LỜI CẢM ƠNTrong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp ngành Công tác xã hội ứng dụng với đề tài “Mô hình công tác xã hội nhóm trong hỗ trợ việc làm đối với người sau cai nghiện ma túy:
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-NGUYỄN NGUYÊN TOÀN
MÔ HÌNH CÔNG TÁC XÃ NHÓM TRONG HỖ TRỢ VIỆC LÀM ĐỐI VỚI NGƯỜI SAU CAI NGHIỆN MA TÚY: THỰC
Trang 2Hà Nội - 2018
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-NGUYỄN NGUYÊN TOÀN
MÔ HÌNH CÔNG TÁC XÃ NHÓM TRONG HỖ TRỢ VIỆC LÀM ĐỐI VỚI NGƯỜI SAU CAI NGHIỆN MA TÚY: THỰC
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
Trang 3Hà Nội - 2018
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp ngành Công tác xã hội
ứng dụng với đề tài “Mô hình công tác xã hội nhóm trong hỗ trợ việc làm đối với người sau cai nghiện ma túy: thực tiễn từ Trung tâm chữa bệnh và Giáo dục lao động xã hội Tỉnh Bắc Ninh” Tôi đã nhận được sự động viên,
quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của gia đình, thầy cô giáo, bạn bè và lãnh đạoTTCB&GDLĐXH tỉnh Bắc Ninh
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tớiTrường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội,các giảng viên khoa Xã hội học đã trang bị những kỹ năng, kiến thứccông tác xã hội và khoa học xã hội Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn sâu
sắc tới cô giáo TS Nguyễn Thị Thái Lan, người đã trực tiếp hướng dẫn,
giúp đỡ, chỉ bảo cho tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn này
Qua đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới lãnh đạo, đồng nghiệp, các anhchị trong TTCB&GDLĐXH tỉnh Bắc Ninh đã nhiệt tình hợp tác giúp đỡ, tạođiều kiện cho tôi trong quá trình tìm hiểu thông tin, đóng góp ý kiến giúp tôithực hiện thành công luận văn
Tôi đã rất cố gắng hoàn thành luận văn này, tuy nhiên luận văn khôngthể tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Vì vậy, tôi rất mong nhận được những
ý kiến nhận xét, đánh giá của các thầy, cô giáo và các bạn để luận văn nàyhoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Nguyễn Nguyên Toàn
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn với đề tài “Mô hình công tác xã hội nhóm trong hỗ trợ việc làm đối với người sau cai nghiện ma túy: thực tiễn từ Trung tâm chữa bệnh và Giáo dục lao động xã hội Tỉnh Bắc Ninh” là đề tài
nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu và số liệu trong luận vănnày là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác
Tác giả
Nguyễn Nguyên Toàn
Trang 6
MỤC LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CTXH : Công tác xã hội
NVCTXH : Nhân viên công tác xã hội
NSCNMT : Người sau cai nghiện ma túy
TTCB&GDLĐXH : Trung tâm Chữa bệnh và Giáo lục Lao động Xã hội
Trang 8DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU
Trang
Bảng 1 Thống kê số lượng học viên tại Trung tâm năm 2017…… 49Bảng 2.1 Thực trạng công việc của người sau cai nghiện ma túy… 52Bảng 2.2 Mức độ ổn định công việc của người sau cai nghiện ma túy 55Bảng 2.3 Nguồn sống chủ yếu của người sau cai nghiện ma túy… … 56Bảng 2.4 Mong muốn của người sau cai nghiện ma túy……… 57
Bảng 2.5 Những khó khăn gặp phải trong khi tìm kiếm việc làm, vay
vốn và sử dụng nguồn vốn……… 62Bảng 2.6 Mức độ hiệu quả của hoạt động hỗ trợ việc làm cho người
sau cai nghiện ma túy……… 65
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Trang
Biểu đồ 2.1 Thu nhập bình quân tháng của người sau cai nghiện
ma túy………
556Biểu đồ 2.2 Các nguồn vay vốn cho người sau cai nghiện ma túy 5
60Biểu đồ 2.3 Mục đích vay vốn của người sau cai nghiện ma túy… 61 6Biểu đồ 2.4 Tình trạng sức khỏe của người sau cai nghiện ma túy 72 7Biểu đồ 2.5 Nhận thức của người sau cai nghiện ma túy về mức độcần thiết của việc làm……… 74 7
Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức bộ máy hoạt động của Trung tâm Chữa
bệnh và Giáo dục lao động xã hội tỉnh Bắc Ninh……
448
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Theo báo cáo của Ủy ban Quốc gia phòng chống AIDS và phòng chống
ma túy, đối tượng sử dụng ma túy đang ngày càng tăng Thống kê cho thấy từnăm 2010 - 2017, trên thế giới, số người sử dụng ma túy trong độ tuổi 15 - 64
đã tăng từ 226 triệu người lên 255 triệu người, chiếm 5% số người trong độtuổi này trên toàn cầu Trong đó có 32,5 triệu người sử dụng các loại ma túygốc thuốc phiện đã qua điều chế, 16,5 triệu người sử dụng thuốc phiện tựnhiên, 37 triệu người sử dụng Amphetamine, 22 triệu người sử dụng Ecstasy
và 183 triệu người sử dụng cần sa [48]
Tại Việt Nam, số liệu báo cáo của Bộ Công an về thực hiện công tácphòng chống tệ nạn ma túy, tính đến hết năm 2017 toàn quốc có 222.582người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý, tăng 11.831 người so với năm 2016.Người nghiện có ở tất cả các địa phương, ở mọi thành phần, lứa tuổi song chủyếu là lớp trẻ; khoảng 50% người nghiện có các vấn đề về sức khỏe tâm thần.Hiện nay, gần 2/3 thanh niên nghiện ma túy không có việc làm hoặc có việclàm nhưng không ổn định, đây là vấn đề nan giải trong việc giải quyết tìnhtrạng nghiện và giải quyết việc làm cho thanh niên trong bối cảnh dư thừa laođộng hiện nay Nghiện ma túy cũng là tác nhân chủ yếu làm thanh niên viphạm pháp luật Tỷ lệ vi phạm pháp luật trong thanh niên nghiện ma túykhoảng 50% và gấp hơn 100 lần so với nhóm thanh niên không nghiện Tỷ lệphạm nhân phạm tội về ma túy trong các trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ
là 41,04%, tỷ lệ phạm nhân có tiền sử nghiện ma túy là 28,25% Đây là thực
tế cần quan tâm khi xây dựng chính sách đối với người sử dụng, người nghiện
ma túy, không chỉ xem trọng khía cạnh y tế mà cần cân nhắc trọng tâm là cáckhía cạnh xã hội và đảm bảo an toàn xã hội để đảm bảo tính toàn diện [47]
Trang 11Tính đến ngày 15/5/2018, tại địa bàn tỉnh Bắc Ninh có 1.089 ngườinghiện ma túy có hồ sơ quản lý, trong đó có 320 người trong Trại tạm giam;
57 người đang điều trị tại Cơ sở cai nghiện ma túy; 712 người đang sốngngoài xã hội Bắc Ninh hiện có 117/126 xã, phường, thị trấn có người nghiện[47] Tuy nhiên, thực tế cho thấy tỉ lệ người nghiện đã được cai lại mắc nghiệntrở lại vẫn cao Có nhiều nguyên nhân như: người nghiện không đủ bản lĩnh
để từ bỏ ma tuý mặt khác người nghiện vẫn bị xã hội xa lánh, kỳ thị, họ khôngnhận được sự cảm thông, chia sẻ của những người xung quanh do thiếu việclàm [48]
Để giúp người sau cai nghiện hoà nhập cộng đồng thành công, việc hỗtrợ việc làm cho người nghiện ma túy sau khi được chữa trị, phục hồi là mộttrong những biện pháp quan trọng có ý nghĩa cả về kinh tế và xã hội, nhằmgiúp đối tượng trở về với cuộc sống bình thường, góp phần nâng cao hiệu quảcông tác phòng chống tệ nạn ma túy Trên thực tế giải quyết việc làm chongười nghiện ma túy sau khi được chữa trị, phục hồi còn nhiều hạn chế Hằngnăm số đối tượng được tạo việc làm ở cộng đồng chỉ chiếm khoảng 10% sốđối tượng được chữa trị phục hồi Nhìn chung tình hình việc làm của các đốitượng sau cai là không thuận lợi Các đối tượng ở thành phố thị xã có việclàm ổn định cao hơn các đối tượng ở nông thôn
Từ thực tế giải quyết hỗ trợ việc làm cho người nghiện ma túy sau khiđược chữa trị, phục hồi là một việc làm hết sức cấp thiết Với tầm quan trọng
về lý luận và thực tiễn của vấn đề nêu trên tác giả đã chọn nghiên cứu đề tài:
“Mô hình công tác xã hội nhóm trong hỗ trợ việc làm đối với người sau cai nghiện ma túy: thực tiễn từ Trung tâm chữa bệnh và Giáo dục lao động xã hội Tỉnh Bắc Ninh” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn.
