1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

HÌNH ẢNH TÂY BẮC TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ DƯỚI GÓC NHÌN TRUYỀN THÔNG PHÁT TRIỂN

141 58 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 141
Dung lượng 3,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với vai trò là một kênh thông tin quan trọng, đáp ứng yêu cầu thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng của Đảng bộ, chính quyền các tỉnh vùng Tây Bắc,

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

TRƯƠNG THỊ PHƯƠNG

HÌNH ẢNH TÂY BẮC TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ DƯỚI GÓC NHÌN

TRUYỀN THÔNG PHÁT TRIỂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

Hà Nội - Năm 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

TRƯƠNG THỊ PHƯƠNG

HÌNH ẢNH TÂY BẮC TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ DƯỚI GÓC NHÌN

TRUYỀN THÔNG PHÁT TRIỂN

Chuyên ngành: Báo chí Mã số : 60320101

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS ĐẶNG THỊ THU HƯƠNG

Hà Nội - Năm 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Đặng Thị Thu Hương

Các số liệu, những đánh giá, phân tích, nhận xét, nghiên cứu được trình bày trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và khách quan, chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào

Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Học viên

Trương Thị Phương

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi sẽ không thể nào tự mình hoàn thành được luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh nếu như không có sự hướng dẫn tận tình của các thầy cô, sự giúp đỡ và hỗ trợ hết mình của bạn bè, đồng nghiệp

Thành quả này, tôi xin phép được gửi lời biết ơn chân thành tới PGS.TS Đặng Thị Thu Hương, người thầy đáng kính đã luôn động viên, khích lệ và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành luận văn Trong quá trình thực hiện, dù tôi có nhiều hạn chế nhưng cô vẫn luôn kiên nhẫn, chỉ bảo giúp tôi có thêm động lực để đi đến cùng con đường nghiên cứu của mình

Tiếp đến, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các thầy cô trong khoa Báo chí và Truyền thông – Trường Đại học KHXH&NV (Đại học Quốc gia Hà Nội) Các thầy

cô đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn các anh/chị, các bạn đồng nghiệp và gia đình đã hỗ trợ cho tôi rất nhiều trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Học viên

Trương Thị Phương

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do lựa chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

2.1.Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 3

2.2.Tình hình nghiên cứu ở trong nước 4

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 7

3.1 Mục đích của đề tài 7

3.2 Nhiệm vụ của đề tài 7

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 7

4.1 Đối tượng nghiên cứu 7

4.2 Phạm vi nghiên cứu 7

5 Cơ sở lý luận và Phương pháp nghiên cứu 8

5.1.Cơ sở lý luận: 8

5.2 Phương pháp nghiên cứu: 8

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 9

6.1 Ý nghĩa lý luận 9

6.2 Ý nghĩa thực tiễn 9

7 Cấu trúc luận văn 10

CHƯƠNG 1 11

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TRUYỀN THÔNG PHÁT TRIỂN VÀ VAI TRÒ CỦA BÁO ĐIỆN TỬ VỚI PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÙNG TÂY BẮC 11

1.1 Một số khái niệm 11

1.2 Truyền thông phát triển: Nội dung và mô hình 20

1.3 Đặc điểm của Tây Bắc, quan điểm của Đảng và nhà nước về phát triển bền vững vùng Tây Bắc 28

1.4.Đặc trưng, thế mạnh của báo điện tử trong việc truyền thông về phát triển bền vững 35 1.5.Vận dụng lý thuyết Thiết lập chương trình nghị sự trong xây dựng hình ảnh địa

Trang 6

phương .39

Tiểu kết chương 1: 42

CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT HÌNH ẢNH TÂY BẮC TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ 43

2.1.Giới thiệu về 3 tờ báo trong diện khảo sát 43

Báo điện tử VnExpress (www.vnexpress.net) 43

2.2.Tần suất tin, bài về vùng Tây Bắc trên các báo điện tử 46

2.3 Nội dung thông tin về Tây Bắc 50

2.3.1Thông tin về tiềm năng, thành tựu 50

2.3.2Thông tin về khó khăn, bất cập 62

2.3.3Thông tin về hình ảnh người dân Tây Bắc 69

2.4.Hình thức thể hiện 82

Tiểu kết chương 2 91

CHƯƠNG 3: THÀNH CÔNG, HẠN CHẾ, VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ CÁC GIẢI PHÁP CẢI THIỆN THÔNG ĐIỆP CỦA BÁO ĐIỆN TỬ VỀ HÌNH ẢNH 93

3.1.Thành công, hạn chế 93

3.2.Nguyên nhân thành công, hạn chế của báo điện tử và vấn đề đặt ra 100

3.3.Các giải pháp cải thiện thông điệp của báo điện tử về hình ảnh tây bắc 105

3.3.1.Nhóm giải pháp chung 105

Tiểu kết chương 3: 114

PHẦN KẾT LUẬN 115

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 117

PHỤ LỤC 123

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

TH: Truyền hình

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Kết quả khảo sát tin, bài trên các báo điện tử 47 Bảng 2.2: Bảng thống kê lượng tin, bài theo lĩnh vực của từng báo trong diện khảo sát 49

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1: Giao diện báo Vnexpress 44

Hình 2.2: Giao diện báo Đầu tư 45

Hình 2.3: Giao diện báo Dân tộc 46

Hình 2.4: Biều đồ thể hiện số lượng tin, bài viết về các địa danh 48

Hình 2.5: Chuyên mục Nông nghiệp sạch trên báo Vnexpress 51

Hình 2.6: Số lượng tin, bài về các vấn đề khó khăn, bất cập ở Tây Bắc trên các báo trong diện khảo sát 63

Hình 2.7: Số lượng tin, bài theo thể loại trên các báo thuộc diện khảo sát 82

Hình 2.8: Hộp thông tin (Box) được sử dụng trên báo VnExpress ngày 3/10/2017 Chưa phát huy được sức mạnh của truyền thông đa phương tiện

(Audio và Video) .85

Hình 2.9: Ảnh cắt từ video trong chuyên mục Nông nghiệp sạch trên báo

VnExpress 88

Hình 2.10: Đồ họa trên báo Đầu tư điện tử ngày 9/2/2017 89

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Tây Bắc là vùng miền núi phía tây của miền Bắc Việt Nam, có chung đường biên giới với Lào và Trung Quốc, là vùng thượng nguồn của hầu hết các con sông lớn ở phía Bắc Việt Nam như: sông Hồng, sông Mã, sông Đà, sông Lô Tây Bắc giàu có tiềm năng, với lợi thế là miền đất có lịch sử hào hùng, có điều kiện tự nhiên phong phú, là địa bàn có nhiều loại tài nguyên khoáng sản nhất cả nước, có lợi thế phát triển nông, lâm nghiệp, thủy điện, khoáng sản, du lịch và kinh tế cửa khẩu, đặc biệt Vùng Tây Bắc là cửa ngõ phên dậu của Tổ quốc, là địa bàn trọng điểm có ý nghĩa chiến lược về An ninh quốc phòng Tây Bắc có nền văn hóa đặc sắc, là địa bàn sinh sống của nhiều đồng bào dân tộc, và tỷ lệ dân tộc thiểu số chiếm tới 79,2% dân

số trong vùng

Nhận thức rõ vai trò quan trọng và thực trạng vùng Tây Bắc, trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chính sách nhằm hỗ trợ, thúc đẩy vùng Tây Bắc phát triển bền vững Tuy nhiên, thực trạng tình hình kinh tế - xã hội ở đây còn rất nhiều khó khăn: tỷ lệ hộ nghèo cao nhất cả nước; quy mô nền kinh tế nhìn chung còn nhỏ, hiệu quả thấp, thiếu sức cạnh tranh; kết cấu hạ tầng vừa thiếu, vừa yếu, nhiều nguồn lực và lợi thế của vùng chưa được khai thác và phát huy tốt; chất lượng nguồn nhân lực còn thấp, hoạt động của các loại tội phạm, nhất là tội phạm ma túy còn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định an ninh, trật tự

Với vai trò là một kênh thông tin quan trọng, đáp ứng yêu cầu thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng của Đảng bộ, chính quyền các tỉnh vùng Tây Bắc, hệ thống báo chí đã có những đóng góp tích cực trong việc tuyên truyền chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đến đông đảo nhân dân Đồng thời, báo chí có khả năng truyền bá giáo dục, nâng cao dân trí để chính người dân tham gia quản lý xã hội, môi trường, kinh tế, văn hóa… nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của chính địa phương, quốc gia đó Trong hệ thống báo chí, báo điện tử đang là loại hình tỏ rõ sức mạnh, vị trí của mình Với những ưu điểm vượt trội, hội tụ những thế mạnh của báo in, báo phát thanh, báo hình cùng với việc

Trang 11

ứng dụng những tiến bộ mới của khoa học công nghệ, báo điện tử đang chứng tỏ hiệu quả trong việc thông tin về vấn đề phát triển bền vững vô cùng hiệu quả Tuy nhiên, Hội nghị các Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ, Tây Bắc và Tây Nguyên ngày 30/9/2016, tổ chức tại Đà Lạt (Lâm Đồng), các đại biểu đã chỉ rõ các tuyến thông tin tuyên truyền về 3 vùng đặc biệt là Tây Bắc còn yếu, hạn chế và thiếu toàn diện nhƣ: nội dung thể hiện chƣa phong phú, đa dạng, hình ảnh Tây Bắc trên truyền thông chƣa hấp dẫn các nhà đầu tƣ, cũng nhƣ sự am hiểu về văn hóa các dân tộc thiểu số còn bất cập

Báo chí truyền thông cần phản ánh đúng hiện trạng Tây Bắc, ghi nhận những thành công của Tây Bắc trong quá trình phát triển bền vững, phản ánh những hạn chế, bất cập của Tây Bắc từ đó giúp cho các cơ quan hoạch định chính sách, các nhà đầu tƣ,

