Trong suốt hơn 20 năm 1954-1975, trên cơ sở pháp lý những hiệp ước, hiệp định ký kết giữa ViệtNam và Lào, Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân Việt Nam đã cử nhiều thế hệcán bộ, chiến sĩ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, công trình này là kết quả nghiên cứu độc lập của bản thân.Các số liệu, sự kiện, những kết quả nghiên cứu của luận án là trung thực Nhữngđánh giá, kết luận của luận án chưa từng được công bố trong bất cứ một công trìnhnào khác
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Hạnh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành luận án Tiến sĩ một cách hoàn chỉnh, bên cạnh sự nỗlực, cố gắng của bản thân còn có sự hướng dẫn nhiệt tình của quý thầy cô KhoaLịch sử, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, cũng như sự động viên ủng hộ củagia đình, bạn bè trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến PGS.TS Nguyễn Mạnh Hà –người đã hết lòng hết sức hướng dẫn, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôihoàn thành luận án Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến quý thầy cô trongkhoa Lịch sử và khoa Sau Đại học, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại họcQuốc gia Hà Nội đã tận tình truyền đạt kiến thức và hướng dẫn để tôi có thể hoànthành khóa học đạt kết quả tốt nhất
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến Thư viện Quân đội, Trung tâm lưu trữQuốc gia III, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam đã nhiệt tình giúp đỡ, cung cấp chotôi những tài liệu quý báu để tôi hoàn thành luận án
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn đến gia đình, các anh chị và các bạnđồng nghiệp đã hỗ trợ cho tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu vàthực hiện luận án một cách hoàn chỉnh
Hà Nội, ngày 25 tháng 12 năm 2018
Nghiên cứu sinh
Nguyễn Thị Hạnh
Trang 53 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
66
4 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu 7
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
9
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu
1.1.1 Nhóm các công trình nghiên cứu về quan hệ Việt Nam – Lào
99
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về liên minh chiến đấu Việt Nam –
Lào và sự lãnh đạo của Đảng đối với liên minh chiến đấu Việt Nam –
Lào
19
1.2 Nhận xét các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
và những vấn đề luận án tập trung giải quyết
1.2.1 Nhận xét các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
27
27
1.2.2 Những vấn đề luận án tập trung giải quyết 29
Chương 2: CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI
QUÂN DÂN VIỆT NAM THỰC HIỆN LIÊN MINH CHIẾN ĐẤU
VIỆT NAM – LÀO TỪ NĂM 1954 ĐẾN NĂM 1965
32
2.1 Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo và chủ trương của Đảng
2.1.1 Những yếu tố tác động
3232
2.2 Sự chỉ đạo của Đảng
2.2.1 Xây dựng, củng cố liên minh chiến đấu Việt Nam – Lào chống đế
quốc Mỹ xâm lược
5555
2.2.2 Thực hiện nhiệm vụ giúp cách mạng Lào củng cố, phát triển lực
lượng
62
2.2.3 Thực hiện nhiệm vụ giúp cách mạng Lào bảo vệ và mở rộng vùng 67
Trang 6Chương 3: ĐẢNG LÃNH ĐẠO QUÂN DÂN VIỆT NAM THỰC
HIỆN LIÊN MINH CHIẾN ĐẤU VIỆT NAM – LÀO TỪ NĂM 1966
3.2 Sự chỉ đạo của Đảng
3.2.1 Củng cố, phát triển liên minh chiến đấu Việt Nam – Lào chống đế
quốc Mỹ xâm lược
103103
3.2.2 Thực hiện nhiệm vụ giúp đỡ cách mạng Lào xây dựng lực lượng,
bảo vệ vùng giải phóng
3.2.3 Thực hiện nhiệm vụ giúp đỡ cách mạng Lào trên mặt trận quân
sự
110115
3.2.4 Thực hiện nhiệm vụ bảo vệ, phát triển tuyến vận tải Tây Trường
4.2.1 Trong việc lãnh đạo quân dân Việt Nam thực hiện liên minh,
Đảng đã lựa chọn những hình thức, biện pháp phù hợp từng giai đoạn
để xây dựng, củng cố liên minh chiến đấu Việt Nam – Lào chống đế
quốc Mỹ xâm lược
165165
4.2.2 Trong quá trình Đảng lãnh đạo quân dân Việt Nam thực hiện liên
minh chiến đấu Việt Nam – Lào chống đế quốc Mỹ xâm lược, đã sớm
phát hiện và chủ động giải quyết tốt các vấn đề nảy sinh
168
4.2.3 Gắn kết chặt chẽ hai mặt xây dựng, phát triển liên minh chiến
đấu với thực hiện các nhiệm vụ trọng yếu
170
4.2.4 Tích cực đấu tranh phòng chống tư tưởng nước lớn, tư tưởng dân 173
Trang 7tộc hẹp hòi, đồng thời chống lại tư tưởng ỷ lại
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
182183
PHỤ LỤC
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam là một mẫu mực về tìnhđoàn kết quốc tế trong sáng, thủy chung hiếm có trong lịch sử phong trào cáchmạng thế giới, là quy luật giành thắng lợi của cách mạng hai nước Trong khángchiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, hai nước đã phát triển liên minh chiến đấu lênmột tầm cao mới, tạo nên sức mạnh của hai dân tộc Việt Nam và Lào, đưa đếnnhững thắng lợi vẻ vang Trước những âm mưu thâm độc và hành động chiến tranhxâm lược tàn bạo của đế quốc Mỹ đối với cách mạng Việt Nam và cách mạng Lào,
xu thế tất yếu cần có sự đoàn kết liên minh chiến đấu giữa hai nước Trong suốt hơn
20 năm (1954-1975), trên cơ sở pháp lý những hiệp ước, hiệp định ký kết giữa ViệtNam và Lào, Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân Việt Nam đã cử nhiều thế hệcán bộ, chiến sĩ Quân tình nguyện, chuyên gia sang làm nhiệm vụ quốc tế tại Lào.Quán triệt quan điểm của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh “giúp bạn là mình tựgiúp mình”, cán bộ chiến sĩ và nhân dân Việt Nam đã giúp đỡ Lào về mọi mặt kinh
tế, chính trị, quân sự, văn hóa, giáo dục… Ngoài ra, Việt Nam còn chủ động giúpLào đào tạo hàng ngàn cán bộ đảng, chính quyền, đoàn thể, chuyên viên kỹ thuật.Với tinh thần quốc tế vô sản trong sáng, cán bộ chuyên gia và chiến sĩ Quân tìnhnguyện đã sát cánh cùng quân và dân Lào chiến đấu trên khắp các mặt trận từThượng Lào đến Trung, Hạ Lào, lập nên nhiều chiến công to lớn, góp phần hoànthành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Lào, hỗ trợ tích cực cho cuộc đấutranh giải phóng dân tộc ở Việt Nam Bên cạnh đó, cách mạng Việt Nam cũng đãnhận được sự giúp đỡ to lớn của Đảng và nhân dân Lào Đặc biệt, tuyến đường vậntải chiến lược Trường Sơn – đường Hồ Chí Minh, mạch sống của cuộc kháng chiếncủa Việt Nam, có một phần quan trọng đi qua đất Lào, hàng trăm căn cứ quân sự,kho tàng, hậu cứ của Quân đội nhân dân Việt Nam đặt trên đất Lào Sự giúp đỡ đócàng làm củng cố vững chắc liên minh đoàn kết chiến đấu của hai dân tộc Sự liênminh đoàn kết đó đã tạo nên sức mạnh to lớn, có ý nghĩa sống còn góp phần đưacuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ của hai nước giành được thắng lợi hoàn toàn
Trang 9Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, Việt Nam và Lào đều có vai trò,
vị trí chiến lược quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến nhau Vì thế, khi xem xét giảiquyết các mối quan hệ trên các mặt giữa hai nước, cần phải xuất phát từ lợi ích độclập dân tộc của mỗi nước, cùng nhau hợp tác vì lợi ích chân chính của nhau Lịch sửchống ngoại xâm của hai dân tộc đã chứng minh rằng hai nước đã tôn trọng và khaithác triệt để điều kiện khách quan để làm nên những chiến thắng oanh liệt Nhậnthức được điều đó, trong quá trình lãnh đạo thực hiện liên minh chiến đấu Việt Nam– Lào, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam và Quân ủy Trung ương đều coi quan
hệ Việt Nam-Lào là nhân tố đặc biệt, góp phần quyết định thắng lợi, nên đã coi đây
là một trong những nguyên tắc chiến lược quan trọng, cần phải duy trì và giữ vững.Chính vì vậy, vấn đề Đảng lãnh đạo quân dân Việt Nam thực hiện liên minh chiếnđấu Việt Nam – Lào chống đế quốc Mỹ xâm lược (1954-1975) cần được nhận thứcđầy đủ, khoa học và khách quan Qua đó, đánh giá những ưu điểm, hạn chế, trên cơ
sở đó đúc rút một số kinh nghiệm phục vụ hiện tại, là điều hết sức cần thiết, vừa có
ý nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn, phục vụ cho việc xây dựng mối quan hệđặc biệt, đoàn kết giữa hai nước Việt Nam – Lào trong giai đoạn hiện nay Với cách
tiếp cận này, tôi chọn vấn đề “Đảng lãnh đạo thực hiện liên minh chiến đấu Việt Nam – Lào chống đế quốc Mỹ xâm lược (1954-1975)” làm đề tài luận án Tiến sĩ,
chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
- Làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng Lao động Việt Nam đối vớiquân dân Việt Nam thực hiện liên minh chiến đấu Việt Nam – Lào từ năm 1954 đếnnăm 1975
- Nêu lên những ưu điểm, hạn chế và đúc rút một số kinh nghiệm có giá trịtham khảo cho giai đoạn hiện tại
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Giới thiệu tổng quan vấn đề nghiên cứu liên quan đến nội dung của luận án
Trang 10- Nêu lên những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng Lao động ViệtNam trong quá trình Đảng lãnh đạo quân dân Việt Nam thực hiện liên minh chiếnđấu Việt Nam – Lào
- Phân tích quan điểm, chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng trong lãnh đạoquân dân Việt Nam xây dựng, phát triển liên minh chiến đấu Việt Nam – Lào quahai giai đoạn: 1954-1965 và 1966-1975
- Chỉ ra những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân hạn chế trong sự lãnh đạo củaĐảng Lao động Việt Nam đối với xây dựng, phát triển liên minh chiến đấu ViệtNam – Lào những năm 1954-1975
- Đúc rút một số kinh nghiệm có giá trị tham khảo từ quá trình Đảng lãnhđạo quân dân Việt Nam thực hiện liên minh chiến đấu Việt Nam – Lào chống đếquốc Mỹ xâm lược (1954-1975)
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng Laođộng Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) đối với quân dân Việt Nam thựchiện liên minh chiến đấu Việt Nam – Lào chống đế quốc Mỹ xâm lược từ năm 1954đến năm 1975
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: luận án tập trung nghiên cứu các chủ trương, biện pháp cơbản của Đảng Lao động Việt Nam trong lãnh đạo quân dân Việt Nam thực hiện liênminh chiến đấu Việt Nam – Lào chống đế quốc Mỹ xâm lược Vấn đề liên minhchiến đấu Việt Nam – Lào trong luận án được tác giả đề cập chủ yếu trên lĩnh vựcquân sự, sự phối hợp chiến đấu giữa quân đội, nhân dân hai nước Việt Nam và Lào;xây dựng lực lượng, bảo vệ vùng giải phóng; bảo vệ và phát triển tuyến đường TâyTrường Sơn Ngoài ra, luận án còn đề cập đến sự liên minh về kinh tế, chính trị, vănhóa, giáo dục góp phần hỗ trợ cho những hoạt động trên mặt trên mặt trận quân sự.Bên cạnh đó, luận án cũng đề cập đến chủ trương từ phía Lào để thấy rõ sự chủđộng, đúng đắn trong đường lối lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam
Trang 11- Về thời gian: từ năm 1954 đến năm 1975
- Về không gian: địa bàn của Việt Nam và Lào; trong đó, địa bàn Lào làkhông gian nghiên cứu chủ yếu
4 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu
- Cơ sở lý luận: chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểmcủa Đảng Lao động Việt Nam về chiến tranh và quan hệ phối hợp, đoàn kết quốc tếtrong chiến tranh
- Phương pháp nghiên cứu: luận án vận dụng phương pháp lịch sử và phươngpháp logic là chủ yếu nhằm trình bày quá trình Đảng Lao động Việt Nam lãnh đạothực hiện liên minh Việt Nam – Lào về quân sự, đồng thời khái quát những nhậnxét về ưu điểm, hạn chế, bài học kinh nghiệm Ngoài ra, luận án còn sử dụng cácphương pháp bổ trợ khác như phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá,… để giải quyết cácvấn đề đặt ra trong luận án
- Nguồn tài liệu: Hệ thống văn kiện của Trung ương Đảng, Quân ủy Trungương, Bộ Tổng tham mưu; các công trình tổng kết, công trình lịch sử kháng chiếnchống Pháp và chống Mỹ; các công trình khoa học, bài báo, luận án, luận văn liênquan; hồi ký, bài viết của các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội hai nước ViệtNam và Lào Các nguồn tư liệu lưu trữ tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, cácTrung tâm lưu trữ Quốc gia, Viện Lịch sử Đảng, Viện Sử học
5 Đóng góp mới của luận án
- Làm rõ những yếu tố tác động và trình bày một cách có hệ thồng quá trìnhĐảng Lao động Việt Nam lãnh đạo quân dân Việt Nam thực hiện liên minh chiếnđấu Việt Nam – Lào chống đế quốc Mỹ xâm lược từ năm 1954 đến năm 1975
- Bước đầu nêu lên những nhận xét về ưu điểm, hạn chế về sự lãnh đạo củaĐảng đối với quân dân Việt Nam thực hiện liên minh chiến đấu Việt Nam – Làotrong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
- Đúc rút những kinh nghiệm quý báu từ quá trình Đảng Lao động Việt Namlãnh đạo thực hiện liên minh chiến đấu Việt Nam – Lào, có thể vận dụng vào công
Trang 12cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay cũng như tiếp tục xây đắp, phát triểnmối quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt Nam – Lào.
