--- Hà Thu Hằng HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI GIÁO DỤC PHÁP LUẬT VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG LĨNH VỰC HÔN NHÂN GIA ĐÌNH CHO PHỤ NỮ DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI XÃ ĐẠI DỰC, HUYỆN TIÊN YÊN, TỈNH
Trang 1-
Hà Thu Hằng
HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI GIÁO DỤC PHÁP LUẬT VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG LĨNH VỰC HÔN NHÂN GIA ĐÌNH CHO PHỤ NỮ DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI XÃ ĐẠI DỰC, HUYỆN TIÊN YÊN,
TỈNH QUẢNG NINH HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
HÀ NỘI - 2018
Trang 2-
Hà Thu Hằng
HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI GIÁO DỤC PHÁP LUẬT VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG LĨNH VỰC HÔN NHÂN GIA ĐÌNH CHO PHỤ NỮ DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI XÃ ĐẠI DỰC, HUYỆN TIÊN YÊN,
TỈNH QUẢNG NINH HIỆN NAY Chuyên ngành: Công tác xã hội (Định hướng ứng dụng)
Mã số: 60 90 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, do chính tác giả thực hiện và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận văn
Hà Thu Hằng
Trang 4MỤC LỤC
BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT 4
DANH MỤC BẢNG BIỂU 5
MỞ ĐẦU 6
1 Tính cấp thiết của đề tài 6
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 7
3 Những đóng góp của luận văn 10
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 11
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 11
6 Câu hỏi nghiên cứu của luận văn 12
7 Cấu trúc của luận văn 13
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN, ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
1.1 Cơ sở lý luận 14
1.2 Địa bàn nghiên cứu 16
1.2.1 Đặc điểm, tình hình có liên quan đến giáo dục pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực hôn nhân gia đình cho phụ nữ dân tộc thiểu số xã Đại Dực,
huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh 16
1.2.2 Khái quát tình hình Hội liên hiệp phụ nữ huyện Tiên Yên và xã Đại Dực, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh 19
1.2.3 Đặc điểm phụ nữ dân tộc Sán Chỉ ở xã Đại Dực, huyện Tiên Yên,
tỉnh Quảng Ninh 22
1.2.4 Tầm quan trọng của việc giáo dục pháp luật về bình đẳng giới trong
lĩnh vực hôn nhân gia đình cho phụ nữ dân tộc thiểu số 24
1.2.5 Mục đích giáo dục pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực hôn nhân gia đình cho phụ nữ dân tộc thiểu số 26
1.3 Nội dung và hình thức của giáo dục pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực hôn nhân gia đình cho phụ nữ dân tộc thiểu số 28
1.3.1 Nội dung của giáo dục pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực
hôn nhân gia đình cho phụ nữ dân tộc thiểu số 28
1.3.2 Hình thức của giáo dục pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực
hôn nhân gia đình cho phụ nữ dân tộc thiểu số 30
Trang 51.4 Vai trò hoạt động công tác xã hội trong giáo dục pháp luật về bình đẳng giới
trong lĩnh vực hôn nhân gia đình phụ nữ dân tộc thiểu số 34
1.5 Phương pháp nghiên cứu 35
1.5.1 Phương pháp duy vật biện chứng 35
1.5.2 Phương pháp duy vật lịch sử 36
1.5.3 Phương pháp phân tích tài liệu 36
1.5.4 Phương pháp quan sát 36
1.5.5 Phương pháp phỏng vấn sâu 36
1.5.6 Phương pháp Điều tra xã hội học 36
Chương 2: THỰC TRẠNG BÌNH ĐẲNG GIỚI VÀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG LĨNH VỰC HÔN NHÂN GIA ĐÌNH
CHO PHỤ NỮ DÂN TỘC THIỂU SỐ XÃ ĐẠI DỰC, HUYỆN TIÊN YÊN, TỈNH QUẢNG NINH 37
2.1 Thực trạng hoạt động công tác xã hội đối với giáo dục pháp luật bình đẳng giới trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình cho phụ nữ dân tộc thiểu số ở xã Đại Dực, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh 37
2.1.1 Hoạt động tuyên truyền của Hội LHPN huyện Tiên Yên và Hội LHPN
xã Đại Dực 37
2.1.2 Hoạt động thông qua báo cáo viên, tuyên truyền viên 38
2.1.3 Hoạt động thông qua các buổi sinh hoạt chuyên đề, sân khấu hóa, hội thi, câu lạc bộ 40
2.1.4 Các hoạt động lồng ghép giáo dục pháp luật về bình đẳng giới 42
2.1.5 Đánh giá chung 45
2.1.6 Một số tồn tại, hạn chế 46
2.1.7 Nguyên nhân dẫn đến những tồn tại, hạn chế 48
Tiểu kết chương 2 57
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI GIÁO DỤC PHÁP LUẬT VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG
LĨNH VỰC HÔN NHÂN GIA ĐÌNH CHO PHỤ NỮ DÂN TỘC THIỂU SỐ XÃ ĐẠI DỰC 59
3.1 Quan điểm về giáo dục pháp luật bình đẳng giới trong lĩnh vực hôn nhân
gia đình cho phụ nữ dân tộc thiểu số xã Đại Dực, huyện Tiên Yên,
tỉnh Quảng Ninh 59
Trang 63.1.1 Giáo dục BĐG nhằm giải phóng người phụ nữ DTTS khỏi những
ràng buộc của phong tục - tập quán lạc hậu, tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia
các lĩnh vực đời sống xã hội 59
3.1.2 Giáo dục BĐG cho phụ nữ DTTS cần phải thay đổi nhận thức về vai trò và vị trí của phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội 60
3.1.3 Giáo dục BĐG cho phụ nữ DTTS là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội và từng gia đình 61
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động công tác xã hội đối với giáo dục pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực hôn nhân gia đình cho phụ nữ dân tộc thiểu số xã Đại Dực, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh 62
3.2.1 Phát huy vai trò nỗ lực vươn lên của phụ nữ dân tộc thiểu số ở xã
Đại Dực, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh 62
3.2.2 Đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền, giáo dục pháp luật về
bình đẳng giới trong lĩnh vực hôn nhân gia đình 65
3.2.3 Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ hội, báo cáo viên, cán bộ chuyên trách cơ sở 67
3.2.4 Xây dựng, củng cố Hội Liên hiệp phụ nữ xã Đại Dực thực sự vững mạnh, phát huy đầy đủ vai trò nòng cốt trong công tác giáo dục bình đẳng giới cho phụ nữ dân tộc thiểu số 72
3.2.5 Huy động sự tham gia của toàn hệ thống chính trị vào công tác giáo dục pháp luật về bình đẳng giới cho phụ nữ dân tộc thiểu số 74
3.2.6 Cấp ủy, chính quyền cần quan tâm bố trí kinh phí hỗ trợ công tác giáo dục pháp luật về bình đẳng giới ở địa phương 76
3.2.7 Xây dựng và nhân rộng mô hình Câu lạc bộ gia đình hạnh phúc nhằm nâng cao nhận thức của người dân địa phương về bình đẳng giới 78
Tiểu kết chương 3 82
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PHỤ LỤC 90
Trang 7PBGDPL Phổ biến giáo dục pháp luật
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Tỷ lệ nam giới và phụ nữ tham gia sinh hoạt cộng đồng 44
Bảng 2.2: Tỷ lệ tiếp nhận giáo dục pháp luật bình đẳng giới qua các kênh
truyền thông 45
Bảng 3.1: Bảng kế hoạch nội dung tập huấn nhóm nòng cốt 69
Bảng 3.2: Bảng kế hoạch thực hiện với khoảng thời gian cụ thể 70
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thời gian qua công tác giáo dục pháp luật về bình đẳng giới nói chung, giáo dục pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực hôn nhân gia đình cho cán
bộ, nhân dân ở nông thôn, vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít người nói riêng đã đạt được nhiều kết quả đáng kể, góp phần nâng cao trình độ hiểu biết về pháp luật, nâng cao văn hóa pháp lý trong nhân dân, bước đầu tạo dựng ổn định trong lối sống, làm việc theo Hiến pháp và pháp luật ở các đối tượng cụ thể Tuy nhiên, cho đến nay, so với nhu cầu thực tiễn, công tác giáo dục pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực hôn nhân gia đình vẫn còn nhiều bất cập và hạn chế, đặc biệt giáo dục pháp luật cho đối tượng là phụ nữ vùng dân tộc ít người (trong đó có phụ nữ dân tộc thiểu số xã Đại Dực, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh)
Đại Dực là xã miền núi nằm ở phía Đông Bắc huyện Tiên Yên Phía Đông giáp xã Quảng An - huyện Đầm Hà; phía Nam giáp xã Đông Ngũ, phía Tây giáp xã Phong Dụ - Huyện Tiên Yên; phía Bắc giáp xã Húc Động - Huyện Bình Liêu Diện tích của xã là 2708,77ha, Đại Đực là một trong 11 xã miền núi khó khăn thuộc huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh, dân số của xã
1556 người gồm 380 hộ; trong đó, người dân tộc thiểu số chiếm 99% (chủ yếu là dân tộc Sán chỉ), 1% (là dân tộc Dao)
Phụ nữ dân tộc thiểu số sinh sống ở huyện miền núi có nền kinh tế thấp, văn hóa, xã hội chưa phát triển, họ quan tâm đến nhu cầu tìm kiếm cơm ăn, áo mặc hơn nhu cầu tiếp xúc các tri thức văn hóa, chuẩn mực xã hội trong đó có pháp luật Mặt khác, trình độ dân trí nói chung, trình độ kiến thức hiểu biết pháp luật về bình đẳng giới của phụ nữ dân tộc còn tương đối thấp Thiếu kiến thức, hiểu biết pháp luật khiến cho phụ nữ dân tộc thiểu số khó khăn trong việc bảo vệ quyền con người, không hiểu về bình đẳng giới, hạn chế trong việc tiếp cận với những chính sách pháp luật dành riêng cho đồng bào dân tộc thiểu số
Trang 10Do khoảng cách về vị trí địa lý, kinh tế khó khăn phụ nữ dân tộc thiểu số không có điều kiện tiếp xúc với công nghệ thông tin, hơn nữa hàng ngày họ phải tham gia lao động sản xuất nông nghiệp để lo kinh tế gia đình nên không
có thời gian tiếp cận, tìm hiểu về bình đẳng giới Thực trạng đó đã và đang là lực cản để phụ nữ dân tộc thiểu số tiến dần đến với bình đẳng giới
Giáo dục pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực hôn nhân gia đình cho phụ nữ dân tộc thiểu số là một biện pháp hữu hiệu nhằm trang bị những kiến thức, hiểu biết pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật hơn nữa giúp họ hiểu được quyền và nghĩa vụ trong hôn nhân gia đình Vì vậy, hoạt động công tác
xã hội của Hội Phụ nữ trong giáo dục pháp luật về bình đẳng giới cho phụ nữ dân tộc thiểu số xã Đại Dực, huyện Tiên Yên là vô cùng quan trọng
Trên cơ sở đó tôi quyết định chọn “Hoạt động công tác xã hội đối với