Trang 12

doanh nghiệp, và cộng đồng công chúng trong xã hội hiểu đúng về Tây Bắc, từ

đó, chung tay giúp sức hợp tác với Tây Bắc để đưa Tây Bắc phát triển bền vững Cho đến nay, chưa có công trình nào khảo sát, đánh giá về hình ảnh của Tây Bắc trên báo điện tử, để tìm hiểu, nghiên cứu và đưa ra những đánh giá về thành công, hạn chế của báo chí, đặc biệt là báo điện tử trong việc truyền thông, thông tin

về Tây Bắc Chính vì vậy, chúng tôi đã lựa chọn, nghiên cứu đề tài: Hình ảnh Tây

Bắc trên báo điện tử dưới góc nhìn truyền thông phát triển làm luận văn thạc sĩ

chuyên ngành Báo chí học của mình

Luận văn này, cùng với số liệu khách quan, cụ thể, những dẫn chứng chi tiết, sẽ trả lời câu hỏi: Hình ảnh Tây Bắc được hiện lên như thế nào thông qua các tác phẩm báo điện tử - loại hình báo chí nhanh nhạy, tức thời và có tính đa phương tiện cao Người nghiên cứu cũng hi vọng, nghiên cứu sẽ là gợi ý cho việc triển khai tiếp những nghiên cứu giải đáp rõ hơn những vấn đề mà nghiên cứu này chưa có điều kiện giải đáp rõ ràng

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

2.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Về mối quan hệ giữa báo chí truyền thông và phát triển, trên thế giới, nhiều nhà nghiên cứu đã bỏ công sức và thời gian tìm hiểu về sức mạnh của mối quan hệ này Nổi bật như:

- Jean - Guyuaillan Court, (2000), Phát triển bền vững: nguồn gốc và khái

niệm, tạp chí Xã hội học, số 2/2000

- Melkote, S., (2003), Theories of Development Communication, trích trong

cuốn International and Development Communication: A 21st century perspectives

do Mody Bella chủ biên, Sage Publications, Thousand Oaks, CA

- Rogers, E M., (1976), Communication and Development: The Passing of the

Dominant Paradigm, Communication Research, Vol 3, No 2, 4/1976, Sage,

London

- Tim Bolt, (2008), Vai trò của báo chí trong việc hỗ trợ xã hội phát triển bền

vững, tạp chí Tropical Coasts 12.2008

Trang 13

Các nghiên cứu trên đã khái quát và chỉ ra được những vấn đề lý luận về truyền thông phát triển Đó là những tiền đề quan trọng cho các công trình nghiên cứu trong nước về vai trò của truyền thông với sự phát triển cũng như cho luận văn này

Tuy nhiên, các nghiên cứu về truyền thông phát triển vẫn còn khá trừu tượng, khó áp dụng vào thực tế

Về vùng Tây Bắc trên thế giới có rất nhiều cuốn sách, những tài liệu nghiên cứu, những bài báo, tiêu biểu như: “Hell in a very small place: The Seige of Dien Bien Phu” (2002), Dien Bien Phu: The Epic Battle America Forgot (2005 Tuy nhiên, các nghiên cứu về Tây Bắc cho đến hiện tại chủ yếu là nghiên cứu về điều kiện tự nhiên, đặc điểm địa lý, dân tộc, lịch sử, văn hóa vùng Tây Bắc

2.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước

Truyền thông nói chung và báo chí nói riêng trong các mối quan hệ với phát triển và phát triển bền vững ở nước ta chưa có nhiều công trình nghiên cứu Và đặc biệt, theo khảo sát của tác giả, hiện chưa có một công trình nghiên cứu nào liên quan đến vấn đề hình ảnh Tây Bắc trên báo điện tử Tuy vậy, những tiền đề của công trình này đã được thể hiện trong các nghiên cứu chung về phát triển, về báo điện tử Nghiên cứu về Tây Bắc có khá nhiều công trình, bởi lẽ Tây Bắc là nơi có vị trí địa lý chiến lược, giàu tài nguyên thiên nhiên và có truyền thống lịch sử hào hùng Chính vì vậy, khu vực này là đối tượng của rất nhiều các nhà nghiên cứu trong nước Trong đó, nghiên cứu về lịch sử, các học giả trong và ngoài nước chủ yếu nghiên cứu về Điện Biên Phủ lịch sử, với một loạt các công trình như “Tây Bắc – lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954- 1975” (1994), “Quân và dân Tây Bắc với chiến thắng Điện Biên Phủ” (1999), Chiến dịch tiến công Tây Bắc: thu đông 1952 (1992), “Tây Bắc – lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954 -1975” (1994), “Chiến thắng Điện Biên Phủ - mốc vàng lịch sử chân lý thời đại” (2004), … Về văn hóa các dân tộc có các công trình nghiên cứu như: “Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam” (1978), “Âm nhạc dân gian Thái Tây Bắc” (1998), “Truyện cổ

và dân ca Thái vùng Tây Bắc” (2001), “Văn hóa bản làng truyền thống các dân tộc Thái, Mông vùng Tây Bắc” (2002), “Văn hóa các dân tộc vùng Tây Bắc: thực trạng

Trang 14

và những vấn đề đặt ra” (2004)…

Trong những năm trở lại đây, vùng Tây Bắc được quan tâm nghiên cứu nhiều dưới góc nhìn kinh tế học, nhân học và hoạch định chính sách Một số tổ chức quốc

tế như UNDP, UNESCO, WHO, WB… đã có các công trình nghiên cứu như

“Những trở ngại về cơ sở hạ tầng của Việt Nam” (UNDP, 2010) Công trình này đã chỉ ra những yếu kém về cơ sở hạ tầng ở vùng Tây Bắc đã hạn chế việc xóa đói giảm nghèo ở đây, hay dự án “Phòng ngừa buôn bán phụ nữ và trẻ em” của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đề cập đến vấn đề buôn bán phụ nữ, trẻ em xuyên biên giới trong đó có biên giới Việt – Trung giai đoạn 2006-2008…Các nhà nghiên cứu trong nước có các công trình nghiên cứu như: cuốn “Phát triển con người vùng Tây Bắc nước ta” (2010), “Cơ chế chính sách đặc thù phát triển các tỉnh thuộc vùng Tây Bắc” (2010)… Nghiên cứu của tác giả Phạm Ngọc Thắng 2010 với đề tài “Phát triển

du lịch gắn với xóa đói giảm nghèo ở Lào Cai” đã đưa ra mô hình và giải pháp phát triển du lịch gắn với xóa đói giảm nghèo tại Lào Cai

Về nghiên cứu cách thức truyền thông trên báo điện tử, rất nhiều nhà báo, nhà nghiên cứu, học viên, sinh viên báo chí đã tích cực tìm hiểu cũng như giới thiệu các công trình mang tính chất lý luận và thực tiễn về loại hình truyền thông đa phương tiện này Tiêu biểu như:

- Phạm Thị Thành, (2004), Ảnh hưởng của Internet đói với công chúng Hà Nội, Luận văn thạc sỹ, Học viện Báo chí và Tuyên truyền

- Trần Hồng Vân, (2004), Thực trạng và giải pháp xử lý thông tin trong tòa soạn báo điện tử Việt Nam hiện nay (Khảo sát Vietnamnet và VnExpress, Tuổi trẻ Online, Lao động điện tử), Luận văn thạc sỹ, Học viện Báo chí và Tuyên truyền

- Trần Quang Huy, (2006), Hoạt động tương tác trên báo điện tử (Khảo sát Vietnamnet và VnExpress từ tháng 5/2005-5/2006), Luận văn thạc sỹ Báo chí, Học viện Báo chí và Tuyên truyền

- Hoàng Thu Oanh, (2008), Độ tin cậy của thông tin trên báo điện tử Việt Nam (Khảo sát Vietnamnet, VnExpress và Dân trí), Khóa luận tốt nghiệp, Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Trang 15

Các công trình nghiên cứu về truyền thông phát triển ở trong nước còn rất hạn chế, chủ yếu dừng lại ở các bài báo khoa học như bài báo khoa học “Truyền thông

và phát triển nông thôn” của tác giả Mai Quỳnh Nam đăng trên tạp chí Xã hội học (số 3.2003), bài báo khoa học “Truyền thông phát triển – Một hướng đi mới cho báo chí ở các nước đang phát triển” của tác giả Nguyễn Minh Nguyệt đăng trên tạp chí Thông tin Khoa học Xã hội (số 12.2008), bài báo “Truyền thông phục vụ phát triển bền vững” trong đó nêu ra một số biện pháp ứng dụng hiệu quả truyền thông phát triển vào Việt Nam

Những công trình nghiên cứu về báo chí học trên địa bàn Tây Bắc cho đến nay, chỉ có một số công trình nghiên cứu ở bậc khóa luận hay luận văn Thạc sỹ là đề cập đến các địa phương trong khu vực này Ví dụ khóa luận “Hiệu quả phát thanh bằng tiếng dân tộc của đài PT-TH Lai Châu” (Nguyễn Văn An, 2002), Bản sắc văn hóa dân tộc Mường (một số loại hình sinh hoạt văn hóa truyền thống của dân tộc Mường được phản ánh trên báo Hòa Bình) (Nguyễn Thị Phượng 2004), hay luận văn Cao học “Hệ thống phát thanh truyền hình Vnexpress– thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng” (Lê Bá Quyên, 2010)…

Cuốn sách ‚Truyền thông phát triển - Truyền thông dân tộc: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn“ (Nghiên cứu trường hợp vùng Tây Bắc, Việt Nam) do PGS.TS Đặng Thị Thu Hương chủ biên là công trình mới nhất hệ thống hóa khá toàn diện các vấn đề về phát triển bền vững, truyền thông phát triển, truyền thông dân tộc, và khảo sát khá hệ thống truyền thông phục vụ đồng bào dân tộc vùng Tây Bắc, từ trung ương đến địa phương Tuy nhiên, nội dung khảo sát về hình ảnh Tây Bắc trên báo điện tử không phải là trọng tâm nghiên cứu của công trình này

Theo tìm hiểu của chúng tôi cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu về hình ảnh Tây Bắc dưới góc nhìn báo chí học, đặc biệt là nghiên cứu về vai trò, thành công và hạn chế của báo điện tử trong việc thông tin về vùng Tây Bắc, dưới góc nhìn của Truyền thông phát triển, từ đó đề xuất giải pháp kiến nghị nâng cao chất lượng và hiệu quả của báo điện tử đối với việc phát triển bền vững vùng Tây Bắc Do vậy, “Hình ảnh Tây Bắc trên báo điện tử dưới góc nhìn truyền thông phát

