ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ---CAO THỊ TRANG CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM TRONG PHÒNG TRÁNH TAI NẠN THƯƠNG TÍCH CHO HỌC SINH Nghiên cứu trường hợp tại Tr
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-CAO THỊ TRANG
CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM TRONG PHÒNG TRÁNH TAI NẠN THƯƠNG TÍCH CHO HỌC SINH
(Nghiên cứu trường hợp tại Trường Tiểu học xã Giao Phong,
huyện Giao thủy, tỉnh Nam Định)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Trang 2Hà Nội - 2018
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-CAO THỊ TRANG
CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM TRONG PHÒNG TRÁNH TAI NẠN THƯƠNG TÍCH CHO HỌC SINH
(Nghiên cứu trường hợp tại Trường Tiểu học xã Giao Phong,
huyện Giao thủy, tỉnh Nam Định)
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60900101
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Đức Mạnh
Trang 3Hà Nội - 2018
Trang 4MỤC LỤC
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướngdẫn khoa học của TS Nguyễn Đức Mạnh Các số liệu trong nghiên cứu hoàn toàntrung thực Tôi xin chịu trách nhiệm trước những kết quả đã nghiên cứu - điều tratrong luận văn này
Hà Nội, tháng 11 năm 2017
Tác giả luận văn
Cao Thị Trang
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện nghiên cứu này, để tôi đạt được mục tiêu đề ratrong đề tài nghiên cứu này; tôi đã nhận được sự chia sẻ, hỗ trợ, giúp đỡ vàhướng dẫn tận tình của TS Nguyễn Đức Mạnh cùng các thầy cô trong Khoa Xãhội học - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Bên cạnh đó, là nhờ có sựcộng tác giúp đỡ của ban lãnh đạo và tập thể cán bộ giáo viên Trường Tiểu học GiaoPhong, phụ huynh học sinh, cán bộ chính quyền xã Giao Phong, huyện Giao Thủy,tỉnh Nam Định
Tôi chân thành gửi lời cảm ơn tới TS Nguyễn Đức Mạnh, các thầy cô trongKhoa Xã hội học - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; ban lãnh đạo vàtập thể cán bộ giáo viên Trường Tiểu học Giao Phong, phụ huynh học sinh, cán bộchính quyền xã Giao Phong đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ để tôi hoàn thànhcông trình nghiên cứu này một cách thuận lợi nhất
Trong phạm vi của công trình nghiên cứu này, cũng như bản thân tác giả cònhạn hẹp về kinh nghiệm Vì vậy, nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót, tôimong nhận được sự chia sẻ, góp ý của quý thầy cô cùng toàn thể bạn đọc
Chân thành cảm ơn !
Hà Nội, tháng 11 năm 2017
Tác giả luận văn
Cao Thị Trang
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Giới tính phụ huynh học sinh (PHHS)
……… 38
Bảng 2.2 Trình độ học vấn của Phụ huynh học sinh……….38
Bảng 2.3 Nghề nghiệp của phụ huynh học sinh……….39
Bảng 2.4 Mức sống hiện tại của hộ gia đình……….….39
Bảng 3.1 Danh sách và hoàn cảnh của nhóm thân chủ………65
Bảng 3.2 Điểm mạnh và chưa mạnh của nhóm thân chủ………76
Bảng 3.3 Lượng giá tiến trình can thiệp……….91
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐÔ
Biểu 1.1 Tháp nhu cầu của Abraham Maslow 28
Biểu 2.1 Nhân biết về TNTT của phụ huynh học sinh………40
Biểu 2.2 Nhận biết của phụ huynh về những hành động gây nguy hiểm cho học sinh……… 42
Biểu 2.3 Sự cần thiết của việc hướng dẫn học sinh nhận biết những hành vi gây nguy hiểm……… …46
Biểu 2.4 Nhận biết về hậu quả của TNTT để lại đối với học sinh……….….47
Biểu 2.5 Tình trạng TNTT của học sinh trong 1 năm qua………48
Biểu 2.6 Địa điểm xảy ra TNTT đối với học sinh………49
Biểu 2.7 Nguyên nhân cơ bản dẫn đến TNTT cho học sinh……….50
Biểu 2.8 Nguyên nhân trực tiếp dẫn đến TNTT ở học sinh……… 51