giáo dục pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực hôn nhân gia đình cho phụ nữ dân tộc thiểu số tại xã Đại Dực, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh hiện nay” làm đề tài nghiên cứu của mình bởi đây là đề tài có nhiều điểm mới
và tính thực tiễn cao để áp dụng vào tình hình thực tế tại địa phương
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Bước vào giai đoạn mới của tiến trình đổi mới, vấn đề bình đẳng của phụ
nữ nói riêng và bình đẳng giới nói chung có ý nghĩa quan trọng đặc biệt khi nước ta thực hiện mục tiêu mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế trên nhiều lĩnh vực Vì vậy, việc nghiên cứu về quyền bình đẳng tiếp tục là đề tài được nhiều nhà khoa học quan tâm, đi sâu nghiên cứu nhằm khẳng định địa vị của người phụ nữ và tạo cơ hội cho phụ nữ trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đóng góp cho sự nghiệp đổi mới đất nước
Nhiều công trình, đề tài được công bố là cơ sở cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật, chính sách dành cho phụ nữ, vì sự tiến bộ của phụ nữ, phòng, chống phân biệt đối xử đối với phụ nữ Một số công trình, đề tài nghiên cứu được các chuyên gia dưới các góc độ và trong phạm vi khác nhau,
Trang 11tiêu biểu là: Lê Ngọc H ng: ã hội học về giới và phát triển”, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2000; Ngô Bá Thành: Sự bình đẳng về cơ hội kinh tế của phụ nữ trong pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật ở Việt Nam”, xuất bản năm 2001; Đưa vấn đề giới vào phát triển: thông qua sự bình đẳng giới
về quyền, nguồn lực và tiếng nói”, Nxb Văn hóa - Thông tin, năm 2001; Lương Phan Cừ: Bình đẳng giới- hiện trạng chính sách và pháp luật về bình đẳng giới”, xuất bản năm 2004; Lê Thi - Viện khoa học xã hội Việt Nam: Gia đình, phụ nữ Việt Nam với dân số, văn hóa và sự phát triển bền vững”, Nxb Khoa học xã hội, năm 2004; Đỗ Thị Thạch: Phát huy nguồn lực trí thức
nữ Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Nxb Chính trị quốc gia, năm 2005; Lê Ngọc Văn (chủ biên) - Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Gia đình và giới: Nghiên cứu gia đình lý thuyết nữ quyền, quan điểm giới”, Nxb Khoa học xã hội, năm 2006; Viện Khoa học xã hội Việt Nam,Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ, Trung tâm Nghiên cứu giới và gia đình: Giới, việc làm và đời sống gia đình”, Nxb Khoa học xã hội, năm 2007;
LS Trịnh Đình Thể: Suy nghĩ về bình đẳng giới dưới góc nhìn pháp luật”, Nxb Tư pháp, năm 2007
Đây cũng là một vấn đề của các luận văn và luận án đề cập đến: Dương Thị Ngọc Lan: Hoàn thiện pháp luật về quyền lao động nữ ở Việt Nam hiện nay”, Chuyên ngành Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật, năm 2000; Chu Thị Thoa: Bình đẳng giới trong gia đình ở nông thôn đồng bằng sông Hồng hiện nay”, chuyên ngành Chủ nghĩa cộng sản khoa học, năm 2002; Đặng Thị Ánh Tuyết: Bình đẳng giới ở nông thôn miền núi phía Bắc hiện nay”, Chuyên ngành ã hội học; Hoàng Mai Hương: Hoàn thiện pháp luật
về quyền chính trị của phụ nữ ở Việt Nam hiện nay”, Chuyên ngành Lý luận
và lịch sử Nhà nước và pháp luật,; Cao Quốc Việt: Hoàn thiện pháp luật phòng chống mua, bán phụ nữ, trẻ em ở Việt Nam hiện nay”, Chuyên ngành
Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật, năm 2006; Nguyễn Thanh Sơn:
Trang 12Hoàn thiện pháp luật về phòng chống tệ nạn xã hội ở Việt Nam hiện nay”, chuyên ngành Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật, năm 2006; Thực trạng bất bình đẳng giới trong gia đình ở xã Tân Lập, Sông Lô, Vĩnh Phúc” Vấn đề bình đẳng giới còn được đề cập trong nhiều tạp chí pháp luật, tạp chí phụ nữ, tạp chí nhân quyền và các hội thảo khoa học trên toàn quốc Mặc
d đã có nhiều công trình về bình đẳng giới và quyền phụ nữ, nhưng nhìn chung những công trình nêu trên chỉ mới đề cập một số khía cạnh liên quan đến bình đẳng giới, bình đẳng giới trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình Đề
tài:"Hoạt động công tác xã hội đối với giáo dục pháp luật về bình đẳng giới
trong lĩnh vực hôn nhân gia đình cho phụ nữ dân tộc thiểu số tại xã Đại Dực, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh hiện nay” sẽ góp phần làm phong phú thêm
vào dữ liệu công trình nghiên cứu khoa học về vấn đề giáo dục bình đẳng giới trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình cho phụ nữ nghèo Thông qua nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng và đưa ra những giải pháp nâng cao hoạt động công tác xã hội giúp trang bị kiến thức về pháp luật bình đẳng giới về hôn nhân và gia đình cho đối tượng là phụ nữ v ng đồng bào dân tộc thiểu số, nhằm nâng cao kiến thức pháp luật, ý thức chấp hành pháp luật và từng bước thay đổi nhận thức, hành vi của phụ nữ dân tộc thiểu số xã Đại Dực, huyện Tiên Yên Mặc d đây không phải là đề tài mới hoàn toàn nhưng có thể thấy một số điểm khác biệt so với các công trình nghiên cứu khác, cụ thể:
Thứ nhất, về khách thể nghiên cứu: được tiến hành ở xã Đại Dực, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh
Thứ hai, về đối tượng nghiên cứu: hoạt động công tác xã hội đối với giáo dục pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực hôn nhân gia đình cho phụ nữ dân tộc thiểu số
Thứ ba, về hoạt động trợ giúp, hỗ trợ cho nhóm đối tượng được xây dựng bằng cách khai thác, sử dụng chính những nguồn lực sẵn có của địa phương và cộng đồng
Trang 133 Những đóng góp của luận văn
3.1 Ý nghĩa khoa học
Luận văn là công trình khoa học góp phần bổ sung thêm nguồn tài liệu trong giáo dục pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực hôn nhân gia đình cho phụ nữ; qua trường hợp phụ nữ dân tộc thiểu số xã Đại Dực, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh Do đó, luận văn có một số đóng góp như sau:
- Hệ thống hóa các khái niệm và lý thuyết, chỉ ra các đặc trưng, các phương pháp phát triển hoạt động công tác xã hội nhóm trong giáo dục pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực hôn nhân gia đình cho phụ nữ dân tộc thiểu số; luận văn cũng chỉ ra được các yếu tố chủ quan và khách quan ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục pháp luật về bình đẳng giới cho phụ nữ dân tộc thiểu số
- Dựa trên kết quả điều tra khảo sát thực tiễn, các nguồn tài liệu sẵn có, luận văn đã phân tích, đánh giá, chỉ ra được kết quả, hạn chế, nguyên nhân của những kết quả và hạn chế hoạt động công tác xã hội trong giáo dục pháp luật về bình đẳng giới cho phụ nữ dân tộc thiểu số
- Luận văn đưa ra được các giải pháp toàn diện đảm bảo cho việc giáo dục pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực hôn nhân gia đình cho phụ nữ dân tộc thiểu số đạt hiệu quả cao hơn trong giai đoạn hiện nay
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu này được tiến hành với mục đích ứng dụng tiến trình hoạt động công tác xã hội nhóm với đối tượng là phụ nữ dân tộc thiểu số dựa trên việc tìm hiểu thực trạng, khảo sát chính nhu cầu của họ với pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực hôn nhân gia đình Qua đó, giúp cho đối tượng có cơ hội chia sẻ những khó khăn, vướng mắc trong cuộc sống để họ có thể tiếp cận
và biết đến pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực hôn nhân gia đình nhiều hơn nữa
Trang 14Các giải pháp mà luận văn đưa ra có thể làm tài liệu trong công tác giáo dục pháp luật đối với bình đẳng giới trong lĩnh vực hôn nhân gia đình cho nhóm đối tượng là phụ nữ v ng đồng bào dân tộc thiểu số trong toàn tỉnh
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
4.1 Mục đích nghiên cứu
Hoạt động công tác xã hội nhóm trong giáo dục pháp luật đối với bình đẳng giới trong lĩnh vực hôn nhân gia đình cho phụ nữ dân tộc thiểu số tại xã Đại Dực, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh Qua đó giúp cho phụ nữ dân tộc thiểu số tiếp cận, hiểu thêm về bình đẳng giới trong lĩnh vực hôn nhân gia đình
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, tác giả tập trung vào nghiên cứu để làm rõ hoạt động công tác xã hội nhóm đối với giáo dục pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực hôn nhân gia đình cho phụ nữ dân tộc thiểu số tại xã Đại Dực,
huyện Tiên Yên tỉnh Quảng Ninh:
- Làm rõ cơ sở lý luận về hoạt động công tác xã hội nhóm đối với giáo dục pháp luật về bình đẳng giới trong hôn nhân gia đình cho phụ nữ dân tộc thiểu số
- Phân tích thực trạng tình hình hiểu biết pháp luật về bình đẳng giới trong hôn nhân gia đình của phụ nữ dân tộc thiểu số
- Hoạt động giáo dục về bình đẳng giới cho phụ nữ dân tộc thiểu số tại địa bàn nghiên cứu
- Đề xuất giải pháp nâng cao hoạt động công tác xã hội giúp phụ nữ dân tộc thiểu số có cơ hội tiếp cận, tìm hiểu pháp luật về bình đẳng giới trong hôn nhân gia đình
5 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động công tác xã hội đối với giáo dục pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực hôn nhân gia đình cho phụ nữ dân tộc thiểu số xã Đại Dực,
huyện Tiên Yên
Trang 155.2 Khách thể nghiên cứu
Phụ nữ là người dân tộc thiểu số xã Đại Dực, huyện Tiên Yên
Chính quyền địa phương, cán bộ Hội LHPN xã, các Đoàn thể chính trị
xã hội khác (Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên), nam giới (là người dân tộc)
5.3 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao hoạt động công tác xã hội đối với giáo dục pháp luật về bình đẳng giới trong hôn nhân gia đình cho phụ nữ dân tộc thiểu số tại xã Đại Dực hiện nay
Về không gian: Trong phạm vi xã Đại Dực, huyện Tiên Yên, tỉnh
Quảng Ninh
Về thời gian: Thực hiện nghiên cứu trong năm 2017
6 Câu hỏi nghiên cứu của luận văn
6.1 Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng nhận thức pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực hôn nhân gia đình của phụ nữ dân tộc thiểu số xã Đại Dực, huyện Tiên Yên hiện nay như thế nào?
