1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

HÌNH THÀNH SÀN GIAO DỊCH CÔNG NGHỆ ẢO ĐỂ THÚC ĐẨY THƯƠNG MẠI HÓA KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG TẠI VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

99 55 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA SÀN GIAO DỊCH CÔNG NGHỆ ẢOĐỂ THƯƠNG MẠI HÓA KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TẠI VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM .... Để có thể cụ thể hóa được chủ trương của Đảng

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN



BÙI VĂN HIỂN

HÌNH THÀNH SÀN GIAO DỊCH CÔNG NGHỆ ẢO

ĐỂ THÚC ĐẨY THƯƠNG MẠI HÓA KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

ỨNG DỤNG TẠI VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC

VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Hà Nội, 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN



BÙI VĂN HIỂN

HÌNH THÀNH SÀN GIAO DỊCH CÔNG NGHỆ ẢO

ĐỂ THÚC ĐẨY THƯƠNG MẠI HÓA KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

ỨNG DỤNG TẠI VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC

VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

MÃ SỐ: 60 34 04 12

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Văn Hải

Hà Nội, 2018

Trang 3

Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn đến Lãnh đạo các Viện, Lãnh đạo các Ban chức năng thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam gồm: Viện Công nghệ sinh học, Viện Công nghệ môi trường, Viện Công nghệ vật liệu, Viện Hóa học, Viện Khoa học năng lượng, Viện Công nghệ thông tin, cùng các nhà khoa học đã nhiệt tình giúp đỡ tác giả thực hiện điều tra, khảo sát và trao đổi nhiều kinh nghiệm thực tế

Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn chân thành và cảm mến tới Lãnh đạo Ban Ứng dụng và Triển khai công nghệ: TS Hà Quý Quỳnh, Trưởng Ban; PGS.TS Phan Tiến Dũng, Phó Trưởng Ban, TS Vũ Thị Thu Lan, Phó Trưởng Ban cùng các đồng nghiệp tại cơ quan công tác đã luôn tạo điều kiện và giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Do thời gian và năng lực bản thân có hạn, Luận văn này không tránh khỏi còn khiếm khuyết, tác giả rất mong nhận được sự thông cảm và chia sẻ

Trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, tháng năm 2018

Bùi Văn Hiển

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 2

MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 6

2.1 Tổng quan về thương mại hóa tài sản trí tuệ trên thế giới 6

2.2 Tổng quan về thương mại hóa kết quả nghiên cứu tại Việt Nam 8

2.3 Tổng quan nghiên cứu về sàn giao dịch công nghệ 10

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 12

3.1 Mục tiêu nghiên cứu 12

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 12

4 Phạm vi nghiên cứu 12

5 Mẫu khảo sát 12

6 Câu hỏi nghiên cứu 13

7 Giả thuyết nghiên cứu 13

8 Phương pháp nghiên cứu 13

9 Kết cấu luận văn 14

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC TRUNG GIAN NHẰM THƯƠNG MẠI HÓA KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG 15

1.1 Tổ chức trung gian hỗ trợ thương mại hóa kết quả nghiên cứu 15

1.1.1 Dịch vụ chuyển giao công nghệ 15

1.1.2 Tổ chức môi giới chuyển giao công nghệ 16

1.1.3 Tổ chức tư vấn chuyển giao công nghệ 17

1.1.4 Tổ chức xúc tiến chuyển giao công nghệ 19

1.2 Thương mại hóa kết quả nghiên cứu 20

1.2.1 Khái niệm thương mại hóa 20

1.2.2 Khái niệm thương mại hóa kết quả nghiên cứu 22

Trang 5

1.3 Sàn giao dịch công nghệ 25

1.3.1 Khái niệm sàn giao dịch công nghệ 25

1.3.2 Chức năng của sàn giao dịch công nghệ 27

1.3.3 Điều kiện về nhân lực của sàn giao dịch công nghệ 27

1.3.4 Điều kiện về cơ sở vật chất - kỹ thuật đối với sàn giao dịch công nghệ ngoài công lập 28

1.4 Sàn giao dịch công nghệ ảo 28

1.4.1 Khái niệm sàn giao dịch công nghệ ảo 28

1.4.2 Vai trò của sàn giao dịch công nghệ ảo đối với hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu 30

Tiểu kết Chương 1 35

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG SÀN GIAO DỊCH CÔNG NGHỆ VÀ THƯƠNG MẠI HÓA KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG TẠI VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM 36

2.1 Thực trạng tổ chức và hoạt động của các sàn giao dịch công nghệ 36

2.1.1 Trung tâm giao dịch thông tin công nghệ Việt Nam (Sàn giao dịch thông tin công nghệ) 36

2.1.2 Hoạt động của Sàn giao dịch công nghệ TP Hồ Chí Minh 39

2.1.3 Hoạt động của Sàn giao dịch Công nghệ và Thiết bị Hải phòng 41

2.1.4 Đánh giá tổ chức và hoạt động của các sàn giao dịch công nghệ 46

2.2 Thực trạng thương mại hóa các kết quả nghiên cứu ứng dụng tại VAST 48 2.2.1 Thực trạng nghiên cứu khoa học 48

2.2.2 Thực trạng ứng dụng và triển khai công nghệ 53

2.2.3 Thực trạng bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và công bố kết quả nghiên cứu 63

2.2.4 Thực trạng động kinh doanh, hỗ trợ thương mại hóa kết quả nghiên cứu 65

Tiểu kết chương 2 67

Trang 6

CHƯƠNG 3 TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA SÀN GIAO DỊCH

CÔNG NGHỆ ẢOĐỂ THƯƠNG MẠI HÓA KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TẠI VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM 68

3.1 Kinh nghiệm nước ngoài về tổ chức và hoạt động của sàn giao dịch công nghệ 68

3.1.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc 68

3.1.2 Kinh nghiệm của Hàn Quốc 72

3.1.3 Kinh nghiệm của Singapore 74

3.2 Giải pháp xây dựng sàn giao dịch công nghệ theo định hướng thị trường 77

3.2.1 Hạn chế của sàn giao dịch công nghệ theo định hướng “thị trường tiềm năng” 77

3.2.2 Điểm mạnh của sàn giao dịch công nghệ định hướng “thị trường theo nhu cầu” 79

3.3 Hình thành sàn giao dịch công nghệ ảo 81

3.3.1 Nhu cầu hình thành sàn giao dịch công nghệ ảo 81

3.3.2 Ưu điểm của sàn giao dịch công nghệ ảo 83

3.3.3 Tổ chức sàn giao dịch công nghệ ảo 84

3.3.4 Hoạt động của sàn giao dịch công nghệ ảo 86

Tiểu kết chương 3 88

KẾT LUẬN 90

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

Trang 7

2

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Việt Nam (Viện Hàn lâm)

Trang 8

Trong bối cảnh cuộc cách mạng Công nghiệp lần thứ 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ tác động đến mọi quốc gia, dân tộc, Đảng và Chính phủ đã xác định

rõ “Phát triển mạnh mẽ khoa học và công nghệ, làm cho khoa học và công nghệ thực sự là quốc sách hàng đầu, là động lực quan trọng nhất để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, kinh tế tri thức, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh” (Nghị quyết Đại Hội Đảng lần thứ XII) Để có thể cụ thể hóa được chủ trương của Đảng và Chỉnh phủ, nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thực hiện và tạo điều kiện để thúc đẩy hoạt động thương mại hóa công nghệ, phát triển thị trường khoa học công nghệ ở Việt Nam như Luật Khoa học và Công nghệ, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Chuyển giao công nghệ, Luật Công nghệ cao, các nghị định và thông tư hướng dẫn,…

Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (Viện Hàn lâm) là cơ quan nghiên cứu khoa học hàng đầu của đất nước về khoa học tự nhiên, đa ngành và đa lĩnh vực Tại Nghị định số 60/2017/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Viện Hàn lâm do Thủ tướng

Chính phủ ký ban hành ngày 15/5/2017 nêu rõ: “Viện Hàn lâm là cơ quan

Trang 9

+ Cơ cấu tổ chức của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam hiện nay có 52 đầu mối: 06 đơn vị giúp việc Chủ tịch Viện Hàn lâm, 34 đơn

vị sự nghiệp nghiên cứu khoa học chuyên ngành, 07 đơn vị sự nghiệp khác có chức năng phục vụ công tác quản lý và nghiên cứu khoa học của Viện Hàn lâm, 04 đơn vị tự trang trải kinh phí và 01 doanh nghiệp Nhà nước Ngoài ra, Viện Hàn lâm còn có hệ thống trên 100 đài trạm trại thuộc 18 Viện nghiên cứu chuyên ngành, phân bố tại 36 tỉnh, thành phố đặc trưng cho hầu hết các vùng địa lý của Việt Nam (đồng bằng, ven biển, trung du, miền núi và hải đảo) để khảo sát, điều tra, thu thập số liệu, triển khai thực nghiệm về địa chất, địa từ, địa động lực, địa lý, môi trường, tài nguyên và thử nghiệm vật liệu, Trong nhiều năm qua, Viện Hàn lâm được Nhà nước từng bước đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật tương đối đồng bộ trong đó có 04 Phòng thí nghiệm trọng điểm Quốc gia (PTNTĐ) cùng nhiều phòng thí nghiệm nghiên cứu cấp Viện khác Nhiều phòng thí nghiệm của Viện Hàn lâm được trang bị các thiết bị nghiên cứu hiện đại đáp ứng yêu cầu nghiên cứu khoa học và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao VAST có các khu sản xuất thử nghiệm nhằm trực tiếp phục vụ công tác phát triển công nghệ, sản xuất đa dạng sản phẩm khoa học để đưa kết quả nghiên cứu khoa học vào thực tế phục vụ phát triển kinh tế xã hội của đất nước