- Hệ thống hóa các tư liệu có liên quan đến liên minh đoàn kết chiến đấu ViệtNam – Lào
Chương 3: Đảng lãnh đạo quân dân Việt Nam thực hiện liên minh chiến đấuViệt Nam – Lào từ năm 1966 đến năm 1975
Chương 4: Nhận xét và kinh nghiệm
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu
1.1.1 Nhóm các công trình nghiên cứu về quan hệ Việt Nam – Lào
Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam Viện Sử học (1985), Sức mạnh chiến
thắng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội:
Tác phẩm tập hợp các bài viết của nhiều tác giả, nhà nghiên cứu đề cập đến nhữngkhía cạnh khác nhau phản ánh một cách có hệ thống và toàn diện về sức mạnh củacuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Trong đó có một số bài nghiên cứu liênquan đến nội dung của luận án: bài viết của tác giả Nguyễn Việt Phương với chủ đề
Đường Hồ Chí Minh, một biểu tượng tình đoàn kết chiến đấu đặc biệt của ba dân tộc Đông Dương, đã phân tích làm rõ vai trò quan trọng của tuyến đường Trường
Sơn trong việc chi viện trên khắp chiến trường Đông Dương Từ đó, khẳng địnhtuyến đường Trường Sơn là biểu tượng của tình đoàn kết chiến đấu keo sơn ViệtNam – Lào Đường Hồ Chí Minh đã trở thành một kỳ công chiến lược góp phần tạonên những chiến thắng của sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của các dân tộc Đông
Dương Tác giả Nguyễn Hữu Hợp với bài viết Đại thắng mùa xuân 1975, sức mạnh
của liên minh đoàn kết chiến đấu Việt Nam – Lào: bài viết đã phân tích những chủ
trương của Đảng trong việc phối hợp chiến đấu trên cả ba chiến trường nhằm đánhbại các chiến lược chiến tranh của Mỹ: “chiến tranh đặc biệt”, “chiến tranh cục bộ”,
“Việt Nam hóa chiến tranh” ở Việt Nam; “chiến tranh đặc biệt” và “chiến tranh đặcbiệt tăng cường” ở Lào Sự phối hợp chiến đấu đó đã làm nên sức mạnh to lớn trongcuộc chiến tranh giải phóng dân tộc
Pitơ A.Pulơ (1986), Nước Mỹ và Đông Dương từ Ru-dơ-ven đến Ních-xơn,
Nxb Thông tin lý luận, Hà Nội Cuốn sách viết về cuộc chiến tranh của Mỹ ở ViệtNam – một cuộc chiến tranh lâu dài, gây nhiều tốn kém của Mỹ Thông qua những
sự kiện được phân tích trong tác phẩm, tác giả đã vạch trần những chính sách của
Trang 14các đời Tổng thống Mỹ nhằm tìm ra nguồn gốc của cuộc chiến tranh của Mỹ ở ViệtNam và Đông Dương, cũng như nguyên nhân thất bại của cuộc chiến tranh đó
Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam (1987), Nxb
Sự thật, Hà Nội Cuốn sách bao gồm các nội dung chính: Phần 1: Nguyên nhâncuộc đụng đầu lịch sử giữa nhân dân Việt Nam và đế quốc Mỹ; Phần 2: Nhữngchặng đường thắng lợi vẻ vang của sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước; Phần 3: Ý nghĩa
và những nhân tố quyết định thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc
ta Qua việc phân tích những thắng lợi của cách mạng Việt Nam, có sự phối hợp củacách mạng Lào, Đảng đã khẳng định một trong những nhân tố quyết định thắng lợicủa cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam, đó là sức mạnh của khốiđoàn kết, liên minh chiến đấu của nhân dân ba nước Đông Dương Việt Nam, Lào,Campuchia Sự đoàn kết đó đã trở thành một nhân tố cơ bản để giành thắng lợi cho
sự nghiệp cách mạng mỗi nước Vì vậy, nhiệm vụ tăng cường đoàn kết và giúp đỡcách mạng Lào, Campuchia luôn được nhấn mạnh trong các Nghị quyết của Đảng.Đảng Cộng sản Việt Nam xác định rằng: khối đoàn kết chiến đấu của nhân dân banước Đông Dương đã trở thành một khối thống nhất, có một chiến lược chung, kiêntrì và đẩy mạnh cuộc kháng chiến cứu nước của nhân dân ba nước chống đế quốc
Mỹ xâm lược Đồng thời khẳng định vai trò là hậu phương vững chắc của cáchmạng Việt Nam đối với cách mạng Lào và Campuchia
Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị (1995), Tổng kết
cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước – thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị Quốc
gia, Hà Nội Cuốn sách gồm hai phần: Phần thứ nhất: Những bước phát triển củacuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đồng thời cũng đánh giá những ưu điểm,khuyết điểm chính về sự lãnh đạo và chỉ đạo chiến tranh của Đảng; Phần thứ hai:Bài học kinh nghiệm Trong phần hai, cuốn sách đã chỉ ra một trong những bài họckinh nghiệm giúp cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Namgiành thắng lợi đó là đoàn kết, liên minh với nhân dân Lào, nhân dân Campuchia.Bài học khẳng định: cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta có liênquan chặt chẽ đối với cuộc chống Mỹ của nhân dân Lào và nhân dân Campuchia vì
Trang 15đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh để xâm lược ba nước Bài học kinh nghiệm cũngchỉ ra nguyên tắc để có thể đoàn kết, liên minh chiến đấu với Lào, Campuchia: tôntrọng độc lập chủ quyền, nguyện vọng chính đáng của mỗi dân tộc, đồng thời giữvững tinh thần độc lập tự chủ Trong đó, đối với Lào, vấn đề đoàn kết liên minhchiến đấu được thực hiện trên những vấn đề chiến lược chủ yếu: giúp nhau xâydựng thực lực cách mạng, phối hợp chiến trường, cùng nhau mở các chiến dịch, traođổi học tập kinh nghiệm lẫn nhau Đồng thời, Đảng cũng khẳng định vấn đề xuyênsuốt có ý nghĩa quyết định thành công của sự nghiệp đoàn kết liên minh mà Đảngluôn sớm chủ trương: giúp bạn là tự giúp mình, nêu cao chủ nghĩa yêu nước và chủnghĩa quốc tế vô sản, đấu tranh phòng chống mọi tư tưởng nước lớn, tư tưởng dântộc hẹp hòi, thực hiện bình đẳng giữa các dân tộc, tôn trọng độc lập, chủ quyền vàcác lợi ích chính đáng của nhau.
Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh (1995),
Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, tập 2, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Cuốn
sách đề cập chủ yếu đến một số chủ trương lớn trong việc liên minh ba nước ĐôngDương chống Mỹ, cứu nước, một số mốc lịch sử trong mối quan hệ Việt Nam –Lào Từ đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu lên một số bài học kinh nghiệm từnhững thắng lợi của cách mạng Việt Nam: 1 Xây dựng được ba tầng mặt trận thốngnhất chống Mỹ ở ba nước Đông Dương; 2 Liên minh chiến đấu ba nước ĐôngDương là quy luật khách quan xuất phát từ nhu cầu của nhân dân ba nước Trongsuốt cuộc kháng chiến, ba nước đều có sự thống nhất về chiến lược, đường lối đoànkết cùng đánh Mỹ; lực lượng vũ trang ba nước có sự hợp đồng chiến đấu trên cả bachiến trường; đoàn kết và hợp tác quốc tế giữa Đảng Lao động Việt Nam, ĐảngNhân dân cách mạng Lào, những người cách mạng của Campuchia trên cơ sở chủnghĩa Mác – Lênin, chủ nghĩa quốc tế vô sản và chủ nghĩa yêu nước chân chính trênquan điểm “giúp bạn là mình tự giúp mình”
Lịch sử Đoàn 559 bộ đội Trường Sơn đường Hồ Chí Minh (1999), Nxb Quân
đội nhân dân, Hà Nội Cuốn sách gồm 5 phần: Phần 1: Thành lập Đoàn 559 Bướcđầu tổ chức và phát triển tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn – đường Hồ Chí
Trang 16Minh, góp phần đánh bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ - chính quyềnSài Gòn (5/1959-1964); Phần 2: Phát triển vận tải cơ giới, tổ chức và chiến đấu hiệpđồng binh chủng chống chiến tranh ngăn chặn của đế quốc Mỹ, thực hiện chi việnmiền Nam đánh bại chiến lược “chiến tranh cục bộ” (1965-1968); Phần 3: Đánhthắng chiến tranh ngăn chặn quy mô lớn nhất, thực hiện chi viện thắng lợi, góp phầnđánh bại một bước quan trọng chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của đế quốc
Mỹ (1968-1973); Phần 4: Đổi mới tổ chức, thế trận, phương thức hoạt động; phục
vụ, tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975, đỉnh cao là chiến dịch
Hồ Chí Minh (1973-1975); Phần 5: Bộ đội Trường Sơn sau chiến tranh Trong đó,chương VIII của phần 3 đề cập đến vai trò của Đoàn 559 trong việc tham gia chiếndịch phản công Đường 9 – Nam Lào, đánh bại chiến lược chiến tranh ngăn chặntổng lực của Mỹ và quân đội Sài Gòn Phát triển tuyến chi viện chiến lược mùa khô1970-1971 Trong thời gian này, Bộ Tư lệnh 559 cũng đổi tên thành Bộ Tư lệnhTrường Sơn Đoàn 559 đã tích cực sửa chữa, xây dựng, phát triển hệ thống đườngTrường Sơn trên đất Lào, các kho chiến lược trên tuyến đường Ngoài ra, Đoàn 559còn chủ động phối hợp với Lào để đánh địch, đảm bảo an toàn tuyến vận chuyểnchiến lược, không cho Mỹ hợp điểm với các cuộc hành quân của chúng Thắng lợicủa Đường 9 – Nam Lào, thắng lợi của vận chuyển chiến lược khẳng định bộ độiTrường Sơn là một đội quân vận tải chiến lược, chiến dịch giỏi, một đội quân chiếnđấu và làm nhiệm vụ quốc tế giỏi, đủ khả năng hoàn thành mọi nhiệm vụ Quân ủyTrung ương và Bộ Quốc phòng giao cho trong bất cứ hoàn cảnh nào
Bộ Quốc phòng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2011), Chiến thắng
Đường 9 – Nam Lào 1971 – Tầm vóc, ý nghĩa và bài học lịch sử, Nxb Quân đội
Nhân dân, Hà Nội: cuốn sách gồm tập hợp các bài tham luận của các nhà nghiêncứu, các vị lão thành cách mạng, các đồng chí là lãnh đạo Bộ Quốc phòng, Tổngcục Chính trị, Tổng cục Hậu cần, Tổng cục Kỹ thuật,… và các bài tham luận củacác đồng chí là lãnh đạo Bộ Quốc phòng và Cục Khoa học lịch sử Bộ Quốc phòngnước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào Cuốn sách tập trung vào bốn nội dungchính: Phần 1: Những vấn đề chung; Phần 2: Quá trình tổ chức và thực hiện chiến
Trang 17dịch, nét đặc sắc của nghệ thuật quân sự Việt Nam; Phần 3: Sự phối hợp nhịpnhàng, hiệu quả của liên quân Việt – Lào; Phần 4: Tầm vóc, ý nghĩa và bài học lịch
sử vận dụng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay Trong cuốnsách có những bài tham luận liên quan đến nội dung của luận án: Thiếu tướng Vi
xảy Chăn thạ mạt “Chiến thắng đường 9 – Nam Lào 1971, dấu mốc quan trọng của
sự hợp tác liên minh chiến đấu giữa quân đội và nhân dân hai nước Lào – Việt Nam, Việt Nam – Lào trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược”, đã nêu
lên điểm nổi bật của chiến thắng của quân đội nhân dân hai nước: khẳng định yếu tốquan trọng quyết định thắng lợi của chiến dịch là do có đường lối, chủ trương lãnhđạo đúng đắn, khôn khéo, mưu trí, sáng tạo kết hợp với nghệ thuật chỉ đạo tác chiếntinh nhuệ, dứt khoát về mặt chiến lược và chiến thuật của hai Trung ương Đảng, haiQuân ủy Trung ương và hai Bộ Chỉ huy mặt trận; chiến dịch cũng đã thể hiện sựtiến bộ vượt bậc và nổi bật về sự hợp tác của liên minh chiến đấu của nhân dân, cáclực lượng vũ trang nhân dân, quân đội nhân dân hai nước trong tác chiến Từ đókhẳng định bài học lịch sử quan trọng là không ngừng vun đắp phát huy mối quan
hệ đặc biệt Lào – Việt Nam, Việt Nam – Lào về liên minh chiến đấu giữa quân đội
nhân dân hai nước Trong bài viết “Chiến thắng đường 9 – Nam Lào 1971, một
minh chứng cho mối quan hệ đặc biệt, tình đoàn kết liên minh chiến đấu bền chặt, thủy chung giữa hai dân tộc Việt Nam – Lào” Tiến sĩ Trương Minh Tuấn đã phân
tích âm mưu của địch, từ đó thấy được chủ trương của Đảng trong cuộc phản công
để đánh lại đế quốc Mỹ, khẳng định sự hợp tác chiến đấu của quân và dân hai nước
đã trở thành quy luật sống còn và sức mạnh kỳ diệu đưa đến những thắng lợi vĩ đạicủa nhân dân hai nước trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ
PGS.TS Vũ Quang Đạo trong bài viết “Chiến thắng đường 9 – Nam Lào, tầm vóc,
ý nghĩa và bài học lịch sử” đã đánh giá ý nghĩa của chiến thắng là thành công xuất
sắc trong chỉ đạo chiến lược của Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương, nét đặcsắc của nghệ thuật quân sự Việt Nam trong tổ chức và thực hành chiến dịch, thểhiện tình đoàn kết liên minh chiến đấu đặc biệt Việt Nam – Lào Từ đó, khẳng địnhbài học quý giá đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay: sớm nắm
Trang 18bắt âm mưu và hành động của địch để chủ động hình thành các phương án đánhđịch, phát huy sức mạnh tổng hợp của lực lượng cơ động kết hợp lực lượng tại chỗ;công tác đảm bảo hậu cần kỹ thuật; bài học về sự phối hợp chiến đấu giữa quân vàdân hai dân tộc Việt Nam – Lào; phát huy hiệu quả của liên minh chiến đấu của banước Đông Dương vì nền độc lập tự do của mỗi nước
Trịnh Nhu (2011), Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam
1930-2007, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Cuốn sách đã trình bày một cách toàn
diện về mối quan hệ Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực Dưới
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, nhân dân hai nước Việt Nam và Làophát huy truyền thống đoàn kết đặc biệt, đấu tranh giành độc lập tự do (1930-1945).Với việc hình thành liên minh Việt Nam – Lào, quân và dân hai nước đã chiến đấuanh dũng chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược (1945-1975) Thắng lợicủa hai cuộc kháng chiến đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu cho mối quan
hệ đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam từ năm
1976 đến năm 2007 Cuốn sách cũng xác định những bài học lịch sử cho mối quan
hệ Việt Nam – Lào: 1 Xác định đúng đắn hệ thống quan điểm lý luận về mối quan
hệ dân tộc và quốc tế trong thời đại mới giữ vai trò quan trọng hàng đầu trong quátrình xây dựng, phát triển quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam; 2 Xácđịnh nội dung, phương thức xây dựng quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – ViệtNam là cụ thể hóa hệ thống quan điểm lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về mốiquan hệ quốc gia và quốc tế trong điều kiện cụ thể của hai nước để hướng dẫn hoạtđộng của Đảng, của hệ thống chính trị và quân, dân hai nước Việt Nam, Lào nhằmđạt tới mục tiêu cách mạng do hai bên xác lập; 3 Tình cảm cách mạng thủy chung,trong sáng của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào là mộtnhân tố trọng yếu tạo nên độ bền vững và phát triển của mối quan hệ Việt Nam –Lào, Lào – Việt Nam; 4 Khai thác, phát huy các nhân tố, điều kiện cần thiết để xâydựng, phát triển quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam Với những nộidung trên công trình có giá trị khoa học và thực tiễn sâu sắc, góp phần làm rõ truyềnthống đoàn kết hữu nghị đặc biệt giữa hai nước
Trang 19Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Lịch sử
quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam 1930-2007, Bài viết của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Nxb Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội Cuốn sách bao gồm
những bài viết có chọn lọc của các đồng chí là lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận,các tổ chức đoàn thể của Việt Nam và Lào Các bài viết đã toát lên những tư tưởnglớn về quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, thể hiện quan điểm và đường lối lãnh đạohiệu quả Trong cuốn sách có những bài viết liên quan trực tiếp đến nội dung của
Luận án: Trung tướng Chănxamản Chănxalạt “Tình đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn
diện và liên minh vững chắc giữa hai dân tộc Lào – Việt là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng hai nước và mãi trở thành di sản quý báu của hai dân tộc”; Vilayvăn Phômkhê “Liên quân Lào – Việt Nam chiến đấu ngoan cường cùng hiệp đồng tác chiến chặt chẽ tại các địa phương của Lào”…
Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2013), Lịch sử kháng
chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Nxb Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội.
Bộ sách gồm 9 tập đã tái hiện sinh động và đầy đủ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứunước oanh liệt của nhân dân Việt Nam Tập 9 của bộ sách đã khẳng định về tầm vóccũng như bài học lịch sử to lớn từ cuộc kháng chiến chống Mỹ Trong tập 9, chương42: “Liên minh đoàn kết chiến đấu với Lào và Campuchia chống đế quốc Mỹ xâmlược” đã khẳng định liên minh đoàn kết chiến đấu ba nước Đông Dương là tất yếukhách quan, có ý thức, có sự thống nhất chung về đường lối chiến lược và sáchlược Chính sự đoàn kết nhất trí giữa quân và nhân dân ba nước Đông Dương đãlàm nên thắng lợi to lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước “việc ủng hộ,đoàn kết, liên minh, giúp đỡ lẫn nhau, cùng chống kẻ thù chung cũng cực kỳ quantrọng và là nhu cầu bức thiết của ba dân tộc anh em, vì đây là một nhân tố căn cốt,bảo đảm cho sự nghiệp cách mạng mỗi nước giành được thắng lợi”
Nguyễn Huy Động (2013), Đảng lãnh đạo xây dựng tuyến đường Trường
Sơn trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Nxb Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà
Nội Tác phẩm đã trình bày quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng tuyến đường TrườngSơn trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Phân tích vai trò quan trọng của tuyến
Trang 20đường như một căn cứ hậu cần, chỗ dựa trực tiếp cho chiến trường miền Nam vàchiến trường các nước Lào, Campuchia Sự phối hợp chiến đấu giữa Việt Nam vàLào trong việc xây dựng, mở rộng tuyến đường Đường Trường Sơn chính là conđường đoàn kết trong chiến đấu của các dân tộc Đông Dương.
