghiên cứu vấn đề xã hội hóa ở Việt Nam” (Khảo sát

chương trình “Làm giàu không khó” trên kênh VTV1 - Đài Truyền hình ViệtNam từ tháng 1/2007 đến tháng 5/2007) của tác giả Nguyễn Thị Tuyết Nhung(Khóa luận Tốt nghiệp Đại học, Học viện Báo chí và Tuyên truyền) Khóaluận dành chủ yếu nội dung cho việc khảo sát, phân tích để làm rõ hoạt động

xã hội hóa trong việc sản xuất chương trình “Làm giàu không khó” Khóaluận đã chỉ ra những ưu và nhược điểm của hoạt động xã hội hóa, liên kết sảnxuất chương trình Tuy nhiên, việc khảo sát hẹp, thời gian khảo sát ngắn vìvậy kết quả mới là những khái quát ban đầu

Đề tài: “Xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình hiện nay” của tác

giả Vũ Thị Thu Hà (Luận văn Thạc sĩ ngành Báo chí học, Trường Đại họcKhoa học Xã hội và Nhân văn) Luận văn đã tập trung vào việc phân tích đặcđiểm, thực trạng, ưu, nhược điểm của hoạt động xã hội hóa, liên kết sản xuấttruyền hình ở Đài Phát thanh Truyền hình Hà Tây (cũ) - Một đài truyền hìnhđịa phương (hiện nay Đài đã được sát nhập với Đài PTTH Hà Nội) Luận vănkhảo sát những vấn đề chung nhất trong hoạt động xã hội hóa, liên kết sản xuất

ở một số chương trình cụ thể ở kênh phát sóng quảng bá của Đài Phát thanh

Trang 16

truyền hình Hà Tây (cũ) Việc khảo sát hoạt động của các đối tác bên ngoàitrong sản xuất các chương trình phát sóng chưa được đề cập và khái quát.

Đề tài: “Hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình của Đài Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và định hướng phát triển” của tác

giả Dương Thanh Tùng (Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học,Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn) Đề tài nhằm hệ thống hóa cơ

sở lý luận và thực tiễn về hoạt động xã hội hóa nói chung và xã hội hóa, liênkết sản xuất truyền hình nói riêng Đánh giá thực trạng hoạt động sản xuấtchương trình truyền hình có yếu tố xã hội hóa, liên kết sản xuất của ĐàiTruyền hình Thành phố Hồ Chí Minh Xác định giải pháp và định hướng pháttriển xã hội hóa, liên kết sản xuất chương trình truyền hình của Đài Truyềnhình Thành phố Hồ Chí Minh Luận văn chỉ thực hiện ở một đài cụ thể, chưakhái quát được nhữ ng vấn đề rộng hơn

Đề tài: “Vấn đề xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình trên hệ thống truyền hình cáp của Đài Phát thanh Truyền hình Hà Nội” (Khảo sát 5

kênh xã hội hóa của Truyền hình cáp Hà Nội từ năm 2010 - 2013) của tác giả

Tô Thị Nhàn (Luận Văn Thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học, Trường Đại họcKhoa học Xã hội và Nhân Văn) Luận văn làm rõ thực trạng liên kết sản xuấtcác chương trình truyền hình xã hội hóa trên hệ thống truyền hình cáp của ĐàiPhát thanh Truyền hình Hà Nội, từ đó nêu ra những ưu nhược điểm của hìnhthức liên kết sản xuất truyền hình xã hội hóa và những giải pháp để nâng caochất lượng, hiệu quả của các chương trình này

Bài viết “Xu hướng xã hội hóa truyền hình ở Việt Nam hiện nay” của

Thạc sĩ Đinh Xuân Hòa đăng trên cổng thông tin đào tạo Đài Truyền hình

Việt Nam (http://daotao.vtv.vn) Tác giả đã tiếp cận vấn đề dưới góc độ kinh

tế xã hội hóa về sản xuất và quảng cáo các chương trình truyền hình, đây cũng

là một xu thế mang tính tất yếu Bài viết khẳng định trước yêu cầu phát triển,cần phải có một quan điểm tích cực trong triển khai các hoạt động kinhdoanh, tìm kiếm nguồn thu Tuy nhiên, trước kinh doanh, các sản phẩm

Trang 17

truyền hình phải đáp ứng tốt hơn nhu cầu thông tin, giải trí lành mạnh của

công chúng tránh để lợi nhuận kinh tế lấn át nội dung dung thông tin Việc

liên kết sản xuất, xã hội hóa các hoạt động của truyền hình đã và sẽ là mộtkhuynh hướng tất yếu, vì thế cần có những nhìn nhận, cách làm đúng đắn đểhoạt động này mang lại hiệu quả tích cực hơn

Bài viết “Về những sai sót trong các chương trình truyền hình liên kết”

của tác giả Chi Anh trên báo Nhân Dân điện tử(http://www.nhandan.com.vn) Bài viết khẳng định trên các kênh truyền hìnhhiện nay, ngày càng xuất hiện nhiều chương trình liên kết sản xuất của nhàđài với các đơn vị ngoài đài truyền hình Việc làm này có thể góp phần đápứng nhu cầu giải trí cho một bộ phận khán giả, tuy nhiên, không ít chươngtrình truyền hình liên kết liên tục mắc, trong đó có các lỗi nghiêm trọng cầnsớm được điều chỉnh Bài viết đi xâu phân tích những lỗi mà các chương trìnhtruyền hình liên kết thường mắc phải và lý giải nguyên nhân Tác giả bài viết

đã khẳng định trách nhiệm của giới truyền thông luôn phải được đặt lên hàngđầu, nhất là với truyền hình, loại hình ngày càng phổ biến và có số lượngngười xem rất cao Không thể vì bất cứ mục tiêu nào, kể cả mục tiêu nâng caolợi nhuận, mà xem nhẹ trách nhiệm đối với xã hội và con người

Liên hoan truyền hình toàn quốc lần thứ 25 năm 2006 tại Nha Trang(Khánh Hòa) và lần thứ 26 năm 2007 tại Thành phố Hồ Chí Minh cũng đã cócác hội thảo về vấn đề liên kết sản xuất truyền hình Tại các hội thảo này, cácchuyên gia đã trao đổi, tranh luận các vấn đề sản xuất chương trình truyềnhình, liên kết sản xuất như thế nào, liên kết sản xuất những chương trìnhtruyền hình gì?

Bên cạnh đó có nhiều bài viết, bài nghiên cứu của các nhà lý luận về báochí, truyền hình xung quanh vấn đề này với các nội dung xoay quanh xuhướng phát triển truyền hình, liên kết sản xuất truyền hình, những ưu điểm và

hệ lụy của liên kết sản xuất truyền hình với chất lượng nội dung thông tin, đặc

Trang 18

biệt là thông tin sức khỏe, làm sao để hài hòa lợi ích giữa yếu tố kinh tế vàyếu tố báo chí… Tuy vậy, các công trình nghiên cứu và những bài viết đó mớichỉ đề cập đến vấn đề chung của các chương trình truyền hình sản xuất theohình thức liên kết của các cơ quan báo chí, các đài truyền hình, hoặc việcthông tin sức khỏe trên báo chí nói chung chứ chưa đề cập cụ thể đến vấn đềsản xuất các chương trình thông tin tư vấn sức khỏe Vì vậy, đây vừa là thuậnlợi nhưng đồng thời cũng là khó khăn cho tác giả khi thu thập và nghiên cứucứu để thực hiện đề tài này.