+ Tính đến tháng 06/2017, Viện Hàn lâm có tổng số trên 4000 nhân lực, viên chức, trong đó có 2351 là nhân lực biên chế; 45 GS, 150 PGS, 26 TSKH, 838 TS, 869 ThS và 550 nhân lực, viên chức có trình độ đại học So

Trang 10

Công bố khoa học trên tạp chí quốc tế uy tín ISI và Sở hữu trí tuệ

Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn và chiến lược thúc đẩy thương mại hóa các kết quả ứng dụng từ Viện Hàn lâm đến với doanh nghiệp và xã hội tác giả

đề xuất đề tài nghiên cứu: “Hình thành sàn giao dịch công nghệ ảo để thúc

đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu ứng dụng tại Viện Hàn lâm Khoa học

và Công nghệ Việt Nam”:

a Ý nghĩa lý luận: Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần cung cấp

cơ sở lý luận cho các nhà quản lý, đồng thời làm cơ sở cho mối liên kết hợp tác giữa nhà khoa học của Viện Hàn lâm và doanh nghiệp

b Ý nghĩa thực tiễn: Đưa kết quả nghiên cứu ứng dụng ra ngoài thực

tiễn thông qua sàn giao dịch công nghệ ảo và từ nhu cầu thực tiễn (doanh nghiệp) thông qua sàn giao dịch ảo để định hướng, xác định đầu vào hoặc đặt hàng các nhiệm vụ khoa học cấp Viện Hàn lâm Đưa ra được minh chứng:

Trang 11

6

khoa học gắn với thực tiễn và đồng thời nhà khoa học gắn với các doanh nghiệp nhằm phát triển kinh tế - xã hội

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

2.1 Tổng quan về thương mại hóa tài sản trí tuệ trên thế giới

Thương mại hóa kết quả nghiên cứu có thể triển khai ở các giai đoạn của quá trình đổi mới: từ những ý tưởng ban đầu cho đến kết quả cuối cùng, theo Norman và cộng sự (1997) Nó có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức như chuyển quyền sử dụng (licensing) hay như việc tạo ra các doanh nghiệp KH&CN từ các tổ chức KH&CN mẹ để tự thương mại hóa kết quả nghiên cứu của chính tổ chức đó (Koruna, 2004) hoặc từ các tổ chức trung gian để đến được với đơn vị, cá nhân có nhu cầu về công nghệ

Việc thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu đang là trọng tâm của các chính sách kinh tế tại nhiều quốc gia trên thế giới Ngay từ những năm 80 của thế kỷ trước, chính quyền liên bang Hoa Kỳ đã có những thay đổi

to lớn trong chính sách, chiến lược liên quan đến việc khai thác và thương mại hóa các kết quả nghiên cứu Để thực hiện điều này, việc đầu tiên, Hoa Kỳ ban hành các điều luật nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp đổi mới công nghệ Ví dụ,

để thúc đẩy chuyển giao kết quả nghiên cứu từ trường đại học vào doanh nghiệp, năm 1980, Hoa Kỳ ban hành Luật Bayh-Dole (Bayh-Dole Act 1980), quy định việc giao quyền sở hữu kết quả nghiên cứu có nguồn gốc kinh phí từ NSNN cho tổ chức KH&CN Cụ thể, đạo luật này giao quyền sở hữu các sáng chế được tạo ra bằng kinh phí nhà nước cho các trường đại học khai thác trong một thời hạn nhất định, nếu không khai thác được thì sau thời gian đó trường đại học phải trả lại quyền sở hữu cho Nhà nước Trong những năm 90, các trường đại học Columbia, California và Stanford đã có nhiều thành tích trong CGCN Việc tác động của đạo luật này đến các nghiên cứu hàn lâm rất khiêm tốn, mà chủ yếu là tác động đến việc tăng cường công tác sáng chế và cấp phép sử dụng công nghệ (Mowery, 1998) Từ khi đạo luật này ra đời, các

Trang 12

7

Viện, trường đại học của Hoa Kỳ đã đẩy mạnh việc hình thành các tổ chức dịch vụ CGCN nhằm thương mại hóa các kết quả nghiên cứu của họ Theo Mowery và cộng sự (2001), bản thân sự ra đời của Luật Bayh-Dole là một trong những yếu tố để thúc đẩy chuyển giao kết quả R&D từ các Viện nghiên cứu, trường đại học vào doanh nghiệp và là yếu tố quan trọng thúc đẩy quá trình này Còn theo Markman và cộng sự (2009), cứ 1 đô la Mỹ đầu tư vào tổ chức dịch vụ CGCN thì tổ chức đó nhận lại 6 đô la thu nhập từ các dịch vụ CGCN Qua đó ta có thể thấy hiệu quả đầu tư thể hiện qua thu nhập hay lợi nhuận từ hoạt động CGCN

Nghiên cứu của Karlsson Magnus (2004) bàn về thương mại hóa kết quả nghiên cứu ở Hoa Kỳ, cung cấp cái nhìn tổng quan về hoạt động CGCN

và những cải cách trong luật và chính sách của Hoa Kỳ nhằm mục đích chỉ ra những điểm mạnh hay ưu điểm của Hoa Kỳ có thể áp dụng tại Thụy Điển để thúc đẩy hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu

Einar Rasmussen (2008) có bài nghiên cứu về những giải pháp của chính phủ để hỗ trợ hoạt động thương mại hóa nghiên cứu ở trường đại học: bài học kinh nghiệm từ Canada Nghiên cứu này xem xét cách hỗ trợ của chính phủ Canada nhằm hỗ trợ hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu Các bài học được rút ra từ trường hợp của Canada có liên quan đến việc các sáng kiến của chính phủ khuyến khích cách tiếp cận từ dưới lên như thế nào Điều này được thực hiện bằng cách chính phủ cung cấp nguồn lực để sử dụng trực tiếp trong các dự án thương mại hóa hoặc để phát triển chuyên môn trong hoạt động CGCN trong các trường đại học, bằng việc thử nghiệm các sáng kiến mới, hoặc tạo thuận lợi cho sự hợp tác giữa các tổ chức thương mại hóa

Kết quả nghiên cứu của các tổ chức KH&CN có thể là đối tượng được bảo hộ sở hữu công nghiệp hoặc không, nhưng tất cả đều là TSTT của tổ chức KH&CN đó Chính vì vậy, việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu cũng có thể được hiểu chính là thương mại hóa TSTT Nghiên cứu của Bruce P

Trang 13

8

Clayman và Adam Holbrook (2003) về thương mại hóa TSTT coi đó như là một yếu tố chính có tầm quan trọng đặc biệt đối với hoạt động đổi mới ở Canada

2.2 Tổng quan về thương mại hóa kết quả nghiên cứu tại Việt Nam

Đặng Duy Thịnh và cộng sự (2000) đã tiến hành nghiên cứu cơ sở khoa học thương mại hóa các hoạt động KH&CN ở Việt Nam Nghiên cứu đã chỉ

ra hoạt động KH&CN là quá trình chuyển hóa các nghiên cứu khoa học, kết quả nghiên cứu khoa học thành sản phẩm có thể bán ra thị trường hoặc là các quy trình công nghệ có thể áp dụng vào thực tế Nghiên cứu của Đặng Duy Thịnh cũng đề xuất một số biện pháp mang tính định hướng và những nguyên tắc chung nhằm thúc đẩy hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu KH&CN ở nước ta như tăng cường xúc tiến năng lực thương mại hóa, thúc đẩy bảo hộ SHTT hay khuyến khích thành lập các doanh nghiệp KH&CN

Năm 2013, Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN, Bộ KH&CN đã

nghiệm thu đề tài nghiên cứu cấp Bộ “Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn

cho việc xây dựng chính sách thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của các tổ chức KH&CN Việt Nam”, do TS

Nguyễn Quang Tuấn chủ trì Nghiên cứu này đã chỉ ra cơ sở lý luận, thực trạng thương mại hóa kết quả nghiên cứu và phát triển công nghệ của các tổ chức KH&CN nói chung và một số giải pháp vĩ mô Tuy nhiên, nghiên cứu này không đi sâu vào việc nhận diện những rào cản trong hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu của các tổ chức KH&CN

Tạp chí Cộng sản số 810 (tháng 4/2010) có bài viết “Thúc đẩy thương

mại hóa kết quả R&D ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Quang Tuấn Thông

qua việc phân tích một số giải pháp thúc đẩy thương mại hóa kết quả R&D của một số nước trên thế giới và đánh giá hiện trạng thương mại hóa kết quả R&D tại Việt Nam, tác giả Nguyễn Quang Tuấn đã đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động thương mại hóa kết quả R&D ở nước ta Tuy nhiên,