2 Tổng quan nghiên cứu
2.1 Nghiên cứu ngoài nước
Trang 12Có rất nhiều nghiên cứu quốc tế đề cập đến tình hình sử dụng ma tuý,những tác hại của ma tuý và những mô hình hỗ trợ, can thiệp người sử dụng
ma tuý Những nghiên cứu này đưa ra bài học hữu ích cho Việt Nam trongviệc đánh giá và hỗ trợ người nghiện ma tuý và người sau cai nghiện ma tuý
2.1.1 Các nghiên cứu về tình hình nghiện ma tuý
Con người đã phát hiện và sử dụng các chất ma túy tự nhiên, mà đạidiện điển hình là thuốc phiện, đã xuất hiện từ rất lâu trước đây Hơn 8000năm trước đây, thuốc phiện đã được người Somai ở Tây Á sử dụng, người ta
đã biết được những khoái cảm và sự thoải mái hết sức mà thuốc phiện manglại khi dùng [57] Việc trồng và sử dụng các cây có chứa hoạt chất ma túy tựnhiên đã trở thành thói quen và tập tục của nhiều dân tộc ở nhiều vùng đấtkhác nhau Từ khi phát hiện ra tác dụng kích thích của các loại ma túy tựnhiên cũng như tổng hợp, số lượng người nghiện ma túy ngày càng tăng Việc
sử dụng ma túy gắn bó chặt chẽ tới cảm giác của con người, tới cuộc sốngtâm lý của họ Trên phương diện xã hội, ma túy đã gây ra những tác hại rấtlớn Chính vì thế cuộc chiến chống tệ nạn ma túy đã có từ lâu đời và nhiềuthế kỷ
Theo Báo cáo Tình hình Ma túy Thế giới năm 2018, có khoảng 275triệu người trên toàn thế giới, chiếm khoảng 5,6% dân số thế giới trong độtuổi 15-64, đã sử dụng ít nhất một lần trong năm 2016 Có khoảng 31 triệungười sử dụng ma túy mắc các chứng rối loạn, cần được điều trị Ước tính banđầu cho thấy rằng, trên toàn cầu, có 13,8 triệu người trẻ tuổi từ 15-16 tuổi sửdụng cần sa trong năm qua, tương đương với khoảng 5,6% Số người nghiện
ma túy ở khu vực châu Á nhiều nhất, sau đó đến châu Mỹ, châu Phi, châu Âu
và châu Đại dương [70]
Cũng theo Báo cáo của WHO năm 2018, có khoảng 450.000 người chết
do hậu quả của sử dụng ma túy trong năm 2015 Trong đó, có 167.750 người
Trang 13chết có nguyên nhân trực tiếp từ việc sử dụng ma túy quá liều Số còn lại dohậu quả của việc sử dụng ma túy và gồm cả chết liên quan đến HIV, viêm gan
C do sử dụng chung kim tiêm Theo thống kê có khoảng 76% số người chết
có liên quan đến các rối loạn sử dụng ma túy Số người tiêm chích ma túychiếm khoẳng khoảng 10,6 triệu người trên thế giới trong năm 2016, chịuđựng những rủi ro lớn nhất về sức khỏe Hơn một nửa trong số họ phải sốngchung với viêm gan C và 1/8 sống chung với HIV [70]
Bên cạnh đó, ma túy còn gây mất trật tự xã hội với tệ nạn buôn bán matúy của các băng đảng tội phạm Đồng thời, sử dụng ma túy cũng gây tổn thấtlớn về kinh tế Nhìn chung tình hình nghiện ma tuý trên thế giới đã và đang ởmức báo động do số lượng người nghiện ra tăng và những ảnh hưởng củanghiện ma tuý đối với các cá nhân, gia đình, cộng đồng, quốc gia, khu vực vàquốc tế Theo chương trình kiểm soát ma túy của Liên Hợp Quốc (UNDCP)
thì “Tình trạng nghiện hút đã trở thành hiểm họa lớn của toàn nhân loại Không một quốc gia nào, dân tộc nào có thể thoát khỏi vòng xoáy khủng khiếp của nó, ma túy làm gia tăng bạo lực, tham nhũng, làm cạn kiệt nguồn nhân lực, tài lực, hủy diệt những nguồn tiềm năng quý báu khác mà lẽ ra phải được huy động để phát triển kinh tế - xã hội, mang lại ấm no, hạnh phúc cho toàn dân” [Dẫn theo, 25]
Nghiên cứu của Brook (1990), Hawkin (1992) ở Mỹ chỉ ra các yếu tốquan hệ với bạn bè trong xã hội cũng có ảnh hưởng rất lớn với việc sử dụng
ma túy và Alcohol ở trẻ Nghiên cứu của Dons (1985), Kocach và Glichman(1986); Shilter (1991)… cho thấy việc sử dụng chất gây nghiện và gây nghiệncủa trẻ vị thành niên gắn với các tri giác của việc sử dụng ma túy ở bạn bè [70]
Madanes, C (1981) đã xác nhận rằng trong gia đình người nghiện matúy thì sự đảo lộn trật tự thứ bậc là một đặc trưng Một số tác giả cũng pháthiện ra trong gia đình người nghiện ma túy nổi bật lên các hành vi vi phạmcông khai hoặc tiềm ẩn và những lời phê phán về nguyên tắc và điều cấmtrong xã hội [68]
Trang 142.1.2 Các nghiên cứu tiếp cận giải quyết vấn đề cai nghiện ma tuý
Việc nghiên cứu về người sau cai nghiện ma tuý (NSCNMT) đã giànhđược sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trên thế thới, với nhiều cách tiếpcận khác nhau Các nghiên cứu này là cơ sở quan trọng để các nhà CTXHnghiên cứu các mô hình CTXH nhóm hỗ trợ việc làm cho người sau nghiện
ma túy như:
Cách tiếp cận phân tâm học: Cách tiếp cận này được hình thành ở
Pháp, theo thuyết này thì việc dùng ma túy có liên quan tới các xung đột vàcác rồi nhiễu trong quá trình phát triển Kemberg (1975) cho rằng khi xungđột Edipe còn tồn tại ở tuổi thanh thiếu niên, thì những người ở lứa tuổi này sẽtìm kiếm sự giải thoát tội lỗi và các ức chế khác ở việc dùng ma túy [63]
Theo cách tiếp cận nhận thức xã hội, A Bandura là một đại diện, theo
ông nhận thức về khả năng của mình là khái niệm trung tâm của sự điều chỉnh
hành vi của bản thân Khái niệm “cái tôi hiệu quả” (Self-efficacy) do ông đưa
ra được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó có lĩnh vựcnghiện Theo ông “cái tôi hiệu quả” là khả năng thực sự có thể làm một việc
gì đó, là sự đánh giá của con người về khả năng của mình trong việc hoànthành các nhiệm vụ phù hợp với các hoàn cảnh khác nhau [61]
Theo các nhà tâm lí trị liệu nhận thức: Đại diện tiêu biểu và cũng là
một chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực tâm lí trị liệu nhận thức ở Mỹ làCallahan Ông có cách tiếp cận khác đến vấn đề nghiện Ông cho rằng nguyênnhân của nghiện ngập và thôi thúc một số người sử dụng các chất gây nghiệnchính là những cảm xúc tiêu cực mà họ phải trải nghiệm Callahan (1997)[62] đã phát hiện ra mỗi liên hệ giữa nghiện và sợ hãi Việc phát hiện này đãgiúp ông tìm ra một phương pháp chữa trị cho hầu hết các loại nghiện Nộidung của phương pháp trị liệu này là tìm cách vượt qua được sự sợ hãi Ônggọi đó là liệu pháp trường tư duy
Cách tiếp cận hành vi: Theo cách tiếp cận hành vi thì việc sử dụng ma
túy có thể được quan niệm như hành vi giải quyết các vấn đề tạm thời trong
Trang 15việc thiếu thích nghi trước các nhiệm vụ phát triển, tự lập hóa, hòa nhập vàonhà trường và xã hội Nguyên nhân của việc thiếu thích nghi được lý thuyếthành vi xác nhận là sự thiếu các kỹ năng xã hội, thiếu hụt quá trình làm chủ,loạn chức năng nhận thức, sự thiếu tự tin Silvis và Perry (1987) áp dụng cơchế phản xạ tạo tác của B.F Skinner giải thích rằng hành vi nghiện ma túyđược củng cố âm tính bằng cách tránh các tình cảm âm tính và củng cố dươngtính bằng cảm giác dễ chịu mà nó tìm được O Brien và các cộng sự (1990)giải thích hiện tượng nghiện ma túy theo cơ chế phản xạ có điều kiện củaPavlov Theo thuyết này thì các kích thích thường liên kết với việc dùng matúy (sự tổn thương, sự ức chế ) có thể trở thành có điều kiện, và khi tiếp xúcvới những kích thích này thì sẽ gây cảm giác thiếu thuốc Và quá trình trị liệucũng chú ý vào chính điểm này Sự học tập xã hội bằng cách tiếp xúc thườngxuyên với các giá trị tích cực, sự nghỉ ngơi và trải nghiệm các cảm xúc dươngtính sẽ củng cố các phản xạ có điều kiện mới cho người nghiện [Dẫn theo 14].