Trang 16

triển” là một đề tài thú vị, sẽ đem lại thông tin mới mẻ trong lĩnh vực nghiên cứu báo chí truyền thông nói chung và báo điện tử nói riêng, đồng thời có nhiều đóng góp về lý luận và thực tiễn đối với việc phát triển bền vững vùng Tây Bắc

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

3.1 Mục đích của đề tài

Trên cơ sở hệ thống hóa các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài, luận văn khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng hình ảnh vùng Tây Bắc trên các báo điện tử, từ đó đánh giá thành công và hạn chế, ưu, nhược điểm của báo điện tử trong việc thông tin về vùng Tây Bắc và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng báo chí, đặc biệt là báo điện tử về vấn đề này

3.2 Nhiệm vụ của đề tài

- Hệ thống hóa lý luận về truyền thông phát triển, về định hướng của Đảng, Nhà nước đối với phát triển bền vững vùng Tây Bắc và vai trò của báo điện tử đối với vấn đề này

- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng các báo điện tử phản ánh về vùng Tây Bắc

- Đề xuất các định hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động truyền thông trên báo điện tử vì mục tiêu phát triển bền vững vùng Tây Bắc

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Hình ảnh Tây Bắc trên báo điện tử dưới góc nhìn truyền thông phát triển

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Để nghiên cứu đề tài “Hình ảnh Tây Bắc trên báo điện tử dưới góc nhìn Truyền thông phát triển”, chúng tôi chọn và tập trung nghiên cứu các tờ báo điện tử điển hình là: Báo Đầu tư điện tử, Báo VnExpress, Báo Dân tộc (Phiên bản điện tử của báo Truyền thông và phát triển) Trong đó, Báo Đầu tư điện tử là diễn đàn đầu tư và kinh doanh, cơ quan của Bộ kế hoạch và đầu tư Báo điện tử VnExpress là một trong những tờ báo điện

Trang 17

tử hàng đầu của Việt Nam ở những điểm sau: Đây là hai tờ báo trực tuyến ra đời sớm nhất và khẳng định vị trí là báo trực tuyến độc lập; Có số lượng độc giả lớn, được khẳng định thông qua lượng pageview, thông tin trên các tờ báo trên khá đa dạng, phong phú Báo Dân tộc là một kênh thông tin quan trọng, đa dạng, phản ánh

về thực tế tình hình đời sống của bà con ở các vùng miền dân tộc thiểu số và miền núi Báo đã và đang chuyển tải những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với đồng bào dân tộc thiểu số

Về thời gian, chúng tôi tiến hành nghiên cứu 03 trang báo điện tử kể trên, thông tin về vấn đề Tây Bắc và phát triển bền vững vùng Tây Bắc trong vòng một năm từ tháng 1/1/2017 đến hết tháng 31/12/2017

5 Cơ sở lý luận và Phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận:

Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở nhận thức luận về vấn đề tư tưởng Hồ Chí Minh đối với báo chí; lý luận về tác phẩm báo chí, hệ thống thể loại báo chí, đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về báo chí Lý luận về vai trò, tác động của báo chí truyền thông; báo chí truyền thông phục vụ phát triển

5.2 Phương pháp nghiên cứu:

Để thưc hiện đề tài này, chúng tôi áp dụng một số phương pháp nghiên cứu sau đây:

Phương pháp nghiên cứu lịch sử và sử dụng tài liệu thứ cấp: Để thực hiện đề tài

này, chúng tôi đã tiến hành sưu tập các văn kiện, chỉ thị, tư liệu của Đảng và nhà nước liên quan đến việc xã hội hóa thông tin báo chí, nhằm tìm hiểu chủ trương, đường lối, định hướng của Đảng và Nhà nước về vấn đề phát triển Tây Bắc Đồng thời, chúng tôi tập hợp hệ thống tài liệu lý luận từ các sách, tạp chí, các công trình nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước liên quan đến đề tài

Phương pháp phân tích nội dung: Đề tài sử dụng phương pháp này để khảo sát,

phân tích nội dung và hình thức tin, bài của một số báo điện tử (báo Đầu tư điện tử, báo VnExpress, báo Dân tộc) để đánh giá thực trạng, thành công và hạn chế của báo điện tử trong việc thông tin về Tây Bắc, từ đó, xây dựng hình ảnh Tây Bắc trên

Trang 18

kênh truyền thông báo điện tử

Phương pháp phỏng vấn sâu: Đề tài phỏng vấn người dân và lãnh đạo một số

địa phương vùng Tây Bắc… để tổng hợp ý kiến, quan điểm của họ với việc báo chí thông tin về vùng Tây Bắc và về trong vai trò, trách nhiệm của báo chí đối với vấn

đề phát triển bền vững khu vực này

Phương pháp phân tích, tổng hợp: Được sử dụng để đánh giá các dữ liệu, kết quả

điều tra và rút ra những luận điểm khoa học

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

6.1 Ý nghĩa lý luận

Đề tài góp phần làm sáng rõ, và phong phú hơn lý luận về vai trò của báo chí, ảnh hưởng, tác động của báo chí tới việc phát triển bền vững ở địa phương Đồng thời, đề tài cung cấp những luận điểm khoa học, hệ thống hóa cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu về vai trò của báo điện tử đối với sự phát triển bền vững một địa phương, một khu vực Bên cạnh đó, đề tài sẽ tổng kết, nêu rõ thực trạng, thành công và hạn chế của báo điện tử trong việc hỗ trợ và thúc đẩy phát triển bền vững một địa phương, cụ thể là Tây Bắc

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Đề tài khảo sát, đánh giá thành công và hạn chế của báo điện tử trong việc thông tin hỗ trợ, thúc đẩy phát triển kinh tế của vùng Tây Bắc, từ đó, đề xuất các giải pháp kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của báo chí trong lĩnh vực này Đây

là một trong những yếu tố tạo điều kiện cho khu vực Tây Bắc phát triển bền vững trong tương lai

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là tài liệu tham khảo cho các địa phương cũng như các ngành khác trong việc khai thác, sử dụng báo chí trong việc hỗ trợ, thúc đẩy phát triển bền vững ở địa phương, ở ngành mình

Những đánh giá về thành công và hạn chế của báo điện tử và những đề xuất cụ thể của đề tài về việc nâng cao chất lượng nội dung và hình thức của các sản phẩm báo chí hỗ trợ, thúc đẩy phát triển bền vững, sẽ tạo điều kiện để các cơ quan báo chí nâng cao được chất lượng và hiệu quả trong truyền thông

Trang 19

Đề tài là tài liệu tham khảo có ích trong các cơ sở đào tạo báo chí, để định hướng trách nhiệm cho những nhà báo tương lai trong việc hỗ trợ, thúc đẩy phát triển bền vững ở địa phương mình

7 Cấu trúc luận văn

Dự kiến đề tài ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, phần nội dung chính gồm có 3 chương Cụ thể:

Chương 1: Một số vấn đề về truyền thông phát triển và vai trò của báo điện tử với phát triển bền vững vùng Tây Bắc

Chương 2: Khảo sát hình ảnh Tây Bắc trên báo điện tử

Chương 3: Thành công, hạn chế, vấn đề đặt ra và giải pháp xây dựng hình ảnh Tây Bắc trên kênh truyền thông báo điện tử

Trang 20

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TRUYỀN THÔNG PHÁT TRIỂN VÀ VAI TRÕ CỦA BÁO ĐIỆN TỬ VỚI PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÙNG TÂY BẮC 1.1 Một số khái niệm

Hình ảnh & truyền thông hình ảnh

Theo từ điển Tiếng Việt, viện Ngôn ngữ học 2000 giải thích hình ảnh là “ hình người, vật, cảnh tượng thu được bằng khí cụ quang học như máy ảnh hoặc để lại ấn tượng nhất định và tái hiện được trong trí óc, là khả năng gợi tả sống động trong cách diễn đạt”

Philip Kotler cũng đã định nghĩa: “ Hình ảnh là một tập hợp những niềm tin, ý

tưởng và ấn tượng của một người về một sự vật” (Philip Kotler, 2006, Quản trị

Marketing, Nxb Thống kê) Chính niềm tin của một người về một sự vật sẽ quyết

định những suy nghĩ, hành động hay thái độ của họ về sự vật ấy

Truyền thông là quá trình trao đổi thông tin, tương tác thông tin với nhau giữa hai hoặc nhiều người với nhau tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức

Vậy, truyền thông hình ảnh có thể hiểu là quá trình thông tin để tạo ấn

tượng về chủ thể trong suy nghĩ, tâm trí người khác, tạo dựng niềm tin về chủ thể đó

Trong khuôn khổ luận văn, hình ảnh Tây Bắc có thể hiểu là quá trình thông tin của báo điện tử để lại ấn tượng và tái hiện trong tâm trí người khác về vùng Tây Bắc

Báo điện tử

Báo điện tử là một loại hình báo chí ra đời muộn hơn so với các loại hình báo chí khác như báo in, phát thanh và truyền hình Trước đây, khi một sự kiện xảy ra thì

phát thanh đưa tin, truyền hình minh họa, báo in phân tích và giải thích Nhưng giờ

đây, báo điện tử có thể đảm đương nhiệm vụ của cả phát thanh, truyền hình lẫn báo

Trang 21

dụng nhất ở nước ta Ngay trong các văn bản pháp quy của Nhà nước cũng sử dụng thuật ngữ “báo điện tử” Báo điện tử là loại hình báo chí được xây dựng dưới hình thức một trang web và phát hành dựa trên nền tảng internet Báo điện tử được xuất bản bởi tòa soạn điện tử, còn người đọc báo dựa trên máy tính, điện thoại di động, máy tính bảng có kết nối internet Khác với báo in, tin tức trên báo điện tử được cập nhật thường xuyên, tin ngắn và thông tin từ nhiều nguồn khác nhau Nó cũng khác so với trang thông tin điện tử về tần suất cập nhật Báo điện tử cho phép mọi người trên khắp thế giới tiếp cận tin tức nhanh chóng không phụ thuộc vào không gian và thời gian, sự phát triển của báo điện tử đã làm thay đổi thói quen đọc tin và