Trang 14

9

những giải pháp tác giả đề xuất còn chung chung, chưa đưa ra giải pháp rõ ràng có thể thực hiện ngay (ví dụ tác giả đề xuất giải pháp cần sớm hoàn thiện chính sách thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư vào KH&CN nhưng vấn đề là cần hoàn thiện như thế nào?) Cũng như không chỉ ra những khó khăn hay rào cản trong hoạt động thương mại hóa kết quả R&D tại Việt Nam

Thương mại hóa kết quả nghiên cứu từ trường đại học vào doanh nghiệp ở Việt Nam: thực trạng và giải pháp của tác giả TS Hồ Ngọc Luật (Nghiên cứu về chính sách và quản lý, tập 4, số 1, 2015 Tap chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam), bài viết này tác giả đã đưa ra cách nhận dạng thực trạng thương mại hóa kết quả nghiên cứu từ trường đại học vào doanh nghiệp

và phân tích những khó khăn và giải pháp nhưng chưa đề cấp đến thương mại hóa tại các viện nghiên cứu nơi có nhiều kết quả nghiên cứu ứng dụng tiềm năng

Bàn về quá trình thương mại hóa các kết quả R&D, tác giả Trần Văn

Hải (Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn) đã có bài viết “Thương

mại hóa kết quả nghiên cứu - Tiếp cận từ Quyền Sở hữu trí tuệ” trên Tạp chí

Hoạt động khoa học, số tháng 4 năm 2011 Tác giả tiếp cận từ hướng Luật

SHTT, bàn về việc liệu tất cả các kết quả R&D đều có thể thương mại hóa được hay không? Đồng thời đề xuất giải pháp trực tiếp (Thành lập các doanh nghiệp khởi nguồn từ cơ sở nghiên cứu hoặc từ các trường đại học) và gián tiếp (Đảm bảo khả năng thực thi quyền SHTT) nhằm thúc đẩy hoạt động này Tác giả cũng đã chỉ rõ được trách nhiệm thực hiện những giải pháp này thuộc

về ai, tuy nhiên, những khó khăn trong hoạt động thương mại hóa kết quả R&D thì tác giả chưa đề cập/ bàn đến

Thương mại hóa kết quả nghiên cứu ứng dụng trong các trường Đại học tại Australia và những đề xuất cho Việt Nam của tác giả Trần Văn Hải

(Trường Đại học KHXH&NV) đăng trên tạp trí Khoa học và Công nghệ tháng 8 năm 2015, bài viết đã phân tích một số yếu tố làm nên sự thành công

Trang 15

10

của việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu ứng dụng của các trường đại học tại Australia: số lượng xuất bản ấn phẩm liên quan đến sáng chế, sự phân bố sáng chế trên các lĩnh vực công nghệ, tần số trích dẫn patent theo lĩnh vực công nghệ, sự hợp tác nghiên cứu và áp dụng sáng chế Đề xuất tập trung nghiên cứu ứng dụng các lĩnh vực công nghệ thuộc thế mạnh của các trường đại học Việt Nam gắn với thương mại hóa sáng chế Bài viết chưa đi sâu phân tích vào những rào cản hay tổ chức trung gian để khắc phục những rào cản hoạt động thương mại hóa tại Việt Nam

2.3 Tổng quan nghiên cứu về sàn giao dịch công nghệ

Như vậy có thể thấy rằng, thông qua các Sàn giao dịch công nghệ, Thị trường công nghệ (TTCN) phát triển Nhận thức rõ điều này, trong Chiến lược phát triển KT-XH 2011-2020 được thông qua tại Đại hội lần thứ XI của Đảng năm 2011chỉ rõ: “Phát triển mạnh thị trường khoa học, công nghệ chuyển các đơn vị sự nghiệp khoa học, công nghệ sang chính sách tự chủ, tự chịu trách nhiệm” Tuy nhiên, cho đến nay, hệ thống kinh tế thị trường của Việt Nam chưa phát triển đủ mức độ để có được một TTCN đồng bộ và có hiệu quả Đặc biệt ở các bộ, ngành cụ thể, TTCN còn rất sơ khai, nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn chưa được giải quyết

Để thực hiện được điều đó Nhà nước cần phải giải quyết rất nhiều vấn

đề, trong đó vấn đề xây dựng, hoàn thiện các thể chế của thị trường khoa học

- công nghệ được quan tâm, chú trọng Đến nay, cả nước có các Sàn giao dịch công nghệ đang hoạt động như Sàn giao dịch công nghệ và thiết bị Thái Bình, Quảng Ninh, Nghệ An, Hải Phòng, Đà Nẵng, Hồ Chí Minh, Bắc Giang, Sàn giao dịch công nghệ - Cục Thông tin KH&CN Quốc gia , trong đó Sàn gia dịch công nghệ và thiết bị Hải Phòng (HATEX) được thành lập và đi vào hoạt động sớm nhất Các sàn nói trên có xu hướng triển khai theo cả phương thức sàn thực và phương thức sàn ảo Các sàn thực hiện chủ yếu tập trung vào trưng bày, giới thiệu các thiết bị công nghệ, sản phẩm công nghệ của cả các

Trang 16

11

công ty trong và ngoài nước Sàn ảo chủ yếu giới thiệu các thiết bị công nghệ qua mạng trực tuyến Hoạt động giao dịch công nghệ là tài sản trí tuệ qua các sàn như quy trình, giải pháp kỹ thuật, bí quyết công nghệ còn hạn chế

Qua khảo sát thực tế các kết quả hoạt động tư vấn, môi giới chuyển giao công nghệ của các Sàn giao dịch công nghệ từ năm 2011 - 2013, theo số liệu tổng hợp của các Sàn giao dịch và các Techmart ảo: Cục thông tin khoa học và công nghệ Quốc gia, Hồ Chí Minh, Hải phòng, Nghệ An và tại các Techmart, các triễn lãm công nghệ khác, lượng giao dịch công nghệ là: 4.568 với tổng giá trị là: 5.683 tỷ đồng Trong năm 2013 và 9 tháng đầu năm 2014 cho thấy:

- Sàn giao dịch công nghệ Quảng Ninh năm 2013 kết nối được 5 cuộc cho các tổ chức, doanh nghiệp gặp gỡ, thương thảo ký kết hợp đồng Từ tháng 01-09/2014 đã kết nối được 3 cuộc gặp giữa các tổ chức và doanh nghiệp

- Sàn giao dịch công nghệ Hải Phòng, năm 2013 kết nối được 55 cuộc cho các tổ chức, doanh nghiệp gặp gỡ, thương thảo ký kết hợp đồng Hỗ trợ

10 đơn vị trong việc tiếp cận nguồn vốn phát triển KH&CN Tư vấn cho 3 doanh nghiệp đăng ký thành doanh nghiệp KH&CN Từ tháng 01-09/2014 đã

tổ chức kết nối được 38 cuộc cho các doanh nghiệp gặp gỡ để đàm phán, thương thảo hợp đồng

Trên cơ sở tìm hiểu, kế thừa kết quả các nghiên cứu đi trước, luận văn tập trung vào việc phân tích và làm rõ những vấn đề chưa rõ hoặc chưa thực hiện, đó là Tình hình thương mại hóa kết quả nghiên cứu tại VAST đặc biệt chú trọng đến rào cản về hoạt động sở hữu trí tuệ Từ đó đề xuất hình thành sàn giao dịch công nghệ ảo để thương mại hóa kết quả nghiên cứu tại VAST nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của xã hội

Trang 17

12

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Luận văn đặt mục tiêu nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn nhằm hình thành sàn giao dịch công nghệ ảo để thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu ứng dụng tại Viện Hàn lâm

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, Luận văn có các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:

- Phân tích cơ sở lý luận về tổ chức trung gian nhằm thương mại hóa kết quả nghiên cứu ứng dụng;

- Khảo sát và phân tích thực trạng sàn giao dịch công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu ứng dụng tại Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam;

- Đề xuất các giải pháp về tổ chức và hoạt động của sàn giao dịch công nghệ ảo để thương mại hóa kết quả nghiên cứu ứng dụng tại Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam

4 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nội dung: Những rào cản và điều kiện hình thành sàn giao

dịch ảo để thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu ứng dụng tại Viện Hàn lâm

- Phạm vi thời gian: Luận văn khai thác các số liệu liên quan trong giai

Trang 18

13

Việc chọn mẫu khảo sát dựa trên tiêu chí là những Viện Nghiên cứu chuyên ngành đã có những kết quả nghiên cứu được ứng dụng vào thực tế

6 Câu hỏi nghiên cứu

Câu hỏi nghiên cứu chủ đạo:

Sàn giao dịch công nghệ ảo cần tổ chức và hoạt động như thế nào để thúc đẩy việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu ứng dụng tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam?

Câu hỏi nghiên cứu bổ trợ:

- Hiện trạng thương mại hóa kết quả nghiên cứu ứng dụng tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam như thế nào?