- Hoạt động công tác xã hội trong giáo dục pháp luật về bình dẳng giới trong hôn nhân gia đình cho phụ nữ dân tộc thiểu số xã Đại Dực, huyện Tiên Yên được triển khai ra sao?
- Hoạt động công tác xã hội trong giáo dục pháp luật về bình dẳng giới trong hôn nhân gia đình cho phụ nữ dân tộc thiểu số có những thuận lợi và khó khăn gì?
- Giải pháp nào cần triển khai để nâng cao hiệu quả hoạt động công tác
xã hội đối với giáo dục pháp luật về bình đẳng giới trong hôn nhân gia đình
cho phụ nữ dân tộc thiểu số xã Đại Dực, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh?
6.2 Giả thuyết nghiên cứu
- Phụ nữ dân tộc thiểu số tại xã Đại Dực, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh với trình độ kiến thức hiểu biết pháp luật về bình đẳng giới của phụ nữ
Trang 16dân tộc còn tương đối thấp Do khoảng cách về vị trí địa lý, kinh tế khó khăn phụ nữ dân tộc thiểu số không có điều kiện tiếp xúc với công nghệ thông tin, hơn nữa hàng ngày họ phải tham gia lao động sản xuất nông nghiệp để lo kinh
tế gia đình nên không có thời gian tiếp cận, tìm hiểu về bình đẳng giới
- Giáo dục pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực hôn nhân gia đình cho phụ nữ dân tộc thiểu số là một biện pháp hữu hiệu nhằm trang bị những kiến thức, hiểu biết pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật hơn nữa giúp họ hiểu được quyền và nghĩa vụ trong hôn nhân gia đình
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn bao gồm có 3 chương
Trang 17Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN, ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Một số khái niệm
- Hoạt động công tác xã hội
Theo Giáo trình Nhập môn Công tác xã hộicủa B i Thị uân Mai thì công tác xã hội là một nghề chuyên hỗ trợ, giúp đỡ những người gặp khó khăn hoặc những người bị đẩy ra ngoài xã hội (người nghèo, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, phụ nữ, người già ) Sứ mạng của ngành công tác xã hội là nỗ lực hành động nhằm giảm thiểu:
- Những rào cản trong xã hội
- Sự bất công
- Và sự bất bình đẳng xã hội và bất bình đẳng kinh tế
Từ khái niệm về công tác xã hội, có thể hiểu hoạt động công tác xã hội
là hoạt động hỗ trợ, giúp đỡ những người gặp khó khăn, rào cản, bất công trong xã hội Đối tượng được hướng đến chăm sóc, phục vụ đều là những đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt, là những người cần chăm sóc sức khỏe, được bảo vệ, che chở…
- Giáo dục pháp luật
Giáo dục pháp luật là một khái niệm rộng bao gồm cả quá trình nâng
cao tri thức pháp luật cho đối tượng và bằng mọi cách (Thuyết phục, nêu gương, ám thị ) hình thành tình cảm, niềm tin pháp luật cho đối tượng, từ đó nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của đối tượng [25]
- Bình đẳng giới
TheoLuật Bình đẳng giới, Bình đẳng giới là sự thừa nhận và coi trọng như nhau các đặc điểm giống và khác nhau giữa phụ nữ và nam giới
Trang 18Phụ nữ và nam giới có vị thế bình đẳng như nhau và cùng:
+ Có điều kiện bình đẳng để phát huy hết khả năng và thực hiện các nguyện vọng của mình
+ Có cơ hội bình đẳng để tham gia, đóng góp và thụ hưởng các nguồn lực xã hội và thành quả phát triển
+ Được bình đẳng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình [8] Luật Bình Đẳng Giới ra đời năm 2006 định nghĩa bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó.” Vai trò và vị trí ngang nhau không có nghĩa là nam và nữ phải có những trách nhiệm giống nhau trong xã hội Trái lại, định nghĩa này nhấn mạnh việc thừa nhận và tôn trọng sự khác biệt trong vai trò và trách nhiệm của nam và nữ giới trong gia đình cũng như ngoài xã hội Bình đẳng giới cũng có nghĩa nam và nữ hưởng quyền lợi như nhau, thừa hưởng những cơ hội và điều kiện để tiếp cận nguồn lực một cách bình đẳng và tận hưởng những thành quả của phát triển xã hội, văn hóa, chính trị và kinh tế Thể hiện cao nhất của bình đẳng giới là qua việc đánh giá ngang nhau tiếng nói của nam giới và nữ giới trong những quyết định của gia đình
và xã hội
- Bình đẳng giới trong lĩnh vực hôn nhân gia đình
Bình đẳng giới trong gia đình là việc vợ và chồng, con trai và con gái, các thành viên nam và nữ trong gia đình có vị trí, vai trò ngang nhau, quyền được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của gia đình như nhau, quyền được thụ hưởng về thành quả phát triển của gia đình
và xã hội ngang nhau, quyền được tham gia quyết định các vấn đề của bản thân và của gia đình Trên cơ sở các quyền đó, các thành viên trong gia đình được tự do tham gia vào các công việc gia đình và ngoài xã hội tùy theo khả năng và sở thích của mình, được tự do lựa chọn những vai trò giống nhau
Trang 19hoặc khác nhautrong gia đình t y theo mục đích của mỗi người, được tự do lựa chọn cách thức thụ hưởng các thành quả tùy theo sở thích của mỗi người Tuy nhiên, bình đẳng không có nghĩa là bằng nhau, do đặc điểm sinh học khác nhau và tính chất vai trò khác nhau mà sẽ có những sự bình đẳng thực chất phù hợp với từng cá nhân trong gia đình.[20]
- Phụ nữ dân tộc thiểu số
Phụ nữ dân tộc thiểu số là phụ nữ thuộc các dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Tày, N ng, Ê đê…
- Hoạt động công tác xã hội đối với giáo dục pháp luật về bình đẳng giới trong hôn nhân gia đình cho phụ nữ dân tộc thiểu số
1.2 Địa bàn nghiên cứu
1.2.1 Đặc điểm, tình hình có liên quan đến giáo dục pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực hôn nhân gia đình cho phụ nữ dân tộc thiểu số xã Đại Dực, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh
1.2.1.1 Khái quát đặc điểm xã Đại Dực, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh
1.2.1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý:Tiên Yên là một huyện miền núi thuộc khu vực Miền Đông
của tỉnh; phía Bắc giáp huyện Đình Lập thuộc tỉnh Lạng Sơn và huyện Bình Liêu, phía Đông giáp huyện Đầm Hà, phía Tây giáp huyện Ba Chẽ và thị xã Cẩm Phả, phía Nam giáp huyện Vân Đồn Với diện tích rộng 64.789 ha, đứng thứ hai trong tỉnh sau Hoành Bồ,
Theo Nghị định số 58/2006/NĐ-CP ngày 12/6/2006 của Chính phủ, xã Đại Dực được chia tách thành xã Đại Dực và xã Đại Thành Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính, xã Đại Dực là có diện tích 25.61 km², là một trong
12 xã, thị trấn thuộc huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh Đại Dực là xã v ng cao của huyện Tiên Yên, có vị trí nằm ở phía đông bắc huyện Tiên Yên, phía bắc giáp xã Tình Húc và xã Húc Động, huyện Bình Liêu; phía tây bắc giáp xã
Trang 20Vô Ngại, huyện Bình Liêu, phía đông giáp xã Quảng An, huyện Đầm Hà; phía tây nam giáp xã Đại Thành, huyện Tiên Yên và phía nam giáp các xã Yên Than và Đông Ngũ, huyện Tiên Yên Từ xã Đại Dực đến trung tâm
huyện Tiên Yên có khoảng cách gần 30km
- Địa hình:Địa hình Tiên Yên chủ yếu là đồi núi, thung lũng, có nhiều
sông suối Theo đặc điểm địa hình huyện có thể chia làm 2 v ng sau: V ng miền núi gồm 6 xã: Hà Lâu, Điền á, Yên Than, Phong Dụ, Đại Dực, Đại Thành; v ng đồng bằng ven biển gồm 6 xã, thị trấn: Đông Ngũ, Đông hải, Hải Lạng, Tiên Lãng, Đồng Rui và Thị Trấn ã Đại Dực có địa hình đặc trưng của v ng miền núi huyện Tiên Yên, nằm lọt ở chân dãy Pạc Sủi và dẫy Thung Châu với nhiều đỉnh cao trên 700m
1.2.1.1.2 Đặc điểm dân cư, kinh tế - xã hội
- Đặc điểm dân cư:
Tiên Yên hiện có 10 dân tộc anh em cùng sinh sống với gần 4,9 vạn dân; trong đó, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 50,2% dân số Vài năm trở lại đây,
v ng đồng bào dân tộc thiểu số ở huyện đã có nhiều chuyển biến tích cực: đời sống người dân dần cải thiện, trình độ dân trí từng bước được nâng cao, khoảng cách giữa các vùng dần được thu hẹp