ít nhiều có ảnh hưởng đến việc phát triển báo giấy truyền thống Tuy ra đời muộn hơn so với các phương tiện như báo in, phát thanh và truyền hình nhưng phương tiện này đã chứng tỏ rất nhiều thế mạnh và tiện ích của mình

Điều 3 Luật Báo chí quy định: báo điện tử là loại hình báo chí được thực hiện

trên mạng thông tin máy tính Trong cuốn sách “Báo điện tử: Những vấn đề cơ

bản”, Tiến sĩ Nguyễn Thị Trường Giang đưa ra khái niệm: “Báo điện tử” Theo đó,

báo điện tử là một loại hình báo chí được xây dựng dưới hình thức của một trang web và phát hành trên mạng Internet [8; tr 49-54]

Cũng từ các cách định nghĩa trên, trong luận văn này, báo điện tử được hiểu là

loại hình báo chí chuyển tải thông tin trên mạng Internet thông qua các phương tiện kỹ thuật có kết nối

Với báo điện tử, một sản phẩm báo chí đa phương tiện phải bao gồm ít nhất từ hai trong những thành phần sau trở lên Đó là: văn bản (text), hình ảnh tĩnh và đồ họa (still image & graphic), âm thanh (audio), hình ảnh động (video & animation)

và gần đây nhất là các chương trình tương tác (interactive program)

Phát triển và phát triển bền vững

Phát triển

Trên thế giới, người ta đã đưa ra một vài khái niệm, định nghĩa mô tả sự phát triển, tuy nhiên một định nghĩa thống nhất và hoàn chỉnh về sự phát triển vẫn chưa được ngã ngũ Ban đầu, các nhà kinh tế học định nghĩa phát triển là “tăng trưởng

Trang 22

kinh tế”, nhưng nội hàm của nó từ lâu đã vượt khỏi phạm vi này, được nâng cấp sâu sắc hơn và chính xác hơn Theo Từ điển Tiếng Việt “phát triển” được hiểu là quá trình vận động, tiến triển theo hướng tăng lên, ví dụ phát triển kinh tế, phát triển văn hoá, phát triển xã hội

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì “phát triển là phạm trù triết học chỉ ra tính chất của những biến đổi đang diễn ra trong thế giới Phát triển là một thuộc tính của vật chất Mọi sự vật và hiện tượng của hiện thực không tồn tại trong trạng thái khác nhau từ khi xuất hiện đến lúc tiêu vong… nguồn gốc của phát triển là sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập”

Giới nghiên cứu có rất nhiều quan điểm và lý thuyết khác nhau về việc nghiên cứu sự phát triển kinh tế, xã hội như lý thuyết hiện đại hóa, lý thuyết sự phụ thuộc,

lý thuyết đa dạng hóa…trong đó, không ít người thường đánh đồng phát triển là tăng trưởng kinh tế hoặc thịnh vượng về kinh tế S.R Melkote (Giáo sư tại Khoa Viễn thông, Đại học Bowling Green State, Mỹ) trong bài nghiên cứu khoa học “Lý thuyết truyền thông phát triển” cho rằng, người ta thường nhầm tưởng mức độ phát triển

được đo bằng “Tổng thu nhập quốc nội GDP và mọi nhântố trong nước được huy

động để tăng cường và duy trì mức độ tăng trưởng GDP, nhất là trong những ngành tập trung nhiều vốn và công nghệ với nguyên tắc sở hữu tư nhân, tự do thương mại

và thị trường tự do” [36, tr 39] Theo đó, tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu

nhập của nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định và sự gia tăng này được thể hiện ở quy mô và tốc độ Thu nhập của nền kinh tế có thể biểu hiện dưới dạng hiện vật hoặc giá trị, trong đó thu nhập bằng giá trị phản ánh qua các chỉ tiêu GNP,

GNI và được tính cho toàn thể nền kinh tế hoặc tính bình quân trên đầu người

Từ cách tiếp cận này, cả thế giới dịch chuyển theo hướng sản xuất hàng loạt và tiếp theo là chủ nghĩa tiêu dùng Điều này đã dẫn đến những vấn đề nghiêm trọng khi tài nguyên bị khai thác cạn kiệt và môi trường bị hủy hoại, tình trạng thất nghiệp gia tăng, phân hóa giàu nghèo sâu sắc Bởi vậy, HĐH hay CNH không thể

là lời giải cho bài toán phát triển bởi đời sống người dân hoặc mức sống của xã hội không thể được cải thiện nếu người dân không có nước sạch, không khí trong lành

Trang 23

Hơn nữa, tại các quốc gia nghèo đang áp dụng mô hình HĐH, khoảng cách giàu nghèo ngày càng gia tăng và “truyền thống văn hóa sẽ bị hủy hoại nếu người dân các nước này muốn hiện đại hóa” [36, tr 39, 40]

Đối với Việt Nam, thuật ngữ “phát triển” cần được hiểu ở nhiều mức độ khác nhau Trước hết nó cần được hiểu là các nhu cầu cơ bản của người dân được đáp ứng Khi trong xã hội vẫn còn người nghèo và đói, nhiệm vụ đầu tiên của phát triển

là đem lại cho họ lương thực, y tế và giáo dục Còn tại các khu vực thành thị và khu công nghiệp, phát triển cần được hiểu là bảo vệ môi trường và các giá trị truyền thống

Phát triển bền vững

Trong quá trình phát triển hướng tới cuộc sống tốt đẹp hơn, các nhu cầu của con người lại luôn tạo nên sự mâu thuẫn gần như không sao khắc phục được Con người ta cần không khí sạch để thở nhưng đồng thời lại rất cần ô tô để đi lại, cần có củi để sưởi nhưng lại rất cần rừng để bảo vệ đất khỏi xói mòn và chống nước mặn xâm nhập hoặc các doanh nghiệp luôn cần sử dụng lao động với giá rẻ lại không có tiếng nói chung với những công nhân luôn cần được trả lương cao để có thể sống tốt hơn…Do vậy, khái niệm “phát triển bền vững” được quan tâm đến để thay thế sự phiến diện của tăng trưởng kinh tế Khái niệm “phát triển bền vững” xuất hiện trong phong trào bảo vệ môi trường từ những năm đầu của thập niên 70 của thế kỷ XX, từ đó đến nay đã có nhiều định nghĩa về phát triển bền vững được đưa ra, như:

– Phát triển bền vững là sự phát triển kinh tế – xã hội lành mạnh, dựa trên việc sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường, nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại nhưng không làm ảnh hưởng bất lợi cho các thế hệ mai sau

– Phát triển bền vững là sự phát triển kinh tế – xã hội với tốc độ tăng trưởng cao, liên tục trong thời gian dài dựa trên việc sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên mà vẫn bảo vệ được môi trường sinh thái Phát triển kinh tế nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội hiện tại, song không làm cạn kiệt tài nguyên, để lại hậu quả về môi trường cho thế hệ tương lai

– Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm

Trang 24

thương tổn đến khả năng của các thế hệ tương lai đáp ứng nhu cầu của họ

Năm 1980, bản “Chiến lược bảo tồn thế giới” do Liên minh Quốc tế Bảo tồn

Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên (IUCN-International Union for Conservation

of Nature and Natural Resources) đưa ra xác định mục tiêu phát triển bền vững là

“đạt được sự phát triển bền vững bằng cách bảo vệ các tài nguyên sinh vật” Có

nghĩa là thời điểm đó, nội hàm của sự phát triển bền vững mới được đề cập rất hẹp, chỉ nhấn mạnh đến tính bền vững của sự phát triển về mặt sinh thái, nhằm kêu gọi

việc bảo tồn các tài nguyên sinh vật Năm 1987, trong báo cáo “Tương lai chung của

chúng ta”, Ủy ban Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED) của Liên hợp quốc

định nghĩa phát triển bền vững là “sự phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại

mà không làm tổn thương khả năng cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai” Định nghĩa này được nhiều tổ chức và quốc gia trên thế giới thừa nhận và được

sử dụng rộng rãi trong các ấn phẩm về phát triển bền vững vì nó mang tính khái quát hoá cao về mối quan hệ giữa các thế hệ về thoả mãn các nhu cầu về đời sống vật chất, tinh thần, từ đó tạo ra phát triển bền vững, vì suy cho cùng, bản chất của phát triển bền vững tức là sự tồn tại bền vững của loài người trên trái đất không phân biệt quốc gia, dân tộc và trình độ kinh tế, xã hội, ở đây sự tồn tại của loài người luôn gắn với sự tồn tại của môi trường kinh tế, xã hội và tự nhiên mà con người cần phải có Năm 1988, Gôdian và Hecdue đưa ra khái niệm Phát triển bền vững là một mô hình chuyển đổi mà nó tối ưu các lợi ích kinh tế và xã hội trong hiện tại nhưng không hề gây hại cho tiềm năng của những lợi ích tương tự trong tương lai Nội hàm về phát triển bền vững được tái khẳng định ở Hội nghị Thượng

đỉnh “Trái đất về Môi trường và phát triển” tổ chức ở Rio de Janeiro (Brazil) năm

1992 và được bổ sung, hoàn chỉnh tại Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về Phát triển bền vững tổ chức ở Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi) năm 2002: “Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa 3 mặt của

sự phát triển, gồm: phát triển kinh tế (trọng tâm tăng trưởng kinh tế), phát triển xã

hội (trọng tâm thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; xoá đói giảm nghèo và giải

quyết việc làm) và bảo vệ môi trường (trọng tâm xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục

Trang 25

hồi và cải thiện chất lượng môi trường; phòng chống cháy và chặt phá rừng; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên)

Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đã đưa ra định nghĩa cụ thể hơn, đó là: “phát triển bền vững là một loại hình phát triển mới, lồng ghép một quá trình sản xuất với bảo toàn tài nguyên và nâng cao chất lượng môi trường Phát triển bền vững cần phải đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không phương hại đến khả năng của chúng ta đáp ứng các nhu cầu của các thế hệ tương lai” Định nghĩa này đã đề cập cụ thể hơn về mối quan hệ ràng buộc giữa sự đáp ứng nhu cầu hiện tại với khả năng đáp ứng nhu cầu tương lai, thông qua lồng ghép quá trình sản xuất với các biện pháp bảo toàn tài nguyên, nâng cao chất lượng môi trường Tuy vậy, định nghĩa này vẫn chưa

đề cập được tính bản chất của các quan hệ giữa các yếu tố của phát triển bền vững và chưa đề cập đến các nhóm nhân tố cụ thể mà quá trình phát triển bền vững phải đáp ứng (tuân thủ) cùng một lúc, đó là nhóm nhân tố tạo ra tăng trưởng kinh tế, nhóm nhân tố tác động thay đổi xã hội, bao gồm thay đổi cả văn hoá và nhóm nhân tố tác động làm thay đổi tài nguyên, môi trường tự nhiên Theo hướng phân tích đó, Luận văn đề xuất một cách định nghĩa cụ thể hơn về phát triển bền vững, đó là: phát triển bền vững là một phương thức phát triển kinh tế- xã hội nhằm giải quyết tốt mối quan

hệ giữa tăng trưởng kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường với mục tiêu đáp ứng tốt hơn các nhu cầu của thế hệ hiện tại đồng thời không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau Hay nói cách khác: đó là sự phát triển hài hoà cả về kinh tế, văn hoá, xã hội, môi trường ở các thế hệ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng sống của con người Định nghĩa này có thể mở rộng với ba cấu thành cơ bản về sự phát triển bền vững:

– Về mặt kinh tế: Một hệ thống bền vững về kinh tế phải có thể tạo ra hàng hoá

và dịch vụ một cách liên tục, với mức độ có thể kiểm soát của chính phủ và nợ nước ngoài, tránh sự mất cân đối giữa các khu vực làm tổn hại đến sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ

– Về mặt xã hội: Một hệ thống bền vững về mặt xã hội phải đạt được sự công bằng trong phân phối, cung cấp đầy đủ các dịch vụ xã hội bao gồm y tế, giáo dục, bình

Trang 26

đẳng giới, sự tham gia và trách nhiệm chính trị của mọi công dân

– Về môi trường: Một hệ thống bền vững về môi trường phải duy trì nền tảng nguồn lực ổn định, tránh khai thác quá mức các hệ thống nguồn lực tái sinh hay những vận động tiềm ẩn của môi trường và việc khai thác các nguồn lực không tái tạo không vượt quá mức độ đầu tư cho sự thay thế một cách đầy đủ Điều này bao gồm việc duy trì sự đa dạng sinh học, sự ổn định khí quyển và các hoạt động sinh thái khác mà thường không được coi như các nguồn lực kinh tế

Ở Việt Nam, khái niệm phát triển bền vững được biết đến, triển khai nghiên cứu

lý luận bởi các nhà khoa học vào khoảng cuối thập kỷ 80 - đầu thập kỷ 90 của thế

kỷ

XX Tại Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 25-6-1998 về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước, Bộ Chính trị nhấn mạnh: “Bảo vệ môi trường là một nội dung cơ bản không thể tách rời trong đường lối, chủ trương và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tất cả các cấp, các ngành, là cơ sở quan trọng bảo đảm phát triển bền vững, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”

Phát triển bền vững là quá trình vận hành đồng thời ba bình diện phát triển: kinh

tế tăng trưởng bền vững; xã hội thịnh vượng, công bằng, ổn định, văn hoá đa dạng

và môi trường được trong lành, tài nguyên được duy trì bền vững Do vậy, hệ thống hoàn chỉnh các nguyên tắc đạo đức cho phát triển bền vững bao gồm các nguyên tắc phát triển bền vững trong cả “ba thế chân kiềng”: kinh tế, xã hội, môi trường

Thứ nhất, con người là trung tâm của phát triển bền vững Đáp ứng ngày càng đầy đủ hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân, xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh là nguyên tắc quán triệt nhất quán trong mọi giai đoạn phát triển

Phát triển bền vững về xã hội được đánh giá bằng các tiêu chí, như HDI, hệ số bình đẳng thu nhập, các chỉ tiêu về giáo dục, y tế, phúc lợi xã hội, hưởng thụ văn hóa Ngoài ra, bền vững về xã hội là sự bảo đảm đời sống xã hội hài hòa, có sự bình đẳng giữa các giai tầng trong xã hội, bình đẳng giới, mức độ chênh lệch giàu nghèo

Trang 27

không quá cao, sự chênh lệch đời sống giữa các vùng miền không lớn

Phát triển bền vững về xã hội chú trọng vào sự công bằng Xã hội luôn cần tạo điều kiện thuận lợi cho lĩnh vực phát triển con người và cố gắng cho tất cả mọi người có cơ hội phát triển tiềm năng bản thân và có điều kiện sống chấp nhận được Phát triển bền vững về xã hội gồm một số nội dung chính như ổn định dân số, phát triển nông thôn để giảm sức ép di dân vào đô thị, giảm thiểu tác động xấu của môi trường đến đô thị hóa, nâng cao học vấn, xóa mù chữ, bảo vệ đa dạng văn hóa, bình đẳng giới, quan tâm tới nhu cầu và lợi ích giới và tăng cường sự tham gia của công chúng vào các quá trình ra quyết định

Thứ hai, coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm của giai đoạn phát triển sắp tới, bảo đảm an ninh lương thực, năng lượng để phát triển bền vững, bảo đảm vệ sinh và an toàn thực phẩm cho nhân dân, kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa với phát triển xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên trong giới hạn cho phép về mặt sinh thái và bảo vệ môi trường lâu bền Từng bước thực hiện nguyên tắc "mọi mặt: kinh tế, xã hội và môi trường đều cùng có lợi" Phát triển bền vững về kinh tế đòi hỏi sự phát triển của hệ thống kinh tế, trong

đó cơ hội để tiếp xúc với những nguồn tài nguyên được tạo điều kiện thuận lợi và quyền sử dụng những nguồn tài nguyên thiên nhiên cho các hoạt động kinh tế được chia sẻ một cách bình đẳng Yếu tố được chú trọng ở đây là tạo ra sự thịnh vượng chung cho tất cả mọi người, không chỉ tập trung mang lại lợi nhuận cho một số ít, trong một giới hạn cho phép của hệ sinh thái cũng như không xâm phạm những quyền cơ bản của con người

Khía cạnh phát triển bền vững về kinh tế gồm một số nội dung cơ bản như giảm dần mức tiêu phí năng lượng và các tài nguyên khác thông qua công nghệ tiết kiệm

và thay đổi lối sống; thay đổi nhu cầu tiêu thụ không gây hại đến đa dạng sinh học

và môi trường; bình đẳng trong tiếp cận các nguồn tài nguyên, mức sống, dịch vụ y

tế và giáo dục; xóa đói, giảm nghèo tuyệt đối; công nghệ sạch và sinh thái hóa công nghiệp (tái chế, tái sử dụng, giảm thải, tái tạo năng lượng đã sử dụng)

Thứ ba, bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường phải được coi là một yếu tố

Trang 28

không thể tách rời trong quá trình phát triển Cần tích cực và chủ động phòng ngừa, ngăn chặn những tác động xấu đối với môi trường do hoạt động của con người gây ra, cũng như xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ và có hiệu lực về công tác bảo vệ môi trường; chủ động gắn kết và có chế tài bắt buộc lồng ghép yêu cầu bảo vệ môi trường trong việc lập quy hoạch, kế hoạch, chương trình và

dự án phát triển kinh tế-xã hội, coi yêu cầu về bảo vệ môi trường là một tiêu chí quan trọng trong đánh giá phát triển bền vững

Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nông nghiệp hay du lịch; quá trình đô thị hóa và xây dựng nông thôn mới, đều tác động và gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường tự nhiên Bền vững về môi trường là sự bảo đảm độ trong sạch về bầu không khí, nước, đất, không gian địa lý, cũng như cảnh quan, và chất lượng của các yếu tố trên được đánh giá kiểm định thường xuyêntheo những tiêu chuẩn quốc gia hoặc quốc tế

Phát triển bền vững về môi trường là khai thác và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, và bao gồm những nội dung cơ bản như sử dụng có hiệu quả tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên không tái tạo; phát triển không vượt quá ngưỡng chịu tải của hệ sinh thái; bảo vệ đa dạng sinh học, bảo vệ tầng ôzôn; kiểm soát và giảm thiểu phát thải khí nhà kính; bảo vệ chặt chẽ các hệ sinh thái nhạy cảm; giảm thiểu

xả thải, khắc phục ô nhiễm (nước, khí, đất, lương thực thực phẩm), cải thiện và khôi phục môi trường những khu vực ô nhiễm

Thứ tư, quá trình phát triển phải bảo đảm đáp ứng một cách công bằng nhu cầu của thế hệ hiện tại và không gây trở ngại tới cuộc sống của các thế hệ tương lai Tạo lập điều kiện để mọi người và mọi cộng đồng trong xã hội có cơ hội bình đẳng để phát triển, để được tiếp cận tới những nguồn lực chung và được phân phối công bằng những lợi ích công cộng, tạo ra những nền tảng vật chất, tri thức và văn hoá tốt đẹp cho những thế hệ mai sau

Thứ năm, khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thúc đẩy phát triển nhanh, mạnh và bền vững đất nước Công nghệ hiện đại, sạch và thân thiện với môi trường cần được ưu tiên sử dụng rộng rãi trong

Trang 29

các ngành sản xuất, trước mắt, cần được đẩy mạnh sử dụng ở những ngành và lĩnh vực sản xuất có tác dụng lan truyền mạnh, có khả năng thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành và lĩnh vực sản xuất khác

Thứ sáu, gắn chặt việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển bền vững đất nước Phát triển các quan hệ song phương và đa phương, thực hiện các cam kết quốc tế và khu vực; tiếp thu có chọn lọc những tiến bộ khoa học công nghệ, tăng cường hợp tác quốc tế để phát triển bền vững Chú trọng phát huy lợi thế, nâng cao chất lượng, hiệu quả, năng lực cạnh tranh Chủ động phòng ngừa, ngăn chặn những tác động xấu đối với môi trường do quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế gây ra