Công tác xã hội có vai trò quan trọng trong hỗ trợ giải quyết vấn đề chongười nghiện ma tuý Theo các tác giả Elizabeth, Allison, Michellle và Jackson(2013) [65], các nhân viên xã hội trong lịch sử đã và sẽ tiếp tục là một trongnhững nhà cung cấp dịch vụ chính cho các cá nhân bị rối loạn sử dụng chất gâynghiện Tại Mỹ, thống kê của Hiệp hội nhân viên Công tác xã hội cho thấy có tới
71, 87% nhân viên xã hội đã báo cáo làm việc với khách hàng có vấn đề về sửdụng chất gây nghiện Nhiều nghiên cứu của đưa ra bằng chứng cho thấy sửdụng chất có vấn đề là một hành vi có thể thay đổi Với sự hỗ trợ và động lựcđúng đắn, mọi người có thể và thay đổi cách sử dụng của họ Nhân viên xã hội
có thể hỗ trợ mọi người xác định động lực thay đổi của họ [66]
Ma túy, các tệ nạn liên quan đến ma túy và vấn đề giải quyết hậu quả
do ma túy gây ra không còn bó hẹp ở phạm vi một lĩnh vực, một lãnh thổ mà
nó đã trở thành một vấn đề bức xúc mang tình toàn cầu, ảnh hưởng đến tất cảcác mặt từ kinh tế, chính trị, văn hóa Nghiên cứu trên thế giới về vấn đề matúy, và CTXH trong hỗ trợ giải quyết vấn đề nghiện ma tuý cho thấy tình hình
Trang 16nghiêm trọng cũng như ảnh hưởng tiêu cực của nghiện ma tuý Bên cạnh đócác nghiên cứu cũng đưa ra những bằng chứng chứng minh công tác xã hội cólịch sử và vai trò quan trọng trong hỗ trợ giải quyết vấn đề nghiện ma tuý.Những bài học từ các nghiên cứu trên thế giới sẽ là bài học cho việc phân tích
và áp dụng CTXH nhóm vào hỗ trợ NSCNMT trong đề tài này
2.2 Nghiên cứu trong nước
Tổng quan tài liệu cho thấy ở Việt Nam hiện nay chưa có nhiều nghiêncứu và thực hành công tác xã hội (CTXH) nói chung và mô hình CTXH nhóm
hỗ trợ việc làm nói riêng được thực hiện một cách quy mô, bài bản và tínhhiệu quả thực tiễn cao Tuy đã có các hoạt động nghiên cứu và thực hànhCTXH dưới nhiều hình thức khác nhau
2.2.1 Nghiên cứu về việc làm cho người sau cai nghiện ma tuý
Người sau cai nghiện ma túy là một trong những nhóm đối tượng bướcđầu nhận được sự quan tâm hơn của các nhà nghiên cứu và của xã hội Sauđây là tổng hợp một số công trình nghiên cứu đến vấn đề hỗ trợ việc làm đốivới NSCNMT như:
Đề tài “Những giải pháp chủ yếu quản lý, dạy nghề cho NSCNMT trong chương trình 3 năm ở các trường, trung tâm tại Thành phố Hồ Chí Minh” (2004 - 2005) do Viện nghiên cứu xã hội Thành phố Hồ Chí Minh thực
hiện Đề tài nghiên cứu đã giải quyết được vấn đề giúp những người nghiệnsau khi kết thúc 2 năm cắt cơn, chữa bệnh, cai nghiện và phục hồi sức khỏe,người cai nghiện được phân loại chuyển sang giai đoạn “hậu cai” đó là đượchọc văn hóa, học nghề và từng bước đưa những NSCNMT có đủ điều kiện tốithiểu vào làm việc tại các khu công nghiệp đặc biệt do thành phố xây dựng.Trong đó, theo tác giả để giúp NSCNMT chủ yếu là quản lý, dạy nghề; quản
lý của công an khu vực, chính quyền xã phường, thị trấn và các đoàn thể, banđiều hành khu phố Đồng thời, tác giả cũng khẳng định vai trò của gia đình vàcộng đồng không thể thiếu trong quá trình phòng, chống ma túy; phải tạo ramôi trường sống hòa thuận, đoàn kết, dân chủ, quan tâm tới nhau giữa các
Trang 17thành viên trong gia đình, cơ quan, xí nghiệp, trường học, khu phố [44] Tuynhiên, tác giả cũng chưa đưa ra được các giải pháp tổng thể để giúpNSCNMT tái hòa nhập cộng đồng.
Đề tài “Giải pháp hỗ trợ tạo việc làm cho người sau cai nghiện ma túy
ở nước ta hiện nay” (năm 2008) đã chỉ ra rằng việc hỗ trợ tạo việc làm cho
những NSCNMT ở nước ta là việc làm cơ bản, cấp bách và lâu dài, có ý nghĩaquyết định tới chất lượng và hiệu quả công tác cai nghiện và phòng chống các
tệ nạn xã hội Bên cạnh đó, việc làm cho NSCNMT là vấn đề lớn, cần phải cógiải pháp đồng bộ, có hiệu quả, thiết thực không chỉ là trách nhiệm của ngànhlao động mà là của toàn xã hội Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ hỗ trợ tạitrung tâm lao động xã hội, có các chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp tiếpnhận NSCNMT sẽ góp phần giải quyết tốt vấn đề việc làm cho những ngườinghiện ma túy khi tái hòa nhập cộng đồng
Tác giả Lê Hồng Minh (2010), với đề tài “Tổ chức tư vấn hướng nghiệp cho thanh niên sau cai nghiện ở thành phố Hồ Chí Minh” đã đề cập
khá cụ thể các hình thức tổ chức, quản lý giáo dục người nghiện ma túy vàsau cai nghiện ma túy trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh; các nội dung,phương pháp để hoàn thiện tổ chức tư vấn hướng nghiệp cho thanh niên saucai nghiện ma túy tại cộng đồng Qua đề tài, tác giả đã hệ thống hóa được cácloại hình tổ chức, quản lý giáo dục người nghiện ma túy và sau cai nghiện matúy trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh; đánh giá được thực trạng về cách tổchức các hoạt động quản lý giáo dục thanh niên sau cai ở thành phố Hồ ChíMinh và chỉ ra những mặt hạn chế để tìm giải pháp khắc phục, hoàn thiện tổchức tư vấn hướng nghiệp cho thanh niên sau cai nghiện ma túy tại cộngđồng Đã đề xuất được cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của Văn phòng tưvấn hướng nghiệp cho thanh niên sau cai nghiện ma túy ở cộng đồng; đề xuấtđổi mới mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của Đội tình nguyện; xâydựng nội dung chương trình giáo dục chuyển biến nhận thức và hành vi thanhniên sau cai nghiện ma túy ở cộng đồng [24]
Trang 18Tác giả Lê Thị Thanh Huyền (2014) nghiên cứu về “Hoạt động hỗ trợ tạo việc làm cho người sau cai nghiện ma túy (nghiên cứu tại thành phố Hà Nội)” đã mô tả thực trạng nhu cầu vay vốn, việc làm của NSCNMT trên địa
bàn thành phố Hà Nội; Các yếu tố tác động tới việc làm của người nghiện saucai; Và chỉ ra một số biện pháp và hoạt động phù hợp để ổn định cuộc sốngcho NSCNMT Tuy nhiên, đề tài này chỉ có phạm vi nghiên cứu trong việc hỗtrợ đào tạo và tìm kiếm việc làm cho NSCNMT trong bối cảnh thực tiễn xãhội tại Hà Nội [14]
2.2.2 Nghiên cứu về công tác xã hội với người sau cai nghiện ma tuý
Đề tài “Nhu cầu việc làm của người sau cai nghiện ma túy” của tác giả
Tiêu Thị Minh Hường (2015) đã phân tích và tổng hợp được các yếu tố vềtâm lý ảnh hưởng đến nhu cầu và nhu cầu việc làm của NSCNMT Tác giả đã
đi sâu nghiên cứu nhu cầu lý giải dưới góc độ tâm lý học, từ đó có nhữngnghiên cứu điển hình về nhu cầu việc làm của NSCNMT, các yếu tố ảnhhưởng tới việc làm của họ, đề xuất một số biện pháp tâm lý - giáo dục, gópphần thúc đẩy nhu cầu việc làm của NSCNMT [17]
Năm 2015, tác giả Tạ Hồng Vân thực hiện đề tài “Hoạt động công tác
xã hội trong hỗ trợ điều trị nghiện cho người nghiện ma túy tại cộng đồng (Nghiên cứu trường hợp tại cơ sở điều trị methadone thuộc Trung tâm phòng chống HIV/AIDS thành phố Nam Định)” Nghiên cứu tập trung vào thực trạng
điều trị methadone tại cơ sở, qua đó nhận định thực trạng điều trị của người
sử dụng ma túy, những nhu cầu và khó khăn của người điều trị nhằm hỗ trợngười sử dụng ma túy [43]
Tác giả Phạm Văn Tú (2016) nghiên cứu về “Công tác xã hội nhóm đối với người nghiện ma túy từ thực tiễn cơ sở điều trị methadone huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên” Nghiên cứu đã áp dụng phương pháp CTXH nhóm
trong hỗ trợ, kết nối, trợ giúp người nghiện ma túy để hòa nhập hoàn toàn vàđầy đủ các chức năng xã hội Đồng thời, cung cấp, hỗ trợ về kỹ năng CTXHcho người nghiện ma túy dùng thuốc thay thế methadone [40]
Trang 19Ngoài ra còn có rất nhiều tài liệu, bài viết đăng trên các tạp chí, internet
về vấn đề này, như: Tài liệu hướng dẫn thực hành “Công tác xã hội với người nghiện ma túy” dành cho cán bộ cấp cơ sở của tác giả Nguyễn Thị Thái Lan
năm 2015 Tài liệu cung cấp những kiến thức về ma túy và nghiện ma túy;vấn đề truyền thông phòng, chống ma túy và truyền thông giảm kỳ thị vớingười nghiện ma túy; quy trình hỗ trợ điều trị nghiện cho người nghiện matúy và các hoạt động can thiệp hỗ trợ nhóm cho người nghiện ma túy
Tài liệu “Đề án phát triển nghề CTXH giai đoạn 2010-2020” của Thủ
tướng Chính phủ đã chỉ rõ “Phát triển CTXH trở thành một nghề ở Việt Nam.Nâng cao nhận thức của toàn xã hội về nghề công tác xã hội; xây dựng độingũ cán bộ, viên chức, nhân viên và cộng tác viên công tác xã hội đủ về sốlượng, đạt yêu cầu về chất lượng gắn với phát triển hệ thống cơ sở cung cấpdịch vụ công tác xã hội tại các cấp, góp phần xây dựng hệ thống an sinh xãhội tiên tiến” [8] Đồng thời Đề án cũng chỉ ra mục tiêu cụ thể cho từng giaiđoạn và các hoạt động chủ yếu về xây dựng và ban hành hệ thống văn bảnquy phạm pháp luật về CTXH; Củng cố, phát triển mạng lưới các cơ sở cungcấp dịch vụ công tác xã hội và đội ngũ cán bộ, viên chức, nhân viên, cộng tácviên công tác xã hội; Xây dựng, hoàn thiện chương trình khung, nội dung đàotạo và dạy nghề công tác xã hội và đề ra các giải pháp cụ thể và đề ra các giảipháp phát triển ngành CTXH nói chung, và là cơ sở để cung cấp các dịch vụCTXH với người nghiện ma túy nói riêng