Ngoài ra còn có một số đề tài, luận án nghiên cứu về quan hệ Việt Nam – Lào:
Phạm Xanh (1994), Hồ Chí Minh với cách mạng giải phóng dân tộc Lào,
luận án Phó Tiến sĩ khoa học Lịch sử Luận án đã làm nổi bật những cống hiến tolớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh với cách mạng giải phóng dân tộc Lào Và ngược lại,cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Lào dưới ảnh hưởng trực tiếp của Hồ Chí Minh
đã từng bước trưởng thành, lớn mạnh và tác động tích cực trở lại đối với cách mạngViệt Nam, cách mạng ba nước Đông Dương, trở thành ví dụ điển hình cho tínhđúng đắn, sáng tạo của tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc
Lê Đình Chỉnh (2001) “Quan hệ Việt Nam – Lào trong giai đoạn
1954-1975”, luận án Tiến sĩ Lịch sử, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học
Quốc gia Hà Nội Luận án đã trình bày có hệ thống mối quan hệ Việt Nam – Làotrong cách mạng giải phóng dân tộc giai đoạn 1954-1975 Tác giả tập trung nghiêncứu mối quan hệ toàn diện giữa hai Đảng và nhân dân hai nước trong giai đoạn1954-1975 là mối quan hệ đặc biệt Sự hợp tác diễn ra trên tất cả các mặt: quân sự,chính trị, kinh tế, ngoại giao, văn hóa giáo dục Bên cạnh đó, luận án cũng đề cậpđến mối quan hệ ngoại giao giữa hai nhà nước độc lập có chủ quyền Sự giúp đỡ cơbản, toàn diện, liên tục, lâu dài của Việt Nam đối với Lào từ năm 1954 đến 1975 đãgóp phần đưa đến nền độc lập của hai nước Trên cơ sở phân tích tình hình của mỗigiai đoạn, luận án đã nêu một số đặc điểm và kết luận về sự thành công của mốiquan hệ đặc biệt: cả Việt Nam và Lào đều cùng có chung kẻ thù, có mục tiêu giốngnhau là đấu tranh giành độc lập; Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Nhân dân cáchmạng Lào là hai đảng có nguồn gốc từ Đảng Cộng sản Đông Dương trước đây; mốiquan hệ đoàn kết đặc biệt Việt Nam – Lào là quan hệ tự giác, toàn diện bao gồm cáclĩnh vực chính trị, quân sự, ngoại giao, kinh tế, văn hóa; sự đa dạng trong mối quan
Trang 21hệ Việt Nam – Lào; trong giai đoạn mới, quan hệ Việt Nam – Lào mang những nộidung và đặc điểm mới
Phan Trung Kiên (2009), “Nắm vững đường lối quốc tế của Đảng – nguyên
tắc quan trọng nhất của Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam giúp Lào”, Tạp chí Lịch sử Quân sự, số 11 Bài báo đã khẳng định nguyên nhân quan
trọng nhất giúp Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam hoàn thành xuấtsắc nhiệm vụ quốc tế tại Lào chính là sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ của Trung ươngĐảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh Quân độinhân dân Việt Nam Đó là: quán triệt sâu sắc đường lối của Đảng Cộng sản ViệtNam và tư tưởng Hồ Chí Minh “Giúp Bạn là mình tự giúp mình”; đoàn kết đặc biệtViệt Nam – Lào trong xây dựng và chiến đấu thắng lợi, bảo vệ vững chắc thành quảcủa Cách mạng Lào; thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của Quân tình nguyện vàChuyên gia quân sự
PGS.TS Nguyễn Mạnh Hà (2012),”Quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào về
quân sự trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1954-1975)”, Tạp
chí Lý luận chính trị, số 09: bài viết đã khái quát về những chiến thắng của ViệtNam – Lào trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đánh bại cácchiến lược chiến tranh của Mỹ: “chiến tranh đặc biệt” và “chiến tranh đặc biệt tăngcường” ở Lào, “Việt Nam hóa chiến tranh” ở Việt Nam Những chiến thắng đó mộtlần nữa khẳng định sự hợp tác về quân sự giữa Việt Nam và Lào trong hai cuộckháng chiến là một tất yếu khách quan, trở thành điển hình mẫu mực về quan hệđoàn kết, liên minh chiến đấu giữa hai nước có độc lập, chủ quyền và tôn trọng lẫnnhau
Ngoài ra các bài báo của các tác giả: Trần Văn Thìn (2005), “Quân khu 4 với
nhiệm vụ quốc tế ở Lào”, Tạp chí Lịch sử Quân sự; Nguyễn Xuân Ớt (2005), “Quá trình thành lập Đảng Nhân dân Lào”, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 03; Nguyễn Xuân
Ớt (2005), “Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người đặt nền móng cho quan hệ Việt – Lào”, Tạp chí Lịch sử Quân sự; Ngô Quốc Tuấn (12/2005), “Quá trình thành lập Đảng
Trang 22Nhân dân Lào”, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 03,…cũng đề cập đến những nội dung cơ
bản trong mối quan hệ Việt Nam – Lào
Các công trình của các tác giả nước ngoài liên quan đến vấn đề nghiên cứu:
J.Pimlott (1997), Việt Nam những trận đánh quyết định, Nxb Trung tâm
Thông tin Khoa học - Công nghệ - Môi trường, Bộ Quốc phòng dịch Công trình mô
tả 17 trận đánh được tác giả coi là “có ý nghĩa quyết định” trên cả hai miền Nam –Bắc trong cuộc chiến tranh Việt Nam Một trong những trận đánh có ý nghĩa quyếtđịnh đó là cuộc hành quân Lam Sơn 719, đề cập đến sự phối hợp chiến đấu giữacách mạng hai nước Việt Nam và Lào trên mặt trận đường 9 – Nam Lào
Nigel Cawthorne (2007), Chiến tranh Việt Nam – được và mất, người dịch Thanh Xuân, Nxb Đà Nẵng Trong mục 9: “Mở rộng địa thế”, phần địa thế của Lào
đã đề cập đến tình đoàn kết chiến đấu giữa Việt Nam và Lào trong việc đánh bạicuộc hành quân Lam Sơn 719 của Mỹ vào Đường 9 – Nam Lào Đường mòn HồChí Minh chạy dọc trên đất Lào có ý nghĩa quan trọng đối với cách mạng Việt Nam
và cách mạng Lào, do đó, Mỹ luôn tìm cách phá nguồn tiếp tế qua đây Kết quả làLào bị Mỹ lôi kéo vào một cuộc chiến tranh lớn hơn Hàng chục tấn bom đã bị némxuống Lào, tuy nhiên với tinh thần đoàn kết của nhân dân hai nước Việt Nam vàLào đã làm nên chiến thắng lịch sử Đường 9 – Nam Lào, đã làm cho Mỹ bị thiệt hạinặng nề và buộc phải rút lui
Gabriel Kolko (2003), Nguyễn Tấn Cưu dịch, Giải phẫu một cuộc chiến
tranh, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Trong phần 5 của cuốn sách, tác giả đã nói
về cuộc hành quân Lam Sơn 719 Lam Sơn 719 được Kit-xinh-giơ nhận định là
“một thất vọng buồn thảm” và “Lào đã bộc lộ nhiều thiếu sót dai dẳng của họ (ViệtNam Cộng hòa)” Hơn nữa, Lam Sơn 719 còn “bộc lộ sự bất lực của quân đội ViệtNam Cộng hòa trong việc phối hợp một chiến dịch lớn và trong việc sử dụng ưu thếhỏa lực một cách hợp lý” Những ảo tưởng của chính quyền Ních-xơn về tiềm lựccủa Việt Nam Cộng hòa đã đưa đến việc mở các chiến dịch ở Lào, Campuchia và vìvậy đã làm lộ những điểm yếu quân sự nghiêm trọng của Việt Nam Cộng hòa trongcuộc chiến tranh đã được mở rộng ra toàn Đông Dương
Trang 23Một số công trình nghiên cứu của nước ngoài: Adams, Nina S., McCoy,
Alfred W., edc (1970), Laos: War and Revolution, Harper Colophon Book Series,
CN 221, New York, Harper and Row; Chinnery P.D (1994), The secret war in Laos
1967-1968, England: Airlife; D.Welsh (1981), The history of the Vietnam war,
London: Bison books limited; Langer, Paul F and Zasloff, Joseph J (1970), North
Vietnam and the Pathet Laos: Patners in the struggle for Laos, Cambridge, Mass.:
Harvard University Press; Grant Evans (2002), A short History of Laos: the Land in
between, Silkworm Books, Thailand; Patterson, David S (1998) Laos/David
S.Patterson - Washington: Bộ Ngoại giao Mỹ; Volume XXVIII, 1998; Glennon,
John P.(1992), East Asia Pacific region; Cambodia; Laos/John P.Glennon
-Washington: Bộ Ngoại giao Mỹ, Volume XVI,… Các công trình đã đề cập đếnnhững khía cạnh khác nhau của các mạng Lào và cách mạng Việt Nam, qua đó thấyđược những nội dung cơ bản liên quan đến mối quan hệ Việt Nam – Lào, cũng nhưliên minh chiến đấu Việt Nam – Lào
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về liên minh chiến đấu Việt Nam – Lào
và sự lãnh đạo của Đảng đối với liên minh chiến đấu Việt Nam – Lào
Những chặng đường thắng lợi của cách mạng Lào (1977), Nxb Sự thật, Hà
Nội: giới thiệu về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và cuộc khángchiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Lào Mỗi thắng lợi của cách mạng Lào đều
có sự giúp đỡ, phối hợp chiến đấu của cách mạng Việt Nam cho đến ngày thắng lợihoàn toàn, thành lập nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào
Tình nghĩa Việt Nam – Lào mãi mãi bền vững hơn núi hơn sông (1978), Nxb
Sự thật, Hà Nội: bao gồm những bài phát biểu của các đồng chí lãnh đạo hai Đảngtrong chuyến đi thăm chính thức nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào của lãnhđạo Việt Nam Trong bài diễn văn của mình, đồng chí Cayxỏn Phômvihản nêu rõ:thắng lợi của cách mạng Việt Nam cũng như của cách mạng Lào không tách khỏi sựgiúp đỡ lẫn nhau giữa hai Đảng và nhân dân hai nước anh em Điều này hoàn toànphù hợp với quy luật phát triển của cách mạng, với lợi ích chính đáng và nguyệnvọng sâu xa của nhân dân hai nước Từ đó khẳng định trong thời đại mới cần không
Trang 24ngừng tăng cường tình đoàn kết và tin cậy lẫn nhau, hợp tác lâu dài và giúp đỡ nhau
về mọi mặt, gắn bó với nhau không chỉ trong cách mạng giải phóng dân tộc mà còntrong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa
Hoàng Văn Thái (1983), Liên minh đoàn kết chiến đấu Việt Nam – Lào –
Campuchia, Nxb Sự thật, Hà Nội: xuất phát từ mối quan hệ đặc biệt giữa ba nước
Việt Nam – Lào – Campuchia, tác giả đã trình bày hai nội dung chủ yếu: Phần thứnhất: Liên minh ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia là một tất yếu khách quan, làquy luật tồn tại và phát triển của ba dân tộc Liên minh đoàn kết chiến đấu nàykhông phải xuất phát từ ý muốn chủ quan mà bắt nguồn từ yếu tố khách quan, cócội nguồn trong quan hệ tự nhiên về địa lý, xã hội, lịch sử của ba nước Từ khi cóĐảng của giai cấp công nhân lãnh đạo, liên minh của ba nước đã thật sự hình thành
và phát triển Đây được coi là quy luật tồn tại và phát triển của ba dân tộc, là nhân
tố thắng lợi của cách mạng ba nước Phần thứ hai: Củng cố và tăng cường liên minh
ba nước là nhân tố bảo đảm vững chắc cho thắng lợi của ba nước trong công cuộcxây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Trong nội dung này, tác giả đã kháiquát đặc điểm liên minh ba nước Đông Dương trong giai đoạn cách mạng mới liênquan đến vấn đề luận án nghiên cứu: 1 Ba dân tộc Việt Nam, Lào, Campuchia đãgiành được hoàn toàn độc lập, đã tổ chức nhà nước của mình, dưới sự lãnh đạo củaĐảng Mác xít chân chính, đang tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổquốc xã hội chủ nghĩa; 2 Liên minh ba nước là một bộ phận hợp thành của liênminh quốc tế các nước xã hội chủ nghĩa, liên minh các lực lượng cách mạng thếgiới, trong điều kiện sức mạnh tổng hợp của ba dòng thác cách mạng hơn hẳn cácthế lực đế quốc và phản động Từ đó, tác giả nêu lên những nguyên tắc chiến lượccủa liên minh: 1 Hoàn toàn bình đẳng, đoàn kết, hợp tác toàn diện, lâu dài và giúp
đỡ lẫn nhau về mọi mặt; 2 Tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ củanhau; 3 Tôn trọng lợi ích chính đáng của nhau, vì lợi ích cách mạng mỗi nước đồngthời vì lợi ích cách mạng của ba nước, lợi ích của cách mạng thế giới
Liên minh đoàn kết chiến đấu đời đời bền vững (1984), Nxb Quân đội nhân
dân, Hà Nội Cuốn sách đã đề cập đến những văn kiện: Tuyên bố của Hội nghị cấp
Trang 25cao ba nước Đông Dương, Tuyên bố chung Việt Nam – Lào, Tuyên bố chung ViệtNam – Campuchia, Hiệp ước hữu nghị và hợp tác Việt Nam – Lào, Hiệp ước hòabình, hữu nghị và hợp tác Việt Nam – Campuchia, các bài phát biểu của các đồngchí lãnh đạo quân đội ba nước Đông Dương Qua đó, đã khẳng định mối quan hệViệt Nam – Lào mãi mãi bền vững hơn núi hơn sông, một mối quan hệ đặc biệt,mẫu mực hiếm có, vô cùng trong sáng và rất mực thủy chung Mỗi thắng lợi củacách mạng Việt Nam không tách rời thắng lợi của cách mạng Lào và ngược lại, mỗithắng lợi của cách mạng Lào không thể tách rời thắng lợi của cách mạng Việt Nam.Điều đó đã trở thành quy luật phát triển, có ý nghĩa sống còn đối với vận mệnh củamỗi dân tộc
Dương Đình Lập (chủ biên) (1999), Lịch sử các đoàn Quân tình nguyện và
chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào 1954-1975, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.