Vùng Tây Bắc

Theo phân loại của nhà địa lý học Lê Bá Thảo, vùng Tây Bắc bao gồm các tỉnh Lai Châu (cả Điện Biên), Sơn La, Hòa Bình, vùng núi Thanh - Nghệ và một phần các tỉnh Lào Cai, Yên Bái như là “vùng đệm” giữa Tây Bắc và Đông Bắc [48, tr 37,77]…

Tuy vậy, trong công trình nghiên cứu này, chúng tôi nhìn nhận vùng Tây Bắc là địa bàn hoạt động của Ban Chỉ đạo vùng Tây Bắc trước đây Theo đó, vùng Tây Bắc gồm 12 tỉnh là Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hoà Bình, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Phú Thọ, Tuyên Quang, 11 huyện phía Tây Thanh Hóa gồm: Quan Hoá, Quan Sơn, Mường Lát, Bá Thước, Lang Chánh, Cẩm Thuỷ, Ngọc Lặc, Thạch Thành, Thường Xuân, Như Xuân, Như Thanh và 10 huyện phía Tây Nghệ An gồm: Kỳ Sơn, Tương Dương, Con Cuông, Anh Sơn, Tân Kỳ, Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, Thanh Chương Tổng diện tích toàn vùng là 74.880.31km2, trong đó, đất nông nghiệp của toàn khu vực chiếm một tỷ lệ nhỏ, còn lại phần lớn là rừng núi

1.2 Truyền thông phát triển: Nội dung và mô hình

Nội dung

Về cơ bản, truyền thông phát triển là sự kết hợp của: Truyền thông nhằm phổ biến kiến thức/truyền bá cái mới Lý thuyết phổ biến kiến thức/truyền bá cái mới

Trang 30

được phát triển dựa trên những giả thuyết cho rằng, việc thiếu các ý tưởng mới sẽ dẫn đến sự kém phát triển và truyền thông được sử dụng như một công cụ để thuyết phục các nhóm công chúng mục tiêu (thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng và phi đại chúng, như người lãnh đạo dư luận opinion leaders, ) Tuy nhiên, truyền thông phát triển phê phán lý thuyết phổ biến kiến thức ở tính một chiều, áp đặt và không xem xét đến các yếu tố địa phương, văn hóa

Lý thuyết truyền thông có sự tham gia (Participatory communication) ra đời là kết quả tất yếu của sự phê phán quá trình truyền thông một chiều của lý thuyết phổ biến kiến thức Lý thuyết cùng tham gia có phương pháp tiếp cận từ dưới lên, đặc biệt chú trọng đến bản sắc văn hóa của địa phương cũng như sự dân chủ và cùng tham gia ở mọi cấp độ Lý thuyết có sự tham gia coi con người là những nhân tố làm chủ hay là những người tham gia vì sự phát triển Lý thuyết có sự tham gia chú trọng vào cộng đồng địa phương hơn là cả dân tộc nói chung, vào thuyết phổ biến nhất nguyên hơn là chủ nghĩa dân tộc

Như vậy, truyền thông phục vụ phát triển (hay truyền thông phát triển) là một kiểu truyền thông, trong đó tất cả những chủ thể tham gia đều được tự do đối thoại

và có quyền tiếp cận các kênh truyền thông, tham gia vào quá trình quảng bá tiếp nhận thông tin những kiến thức mới của mỗi chủ thể Do đó, nội dung cơ bản của truyền thông phát triển gồm:

Thứ nhất, truyền thông phát triển là truyền thông gắn với thay đổi xã hội theo

hướng tiến bộ Truyền thông ra đời, phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người, tác động và liên quan đến mọi cá thể xã hội; đóng vai trò nhân rộng những thay đổi của sự phát triển Truyền thông thay đổi xã hội là quá trình chia sẻ kiến thức nhằm đạt được sự nhất trí trong hành động đáp ứng các mối quan tâm, nhu cầu

và năng lực của tất cả các bên liên quan

Thứ hai, truyền thông phục vụ phát triển xã hội, Ngân hàng Thế giới (WB), một

trong những tổ chức phục vụ phát triển mạnh mẽ nhất toàn cầu nhận định: “Truyền thông phát triển là sự kết hợp truyền thông một cách chiến lược trong các dự án phát triển Truyền thông một cách chiến lược là một công cụ mạnh mẽ có thể cải

Trang 31

thiện cơ hội thành công của dự án phát triển Nó cố gắng để thay đổi hành vi chứ không chỉ là phổ biến thông tin, giáo dục, hoặc nâng cao nhận thức” Cũng như các khái niệm khác, truyền thông phát triển có nhiều cách hiểu và cách tiếp cận khác nhau, tuy nhiên, các nhà nghiên cứu đều chia sẻ ý tưởng chung của khái niệm này là

sử dụng truyền thông để thúc đẩy phát triển xã hội, phục vụ mục tiêu phát triển của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc

Thứ ba, truyền thông phát triển là được thực hiện một phương pháp tiếp cận đặc

biệt là phương pháp tham gia (participatory method) Theo Liên hợp quốc, khái niệm truyền thông phát triển nhấn mạnh nhu cầu hỗ trợ cho hệ thống truyền thông

đa chiều nhằm thúc đẩy đối thoại và cho phép các cộng đồng thể hiện quan điểm, bày tỏ khát vọng, mối quan tâm và tham gia vào các quyết định liên quan đến sự phát triển của các cộng đồng đó [44, tr 340]…Từ đây, một phương thức tiếp cận khác tập trung vào sự tham gia của con người bắt đầu nổi lên, gọi là mô hình sự tham gia Sự tham gia là nhân tố cốt lõi giúp hình thành nên mô hình mới này Theo Mefalopulos, thì khi mô hình này nổi lên, trọng tâm của sự phát triển đã được chuyển dịch từ sự tăng trưởng kinh tế tới việc bao gồm cả các phương diện xã hội [44, tr 339] Cũng theo Mefaloplos thì sự tham gia có ý nghĩa không thể xảy ra nếu thiếu truyền thông Điều đó có nghĩa là người dân được tham gia và tham gia tích cực vào quá trình truyền thông Truyền thông phát triển coi sự tham gia của người dân là nhân tố thiết yếu Bởi vậy nó có thể thúc đẩy quá trình người dân hợp tác và hành động tập thể

Một số mô hình truyền thông phát triển Mô hình Thống lĩnh (Dominant Paradigm)

Về phát triển những năm 1940 đến 1960, coi công nghiệp hóa (industrialization)

là con đường chính thống dẫn đến thành công trong tăng trưởng về kinh tế (Melkote, 2003; Nobuya, 2007) Một cụm từ khác có nội hàm rộng hơn “công nghiệp hóa” là “hiện đại hóa” (modernization) cũng được đề cập trong mô hình thống lĩnh

về phát triển với vai trò tương tự (Mefalopulos, 2008; Rogers, 1976; Mody, 2003), với ý tưởng trọng tâm là giải quyết các vấn đề phát triển bằng quá trình “hiện đại

Trang 32

hóa” Các nước kém phát triển phải tìm những cách khác nhau để noi theo các nước phát triển hơn một cách hiệu quả nhất Theo đó, phát triển được đo lường bởi các chỉ

số định lượng như tổng thu nhập quốc nội (GNP), thu nhập bình quân đầu người Những chỉ số này mang tính chủ quan và định tính khi dùng để đo lường trong tương quan với các khái niệm khác như tự do, công lý và quyền con người (Melkote, 2003) Ở đây các giá trị mang tính xã hội, cá nhân khác bị lấn át bởi các chỉ số về kinh tế và không được đề cập nhiều ở thời kỳ này

Các nhà nghiên cứu tiên phong trong lĩnh vực truyền thông phát triển coi phát triển kinh tế là mục tiêu cuối cùng của phát triển và dồn toàn lực vào việc sử dụng truyền thông để thúc đẩy đạt mục đích này.Theo tiếp cận hiện đại hóa, truyền thông

có vai trò then chốt đối với phát triển, như Lerner (1958) đã khẳng định, và quan điểm này được củng cố bởi nhiều nhà nghiên cứu khác Báo chí được cho là có sức mạnh thúc đẩy nâng cao dân trí, kích thích sự tham gia vào các lĩnh vực chính trị, xã hội, kinh tế của người dân, từ đó, hình thành một xã hội hiện đại

Ở giai đoạn này, truyền thông được gắn kết với việc truyền bá các thông tin và thông điệp hướng đến hiện đại hóa các quốc gia lạc hậu và con người ở các quốc gia này Mô hình này sử dụng phương thức truyền thông truyền thống một chiều từ trên xuống và bị ảnh hưởng khá nhiều của thuyết “Khuếch tán sáng chế”1 của Rogers (Moemeka, 1989; Rogers, 1976)

Mô hình Thống lĩnh cũng bộc lộ những hạn chế nhất định Sự rập khuôn theo

mô hình phương Tây, đồng thời phớt lờ toàn bộ hoàn cảnh địa lý, điều kiện kinh tế

xã hội, cũng như xuất phát điểm của địa phương, bỏ qua các yếu tố văn hóa, con người tại những quốc gia lạc hậu, kém phát triển là những nguyên nhân chính làm nên sự thất bại của mô hình này Ngoài ra, sự đối lập tuyệt đối giữa hai cực truyền thống và hiện đại (muốn phát triển phải dẹp bỏ những yếu tố truyền thống) cũng bộc lộ sự ấu trĩ, thiếu nhân văn của việc áp dụng hiện đại hóa một cách cứng nhắc

1 Thuyết khuếch tán sáng chế - là một lý thuyết tìm kiếm sự giải thích tại sao, như thế nào và điều gì định đoạt các ý tưởng mới, công nghệ mới truyền bá thông qua các nền văn hóa

Trang 33

Mô hình sự phụ thuộc (Dependency)