Là xã vùng cao nằm ở phía đông bắc của huyện Tiên Yên, xã Đại Dực
có 5 thôn bản với 375 hộ, 1.513 nhân khẩu Trong đó, 100% người dân là đồng bào dân tộc thiểu số có đời sống còn rất nhiều khó khăn.Dân cư tại xã Đại Dực chỉ yếu là người Sán Chỉ Người Sán Chỉ chiếm tới 95% dân số xã, phần còn lại là các dân tộc khác Người Sán Chỉ sống tập trung thành từng xóm nhỏ, thường được sắp xếp theo một hệ thống nhất định trên sườn núi cao
và nơi gần nguồn nước Độ tuổi của người dân xã Đại Dực phân bổ khá đều, trong đó, người dân có số tuổi dưới 30 tuổi chiếm khoảng 30%, từ 30 tuổi đến
60 tuổi chiếm 45%, trên 60 tuổi chiếm 25%
Trang 21- Đặc điểm kinh tế - xã hội:
Trong thời gian qua với nguồn vốn được phân bổ từ Dự án hỗ trợ phát triển sản xuất, Đại Dực tập trung khảo sát và xây dựng những mô hình kinh tế
ph hợp với điều kiện của xã, từ đó nâng cao mức sống của người dân C ng với đó, các hội, tổ chức, đoàn thể của xã cũng đẩy mạnh công tác vận động, tuyên truyền và giúp đỡ hộ nghèo tích cực tham gia các dự án phát triển kinh
tế Nhờ vậy, một số mô hình hay, cách làm hiệu quả đã được triển khai, thu hút được sự quan tâm của người dân và sớm nhân ra trên diện rộng Chẳng hạn như Dự án chăn nuôi, bảo tồn giống gà Tiên Yên với hơn 100 lượt hộ nghèo tham gia; mô hình nuôi chim trĩ, ngan pháp, tắc kè; mô hình trồng thanh long ruột đỏ, hỗ trợ mô hình trồng và chế biến miến dong trên địa bàn toàn xã…
Hiệu quả từ các chính sách của Trung ương và tỉnh tại v ng miền núi, biên giới, dân tộc thiểu số trên địa bàn xã đã góp phần không nhỏ trong việc thay đổi nhận thức và từng bước cải thiện đời sống của người dân nơi đây Nhờ đó, tỷ lệ hộ nghèo của xã Đại Dực năm 2006 là 83,8% thì nay giảm xuống chỉ còn dưới 20% Với tốc độ phát triển như hiện nay, tin rằng, Đại Dực sẽ thực hiện thành công công tác xoá nghèo trong thời gian không xa Song song với việc đẩy mạnh công tác phát triển kinh tế, Đại Dực còn chú trọng thực hiện các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, phục vụ đời sống của người dân nơi đây Từ sự quan tâm, hỗ trợ của tỉnh và huyện, đến nay Đại Dực đã có đường bê tông đến trung tâm xã; cơ sở hạ tầng thiết yếu như đường tiểu mạch, công trình thuỷ lợi, điện …hay các công trình phúc lợi xã hội khác được đặc biệt quan tâm đầu tư, trong đó được đầu tư lớn nhất là hệ thống trường học và các điểm trường v ng khó Điều này đã giúp cho con em đồng bào dân tộc v ng sâu, v ng xa có điều kiện thuận lợi để đến trường Tỷ lệ m chữ của con em người dẫn xã Đại Dực đã giảm mạnh
Trang 221.2.2 Khái quát tình hình Hội liên hiệp phụ nữ huyện Tiên Yên và xã Đại Dực, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh
1.2.2.1 Cơ cấu tổ chức Hội liên hiệp phụ nữ huyện, Hội Liên hiệp phụ nữ
xã Đại Dực
Trong nhiệm kỳ 2016 - 2021, Hội LHPN huyện Tiên Yên luôn xác định công tác phát triển tổ chức, xây dựng nguồn nhân lực là nhiệm vụ trọng tâm, then chốt, là yếu tố quyết định để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác Hội
* Cơ cấu tổ chức Hội liên hiệp phụ nữ huyện Tiên Yên:
Nhiệm kỳ 2016 - 2021 cơ cấu 35 đồng chí ủy viên Ban chấp hành Hội LHPN huyện, trong đó có 7 đồng chí Ủy viên BTV (05 đồng chí chuyên trách cấp huyện và 01 đồng chí Bán chuyên trách của ngành và 01 đồng chí tại cơ sở) Cơ quan Hội liên hiệp phụ nữ huyện Tiên Yên gồm có 08 cán bộ (Trong
đó 05 đồng chí chuyên trách trong biên chế, 03 đồng chí cán bộ hợp đồng cho quỹ phát triển "vì phụ nữ nghèo"
* Cơ cấu tổ chức Hội liên hiệp phụ nữ xã Đại Dực:
Nhiệm kỳ 2016 - 2021, cơ cấu 8 đồng chí ủy viên Ban chấp hành, trong
đó có 01 đồng chí chủ tịch Hội, 01 đồng chí Phó chủ tịch Hội, 01 đồng chí Ủy viên BTV Hội LHPN xã Đại Dực
1.2.2.2 Chất lượng đội ngũ cán bộ Hội Liên hiệp phụ nữ
* Hội Liên hiệp phụ nữ huyện Tiên Yên:
Số lượng và chất lượng: Nhiệm kỳ 2016 - 2021, có 35 đồng chí Ủy viên
BCH Hội, 7 đồng chí Ủy viên Ban thường vụ; có 5 đồng chí cán bộ chuyên
Trang 23trách cấp huyện, trong đó 1 đồng chí Chủ tịch, 02 đồng chí Phó chủ tịch, 02 đồng chí cán bộ:
Cơ cấu độ tuổi:
+ Độ tuổi dưới 35: có 05 đồng chí, chiếm tỷ lệ: 62,5%
+ Độ tuổi từ 36 - 45: có 02 đồng chí, chiếm tỷ lệ: 25%
+ Độ tuổi từ 46 - 55 có 01 đồng chí, chiếm tỷ lệ: 12.5 %
* Hội Liên hiệp phụ nữ xã Đại Dực:
Về trình độ chuyên môn: 01 đồng chí có trình độ Đại học, chiếm tỷ lệ:
12,5%; 01 đồng chí có trình độ trung cấp, chiếm tỷ lệ: 12,5% Về chính trị: 01
đồng chí có trình độ trung cấp, chiếm tỷ lệ: 12,5%; 01 đồng chí có trình độ sơ cấp, chiếm tỷ lệ: 12,5%
Cơ cấu độ tuổi:có 08 đồng chí Ủy viên BCH, trong đó:
+ Độ tuổi dưới 35: có 01 đồng chí, chiếm tỷ lệ: 08%
+ Độ tuổi từ 35 đến 45: có 04 đồng chí, chiếm tỷ lệ: 32%
+ Độ độ tuổi từ 46 đến 55: có 02 đồng chí, chiếm tỷ lệ: 16%
+ Độ tuổi trên 55: có 01 đồng chí, chiếm tỷ lệ: 08%
1.2.2.3 Trình độ, năng lực công tác của đội ngũ cán bộ Hội liên hiệp phụ nữ
- Về trình độ và năng lực công tác:
+ Đối với cấp huyện:
Đội ngũ cán bộ chuyên trách cấp huyện làm việc có kế hoạch, phân công trách nhiệm rõ ràng, hầu hết đều hoàn thành các nhiệm vụ được giao Tuy
Trang 24nhiên, do số lượng biên chế ở các huyện quá ít, chỉ từ 3 - 6 đồng chí nên khó khăn trong việc bố trí, thực hiện công việc Thông thường mỗi đồng chí phụ trách 1- 2 nhiệm vụ, đồng thời kiêm nhiệm thêm nhiệm vụ chính trị địa phương dẫn đến tình trạng quá tải, tạo nên sức ép cho cán bộ huyện, tính chuyên sâu chưa cao, nhiều lúc sa vào cụ thể, bị động, chạy theo sự vụ
+ Đối với cấp xã:
Ở xã, chỉ có đồng chí Chủ tịch Hội là cán bộ chuyên trách, cấp phó là bán chuyên trách, một số kiêm thêm các nhiệm vụ khác của địa phương Quá trình thực hiện nhiệm vụ, hầu hết các đồng chí đều phát huy được vai trò, trách nhiệm, hoàn thành tốt nhiệm vụ Tuy nhiên, do sự hạn chế về kiến thức,
kỹ năng điều hành quản lý, tham mưu và tính kế hoạch chưa cao, hoạt động
cụ thể nhiều nên ít nhiều ảnh hưởng đến chất lượng công việc
- Về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống:
Đại đa số cán bộ Hội đều có bản lĩnh chính trị vững vàng, tin tưởng vào
sự lãnh đạo của Đảng; phẩm chất đạo đức, tư cách trong sáng, thực hiện tốt kỷ luật, kỷ cương hành chính Luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ trong chỉ đạo thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, của huyện và của Hội Gương mẫu về đạo đức, lối sống, có lối sống giản dị, gần gũi, được quần chúng nhân dân tin tưởng, ủng hộ
Đội ngũ Ban Chấp hành Hội LHPN các cấp, nhiệm kỳ 2011 - 2016 có tỷ
lệ cán bộ trẻ chiếm khá đông, có năng lực, được đào tạo khá cơ bản, có tính sáng tạo, nhạy bén trong công việc, khả năng tiếp cận công việc nhanh, nếu được tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng sâu về nghiệp vụ công tác Hội và rèn luyện qua thực tiễn chỉ đạo phong trào thì sẽ đảm nhận tốt nhiệm vụ và tiếp tục đưa phong trào phụ nữ phát triển trong thời kỳ Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa và hội nhập quốc tế
Trang 25Trên cơ sở những kết quả đạt được trong những năm qua và căn cứ trình
độ, năng lực của đội ngũ cán bộ Hội các cấp, Ban thường vụ Hội LHPN huyện đánh giá có 15 % cán bộ Hội các cấp của huyện đạt hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, 50% cán bộ Hội LHPN hoàn thành tốt nhiệm vụ, 31% cán bộ
hoàn thành nhiệm vụ, 4 % cán bộ hoàn thành nhiệm ở mức hạn chế
1.2.3 Đặc điểm phụ nữ dân tộc Sán Chỉ ở xã Đại Dực, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh
1.2.3.1 Đặc điểm kinh tế