Trong phạm vi luận văn này, tác giả sẽ tìm hiểu, nghiên cứu, đánh giánội dung và hình thức ba chương trình truyền hình tư vấn sức khỏe cụ thể đó

là Chương trình “Quý hơn vàng” phát sóng trên kênh VTV2 - Đài Truyềnhình Việt Nam, Chương trình “Sức khỏe trong tầm tay” phát sóng trên kênhVTV9 - Đài Truyền hình Việt Nam và Chương trình “Sức khỏe của bạn” phát

sóng trên kênh THVL1 - Đài Phát thanh Truyền hình Vĩnh Long Đây là ba

chương trìnhtruyền hình về sức khỏe khá tiêu biểu được các đài trung ương vàđịa phương sản xuất và liên kết sản xuất, qua đó sẽ cho thấy cái nhìn toàndiện, tổng quát hơn Thực tế cho thấy trong quá trình sản xuất những chươngtrình truyền hình như các chương trình kể trên sẽ làm nảy sinh những khúcmắc giữa các đơn vị tham gia phối hợp với đài truyền hình do có sự chi phối

về lợi ích Thông qua việc tìm hiểu, tổng hợp, phân tích, đánh giá, tôi sẽ đưa

ra được cách thức để tận dụng có hiệu quả các nguồn lực khác nhau trong xãhội vào sản xuất truyền hình sức khỏe song lại không bị thao túng bởi cácquyền lợi cá nhân và mục đích kinh doanh thuần túy, giúp cho việc phối hợpgiữa các đơn vị không còn chồng chéo, khó khăn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

- Trên cơ sở làm rõ một số khái niệm, công cụ, xây dựng khung lý thuyếtcho vấn đề nghiên cứu

Trang 19

- Luận văn phân tích, đánh giá hoạt động sản xuất chương trình tư vấnsức khỏe trên truyền hình qua các chương trình khảo sát, chỉ ra những thànhcông, hạn chế.

- Từ đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động liên kết sản xuấtcác chương trình truyền hình tư vấn sức khỏe trong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích trên luận văn tập trung giải quyết một số nhiệm

vụ sau đây: Làm rõ một số khái niệm công cụ, xây dựng khung lý thuyết chovấn đề nghiên cứu Nghiên cứu, khảo sát, phân tích thực trạng hoạt động sảnxuất các chương trình truyền hình tư vấn sức khỏe thông qua ba chương trình

là Chương trình “Quý hơn vàng” phát sóng trên kênh VTV2 - Đài Truyềnhình Việt Nam, Chương trình “Sức khỏe trong tầm tay” phát sóng trên kênhVTV9 - Đài Truyền hình Việt Nam và Chương trình “Sức khỏe của bạn” phátsóng trên kênh THVL1 - Đài Phát thanh Truyền hình Vĩnh Long, trong năm

2018 Chỉ ra những ưu, nhược điểm của hoạt động sản xuất các chương trình

tư vấn sức khỏe trên truyền hình hiện nay Đề xuất một số giải pháp nâng caohiệu quả sản xuất các chương trình tư vấn sức khỏe trên truyền hình

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là sản xuất chương trình tư vấn sứckhỏe trên truyền hình hiện nay

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Khảo sát các chương trình tư vấn sức khỏe trên truyền hình cụ thể làChương trình “Quý hơn vàng” phát sóng trên kênh VTV2 - Đài Truyền hìnhViệt Nam, Chương trình “Sức khỏe trong tầm tay” phát sóng trên kênh VTV9

- Đài Truyền hình Việt Nam và Chương trình “Sức khỏe của bạn” phát sóngtrên kênh THVL1 - Đài Phát thanh Truyền hình Vĩnh Long trong năm 2018

Trang 20

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Sử dụng lý luận báo chí truyền thông và quan điểm, chủ trương củaĐảng, chính sách, pháp luật của nhà nước về hoạt động sản xuất các chươngtrình truyền hình

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu tài liệu, phân tích thông tin từ nguồn tài liệusẵn có (sách, báo, tạp chí, internet ), vận dụng để khái quát hóa và lý thuyếthóa các vấn đề đơn lẻ khảo sát được

Phương pháp khảo sát, khảo sát các chương trình truyền hình tư vấn sứckhỏe được sản xuất bao gồm Chương trình “Quý hơn vàng” phát sóng trênkênh VTV2 - Đài Truyền hình Việt Nam, Chương trình “Sức khỏe trong tầmtay” phát sóng trên kênh VTV9 - Đài Truyền hình Việt Nam và Chương trình

“Sức khỏe của bạn” phát sóng trên kênh THVL1 - Đài Phát thanh Truyềnhình Vĩnh Long Phân tích nội dung và hình thức truyền tải thông tin tư vấnsức khỏe trên các chương trình này

Phương pháp so sánh, so sánh các chương trình tư vấn sức khỏe cóđược sản xuất bằng hình thức liên kết và không liên kết

Phương pháp phỏng vấn sâu, phỏng vấn những người đang trực tiếp tổchức thực hiện sản xuất các chương trình thông tin tư vấn sức khỏe trêntruyền hình

Phương pháp thu thập thông tin dựa trên các bảng hỏi: Sử dụng các bảnghỏi với nhiều câu hỏi khác nhau, dành cho nhiều nhóm công chúng khác nhau

để thu thập, đánh giá được mức độ tiếp cận của công chúng đối với cácchương trình được khảo sát

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn được hình thành trên cơ sở tổng hợp, kế thừa từ những côngtrình nghiên cứu có liên quan đến đề tài của luận văn; Đồng thời cũng là sự

Trang 21

nghiên cứu và tìm hiểu và phân tích của tác giả Cho đến thời điểm này, cáccông trình nghiên cứu về vấn đề sản xuất trong các chương trình truyền hìnhnói chung và truyền hình tư vấn sức khỏe nói riêng không có nhiều, do đó, qualuận văn này tác giả muốn đóng góp thêm cách một góc nhìn đầy đủ và toàndiện, đưa ra bức trang khái quát về hoạt động sản xuất chương trình truyền hình

tư vấn sức khỏe hiện nay, đi sâu phân tích 3 chương trình cụ thể là Chươngtrình “Quý hơn vàng” phát sóng trên kênh VTV2 - Đài Truyền hình Việt Nam,Chương trình “Sức khỏe trong tầm tay” phát sóng trên kênh VTV9 - ĐàiTruyền hình Việt Nam và Chương trình “Sức khỏe của bạn” phát sóng trênkênh THVL1 - Đài Phát thanh Truyền hình Vĩnh Long Hy vọng đây sẽ là mộttài liệu hữu ích cho những người muốn đi sâu tìm hiểu về vấn đề này

Việc nghiên cứu hoạt động sản xuất các chương trình thông tin tư vấn sứckhỏe trên trình truyền hình cũng sẽ góp phần làm phong phú thêm lý luận vềbáo chí, bổ sung tư liệu thực tế cho một số môn học chuyên ngành báo chí Trởthành một phần nhỏ thông tin tham khảo cho những nhà quản lý, hành pháptrong quá trình hình thành, soạn thảo những điều luật có liên quan đến lĩnh vựcsản xuất các chương trình truyền hình hiện nay Qua đó, góp phần hoàn thiệnhơn nữa những quy định, chế tài xử phạt, thúc đẩy việc sản xuất chương trìnhtruyền hình thêm hiệu quả, giảm bớt tiêu cực, gắn liền với thực tiễn

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Thông qua luận văn, phần nào đó giúp cho những người tham gia sảnxuất truyền hình có thêm thông tin mới cũng như có thêm cơ sở nhằm cải tiếncác hoạt động sản xuất chương trình truyền hình tư vấn sức khỏe Để nhằmphục vụ nhu cầu thưởng thức các chương trình truyền hình và nhu cầu thôngtin ngày càng cao của công chúng

Đề tài “Sản xuất chương trình tư vấn sức khỏe trên truyền hình hiện nay” sẽ có những phân tích sâu về bản chất sản xuất các chương trình truyền

hình nói chung và các chương trình truyền hình tư vấn sức khỏe nói riêng

Trang 22

Bằng phương pháp nghiên cứu khoa học và cụ thể, sẽ góp phần tạo nên cáchnhìn nhận đúng và khách quan về các hoạt động sản xuất chương trìnhtruyền hình tư vấn sức khỏe hiện nay Những góp ý, giải pháp thiết thực, sẽgiúp cho những người thực hiện các chương trình này có thêm góc nhìn mới