Biểu 2.9 Kênh cập nhật kiến thức - kỹ năng phòng ngừa TNTT của phụ huynh học sinh……… 52
Biểu 2.10 Xử lý khi thấy học sinh bị TNTT……….… 53
Biểu 2.11 Xử lý khi thấy học sinh bị tai nạn điện giật……… … 54
Biểu 2.12 Xử lý khi thấy học sinh bị đuối nước……….…….54
Biểu 2.13 Xử lý khi thấy học sinh bị thương chảy máu……….55
Biểu 2.14 Những biện pháp nhằm phòng tránh TNTT ở học sinh……….….56
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tai nạn thương tích (TNTT) đã và đang là một vấn đề xã hội toàn cầu Tạinhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, tỷ lệ thương tích và mức độ nghiêmtrọng do các tai nạn khác nhau ngày càng gia tăng Hàng năm có khoảng 5 triệungười tử vong do TNTT, chiếm 9% tổng số tử vong và 12% gánh nặng bệnh tậttoàn cầu; 90% tử vong do TNTT xảy ra ở các nước thu nhập thấp và trung bình[12] Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương là khu vực có số tử vong do TNTTcao nhất Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), hàng năm có hàng triệutrẻ em (TE) chết bởi những nguyên nhân có thể phòng tránh được, trong đó nguyênnhân TNTT đóng góp một phần đáng kể Tai nạn giao thông (TNGT) và đuối nước
là hai nguyên nhân tử vong hàng đầu đối với trẻ, tiếp sau là bỏng và ngã Trong sốnhững TNTT không tử vong thì tai nạn ngã là nguyên nhân hàng đầu gây nên cácthương tích ở trẻ, nguyên nhân thứ hai là bỏng và nguyên nhân thứ ba là TNGT, tiếptheo là các nguyên nhân do vật sắc nhọn, ngộ độc
Tại Việt Nam, tình hình TNTT trẻ em nói chung và tình trạng đuối nước nóiriêng vẫn ngày càng gia tăng và diễn bến phức tạp TNTT ở trẻ em xảy ra ở tất cảcác nhóm tuổi Có hai nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở Trẻ em là đuối nước vàTNGT đường bộ, đã gây ra 2/3 tổng số các trường hợp tử vong ở trẻ Đối với trẻnhỏ, TNGT thường xảy ra khi các em đang đi bộ [2] Ở nhóm trẻ lớn hơn, TNGTxảy ra khi đang đi bộ và đi xe đạp Từ nhóm tuổi 15 trở lên, nguyên nhân hàng đầudẫn đến TNGT là do đi xe máy Theo thống kê của Bộ Y tế trong những năm gầnđây, hàng năm có hơn 7.000 TE và trẻ vị thành niên dưới 19 tuổi chết do TNTT,tương đương 20 trẻ trong một ngày do các nguyên nhân là đuối nước, TNGT, ngộđộc, ngã, bỏng và động vật cắn [2]
Xã Giao Phong là một xã ven biển cửa ngõ, đầu mối giao thông chính đi lạicủa huyện nối giữa các xã: Giao Thịnh, Quất Lâm, Giao Yến thuộc huyện GiaoThủy, thuộc vùng quy hoạch phát triển du lịch biển của tỉnh Nam Định Hiện nay xã
Trang 11dịch vụ như phát triển ngành du lịch biển Hệ thống giao thông phát triển, mật độcác phương tiện đi lại ngày càng tăng Thương mại phát triển nhiều hàng hóa trong
đó có thức ăn và các loại đồ chơi đa dạng cho trẻ em cũng được đưa tới dân cưtrong vùng và tại xã Giao Phong Các dịch vụ du lịch trong đó có dịch vụ tắm biểncũng cuốn hút trẻ em vào các mùa du lịch biển… Hệ thống giáo dục bậc Tiểu học
và Mầm non đã được chính quyền xã quan tâm đầu tư phát triển Tuy nhiên, bêncạnh sự phát triển vẫn còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây TNTT cho trẻ tại các trường
Vì vây, rất cần sự phòng tránh các nguy cơ TNTT cho các em
Từ thực tiễn nêu trên, vận dụng những kiến thức, kỹ năng công tác xã hội
(CTXH) đã được đào tạo, tôi đã lựa chọn đề tài: “Công tác xã hội xã hội nhóm trong phòng tránh tai nạn thương tích cho học sinh tiểu học (Nghiên cứu trường hợp tại trường Tiểu học xã Giao Phong, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định)” để làm
luận văn nghiên cứu, với mong muốn góp phần trang bị kỹ năng phòng tránh TNTTcho học sinh, nhằm giảm thiểu những nguy cơ TNTT ở học sinh của trường nóiriêng và ở TE tại địa phương nói chung