Công trình chủ yếu đề cập đến liên minh Việt Nam – Lào trên lĩnh vực quân sự.Đồng thời, trình bày những vấn đề về những hoạt động chủ yếu của Quân tìnhnguyện và các đoàn chuyên gia quân sự Việt Nam làm nhiệm vụ quốc tế trên chiếntrường Lào, xây dựng, phát triển lực lượng quân sự, chính trị, xây dựng căn cứkháng chiến; phối hợp với chiến trường Lào chiến đấu giành thắng lợi từng bước,tiến tới đánh bại các chiến lược chiến tranh của Mỹ
Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (1999), Lịch sử các đoàn
Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam giúp Lào 1954-1975: Đoàn 100: cố vấn quân sự, Đoàn 959: chuyên gia quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, Hà
Nội Cuốn sách đã phản ánh những năm tháng làm nhiệm vụ quốc tế trên đất bạnLào của Đoàn 100 và Đoàn 959: Đoàn 100 – Cố vấn quân sự: tích cực giúp Bạn xâydựng quân đội, củng cố hai tỉnh phát huy sức mạnh và khả năng tự lực của Bạn,giúp hòa hợp các lực lượng Pathet Lào với quân đội Vương quốc Đến năm 1958,Đoàn 100 hoàn thành nhiệm vụ và trở về nước; Đoàn 959 – Chuyên gia quân sự: cóvai trò quan trọng trong việc giúp Lào đánh bại âm mưu can thiệp của Mỹ, thựchiện hòa hợp dân tộc lần 2 (1959-1963), giúp Lào xây dựng lực lượng vũ trang,phối hợp với Quân tình nguyện Việt Nam đánh bại “chiến tranh đặc biệt” và “chiến
Trang 26tranh đặc biệt tăng cường” của đế quốc Mỹ, giải phóng hoàn toàn đất nước Từ việcphân tích vai trò của Đoàn 100 và Đoàn 959, cuốn sách đã nêu lên những bài học
kinh nghiệm trong quá trình giúp Bạn: thứ nhất, nắm vững quan điểm đường lối,
chủ trương giúp cách mạng Lào của Đảng, kinh nghiệm xây dựng và chiến đấu của
quân đội ta để vận dụng giúp Bạn; thứ hai, dựa vào đường lối chủ trương của Đảng Bạn, giúp quân đội Pathet Lào trưởng thành và chiến đấu thắng lợi; thứ ba, quán triệt đúng đắn phương châm giúp Bạn; thứ tư, không ngừng chăm lo xây dựng bộ
đội ngày càng trưởng thành để giúp Bạn
Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (2006), Lịch sử các đoàn
335, 766, 866 Quân tình nguyện và 463, 565 chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào (1954-1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Cuốn sách đã cung cấp cái nhìn khá
toàn diện về những mặt hoạt động chủ yếu theo tiến trình hình thành, phát triển củacác đoàn và những đóng góp to lớn của các chiến sĩ Quân tình nguyện và chuyêngia quân sự Việt Nam trên chiến trường Thượng Lào (Đoàn 335 Quân tình nguyện,thành lập tháng 10/1954), Cánh đồng Chum – Xiêng Khoảng (Đoàn 463 chuyên giaquân sự, thành lập ngày 15/4/1963), Nam Lào (Đoàn 565 chuyên gia quân sự, thànhlập ngày 19/5/1965), Sầm Nưa (Đoàn 766 Quân tình nguyện, thành lập ngày03/7/1966), Cánh đồng Chum – Xiêng Khoảng (Đoàn 866 Quân tình nguyện, thànhlập ngày 17/8/1966), giúp Bạn tổ chức, xây dựng lực lượng chính trị quân sự, xâydựng căn cứ kháng chiến; cùng các đơn vị quân đội và nhân dân các bộ tộc Làophối hợp với quân chủ lực Việt Nam chiến đấu, giành thắng lợi từng bước, đưa cuộckháng chiến chống Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn trong năm 1975
Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Ban liên lạc Quân tình
nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam giúp Lào (2010), Quân tình nguyện và
chuyên gia quân sự Việt Nam giúp Lào, Biểu tượng tình đoàn kết đặc biệt, liên minh chiến đấu Việt – Lào, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Cuốn sách bao gồm
những bài viết tập trung vào chủ đề của Hội thảo: “Quân tình nguyện và chuyên gia
quân sự Việt Nam giúp Lào, Biểu tượng tình đoàn kết đặc biệt, liên minh chiến đấu Việt Nam – Lào” trong đó có nhiều bài viết cung cấp những nội dung quan trọng
Trang 27cho luận án Trung tướng Sẳnhanhắc Phômvihản trong bài viết Đoàn kết, liên minh
chiến đấu giữa nhân dân và quân đội Lào – Việt – Một nhân tố quyết định thắng lợi
đã khẳng định những thắng lợi của cách mạng Lào đều có sự tham gia giúp đỡ củaQuân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam, vượt qua mọi khó khăn củacuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ Quân tình nguyện Việt Namchiến đấu trên đất Lào là biểu tượng cao đẹp của mối quan hệ Lào – Việt Nam.Tổng Bí thư Cayxỏn Phômvihản đã nói: các chiến sĩ quốc tế đặc biệt của Việt Namchấp hành chỉ thị của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêucao tinh thần quốc tế vô sản trong sáng, yêu nhân dân Lào như cha mẹ, anh em ruộtthịt của mình, đồng cam cộng khổ, “hạt muối cắn đôi, cọng rau bẻ nửa” PGS.TSNguyễn Đình Lê đã nêu lên những đặc điểm của liên minh đoàn kết chiến đấu đặc
biệt Việt Nam – Lào trong bài viết Một số đặc điểm của liên minh đoàn kết chiến
đấu đặc biệt Việt – Lào: liên minh đoàn kết chiến đấu Việt Nam – Lào xuất phát từ
nhu cầu khách quan của lịch sử, hai nước láng giềng, có quan hệ tự nhiên về địa lý,
có nhiều nét tương đồng về văn hóa và cùng chung kẻ thù trong cuộc đấu tranh giảiphóng dân tộc; liên minh đoàn kết chiến đấu trên tinh thần quốc tế vô sản trongsáng; liên minh đoàn kết Việt Nam – Lào ngày càng bền chặt, được rèn luyện quathử thách trong suốt chiều dài chống ngoại xâm; trên cơ sở lý tưởng chung, sứcmạnh chung, trong đó cách mạng Việt Nam đóng vai trò quyết định, cách mạng Làogiữ vai trò quan trọng Vì vậy, liên minh đoàn kết chiến đấu đặc biệt Việt Nam –Lào trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ là hiện tượngđộc đáo, để lại cho Đảng, quân đội và nhân dân hai nước nhiều bài học kinh nghiệmquý báu
Bộ Quốc phòng nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, Bộ Quốc phòng nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), Đoàn kết liên minh chiến đấu đặc biệt
giữa quân đội hai nước Lào – Việt Nam, Việt Nam – Lào – Thực tiễn và bài học kinh nghiệm, Nxb Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội Cuốn sách bao gồm những
bài tham luận tập trung vào chủ đề chính là liên minh đoàn kết chiến đấu đặc biệtgiữa quân đội hai nước Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam, quá trình xây dựng, chiến
Trang 28đấu, trưởng thành và chiến thắng vẻ vang, từ đó rút ra ý nghĩa lịch sử và bài họckinh nghiệm của liên minh chiến đấu đặc biệt Lào – Việt Nam, Việt Nam – Lào.Trong cuốn sách có nhiều bài viết liên quan đến nội dung của luận án: Trung tướng
Chăn Sạ Mỏn Chăn Nhạ Lạt với bài viết Liên minh chiến đấu đặc biệt giữa quân
đội hai nước Lào – Việt Nam, Việt Nam – Lào – Nhân tố quan trọng góp phần vào thắng lợi trong sự nghiệp giải phóng đất nước và bảo vệ tổ quốc của hai dân tộc;
Đại tá Nguyễn Viết Bình với bài Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và
Đảng Nhân dân cách mạng Lào – Nhân tố quyết định thắng lợi của liên minh chiến đấu giữa hai quân đội Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam; Thiếu tướng Lương Sỹ
Nhung với bài viết Tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn – đường Hồ Chí minh, bức
tượng đài sống động và trường tồn mãi mãi về tình đoàn kết chiến đấu đặc biệt giữa nhân dân và quân đội hai nước Việt Nam – Lào; Thiếu tướng, PGS.TS Vũ
Quang Đạo với bài viết Đoàn kết liên minh chiến đấu đặc biệt giữa quân đội hai
nước Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam, những bài học kinh nghiệm Sự thống nhất
về chủ trương, đường lối của hai Đảng, hai Nhà nước trong lãnh đạo quân đội đoànkết chiến đấu là nhân tố then chốt quyết định mọi thắng lợi của sự nghiệp đấu tranhgiải phóng dân tộc Cán bộ chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam thực hiện liênminh đoàn kết chiến đấu với Quân đội nhân dân Lào luôn quán triệt sâu sắc đườnglối, quan điểm đoàn kết quốc tế của Đảng Lao động Việt Nam và Chủ tịch Hồ ChíMinh, ngược lại, cán bộ chiến sĩ Quân đội nhân dân Lào phải chủ động phối hợp vàtạo mọi điều kiện cho bộ đội Việt Nam hoàn thành nhiệm vụ; phải thường xuyêntăng cường công tác giáo dục cán bộ, chiến sĩ quân đội hai nước thực hiện đúngchức năng, nhiệm vụ, trong quá trình đoàn kết chiến đấu, không ngừng xây dựng vànâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ, chiến sĩ thực hiện nhiệm vụ đoàn kết, hợp tác,giúp đỡ lẫn nhau trong tình hình mới
Một số đề tài luận án và các bài báo nghiên cứu về liên minh chiến đấu Việt Nam – Lào:
Ths Nguyễn Xuân Ớt (2006) “Liên minh chiến đấu Việt Nam – Lào trong
thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) – Lịch sử và kinh nghiệm”,
Trang 29đề tài cấp Bộ do Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh chủtrì Đề tài đã dựng lại bức tranh chân thực sống động quá trình liên minh chiến đấuViệt Nam – Lào trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) trên cáclĩnh vực chủ yếu: kinh tế, quân sự, văn hóa, giáo dục Ở mỗi chương, tác giả đãphân tích sâu về âm mưu thủ đoạn của Mỹ và tay sai, quá trình giúp Lào hoạch địnhđường lối chính trị, xây dựng Đảng, xây dựng lực lượng, đào tạo cán bộ,… phốihợp chiến đấu Từ những thắng lợi to lớn đã đạt được của cách mạng hai nước, đề