để rút kinh nghiệm, nâng cao hơn nữa chất lượng nội dung và hình thức thểhiện chương trình

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,luận văn bao gồm 3 chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về sản xuất các chương trình tư

vấn sức khỏe trên truyền hình

Chương 2: Thực trạng sản xuất các chương trình tư vấn sức khỏe trên

truyền hình

Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất chương trình tư

vấn sức khỏe trên truyền hình

Trang 23

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SẢN XUẤT

CÁC CHƯƠNG TRÌNH TƯ VẤN SỨC KHỎE TRÊN TRUYỀN HÌNH

1.1 Một số khái niệm liên quan

1.1.1 Khái niệm truyền hình

Truyền hình đã trở thành phương tiện truyền thông đại chúng, là kênhtiếp nhận các tin tức quen thuộc trong mỗi gia đình Theo sự phát triển củakhoa học kỹ thuật hiện đại, những chiếc tivi ngày càng được thiết kế mỏng đi,kích thước tăng lên, nhiều tính năng mới, trong đó có cả công nghệ truy cậpvào mạng internet và màn hình nhỏ gọn (xem truyền hình ngay trên nhữngthiết bị thông minh như điện thoại hay máy tính bảng); chính những điều này

đã giúp không gian trái đất như được thu nhỏ trong một màn hình phẳng, góigọn hàng triệu, hàng tỷ thông tin khác nhau

Nói về khái niệm truyền hình, có nhiều quan niệm khác nhau đã đượcchỉ ra như:

- Khái niệm ghép từ: Truyền hình trong tiếng Anh nghĩa là

“Television” Tuy nhiên, đây không phải là từ gốc tiếng Anh mà là một từđược ghép từ tiếng Latin Từ này bao gồm hai thành tố là “tele” và “videre”.Trong đó: “tele” nghĩa là “xa” còn “videre” nghĩa là “nhìn” Tổng hợp lại, từ

“truyền hình” nguyên thủy nhất có nghĩa là “nhìn từ xa” Từ gốc này đượcphiên âm sang tiếng Anh thành “television” và được sử dụng phổ biến cho tớingày nay Đây cũng là mong muốn của con người trong việc được khám pháthế giới, tiếp nhận thêm càng nhiều thông tin để tiếp tục phát triển Trongtiếng Việt, “Truyền hình” là từ ghép của “truyền” và “hình” Trong đó,

“truyền” mang ý nghĩa là truyền dẫn, truyền tải; còn “hình” nghĩa là hình ảnh.Hiểu đơn giản, “truyền hình” trong Tiếng Việt vừa có ý nghĩa kỹ thuật vàtruyền tải các hình ảnh, vừa mang ý nghĩa nội dung là truyền tải thông điệp

Trang 24

- Khái niệm “Truyền hình” theo kỹ thuật Xét từ phương diện kỹ thuật:Truyền hình là một quá trình liên tục biến đổi từ năng lượng ánh sáng, tácđộng qua ống kính của thiết bị thu hình trở thành năng lượng điện Nguồn tínhiệu điện tử này được phát sóng, truyền dẫn tới các máy thu hình, thiết bị thuhình và hiển thị lại thành năng lượng ánh sáng, tác động vào thị giác Ngườixem sẽ nhận được những tín hiệu này, mã hóa thành hình ảnh thông qua cácmàn hình tivi Xét từ phương diện thiết bị: Truyền hình (tivi) hay còn đượcgọi là vô tuyến truyền hình, máy thu hình, máy phát hình, tivi là hệ thốngđiện tử viễn thông có khả năng thu nhận sóng và tín hiệu để chuyển thànhhình ảnh, âm thanh tới người xem Ngày nay, không chỉ những chiếc tivi cóđược công dụng này, những thiết bị thông minh nhỏ như: laptop, máy tínhbảng, điện thoại di động cũng đều có chức năng và công dụng như mộtchiếc tivi thật sự.

- Khái niệm “Truyền hình” từ phương diện nội dung Nếu xét về nộidung, truyền hình là loại hình truyền thông mà thông điệp được gửi tới ngườixem trong một không gian tích hợp cả hình ảnh và âm thanh Từ đó, ngườixem dễ dàng tiếp nhận nội dung thông điệp hơn bởi có hình ảnh và âm thanhcực kỳ sống động, dễ nhớ

- Chương trình cũng có thể là một bộ phận nhỏ được sản xuất độc lập

Từ đó, những chương trình nhỏ này sẽ được đưa vào bộ phận phát sóng chung

Trang 25

của Đài Truyền hình Ví dụ: “Chương trình chào buổi sáng”, “Chương trìnhphim truyện 21 giờ”

Với một chương trình truyền hình, quan trọng nhất chính là đảm bảo

“tính định kỳ” Thông tin cần diễn ra liên tục, đảm bảo nhịp chảy của chuỗi sựkiện, chuỗi chương trình, cập nhật và bổ sung đầy đủ nhữg sự kiện mà côngchúng quan tâm Từ đó, công chúng sẽ ghi nhớ mốc thời gian phát sóng củachương trình và chờ đợi để được theo dõi Ngày nay, với sự phát triển củacông nghệ, tính “định kỳ” của chương trình cũng đã dần giảm bớt sự hạn chế.Người xem có thế chủ động hơn trong việc theo dõi chương trình thông quacác thiết bị thông minh hoặc qua mạng internet

Căn cứ từ quy định của Mục 1, phần 1, Thông tư 03/2018/TT-BTTTT

về “Định mức Kinh tế - kỹ thuật về sản xuất chương trình Truyền hình” do Bộ

Thông tin và Truyền thông ban hành đã chỉ ra: Chương trình truyền hình làtập hợp các tin, bài trên báo hình theo một chủ đề trong một thời lượng nhấtđịnh, có dấu hiệu nhận biết mở đầu hoặc chuẩn bị kết thúc

1.1.3 Sản xuất chương trình truyền hình

Từ khái niệm “chương trình truyền hình”, ta có thể hiểu “sản xuấtchương trình truyền hình” chính là quá trình hình thành một chương trìnhtruyền hình Trong đó, quá trình này thường bao gồm khác nhiều các côngđoạn như: Tìm đề tài, lên ý tưởng; Duyệt kịch bản; Điều độ sản xuất; Sản xuấttiền kỳ; Sản xuất hậu kỳ; Duyệt, kiểm tra nội dung; Phát sóng Đối với nhiềuchương trình truyền hình, cuối cùng còn một công đoạn là thu thập phản hồi,đánh giá từ phía công chúng để tiếp tục cải tiến, thay đổi nội dung cho nhữngchương trình kế tiếp Một số chương trình còn được quảng bá trên mạng xãhội để tăng tương tác và độ tiếp cận đến với công chúng

Trong quá trình sản xuất chương trình truyền hình, từ khâu lên ý tưởngđến khi phát sóng và thu thập phản hồi đều phải dựa vào những lý thuyếttruyền thông cụ thể Có như vậy mới sản xuất được những chương trìnhtruyền hình đạt chất lượng và thu hút công chúng Cụ thể trong luận văn này,

Trang 26

tác giả xin được đề cập hai lý thuyết truyền thông cơ bản có liên quan và ảnhhưởng nhiều nhất đến quá trình sản xuất các chương trình tư vấn sức khoẻtrên truyền hình Đó là lý thuyết “Thiết lập chương trình nghị sự” và lý thuyết

“Người gác cổng”