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1 Nghiên cứu về tình hình tai nạn thương tích trẻ em trên thế giới
Trên thế giới, theo tổ chức Y tế thế giới (WHO): Thương tích và tàn tật cướp
đi sinh mạng hàng triệu thanh thiếu niên mỗi năm Ước tính hàng năm có hàng triệu
TE và vị thành niên dưới 18 tuổi tử vong và hàng chục triệu trẻ khác phải nhập viện
do thương tích (TT) [12] Năm 2004, có 950.000 trẻ dưới 18 tuổi trên thế giới bị tửvong do chấn thương, mỗi ngày có khoảng 2000 em bị tử vong do chấn thương, màthực tế có thể phòng ngừa được [12]
Đối với những trẻ còn sống, những thương tổn tạm thời hay vĩnh viễn do TTcũng như nhu cầu chăm sóc và phục hồi chức năng có ảnh hưởng rất lớn trongtương lai cả về thể chất và tinh thần nạn nhân, gia đình và xã hội TNTT chiếm 12%[12] gánh nặng bệnh tật toàn cầu, là một trong những nguyên nhân nhập viện hàngđầu và là nguyên nhân chính gây tàn phế, làm mất khả năng sống tiềm tàng TNTT
Trang 12được điều chỉnh do tàn tật (DALY) của con người và ước tính con số này sẽ tăng lên20% vào năm 2020 [2] Các chi phí hàng năm về xã hội và y tế do TNTT gây ratrên toàn cầu ước tính vượt quá 518 tỉ USD [3] Xét trên góc độ kinh tế xã hội,khoản tài chính mất đi do TNTT rất lớn, bao gồm chi phí cho các dịch vụ cấp cứu,các chi phí cho điều trị, phục hồi chức năng và mất khả năng lao động Bên cạnhcác chi phí y tế trực tiếp, tử vong và tàn tật do thương tích có thế tác động rất lớnđến các thành viên trong gia đình đặc biệt là cha mẹ trẻ.
Đông Nam Á là một khu vực đông dân cư và có tốc độ phát triển kinh tế caonhất trên thế giới hiện nay Tất cả các nước trong khu vực hiện đang phải đối mặtvới những vấn đề TNTT trầm trọng Tại khu vực này hàng năm có khoảng 1,5 triệutrường hợp tử vong do TNTT, trong đó 75% là các TNTT không chủ định [5] Môhình TNTT cũng rất khác nhau giữa các quốc gia, trong đó nổi bật là TNGT chiếmtới 36% tổng số TNTT [6], tiếp theo là đuối nước và bỏng, ngã, ngộ độc và TT dovật sắc nhọn Đối với TNTT có chủ định, tự tử là nguyên nhân hàng đầu TNTTđóng góp 16% tổng gánh nặng bệnh tật toàn cầu và là nguyên nhân hàng đầu gâynên TT và tàn tật cho quần thể dân cư trong khu vực Theo ước tính, cứ mỗi mộttrường hợp tử vong do TNTT sẽ có từ 30 - 50 trường hợp phải nhập viện và 50 -
100 trường hợp khác phải đến khám và sơ cấp cứu tại các cơ sở y tế [7]
Hơn 95% tử vong do TNTT TE và VTN xảy ra ở các nước có thu nhập thấp
và trung bình [20] Tuy nhiên, ngay cả ở các nước có thu nhập cao, TNTT vẫn lànguyên nhân gây tử vong chủ yếu ở TE và vị thành niên, ước tính khoảng 40% tổng
số tử vong ở lứa tuổi từ 1 - 18 tuổi [36] Nghiên cứu năm 2001 của Trung tâm nghiên cứu Innocenti về TNTTTE từ 1 - 14 tuổi tại 26 nước công nghiệp cho thấy
TNTT là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho TE Tại các nước này nguy cơ tửvong do TNTTTE đã giảm 1/2 trong vòng 20 năm nhờ những nỗ lực phòng tránhTNTT hiệu quả [60] Trước đây, TNTTTE thường chỉ được đề cập tới ở các nướccông nghiệp
Một số nghiên cứu gần đây của WHO đã cho thấy 98% các trường hợp
Trang 13thế giới Ở các nước này, TE phải đối diện với rất nhiều yếu tố nguy cơ như: aokhông có rào bảo vệ, các hố không được che đậy, giếng, bể nước không có nắp đậy,các hoá chất và thuốc men không được cất giữ cẩn thận mà để ngay trong tầm vớicủa trẻ, các vấn đề an toàn về cháy bỏng như diêm, lửa, nước sôi… không đượcquan tâm TNGT ở TE là vấn đề tồn tại, các nghiên cứu này cho thấy tỷ suất tửvong do TNGT ở các quốc gia có thu nhập trung bình và thấp cao gấp 5 lần so vớicác quốc gia có thu nhập cao.