Bài viết “CTXH với người nghiện ma túy” của Trung tâm cung cấp
dịch vụ CTXH, qua đó tác giả đã cung cấp những số liệu dẫn chứng sinh động
về thực trạng sử dụng ma túy của tỉnh Bến Tre, và kinh nghiệm tiến hànhCTXH của Đội CTXH tình nguyện trên địa bàn tỉnh Bến Tre [58] Tác giả Bùi
Hương với bài viết “Cần tạo việc làm cho người nghiện ma túy sau cai” đã
nêu ra những khó khăn về việc làm đối với người nghiện ma túy sau cai, đồng
thời khẳng định rằng “Việc hỗ trợ, tạo việc làm cho người nghiện sau cai giúp giảm thiểu tình trạng tái nghiện, nhanh chóng hòa nhập cộng đồng;
Trang 20nhưng đây lại là vấn đề khó giải quyết nhất hiện nay…” [59] Bên cạnh đó,
trong các tài liệu cũng đã chỉ ra: Người nghiện ma túy là một nhóm xã hội đặcthù, họ không chỉ yếu về mặt thể chất mà yếu cả về mặt tinh thần Nhìn chung
từ cách tiếp cận và nghiên cứu của các chuyên ngành khác nhau, các côngtrình trên đã góp phần làm sáng tỏ về mặt lý luận và thực tiễn của công tác hỗtrợ NSCNMT tái hòa nhập cộng đồng, tìm kiếm việc làm, phòng ngừa táinghiện trong giai đoạn hiện nay
Hiện nay, mặc dù công tác tuyên truyền, vận động các doanh nghiệp vàcộng đồng cùng dang tay giúp đỡ những người đã có một thời lầm lỡ, tạo cho
họ có cơ hội làm lại cuộc đời, diễn ra rất tích cực, tuy nhiên số lượng các đơn
vị kinh tế tâm huyết trong CTXH sử dụng NSCNMT còn hạn chế Người laođộng là NSCNMT, ổn định công việc lâu dài tại các doanh nghiệp còn ít
Công tác tái hòa nhập cộng đồng cho người nghiện sau cai còn đượcgắn với việc tham gia vào các hoạt động của các câu lạc bộ và các tổ tự quản
Đã có nhiều địa phương duy trì hoặc thành lập mới các Câu lạc bộ, nhóm hỗtrợ người nghiện sau cai, kết hợp với cho vay tín dụng và trợ cấp khó khăn.Theo thống kê, đã có 4.774 người nghiện sau cai trở về tái hòa nhập cộngđồng được vay vốn để tạo viện làm và ổn định cuộc sống [55]
Tóm lại, các nhà nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước với nhiềuhướng tiếp cận khác nhau về vấn đề việc làm cho NSCNMT Tuy nhiên, cácnghiên cứu mới dừng ở việc đánh giá thực trạng trên một vùng hoặc cả nước,đưa ra các số liệu và tình hình thực tế, hoặt là tài liệu giảng dạy, lý thuyết chưathực sự phù hợp với địa bàn nghiên cứu của đề tài Thực tế đang thiếu nhữngnghiên cứu về mô hình công tác xã hội nhóm trong hỗ trợ việc làm choNSCNMT tái hòa nhập cộng đồng, đào tạo nghề, tìm việc làm, phòng ngừa táinghiện Mặt khác, hiệu quả của công tác điều trị nghiện ma túy phụ thuộc vàonhiều yếu tố và đòi hỏi sự trợ giúp của toàn xã hội
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
3.1 Ý nghĩa khoa học
Trang 21Đề tài đóng góp cho việc nâng cao lý luận về thực hành CTXH ở ViệtNam, cụ thể trong các lý luận về vai trò của CTXH nhóm trong việc hỗ trợ,tìm kiếm việc làm cho NSCNMT trong bối cảnh thực tiễn của Việt Nam.
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các
cơ quan quản lý, nghiên cứu, hoạch định chính sách và chỉ đạo thực tiễn về
hỗ trợ việc làm cho người sau cai nghiện, phù hợp với điều kiện và tình hình
ở mỗi địa phương, góp phần đẩy mạnh công tác phòng trống ma túy, làmgiảm tỷ lệ tái nghiện và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nói chung Bêncạnh đó đề tài sẽ cung cấp những gợi mở cho NVCTXH trong tiến trình làmviệc với NSCNMT sau này
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng hỗ trợ việc làm đối vớiNSCNMT; áp dụng tiến trình CTXH nhóm; từ đó đưa ra đề xuất áp dụng môhình công tác xã hội nhóm trong tăng cường hỗ trợ việc làm cho ngườinghiện sau cai tại TTCB&GDLĐXH Bắc Ninh
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên luận văn có nhiệm vụ:
- Tổng quan về cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
- Điều tra, khảo sát, đánh giá, nguyên nhân các yếu tố ảnh hưởng tớiviệc làm của NSCNMT
- Phân tích lý luận về mô hình công tác xã hội nhóm trong hỗ trợ việclàm đối với NSCNMT
- Áp dụng mô hình công tác xã hội nhóm trong hỗ trợ NSCNMT tìmkiếm việc làm
- Đề xuất kiến nghị một số giải pháp nhằm hỗ trợ, giúp đỡ việc làm đốivới NSCNMT
Trang 225 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu:
Mô hình công tác xã hội nhóm trong hỗ trợ việc làm cho NSCNMT
5.2 Khách thể nghiên cứu:
Khách thể nghiên cứu của đề tài bao gồm: NSCNMT; Cán bộ làm côngtác phòng chống tệ nạn xã hội và cán bộ lãnh dạo quản lý tại trung tâm; Giađình, bạn bè, hàng xóm của NSCNMT
5.3 Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu tập trung vào: i) đánh giá thực
trạng hoạt động hỗ trợ việc làm đối với NSCNMT và ii) áp dụng phươngpháp CTXH nhóm trong tăng cường hỗ trợ việc làm cho người nghiện sau caitại TTCB&GDLĐXH Bắc Ninh như một mô hình thử nghiệm của công tác
xã hội trong hỗ trợ việc làm cho NSCNMT
- Phạm vi về thời gian: từ tháng 7/ 2017 - 5/ 2018
- Phạm vi về không gian: Nghiên cứu được thực hiện tại
TTCB&GDLĐXH Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Phương pháp này nhằm thu thập và xem xét các thông tin sẵn có trongcác tài liệu, văn bản, các bài nghiên cứu và các công trình khoa học liên quanđến mô hình CTXH nhóm trong hỗ trợ việc làm đối với NSCNMT và đặc biệt
là hoạt động thực tiễn của các TTCB&GDLĐXH của nhiều nhà khoa học,các học giả trong và ngoài nước
Bên cạnh đó còn thu thập và phân tích các báo cáo, tổng kết của cácTTCB&GDLĐXH Bắc Ninh
Ngoài ra đề tài còn sử dụng phương pháp này để phân tích nội dung cáctài liệu văn bản pháp lý như: Các văn bản quy phạm pháp luật của Đảng vàNhà nước về cai nghiện và quản lí sau cai nghiện; Luật Phòng chống ma túyđược Quốc hội ban hành ngày 19/12/2000 và sửa đổi bổ xung năm 2008; Pháplệnh xử lý vi phạm hành chính, do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành năm
Trang 231995, sửa đổi bổ xung năm 2002, 2007, 2008 và các văn bản hướng dẫn thựchiện; Các nghị định của chính phủ quy định chi tiết về công tác cai nghiện như:Nghị định số 94/2009/NĐ-CP ngày 26/10/2009 quy định chi tiết thi hành luậtsửa đổi bổ xung một số điều của Luật Phòng, chống ma túy về quản lý sau cainghiện ma túy tại nơi cư trú và trung tâm quản lý sau cai; Nghị định số94/2010/NĐ-CP ngày 9/9/2010 quy định về tổ chức cai nghiện ma túy tại giađình và cộng đồng; các văn bản khác có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
6.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Mục đích của phương pháp trưng cầu ý kiến nhằm đo lường và thuthập các thông tin cần thiết để phục vụ cho nội dung nghiên cứu của đề tàinhư: Thông tin của NSCNMT tại địa bàn nghiên cứu (thông tin cá nhân, thựctrạng việc làm; những khó khăn, trở ngại trong quá trình tái hòa nhập cộngđồng và nhu cầu việc làm của NSCNMT…)
Mẫu khách thể trong trưng cầu ý kiến: 155 người sau cai nghiện tạiTTCB&GDLĐXH Bắc Ninh
6.3 Phương pháp phỏng vấn sâu
- Khách thể được lựa chọn để trả lời phỏng vấn sâu bao gồm:
+ Người sau cai nghiện ma túy: 7 người, nhằm tìm hiểu thông tin sâu
về những khó khăn trong cuộc sống, cũng như nhu cầu, nguyện vọng củangười sau cai nghiện ma túy
+ Cán bộ làm công tác phòng chống tệ nạn xã hội và cán bộ lãnh đạo,quản lý tại trung tâm: 05 cán bộ nhằm thu thập thông tin về cơ cấu, tổ chứccủa trung tâm, mô hình CTXH nhóm trong hỗ trợ việc làm đối với NSCNMT,qua đó tìm hiểu những thuận lợi và khó khăn trong hoạt động của mô hìnhCTXH nhóm hỗ trợ
+ Gia đình, bạn bè, hàng xóm của NSCNMT: 06 trường hợp, để lắngnghe ý kiến, đánh giá của họ về NSCNMT, về cách ứng xử, khả năng giaotiếp, thái độ với công việc và hòa nhập cộng đồng của NSCNMT
6.4 Phương pháp công tác xã hội nhóm
Trang 24Phương pháp CTXH nhóm là phương pháp giúp tăng cường, củng cốchức năng xã hội của cá nhân thông qua các hoạt động nhóm và khả năng ứngphó với các vấn đề của cá nhân Dựa vào việc phân tích vấn đề và các nhómnguyên nhân chính tác động tới việc hỗ trợ việc làm NSCNMT Vận dụngnhững kiến thức, kỹ năng và xây dựng mô hình giải quyết vấn đề củaNSCNMT NVCTXH thiết lập các mục tiêu xã hội trong kế hoạch hỗ trợNSCNMT, giúp họ thay đổi hành vi, thái độ, niềm tin, tăng cường năng lựcđối phó, giải quyết vấn đề của bản thân và thỏa mãn nhu cầu thông qua cáckinh nghiệm của nhóm.