Làng xóm của người Sán Chỉ thường tập trung một vài hộ gia đình đến vài chục hộ gia đình t y vào thời gian sinh sống hay thời gian hình thành của làng, họ sống gắn bó đoàn kết với nhau Người Sán Chỉ làm ruộng nước là chính, nông nghiệp đóng vai trò quan trọng, vì điều kiện không có ruộng nên nghề chính của những người dân vẫn là nghề làm nương rẫy (lúa nương) Ngoài ra, người dân tộc Sán Chỉ còn tham gia chăn nuôi và trồng trọt Đây là nghề chính đem lại thu nhập chủ yếu cho từng gia đình người Sán Chỉ Bên cạnh đó, họ có nghề thủ công như làm mộc, đan lát mây tre, rèn Tuy nhiên, những sản phẩm này chỉ mang tính tự cung, tự cấp trong cộng đồng, chưa trở thành hàng hóa phổ biến Nhiều nghề thủ công hiện vẫn được người Sán Chỉ giữ gìn và phát triển Do vai trò của người phụ nữ dân tộc Sán Chỉ phụ thuộc vào người chồng - là chủ trong gia đình nên người phụ nữ phụ thuộc kinh tế vào người chồng Trong gia đình, người phụ nữ dân tộc Sán Chỉ thường là lao động chính của nghề làm ruộng, ngoài ra họ còn làm các nghề thủ công và tự may trang phục mặc thường ngày cho cả gia đình
1.2.3.2 Phong tục tập quán
Trong gia đình người Sán Chỉ, người cha là chủ nhà Tuy nhà trai tổ chức cưới vợ cho con nhưng sau cưới, cô dâu lại về ở với cha mẹ đẻ, thỉnh thoảng mới về nhà chồng, cho đến khi mang thai mới về hẳn với chồng Người Sán Chỉ ăn cơm tẻ là chính Rượu cũng được d ng nhiều, nhất là trong
Trang 26ngày tết, ngày lễ, đàn ông thường hút thuốc lào còn phụ nữ ăn trầu Người Sán Chỉ thường ở nhà vách đất hoặc xây bằng gạch không nung Ngày nay kinh tế, xã hội phát triển, nhà ở của người Sán Chỉ cũng đã thay đổi cả về chất liệu xây dựng và kiểu dáng Nhà tranh được thay bằng nhà gạch xây theo kiểu hiện đại Nhiều hộ gia đình người Sán Chỉ còn xây nhà cao tầng, mái bê tông kiên cố như của người Kinh Người Sán Chỉ thờ cúng tổ tiên và chịu ảnh hưởng của Phật giáo Phổ biến nhất là thờ Ngọc Hoàng, Phật Nam Hoa, Táo Quân Ðám ma do thầy tào chủ trì gồm nhiều nghi lễ chịu ảnh hưởng sâu sắc của Ðạo giáo và Phật giáo
1.2.3.3 Đời sống văn hóa
Dân tộc Sán Chỉ có nhiều truyện cổ, thơ ca, hò, vè, tục ngữ, ngạn ngữ Đặc biệt sình ca là hình thức sinh hoạt văn nghệ phong phú hấp dẫn nhất của người Sán Chay Các điệu múa Sán Chay có: múa trống, múa xúc tép, múa chim gâu, múa đâm cá, múa thắp đèn Nhạc cụ cũng phong phú, gồm các loại thanh la, não bạt, trống, chuông, kèn Trước đây dân tộc Sán chỉ trên địa bàn huyện Tiên Yên thường gặp gỡ giao lưu thông qua hội Slạm nhịt hụi”
Đó là ngày hội của những làn điệu Soóng cọ (hát giao duyên), tìm bạn tình và gặp gỡ người thương vì lý do nào đó phải cách xa Từ nhiều năm gần đây Lễ hội văn hóa thể thao dân tộc Sán Chỉ đã trở thành truyền thống, với quy mô lớn đã thay thế hội Slạm nhịt hụi”, được tổ chức vào dịp rằm tháng giêng, nhằm lưu giữ, bảo tồn và phát huy những nét đẹp văn hóa độc đáo của dân tộc Sán Chỉ ở Tiên Yên
Sự phong phú của đời sống văn hóa của người phụ nữ Sán Chỉ được thể hiện tập trung ở trang phục của họ Trang phục của người Sán Chỉ thường giống người Kinh hoặc người Tày Thường ngày phụ nữ Sán Chay d ng chiếc dây đeo bao dao thay cho thắt lưng Trong những dịp lễ tết, hội hè, các cô gái thường thắt 2-3 chiếc thắt lưng bằng lụa hoặc bằng nhiễu, với những màu khác nhau Trang phục của người Sán Chỉ do những bàn tay khéo léo của phụ
Trang 27nữ Sán Chỉ làm ra, đơn giản và không rực rỡ như trang phục của người Mông, người Dao, nhưng vẫn có những nét độc đáo riêng biệt Mặc trang phục truyền thống của dân tộc, phụ nữ Sán Chỉ phải vấn tóc, đội khăn màu đen và kèm theo các đồ trang sức như: vòng cổ, vòng tay bằng bạc
1.2.4 Tầm quan trọng của việc giáo dục pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực hôn nhân gia đình cho phụ nữ dân tộc thiểu số
Nói đến bình đẳng giới về cơ bản là nói đến sự bình đẳng về quyền của phụ nữ với nam giới Hay nói cách khác, cốt lõi của vấn đề quyền con người của phụ nữ chính là sự bình đẳng về vị thế, cơ hội và các quyền của phụ nữ với nam giới Chính vì vậy, ở góc độ chung nhất, đấu tranh cho bình đẳng giới cũng chính là đấu tranh cho các quyền con người của phụ nữ và ngược lại Mối liên hệ giữa hai vấn đề bình đẳng giới và quyền con người của phụ
nữ khăng khít đến mức đôi khi chúng được sử dụng thay thế cho nhau, mặc
dù trên thực tế, việc thúc đẩy bình đẳng giới và bảo vệ, thúc đẩy các quyền con người của phụ nữ có những khác biệt nhất định về tính chất, hướng tiếp cận và biện pháp sử dụng
Bình đẳng giới trong gia đình có ý nghĩa quan trọng trong mọi thời đại, đặc biệt là trong điều kiện hiện đại hóa, công nghiệp hóa hiện nay Bình đẳng giới trong gia đình là môi trường lành mạnh để con người, đặc biệt là trẻ em được đối xử bình đẳng, được giáo dục về quyền bình đẳng, được hành động bình đẳng; là tiền đề quan trọng cho sự thành công trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ em; góp phần tăng chất lượng cuộc sống của các thành viên gia đình, góp phần tăng trưởng kinh tế đất nước; góp phần giải phóng phụ nữ và góp phần xây dựng thể chế gia đình bền vững
Tuy nhiên, định kiến giới và tư tưởng trọng nam khinh nữ vẫn còn tồn tại khá phổ biến ở trong gia đình và một bộ phận dân cư trong xã hội Trên thực
tế, thời gian làm việc của phụ nữ trong gia đình thường dài hơn nam giới, nam giới vẫn được coi là trụ cột gia đình, có quyền quyết định các vấn đề lớn và là
Trang 28người đại diện ngoài cộng đồng Còn các công việc nội trợ, chăm sóc các thành viên trong gia đình thường được coi là thiên chức” của phụ nữ
Các tham vấn chuyên gia và số liệu thống kê cho thấy tình trạng bất bình đẳng giới ở nhiều nơi trên thế giới làm phụ nữ trở thành nhóm đối tượng dễ bị tổn thương vì ít được tiếp cận với các nguồn lực kinh tế và việc làm, các dịch
vụ giáo dục, y tế, ít được tham gia trong đời sống chính trị và quản lý xã hội Phụ nữ cũng thường chịu các hành vi bạo lực trên cơ sở giới
Đặc biệt, ở v ng cao, v ng sâu, v ng xa, v ng đồng bào dân tộc, hiện tượng bất bình đẳng vẫn phổ biến, diễn ra thường xuyên Phụ nữ là lao động chính song lại không có tiếng nói trong gia đình Những người đàn ông thường giành thời gian cho việc làng, việc nước, họ hàng, rồi rượu chè, các tệ nạn xã hội… nên gánh nặng gia đình cũng như cường độ lao động và sự vất
vả đều dồn lên đôi vai người phụ nữ
Bên cạnh đó, phụ nữ còn tự ti, an phận, cam chịu và chấp nhận với những định kiến giới tồn tại trong xã hội Phong tục, tập quán lạc hậu theo kiểu xuất giá tòng phu”, con hư tại mẹ, cháu hư tại bà”, đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm”…còn tồn tại khá phổ biến ở nhiều nơi là một trong những nguyên nhân cản trở mục tiêu bình đẳng giới Ở khu vực vùng sâu, vùng xa còn nặng nề quan niệm con trai hơn con gái, công việc gia đình là trách nhiệm của riêng phụ nữ, định hướng nghề nghiệp vẫn theo hướng truyền thống… nên việc đầu tư cho trẻ em gái trong học tập không được chú ý và quan tâm nhiều như với trẻ em trai
Đẩy mạnh việc thực hiện bình đẳng trong các gia đình, đặc biệt tại các vùng cao, vùng xa, dân tộc thiểu số thì việc giáo dục pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực hôn nhân gia đình cho phụ nữ dân tộc thiểu số, tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức, trách nhiệm của phụ nữ, nam giới trong xây dựng gia đình, giữ gìn, phát huy các giá trị văn hoá tốt đẹp của gia đình là rất cần thiết Bởi khi có kiến thức, người dân đặc biệt là nam giới sẽ biết xử