- Lý thuyết “Thiết lập chương trình nghị sự”: Thuyết thiết lập chươngtrình nghị sự cho rằng các cơ quan báo chí và truyền thông căn cứ vào môitrường thông tin thực tế và mục đích để lựa chọn ra các vấn đề và nội dung

mà họ coi là quan trọng để cung cấp cho công chúng chứ không phải là cungcấp các thông tin mà công chúng cần Lý thuyết này được đưa ra bởi hai nhànghiên cứu Maxwell McCombs và Donald Shaw vào năm 1972, dựa trênnhững số liệu và kết quả của cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ năm 1968 giữa haiứng cử viên Richard Nixon và Hurbert Humphrey Thiết lập chương trìnhnghị sự chính là sản phẩm từ nhận thức của công chúng và sự quan tâm củanhững vấn đề nổi bật được đưa ra bởi các hãng truyền thông Hai giả thiết cơbản nằm trong mỗi nghiên cứu về thiết lập chương trình nghị sự đó là: (1) Các

cơ quan báo chí và nền truyền thông không phản ánh hiện thực; họ chọn lọc

và định dạng nó; (2) Nền truyền thông tập trung vào một số ít các vấn đề vàchủ đề khiến cho công chúng nhận thức rằng các vấn đề đó quan trọng hơncác vấn đề khác Một trong các khía cạnh quan trọng nhất trong khái niệm vềvai trò của thiết lập chương trình nghị sự trong nền truyền thông đại chúngchính là khung thời gian cho hiện tượng này Thêm vào đó, các loại hìnhtruyền thông khác nhau sử dụng những khả năng thiết lập chương trình nghị

sự khác nhau Thuyết thiết lập chương trình nghị sự thật sự khá phù hợp đểgiúp chúng ta hiểu được vai trò phổ biến của truyền thông Cơ sở tâm lý chovấn đề thu hút ý kiến dư luận chính là sự chú ý chọn lọc của cơ quan truyềnthông Mọi người thường không và không thể quan tâm tới tất cả mọi việc.Hơn nữa, trong việc đưa ra những phán xét, công chúng thường sử dụngnhững quy tắc tượng trưng và tương đương cùng những thể hiện trực quan

Trang 27

Công chúng cũng có xu hướng bị thu hút bởi những thông tin đặc biệt nổi bật

và đặc tính của đối tượng đã bị tác động trong tâm trí của họ hơn là tham giavào những đánh giá toàn diện về ý kiến, từ đó đưa ra các đánh giá khi cần Đóchính là khi các chương trình nghị sự đã bị định hình một cách đáng kể bởicác phương tiện thông tin đại chúng

- Lý thuyết “Người gác cổng”: Lý thuyết “Người gác cổng” của nhà xãhội học Kurt Lewin năm 1947 chỉ ra rằng, trong hoạt động truyền thông, cácnhóm luôn tồn tại một số “người gác cổng”, trong đó chỉ có những nội dungthông tin phù hợp với quy định của nhóm hoặc tiêu chuẩn giá trị của “ngườigác cổng” mới được đưa vào kênh truyền thông Từ lý thuyết “người gáccổng” được đề cập trong công trình trên đã giúp củng cố thêm lý thuyết nềntảng về vai trò “gác cổng” của biên tập viên trong môi trường truyền thônghiện nay Hoạt động “gác cổng” của cơ quan truyền thông trước hết thể hiện ở

sự phán đoán trực tiếp “giá trị thông tin” từ các đầu mối thông tin Tiêu chíxác định giá trị thông tin thể hiện trên hai phương diện: nghiệp vụ và thịtrường Trong đó, tiêu chí về nghiệp vụ là chỉ sự kiện phù hợp với các điềukiện để cơ quan truyền thông xử lý thông tin, còn tiêu chí thị trường phải hội

tụ đủ các điều kiện thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu thông tin của công chúng vàthu hút được công chúng Rốt cục, hoạt động “gác cổng” vẫn chịu sự ảnhhưởng về mục đích, tôn chỉ, lập trường, quan điểm và tiêu chuẩn giá trị của cơquan báo chí truyền thông Nhìn từ đời sống truyền thông hiện nay, có thểkhái quát 5 yếu tố ảnh hưởng đến nội dung đưa tin của các cơ quan báo chítruyền thông Đó là sự ảnh hưởng của cá nhân nhà báo, ví dụ nhận thức, sởthích, tính cách…; cách thức làm việc thường nhật của cơ quan báo chí, ví

dụ quy định về thời gian hạn chót nộp bài, yêu cầu thời lượng, cách thức trìnhbày các sản phẩm báo chí, cấu trúc kim tự tháp ngược trong bản tin, giá trịthông tin, nguyên tắc khách quan và sự phụ thuộc của phóng viên vào nguồntin; sự ảnh hưởng của cơ quan báo chí truyền thông đến nội dung, ví dụ mục

Trang 28

tiêu thu lợi nhuận có thể tác động đến nội dung bằng nhiều hình thức khácnhau; sự ảnh hưởng từ các tổ chức bên ngoài cơ quan báo chí truyền thông tớinội dung thông tin, ví dụ các nhóm lợi ích, hoặc các cơ quan, chính quyền…

Do đó, hoạt động “gác cổng” ở cơ quan báo chí truyền thông không đơn giảnchỉ dựa trên tiêu chí nghiệp vụ hay thị trường, mà nó còn bị ảnh hưởng bởibối cảnh xã hội, thậm chí là chế độ chính trị của quốc gia đó

1.1.4 Liên kết sản xuất chương trình truyền hình

Liên kết sản xuất có thể được hiểu là một hoạt động nhằm mở rộng cácnguồn đầu tư, khai thác các tiềm năng về nhân lực, vật lực và tài lực trong xãhội; phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực nhằm tạo điều kiện pháttriển một số lĩnh vực Với cách hiểu theo những khái niệm nêu trên, liên kếtsản trong lĩnh vực truyền hình hay trong sản xuất chương trình truyền hìnhcũng chính là để thu hút nguồn lực xã hội bên ngoài ngành truyền hình thamgia vào các hoạt động của lĩnh vực này

Quá trình liên kết sản xuất các chương trình truyền hình, đặc biệt làchương trình truyền hình tư vấn sức khỏe đã diễn ra từ lâu và có nhữngphương thức, diện mạo khác nhau ở mỗi giai đoạn phát triển của truyền hìnhViệt Nam Từ những giai đoạn đầu hình thành và phát triển, chương trìnhtruyền hình luôn có sự tham gia của nhiều cơ quan ngoài đài truyền hình thamgia xây dựng Mục đích của việc hơp tác như vậy thực chất là coi Truyền hình

là một diễn đàn rộng mở để các cơ quan, tổ chức này phát ngôn, dành cho cácđối tượng công chúng nhất định, làm phong phú lượng chương trình của Đài

Về kinh phí phục vụ sản xuất cũng có sự tăng cường giúp chương trình

“sống” tốt hơn, được đầu tư thỏa đáng hơn Không khó để nhận ra rằng,những năm gần đây càng ngày càng có nhiều chương trình và kênh truyềnhình mới liên tục ra đời Từ đó, khái niệm liên kết sản xuất đã được nhắc đếnnhư một phương thức huy động các nguồn lực ngoài ngân sách, góp phần cóthêm nhiều món ăn tinh thần phong phú cho khán giả lựa chọn

Trang 29

Chủ trương liên kết sản xuất chương trình truyền hình như một bướcngoặt mở ra thời cơ cũng như thử thách cho những nhà làm truyền hình tạiViệt Nam Đón đầu xu hướng xã hội hóa, các công ty truyền thông ra đờingày càng nhiều Họ mạnh dạn trong đầu tư, năng động trong cơ cấu và hoạtđộng, nên quan tâm đến xã hội hóa truyền hình là đương nhiên Không chờđợi một cách thụ động, nhiều đơn vị đến gõ cửa nhà đài chào bán chươngtrình, đăng ký sản xuất, nhận mời tài trợ Tuy nhiên, các đơn vị tham gia tàitrợ cho việc sản xuất các chương trình truyền hình ít hay nhiều có can thiệptới nội dung và hình thức thể hiện của các chương trình đó Họ không thamgia sản xuất chương trình mà chỉ quan tâm tới quyền lợi của họ là các quảngcáo (dưới các hình thức như spot, panel, logo tên nhà tài trợ, đọc tên nhà tàitrợ trong chương trình…).