Phòng chống TNTT cho trẻ em dựa vào nhà trường trên thế giới:
Từ những năm đầu thập kỷ 19 khi Tổ chức Y tế thế giới thiết lập mạng lướichương trình Trường học an toàn quốc tế và hàng loạt chương trình can thiệp phòngtránh TNTTTE trong trường học tại các nước phát triển như: Mỹ, Canada và một sốquốc gia châu Âu như Anh, Đức, Ý Cho đến nay, có thể nói các chương trình canthiệp phòng tránh TNTT trong trường học đã và đang được áp dụng ở nhiều mức độkhác nhau trên toàn thế giới, rất nhiều chương trình đã trở thành chương trình trọngđiểm quốc gia, đem lại hiệu quả tích cực trong chiến dịch phòng tránh TNTT chotrẻ, một trong số đó phải kể tới là chương trình chương trình “Risk Watch” và
“Think first for kid” (TFFK)
Chương trình “Risk Watch” là một chương trình giáo dục phòng tránh TNTT
được Cơ quan cứu trợ và phòng chống cháy của Anh phát triển và xây dựng để ápdụng tại các trường tiểu học tại Anh Có 58 trường tiểu học ở thành phố Nottingham
và 2 trường tiểu học thuộc Nottinghamshire tham gia thử nghiệm chương trình Đốitượng nghiên cứu là học sinh các lớp 3, 4, 5 ở các trường tiểu học được chọn, trong
đó chương trình sẽ tập huấn cho một nhóm giáo viên (GV) nòng cốt và nhóm GV
đó sẽ tập huấn lại cho GV khác trong trườngđể truyền đạt cho học sinh với bộ tàiliệu giảng dạy miễn phí, ở mỗi nhóm tuổi khác nhau (3, 4, 5) sẽ có những tài liệuhọc khác nhau, chủ đề lựa chọn cho chương trình gồm: an toàn cho người đi bộ, đi
xe đạp, ngã, ngộ độc, cháy, bỏng
Chương trình phòng tránh TNTT “The think first for kids – TFFK” tại
Trang 14trình Think First có ở hơn 40 bang của Mỹ và Canada, Chile, Úc và Mexico và mỗinăm đã cung cấp chương trình giáo dục phòng tránh TNTT cho hơn 1 triệu trườngmẫu giáo, trường tiểu học và trường trung học phổ thông Đội ngũ y tá, GV, và GVgiáo dục kỹ năng sống ở các trường thuộc cấp huyện được đào tạo trong 1 buổi họckéo dài 5 giờ để thực hiện chương trình TFFK Nội dung cụ thể cho từng khối họcgồm có 6 phần: Dự phòng bạo lực, an toàn sử dụng súng, và các xung đột An toànsân chơi, giải trí và thể thao, An toàn xe đạp, An toàn sông nước, An toàn phươngtiện xe cộ và người đi bộ, Giải phẫu và chức năng của não và tủy sống Kết quảđánh giá sau can thiệp cho thấy chương trình TFFK trong 6 tuần đã tăng cườngđáng kể kiến thức cho HS lớp 1, 2, 3 Những HS nhận được can thiệp của TFFK cókết quả tốt hơn trong lần đánh giá sau can thiệp [30].