7 Giả thuyết nghiên cứu

Giả thuyết nghiên cứu chủ đạo

Sàn giao dịch công nghệ ảo cần tổ chức và hoạt động định hướng “thị trường theo nhu cầu” để thúc đẩy việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu ứng dụng tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Giả thuyết nghiên cứu bổ trợ

- Việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu ứng dụng tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam chưa tương xứng với năng lực nghiên cứu, sản phẩm nghiên cứu đã thực hiện

8 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu hệ thống văn bản pháp luật và các văn bản liên quan đến thương mại hóa kết quả nghiên cứu, đồng thời nghiên cứu các công trình khoa học, báo cáo, tạp chí, giáo trình, tổ chức trung gian v.v để kế thừa kết quả đã được nghiên cứu

- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Trên cơ sở các nguồn tài liệu, dữ liệu, báo cáo về việc quản lý và thương mại hóa kết quả nghiên cứu của các Viện được chọn khảo sát từ năm 2013 đến năm 2017 (giai đoạn 05 năm), tổng hợp và phân tích dữ liệu đã thu thập được

Trang 19

9 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn có kết cấu như sau:

- Chương 1 Cơ sở lý luận về tổ chức trung gian nhằm thương mại hóa kết quả nghiên cứu ứng dụng

- Chương 2 Thực trạng sàn giao dịch công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu ứng dụng tại Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam

- Chương 3 Tổ chức và hoạt động của sàn giao dịch công nghệ ảo để thương mại hóa kết quả nghiên cứu ứng dụng tại Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam

Trang 20

15

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC TRUNG GIAN NHẰM

THƯƠNG MẠI HÓA KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG

1.1 Tổ chức trung gian hỗ trợ thương mại hóa kết quả nghiên cứu

1.1.1 Dịch vụ chuyển giao công nghệ

Dịch vụ CGCN (Technology Transfer Services) là một thuật ngữ dùng

để chỉ các hoạt động liên quan đến môi giới CGCN, tư vấn CGCN, đánh giá công nghệ, định giá công nghệ, giám định công nghệ và xúc tiến CGCN

Theo khoản 12 điều 3 Luật CGCN: Dịch vụ CGCN là hoạt động hỗ trợ

quá trình tìm kiếm, giao kết và thực hiện hợp đồng CGCN Trong định nghĩa

này, có một thuật ngữ liên quan được coi là quan trọng, đó là xúc tiến CGCN

là hoạt động thúc đẩy, tạo và tìm kiếm cơ hội CGCN; cung ứng dịch vụ quảng cáo, trưng bày, giới thiệu công nghệ; tổ chức chợ, hội chợ, triển lãm công nghệ, trung tâm giao dịch công nghệ

Như vậy, dịch vụ CGCN gồm 3 hoạt động chính, đó là:

- Hoạt động thúc đẩy, tạo và tìm kiếm cơ hội CGCN

- Cung ứng dịch vụ quảng cáo, trưng bày, giới thiệu công nghệ;

- Tổ chức chợ, hội chợ, triển lãm công nghệ, trung tâm giao dịch công nghệ

Chất lượng của dịch vụ CGCN, có thể đánh giá thông qua các tiêu chí:

1 Mức độ dễ tiếp cận đối với tổ chức môi giới CGCN và các hình thức xúc tiến CGCN như cung ứng dịch vụ quảng cáo, trưng bày, giới thiệu công nghệ; tổ chức chợ, hội chợ, triển lãm công nghệ, trung tâm giao dịch công nghệ

2 Độ tin cậy của hoạt động đánh giá công nghệ, định giá công nghệ, giám định công nghệ, đây là tiêu chí rất quan trọng, bởi vì các hoạt động này đòi hỏi sự chính xác vì chúng có liên quan đến các yếu tố pháp luật, môi trường

Trang 21

16

3 Quy chế, thủ tục dịch vụ CGCN dễ dàng, thuận lợi, giao dịch dịch vụ CGCN nhanh chóng, đáp ứng yêu cầu của bên cung công nghệ và bên cầu công nghệ khách hàng trong mọi tình huống

4 Năng lực của nhân viên thực hiện dịch vụ CGCN ở tất cả các loại hình dịch vụ CGCN, bao gồm: môi giới CGCN, tư vấn CGCN, đánh giá công nghệ, định giá công nghệ, giám định công nghệ và xúc tiến CGCN;

5 Giá cả dịch vụ CGCN phù hợp với thị trường, với công nghệ được chuyển giao, xét cho cùng giá dịch vụ CGCN là một yếu tố tác động đến giá của công nghệ được chuyển giao, giá thành của sản phẩm áp dụng công nghệ được chuyển giao;

6 Sự an toàn: đây là tiêu chí cao nhất đánh giá chất lượng của dịch vụ CGCN Trước hết đảm bảo tính bí mật của công nghệ được chuyển giao, trong trường hợp công nghệ được chuyển giao là sáng chế thì ngoài phần các thông tin về sáng chế được bộc lộ công khai thì tổ chức thực hiện dịch vụ CGCN phải đảm bảo không tiết lộ bí mật về bí quyết (know-how) của công nghệ, đối với các sáng chế dược phẩm còn phải đảm bảo bí mật về dữ liệu thử nghiệm, trong trường hợp công nghệ được chuyển giao không được cấp patent (patent) thì tổ chức thực hiện dịch vụ CGCN phải giữ bí mật toàn bộ công nghệ

1.1.2 Tổ chức môi giới chuyển giao công nghệ

Môi giới CGCN là hoạt động hỗ trợ bên cung công nghệ, bên cầu công

nghệ trong việc tìm kiếm đối tác ký kết hợp đồng CGCN

Công nghệ là sản phẩm của kết quả nghiên cứu ứng dụng thuộc khu vực R&D, do đó CGCN có thể là:

- Từ khu vực R&D sang khu vực sản xuất, kinh doanh, trong trường hợp này bên cung công nghệ là nhà nghiên cứu;

- Trong nội bộ khu vực sản xuất, kinh doanh, trong trường hợp này bên cung công nghệ là bên đã nhận chuyển giao từ nhà nghiên cứu Tất nhiên

Trang 22

Techmart, do đó vai trò của môi giới công nghệ được đặt ra là:

- Nhận thông tin về công nghệ từ bên cung;

- Căn cứ vào nhu cầu công nghệ của bên nhận để chọn lọc thông tin trong tập hợp các công nghệ có được từ bên cung để cung cấp thông tin cho bên nhận;

- Kết nối bên cung và bên cầu công nghệ để đàm phán tiến tới ký kết hợp đồng CGCN

Vai trò của môi giới công nghệ không chỉ dừng lại khi hợp đồng CGCN được ký kết, mà môi giới công nghệ còn có vai trò như một tổ chức đảm bảo cho việc thực thi hợp đồng giữa hai bên, nhất là trong trường hợp bảo hành công nghệ khi rủi ro xảy ra từ bên nhận công nghệ

Mặt khác, vai trò của môi giới công nghệ còn được thể hiện trong trường hợp xảy ra tranh chấp giữa hai bên, môi giới công nghệ đóng vai trò trung gian trong việc đàm phán giữa hai bên, hạn chế đến mức thấp nhất phải nhờ sự can thiệp của tổ chức trọng tài hoặc tòa án.1

1.1.3 Tổ chức tư vấn chuyển giao công nghệ

Tư vấn CGCN là hoạt động hỗ trợ các bên trong việc lựa chọn công

Trang 23

18

là rủi ro xuất phát từ yếu tố môi trường, vòng đời công nghệ, không hiểu về công nghệ cạnh tranh…

Hoạt động tư vấn CGCN được thực hiện qua các bước:

- Vai trò cung cấp thông tin về công nghệ được chuyển giao: phục vụ nhu cầu của bên cầu công nghệ trong các trường hợp đầu tư công nghệ thiết bị mới, cải tiến công nghệ hiện có, lựa chọn nhà cung ứng công nghệ Việc cung cấp thông tin về bên cung công nghệ thường cung cấp tối thiểu từ 2 đến 3 đơn

vị cung ứng công nghệ để bên cầu công nghệ lựa chọn Vai trò của tổ chức tư vấn CGCN phải thể hiện ở năng lực giúp bên cầu so sánh đối chiếu từng hạng mục của công nghệ được chuyển giao, tư vấn cho bên cầu công nghệ về những điểm khác biệt trong công nghệ của từng nhà cung cấp công nghệ, về lợi thế so sánh của công nghệ do từng nhà cung cấp khác nhau… để bên cầu công nghệ lựa chọn cho phù hợp với mục đích sử dụng công nghệ, phù hợp với khả năng tài chính và nhất là phù hợp với năng lực công nghệ của nhân lực KH&CN mà bên nhận hiện có;

- Vai trò đánh giá công nghệ, tư vấn định giá công nghệ, lựa chọn công nghệ và phương thức CGCN (chuyển giao độc quyền tuyệt đối, chuyển giao độc quyền tương đối, chuyển giao không độc quyền, chuyển giao theo phương thức “chìa khóa trao tay”, chuyển giao theo phương thức “sản phẩm trao tay”, chuyển giao theo phương thức “thị trường trao tay”…) Vai trò của

tư vấn còn thể hiện ở việc hỗ trợ bên cầu công nghệ đánh giá ưu nhược điểm của từng loại công nghệ Trong một số trường hợp CGCN cao, công nghệ phức tạp của từng dự án cụ thể, tổ chức tư vấn CGCN có thể mời những chuyên gia đầu ngành trong từng lĩnh vực tham gia tư vấn trực tiếp cho 2 bên dưới sự chứng kiến của tổ chức tư vấn CGCN;