7 Kết cấu của luận văn
- Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và danhmục các biểu, bảng luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về mô hình công tác xã hội nhóm trong hỗ trợviệc làm đối với người sau cai nghiện ma túy
Chương 2: Thực trạng việc làm và hoạt động hỗ trợ việc làm đối vớingười sau cai nghiện ma túy tại Trung tâm Chữa bệnh và Giáo dục Lao động xãhội Bắc Ninh
Chương 3: Áp dụng công tác xã hội nhóm trong hỗ trợ việc làm đối vớingười sau cai nghiện ma túy tại Trung tâm Giáo dục Lao động Xã hội Bắc Ninh
Trang 25PHẦN NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MÔ HÌNH CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM TRONG HỖ TRỢ VIỆC LÀM ĐỐI VỚI NGƯỜI SAU CAI
NGHIỆN MA TÚY 1.1 Các khái niệm công cụ
1.1.1 Ma tuý, nghiện ma tuý, người sau cai nghiện ma tuý
1.1.1.1 Khái niệm ma túy
Thuật ngữ “Ma túy” [Drug] được hiểu theo nhiều cách khác nhau trênthế giới hiện nay Trong lịch sử Việt Nam, thuật ngữ “Ma túy” xuất hiện banđầu chỉ được hiểu là thuốc phiện (có nghĩa là cây thuộc loại papaver somniferum) [54], về sau khi việc giao lưu buôn bán được mở rộng ra khuvực và thế giới thì “ma túy” còn được hiểu là thêm các cây cần sa (có nghĩa
là các loại cây nào thuộc chi Cannabis), cây côca (có nghĩa là cây thuộc bất
kỳ loại nào thuộc chi Erythroxylon) [54] và các loại thuốc tân dược gâynghiện khác Sở dĩ gọi “Ma túy” là vì các chất này có tác dụng như ma thuật,
ma quái, nó chữa được một số bệnh có hiệu quả cao và làm tăng hưng phấnhoặc ức chế thần kinh, đồng thời làm cho con người ngây ngất và túy lúy
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 1982), ma túy là bất kỳ chất gì màkhi đưa vào cơ thể sống có thể làm thay đổi một hay nhiều chức năng sinh lýcủa cơ thể [25] Một cách định nghĩa mang tính khoa học, chính xác hơn làkhái niệm về ma túy do Liên Hợp Quốc (LHQ) đưa ra Điều 1, Công ước thống nhất về các chất ma tuý năm 1961 của LHQ đã quy định “ma tuý”
nghĩa là bất kỳ chất liệu nào được thống kê trong bảng I và bảng II kèm theoCông ước này, dù dưới dạng tự nhiên hay tổng hợp [52] Chương trình kiểmsoát ma túy quốc tế của Liên hợp quốc (UNDCP) năm 1991 đã xác định:
“Ma túy là những chất độc có tính gây nghiện, có nguồn gốc tự nhiên hoặc nhân tạo khi xâm nhập vào cơ thể con người thì có tác dụng làm thay đổi tâm trạng, ý thức và trí tuệ, làm cho con người bị lệ thuộc vào chúng gây nên những tổn thương cho từng cá nhân và cộng đồng” [19].
Trang 26Trong giai đoạn hiện nay, do sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, nhất
là các ngành khoa học y - dược, cho nên bên cạnh khái niệm “ma túy” cònxuất hiện thêm khái niệm “chất hướng thần” (Psychotropic substances)
Liên hợp quốc cũng đã đưa ra định nghĩa về khái niệm “chất hướng thần” (Psychotropic substance) Điều 1, Công ước thống nhất về các chất hướng thần năm 1971 của Liên hợp quốc đã định nghĩa cụ thế khái niệm vềchất hướng thần, tiền chất: “Chất hướng thần” nghĩa là bất kỳ chất nào, tự nhiên hay nhân tạo hoặc nguyên liệu tự nhiên nào được quy định trong các bảng I, II, III, hoặc IV” [53] được đính kèm Công ước này Ngoài chất hướngthần và chất ma túy có nguồn gốc tự nhiên, quá trình điều chế ma túy tổnghợp hoặc tinh chế ma túy có nguồn gốc cần có thêm một số loại hóa chất,được gọi chung là tiền chất (precursors) Các chất này tham gia vào thành phầncủa ma túy tổng hợp hoặc là chất xúc tác cần thiết trong quá trình điều chế
Ngày nay, ngoài các sản phẩm của cây thuốc phiện, cây cần sa, câycôca còn các chất khác được tổng hợp trong phòng thí nghiệm cũng có tính
chất gây nghiện Vì vậy, khái niệm “ma tuý” được mở rộng về nội dung Ởcác nước khác nhau thì khái niệm về ma tuý cũng quan niệm khác nhau.Điếm chung của luật về kiểm soát ma tuý của các nước là đều đề cập đến matuý bao gồm các chất gây nghiện (addictive substances) và các chất hướngthần (psychotropic substances)
Luật Phòng, chống ma túy năm 2000 được Quốc hội khóa X kỳ họpthứ 8 thông qua ngày 09/12/2000 lần đầu tiên luật hoá các khái niệm như
“chất ma túy” (Drug), “tiền chất” (precursor), “chất gây nghiện” (addictivesubstance), “chất hướng thần” (psychotropic substance), “thuốc gây nghiện”(addictive drug) và “thuốc hướng thần” (psychotropic drug) Điều 2 với 11điểm trong Luật quy định rõ: “Chất ma túy là các chất gây nghiện, chấthướng thần được qui định trong các danh mục do Chính phủ ban hành; Chấtgây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, để gây tình trạng nghiệnđối với người sử dụng; Chất hướng thần là chất kích thích, ức chế thần kinh
Trang 27hoặc gây ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần có thê dẫn tới tình trạng nghiện đốivới người sử dụng; Tiền chất là các hoá chất không thể thiếu được trong quátrình điều chế, sản xuất ma tuý, được quy định trong danh mục được Chínhphủ ban hành; Thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần là các loại thuốc chữabệnh được quy định trong các danh mục do Bộ Y tế ban hành, có chứa chấtgây nghiện và chất hướng thần” [31, tr 9-10].
Từ các quy định của Liên hợp quốc và pháp luật Việt Nam, chúng ta cóthể hiểu: Ma tuý là các chất có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp, khi đượcđưa vào cơ thể con người, nó có tác dụng làm thay đổi trạng thái ý thức vàsinh lý của người đó Nếu lạm dụng ma tuý, con người sẽ lệ thuộc vào nó, khi
đó gây tổn thương và nguy hại cho người sử dụng và cộng đồng
Như vậy, chất ma tuý là những chất đã được xác định và có tên gọiriêng trong khoa học và được phân biệt theo căn cứ về nguồn gốc, mức độgây nghiện, tác động sinh lý lên cơ thể người Theo quy định của pháp luậtViệt Nam và các Công ước về kiểm soát ma tuý của Liên hợp quốc, danh mụcchất ma tuý cần kiểm soát gồm 276 chất trong đó có 235 chất ma tuý và 41chất thường dùng để sản xuất ma tuý (được gọi là tiền chất) [53, 54, 55]
1.1.1.2 Khái niệm nghiện ma túy
Nghiện ma túy là quá trình sử dụng thường xuyên theo chu kỳ lặp đilặp lại nhiều lần một hoặc nhiều chất ma túy, dẫn đến tình trạng nhiễm độcchu kỳ hay mãn tính ở người nghiện làm cho họ lệ thuộc vào chất đó Dùng
ma túy lần đầu (thuốc phiện, cần sa, mócphin, heroin ) dưới các dạng tiêmchích, hút hít, uống người ta có cảm giác lâng lâng, dễ chịu và thèm muốnđược dùng lại
Theo Từ điển tiếng Việt thuật ngữ “nghiện” được hiểu là “ham thích đến mức thành mắc thói quen, khó bỏ” Với định nghĩa này nghiện có thể
được gắn với việc ham thích dùng một loại hoạt động nào đó Đồng thời, nócũng được gán cho việc ham thích một loại hoạt động nào đó Cách hiểu này
về nghiện đã đồng nhất nghiện và thói quen, thậm chí trong một chừng mựcnhất định thói quen còn được hiểu là mức độ cao hơn của nghiện [46]
Trang 28Dưới góc độ y học, nghiện ma túy được Tổ chức Y tế thế giới (WHO)được định nghĩa là trạng thái nhiễm độc chu kỳ hay mãn tính do sử dụng lặplại nhiều lần một chất độc tự nhiên hay tổng hợp nào đó Sự nhiễm độc nàyđược thể hiện ở sự tăng dần liều dùng và sự lệ thuộc về tâm sinh lý của ngườidùng vào tác dụng của chất độc đó [25, tr.9].
Theo quan điểm của các nhà xã hội học thì “nghiện ma túy là tệ nạn xã hội tổn hại đến sức khỏe, nhân cách, ảnh hưởng xấu đến đời sống sinh hoạt
và trật tự an toàn xã hội” [Dẫn theo 40, tr.13].
Các nhà Tâm lý học lại cho rằng “Nghiện ma túy là trạng thái nhiễm độc chu kỳ hay mãn tính của cơ thể, có hại cho cá nhân và cho xã hội do dùng nhiều lần một lượng chất độc tự nhiên và tổng hợp Người nghiện mà túy có những đặc điểm như: Bức xúc về mặt tâm lý muốn sử dụng lại ma túy,
sự lệ thuộc của cơ thể vào chất gây nghiện Khi cá nhân ngừng sử dụng sẽ gây đau đớn, vật vã Người nghiện ma túy có khuynh hướng tăng dần liều lượng hoặc đổi dạng ma túy mạnh hơn” [Dẫn theo 40, tr.13] Theo cách hiểu
này thì nghiện ma túy chủ yếu đề cập đến những đặc điểm sinh lý
Theo Quyết định số 2596/QĐ-TTg ngày 27/12/2013 của Thủ tướngChính phủ phê duyệt Đề án đổi mới công tác cai nghiện ma túy ở Việt Nam
đến năm 2020: “Nghiện ma túy là bệnh mãn tính do rối loạn của não bộ, điều trị nghiện ma túy là một quá trình lâu dài bao gồm tổng thể các can thiệp hỗ trợ về y tế, tâm lý, xã hội làm thay đổi nhận thức, hành vi nhằm giảm tác hại của nghiện ma túy và giảm tình trạng sử dụng ma túy trái phép” [28, tr.1].