2.2 Nghiên cứu về tình hình tai nạn thương tích trẻ em tại Việt Nam
Một trong những nghiên cứu sớm nhất về TNTT trẻ em ở Việt Nam do tác giả Chu Văn Tường thực hiện năm 1993 cho biết: TNGT là một trong 3 nguyên nhân
hàng đầu gây TNTT cho trẻ em Việt Nam Tỷ lệ TNGT chiếm 12,9% tổng số trẻ em
bị TNTT phải nhập viện (thống kê tại 10 bệnh viện lớn ở Hà Nội), chiếm 22,1% trẻ
em bị TNTT phải nhập viện tại bệnh viện Phú Xuyên (Hà Tây), chiếm 21,7% tổng
số tiền mà bảo hiểm Hà Nội, 14,3% tổng số tiền mà bảo hiểm Phú Xuyên chi trảcho các TNTT trẻ em Theo Uỷ ban Dân số Gia đình và Trẻ em, riêng ở bệnh việnViệt-Đức (Hà Nội), trong 6 tháng đầu năm 2000, tỷ lệ TNGT chiếm 30,3% tổng sốtrẻ em bị TNTT nhập viện [1]
Kết quả điều tra quốc gia về TNTT tại Việt Nam tiến hành năm 2001 cho
thấy TNTT đang dần trở thành một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vongđối với TE [9] Hàng năm, cứ 100.000 trẻ dưới 18 tuổi thì có gần 84 trẻ bị tử vong,cao gấp 5 lần so với số tử vong do bệnh truyền nhiễm (14,9/100.000) và gấp 4 lần
so với bệnh không truyền nhiễm (19,3/100.000) [10] Với TT không tử vong, đã cókhoảng gần 5000 trẻ trên 100.000 trẻ bị thương trong năm đó, tương đương với gần5% số trẻ ở Việt Nam Các nguyên nhân gây TNTTTE chủ yếu ở Việt Nam bao
Trang 15nguyên nhân quan trọng gây tử vong và tàn tật đối với TE Việt Nam; đuối nước lànguyên nhân lớn nhất gây tử vong cho TE và ngã là nguyên nhân thứ ba gây tửvong cho trẻ.
Báo cáo Tư liệu khảo sát tình hình tai nạn thương tích trẻ em 2000-2002 do
Nguyễn Đức Mạnh, Phó Giám đốc Trung tâm Thông tin - Tư liệu và Nghiên cứu,
Ủy ban Bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam thực hiện năm 2002 đã thống kê tổnghợp một loạt các loại hình TNTT trẻ em trong các lĩnh vực sinh hoạt đời sống rất cógiá trị tham khảo cho các nhà quản lý xã hội, bảo vệ và chăm sóc trẻ em, cũng nhưnghiên cứu tìm hiểu về lĩnh vực này Trong đó, đã thống kê cho biết các số liệu về:TNTT do cháy, nổ; sử dụng vũ khí, vật liệu nổ; do điện giật; do nước, lửa, bị vậtnặng đè; xuất phát từ đồ dùng học tập, đồ chơi nguy hiểm; xuất phát từ các sự cốmôi trường; do ngộ độc thực phẩm, dược phẩm; nhiễm độc hoá chất từ các đồ giadụng, y tế; xuất phát từ chăm sóc y tế; do tai nạn lao động (TNLĐ); do bạo lực, bóclột và lạm dụng tình dục; do một số nguyên nhân khác (các hành vi bất cẩn trongđời sống hoặc hoạt động nghề nghiệp của con người; hành vi tự tử ) do TNGT(bao gồm những tai nạn trên đường bộ, đường sắt, đường sông, đường không) Báocáo cung cấp nhiều tư liệu, số liệu có giá trị tham khảo về tình trạng, nguyên nhân,nhóm tuổi trẻ em bị TNTT phải đưa vào các bệnh viện Nhi Hà Nội, bệnh viện XanhPôn, bệnh viện Bạch Mai, bệnh viện bỏng Quốc gia, bệnh viện Mắt Trung ương,bệnh viện Việt -Đức, bệnh viện Tai – Mũi - Họng trung ương, bệnh viện Nhi đồng I
và II Thành phố Hồ Chí Minh… và số trẻ em bị TNTT tại 58 tỉnh/thành phố trongtoàn quốc trong gia đoạn trên cũng như [3]
Kết quả khảo sát thực trạng tai nạn thương tích trẻ em tại hai tỉnh Bắc Giang và Quảng Trị do Trung tâm Thông tin – Tư liệu và Nghiên cứu, Ủy ban Bảo
vệ và chăm sóc trẻ em thực hiện năm 2002, đã cho biết các lứa tuổi bị TNTT: 11
tuổi là 16,56%; 12 tuổi là 18,40%; 13 tuổi là 27,61%; 14 tuổi là 22,09%; 15 tuổi là 11,66%; 16 tuổi là 3,68% Các loại tai nạn có tỷ lệ cao mà các em hay mắc phải: Bị