Như vậy, liên kết sản xuất chương trình truyền hình đã từng bước hìnhthành và phát triển khá mạnh mẽ trong xu hướng xã hội hóa Có nhiều đốitượng cùng tham gia phối hợp với Đài, với nhiều hình thức thể hiện cácchương trình, trong đó phải kể đến sự nổi trội của các công ty truyền thôngvới các chương trình sân chơi ngày càng hấp dẫn và thu hút khán giả Cácchương trình được sản xuất dưới hình thứ xã hội hóa này đã và đang tạo dựngcho các chương trình tư vấn sức khỏe trên truyền hình một diện mạo mới, đếngần với công chúng của mình hơn

1.1.5 Chương trình tư vấn sức khoẻ trên truyền hình

Tư vấn là một hoạt động mang trính trao đổi thông tin giữa người có nhucầu tư vấn và người tư vấn Tư vấn là một tiến trình tương tác nhằm giúpngười được tư vấn hiểu được vấn đề của mình và gợi mở để người được tưvấn tự quyết định vấn đề của mình

Tư vấn sức khỏe là một quá trình truyền đạt thông tin từ người tư vấnđến cho đối tượng được tư vấn Qua đó tạo điều kiện giúp cho đối tượng được

tư vấn nâng cao hiểu biết nhằm hỗ trợ xác định, xử lý một vấn đề liên quan

Trang 30

đến sức khoẻ Qua hoạt động tư vấn giúp hỗ trợ về mặt tâm lý, kiến thức vềsức khoẻ giúp cá nhân thay đổi hành vi, ngăn chặn và phòng tránh những điềutác hại cho sức khoẻ, đưa ra được những biện pháp, hướng đi đúng giúp giảiquyết những vấn đề có ảnh hưởng tới sức khoẻ, đối phó sốc tâm lý, giúp bệnhnhân hiểu rõ vấn đề, cung cấp thông tin, thảo luân, giúp chọn lựa giải pháp,quyết định thích hợp.

Chương trình tư vấn sức khoẻ trên truyền hình là các chương trình truyềnhình truyền tải thông tin về sức khoẻ dưới hình thức tư vấn của chuyên gia,bác sỹ… Các thông tin này có thể liên quan đến các vấn đề sức khoẻ, dịchbệnh theo mùa mà công chúng đang cần tư vấn cách phòng tránh điều trị, haynhững căn bệnh, vấn đề sức khoẻ mà một số người đang mắc phải và gửi đếnchương trình nhờ giải đáp Một chương trình truyền hình tư vấn sức khoẻ cầnđáp ứng các tiêu chí như: Nội dung thông tin sức khoẻ chính xác, ngắn gọn,súc tích, dễ hiểu và dễ làm theo; Hình thức thể hiện trực quan, sinh động, dễtiếp nhận… Những người thực hiện chương trình tư vấn sức khoẻ trên truyềnhình cần hết sức lưu tâm đến vấn đề đạo đức nghề nghiệp và sự tác động từnhững thông tin đưa ra đến với cộng đồng, nên cần thông tin khách quan,trung thực, có trách nhiệm với cộng đồng, cần hết sức tránh đưa thông tin sứckhoẻ chung chung, hời hợt, dễ hay hiểu lầm, hoặc đưa thông tin ảnh hưởngquá nhiều từ yếu tố quảng cáo của các nhà tài trợ, dẫn đến thông tin cần thìkhông có, mà thông tin có thì không cần, yếu tố thương mại lấn át yếu tốthông tin sức khoẻ mà công chúng trông đợi

Chương trình truyền hình tư vấn sức khoẻ thường khác là ở chỗ đây làchương trình liên quan trực tiếp đến sức khoẻ và đôi khi là tính mạng conngười Nếu như các chương trình khác chỉ mang tính thông tin để công chúngnâng cao nhận thức, tiếp cận thời sự để biết, thì các chương trình tư vấn sứckhoẻ lại là chương trình có thể khiến người ta làm theo, do đó chương trình tưvấn sức khoẻ cần có độ tin cậy, chính xác, minh bạch cao hơn, những người

Trang 31

thực hiện chương trình cũng cần nâng cao đạo đức, lương tâm, trách nhiệmnghề nghiệp để phụng sự công chúng tốt nhất.

1.2 Quy trình và các phương thức sản xuất chương trình tư vấn sức khỏe trên truyền hình

1.2.1 Quy trình sản xuất chương trình tư vấn sức khỏe trên truyền hình

Quy trình sản xuất các chương trình tư vấn vấn sức khỏe trên truyềnhình được chia thành nhiều công đoạn, trong đó chủ yếu gồm các bước như:tiền kỳ, ghi hình, sản xuất hậu kỳ

Giai đoạn tiền kỳ bao gồm toàn bộ các công tác chuẩn bị về mọi mặt:điều kiện vật chất, nội dung, những điều cần thiết để có thể tiến hành ghi hìnhcho một chương trình tư vấn sức khỏe trên truyền hình Trong đó bao gồm:

- Thống nhất format Việc sử dụng format do người Việt sáng tạo hoặcmua bản quyền format từ nước ngoài sẽ có những công đoạn khác biệt Vớiformat từ nước ngoài, bên cạnh ekip của Đài Truyền hình thì còn có thêm mộtnhóm ekip từ bên sở hữu bản quyền format Nhóm ekip này sẽ có tác dụng hỗtrợ để xây dựng chính xác theo bản quyền sẵn có Hoặc phía Đài cũng có thể

cử một nhóm ekip bao gồm toàn bộ các chức danh: Đạo diễn, biên tập, quayphim, người dẫn chương trình sang phía Đài sở hữu format gốc để học hỏi,nhằm mục đích nắm bắt chính xác, nghiêm túc các khâu trong quá trình sảnxuất Sau khi đã thống nhất được format, các nhóm trong ekip sản xuất chínhthức thức bắt đầu các công việc chuẩn bị khác về mọi mặt

- Tổ chức sản xuất Tổ chức sản xuất tại Việt Nam bao gồm nhiều chứadanh khác nhau và mỗi chức danh sẽ đại diện cho một phần công việc khácnhau Trọng trách của những người tổ chức sản xuất là rất lớn, vừa phải đảmbảo đáp ứng tốt phần việc đã được phân công, đồng thời cũng phải có tầmnhìn xa trông rộng để chuẩn bị thêm những phương án dự phòng cho trườnghợp không thể thực hiện bất kỳ một phần nội dung nào trong kịch bản Với

Trang 32

những chương trình ghi hình liên tục nhiều số cùng một lúc, tổ chức sản xuấtcòn phải tiến hành phân bổ thời gian hợp lý cho toàn bộ ekip, khách mời vàđảm bảo cung ứng đủ trang thiết bị để quá trình ghi hình diễn ra theo đúng kếhoạch đã dự kiến Sơ đồ các chức danh sản xuất trong giai đoạn tiền kỳ có thể

mô tả như sau:

Sơ đồ 1.2.1.1 (1): Mối liên quan giữa các chức danh

trong quá trình sản xuất tiền kỳ

- Chuẩn bị nội dung Phần nội dung của chương trình sẽ được đề rangay sau khi thống nhất về format Các biên tập thuộc ekip sẽ được giaonhững phần việc riêng để hoàn thành những phần nội dung nhỏ, các tư liệuđược đề ra trong kịch bản Kịch bản của chương trình tư vấn sức khỏe trêntruyền hình thường được chia thành 2 loại: kịch bản khung và kịch bản chitiết Trong kịch bản khung phải có đầy đủ những nội dung khái quát, tư tưởngchủ đạo và cách xây dựng chương trình cụ thể Từ kịch bản khung này, tổngđạo diễn, đạo điễn hình nắm được toàn bộ những phần công việc cần phải làm

và phân chia công việc cụ thể cho từng thành viên của ekip tổ chức sản xuất

Trang 33

Kịch bản chi tiết là kịch bản có chứa phần nội dung cụ thể đến từng lời dẫncủa các phần Nội dung cần được trình bày mạch lạc, rõ ràng và chi tiết Kịchbản này sẽ cho các biên tập, phóng viên biết chính xác phần nội dung côngviệc cần làm và thực hiện đúng theo nội dung của kịch bản Đồng thời, kịchbản cũng sẽ chỉ rõ những vấn đề khác như: nhạc nền, âm thanh, hình ảnh,hiệu ứng và các vấn đề liên quan đến kỹ thuật khác.