Mô hình này được coi là mô hình đối lập với mô hình thống lĩnh Những năm

60 của thế kỳ XX, khi tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa bị chỉ trích là “Âu hóa”, thuyết sự phụ nổi lên như một mô hình có tính chất thay thế cho mô hình thống lĩnh (Mefalopulos, 2008) Các nhà khoa học ủng hộ thuyết sự phụ thuộc buộc tôi thuyết hiện đại hóa là lấy phương Tây làm trung tâm, từ chối hoặc lờ đi các con đường khác để có được sự phát triển Thuyết làm rõ sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các yếu tố kinh tế với các yếu tố xã hội, lịch sử

Mô hình “Sự phụ thuộc” đóng vai trò quan trọng trong phong trào đấu tranh cho một “Trật tự thông tin và Truyền thông mới” trên thế giới (New World Information

and Communication Order) vào cuối những năm 1960 cho đến đầu những năm 1980

Những người đề xướng “Trật tự thông tin và truyền thông mới” trên thế giới phê

phán thực trạng hơn 80% dòng chảy thông tin trên thế giới bắt nguồn từ các nước tư bản phương Tây và hình ảnh của các quốc gia đang phát triển xuất hiện trên các phương tiện truyền thông đại chúng đa phần là lệch lạc, với đói nghèo, lạc hậu,

mông muội Những người đề xướng “Trật tự thông tin và truyền thông mới” trên

thế giới đề nghị cần phải tạo ra một cơ chế trao đổi thông tin cân bằng hơn đấu tranh chống các tập đoàn truyền thông quốc tế lũng đoạn thông tin, tiến tới thiết lập trật tự thông tin quốc tế mới, từng bước tạo lập thông tin cân đối hai chiều giữa các nước phát triển và các nước nghèo Đây cũng chính là một trong những mục tiêu nghề nghiệp của Tổ chức Quốc tế các nhà báo (OIJ) hiện nay

Theo Mefalopulos (2008), dù lý thuyết “Sự phụ thuộc” nhấn mạnh đến sự liên

hệ mật thiết giữa truyền thông và văn hóa, và cũng đạt được những dấu ấn nhất định, đến cuối thập kỷ 80 của thế kỷ XX, nó dần mất đi ưu thế của mình do các mô hình kinh tế mà nó đề xuất không gặt hái được các thành công mong muốn Lý thuyết này đề cập đến sự tương quan, ảnh hưởng lẫn nhau giữa sự phát triển về kinh

tế với các vấn đề của con người và xã hội, tuy nhiên, phương thức truyền thông của

mô hình vẫn tương tự như của mô hình thống lĩnh hiện đại hóa đó là truyền thông một chiều (Mefalopulos, 2008)

Trang 34

Mô hình sự tham gia (Participation)

Khi sự hứa hẹn của mô hình “Hiện đại hóa”, mô hình “Sự phụ thuộc” không

được thực hiện thành công, và các phương pháp của nó làm gia tăng tranh cãi, đặc biệt là những vấn đề về ô nhiễm môi trường ở châu Âu, châu Mỹ và Nhật Bản, khủng hoảng năng lượng sau năm 1973 dẫn đến các cuộc chiến tranh và xung đột ở nhiều nơi (Rogers, 1976), đồng thời các lý thuyết gia cũng không đạt được thành công trong việc cung cấp thêm một mô hình thay thế các mô hình cũ, một phương thức tiếp cận khác tập trung vào sự - tham - gia của con người bắt đầu xuất hiện,

gọi là mô hình “Sự tham gia” (participatory model) (Mefalopulos, 2008; Nobuya

Inagaki, 2007; McPhail, 2009)

Truyền thông phát triển không đơn giản là vấn đề truyền tải thông tin rằng các

sự kiện, vấn đề có thể được thực hiện tốt hơn nhờ việc sử dụng các nguồn lực và phương tiện sẵn có Mà quan trọng hơn là trao đổi các thông tin để giải quyết vấn

đề Truyền thông phát triển đồng thời bao gồm việc động viên và khích lệ, thúc đẩy

sự ham muốn và mong muốn được làm việc để đạt được các kỳ vọng đặt ra, giảng dạy kỹ năng mới, khích lệ sự tham gia của người dân vào các hoạt động phát triển Rogers (1976) coi “sự tham gia” là nhân tố cốt lõi giúp hình thành nên mô hình mới này Mô hình này ít tính định hướng đến các khía cạnh chính trị, kinh tế và bén

rễ vào các thực tiễn văn hóa của sự phát triển Theo Mefalopulos (2008), trong mô hình “Sự tham gia”, trọng tâm của vấn đề phát triển được chuyển dịch từ sự tăng tưởng kinh tế sang bao hàm các phương diện xã hội khác, đặc biệt, ông đồng tình với quan điểm của Liên hiệp quốc trong các chương trình Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (The Millennium Development Goals) theo đó, cần đặt tính bền vững của

sự phát triển làm ưu tiên hàng đầu

Mefalopulos (2008) nhấn mạnh rằng “Sự tham gia một cách có ý nghĩa, sẽ

không khả thi nếu thiếu truyền thông” Rogers (1976) nhìn nhận xu hướng thay đổi

của các phương thức trao đổi thông tin từ rất sớm, ngay khi Internet chưa ra đời Ông cũng nhấn mạnh vào các mạng lưới liên cá nhân (interpersonal networks), chính các mạng lưới liên cá nhân này sẽ tạo ra dòng chảy truyền thông mới Khoảng

Trang 35

hai thập kỷ cuối của thế kỷ XX, công nghệ thông tin thế giới có những bước phát triển vượt bậc với sự ra đời của Internet, truyền hình vệ tinh, máy tính và nhiều ứng dụng truyền thông khác làm cho phương thức truyền thông một chiều gặp phải những rào cản và bộc lộ những điểm hạn chế

Mô hình này thể hiện rõ nhất vai trò của truyền thông cộng đồng trong phát triển bền vững Thuật ngữ “tham gia” (participation) khẳng định vai trò chủ thể của các

cá nhân trong chương trình truyền thông, phù hợp với mục tiêu lấy con người làm trọng tâm của phát triển bền vững Mô hình này cũng phát huy vai trò của các tổ chức, đoàn thể như Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh của từng địa phương

Cách thức của truyền thông tham gia cũng đa dạng, có thể là một hoạt động cấp

xã, phường, thôn xóm tổ chức về một chủ đề cụ thể như chống bạo hành gia đình, hay thay đổi tục ma chay cưới hỏi, rửa tay vệ sinh, thói quen sử dụng nước sạch, hướng dẫn phòng tránh thai Ở đó, người dân được tham gia và giao tiếp với nhau,

họ là chủ thể của hình thức truyền thông được thiết kế như một buổi sinh hoạt tập thể, hay với hình thức trò chơi Người làm truyền thông đóng vai trò trọng tài dẫn dắt và gợi ý để các cá nhân tự tìm kiếm tri thức, câu trả lời cho những vấn đề đặt ra

Mô hình này sử dụng truyền thông hai chiều và đối thoại để truyền tải thông điệp và

để đạt được sự tham gia của các bên mà vẫn đảm bảo tính bền vững của sự phát triển

Mô hình truyền thông thay đổi hành vi

Hoạt động tuyên truyền không thể hiệu quả nếu thiếu đi sự vận động, giải thích Truyền thông thay đổi hành vi là mô hình nhấn mạnh vào khả năng thuyết phục của thông tin đối với người tiếp nhận Mô hình thay đổi hành vi dựa trên cơ sở tâm lý học hành vi, bắt đầu từ việc nhận thức cho đến tiếp cận, tiếp nhận, vận dụng, hay khước từ vận dụng những kiến thức, chỉ dẫn của thông tin vào đời sống cá nhân Dựa trên lý thuyết “dòng chảy hai bước” (two step flow), Rogers cho rằng, những tri thức, sự cải tiến, tiến bộ (innovations) được tiếp cận bởi một nhóm tiên phong trong cộng đồng trước khi khuếch tán đến các đối tượng rộng hơn

Trang 36

Giống như việc áp dụng mô hình giống cây trồng mới, các kinh nghiệm hay trong xóa đói giảm nghèo được áp dụng trong cộng đồng qua các bước áp dụng trên quy mô thí điểm, cho tới phổ biến rộng rãi đến các hộ dân

Thông tin muốn thuyết phục phải bảo đảm độ chính xác, tính dễ hiểu, và nghệ thuật đưa tin, làm sao để người dân nhận thấy họ có liên quan, tức là phải tiếp cận

từ nhu cầu của họ, thay vì thuần túy từ phía chủ thể hoạch định chiến lược

Cũng giống như tuyên truyền, mô hình thay đổi hành vi cần được thực hiện thường xuyên, lâu dài để đạt được hiệu quả, nhất là những chương trình nhắm đến thay đổi các hủ tục, những quan niệm sai lầm như mê tín dị đoan, đốt rừng làm rẫy, thói quen sử dụng lãng phí tài nguyên nước, ý thức bảo vệ môi trường, tôn trọng pháp luật, hay các thói quen lạc hậu có thể gây hại trong sinh hoạt hàng ngày của người dân

Mô hình giáo dục – giải trí

Đây là mô hình có sự kết hợp của cả hai phương diện giáo dục và giải trí Các nghiên cứu về hiệu quả truyền thông đều thừa nhận rằng, cá nhân sử dụng truyền thông nhằm thỏa mãn nhu cầu giải trí luôn cao hơn so với nhu cầu thông tin thuần túy

Để phát huy hiệu quả và đạt được mục tiêu phát triển, cần có sự lồng ghép các nội dung giáo dục vào các chương trình giải trí Ví dụ như các “game shows” phổ

biến kiến thức, các chương trình thực tế, điển hình như Con đã lớn khôn, Vượt qua

thử thách… Mô hình giáo dục – giải trí phổ biến ở cấp độ đại chúng thông qua các

phương tiện truyền thông Ở cấp độ cộng đồng, đó là các hình thức tuyên truyền, biểu diễn nghệ thuật lưu động, các sân khấu truyền thống trình diễn các loại hình truyền thống, lồng ghép giáo dục về kỹ năng sống, về xây dựng đời sống văn hóa, văn minh…