- Vai trò hỗ trợ đàm phán, soạn thảo hợp đồng CGCN, hình thức thanh toán (thanh toán chuyển giao trọn gói hoặc thanh toán chuyển giao kỳ vụ) giá chuyển giao, phương thức thanh toán hợp đồng, chế tài vi phạm hợp đồng…

Trang 24

19

với tiêu chí tiết kiệm chi phí cho cả hai bên (nhất là bên cầu công nghệ), tiết kiệm thời gian; tránh những rủi ro pháp lý (nhất là trong trường hợp có tranh chấp từ bên thứ ba, ví dụ tranh chấp về quyền sở hữu công nghiệp, tranh chấp

về thị trường giữa các bên nhận công nghệ khác nhau…) Vai trò của tư vấn CGCN còn thể hiện ở việc giúp bên nhận công nghệ tranh thủ ưu đãi từ Nhà Nước đối với những lĩnh vực đặc thù

Hoạt động tư vấn CGCN được dựa trên: cơ sở dữ liệu về các công nghệ cần chuyển giao, kết quả nghiên cứu trong nước và nước ngoài, mối liên hệ với các tổ chức R&D, kinh nghiệm hoạt động tư vấn trong lĩnh vực CGCN

Hoạt động tư vấn CGCN còn được thể hiện hỗ trợ hai bên đăng ký hợp đồng CGCN, tiếp tục hỗ trợ tư vấn giúp bên nhận xây dựng đề án thành lập doanh nghiệp KH&CN…2

1.1.4 Tổ chức xúc tiến chuyển giao công nghệ

Xúc tiến CGCN là hoạt động thúc đẩy, tạo và tìm kiếm cơ hội CGCN;

cung ứng dịch vụ quảng cáo, trưng bày, giới thiệu công nghệ; tổ chức chợ, hội chợ, triển lãm công nghệ, trung tâm giao dịch công nghệ

Vai trò của xúc tiến CGCN thể hiện:

- Làm cho tổng mức lưu chuyển hàng hóa công nghệ tăng lên tạo cơ hội cho nền kinh tế tăng trưởng và phát triển,

- Xúc tiến CGCN còn có tác dụng thay đổi cơ cấu ngành, lĩnh vực, thúc đẩy ngành, lĩnh vực đó không ngừng đổi mới và phát triển Góp phần đào tạo nguồn nhân lực để tiếp thu những thành tựu KH&CN trong nước và thế giới

- Xúc tiến CGCN tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đổi mới công nghệ, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường, mở rộng thị trường tiêu thụ

- Xúc tiến CGCN kích thích các viện nghiên cứu, trường đại học và các

tổ chức KH&CN khác cung cấp hàng hóa công nghệ ra thị trường, thông qua

2 Trần Văn Hải (2016), Giáo trình đã dẫn

Trang 25

20

quá trình xúc tiến các Viện/trường tổ chức, cá nhân tham gia vào quá trình nghiên cứu và phát triển công nghệ có điều kiện nhìn nhận, đánh giá lại sản phẩm công nghệ của mình để từng bước hoàn thiện đáp ứng nhu cầu của thực tiễn Qua đó, cũng giúp người tiêu dùng yên tâm hơn với chất lượng sản phẩm công nghệ được đầu tư nghiên cứu trong nước

- Xúc tiến CGCN kích thích các dịch vụ CGCN khác tham gia sâu rộng vào thị trường tạo ra phản ứng dây truyền để phát triển thị trường công nghệ.3

1.2 Thương mại hóa kết quả nghiên cứu

1.2.1 Khái niệm thương mại hóa

Thuật ngữ thương mại ban đầu được dùng để chỉ các hoạt động buôn bán của các thương gia Chính vì thế, theo nghĩa hẹp khái niệm thương mại được hiểu là hoạt động mua bán hàng hóa với mục đích kiếm lời Cùng với quá trình phát triển kinh tế thị trường, khái niệm thương mại được mở rộng dần sang các lĩnh vực liên quan đến mua bán hàng hóa, ban đầu là các dịch vụ kèm theo như vận tải, bảo hiểm, thanh toán… Ngày nay, khái niệm thương mại được hiểu theo nghĩa rất rộng, là tất cả các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi từ đầu tư, sản xuất đến phân phối và cả dịch vụ sau bán hàng Do sự phát triển của thương mại trên phạm vi toàn cầu mà đã nảy sinh nhiều cách hiểu về khái niệm thương mại của nhiều nước Nhằm mục đích giảm bớt sự khác biệt, từng bước nhất thể hóa cách hiểu về pháp luật thương mại trong quan hệ kinh

tế quốc tế, ngày 21/6/1985 Ủy ban Pháp luật thương mại Liên hợp quốc (UNCITRAL: United Nations Commission on International Trade Law) đã thông qua Luật mẫu về trọng tài thương mại quốc tế trong đó đưa ra khái niệm về thương mại, theo đó thuật ngữ “thương mại” cần được giải thích theo nghĩa rộng liên quan đến tất cả các mối quan hệ có bản chất thương mại, dù là quan hệ hợp đồng hay không phải hợp đồng Những mối quan hệ thương mại gồm, nhưng không giới hạn ở các giao dịch: bất cứ giao dịch thương mại nào

3 Trần Văn Hải (2016), Giáo trình đã dẫn

Trang 26

21

về cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ; thỏa thuận phân phối; đại diện hoặc đại lý thương mại; ủy thác hoa hồng (factoring), cho thuê (leasing); xây dựng các công trình; tư vấn; kỹ thuật (engineering); đầu tư; cấp vốn; ngân hàng; bảo hiểm; thỏa thuận khai thác hoặc tô nhượng; liên doanh và các hình thức khác về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hóa hay hành khách bằng đường biển, đường hàng không, đường sắt hoặc đường bộ

Từ điển Oxford lại đưa ra khái niệm thương mại hóa là quá trình đưa một sản phẩm hoặc dịch vụ vào trạng thái sẵn sàng có thể bán được ra thị trường

Pháp lệnh trọng tài thương mại ra đời và có hiệu lực ngày 01/7/2003

nêu rõ: “Hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi

thương mại của cá nhân, tổ chức kinh doanh bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện, đại lý thương mại; ký gửi; thuê; cho thuê; thuê mua; xây dựng; tư vấn; kỹ thuật; li - xăng; đầu tư; tài chính, ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò, khai thác; vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường hàng không, đường biển, đường sắt, đường bộ và các hành vi thương mại khác theo quy định của pháp luật”4

Ở Việt Nam, không có nhiều văn bản đưa ra khái niệm về thương mại hóa Tác giả đã nghiên cứu tìm hiểu trong giới hạn một số loại văn bản liên quan nhưng có rất ít thông tin về khái niệm này

Tại Điều 3, Luật Thương mại năm 2005, hoạt động thương mại hóa

được định nghĩa: “Hoạt động thương mại hóa là hoạt động sinh lợi, bao gồm

mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại, và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”5

Trên cơ sở nghiên cứu tổng quan khái niệm thương mại hóa ở phạm vi quốc tế và trong nước, kết hợp với tình hình thực tế tại Việt Nam, tác giả nhận

4 Lê Hoàng Oanh (2004), Khái niệm thương mại theo pháp luật Việt Nam, tạp chí Khoa học pháp luật 3/2004

5 Luật Thương mại số 36/2005/QH11 ban hành ngày 14 tháng 6 năm 2005

Trang 27

22

định khái niệm thương mại hóa được đề cập trong Luật Thương mại năm

2005 là phù hợp và sẽ sử dụng khái niệm này xuyên suốt luận văn Như vậy,

tác giả sử dụng khái niệm về thương mại hóa như sau: “Hoạt động thương

mại hóa là hoạt động sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại, và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”

1.2.2 Khái niệm thương mại hóa kết quả nghiên cứu

Từ điển Cambridge Advanced có đưa ra khái niệm thương mại hóa là việc tổ chức cái gì đó để tạo ra lợi nhuận, còn công nghệ là nghiên cứu và tri thức thực nghiệm, đặc biệt là tri thức công nghiệp, sử dụng các phát hiện khoa học

Theo Siegel (1995), thương mại hóa công nghệ được hiểu theo nghĩa hẹp là sự chuyển hóa công nghệ thành lợi nhuận Ở đây, khái niệm thương mại hóa công nghệ theo nghĩa hẹp là việc Siegel và cộng sự chỉ nhấn mạnh vào yếu tố lợi nhuận tài chính mà không phải là lợi ích giữa nói chung Trong tiếng Anh có sự phân biệt nghĩa rõ ràng giữa “profit” và “benefit”6

Nghiên cứu của Isabelle (2004) lại xem việc thương mại hóa kết quả R&D là một quá trình chuyển hóa tri thức nghiên cứu thành các sản phẩm mới (hoặc cải tiến), các quá trình hoặc dịch vụ và giới thiệu chúng ra thị trường để tạo ra các lợi ích kinh tế McCoy (2007) là tác giả có khái niệm tương đối giống với Isabelle, định nghĩa thương mại hóa kết quả R&D là quá trình phát hiện tri thức, phát triển các tri thức đó thành công nghệ và chuyển hóa công nghệ thành các sản phẩm mới hoặc các quy trình, dịch vụ được sử dụng hoặc bán ra thị trường7