Trang 29lý tình huống để hoà giải mâu thuẫn gia đình Đồng thời, họ còn được trang bị thêm các kiến thức cơ bản về giới, bình đẳng giới… và những kinh nghiệm để xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, từ đó xây dựng và phát triển xã hội
1.2.5 Mục đích giáo dục pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực hôn nhân gia đình cho phụ nữ dân tộc thiểu số
Mặc dù những năm gần đây, đã có nhiều chuyển biến đáng kể trong phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam, nhưng phụ nữ và trẻ em gái dân tộc thiểu số
là nhóm dễ bị tổn thương và chịu nhiều thiệt thòi trong tiếp cận các chính sách và hưởng thụ thành quả của sự phát triển và hội nhập toàn cầu
Bình đẳng giới là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, là nhiệm vụ trọng tâm của chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội nước ta hiện nay Bình đẳng giới vừa là mục tiêu vừa là cơ sở thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế, xây dựng xã hội ổn định và đồng thuận, phát triển bền vững đất nước Trong những năm qua, nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng về bình đẳng giới
Đối với lĩnh vực bình đẳng giới trong gia đình, gia đình là một trong những thiết chế cơ bản của xã hội Cùng với tiến bộ xã hội, ngày càng có nhiều công cụ và các điều kiện giúp con người giảm nhẹ sức lao động, công việc trong gia đình
Mặc d , tư tưởng gia trưởng, trọng nam khinh nữ đã dần dần mất đi, nhưng có một nghịch lý vẫn đang tồn tại là việc nội trợ, nuôi dưỡng con cái, chăm sóc các thành viên trong gia đình vẫn được coi là công việc của phụ nữ và vẫn có quan niệm cho rằng các hoạt động này không mang lại giá trị kinh tế
Nhiều quan điểm và chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề bình đẳng giới đã được ban hành như Hiến pháp, Luật Hôn nhân Gia đình, Luật Dân sự, Luật Lao động, Luật Bình đẳng giới… Đây là cơ
Trang 30sở pháp lý quan trọng để thúc đẩy quá trình bình đẳng giới ở nước ta Tuy nhiên, xét về thực trạng, vấn đề giới ở nước ta vẫn còn những bức xúc trong gia đình và xã hội, khoảng cách giới vẫn còn tồn tại khá lớn trong một số lĩnh vực quan trọng như: chính trị, kinh tế, lao động và việc làm, giáo dục và đào tạo, y tế, văn hóa, gia đình Phụ nữ vẫn là đối tượng chịu nhiều thiệt thòi hơn
so với nam giới, tư tưởng trọng nam khinh nữ và nạn bạo hành, ngược đãi phụ
nữ vẫn xảy ra phổ biến ở một số nơi Theo Luật Bình đẳng giới của Việt Nam, bình đẳng giới được hiểu là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó [23] Về bình đẳng giới trong gia đình, điều 18 của Luật cũng chỉ rõ vợ, chồng bình đẳng với nhau trong quan hệ dân sự và các quan hệ khác liên quan đến hôn nhân và gia đình; vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ ngang nhau trong sở hữu tài sản chung, bình đẳng trong sử dụng nguồn thu nhập chung của vợ chồng và quyết định các nguồn lực trong gia đình hay các thành viên nam, nữ trong gia đình có trách nhiệm chia sẻ công việc gia đình [23]
Mục đích tăng cường sự bình đẳng giữa nam giới và phụ nữ là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển kinh tế xã hội của một đất nước và là điều đúng đắn phải làm, ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển xã hội, thể hiện qua các vấn đề sau:
Thứ nhất, bình đẳng giới trong gia đình tạo điều kiện cho người phụ nữ hoàn thành tốt vai trò làm vợ, làm mẹ, tạo nguồn nhân lực ngày càng có chất lượng cao
Thứ hai,bình đẳng giới trong gia đình góp phần tăng trưởng kinh tế, giảm nghèo
Thứ ba, bình đẳng giới trong gia đình là nền tảng thúc đẩy bình đẳngvà tiến bộ xã hội
Trang 311.3 Nội dung và hình thức của giáo dục pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực hôn nhân gia đình cho phụ nữ dân tộc thiểu số
1.3.1 Nội dung của giáo dục pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực hôn nhân gia đình cho phụ nữ dân tộc thiểu số
Nội dung thông tin, giáo dục, truyền thông về giới và bình đẳng giới bao gồm:
- Chính sách, pháp luật về bình đẳng giới, bao gồm cả các chính sách và biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực hôn nhân gia đình;
- Kiến thức, thông tin, số liệu về giới và bình đẳng giới;
- Tác hại của định kiến giới, phân biệt đối xử về giới; công tác đấu tranh, phòng ngừa, xử lý vi phạm pháp luật về bình đẳng giới;
- Biện pháp, kinh nghiệm tốt, mô hình, điển hình tiên tiến trong việc thực hiện chính sách, pháp luật về bình đẳng giới, đấu tranh xóa bỏ phân biệt đối
xử về giới và định kiến giới;
- Các nội dung khác có liên quan đến giới và bình đẳng giới
Cụ thể, định kiến giới và tư tưởng trọng nam giới hơn phụ nữ vẫn còn tồn tại khá phổ biến ở trong gia đình một bộ phận dân cư trong xã hội với các biểu hiện như thích đẻ con trai hơn con gái, coi việc nội trợ, chăm sóc con cái
là của phụ nữ, khi chia tài sản thừa kế thường dành cho con trai nhiều hơn, ưu tiên đầu tư vào con trai, quan niệm nam giới là người trụ cột, quyết định chính trong gia đình và đóng vai trò chính trong các quan hệ xã hội bên ngoài gia đình Trong đó, quan niệm quy định bất thành văn về thời gian công việc phải làm của người phụ nữ và tiếng nói của người phụ nữ trong gia đình ảnh hưởng lớn nhất đến quyền lợi của người phụ nữ trong gia đình
* Thời gian làm việc của phụ nữ thường dài hơn nam giới
Mặc dù, pháp luật quy định trong gia đình, vợ chồng đều bình đẳng với nhau về mọi mặt, cùng nhau bàn bạc, quyết định mọi vấn đề chung, cùng chia
sẻ mọi công việc cũng như chăm lo cho con cái, cha mẹ, nhưng trên thực tế,
Trang 32nam giới vẫn được coi là trụ cột gia đình, có quyền quyết định các vấn đề lớn
và là người đại diện ngoài cộng đồng Còn các công việc nội trợ, chăm sóc các thành viên trong gia đình thường được coi là thiên chức” của phụ nữ Tính chất bảo thủ của sự phân công lao động truyền thống theo giới ở các mức độ khác nhau vẫn còn được bảo lưu trong một bộ phận gia đình Việt Nam đã làm hạn chế các cơ hội học hành của trẻ em gái, cản trở phụ nữ tham gia vào các hoạt động xã hội và có địa vị, thu nhập bình đẳng như nam giới Các kết quả thống kê cho thấy, trung bình thời gian làm việc một ngày của phụ nữ là 13 giờ, trong khi của nam giới là khoảng 9 giờ Sự chênh lệch này chủ yếu do phụ nữ còn đảm nhiệm chính công việc nội trợ, chăm sóc con cái ngoài vai trò sản xuất và công tác như nam giới Phân công lao động trong gia đình ở nhiều vùng miền trên cả nước còn mang tính chất phân biệt theo giới
rõ rệt, công việc gia đình vẫn tập trung vào vai người phụ nữ là chủ yếu Do
đó, phụ nữ ít có cơ hội để học tập nâng cao trình độ, nghỉ ngơi giải trí hay tham gia các hoạt động xã hội Ở một số vùng theo chế độ mẫu hệ, người phụ
nữ không chỉ gánh vác hầu hết mọi công việc gia đình, chăm sóc con cái, mà đồng thời còn là lao động chính trong gia đình Đây thực sự là gánh nặng quá tải, gây ảnh hưởng xấu tới tình trạng sức khoẻ của phụ nữ
* Trong gia đình, phụ nữ tham gia vào việc ra quyết định thấp hơn nam giới
Mặc d đã có nhiều tiến bộ nhưng nhìn chung phụ nữ ít được quyền quyết định công việc gia đình so với nam giới Quyền lực cao hơn của một người chồng thể hiện ở quyền quyết định ở một số việc như mua sắm, sản xuất kinh doanh, quan hệ họ hàng, còn người vợ thường chỉ có tiếng nói ở những việc như sử dụng biện pháp tránh thai, việc học của con hay các công việc nội trợ của gia đình
Trong một số trường hợp, người phụ nữ còn bị bạo hành về thể chất và tinh thần, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền con người và chất lượng cuộc sống người phụ nữ