- Liên hệ nhân vật Với những chương trình tư vấn về sức khỏe, kháchmời hoặc nhân vật đóng vai trò rất quan trọng cho sự thành công của chươngtrình Nhân vật phải có tính tiêu biểu cho vấn đề được tư vấn hoặc là nhữngchuyên gia nổi tiếng, những khách mời có độ uy tín cao để đảm bảo độchính xác của thông tin Đây cũng là điểm khác biệt lớn nhất giữa cácchương trình tư vấn về sức khỏe so với những chương trình khoa giáo kháctrên truyền hình

- Chuẩn bị tài chính Tài chính luôn là nền tảng để triển khai một quátrình sản xuất chương trình truyền hình Thông thường, chủ nhiệm chươngtrình sẽ tiến hành làm dự toán Bản dự toán này có tính dự báo, thống kê khátrọn vẹn những khoản kinh phí cần thiết để tiến hành sản xuất chương trình

Dự toán sẽ được lãnh đạo ký duyệt chi và chủ nhiệm chương trình có thể xintạm ứng để lấy kinh phí cho việc sản xuất

- Chuẩn bị trường quay Triển khai chuẩn bị trường quay cần chuẩn bịkhá nhiều các công việc nhỏ: ánh sáng, âm thanh, máy móc, bàn ghế,backdrop, trang phục, trang điểm cho người dẫn chương trình Những vấn đềnày sẽ được đạo diễn làm việc trực tiếp hoặc bàn giao công việc cho biên tậpviên cụ thể để triển khai cùng những bộ phận quản lý vật tư, thiết bị, phụctrang, hoá trang và các trang bị khác trong Đài

Tựu chung lại, quá trình tiền kỳ có thể khái quát ngắn gọn trong một sơ

đồ sau:

Trang 34

Sơ đồ 1.2.1.1 (2): C ác công đoạn trong quá trình sản xuất tiền kỳ

Ghi hình chính là giai đoạn có áp lực lớn nhất trong toàn bộ quá trìnhsản xuất một chương trình truyền hình tư vấn sức khỏe Bởi sản phẩm từ quátrình ghi hình chính là kết quả tổng hợp từ toàn bộ giai đoạn chuẩn bị trước

đó Đây cũng là thành quả thu được để phát sóng tới công chúng Trong quátrình ghi hình tất cả các bộ phận liên quan phải phối hợp nhịp nhàng vàchuyên nghiệp thì mới mang lại hiệu quả tốt Nếu một bộ phận nào đó thựchiện không hết nhiệm vụ của mình thì rất dễ sảy ra tình huống phải ghi lạimột phần hoặc toàn bộ chương trình Diễn biến quá trình ghi hình được tổngkết đơn giản qua sơ đồ sau:

Trang 35

Sơ đồ 1.2.1.2: Quá trình ghi hình chương trình tư vấn sức khỏe

Nhắc tới các bộ phận tham gia ghi hình, đầu tiên phải nói đến vai tròcủa nhóm “Trợ lý trường quay” Các trợ lý trường quay có rất nhiều chứcdanh khác nhau như: Trợ lý đạo diễn, thư ký trường quay, trợ lý người dẫnchương trình, trợ lý khách mời, trợ lý âm thanh Dù chỉ đảm nhiệm nhữngcông việc nhỏ nhưng nhóm trợ lý đóng vai trò then chốt trong việc giúp các

bộ phận, các công đoạn công việc trở nên ăn khớp và nhịp nhàng hơn

Bộ phận thứ hai tham gia ghi hình chính là nhóm “Đạo diễn, kỹ thuật

và quay phim” Một chương trình tư vấn sức khỏe có thể có rất nhiều các đạodiễn, kỹ thuật hay quay phim như: Tổng đạo diễn chương trình, đạo diễn sânkhấu, đạo diễn hình, quay phim trường quay, quay phim máy lẻ, đạo diễn kỹthuật, kỹ thuật hình ảnh, kỹ thuật đồ họa vi tính

Bộ phận “Âm thanh, ánh sáng, mỹ thuật, trang phục” Bộ phận nàyđảm bảo cho sân khấu trường quay luôn “chuẩn” Nhân lực của bộ phận này

Trang 36

cũng thường bao gồm: Kỹ thuật viên ánh sáng, kỹ thuật viên âm thanh, họa sĩthiết kế, đội ngũ mỹ thuật, chuyên viên trang điểm, trang phục.

Người dẫn chương trình đóng vai trò là người dẫn dắt toàn bộ nội dungcủa quá trình ghi hình Người dẫn chương trình cũng sẽ là người trực tiếp xử lýnhững vấn đề phát sinh trong chương trình Vai trò của người dẫn chương trìnhlại càng quan trọng hơn nữa nếu đây là chương trình truyền hình trực tiếp

Khách mời: Thông thường, ở mỗi một tập phát sóng sẽ có nhữngkhách mời riêng Khách mời của những chương trình tư vấn sức khỏe thường

là các bác sĩ, giáo sư, chuyên gia trong lĩnh vực mà nội dung chương trìnhphản ánh Để quá trình ghi hình được thông suốt, bình thường, khách mời sẽnhận được kịch bản có khá đầy đủ những nội dung, những câu hỏi có thể xuấthiện trong quá trình ghi hình

Khán giả: Với các chương trình tư vấn sức khỏe, khán giả không nhấtthiết phải có mặt trong quá trình ghi hình Chỉ những chương trình theoformat có phần giao lưu cùng khán giả mới cần tới sự xuất hiện của nhómkhán giả trong trường quay

Mọi chương trình truyền hình đều là kết quả của một quá trình lâu dàilàm việc, phối hợp tập thể Vì vậy, yêu cầu cơ bản nhất của toàn bộ ekip thựchiện chính là phải ăn khớp, nhịp nhàng, chuyên nghiệp, đặt công việc lên trêncái tôi cá nhân Để ngày càng chuyên nghiệp hóa quy trình sản xuất chươngtrình truyền hình nói chung và chương trình tư vấn sức khỏe nói riêng, các Đàitruyền hình, các phòng ban chuyên môn cũng đã đề ra những quy trình sản xuất

cụ thể để các bộ phận trong ekip dựa trên đó phối hợp thực hiện công việc

1.2.1.3 Giai đoạn hậu kỳ

Giai đoạn hậu kỳ bắt đầu với công việc dựng hậu kỳ Dựng hậu kỳ baogồm khá nhiều các công đoạn Quá trình dựng hậu kỳ được coi như một bước

“cắt gọt” và ghép nối để biến các nội dung thu được từ quá trình ghi hình trởthành một tác phẩm cụ thể Giai đoạn hậu kỳ vô cùng quan trọng vì nó vừa