tài đã tổng kết, rút ra những bốn bài học kinh nghiệm: một là, “giúp bạn là tự giúp
mình”, nêu cao chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế vô sản, đấu tranh phòngchống mọi tư tưởng nước lớn, tư tưởng dân tộc hẹp hòi, thực hiện bình đẳng giữa
các dân tộc, tôn trọng độc lập, chủ quyền và lợi ích chính đáng của nhau; hai là,
sớm xác định Đông Dương là một chiến trường, miền Nam Việt Nam là chiếntrường chính, miền Bắc Việt Nam vừa là chiến trường, vừa là hậu phương lớn của
các chiến trường Đông Dương,…; ba là, liên minh chiến đấu Việt Nam – Lào là quy luật tồn tại và phát triển của cách mạng mỗi nước; bốn là, cách mạng Lào phải
do người Lào tự làm lấy
Lê Văn Phong (2007), “Liên minh chiến đấu Việt Nam – Lào trong 30 năm
chiến tranh giải phóng – Biểu tượng sinh động của mối quan hệ và tình đoàn kết đặc biệt”, Tạp chí Khoa học quân sự, đã khái quát quá trình thành, phát triển và
những thắng lợi của cách mạng Lào với sự tham gia của liên minh chiến đấu ViệtNam – Lào Từ đó, thấy rõ vai trò quan trọng của liên minh trong sự phát triển củacách mạng Lào
PGS.TS Trình Mưu (2008), “Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và
Đảng Nhân dân cách mạng Lào quyết định thắng lợi của liên minh Việt Nam – Lào”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 12, đã phân tích sự hình thành và phát triển của
liên minh chiến đấu Việt Nam – Lào dựa trên những điều kiện khách quan về địa lý,địa lịch sử, địa chính trị và địa nhân văn Bài viết khẳng định liên minh là nhu cầu
tự nhiên của hai Đảng Liên minh này thể hiện rõ nhất trong ba thời kỳ: thời kỳ các
tổ chức cộng sản ở hai nước cùng chung sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông
Trang 30Dương chống thực dân Pháp; thời kỳ hai Đảng phối hợp, chia sẻ kinh nghiệm chiếnđấu chống đế quốc Mỹ; thời kỳ hai Đảng hợp tác, liên minh lãnh đạo công cuộc xâydựng chủ nghĩa xã hội Trên cơ sở đó, tác giả khẳng định, sự lãnh đạo của hai Đảng
là nhân tố quyết định thắng lợi của liên minh Việt – Lào Sự lãnh đạo của hai Đảng
trong liên minh được thể hiện trên các mặt sau: thứ nhất, đề ra đường lối chiến lược,
sách lược, đúng đắn phù hợp với điều kiện lịch sử của mỗi Đảng, mỗi nước và yêu
cầu chung của thời đại; thứ hai, sự lãnh đạo của hai Đảng trong liên minh đã tạo ra
sự phối hợp chiến trường, hợp sức chia sẻ lẫn nhau cùng giành thắng lợi; thứ ba, sự
lãnh đạo phối hợp của hai Đảng trong xây dựng căn cứ địa và hậu phương – yếu tố
quan trọng cho thắng lợi của sự nghiệp cách mạng và kháng chiến của hai nước; thứ
tư, phối hợp chặt chẽ trong đấu tranh chính trị và hoạt động đối ngoại, ngăn chặn và
làm thất bại mọi mưu toan bao vây, cô lập, chia rẽ cách mạng hai nước Thực tiễnlịch sử quan hệ liên minh chiến đấu giữa hai Đảng, hai nước đã để lại nhiều bài họcquý giá
PGS.TS Phạm Hồng Phi (10/2012), “Tình đoàn kết chiến đấu của quân và
dân hai dân tộc Việt Nam và Lào trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ
Tổ quốc”, Tạp chí Thông tin khoa học, đã nêu lên những nét khái quát về tình đoàn
kết liên minh chiến đấu chống kẻ thù chung của quân và dân hai dân tộc Việt Nam –Lào: 1 Tình đoàn kết, liên minh chiến đấu Việt Nam – Lào là một tất yếu kháchquan được hình thành từ rất sớm trong lịch sử dựng nước và giữ nước của hai dântộc; 2 Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam giúp Lào – biểu tượngtình đoàn kết đặc biệt, liên minh chiến đấu Việt Nam – Lào; 3 Liên minh chiến đấuViệt Nam – Lào, Lào – Việt Nam góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiếnchống Mỹ, cứu nước ở Việt Nam
Đại tá, TS Trần Văn Thức (3/2013), “Chiến thắng Thượng Lào – Một mốc
son trong lịch sử liên minh, đoàn kết chiến đấu Việt Nam – Lào”, Tạp chí Lịch sử
quân sự, số 255, đã phân tích quá trình phối hợp liên minh chiến đấu giữa các đơn
vị chủ lực của Việt Nam, Quân tình nguyện Việt Nam với các đơn vị Quân giảiphóng Pathet Lào trong chiến thắng Thượng Lào Đây là chiến thắng của bộ đội chủ
Trang 31lực Việt Nam lần đầu tiên sang giúp Bạn Chiến thắng Thượng Lào có ý nghĩa quantrọng đối với sự phát triển của cách mạng Lào Đồng thời đây cũng là thắng lợi củatinh thần quốc tế vô sản, của tinh thần đoàn kết giữa hai dân tộc và hai quân độiViệt Nam – Lào
PGS.TS Hồ Khang (10/2014), “Quân tình nguyện Việt Nam sát cánh với
nhân dân Lào anh em trên những chặng đường lịch sử”, Tạp chí Quốc phòng toàn
dân: trong cuộc kháng chiến cách mạng Lào, Quân tình nguyện Việt Nam đã kề vaisát cánh cùng làm nên những thắng lợi lớn vì độc lập, tự do và xây dựng đất nước
Từ thực tiễn lịch sử, tác giả cũng đã rút ra những bài học kinh nghiệm lịch sử: thứ
nhất, luôn tôn trọng những nguyên tắc tôn trọng chủ quyền, độc lập, tự chủ của Lào,
đồng thời giữ quan hệ bình đẳng, nêu cao tinh thần “giúp Bạn là mình tự giúp
mình”; thứ hai, việc giúp đỡ cần căn cứ vào đặc điểm, điều kiện cụ thể của Lào, Quân đội Lào từ đó đưa ra biện pháp phối hợp hành động; thứ ba, cán bộ công tác
bên Lào cần tôn trọng phong tục tập quán của Lào, nghiêm chỉnh chấp hành đường
lối, chính sách của Lào; thứ tư, chú trọng giúp Lào phát triển lực lượng, củng cố
thực lực mọi mặt nhằm tăng cường khả năng tự lực cánh sinh theo yêu cầu và chủtrương của Lào
Ngoài ra, một số bài báo của các tác giả: Nguyễn Thành Cung (2012), “Tình
đoàn kết chiến đấu đặc biệt giữa nhân dân và quân đội hai nước Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam – Vấn đề tất yếu của lịch sử”, Tạp chí Lịch sử Quân sự, số 251; Vi
xảy Chăn thạ mạt (2013), “Liên minh chiến đấu giữa quân đội hai nước Lào – Việt
Nam, Việt Nam – Lào – Nhân tố quan trọng góp phần làm nên thắng lợi của chiến dịch Thượng Lào”, Tạp chí Lịch sử Quân sự, số 259, cũng đã nghiên cứu những
khía cạnh khác nhau của mối quan hệ đặc biệt cũng như tình đoàn kết liên minhchiến đấu Việt Nam – Lào, đã cung cấp những nguồn tài liệu quý báu cho luận án
1.2 Nhận xét các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án và những vấn đề luận án tập trung giải quyết
1.2.1 Nhận xét các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Trang 32Đã có nhiều công trình khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu về quan hệViệt Nam – Lào nói chung và liên minh chiến đấu Việt Nam – Lào chống đế quốc
Mỹ xâm lược nói riêng Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, chủ yếu là dođối tượng nghiên cứu rộng, nhiều nội dung nên các công trình chưa tập trung làm rõchủ trương cụ thể của Đảng Lao động Việt Nam trong quá trình lãnh đạo quân dânViệt Nam thực hiện liên minh chiến đấu Việt Nam – Lào chống đế quốc Mỹ xâmlược 1954-1975
Nhóm các công trình nghiên cứu về quan hệ Việt Nam – Lào nói chung: đềcập khá toàn diện về mối quan hệ Việt Nam – Lào trên các lĩnh vực kinh tế, chínhtrị, quân sự, văn hóa, giáo dục, cũng như sự đoàn kết chiến đấu giữa quân đội vànhân dân hai nước trong một số chiến dịch lớn mang tính chiến lược đối với cáchmạng hai nước Điều đó thể hiện mối quan hệ chặt chẽ giữa cách mạng Việt Nam vàcách mạng Lào trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù chung là thực dân Pháp và đếquốc Mỹ xâm lược
Nhóm các công trình nghiên cứu về liên minh chiến đấu Việt Nam – Lào nóiriêng: nghiên cứu về sự đoàn kết mang tính tất yếu khách quan giữa cách mạng ViệtNam và cách mạng Lào, những hoạt động chủ yếu của các đoàn chuyên gia quân sự,Quân tình nguyện làm nhiệm vụ quốc tế trên chiến trường Lào trong các chiến dịch.Qua đó, khẳng định quy luật phát triển, tính tất yếu khách quan có ý nghĩa sống cònđối với cách mạng hai nước trong hai cuộc kháng chiến
Xét tổng thể quá trình chuẩn bị và thực hiện tác chiến giữa chiến trường hainước trong đấu tranh chống kẻ thù chung dưới sự lãnh đạo của hai Đảng, các côngtrình thể hiện khá chi tiết, sinh động, qua đó thấy được sự nỗ lực, quyết tâm cao độcủa cách mạng hai nước Việt Nam và Lào Tuy nhiên, do nhiều cơ quan, tập thể, cánhân biên soạn theo những mục đích, yêu cầu riêng đặt ra nên mỗi công trình tậptrung phản ánh toàn diện mối quan hệ Việt Nam – Lào một cách có hệ thống, hoặcphản ánh từng khía cạnh riêng lẻ của liên minh chiến đấu Việt Nam – Lào dưới sựlãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam
Trang 33Trong một số công trình cũng đã đề cập đến ý nghĩa lịch sử, sự tác động củaquan hệ Việt Nam – Lào hoặc liên minh chiến đấu Việt Nam – Lào đến cuộc cáchmạng mỗi nước Tuy nhiên, những công trình đó chỉ dừng lại trên phạm vi toàn diệncủa mối quan hệ, chưa đi sâu nghiên cứu luận giải ý nghĩa to lớn của thắng lợi từ sựlãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam thực hiện liên minh chiến đấu Việt Nam –Lào đến sự thay đổi trong các kế hoạch chiến lược của Mỹ.