Đây chính là cách mà truyền thông phát triển khắc phục sự phiến diện, cực đoan của thời kỳ đầu là đối lập tuyệt đối “cái truyền thống” với “cái hiện đại”; bằng cách ngược lại – phát huy tối đa thế mạnh của các loại hình sinh hoạt dân gian, nghệ thuật truyền thống, mà xét cho cùng cũng chính là những hình thức truyền thông lâu

Trang 37

đời nhất

Mô hình tiếp thị xã hội

Các chương trình quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường, xây dựng nông thôn mới, chống buôn bán phụ nữ trẻ em, hoặc các chương trình phòng chống bướu

cổ, giảm thiểu bệnh đái tháo đường; ở cấp địa phương có thể có các chương trình triển khai mô hình du lịch sinh thái, du lịch xanh, bỏ trồng cây thuốc phiện v.v Lõi của mô hình là một mục tiêu có tính chiến lược, đối tượng thụ hưởng trên diện rộng như kể trên Ở tầm vĩ mô, báo chí và các phương tiện truyền thông đại chúng đều vào cuộc thông tin, tuyên truyền, vận động, thuyết phục Ở cấp vi mô, từng địa phương, cộng đồng có thể triển khai các hoạt động cụ thể Các doanh nghiệp, các nhà khoa học, hội – đoàn thể, cũng tham gia từ góc độ trách nhiệm và khả năng của mình

Kết hợp của cả hai ngành marketing và truyền thông, mô hình tiếp thị xã hội (social marketing) đang được áp dụng rộng rãi nhất hiện nay ở thế giới Ở Việt Nam, các doanh nghiệp, đơn vị, tổ chức cũng đã triển khai nhiều hoạt động truyền thông áp dụng mô hình này nhằm thực hiện trách nhiệm xã hội của mình

1.3 Đặc điểm của Tây Bắc, quan điểm của Đảng và nhà nước về phát triển bền vững vùng Tây Bắc

Vùng Tây Bắc bao gồm 12 tỉnh: Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Phú Thọ, Tuyên Quang và

21 huyện phía Tây của 2 tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An (các huyện phía Tây tỉnh Thanh Hóa: Quan Hóa, Quan Sơn, Mường Lát, Bá Thước, Lang Chánh, Cẩm Thủy, Ngọc Lặc, Thạch Thành, Thường Xuân, Như Xuân, Như Thanh; và các huyện phía Tây Nghệ An: Kỳ Sơn, Tương Dương, Con Cuông, Anh Sơn, Tân Kỳ, Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, Thanh Chương) Tổng diện tích toàn vùng là 74.880.31km2, trong đó, đất nông nghiệp của toàn khu vực chiếm một tỷ lệ nhỏ, còn lại phần lớn là rừng núi

Vùng Tây Bắc được đặc trưng bởi tính phức tạp và đa dạng cao về điều kiện tự nhiên Địa hình chia cắt mạnh tạo nên sự đa dạng về các điều kiện sinh thái, từ vùng

Trang 38

núi cao mây mù đến các vùng núi, cao nguyên đá vôi, các vùng đồi và thung lũng lớn Đây là vùng giầu có về tài nguyên khoáng sản, trong đó một số loại khoáng sản quan trọng như sắt, chì, kẽm, đất hiếm, đá quý,… có trữ lượng khá lớn, tạo nên thế mạnh, và là cơ sở quan trọng để phát triển ngành công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản Bên cạnh đó, Tây Bắc có nhiều sản phẩm rừng có giá trị với miền xuôi

và nước ngoài như sừng tê giác, cây thuốc và gỗ quý Bên cạnh đó, còn có nấm, măng tre, cây gia vị và các cây công nghiệp khác như bạch đàn, keo, xoan, cốt khí… Các loài thú hoang dã, quý hiếm trú ngụ ở các cánh rừng Tây Bắc cũng là nét độc đáo của rừng khu vực này

Tuy nhiên, hiện tại, hầu hết các nguồn khoáng sản và năng lượng này lại chỉ có giá trị khi xuất xuống miền xuôi, chứ chưa thích hợp với nhu cầu phát triển kinh tế nội vùng Đây là một nghịch lý phát triển, khi đồng bào vùng cao phải chịu nhiều thòi về môi trường sinh thái, thì lợi ích của nó lại tập trung phần lớn cho vùng hạ lưu Bởi vậy, việc xem xét và hoàn chỉnh các chiến lược phát triển cho vùng Tây Bắc, trong đó tính đến việc đáp ứng các nhu cầu sống của người dân địa phương là việc cần thiết khi xây dựng các kế hoạch phát triển vùng này

Cảnh quan văn hóa đa dạng cùng vẻ đẹp còn sơ nguyên của núi rừng Tây Bắc

và rất nhiều di tích lịch sử là điểm đến đầy ấn tượng cho những du khách ham khám phá vẻ đẹp của thiên nhiên và con người nơi đây Tây Bắc là vùng đất có tiềm năng

du lịch dồi dào, tuy nhiên, hệ thống giao thông nghèo nàn và cơ sở hạ tầng còn thô

sơ là trở ngại lớn đối với du lịch và giao thương giữa miền núi và miền xuôi Lối sống du canh, du cư của một số cộng đồng dân tộc là bài toán nan giải cho việc ổn định sản xuất nông nghiệp và công nghiệp; dân trí thấp, trình độ giáo dục chưa phát triển là trở ngại lớn cho việc thực hiện có hiệu quả các dự án về phát triển kinh tế,

du lịch, cũng như khai thác tốt tiềm năng của Tây Bắc

Như vậy có thể thấy, vùng Tây Bắc là địa bàn có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng của cả nước, nhưng luôn chứa đựng nhiều vấn đề khó khăn, thách thức cả về điều kiện tự nhiên, lẫn đời sống kinh tế - xã hội của bà con đồng bào dân tộc thiểu

số Xây dựng vùng Tây Bắc phát triển toàn diện, bền vững không chỉ đáp ứng yêu

Trang 39

cầu, nguyện vọng của nhân dân các dân tộc trong vùng, mà còn là nhiệm vụ quan trọng đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh lâu dài của đất nước

Quan điểm của Đảng, Nhà nước về phát triển bền vững được thể hiện rõ thông qua hàng loạt các thông tư, chỉ thị Cụ thể, tại Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 25- 6-1998

về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước, Bộ Chính trị nhấn mạnh: “Bảo vệ môi trường là một nội dung cơ bản không thể tách rời trong đường lối, chủ trương và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tất cả các cấp, các ngành, là cơ sở quan trọng bảo đảm phát triển bền vững, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”[12] Để thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững đất nước, Chính phủ đã ban hành "Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam" (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam) Đi liền với đó là chương trình nghị sự 21 của một số ngành và địa phương cũng đã được xây dựng Đồng thời, Chính phủ cũng ban hành hàng loạt chính sách trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường như Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội 1991 - 2000; Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 25/6/1998 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và được tái khẳng định trong các văn kiện của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, X và XI của Đảng Cộng sản Việt Nam Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 cũng nhấn mạnh “Phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lược” Phát triển bền vững là yêu cầu hàng đầu đối với Việt Nam trong quá trình đổi mới và đẩy mạnh CNH- HĐH đất nước

Khái niệm “Phát triển bền vững” được chính thức đưa ra trong Văn kiện Đại hội VIII

(1996) của Đảng, trong đó nêu rõ: “Tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái”2

Từ Đại hội VIII đến Đại hội XII, Đảng ta từng bước bổ sung quan điểm về phát triển bền vững dựa trên nhận thức về khoa học phát triển bền vững, với 3 trụ cột là: bền vững về kinh tế, bền vững về xã hội, bền vững về sinh thái - tài nguyên và môi

Trang 40

trường Đại hội lần thứ XII của Đảng (2016) tiếp tục bổ sung, hoànthiện quan điểm

về phát triển bền vững với nội dung cơ bản: “Bảo đảm phát triển nhanh, bền vững

trên cơ sở ổn định kinh tế vĩ mô và không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh Phát triển hài hòa giữa chiều rộng và chiều sâu, chú trọng phát triển chiều sâu; phát triển kinh tế tri thức, kinh tế xanh Phát triển kinh tế phải gắn kết chặt chẽ với phát triển văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu Bảo đảm quốc phòng, an ninh, và hòa bình, ổn định

để xây dựng đất nước”

Điểm mới trong quan điểm của Đảng tại Đại hội XII về phát triển bền vững là nhấn mạnh vai trò của yếu tố kinh tế trong 3 trụ cột của phát triển bền vững, coi tăng trưởng kinh tế là điều kiện cần để bảo đảm cho sự bền vững trong phát triển ở Việt Nam Biện pháp hướng tới thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ngoài những yếu tố như phát triển hài hòa giữa chiều rộng và chiều sâu, kinh tế tri thức, Đại hội Đảng XII đề cập tới yếu tố kinh tế xanh Đây cũng là lần đầu tiên khai niệm “kinh tế xanh” được đưa vào Văn kiện Đảng, khẳng định sự phát triển nhận thức của Đảng

về phát triển bền vững trong việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường

Phát triển bền vững ở Việt Nam là phát triển dựa trên sự kết hợp giữa nội lực và sức mạnh của hội nhập quốc tế, phát triển dựa trên yếu tố ổn định xã hội Với quốc gia có 54 dân tộc cùng sinh sống, chính sách về dân tộc có ý nghĩa then chốt để đảm bảo ổn định xã hội và phát triển bền vững đất nước Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng

định: “Dân tộc Việt Nam là một, đất nước Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có

thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi” Theo lời dạy của Người, Đảng ta

luôn đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng khối đoàn kết toàn dân tộc, quan tâm phát triển toàn diện và bền vững vùng dân tộc thiểu số Đại hội Đảng lần thứ IV xác

định: Giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc là một trong những nhiệm vụ có tính chất

chiến lược của cách mạng Việt Nam Tất cả các văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi

mới đều xác định vị trí của vấn đề dân tộc trên hành trình đổi mới của đất nước là vấn đề “có vị trí chiến lược lớn”, “luôn luôn có vị trí chiến lược”, “có vị trí chiến

Ngày đăng: 07/12/2019, 07:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w