Ở Scotland, thương mại hoá kết quả nghiên cứu được định nghĩa là quá trình chuyển hoá các nghiên cứu thành các sản phẩm bán ở thị trường

6 Siegel, R A, Hansen S.O et al (1995), Accelerating the commercialisation of technology:

commercialisation through cooperation, Industrial Management and Data System, pg 18

7 Isabelle, Diane A (2004), S&T commercialization of federal research laboratories and university research, Carleton University McCoy Andrew Patton (2007), Estaclishing a commercialization model for innovative products in the residential construction industry, State University of Virginia

Trang 28

23

và các qui trình công nghệ công nghiệp và người ta cho rằng con đường thương mại hoá là quá trình gồm 2 thành phần (Scottish Enteprise, The Royal Society of Edinburgh, 1996):

Một là, các hoạt động thương mại của các trường đại học và các viện nghiên cứu, bao gồm "bán" các hoạt động đào tạo, hợp đồng nghiên cứu và cộng tác nghiên cứu và SHTT Các hoạt động này tạo ra thu nhập cho viện, trường

Hai là, các hoạt động chuyển hoá nghiên cứu khoa học và tri thức khoa học thành sản phẩm thương mại và qui trình công nghệ sản xuất Kết quả của quá trình này có ý nghĩa tác động lâu dài đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

Tại Việt Nam, có nhiều nghiên cứu về thương mại hóa kết quả nghiên cứu tuy nhiên không có nhiều khái niệm chính xác về thương mại hóa kết quả nghiên cứu được đưa ra mà chủ yếu chú trọng bàn về vai trò của thương mại hóa Nguyễn Quang Tuấn (2013) đưa ra nhận định thương mại hóa kết quả nghiên cứu là một quá trình chuyển hóa các ý tưởng nghiên cứu KH&CN vào sản xuất, đời sống hoặc bất kỳ hoạt động tạo ra lợi ích kinh tế nào khác

Theo PGS.TS Trần Văn Hải, Thương mại hóa kết quả nghiên cứu ứng dụng trong các trường Đại học tại Australia - Những đề xuất cho Việt Nam: Theo Hội đồng nghiên cứu Australia (Australian Research Council), thuật ngữ thương mại hóa kết quả nghiên cứu gắn với sáng chế và đổi mới, quá trình đổi mới công nghệ bao gồm các giai đoạn: nghiên cứu và triển khai, phát triển công nghệ, thương mại hóa, trong đó phát triển công nghệ (technology development) là độc lập với nghiên cứu và triển khai (R&D), mặc dù cả hai cụm từ này đều có thành tố “development”

Về thuật ngữ “thương mại hóa” kết quả nghiên cứu nói chung (bao gồm

cả nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng trong mọi lĩnh vực khoa học), khi tiếp cận từ quyền Sở hữu trí tuệ, cần lưu ý:

Trang 29

- Các kết quả nghiên cứu ứng dụng trong lĩnh vực khoa học tự nhiên là

có thể được thương mại hóa

Nếu tiếp cận từ phân loại khoa học thì thuật ngữ thương mại hóa kết quả nghiên cứu cần được hiểu thêm một số điểm sau đây:

+ Kết quả nghiên cứu trong bài viết này được giới hạn bởi nghiên cứu ứng dụng, vì như đã phân tích kết quả nghiên cứu cơ bản là không thể được thương mại hóa

+ Cụm từ “các kết quả nghiên cứu ứng dụng trong lĩnh vực khoa học tự nhiên” ở trên cần được mở rộng: khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ, khoa học y dược, khoa học nông nghiệp

+ Trong lĩnh vực khoa học y dược, thì công nghệ dược, công nghệ y tế (thể hiện ở dạng vật thể, ví dụ thiết bị y tế)… là có thể được thương mại hóa, nhưng công nghệ y tế (thể hiện ở dạng phương pháp, ví dụ phương pháp chẩn đoán, chữa bệnh cho người) là không thể được thương mại hóa, pháp luật về SHTT loại phương pháp chẩn đoán, chữa bệnh cho người ra khỏi đối tượng của sáng chế

- Kết quả nghiên cứu là giải pháp kỹ thuật được bảo hộ thông qua việc cấp bằng độc quyền sáng chế (gọi tắt là patent), như vậy kết quả nghiên cứu là các đối tượng khác của quyền Sở hữu trí tuệ (ví dụ kiểu dáng công nghiệp, bí mật kinh doanh…) không thuộc đối tượng nghiên cứu của bài viết này

Tóm lại, thương mại hóa kết quả nghiên cứu được hiểu là quá trình

đưa sáng chế là kết quả nghiên cứu ứng dụng thành sản phẩm hàng hoá

và gắn với thị trường

Trang 30

25

Xin lưu ý: việc xuất bản các tác phẩm khoa học chuyển tải kết quả nghiên cứu cơ bản trong mọi lĩnh vực khoa học, kết quả nghiên cứu ứng dụng trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn không được coi là thương mại hóa theo cách hiểu của định nghĩa vừa nêu, các tác phẩm khoa học này được bảo

hộ quyền tác giả theo quy định của pháp luật về Sở hữu trí tuệ

Trong định nghĩa vừa nêu, cần lưu ý:

- Sản phẩm có thể là hàng hóa hoặc dịch vụ, Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO) đã phân loại 34 nhóm hàng hóa và 11 nhóm dịch vụ;

- Sản phẩm phải gắn với thị trường nhằm mục đích thương mại;

- Chuyển giao được hiểu là chuyển nhượng quyền sở hữu đối với sáng chế hoặc chuyển quyền sử dụng (License) đối với sáng chế

- Để thương mại hóa thành công một kết quả nghiên cứu, có thể gặp hai loại rủi ro là “rủi ro công nghệ” (technology risks) trong quá trình nghiên cứu

và “rủi ro thương mại” (commercial risks) trong quá trình đưa kết quả nghiên cứu vào sản phẩm gắn với thị trường Chi tiết này cho thấy vai trò của tổ chức đầu tư cho nghiên cứu và vai trò của các doanh nghiệp vệ tinh trong quá trình thương mại hóa kết quả nghiên cứu8

1.3 Sàn giao dịch công nghệ

1.3.1 Khái niệm sàn giao dịch công nghệ

Sàn giao dịch công nghệ là loại hình tổ chức trung gian có khả năng

thực hiện tất cả các dịch vụ hỗ trợ các bên có nhu cầu giao dịch công nghệ, tài sản trí tuệ từ chào mua, chào bán, giới thiệu, đại diện, đại lý, tư vấn, môi giới,

hỗ trợ định giá, hỗ trợ kỹ thuật, hỗ trợ đàm phán, ký kết, thực hiện giao dịch công nghệ, tài sản trí tuệ9

8 PGS.TS Trần Văn Hải, Thương mại hóa kết quả nghiên cứu ứng dụng trong các trường Đại học tại

Australia - Những đề xuất cho Việt Nam công bố ở Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Nghiên cứu Chính sách và Quản lý, Tập 31, Số 2 (2015) 24-32

9 Thông tư 16/2014/TT-BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ qui định về điều kiện thành lập, hoạt động của tổ chức trung gian của thị trường khoa học công nghệ

Trang 31

26

Thị trường công nghệ được tổ chức thông qua nhiều hình thức, trong đó

có sàn giao dịch công nghệ (Techmart) hay “chợ công nghệ”, có thể hiểu đó

là nơi người bán trưng ra các công nghệ mà mình có, người mua đi tìm mua công nghệ mà mình cần, sau mỗi kỳ tổ chức Techmart mà số lượng giao dịch

ít hơn so với nhu cầu, tức là đã có nhiều hàng hóa công nghệ bị “ế” Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, trong đó có nguyên nhân chủ yếu là Techmart được tổ chức theo hình thức “thị trường tiềm năng”. 10

Nguyên nghĩa potential market được hiểu là “tiềm năng của thị

trường”, Karen Mundy, S Gary Bullen (2009) trong nghiên cứu nhan đề

Estimating Market Potential: Is There a Market? Đã chỉ ra rằng để ước tính

tiềm năng của thị trường thì cần phải:

- Xác định phân khúc thị trường/thị trường mục tiêu, (define the market segment/target market)

- Xác định ranh giới địa lý của thị trường (define the geographic boundaries of the market);

- Xác định yếu tố cạnh tranh (define the competition);

- Xác định độ lớn của thị trường (define the market size);

- Ước tính thị phần (estimate market share);

- Xác định mức tiêu thụ trung bình trên một đơn vị thời gian (determine the average annual consumption);

- Ước tính giá bán trung bình (Estimate an average selling price).11Như vậy, Karen Mundy, S Gary Bullen (2009) đã nghiên cứu về tiềm năng của thị trường và đã đưa ra các tiêu chí trên

10

Trần Văn Hải (2018), Quy trình từ nhu cầu công nghệ đến giải mã/nghiên cứu và chuyển giao công nghệ,

Tọa đàm khoa học Xây dựng và phát triển sàn giao dịch công nghệ, Cục Thông tin KH&CN Quốc gia tổ chức tháng 7/2018