Trang 33Nội dung của giáo dục pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực hôn nhân gia đình cho phụ nữ dân tộc thiểu số chính là tuyên truyền, giáo dục người phụ nữ dân tộc thiểu số hiểu rõ quyền lợi, trách nhiệm của bản thân trong cuộc sống gia đình, từ đó có những ứng xử phù hợp để được coi trọng trong gia đình, phòng chống bạo lực gia đình, tìm được sự bình đẳng trong gia đình, xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc
1.3.2 Hình thức của giáo dục pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực hôn nhân gia đình cho phụ nữ dân tộc thiểu số
Hình thức thông tin, truyền thông về giới và bình đẳng giới, gồm:
- Thông qua báo cáo viên, tuyên truyền viên;
- Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, internet, loa truyền thanh cơ sở;
- Phát hành các ấn phẩm, tài liệu tuyên truyền;
- Thông qua các loại hình văn hóa truyền thống, văn hóa quần chúng, sáng tác văn học, nghệ thuật, sinh hoạt cộng đồng;
- Thông qua việc tổ chức thi tìm hiểu pháp luật;
- Thông qua sinh hoạt của các loại hình câu lạc bộ;
- Lồng ghép trong hoạt động của các tổ chức, cá nhân, gia đình và xã hội;
- Các hình thức thông tin, truyền thông khác
Hình thức giáo dục về giới và bình đẳng giới, gồm:
- Đưa nội dung về giới và bình đẳng giới vào các chương trình giáo dục trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác của hệ thống giáo dục quốc dân, của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức khác, lực lượng vũ trang nhân dân ph hợp với từng cấp học và trình độ đào tạo;
- Lồng ghép nội dung về giới, bình đẳng giới trong các hoạt động ngoài giờ lên lớp;
- Các hình thức giáo dục khác
Trang 34 Một số hoạt động tuyên truyền, giáo dục bình đẳng giới
Để góp phần đưa pháp luật đến với hội viên, phụ nữ, Hội LHPN các tỉnh thành đã phối hợp với Sở Tư pháp, Trung tâm trợ giúp pháp lý tổ chức được nhiều hội nghị tuyên truyền, phổ biến pháp luật và tư vấn lưu động cho phụ nữ nông thôn và phụ nữ dân tộc thiểu số về các văn bản pháp luật liên quan trực tiếp đến phụ nữ, gia đình, bình đẳng giới và các chế độ chính sách cho phụ nữ nông dân và phụ nữ dân tộc thiểu số như: pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình, hôn nhân gia đình và pháp luật về đất đai, bảo hiểm y tế, Thông qua đó, chị em có cơ hội tiếp cận thông tin, tìm hiểu pháp luật, chia sẻ khó khăn, vướng mắc, các tình huống trong cuộc sống và được các báo cáo viên, tư vấn viên trung tâm trợ giúp pháp lý giải đáp, giúp đỡ tháo gỡ tận tình
- Tuyên truyền, giáo dục pháp luật:
Tuyên truyền nâng cao nhận thức pháp luật cho phụ nữ cơ sở, nhất là phụ nữ v ng sâu v ng xa, v ng đồng bào dân tộc thiểu số ở các huyện miền núi, dân tộc thiểu số là chương trình mà các cấp Hội LHPN tỉnh hết sức quan tâm để giúp chị em có khả năng tự bảo vệ bản thân trong gia đình và ngoài xã hội cũng như chấp hành tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
Với chủ trương đưa luật đến gần với hội viên phụ nữ, nhiều năm trở lại đây, các cấp Hội không ngừng đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục, nâng cao nhận thức pháp luật cho phụ nữ ở các địa phương; nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ báo cáo viên cấp tỉnh, cán bộ Hội các cấp về kiến thức, pháp luật liên quan đến phụ nữ, trong đó đặc biệt chú trọng kỹ năng tư vấn, tuyên truyền phổ biến pháp luật Bởi trình độ nhận thức cũng như điều kiện, cơ hội, khả năng tiếp cận kiến thức pháp luật của phụ nữ dân tộc thiểu số còn khá hạn chế nên công việc tuyên truyền, phổ biến kiến thức pháp luật về bình đẳng giới được tổ chức thường xuyên và chi tiết về nội dụng
Trang 35Những năm gần đây, các vấn đề về tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống; các luật pháp, chính sách liên quan đến đời sống phụ nữ dân tộc thiểu số, chính sách hỗ trợ phụ nữ thuộc hộ nghèo là người dân tộc thiểu số khi sinh con đúng chính sách dân số được các cấp Hội tập trung tuyên truyền phổ biến Cụ thể:
Thực hiện Nghị quyết 06/NQ-BCH Hội LHPN Việt Nam khóa I
về “tăng cường công tác vận động phụ nữ dân tộc thiểu số trong tình hình
hiện nay”[15], các cấp Hội đã tập trung truyền thông đến v ng đồng bào Khơ
me, nắm chắc đặc điểm và diễn biến tình hình dân tộc, tôn giáo khu vực Tây Nam Bộ, Tây Nguyên để tuyên truyền đến hội viên, phụ nữ về di cư tự do bất hợp pháp; tuyên truyền về luật Hôn nhân và Gia đình với vấn đề tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống; các luật pháp, chính sách liên quan đến đời sống phụ nữ dân tộc thiểu số, tôn giáo, trong đó có chính sách hỗ trợ phụ nữ thuộc
hộ nghèo là người dân tộc thiểu số khi sinh con đúng chính sách dân số
Góp phần tích cực "Tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho phụ nữ nông
dân, phụ nữ dân tộc thiểu số", các cấp Hội đã chú trọng xây dựng nhiều mô
hình như: Câu lạc bộ phụ nữ với pháp luật, tủ sách và phong trào đọc sách pháp luật, nhóm nòng cốt tuyên truyền, phổ biến pháp luật, trung tâm tư vấn,
cơ sở tư vấn pháp luật, địa chỉ tin cậy… Từ năm 2009 đến nay đã xây dựng được 20 câu lạc bộ phụ nữ với pháp luật tại 10 tỉnh Các mô hình đã nhận được đánh giá cao của cấp ủy, chính quyền địa phương, thu hút sự tham gia tích cực của hội viên, phụ nữ nông dân và phụ nữ dân tộc thiểu số
Ngoài ra, Hội còn xây dựng mô hình câu lạc bộ không thách cưới, không tảo hôn, gia đình 5 không, 3 sạch… ở các thôn, buôn để tuyên truyền, vận động chị em từ bỏ những hủ tục lạc hậu, thực hiện nếp sống văn minh, kết hôn đúng độ tuổi theo quy định của Luật Hôn nhân - Gia đình
Thông qua các hoạt động của Hội đã không chỉ góp phần cung cấp kiến thức pháp luật mà còn tạo ý thức chủ động, tích cực tìm hiểu pháp luật
Trang 36trong phụ nữ nông dân, phụ nữ dân tộc thiểu số và cộng đồng dân cư tại các địa phương
Thời gian tới, Hội LHPN các cấp dự kiến tiếp tục triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho phụ nữ bằng nội dung, hình thức ph hợp; nhân rộng các mô hình điểm về phổ biến, giáo dục pháp luật có hiệu quả; tăng cường tuyên truyền phổ biến pháp luật cho phụ nữ nghèo, chính sách, ở v ng sâu, v ng xa, hải đảo nhằm nâng cao mặt bằng dân trí, trình độ văn hóa, pháp
lý của phụ nữ trên phạm vi cả nước; đổi mới sinh hoạt và hoạt động của các
mô hình câu lạc bộ theo hướng đa dạng hóa cách thức, nội dung sinh hoạt; mở rộng đối tượng và phạm vi hoạt động tư vấn pháp luật
- Trợ giúp pháp lý cho phụ nữ :
Ngoài tuyên truyền, việc tổ chức các hoạt động trợ giúp pháp lý cũng được các cấp Hội chú trọng Ở các địa phương, Hội Phụ nữ c ng các cấp chính quyền, đoàn thể tích cực tham gia hòa giải các vụ tranh chấp liên quan đến lĩnh vực hôn nhân và gia đình, dân sự, đất đai… góp phần giữ gìn tình làng nghĩa xóm, xây dựng gia đình hạnh phúc, giảm thiểu tình trạng khiếu kiện vượt cấp Đặc biệt ở cấp tỉnh, Câu lạc bộ (CLB) Tư vấn, hỗ trợ pháp luật phụ nữ tỉnh dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ban Thường vụ Hội LHPN các tỉnh Theo đánh giá thì hoạt động trợ lý pháp lý đã phát huy tốt vai trò tư vấn,
hỗ trợ về mặt pháp lý cho đông đảo hội viên phụ nữ trong tỉnh trên các lĩnh vực giúp chị em nắm bắt, cập nhật nhiều kiến thức về pháp luật cũng như kiến thức về văn hóa, xã hội, gia đình để tự bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng, xây dựng gia đình hòa thuận, hạnh phúc, góp phần giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương Hoạt động trợ lý pháp lý nhắm đến đối tượng nữ là nạn nhân bị bạo lực gia đình, tư vấn hỗ trợ về hôn nhân gia đình cho phụ nữ (chủ yếu là tư vấn, can thiệp ly hôn, phân chia tài sản ly hôn, phân chia tài sản sau ly hôn)…