Qua nghiên cứu, chúng tôi cho rằng, nghiện ma túy là sự phụ thuộc cả thể xác và tinh thần vào ma túy do sử dụng thường xuyên với liều lượng ngày càng tăng dẫn đến mất khả năng kiểm soát bản thân của người nghiện ma túy, có hại cho cá nhân, gia đình và xã hội Theo đó, nghiện ma túy là sử
dụng thường xuyên, bởi nó gây kích thích về cảm giác, tạo những khoái cảmcho người nghiện mà trước đó họ chưa có Đây chính là điều kích thích họ sửdụng lại ma túy khi đã dùng thử Khi đã nghiện, họ sẽ phụ thuộc cả thể xác và
Trang 29tinh thần vào ma túy, thiếu ma túy ở người nghiện sẽ xuất hiện hội chứng cai,tức là những đau đớn, vật vã và các phản ứng sinh lý khác Từ đó dẫn đến mấtkhả năng kiểm soát của người nghiện, gây hại cho bản thân, gia đình ngườinghiện, cộng đồng nơi người nghiện sinh sống và xã hội
1.1.1.3 Khái niệm cai nghiện ma túy
Cai nghiện ma túy là biện pháp giúp người nghiện ma túy thông quachữa trị để từ bỏ ma túy, phục hồi sức khỏe tinh thần và tái hòa nhập cộngđồng Thực chất “cai nghiện ma túy” là quá trình giải quyết sự rối loạn ba yếu
tố của người nghiện (trạng thái sinh lý, tâm lý, nhận thức và hành vi)
Cai nghiện ma túy là một quá trình đấu tranh giữa một bên là ý chíquyết tâm giành giật lấy sự tự do, không bị lệ thuộc vào ma túy, cũng như sựyên vui đầm ấm của gia đình và cộng đồng với một bên là thói quen đã bắt rễrất sâu trong người nghiện ma túy
Liên Hiệp quốc đưa ra định nghĩa: “Cai nghiện là một biện pháp tổng hợp gồm các tác động về y học, pháp luật, giáo dục, đạo đức nhằm điều trị giúp cho người nghiện ma túy cắt các hội chứng nghiện, phục hồi sức khỏe và tái hòa nhập cộng đồng” [Dẫn theo 25, tr.9] Đây là vấn đề được xã hội rất
quan tâm và không ngừng tìm các giải pháp tối ưu để tăng mức tỷ lệ cainghiện thành công, giúp người nghiện thật sự thoát ly khỏi ma túy
1.1.1.4 Khái niệm người sau cai nghiện ma túy
Hiện nay trong các văn bản pháp quy của Việt Nam chưa có khái niệmchính thống nào về NSCNMT Theo văn bản hiện hành thì người nghiện matúy sẽ phải trải qua 5 giai đoạn của quy trình cắt cơn, giải độc và trị liệu phụchồi ở các cơ sở điều trị như là Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xãhội (Ngày 22/3/2017, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có công văn bản
số 1080/LĐTBXH - PCTNXH về việc thực hiện chuyển đổi các Trung tâmChữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội thành Cơ sở cai nghiện ma túy) các
cơ sở cai nghiện cộng đồng trở về hòa nhập cộng đồng hoặc chuyển sangTrung tâm quản lý sau cai nghiện, họ cần phải nỗ lực để không tái nghiện với
sự giúp sức của người thân, chính quyền địa phương và các tổ chức xã hội
Trang 30Qua nghiên cứu, chúng tôi quan niệm: “NSCNMT là người từng bị lệ thuộc vào ma túy và đã thực hiện xong quy trình cắt cơn, giải độc theo quy định của pháp luật và đang tái hòa nhập cộng đồng, chịu sự quản lý của nơi cư trú hoặc tiếp tục tham gia hoạt động trong các trung tâm quản lý sau cai nghiện”.
Như vậy, NSCNMT là người từng sử dụng và lệ thuộc vào ma túy, vừatrải qua quá trình cai nghiện phục hồi Trong quá trình đó, họ đã được hỗ trợbởi hàng loạt các biện pháp về y tế, tâm lý, xã hội làm cho chức năng tâmsinh lý được phục hồi Quá trình cai nghiện phục hồi giúp họ cắt cơn giải độc
và trị liệu nhận thức, hành vi Đây là giai đoạn quan trọng để NSCNMT dầnloại bỏ sự lệ thuộc vào ma túy
Người sau cai nghiện ma túy không chỉ có người nghiện đã hoàn thànhgiai đoạn cắt cơn, giải độc của quá trình điều trị cai nghiện tam thời, mà còn
có những người tiếp tục phải sử dụng các biện pháp cai nghiện lâu dài, thôngqua quá trình điều dưỡng, thanh tẩy thể chất và tình thần do các độc tố của matúy còn dư lại trong cơ thể Tiếp đến là giai đoạn tư vấn hướng nghiệp, họcnghề và tạo việc làm tại các trung tâm hoặc cộng đồng
1.1.2 Công tác xã hội
Theo IFSW và IASSW (2014), Công tác xã hội là “nghề thực hành và
là một ngành khoa học nhằm thúc đẩy sự thay đổi và phát triển xã hội, gắn kết xã hội, và tăng cường năng lực và giải phóng con người Các nguyên tắc chủ đạo của công tác xã hội bao gồm công bằng xã hội, các quyền con người, trách nhiệm hợp tác và tôn trọng sự đa dạng Công tác xã hội sử dụng các lỹ thuyết của công tác xã hội, các khoa học xã hội, kiến thức nhân văn và bản địa, công tác xã hội gắn kết con người và các hệ thống để giải quyết những thách thức trong cuộc sống và tăng cường an sinh” [10, tr.1].
Theo tác giả Bùi Thị Xuân Mai (2012): Công tác xã hội được xem làmột nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình
và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xãhội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch
Trang 31vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa cácvấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội [21, tr.4]
Như vậy, từ các quan niệm trên có thể khẳng định: “Công tác xã hội làmột khoa học, nghề, hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp cá nhân, giađình và cộng đồng nâng cao năng lực, đáp ứng nhu cầu và tăng cường chứcnăng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực
và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòngngừa các vấn đề xã hội góp phần bảo đảm an sinh xã hội”
1.1.3 Công tác xã hội nhóm, mô hình công tác xã hội nhóm
1.1.3.1 Khái niệm công tác xã hội nhóm
Công tác xã hội nhóm là một trong số các hoạt động của CTXH, bởi:
“Công tác xã hội là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các
cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội” [21, tr.4].
Hiện có nhiều cách tiếp cận với CTXH nhóm khác nhau, cụ thể như:
Theo quan điểm của tác giả Toseland và Rivas cho thấy: “CTXH nhóm
là hoạt động có mục đích với các nhóm nhiệm và trị liệu nhỏ, nhằm đáp ứng nhu cầu tình cảm xã hội và hoàn thành nhiệm vụ Hoạt động này hướng trực tiếp tới cá nhân, các thành viên trong nhóm và tới toàn thể nhóm trong một
hệ thống cung cấp dịch vụ” [21, tr.39].
Tác giả Lê Văn Phú (2004) cho rằng CTXHN chính là sự vận dụngnhững kĩ năng chuyên nghiệp để trợ giúp các nhóm xã hội yếu thế thay đổinhận thức, hành vi, tăng cường năng lực giải quyết các vấn đề xã hội của cácthành viên [27]
Tác giả Hà Thị Thư (2012) cho rằng, “Công tác xã hội nhóm là phương pháp của công tác xã hội nhằm trợ giúp các thành viên trong nhóm được tạo
cơ hội và môi trường tương tác, chia sẻ những mối quan tâm hay những vấn
Trang 32đề chung khi tham gia vào các hoạt động nhóm để đạt tới mục tiêu chung của nhóm và hướng đến giải quyết những mục đích của cá nhân thành viên” [38].
Theo đó, chúng tôi nhận thấy các tác giả đã đưa ra định nghĩa bao quát
được bản chất của CTXH nhóm là một phương pháp can thiệp của CTXH Đây là một tiến trình trợ giúp mà trong đó các thành viên trong nhóm được tạo cơ hội và môi trường có các hoạt động tương tác lẫn nhau, chia sẻ những mối quan tâm hay những vấn đề chung, tham gia vào các hoạt động nhóm nhằm đạt được mục tiêu chung của nhóm và hướng đến giải quyết những mục đích của cá nhân thành viên giải tỏa những khó khăn Trong hoạt động CTXH nhóm, một nhóm thân chủ được thành lập, sinh hoạt thường kỳ dưới sự điều phối của người trưởng nhóm (có thể là nhân viên xã hội và có thể là thành viên của nhóm) và đặc biệt là sự trợ giúp điều phối của nhân viên xã hội (trong trường hợp trưởng nhóm là thành viên của nhóm)” [18].
1.1.3.2 Mô hình
Mô hình là một hình thức diễn đạt ngắn gọn các đặc trưng chủ yếu củamột đối tượng để nghiên cứu đối tượng ấy Hiện nay, có rất nhiều cách hiểukhác nhau về mô hình, bao gồm:
Mô hình được hiểu là vật cùng hình dạng nhưng làm thu nhỏ lại, môphỏng cấu tạo và hoạt động của một vật khác để trình bày, nghiên cứu
Mô hình là công cụ để giúp ta thể hiện một sự vật, hiện tượng, quátrình nào đó phục vụ cho hoạt động học tập, nghiên cứu, sản xuất và cácsinh hoạt tinh thần của con người Mô hình được phân loại theo các dạng: môhình hệ thống, mô hình cấu trúc, mô hình logic, mô hình toán, mô hình xãhội Trong đó mô hình xã hội là một kiểu mẫu tương tác xã hội, một cungcách ứng xử, một mẫu tương tác mà chủ thể xã hội bắt chước, học hỏi và tiếnhành theo [18]
1.1.3.3 Mô hình công tác xã hội nhóm
Do phạm vi giới hạn của đề tài nghiên cứu này, có thể hiểu mô hìnhCTXH nhóm là một công cụ, một dạng thức tương tác, ứng xử giữa các chủ thể
Trang 33có liên quan trong cùng một hệ thống trên cơ sở vị trí, vai trò của họ trong hệthống đó, là cách thức sử dụng các phương pháp CTXH nhóm một cách chuyênnghiệp có hiệu quả nhằm mang lại hiệu quả tốt nhất, hỗ trợ hoạt động việc làmcho NSCNMT tại Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội áp dụngbiện pháp quản lý sau cai nghiện.