Trang 37

giúp hình thành tác phẩm thật sự, lại cho phép ekip thực hiện có thời gian ràsoát lại toàn bộ nội dung, kiểm tra kỹ lưỡng xem có xuất hiện các lỗi nàokhông, kịp thời có phương án sửa chữa Dựng hâụ kỳ có thể chia nhỏ thànhcác khâu sau:

- Dựng hậu kỳ về nội dung: Đây là quá trình chắt lọc và dựng lại nhữngnội dung cần thiết sao cho liền mạch, liên kết và logic Nhiệm vụ của biên tậpviên, kỹ thuật viên dựng hậu kỳ chính là phải biên tập lại chương trình theođúng độ dài đã quy định mà vẫn truyền tải đầy đủ nội dung thông điệp củatoàn bộ chương trình

- Dựng hậu kỳ về hình ảnh: Biên tập, kỹ thuật viên phải đảm bảo cácchuỗi hình ảnh liên tục, logic, đa dạng góc máy, không gây “nhàm chán” chongười xem

- Dựng hậu kỳ về âm thanh, hiệu ứng: Bổ sung thêm tiếng động hiệntrường, nhạc nền, các hiệu ứng sao cho chương trình thêm bắt mắt và thu hút

- In file phát sóng: File phát sóng sẽ được in ra để tiến hành thẩm duyệtlần cuối cùng trước khi đưa lên phát sóng

Về cơ bản, quá trình dựng hậu kỳ giống như “phẫu thuật thẩm mỹ” chomột chương trình Có quá trình này sẽ giảm bớt đáng kể những sai sót trongchương trình, đồng thời có thêm những biện pháp để chương trình càng thêmhấp dẫn, thu hút

Duyệt file phát sóng File phát sóng sẽ được biên tập viên, kỹ thuật viêngiao cho những bộ phận có trách nhiệm để xem, sửa chữa, góp ý những phầnnào mà bộ phận kiểm duyệt cho là chưa hợp lý, cần phải sửa đổi để nội dunghay và hoàn thiện hơn

Sau khi File phát sóng đã được thẩm duyệt thì sẽ có “giấy nghiệm thu”với đầy đủ con dấu, chữ ký của các bộ phận để chuyển tới phòng phát sóngtheo đúng khung giờ đã đăng ký từ trước Sau khi phát sóng, băng của toàn bộchương trình sẽ được lưu chiểu theo đúng quy định

Trang 38

Có khá nhiều các vấn đề phát sinh sau khi phát sóng một chương trình tưvấn về sức khỏe Cụ thể một số vấn đề như: Quyết toán kinh phí sản xuất vớibên liên kết, ekip sản xuất và cơ quan báo chí; thu thập phản hồi từ phía côngchúng, đánh giá phản hồi để xây dựng những nội dung tiếp theo Những vấn

đề này sẽ các bộ phận liên quan giải quyết theo quy trình cụ thể với từngchương trình và cơ quan riêng

1.2.2 Các phương thức sản xuất chương trình tư vấn sức khỏe trên truyền hình

1.2.2.1 Chương trình truyền hình tư vấn sức khỏe do cơ quan báo chí tự sản xuất

Quá trình hình thành một chương trình truyền hình tư vấn sức khỏe do

cơ quan báo chí tự sản xuất là hoàn toàn khép kín, thực hiện nội bộ trong độingũ các phóng viên, biên tập viên và nhân viên của Đài truyền hình Toàn bộnội dung được kiểm duyệt kỹ càng trước khi thực hiện và phát sóng Vớiphương thức này, có 2 cách thực hiện là ghi hình hoặc truyền hình trực tiếp.Trong đó, phương thức ghi hình chiếm phần chủ đạo

Việc sản xuất các chương trình theo phương thức ghi hình thường tốnnhiều thời gian và chương trình có thể không đến ngay với công chúng.Nhưng bù lại, bởi trải qua nhiều khâu xét duyệt và kiểm định nên chươngtrình thường hiếm khi mắc các lỗi sai về nội dung hoặc kỹ thuật Với phươngthức ghi hình, chương trình có thể hình thành do phóng viên phát hiện đề tàihoặc ban biên tập giao việc Nhìn chung, với nhóm chương trình truyền hình

tư vấn sức khỏe được các đài truyền hình, cơ quan báo chí tự xây dựng nộidung và thực hiện thì phóng viên đóng vai trò then chốt trong việc hình thànhmột chương trình Để sản xuất, ghi hình thành công, phóng viên cần chuẩn bịrất nhiều như:

- Nghiên cứu thực tế: Dù với đề tài tự phát hiện hay đề tài được ban biêntập giao phó, để hình thành nội dung kịch bản, phóng viên cần phải xâm nhập

Trang 39

thực tế và nghiên cứu thực tế một cách kỹ lưỡng Chỉ có tiến hành bước này,phóng viên mới thu thập đủ các thông tin cần thiết, quan trọng nhất để xâydựng kịch bản.

- Xác định hướng phản ánh của đề tài: Khi đã tìm ra được đề tài, phóngviên cần xác định được hướng phản ánh của vấn đề Bởi lẽ, mỗi một đề tài sẽ

có nhiều khía cạnh và hướng phản ánh khác nhau Chẳng hạn, với vấn đề “tưvấn phẫu thuật thẩm mỹ”, phóng viên có rất nhiều nội dung liên quan để phântích và truyền tải thông tin tư vấn đến công chúng: tích cực, tiêu cực, tác hại,rủi ro, phản ánh một trường hợp cụ thể Mỗi khía cạnh sẽ có những ưu vànhược điểm riêng Để chọn được khía cạnh phản ánh phù hợp, phóngviên/biên tập viên cần phải cân nhắc đến các yếu tố như: Đề tài phải được sốđông công chúng quan tâm, có tính thời sự và đang là vấn đề sức khoẻ nóngbỏng nhiều người mong muốn được tìm hiểu Những đề tài hoặc hướng phảnánh như vậy sẽ nhận được nhiều phản hồi và công chúng dễ dàng đón nhậnthông tin hơn; Đề tài phải phù hợp với định hướng của cơ quan Báo chí vàcác cơ quan quản lý có liên quan, cũng như tiêu chí chung của chương trình;

Đề tài phải phù hợp với khả năng vật chất, máy móc, phương tiện của cơquan: Trong trường hợp thiết bị chỉ đáp ứng cho ghi hình tại chỗ, phóng viênhay biên tập viên không thể viết kịch bản cho một chương trình truyền hìnhtrực tiếp vì trang thiết bị không thể đáp ứng được yêu cầu của chương trình;Tránh các vấn đề cũ, trùng lặp: Việc lặp đi lặp lại một vấn đề sẽ khiến côngchúng cảm thấy nhàm chán, không muốn tiếp cận thông tin

- Viết kịch bản: Kịch bản chính là “linh hồn” của mỗi chương trình Kịchbản hay thì nội dung chương trình sẽ phong phú, đa dạng, có chiều sâu và nhậnđược sự đón nhận của công chúng Khi viết kịch bản, phóng viên/biên tập viêncần phải chú ý để nêu ra được những vấn đề “đắt” nhất của đề tài, tìm ra đượcnhững chi tiết có ý nghĩa, lưu lại ấn tượng sâu với người xem Có như vậy,chương trình mới thực sự thành công và ghi dấu ấn trong lòng công chúng

Trang 40

- Dựng phim, biên tập: Quá trình “Dựng tổng thể” thường sẽ do kỹ thuậtsản xuất phụ trách, nhưng “dựng linh kiện”, đọc lời bình, chọn nhạc nền thường được các phóng viên/biên tập viên chịu trách nhiệm Việc dựng phim

và chọn nhạc nền cũng khá quan trọng để tạo nên những linh kiện hay, quyếtđịnh sự thành công của toàn bộ chương trình