11 Karen Mundy, S Gary Bullen (2009), Estimating Market Potential: Is There a Market, Department of

Agricultural and Applied Economics, University of Georgia

Trang 32

27

1.3.2 Chức năng của sàn giao dịch công nghệ

Sàn giao dịch công nghệ là nơi cung cấp các dịch vụ hỗ trợ các bên tiến hành giao dịch công nghệ, tài sản trí tuệ bảo đảm tính hợp pháp, an toàn và hiệu quả Điều hành, giám sát hoạt động giao dịch công nghệ, tài sản trí tuệ; niêm yết giá chào mua, giá chào bán công nghệ, tài sản trí tuệ theo từng thời điểm Trưng bày, giới thiệu, quảng cáo, cung cấp công nghệ, thiết bị theo nhu cầu của tổ chức, cá nhân Tư vấn, môi giới giao dịch công nghệ, tài sản trí tuệ; thực hiện giao dịch công nghệ theo hợp đồng đại diện, ủy thác, ủy quyền, đại

lý, ký gửi theo nhu cầu của tổ chức, cá nhân

Sàn giao dịch công nghệ cũng là nơi cung cấp hỗ trợ thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, tài sản trí tuệ của tổ chức khoa học và công nghệ, doanh nghiệp khoa học và công nghệ, các tổ chức khác có hoạt động tạo ra kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, tài sản trí tuệ Cung cấp dịch vụ đặt hàng nghiên cứu, hoàn thiện, chuyển giao công nghệ và hợp tác đầu tư nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ Cung cấp dịch vụ tư vấn, hỗ trợ chủ sở hữu, đại diện chủ sở hữu, người có quyền sử dụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, tài sản trí tuệ và các bên liên quan trong việc xác định giá trị của kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, tài sản trí tuệ Thực hiện yêu cầu của cơ quan nhà nước trong việc xác định giá trị kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, tài sản trí tuệ Tư vấn cho tổ chức, cá nhân về cách thức đổi mới sản phẩm, dịch vụ; đổi mới quy trình quản lý, tổ chức sản xuất kinh doanh; quản trị hoạt động đổi mới sáng tạo; quản trị, khai thác và thương mại hóa tài sản trí tuệ Cung cấp dịch vụ hỗ trợ tổ chức, cá nhân trong lựa chọn, tiếp thu, giải mã, làm chủ, cải tiến công nghệ;

1.3.3 Điều kiện về nhân lực của sàn giao dịch công nghệ

Theo quy định của pháp luật, sàn giao dịch công nghệ phải có ít nhất 05 người có trình độ đại học trở lên, trong đó có ít nhất 40% làm việc chính thức,

Trang 33

28

30% có chứng chỉ, chứng nhận hoàn thành khóa học về: tư vấn, môi giới, xúc tiến chuyển giao công nghệ; quản trị tài sản trí tuệ; đánh giá, định giá công nghệ; định giá tài sản trí tuệ

Người đứng đầu phải có trình độ đại học trở lên, có chứng chỉ, chứng nhận hoàn thành khóa học về một trong các kỹ năng quy định tại Điểm a Khoản này và có ít nhất 03 năm kinh nghiệm công tác liên quan đến thương mại hóa công nghệ, tài sản trí tuệ

1.3.4 Điều kiện về cơ sở vật chất - kỹ thuật đối với sàn giao dịch công nghệ ngoài công lập

- Có cơ sở dữ liệu hoặc có quyền sử dụng, khai thác cơ sở dữ liệu về nguồn cung và cầu công nghệ, tài sản trí tuệ; về tổ chức, cá nhân môi giới công nghệ; tổ chức, chuyên gia đánh giá, định giá công nghệ, tài sản trí tuệ; tổ chức, chuyên gia hỗ trợ kỹ thuật, tư vấn chuyển giao công nghệ, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng;

- Có quy trình kỹ thuật, quy trình quản lý giao dịch công nghệ, tài sản trí tuệ bảo đảm quyền và lợi ích của các tổ chức, cá nhân tham gia giao dịch công nghệ, tài sản trí tuệ;

- Có trang tin điện tử riêng hoặc có quyền sử dụng trang tin điện tử chung về giao dịch công nghệ, tài sản trí tuệ;

1.4 Sàn giao dịch công nghệ ảo

1.4.1 Khái niệm sàn giao dịch công nghệ ảo

Hiện nay, Sàn giao dịch công nghệ có thể hoạt động dưới hai hình thức: Thứ nhất hoạt động dưới hình thức sàn thực, tức là có không gian trưng bày, giới thiệu công nghệ, văn phòng tư vấn tại chỗ…theo qui định tại Thông tư 16/2014/TT-BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ Thứ hai hoạt động dưới hình thức sàn ảo (online) trong đó không có không gian trưng bày mà cần tập hợp, phân loại và đánh giá công nghệ, sáng chế, kết quả nghiên cứu khoa học có tiềm năng thương mại hóa đưa vào cơ sở dữ liệu trên nền tẳng

Trang 34

29

công nghệ thông tin để giúp kết nối trực tuyến của các chủ thể với nhau, chẳng hạn như bên cung và bên cầu kết nối, trao đổi, giao dịch được với nhau Bên cạnh đó, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 được hình thành trên nền tảng của cuộc các cuộc cách mạng công nghiệp trước đó, đặc biệt là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ ba với xu hướng phát triển dựa trên nền tảng tích hợp cao độ công nghệ số (bao gồm kết nối internet vạn vật, trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây, cơ sở dữ liệu lớn) và nền tảng hiểu biết về vật lý, vật liệu, sinh học, cho phép tạo ra sản phẩm chất lượng cao, giá thành rẻ, ngày càng theo nhu cầu đa dạng của con người Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang làm thay đổi căn bản nền sản xuất của thế giới với sức lan toả nhanh chóng của số hoá và công nghệ thông tin, có tác động sâu sắc, rộng rãi đến toàn bộ đời sống xã hội, sản xuất, dịch vụ và lưu thông phân phối hàng hoá trên toàn thế giới Trong bối cảnh như vậy, tính đến cuối năm 2015 có khoảng gần 10 sàn giao dịch công nghệ đều hoạt động dưới dạng kết hợp cả sàn thực và sàn

ảo, một số Sàn giao dịch công nghệ hoạt động khá hiệu quả trên cơ sở kết hợp giữa sàn thực và sàn ảo như: Sàn giao dịch công nghệ và thiết bị Hải Phòng, Chợ Công nghệ và thiết bị thành phố Hồ Chí Minh, Chợ công nghệ và thiết bị

Việt Nam, …

Thuật ngữ Sàn giao dịch công nghệ ảo tác giả hiểu như sau: Là Sàn giao dịch không có không gian trưng bày công nghệ và thiết bị… nhưng thực hiện chức năng, nhiệm vụ của 01 Sàn giao dịch công nghệ theo Thông tư 16/2014/TT-BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ và được thực hiện trên cùng 01 trang website (online)

Như vậy khái niệm về Sàn giao dịch công nghệ ảo tác giả xin được định nghĩa theo ý hiểu của mình như sau: Sàn giao dịch công nghệ ảo hay là

Sàn giao dịch công nghệ online: Là nơi diễn ra các hoạt động mua, bán, trao

đổi thông tin, đặt hàng sản phẩm công nghệ, dịch vụ khoa học công nghệ của các cá nhân, tổ chức trên internet

Trang 35

30

Việc hình thành sàn giao dịch công nghệ ảo phù hợp với cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 Đồng thời giúp bên cung và bên cầu tiến lại gần nhau hơn, tiết kiệm chi phí và thời gian Tuy nhiên để thúc đẩy thương mại hóa thành công của các giao dịch công nghệ và thiết bị thông qua sàn giao dịch công nghệ ảo thì cũng cần các bên có các buổi gặp trực tiếp để thương lượng, trao đổi đưa ra quyết định cuối cùng

1.4.2 Vai trò của sàn giao dịch công nghệ ảo đối với hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu

Tại Việt Nam, các Viện nghiên cứu, trường đại học nói chung việc thúc đẩy nghiên cứu và phát triển công nghệ để đi đến ứng dụng vào thực tế là mục tiêu bắt buộc trong thời đại của cách mạng công nghiệp lần thứ 4 Nhiều sáng chế, giải pháp hữu ích,…qui trình công nghệ mới được cơ quan có thẩm quyền cấp văn bằng, tuy nhiên việc thương mại hóa lại không hề đơn giản, đặc biệt đối với các nhà khoa học không có khinh nghiệm về lĩnh vực này Và Sàn giao dịch công nghệ chính là cầu nối giữa nhà sáng chế với các nhà đầu

tư để thương mại hóa kết quả nghiên cứu

Theo thông tư 16/2014/TT-BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ quy định về điều kiện thành lập, hoạt động của tổ chức trung gian của thị trường khoa học và công nghệ, sàn giao dịch công nghệ là một trong những tổ

chức trung gian then chốt Theo đó Sàn giao dịch công nghệ là loại hình tổ

chức trung gian có khả năng thực hiện tất cả các dịch vụ hỗ trợ các bên có nhu cầu giao dịch công nghệ, tài sản trí tuệ từ chào mua, chào bán, giới thiệu, đại diện, đại lý, tư vấn, môi giới, hỗ trợ định giá, hỗ trợ kỹ thuật, hỗ trợ đàm phán, ký kết, thực hiện giao dịch công nghệ, tài sản trí tuệ