1.1.4 Việc làm
Hiện nay, khái niệm “việc làm” có nhiều cách hiểu chưa thống nhất
Trong Điều 19, Bộ luật Lao động năm 2012 có ghi: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm” [36, tr.37].
Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): “Người có việc làm là người đang làm những việc mà pháp luật không cấm, được trả tiền công hoặc lợi nhuận được thanh toán bằng hiện vật, hoặc người tham gia vào các hoạt động tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình không được nhận tiền công hay hiện vật” [55].
Điều 23 của Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (1948) đã chỉ rõ:
“1) Ai cũng có quyền được làm việc, được tự do lựa chọn việc làm, được hưởng những điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi và được bảo vệ chống thất nghiệp 2) Cùng làm việc ngang nhau, mọi người được trả lương ngang nhau, không phân biệt đối xử 3) Người làm việc được trả lương tương xứng và công bằng, đủ để bảo đảm cho bản thân và gia đình một đời sống xứng đáng với nhân phẩm, và nếu cần, sẽ được bổ sung bằng những biện pháp bảo trợ xã hội khác 4) Ai cũng có quyền thành lập nghiệp đoàn hay gia nhập nghiệp đoàn để bảo vệ quyền lợi của mình” [51].
Việc làm có tầm quan trọng to lớn trong đời sống mỗi con người nóiriêng và cho toàn xã hội nói chung Lao động, việc làm không chỉ nuôi sốngcon người, phát triển xã hội mà nó còn góp phần cải biến loài vượn thành conngười ngày nay Trong bất kỳ xã hội nào việc làm luôn là đòi hỏi bắt buộc đốivới mọi người để có ăn, có mặc, đồng thời nó là nhu cầu khẳng định bản thân,khẳng định giá trị cũng như tài năng của con người trong xã hội Đảm bảo để
Trang 34mọi người dân có nhu cầu làm việc có việc làm, có thu nhập là một điều kiệntất yếu của một xã hội tiến bộ.
Việc làm và giải quyết việc làm đang là một trong những vấn đề xã hộikhông chỉ riêng với từng quốc gia mà có tính chất toàn cầu, nó mang ý nghĩa
+ Về khía cạnh kinh tế: Vấn đề việc làm gắn liền với vấn đề sản xuất,dịch vụ Hiệu quả của việc giải quyết tốt vấn đề việc làm cũng chính là hiệuquả của sản xuất, dịch vụ Giải quyết tốt được vấn đề việc làm thì mới đảmbảo được sản xuất, dịch vụ phát triển, kinh tế mới đi lên Đồng thời, kinh tếmới phát triển cũng sẽ tạo điều kiện giải quyết tốt vấn đề việc làm
1.1.5 Mô hình công tác xã hội nhóm trong hỗ trợ việc làm cho người sau cai nghiện ma túy
1.1.5.1 Khái niệm mô hình công tác xã hội nhóm trong hỗ trợ việc làm cho người sau cai nghiện ma túy
Trong luận văn này mô hình công tác xã hội nhóm trong hỗ trợ việclàm cho NSCNMT là việc áp dụng thử nghiệm phương pháp công tác xã hộinhóm trong hỗ trợ việc làm cho người nghiện ma tuý sau cai Đây là một tiếntrình hỗ trợ mà trong đó các thành viên trong nhóm được tạo cơ hội và môitrường có các hoạt động tương tác lẫn nhau, chia sẻ những mối quan tâm haynhững vấn đề chung về việc làm, tham gia vào các hoạt động nhóm nhằm đạtđược những mục tiêu chung của nhóm, hướng đến giải quyết những mục đíchcủa cá nhân, giải tỏa những vấn đề khó khăn Trong hoạt động công tác xã hộinhóm, một nhóm NSCNMT được thành lập, sinh hoạt dưới sự điều phối củanhân viên xã hội
Trang 351.1.5.2 Nguyên tắc công tác xã hội nhóm trong hỗ trợ việc làm đối với người sau cai nghiện ma túy
Công tác xã hội nhóm trong hỗ trợ việc làm đối với NSCNMT cần tuântheo các nguyên tắc cơ bản sau:
Thứ nhất, NVCTXH luôn phải thừa nhận quan điểm cho rằng thân chủ
- NSCNMT là người luôn có khả năng, năng lực và có tiềm năng để pháttriển, tự tìm kiếm việc làm Khi một thân chủ được xem là thiếu thông tin,thiếu kiến thức, thiếu kỹ năng sống, thiếu tự tin, ổn định cuộc sống, thì tráchnhiệm của NVCTXH là phải hướng đến giúp thân chủ hướng đến đạt được vàtìm ra cách thức đạt được những điều đó NVCTXH thường xuyên phải lượnggiá năng lực và khả năng của thân chủ để qua đó luôn tìm cách để phát huynhững tiềm năng của họ, đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động
Thứ hai, NVCTXH luôn tin rằng mọi mô hình thực hành phải luôn chothấy NSCNMT là sản phẩn của xã hội, do đó vấn đề quan tâm đầu tiên là sựcan thiệp phải được nhìn nhận trong bối cảnh xã hội cụ thể Người sau cainghiện ma túy khi tái hòa nhập xã hội sẽ có những đóng góp đối với sự ổnđịnh, phát triển của xã hội Tuy nhiên, họ cũng là một nhóm thiểu số đang đốimặt những rào cản xã hội như những nhóm dễ bị tổn thương khác trong xãhội Giải pháp cho các vấn đề của NSCNMT chính là ở khía cạnh tiếp cận vàocác nguồn lực việc làm và tái hòa nhập đời sống chung của xã hội, chống táinghiện ma túy Các rào cản về môi trường, thái độ và chính sách về vấn đềtham gia xã hội cần phải được xóa bỏ Vì vậy, hỗ trợ tạo việc làm cho ngườisau cai nghiện, để họ có thể giải quyết được vấn đề ở nhiều phương diện, đảmbảo nhu cầu sống cho họ
Thứ ba, NVCTXH cần hiểu được đặc điểm tâm lý NSCNMT Ngườisau cai nghiện ma túy khác nhau có các vấn đề tâm lý khác nhau nhưng họđều có điểm chung hơn là có mong muốn, khát khao tái hòa nhập, được giađình, xã hội chấp nhận Bởi vì họ cùng trải qua quãng thời gian lỗi lầm, vớimặc cảm tự ti và cái nhìn “né tránh”, đề phòng của gia đình, xã hội, đó chính
Trang 36là vấn đề mà nhân viên xã hội cần nhận thức và hiểu về những rào cản mànhóm dân cư này đang trải nghiệm Hơn nữa, NVCTXH cũng cần có cáchhiểu và am tường về vấn đề xây dựng chính sách trong vấn đề NSCNMT.