Trong một số công trình đã có sự nghiên cứu cả về quan hệ Việt Nam – Làonói chung và liên minh chiến đấu Việt Nam – Lào nói riêng đều đã nêu lên nhữngbài học kinh nghiệm nhưng vẫn chủ yếu là bài học từ việc lãnh đạo mối quan hệViệt Nam – Lào một cách toàn diện, còn liên quan trực tiếp đến quá trình Đảng lãnhđạo quân dân Việt Nam thực hiện liên minh chiến đấu Việt Nam – Lào mới chỉđược đề cập ở một mức độ nhất định nào đó
Trong những công trình nghiên cứu, những ưu điểm và hạn chế trong quátrình thực hiện mối quan hệ Việt Nam – Lào đã được đề cập đến, tuy nhiên những
ưu điểm và hạn chế của quá trình Đảng lãnh đạo quân dân Việt Nam thực hiện liênminh chiến đấu Việt Nam – Lào chống đế quốc Mỹ xâm lược được đề cập rất íthoặc hầu như không có
Những kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố là cơ sở quan trọng
để nghiên cứu sinh kế thừa, phục vụ cho mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đã đề ra
1.2.2 Những vấn đề luận án tập trung giải quyết
Luận án đã kế thừa những nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước và tiếptục tập trung nghiên cứu nhiều nội dung mới, cụ thể như sau:
- Tính khách quan của liên minh chiến đấu Việt Nam – Lào và quá trìnhĐảng lãnh đạo quân dân Việt Nam thực hiện liên minh chiến đấu Việt Nam – Làođánh bại đế quốc Mỹ xâm lược (1954-1975) Trong sự lãnh đạo đó, luôn có sựthống nhất giữa chủ trương và hành động, sự phối hợp chiến đấu giữa chiến trườnghai nước trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc
- Những nhân tố tác động tới chủ trương của Đảng Lao động Việt Nam lãnhđạo quân dân Việt Nam thực hiện liên minh chiến đấu Việt Nam – Lào; phân tích,
Trang 34luận giải một cách có hệ thống chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng đối với quân dânViệt Nam trong quá trình thực hiện liên minh chiến đấu Việt Nam – Lào đánh bạicác chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ từ năm 1954 đến năm 1975 Trên cơ sở
đó, khẳng định sự lãnh đạo của Đảng là đúng đắn, kịp thời, phù hợp và sáng tạo,làm phong phú thêm cơ sở lý luận và thực tiễn cho mối quan hệ Việt Nam – Làotrong giai đoạn hiện nay
- Những ưu điểm, hạn chế trong quá trình Đảng lãnh đạo quân dân Việt Namthực hiện liên minh chiến đấu Việt Nam – Lào từ năm 1954 đến năm 1975, cũngnhư những bài học kinh nghiệm trong sự lãnh đạo của Đảng về vấn đề này Nhữngbài học đó có giá trị to lớn trong việc phát triển mối quan hệ đặc biệt Việt Nam –Lào trong những giai đoạn tiếp theo
Đây là những cách tiếp cận mới mà tác giả tập trung nghiên cứu trong luận
án: Đảng lãnh đạo thực hiện liên minh chiến đấu Việt Nam – Lào chống đế quốc
Mỹ xâm lược (1954-1975), góp phần đánh giá rõ hơn vai trò của Đảng Lao động
Việt Nam đối với những thắng lợi của cuộc cách mạng hai nước Việt Nam và Lào
Trang 35Tiểu kết chương 1
Lào và Việt Nam là hai nước vốn có quan hệ hữu nghị từ lâu đời, cùng chunglưng đấu cật, giúp đỡ lẫn nhau trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp cũng nhưtrong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước Từ khi có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sảnĐông Dương (tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân cáchmạng Lào), tình đoàn kết chiến đấu của nhân dân hai nước được phát triển lên mộtgiai đoạn mới Liên minh đoàn kết chiến đấu đó được coi như là một quy luật pháttriển của cách mạng hai nước, là một trong những nhân tố cơ bản để đánh thắng mọi
kẻ thù, giành độc lập tự do của mỗi nước Cuộc đấu tranh anh dũng của nhân dânLào không chỉ có tác dụng thúc đẩy cách mạng Lào giành độc lập, tự do, mà còngóp phần hỗ trợ cách mạng Việt Nam giành thắng lợi hoàn toàn trong sự nghiệp giảiphóng dân tộc, thống nhất đất nước
Xuất phát từ điều đó, trong nhiều năm trở lại đây, đã có nhiều công trìnhkhoa học nghiên cứu về mối quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào nói chung và liênminh đoàn kết chiến đấu Việt Nam – Lào nói riêng trên nhiều phương diện, khíacạnh Bên cạnh đó, vấn đề Đảng lãnh đạo quân dân Việt Nam thực hiện liên minhchiến đấu Việt Nam – Lào chống đế quốc Mỹ xâm lược (1954-1975) cũng nhậnđược sự quan tâm, phân tích, luận giải của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước
Về tổng thể, các công trình khoa học đã làm sáng tỏ rõ những vấn đề chung
về mối quan hệ Việt Nam – Lào, cũng như những vấn đề riêng về liên minh chiếnđấu Việt Nam – Lào trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước Trên cơ sở những vấn
đề đã được nghiên cứu, tác giả đã có sự kế thừa những nội dung liên quan đến quátrình Đảng lãnh đạo quân dân Việt nam thực hiện liên minh chiến đấu Đồng thời,dưới góc độ nghiên cứu Lịch sử Đảng, luận án cũng tập trung nghiên cứu nhữngyếu tố tác động, chủ trương và sự chỉ đạo quân dân Việt Nam trong thực hiện liênminh chiến đấu chống đế quốc Mỹ xâm lược (1954-1975) của Đảng Lao động ViệtNam
Trang 36Chương 2 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI QUÂN DÂN VIỆT NAM THỰC HIỆN LIÊN MINH CHIẾN ĐẤU VIỆT NAM – LÀO
TỪ NĂM 1954 ĐẾN NĂM 1965 2.1 Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo và chủ trương của Đảng
2.1.1 Những yếu tố tác động
2.1.1.1 Khái quát về liên minh chiến đấu Việt Nam – Lào trước năm 1954
Trong quan hệ hợp tác giữa các quốc gia trên những lĩnh vực có cùng mụctiêu chung, liên minh chiến đấu – một hiện tượng chính trị - xã hội đã xuất hiện vàphát triển Trong thời đại chống chủ nghĩa đế quốc, liên minh chiến lược và liênminh chiến đấu giữa các lưc lượng cách mạng trên thế giới cũng như ở từng khuvực là một tất yếu khách quan Liên minh chiến đấu là liên minh giữa các lực lượng(quốc gia, dân tộc, tập đoàn chính trị - xã hội) nhằm phối hợp hành động đấu tranh
vũ trang vì những mục đích nhất định Liên minh chiến đấu được thành lập trongthời bình hoặc khi có chiến tranh hoặc khi có nguy cơ đe dọa hòa bình, ổn định khuvực hay trên thế giới; quá trình tồn tại liên minh chiến đấu có thể tiếp tục mở rộnghoặc thu hẹp thành phần liên minh trên cơ sở hiệp định, hiệp ước, tuyên bố, thỏaước, có sự thống nhất tương đối chặt chẽ về mặt tổ chức và thường có một quốc gialàm trụ cột của liên minh Liên minh chiến đấu Việt Nam – Lào được xây dựng trên
cơ sở chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, là sự vận dụng sáng tạovào điều kiện cụ thể của hai nước
Trên thế giới, trong quá trình phát triển của lịch sử, những nước có quan hệ
tự nhiên về địa lý, xã hội và lịch sử thường có mối quan hệ liên minh hoặc liênminh chiến đấu với nhau
Việt Nam và Lào có quan hệ mật thiết với nhau về địa lý, núi liền núi, sôngliền sông, có chung dải Trường Sơn và dòng sông Cửu Long trải dài trên hai nước
Từ xa xưa, hai dân tộc Việt Nam, Lào đã có sự giao lưu với nhau về kinh tế, vănhóa, nhất là các tộc người ở dọc theo biên giới giữa hai nước Việt Nam và Lào làhai quốc gia cùng nằm trên bán đảo Đông Dương – một vị trí chiến lược quan trọng
Trang 37của Đông Nam Á, do đó thường là đối tượng của các thế lực xâm lược Để bảo vệ
sự tồn tại và phát triển của dân tộc mình, nhân dân hai nước Việt Nam, Lào đã liênminh chiến đấu cùng nhau chống lại các cuộc xâm lược đó: cuộc khởi nghĩa MaiThúc Loan (thế kỷ VIII) chống lại sự đô hộ của nhà Đường đã được người Lâm Ấp
và người Chân Lạp ủng hộ; cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (thế kỷ XV) được các bộ tộcLào ở phía Tây Nghệ An giúp vũ khí, lương thực, cho mượn đất làm hậu cứ; năm
1791, Nguyễn Huệ đã đưa quân giúp Vua Lào đánh đuổi quân Xiêm xâm lược, lấylại Viêng Chăn, giành lại chủ quyền cho Vương quốc Lào,…
Vào giữa thế kỷ XIX, Đông Dương là một địa bàn chiến lược quan trọngtrong các kế hoạch bành trướng, xâm lược của chủ nghĩa đế quốc phương Tây (Anh,Pháp, Bồ Đào Nha,…) Ngay từ khi xâm lược Đông Dương, Pháp đã thực hiệnchính sách chia để trị, chia Đông Dương thành năm xứ (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam
Kỳ, Lào, Campuchia) nhằm chia rẽ các nước với nhau Ngay từ ngày đầu bị mấtnước, nhân dân các nước Đông Dương đã anh dũng nổi dậy kháng chiến ở khắp nơi,chống lại kẻ thù chung là thực dân Pháp, gắn bó với nhau trong mục tiêu chung làđộc lập dân tộc Nếu như trước kia, dưới thời vua chúa phong kiến, nhân dân hainước đã nảy sinh một cách tự phát những mối quan hệ chiến đấu cần thiết, thì khi bịthực dân Pháp xâm lược, bất chấp mọi thủ đoạn chia rẽ nham hiểm của kẻ thùchung, nhân dân Việt Nam và Lào càng có ý thức hơn trong việc ủng hộ, giúp đỡnhau chiến đấu Quá trình thực dân Pháp xâm lược bán đảo Đông Dương cũng làquá trình phát triển nhanh chóng từ tự phát lên tự giác của liên minh đoàn kết chiếnđấu giữa các dân tộc trên bán đảo Đông Dương Quá trình chuyển biến đó được đẩymạnh lên một bước mới về chất khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời năm 1930,đánh dấu bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc củanhân dân ba nước
Từ khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời đến thắng lợi của Cách mạngTháng Tám năm 1945 của Việt Nam, liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào phát triểnlên một bước mới Liên minh chiến đấu Việt Nam – Lào ngày càng phát triển lêntầm rộng lớn mang tính chiến lược Qua các cuộc hội nghị, hội đàm giữa lãnh đạo
Trang 38cấp cao hai nước, Bộ Chính trị hai Đảng đã chung tay vạch ra chiến lược chung,thống nhất phối hợp chiến trường, phân công chỉ đạo đấu tranh, giúp xây dựng thựclực cách mạng, phương thức liên minh chiến đấu, cùng mở các chiến dịch theo cácmục tiêu xác định Trên quan điểm “giúp bạn là mình tự giúp mình” của Chủ tịch
Hồ Chí Minh và Đảng Lao động Việt Nam, liên minh chiến đấu Việt Nam – Làothực sự là một liên minh toàn diện, liên tục, lâu dài Nguyên tắc khi xây dựng liênminh chiến đấu Việt Nam – Lào: hoàn toàn bình đẳng, đoàn kết hợp tác toàn diện,lâu dài và giúp đỡ lẫn nhau về mọi mặt; tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹnlãnh thổ của nhau; tôn trọng lợi ích chính đáng của nhau, vì lợi ích cách mạng mỗinước đồng thời vì lợi ích cách mạng của hai nước cũng như lợi ích cách mạng thếgiới Quá trình lớn mạnh của cách mạng mỗi nước gắn liền chặt chẽ với quá trìnhlớn mạnh vững chắc của liên minh chiến đấu Việt Nam – Lào Cơ sở tạo nên sự gắn
bó thủy chung, trước sau như một của liên minh chiến đấu Việt Nam – Lào là haiĐảng, hai dân tộc đã giải quyết đúng đắn, nhất quán mối quan hệ có tính nguyên tắcgiữa dân tộc và giai cấp, chủ nghĩa yêu nước chân chính và chủ nghĩa quốc tế vôsản
Sự trở lại xâm lược của Pháp ở Đông Dương đã đưa hai dân tộc Việt Nam vàLào cùng sát cánh bên nhau chống kẻ thù chung là thực dân Pháp Nhu cầu hợp tác,giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược xuất phát
từ cả hai phía Cuộc đấu tranh bảo vệ nền độc lập của nhân dân mỗi nước cũngchính là cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung vì mục tiêu chung trên cơ sở đôi bêncùng có lợi, đưa sự nghiệp cách mạng hai nước tiến lên
Dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy Lào, từ năm 1944, cơ sở Đảng và quần chúng ởLào được khôi phục, cơ sở cách mạng của Việt kiều ở Lào và Thái Lan được xâydựng vững mạnh, góp phần tích cực trong cuộc vận động cách mạng ở Lào, và tăngcường quan hệ đoàn kết chiến đấu chống kẻ thù chung của hai dân tộc Lào – ViệtNam1
1 Việt kiều ở Lào và Thái Lan trước năm 1945 có khoảng 10 vạn Riêng ở Lào có trên 4 vạn, tập trung ở các thành phố Viêng Chăn, Thà Khẹt, Sa Vẳn, Pạc Xế Tháng 02/1945, Tổng hội Việt kiều cứu quốc Lào – Thái được thành lập với mục đích, nhiệm vụ: động viên mọi lực lượng tham gia cuộc đấu tranh giành độc lập của
Xứ sở và hết sức tham gia ủng hộ cách mạng Lào.(Nguồn: Tổng Cục chính trị Quân đội nhân dân Lào, Cục
Trang 39Trên thực tế, cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược đã bắt đầu ngaytrong quá trình tiến hành tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Lào Bước vào cuộcchiến đấu mới, nhân dân Lào cũng như nhân dân các nước Đông Dương có nhữngđiều kiện thuận lợi: Đảng Cộng sản Đông Dương vẫn là tổ chức lãnh đạo chung, sự
ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; Chính phủ lâm thời Lào Ítxala; sựủng hộ của nhân dân Campuchia Khi thực dân Pháp triển khai kế hoạch xâm chiếmtoàn Đông Dương vào tháng 9/1945, cuộc chiến đấu chống Pháp của nhân dân Lào,nhân dân Việt Nam và nhân dân Campuchia đã hợp thành một chiến trường ĐôngDương thống nhất
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, song Việt Nam đang phải đốidiện với nhiều khó khăn thử thách Để bảo vệ chế độ Dân chủ Cộng hòa, Hồ ChíMinh và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã có đường lối ngoại giao phù
hợp với từng đối tượng kẻ thù và hai nước láng giềng Thông cáo về chính sách
ngoại giao của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đăng trên
báo Cứu quốc ngày 03/10/1945 nêu rõ với hai nước Lào và Campuchia: “lấy dân
tộc tự quyết làm nền tảng, lại càng phải chặt chẽ hơn nữa” Ba nước Đông Dương
“còn có nhiều mối liên hệ về kinh tế nên sẽ giúp đỡ lẫn nhau và sánh vai nganghàng mà tiến hóa” [115, tr.37]
Sau khi Chính phủ lâm thời Ítxala được thành lập, tuyên bố nước Lào độc lập
do Hoàng thân Phết Xa Rạt làm Quốc trưởng, ngày 14/10/1945, Việt Nam Dân chủCộng hòa chính thức công nhận Chính phủ độc lập Lào, thiết lập quan hệ ngoại giaovới nhà nước Lào Tiếp đó, ngày 16/10/1945, hai nước ký kết Hiệp ước tương trợViệt Nam – Lào Đến ngày 30/10/1945, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vàChính phủ Lào ký Hiệp định thành lập Liên quân Lào – Việt Nam do Hoàng thânXuphanuvông làm Tổng chỉ huy Việc ký kết các Hiệp định giữa hai Chính phủ đãtạo cơ sở pháp lý để hai nước hợp tác, liên minh chiến đấu chống quân xâm lược.Tháng 10/1945, Hoàng thân Xuphanuvông tuyên bố Lào và Việt Nam cùng chungmột nguyện vọng duy nhất là có nền độc lập và quyền dân chủ thực sự dưới sự lãnh
Lịch sử Quân sự (1996), Lịch sử Quân đội nhân dân Lào, Nxb Quân đội nhân dân, Viêng Chăn, tr.17)
Trang 40đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương Tuy nhiên, điểm yếu của cách mạng Làotrong giai đoạn này là thiếu cơ sở ở vùng nông thôn và vùng rừng núi – là những địabàn chiến lược quan trọng Chỉ thị về phương châm, phương hướng hoạt động trêncác mặt trận Lào, Miên của Bộ Tổng chỉ huy tháng 3/1948 nhấn mạnh công táctrước mắt là giúp các lực lượng kháng chiến của hai nước xây dựng cơ sở chính trị;coi trọng việc bảo tồn lực lượng; cử cán bộ chính trị, vũ trang tuyên truyền hoạtđộng sâu trong vùng địch tạm chiếm, nếu có điều kiện thì thành lập căn cứ địa vàkhu giải phóng.
Theo yêu cầu của cuộc kháng chiến ở Lào, để đối phó với các kế hoạch đánhchiếm các cứ điểm trên các trục đường chính, các thị xã như Xaravan, Pạc Xế, cáctỉnh Trung và Thượng Lào của Pháp, Liên quân Lào – Việt đã được tổ chức ở nhiềunơi Các đơn vị bộ đội địa phương (Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị)được điều động lên hoạt động tại vùng giáp biên giới Việt – Lào; xây dựng lựclượng ở các thành phố, thị xã ở Lào Tại Viêng Chăn, tập hợp được hơn 600 người,
tổ chức thành 4 đại đội chiến đấu gồm 3 đại đội Việt kiều và một đại đội Lào Ítxala
Xa van na khẹt tập hợp được hơn 200 quân, tổ chức thành hai đại đội chiến đấu củaLào Ítxala và Việt kiều giải phóng quân Thà Khẹt tập hợp được hơn 800 quân, tổchức thành 4 đại đội chiến đấu gồm 2 đại đội Lào Ítxala và 2 đại đội Việt kiều giảiphóng quân Liên quân Lào – Việt, nhân dân Lào đã chiến đấu và bảo vệ các thànhphố, thị trấn: Viêng Chăn, Khăm Cợt, Na Pê, đường 9, Bản Cơn, làm thất bại mộtbước kế hoạch tấn công lấn chiếm của địch, buộc chúng phải co về phòng thủ, giữcác địa bàn đang chiếm đóng Ngoài ra, Ban Chỉ huy Liên quân Lào – Việt còn mởcác lớp huấn luyện quân sự cho dân quân tự vệ, các lớp bồi dưỡng ngắn ngày chocán bộ trung đội, tiểu đội Mặc dù Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chưa cóđiều kiện để đặt quan hệ với Chính phủ Hoàng gia Lào và Chính phủ Hoàng giaCampuchia, nhưng lại có điều kiện thắt chặt mối quan hệ hữu nghị với nhân dân hainước Đáp ứng yêu cầu của cuộc cách mạng Lào, đầu năm 1947, nhiều tỉnh thuộcChiến khu IV của Việt Nam đã tổ chức Ban Biên chính để liên hệ, phối hợp và giúp
đỡ các địa phương Lào tiếp giáp đẩy mạnh đấu tranh Các lực lượng vũ trang tỉnh