Phương thức truyền hình trực tiếp thường rất hiếm khi được sử dụng đểsản xuất những chương trình tư vấn về sức khỏe, trừ các trường hợp chươngtrình quy mô cấp Bộ Y tế hoặc cấp quốc gia Bởi lẽ, thực hiện những chươngtrình này đòi hỏi một ekip khổng lồ về mọi mặt, trang thiết bị đa dạng và dựphòng nhiều kịch bản, nhiều tình huống khác nhau có thể phát sinh trên sóngtruyền hình trực tiếp Về cơ bản, các bước thực hiện một chương trình truyềnhình trực tiếp cũng gần giống như thực hiện một chương trình có đề tài do banbiên tập giao phó Nhưng bỏ bớt công đoạn thẩm duyệt trước khi phát sóng.Chương trình truyền hình trực tiếp cũng đòi hỏi nhiều về thiết bị như:Mỗi chương trình truyền hình trực tiếp cần có từ 1 đến 2 xe truyền hình lưuđộng (xe màu) Trang bị từ 5 đến 7 máy quay phim Các máy quay được “Setup” ở những vị trí nhất định và đánh số thứ tự riêng Hình ảnh được truyềnqua cáp dẫn hoặc viba Trên “bàn trộn”, đạo diễn hình ảnh sẽ trực tiếp xử lýnhững hình ảnh thu được này Hình ảnh sau khi xử lý được phát sóng thôngqua trung tâm vệ tinh viễn thông và phát trực tiếp tới công chúng thông quathiết bị thu phát như tivi hay thiết bị thông minh Nhìn chung, để bảo đảm chochương trình trực tiếp diễn ra thành công, toàn bộ ekip luôn phải ở trong tìnhhuống đề phòng rủi ro, có nhiều kịch bản và thiết bị dự phòng Bởi trong thực

tế, có không ít các trường hợp vì không chuẩn bị đủ thiết bị mà gây ra những

sự gián đoạn chương trình hoặc những lỗi không mong muốn khác

1.2.2.2 Chương trình truyền hình tư vấn sức khỏe do cơ quan báo chí liên kết sản xuất

Việc liên kết sản xuất các chương trình truyền hình tư vấn sức khỏengày càng được mở rộng trong phạm vi vài năm trở lại đây Bởi lẽ, việc liên

Ngày đăng: 07/12/2019, 07:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết 46-NQ/TW về công tác bảo vệ chăm sóc sức khỏe nhân dân trong tình hình mới, Báo Điện tử Đảng cộng sản Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 46-NQ/TW về công tác bảo vệ chămsóc sức khỏe nhân dân trong tình hình mới
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2005
2. Ban chấp hành Trung ương Đảng (1993), Nghị quyết 04/NQ-HNTW của Hội nghị lần thứ 4, Ban chấp hành TW Đảng (khóa VII) về những vấn đề cấp bách của sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, Báo Điện tử Đảng cộng sản Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 04/NQ-HNTW củaHội nghị lần thứ 4, Ban chấp hành TW Đảng (khóa VII) về những vấnđề cấp bách của sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân
Tác giả: Ban chấp hành Trung ương Đảng
Năm: 1993
3. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2017), Nghị quyết số 20-NQ/TW của Hội nghị lần thứ 6 khóa XII về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới, Báo Điện tử Đảng cộng sản Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 20-NQ/TW củaHội nghị lần thứ 6 khóa XII về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc vànâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Năm: 2017
4. Bộ Thông tin và Truyền thông (2016), Luật báo chí, Nxb Thông tin và Truyền thông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật báo chí
Tác giả: Bộ Thông tin và Truyền thông
Nhà XB: Nxb Thông tin vàTruyền thông
Năm: 2016
5. Bộ Văn hóa Thông tin (1998), Các quy định pháp lý về báo chí, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các quy định pháp lý về báo chí
Tác giả: Bộ Văn hóa Thông tin
Nhà XB: NxbVăn hóa Thông tin
Năm: 1998
6. Chính phủ (2005), Nghị quyết 05/2005/NQ-CP về đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế văn hoá và thể dục thể thao, Cổng thông tin điện tử Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 05/2005/NQ-CP về đẩy mạnh xã hội hoácác hoạt động giáo dục, y tế văn hoá và thể dục thể thao
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2005
7. Chính phủ (2017), Nghị quyết 139/NQ-CP ban hành Chương trình hành động của Chính phủ về chăm sóc sức khỏe nhân dân, Cổng thông tin điện tử Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 139/NQ-CP ban hành Chương trình hànhđộng của Chính phủ về chăm sóc sức khỏe nhân dân
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2017
8. Hoàng Thị Cúc, Đức Dũng (2007), Những vấn đề của báo chí hiện đại, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề của báo chí hiện đại
Tác giả: Hoàng Thị Cúc, Đức Dũng
Nhà XB: Nxb Lý luận Chính trị
Năm: 2007
9. Trần Quang Cơ - Trần Đức Tài - Lê Thanh Nhàn (2007), Nhà báo hiện đại, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà báo hiệnđại
Tác giả: Trần Quang Cơ - Trần Đức Tài - Lê Thanh Nhàn
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2007
10. Claudia Mast (2004), Truyền thông địa chúng - Công tác biên tập, Nxb Thông tấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông địa chúng - Công tác biên tập
Tác giả: Claudia Mast
Nhà XB: NxbThông tấn
Năm: 2004
11. Đức Dũng (2001), Viết báo như thế nào?, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viết báo như thế nào
Tác giả: Đức Dũng
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2001
12. Đỗ Võ Tuấn Dũng (2004), Tuyên truyền giáo dục sức khỏe trên các phương tiện truyền thông đại chúng, Luận văn Thạc sĩ Báo chí học, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyên truyền giáo dục sức khỏe trên cácphương tiện truyền thông đại chúng
Tác giả: Đỗ Võ Tuấn Dũng
Năm: 2004
13. Đậu Ngọc Đản (1995), Báo chí với sự nghiệp đổi mới, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí với sự nghiệp đổi mới
Tác giả: Đậu Ngọc Đản
Nhà XB: Nxb Văn hóaThông tin
Năm: 1995
14. Vũ Cao Đàm (2008), Giáo trình phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
15. Đài truyền hình Việt Nam (2004), Sản xuất chương trình truyền hình, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sản xuất chương trình truyền hình
Tác giả: Đài truyền hình Việt Nam
Năm: 2004
16. Đài truyền hình Việt Nam (2006), Báo cáo Hội thảo Xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình tại Liên hoan Truyền hình toàn quốc lần thứ 25, Khánh Hòa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Hội thảo Xã hội hóa sản xuấtchương trình truyền hình tại Liên hoan Truyền hình toàn quốc lần thứ25
Tác giả: Đài truyền hình Việt Nam
Năm: 2006
17. Đài truyền hình Việt Nam (2007), Báo cáo Hội thảo Xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình tại Liên hoan Truyền hình toàn quốc lần thứ 26, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Hội thảo Xã hội hóa sản xuấtchương trình truyền hình tại Liên hoan Truyền hình toàn quốc lần thứ26
Tác giả: Đài truyền hình Việt Nam
Năm: 2007
18. Đinh Thị Thúy Hằng (2008), Báo chí thế giới, xu thế và khuynh hướng phát triển, Nxb Thông tấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí thế giới, xu thế và khuynh hướngphát triển
Tác giả: Đinh Thị Thúy Hằng
Nhà XB: Nxb Thông tấn
Năm: 2008
19. Đinh Văn Hường (2006), Các thể loại báo chí thông tấn, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các thể loại báo chí thông tấn
Tác giả: Đinh Văn Hường
Nhà XB: Nxb Đại họcQuốc gia Hà Nội
Năm: 2006
20. Nguyễn Thị Thanh Hòa (2013), Thông tin y tế sức khỏe trên báo in hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Báo chí học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin y tế sức khỏe trên báo in hiệnnay
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Hòa
Năm: 2013

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w