Thứ tư, mặc dù NSCNMT đang phải đối mặt với những rào cản,NVCTXH cũng luôn phải tin rằng có nhiều điều đáng quan tâm trong cuộcsống của NSCNMT Các mô hình thực hành phải xem xét vấn đề củaNSCNMT là mong muốn tái hòa nhập xã hội, ổn định, phát triển cuộc sống,nhân viên xã hội cần nhìn thấy khía cạnh tích cực của NSCNMT, để giúp họtạo dựng việc làm, ổn định cuộc sống
Thứ năm, NVCTXH cần tôn trọng các quyết định của thân chủ, nhất làgiai đoạn bắt đầu tiếp cận và can thiệp Có thể thân chủ chấp nhận hoặc phảnđối một phần hay toàn bộ công việc, đó là vấn đề quyền kiểm soát cuộc sốngcủa họ Điều quan trọng, NVCTXH giúp NSCNMT hiểu rõ đâu là điều tốtnhất cho họ trong việc tự kiểm soát cuộc sống, tạo dựng cuộc sống độc lập, tựchủ về kinh tế…
Từ những vấn đề về mặt nguyên tắc như vậy, một tiến trình CTXH vớiNSCNMT cũng bao gồm các nội dung sau như một tiến trình CTXH khác
1.1.5.3 Tiến trình công tác xã hội nhóm trong hỗ trợ việc làm cho người sau cai nghiện ma túy
Tiến trình CTXH nhóm là trình tự các bước, các nội dung hoạt độngđược xác lập trong kế hoạch hỗ trợ đối với một nhóm xã hội cụ thể củaNVCTXH Qua đó, thể hiện sự tương tác giữa các thành viên trong nhóm vớinhau và với NVCTXH nhằm đạt được những mục tiêu cụ thể mà nhóm đã đề
ra Trong đó, tiến trình CTXH nhóm trong hỗ trợ việc làm cho NSCNMTđược thực hiện theo các bước trong tiến trình CTXH nhóm [18], cụ thể vớicác giai đoạn như sau:
Giai đoạn 1: Giai đoạn khởi đầu - Lựa chọn thành viên nhóm, thảo luậnmục đích và chương trình sinh hoạt nhóm, phân công tổ chức trong nhóm
Giai đoạn 2: Giai đoạn tìm hiểu thực trạng và xác định vấn đề, lên kếhoạch, thực hiện kế hoạch
Trang 37Giai đoạn 3: Giai đoạn kết thúc, lượng giá
1.1.5.4 Một số cách tiếp cận trong công tác xã hội nhóm
* Tiếp cận phát triển
Là tiếp cận hướng tới sự phát triển cho các thành viên nhóm có những khó khăn Nhóm cung cấp cơ hội và môi trường để cho các thành viên nhận thức, mở mang và thay đổi suy nghĩ, cảm xúc và hành vi của mình và những người khác [18] Ví dụ như nhóm nâng cao nhận thức về bình đẳng giới chophụ nữ bị bạo lực gia đình, các nhóm hoạt động vì các quyền của phụ nữ vàtrẻ em Nhóm phát triển nhấn mạnh nhiều đến sự tự hoàn thiện của bản thân
cá nhân các thành viên trong nhóm
Trung tâm Chữa bệnh và Giáo dục Lao động xã hội Tỉnh Bắc Ninh, đãnhận được sự quan tâm giúp đỡ của nhiều ban ngành, tổ chức, các doanhnghiệp, cộng đồng, sự quan tâm, chăm sóc của gia đình và sự tận tâm, tậntình của Trung tâm do đó NSCNMT có điều kiện cai nghiện ma tuý và có cơhội tái hòa nhập cộng đồng, xã hội và gia đình Tuy nhiên, để đảm bảo cho sựphát triển toàn diện tiến tới giúp NSCNMT tái hòa nhập hoàn toàn với xã hộithì cần phải có thêm nhiều hoạt động hỗ trợ nhằm giúp NSCNMT tìm kiếmviệc làm, ổn định cuộc sống và khẳng định bản thân trong xã hội; đồng thời,giúp phòng ngừa NSCNMT tái nghiện ma túy
* Tiếp cận nhân văn
Nguyên tắc chủ yếu của cách tiếp cận nhân văn trong CTXH là sự phấnđấu của các cán bộ xã hội nhằm giúp đỡ các thân chủ trên cơ sở tự nhận biết
và hiểu được giá trị của cá nhân mình, hiểu được chính mình và đặc điểm ảnhhưởng của thế giới xung quanh tới họ Trong khuôn khổ của mô hình này,trước tiên người cán bộ xã hội cố gắng thuyết phục thân chủ quan tâm đếncác vấn đề của chính mình, đến những mối quan hệ tốt đã có hoặc tin tưởngvào sự nỗ lực của bản thân
Trong tiếp cận nhân văn, NVCTXH cần chú ý đến kỹ năng lắng nghetích cực Lắng nghe tích cực là lắng nghe cái bằng tài, mắt và bằng tâm để
Trang 38không những nắm bắt được những gì các thành viến nói bằng lời, thể hiệnqua những cử chỉ không lời mà còn hiểu được tâm tư, tình cảm và suy nghĩ
của thân chủ [18] Trong trường hợp này lắng nghe tích cực thể hiện sự đồng
cảm của NVCTXH với thân chủ Thông qua hoạt động giao tiếp với thân chủ,NVCTXH giúp thân chủ hiểu được bản thân họ và những vấn để của chính họbằng cách hiểu được quan hệ với người khác; bên cạnh đó, còn thuyết phụcthân chủ nỗ lực phấn đấu, phát huy nội lực và giá trị của chính bản thân thânchủ trong cuộc sống Sử dụng tiếp cận nhân văn hiện sinh trong nghiên cứunày, giúp NSCNMT hiểu được nhu cầu, khả năng của chính mình cũng nhưnhững nguồn lực xung quanh Qua đó, khích lệ và trợ giúp các thành viêntrong nhóm NSCNMT tái hòa nhập, thực hiện mục tiêu và giá trị cuộc sốngcủa mình
* Tiếp cận hiện sinh
Cơ sở của tiếp cận hiện sinh là dựa vào các giải pháp hiện sinh và hiệntượng theo nguyên tắc: khi NVCTXH phân tích hành vi của thân chủ cần chú
ý xem họ tiếp thu và thể hiện quan điểm của bản thân về thế giới xung quanh,cũng như việc tự họ đánh giá tình trạng xã hội của bản thân như thế nào Tiếp cậnhiện sinh giúp cho NVCTXH hiểu, có sự đánh giá hành vi của NSCNMT, từ
đó có cách thức, biện pháp trợ giúp họ tìm ra cách giải quyết khó khăn, vướngmắc của mình, đặc biệt là trong vấn đề việc làm [18]
Tóm lại, mỗi một mô hình CTXH đều dựa trên nền tảng lý thuyếtCTXH trong đó từng loại mô hình lại có cách thức nhìn nhận, đánh giá, đặcthù riêng căn cứ vào những cá biệt của thân chủ và sự tương tác củaNVCTXH với thân chủ Trong trường hợp này chúng tôi cho rằng đối vớiNSCNMT, ngoài việc vận dụng tổng hợp các lợi thế từ các mô hình đem lại,thì vận dụng tiếp cận phát triển là phù hợp nhất Bởi vì bản chất của tiếp cậnphát triển là hướng tới sự phát triển cho các thành viên, NSCNMT đã từ bỏđược chất ma túy, đang trên con đường tái hòa nhập cộng đồng, việc hỗ trợtạo việc làm sẽ góp phần quan trọng giúp cho họ một mặt bảo đảm cuộc sống
Trang 39bản thân, gia đình, giúp họ tự tin trở lại Mặt khác, việc hỗ trợ tạo việc làmgiúp NSCNMT có điều kiện được làm việc trong môi trường mới, tránh hiệntượng tái nghiện
1.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến mô hình công tác xã hội nhóm với người sau cai nghiên ma tuý
1.2.1 Người làm công tác xã hội
Với tư cách là người hỗ trợ chuyên nghiệp các đối tượng yếu thế trong
xã hội, NVCTXH đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ việc làm choNSCNMT có thể tái hòa nhập cộng đồng, phòng chống tái nghiện, tìm đượcviệc làm để xây dựng cuộc sống bền vững và ổn định Trong CTXH,NVCTXH có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của mô hình CTXH nhóm [dẫntheo 15] Họ có vai trò và nhiệm vụ hết sức quan trọng trong mô hình CTXHnhóm, là người trực tiếp tham gia vào quá trình hỗ trợ nhóm người nghiệntrong và sau quá trình cai nghiện như: Nắm bắt hồ sơ người nghiện; tiến hànhhoạt động tham vấn tâm lý và tư vấn pháp luật cho người nghiện, gia đìnhngười nghiện; hỗ trợ người nghiện lên kế hoạch tìm kiếm, kết nối việc làm,giúp NSCNMT tái hòa nhập cộng đồng
Trong mô hình CTXH nhóm trong hỗ trợ việc làm cho NSCNMT,NVCTXH có ảnh hưởng lớn đến việc huy động các nguồn lực hỗ trợ ngườinghiện ma tuý Đồng thời, vận động gia đình, cộng đồng và các tổ chức xã hộisẵn sàng hỗ trợ người nghiện cả về vật chất, tinh thần để điều trị nghiện và táihoà nhập cộng đồng sau điều trị Đồng thời, sẵn sàng hỗ trợ người nghiện vàNSCNMT tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ (dịch vụ y tế; dịch vụ hỗ trợ pháp lý;dịch vụ điều trị nghiện; dịch vụ dạy nghề và tìm việc làm cho người nghiện )
Người làm CTXH, tích cực tổ chức và triển khai các hoạt động giáodục truyền thông nâng cao nhận thức và giảm kỳ thị đối với người nghiện matuý tại cộng đồng Các khâu từ xác định đối tượng, nội dung, hình thức truyềnthông, địa điểm và lên kế hoạch thực hiện được cán bộ tuyến Xã/ Phường
Trang 40triển khai tại địa bàn Qua đó, tác động trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả của
mô hình CTXH nhóm trong hỗ trợ việc làm cho NSCNMT
1.2.2 Đối tượng, gia đình người người nghiện ma túy
Người sau cai nghiện ma túy là nhóm người yếu thế trong xã hội, cầnđược trợ giúp [dẫn theo 15] Sự hợp tác của đối tượng là một trong những yếu
tố quyết định đến việc hỗ trợ có đạt hiệu quả hay không Do đó, việc nắm bắt
rõ các đặc điểm tâm sinh lý và nhu cầu của NSCNMT sẽ giúp việc địnhhướng và xây dựng kế hoạch thực hiện mô hình CTXH nhóm trong hỗ trợviệc làm được dễ dàng hơn
Người sau cai nghiện ma túy muốn có cơ hội việc làm trước hết phải có
ý chí, nghị lực vượt qua mặc cảm, và quyết tâm, nỗ lực phấn đấu hòa nhậpvới xã hội, và vươn lên khẳng định bản thân, xây dựng cuộc sống mới Bảnthân họ phải có mong muốn tìm kiếm việc làm để ổn định thu nhập, đảm bảocuộc sống Bên cạnh đó, để đảm bảo yêu cầu của nhà tuyển dụng, tính chấtcông việc, người sau cai nghiện phải bảo đảm yếu tố thể lực, có sức khỏe tốt
để làm việc Đồng thời, họ phải bảo đảm được yếu tố chuyên môn công việc.Mặt khác, trong quá trình tái hòa nhập cộng đồng, NSCNMT rất cần có sựđồng cảm, chia sẻ từ gia đình và cộng đồng để giúp họ thêm tự tin vượt quamặc cảm cá nhân, tăng khả năng xin việc khi đi phỏng vấn và thích ứng vớinhu cầu về lao động của thị trường lao động
Gia đình với vai trò là tổ ấm, với tình thương và trách nhiệm chính lànơi ngăn ngừa tệ nạn ma túy xâm nhập vào các thành viên, đồng thời là nguồnđộng viên, an ủi lớn nhất giúp những người nghiện vượt qua được căn bệnh
ma túy nguy hiểm Thực tiễn cũng chứng minh, đối với các đối tượng sau cainghiện ma túy có gia đình yên ấm, được gia đình chăm sóc tận tình, động viêngiúp đỡ, ủng hộ khuyến khích họ tìm việc làm, thì hiệu quả chống tái nghiệnlớn hơn rất nhiều các đối tượng có gia đình không hạnh phúc Bởi NSCNMTmang trong mình nỗi mặc cảm, tủi hổ, tự ti Vì vậy, nếu họ nhận được sự