Vai trò của sàn giao dịch trong dòng chảy công nghệ

Trang 36

31

Vai trò trung gian của sàn giao dịch công nghệ - Nguồn Natec

Công nghệ có thể được chuyển giao trực tiếp từ bên cung sang bên cầu

mà không cần có sự can thiệp của tổ chức trung gian Tuy nhiên, sẽ rất rủi ro cho cả bên cung và cầu công nghệ nếu giao dịch không có bên thứ ba đảm bảo Với vai trò của sàn giao dịch công nghệ là sử dụng uy tín của bên thứ ba (có thể là tổ chức của Nhà nước) để hỗ trợ tạo thuận lợi và đảm bảo cho giao dịch công nghệ hoặc tài sản trí tuệ một cách công khai minh bạch, khách quan Đồng thời, sàn giao dịch công nghệ còn cung cấp các dịch vụ hỗ trợ định giá công nghệ, tư vấn kỹ thuật, nhằm đảm bảo quyền lợi cho bên cung và bên cầu công nghệ

Thực tế cho thấy, sàn giao dịch công nghệ góp phần tăng tỷ trọng giao dịch công nghệ của quốc gia, tạo môi trường hoạt động sáng tạo, đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực khoa học và công nghệ quốc gia, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, góp phần bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân và tổ chức tham gia thị trường công nghệ

Một lợi ích khác của sàn giao dịch công nghệ là giúp cho cơ quan quản

lý nắm bắt được các số liệu về giao dịch công nghệ thông qua sàn, kiểm soát, chọn lọc được công nghệ tốt, loại bỏ các công nghệ lạc hậu không có lợi Cũng thông qua số liệu của sàn giao dịch công nghệ, có thể đánh giá được xu

Trang 37

mô khác nhau Ở nước ta các chợ công nghệ và thiết bị được gọi tắt là Techmart thực chất đó là các phiên chợ công nghệ không thường xuyên và không cố định Phương thức thứ 2: phương thức này được nhiều cơ quan tổ chức quan tâm là thiết lập các sàn giao dịch công nghệ cố định, hay còn gọi là các chợ công nghệ thường xuyên Sàn giao dịch công nghệ có thể hoạt động dưới dạng sàn thực có: Không gian trương bày, giới thiệu công nghệ, tư vấn khoa học và công nghệ tại chỗ và hoạt động theo kiểu sàn ảo, và hầu hết các Sàn kết hợp cả hai sàn thực và sàn ảo

Tại các Sàn giao dịch công nghệ sẽ diễn ra nhiều hoạt động như hoạt động chào bán, chào mua sản phẩm và công nghệ, tài sản trí tuệ, hoạt động xúc tiến chuyển giao công nghệ, hoạt động đào tạo tiếp nhận chuyển giao công nghệ, hoạt động đánh giá, định giá, thẩm định công nghệ, hoạt động khai thác, cung cấp thông tin từ cơ sở dữ liệu lớn (Big Data) của thị trường công nghệ, hoạt động ươm tạo, hỗ trợ thương mại hóa kết quả nghiên cứu,

Thế giới đang bước vào kỷ nguyên cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thời đại nền kinh tế số đang phát triển mạnh mẽ, bắt buộc mọi thành phần của nền kinh tế hàng hóa truyền thống phải thay đổi để đáp ứng xu thế mới Thị trường công nghệ và sàn giao dịch công nghệ cũng là một thành phần tất yếu phải đổi mới Một sàn giao dịch công nghệ hiện nay phải có các tính năng hiện đại về kiến trúc công nghệ hạ tầng, phải thuận lợi cho người dùng, phải tin cậy và đem lại ích lợi thật sự cho các thành phần tham gia

Trang 38

33

Sàn giao dịch công nghệ trong thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0 - Nguồn

Natec Với sàn Offline: không phải mọi sản phẩm, công nghệ đều có thể trưng

bày, thể hiện dưới dạng vật chất hữu hình cụ thể, hoặc do khối lượng, kích thước và điều kiện an toàn không cho phép hiện hữu tại sàn, hoặc các dạng tài sản trí tuệ ý tưởng, quy trình, giải pháp, hay các dây chuyền máy móc hàng chục ngàn tấn và kích thước đầy đủ nhiều khi đến vài kilomet, hoặc các công nghệ về hạt nhân, trang thiết bị, vật tư, vật liệu nổ, vũ khí, khí tài quân sự, Do đó tại các điểm trưng bày, triển lãm công nghệ, không gian sàn giao dịch công nghệ phải trang bị thêm các hình thức trưng bày kỹ thuật số, đa phương tiện, thậm chí là các dạng truyền hình trực tiếp từ nơi đang đặt, để công nghệ ở phương xa, hoặc các dạng mô hình thực tại ảo

Sàn giao dịch công nghệ cũng là nơi sẽ diễn ra các hội thảo, hội nghị, nơi ký kết hợp đồng giữa bên cung và bên cầu công nghệ, vì vậy phải có không gian tương ứng phù hợp, như hệ thống phòng làm việc chuyên biệt, phòng hội nghị hội thảo cơ động, không gian phải tạo sự thân thiện, thoải mái, ) Nơi đây cũng đòi hỏi bố trí các điểm trưng bày công nghệ phải khoa học, hiệu quả, như việc trưng bày hàng hóa không thể xô bồ, tùy tiện mà phải theo một cấu trúc, một định hướng để nhằm dẫn dắt khách tham quan đi theo một lộ trình nhất định, xuyên suốt các các gian hàng,

Trang 39

34

Sàn giao dịch công nghệ online (Sàn giao dịch công nghệ ảo): cách

mạng công nghiệp 4.0 đồng hành với vạn vật kết nối Internet (Internet of Things - IoT), siêu đại dữ liệu (Big Data), trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence), mạng không gian vật lý (Cyber Physical System - CPS) Theo

đó, sàn giao dịch công nghệ trực tuyến (Online) là công cụ để các đối tượng cung và cầu công nghệ tìm kiếm thông tin, khai thác dữ liệu lớn, tiến hành thanh toán và đặt hàng, Với dữ liệu lên đến hàng triệu yêu cầu đồng thời, sàn giao dịch công nghệ phải có năng lực đáp ứng mạnh mẽ về tốc độ, về dữ liệu khổng lồ, về khả năng mở rộng liên kết với nhiều nguồn khác nhau,

Đồng thời, khi người dùng đến với sàn giao dịch công nghệ thường đặt rất nhiều câu hỏi về các loại công nghệ khác nhau và thậm chí lặp lại nhiều lần do nhiều người hỏi cùng một vấn đề Vấn đề này sẽ được giải quyết bằng cách sử dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo, các vấn đề về câu hỏi, câu trả lời của chuyên viên tư vấn, chuyên gia được thu thập lưu trữ vào cơ sở dữ liệu lớn và

sử dụng các thuật toán xử lý để phân bổ, cấu trúc thành các lớp dữ liệu khác nhau Khi có các câu hỏi đã lặp lại trong bộ dữ liệu, hệ thống sẽ tiến hành phân tích câu hỏi, so khớp với các dữ liệu đã lưu trữ, kết hợp với các thuật toán và luật về trí tuệ nhân tạo để trả lời khách hàng mà không phải làm phiền đến con người Chỉ những trường hợp phát hiện câu hỏi và thông tin mới, lúc

đó hệ thống tự động chuyển phần câu hỏi sang cho hệ chuyên gia con người

để thực hiện tư vấn và hỗ trợ

Để thực hiện được vai trò của hệ chuyên gia thông minh theo công nghệ trí tuệ nhân tạo, hệ thống sàn giao dịch công nghệ cần thực hiện rất nhiều hạng mục (ví dụ: Hệ thống phân tích câu tự động từ dữ liệu văn bản, hệ thống xử lý tiếng nói tự nhiên, hệ thống nhận diện con người thông qua sinh trắc học - nhận diện khuôn mặt, nhận diện tròng mắt, nhận diện vân tay, nhận diện dáng điệu của bước đi, )

Trang 40

35

Để thúc đẩy thị trường công nghệ phát triển và thương mại hóa các sản phẩm nghiên cứu ứng dụng, sàn giao dịch công nghệ phải làm tốt vai trò tổ chức trung gian của mình bằng cách đổi mới sáng tạo bắt kịp xu thế công nghệ phát triển của thế giới Đồng thời tận dụng được sức mạnh của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ và rộng khắp trên toàn thế giới

Tiểu kết Chương 1

Chương 1 tác giả đã trình bày một cách tổng quát cơ sở lý luận về: Sàn giao dịch công nghệ ảo: Là nơi diễn ra các hoạt động mua, bán, trao đổi thông tin, đặt hàng sản phẩm công nghệ, dịch vụ khoa học công nghệ của các cá nhân, tổ chức trên internet; Và khái niệm về Thương mại hóa kết quả nghiên cứu ứng dụng: là quá trình đưa sáng chế là kết quả nghiên cứu ứng dụng thành sản phẩm hàng hoá và gắn với thị trường Đồng thời thể hiện vai trò của Sàn giao dịch công nghệ ảo là công cụ để các đối tượng bên cung cũng như bên cầu công nghệ tìm kiếm thông tin, khai thác dữ liệu lớn, tiến hành mua bán hay chuyển giao công nghệ cần tìm kiếm, bên cầu có thể đặt hàng riêng,

Ngày đăng: 07/12/2019, 07:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w