Trang 37Trong thời gian tới, dự kiến sẽ thực hiện hỗ trợ pháp luật cho phụ nữ tỉnh tiếp tục triển khai các hoạt động truyền thông, tư vấn, trợ giúp pháp lý cho phụ nữ trên địa bàn tỉnh; tích cực phối hợp tuyên truyền, tư vấn, phổ biến các văn bản pháp luật như: Hiến pháp, Luật Bình đẳng giới, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, Luật Hôn nhân - Gia đình, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Bảo hiểm y tế, Luật Phòng, chống tội phạm mua bán người… tại một số xã khó khăn, v ng sâu, v ng xa, v ng có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống Tăng cường phối hợp với các hội phụ nữ tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý ở
cơ sở và các CLB ở địa phương khác trong việc tư vấn, hỗ trợ pháp luật cho phụ nữ Qua đó góp phần hạn chế những mâu thuẫn, tranh chấp trong cộng đồng dân cư, giảm thiểu tình trạng đơn thư vượt cấp; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công dân, góp phần ổn định an ninh, chính trị, trật
tự an toàn xã hội ở các địa phương
1.4 Vai trò hoạt động công tác xã hội trong giáo dục pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực hôn nhân gia đình phụ nữ dân tộc thiểu số
Hoạt động công tác xã hội trong giáo dục pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực hôn nhân gia đình phụ nữ dân tộc thiểu số góp phần quan trọng, mang tính quyết định trong việc giảm thiểu tình trạng bất bình đẳng giới trong cuộc sống gia đình của phụ nữ dân tộc thiểu số Thông qua nhiều hình thức tuyên truyền, giáo dục về bình đẳng giới đã giúp cho các cơ quan,
tổ chức, cán bộ công chức và công dân thấy rõ nguy cơ, thực trạng của vấn đề bất bình đẳng giới nói chung và bất bình đẳng giới trong lĩnh vực hôn nhân gia đình của phụ nữ dân tộc thiểu số nói riêng đang ngăn cản sự phát triển của đất nước, từ đó có được nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của bình đẳng giới đối với sự phát triển xã hội, cộng đồng
Nhận thức của phụ nữ về quyền lợi của mình còn nhiều hạn chế, nhất là phụ nữ ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa Hoạt động công tác xã hội trong việc giáo dục pháp luật và tuyên truyền về bình đẳng giới đã góp phần làm
Trang 38chuyển biến nhận thức và hành vi của cộng đồng dân cư về giới và bình đẳng giới trong quan hệ đối xử giữa nam và nữ, trong thực hiện kế hoạch hoá gia đình, trong lựa chọn sinh con theo giới tính, về vị thế của phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội Trong công cuộc đổi mới, hoạt động công tác xã hội góp phần không nhỏ vào việc thay đổi nhận thức của phụ nữ theo hướng tiến bộ
về vị trí, vai trò của họ và giúp họ khẳng định được bản thân mình trong xã hội Hoạt động công tác xã hội có thể nói là kênh có tầm ảnh hưởng mạnh mẽ nhất, sâu rộng nhất đối với những phụ nữ dân tộc thiểu số, ít có điều kiện tìm kiếm và thu thập thông tin
Ở Việt Nam, bình đẳng giới là một trong những mục tiêu quan trọng được Đảng, Nhà nước ta đặt ra trong thời kỳ đổi mới, đặc biệt là đối với đối tượng phụ nữ thuộc dân tộc thiểu số Để thực hiện được mục tiêu này, rất cần đến sự phối hợp của nhiều yếu tố khác nhau, trong đó, các hoạt động xã hội về tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về bình đẳng giới là rất cần thiết
1.5 Phương pháp nghiên cứu
1.5.1 Phương pháp duy vật biện chứng
Mối quan hệ, sự tác động qua lại của bản thân người phụ nữ dân tộc với nhau, giữa họ với chính quyền địa phương và các yếu tố khác như: môi trường xã hội, gia đình, văn hóa, phong tục tập quán
Đối với xã Đại Dực, huyện Tiên Yên là một trong những xã miền núi còn gặp nhiều khó khăn nên bản thân phụ nữ dân tộc thiểu số cũng ít có sự chia sẻ, ít có mối quan hệ qua lại vì hàng ngày họ phải lo kinh tế gia đình: làm nông nghiệp, chăn nuôi Trong gia đình họ là người ít có tiếng nói, đa số an phận nghe theo sự sắp đặt của người chồng, phong tục tập quán nặng nề cũng ảnh hưởng đến suy nghĩ, lối sống của họ Nguồn lực từ chính quyền địa phương trong việc tuyên truyền, vận động, giúp đỡ phụ nữ dân tộc tham gia hoạt động công tác thôn bản còn nhiều hạn chế
Trang 391.5.2 Phương pháp duy vật lịch sử
Hiện nay, thực trạng vấn đề giáo dục pháp luật về bình đẳng giới của phụ
nữ dân tộc thiểu số tại xã Đại Dực, huyện Tiên Yên còn gặp nhiều khó khăn
và chưa đạt được kết quả như mong muốn Bản thân người phụ nữ dân tộc thiểu số chứ biết đến bình đẳng giới nói chung bình đẳng giới trong hôn nhân gia đình nói riêng Hoạt động tuyên truyền, giáo dục pháp luật bình đẳng giới chưa đi vào trọng tâm, trọng điểm, nội dung chưa ph hợp với đối tượng
1.5.3 Phương pháp phân tích tài liệu
Thông qua việc đọc, phân tích và đánh giá các tài liệu liên quan đến giáo dục pháp luật về bình đảng giới cho phụ nữ dân tộc thiểu số
Phân tích, thống kê và đánh giá số liệu để tìm ra các giải pháp nâng cao hiệu quả trong giáo dục pháp luật cho phụ nữ dân tộc thiểu số
1.5.4 Phương pháp quan sát
Thông qua phương pháp này, nhân viên công tác xã hội sẽ có cách nhìn nhận, đánh giá và thấy được những hạn chế, khó khăn của đối tượng để đưa ra những kế hoạch trợ giúp đạt hiệu quả cao
1.5.5 Phương pháp phỏng vấn sâu
Trong luận văn tác giả tiến hành phỏng vấn sâu 20 trường hợp trong đó: Hội LHPN cấp huyện, Lãnh đạo cấp ủy, Cán bộ Hội LHPN cấp cơ sở, Hội viên phụ nữ và thân chủ
1.5.6 Phương pháp Điều tra xã hội học
Trên cơ sở xây dựng và lấy thông tin qua bảng điều tra xã hội học tác giả
có cách nhìn và đánh giá tổng hợp sự hiểu biết về bình đẳng giới của phụ nữ dân tộc thiểu số Nhờ cán bộ Hội phụ nữ phát phiếu khảo sát 600 phụ nữ dân tộc thiểu số xã Đại Dực, huyện Tiên Yên thông qua các buổi sinh hoạt hội phụ nữ
Trang 40Chương 2: THỰC TRẠNG BÌNH ĐẲNG GIỚI VÀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG LĨNH VỰC HÔN NHÂN GIA ĐÌNH CHO PHỤ NỮ DÂN TỘC THIỂU SỐ XÃ ĐẠI DỰC,
HUYỆN TIÊN YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
2.1 Thực trạng hoạt động công tác xã hội đối với giáo dục pháp luật bình đẳng giới trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình cho phụ nữ dân tộc thiểu
số ở xã Đại Dực, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh
2.1.1 Hoạt động tuyên truyền của Hội LHPN huyện Tiên Yên và Hội LHPN xã Đại Dực
Công tác tuyên truyền về bình đẳng giới đã góp phần làm chuyển biến nhận thức và hành vi của cộng đồng dân cư về giới và bình đẳng giới trong quan hệ đối xử giữa nam và nữ, trong thực hiện kế hoạch hoá gia đình, trong lựa chọn sinh con theo giới tính, về vị thế của phụ nữ trong gia đình và ngoài
xã hội Trong công cuộc đổi mới, công tác này góp phần không nhỏ vào việc thay đổi nhận thức của phụ nữ theo hướng tiến bộ về vị trí, vai trò của họ và giúp họ khẳng định được bản thân mình trong xã hội
Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện Tiên Yên và Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Đại Dực cũng đã rất nỗ lực trong việc tuyên truyền thông tin pháp luật về bình đẳng giới nói chung và trong lĩnh vực hôn nhân gia đình của người phụ nữ dân tộc thiểu số nói riêng Công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức bình đẳng giới cho phụ nữ dân tộc thiểu số tại đây đã được thực hiện thông qua các
phương tiện thông tin đại chúng dưới các hình thức sau:
- Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, loa truyền thanh cơ sở:
Việc phát thanh thường xuyên các thông tin về pháp luật bình đẳng giới qua kênh loa truyền thông cơ sở được thực hiện hàng tuần với hy vọng góp phần
nâng cao hiểu biết của người phụ nữ dân tộc thiểu số về bình đẳng giới