thú dữ cắn, húc 45,4 %; Bị vật sắc nhọn đâm chích 31,29%; Bị hóc xương 25,77%;
Trang 16mạng 12,27%; Bị côn trùng cắn chui vào vùng kín 9,20%; Bị tai nạn giao thông
10,43% Nơi xảy ra tai nạn thương tích: Tại nhà mình 61,96%; Tại nhà bạn 22,70;
Nơi vui chơi công cộng 9,82%; Trên đường đi học 11,66%; Bờ sông, suối, giếng
nước 14,11% Nguyên nhân xảy ra TNTT: Không có ý thức phòng ngừa 49,08%;
Không được báo trước có nguy hiểm 31,29% ; Nguyên nhân khác 14,7%; Không
rõ 27,61% Khảo sát cũng cho biết tỷ lệ kiến nghị của Trẻ em để phòng chống
TNTT: Hướng dẫn đề phòng TNTT 95,50%; An toàn trong gia đình 70,00%; An
toàn nơi công cộng 75,00%; An toàn đường đi học 68,50%; Giám sát hoạt động của
trẻ em 62,50%; Trẻ em không lao động sớm 83,00% Đây là một khảo sát có nhiều
thông tin phân tích cụ thể và có giá trị tham khảo tốt đối với những người làm côngtác bảo vệ chăm sóc giáo dục TE [2]
Đề tài: Nghiên cứu, đánh giá“Thực trạng và nhận thức của trẻ em, cộng đồng về tai nạn thương tích trẻ em tại một số địa phương ở Việt Nam” tại 6 tỉnh:
Hà Nội, Bắc Giang, Phú Thọ, Thái Nguyên, Quảng Bình, Quảng Ngãi do TS.Nguyễn Đức Mạnh,Phó Viện trưởng Viện Khoa học dân số, gia đình và trẻ em.UB.DSGĐTE thực hiện năm 2006 trên mẫu 2.280 trong đó có 1.452 trẻ em là họcsinh các trường tiểu học, THCS, THPT Kết quả cho biết trẻ em bị TNTT do: Bị vấpngã (70,5%); bị chảy máu do vật sắc nhọn đâm phải (64,6%); bị động vật cào cắn,đốt (52,6%); bị bỏng (42,2%); bị hắc sặc ở miệng (32,6%) Một số loại TNTT kháctuy tỷ lệ không cao nhưng rất nguy hiểm đến tính mạng trẻ em như: bị chết đuối hụt(20,8%); bị điện giật (29,9%); bị ngã từ trên cao (24,0%); bị bom mìn nổ (10,9%;tai nạn giao thông (22%) [3] Nghiên cứu cho biết: Trẻ em cấp tiểu học thường gặpphải hầu hết các loại TNTT như: Bị vấp, động vật cào, cắn, đốt ; bỏng; sặc, hóc dịvật ; điện giật ; ngã từ trên cao; chết đuối hụt; ngộ độc thức ăn; ngộ độc thuốcuống; gỗ đá, đất lăn, lở lấp tới; bị nhiễm hoá chất độc hại; tai nạn do bom, đạn mìnnổ; Trẻ em học THCS thường bị các dụng cụ có mũi nhọn, sắc cạnh hoặc do dẫm,đạp, nghịch các ống tiêm Trẻ em THPT bị tai nạn giao thông nhiều hơn lứa tuổikhác Nhóm tuổi 15-18 chịu hậu quả nặng nề nhất trong các nhóm tuổi, do bị hưhại, hỏng mắt; tổn thương nội tạng và chấn thơng thần kinh nhiều nhất; Nhóm tuổi
Trang 1711- 14 bị gẫy xương tay, chân, dẫn đến dị tật nhiều hơn nhóm khác; nhóm tuổi 6-10chịu hậu quả mức độ cao, không nhiều, nhưng tỷ lệ chịu hậu quả bị sẹo, ảnh hưởngnhiều đến thẩm mỹ Đề tài đưa ra nhiều khuyến nghị hữu ích trong đó có khuyếnnghị: Kết hợp xây dựng chỉ số ngôi nhà an toàn, trường học an toàn cộng đồng an
toàn phù hợp với môi trường thân thiện “xã/ phường phù hợp với trẻ em” như là
một hoạt động thống nhất [3]
(Nguồn : Viện Dân số Gia đình và Trẻ em, Nguyễn Đức Mạnh Báo cáo: “Thực trạng và nhận thức của trẻ em, cộng đồng về tai nạn thương tích trẻ em tại một số địa phương ở Việt Nam” (tại 6 tỉnh: Hà Nội, Bắc Giang, Phú Thọ, Thái Nguyên, Quảng Bình, Quảng Ngãi ), Hà Nội 6-2007.
Một nghiên cứu về TNTT ở trẻ em năm 2009 - nghiên cứu về chấn thương ở học sinh tại thị trấn Vĩnh Bình, huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang, thực hiện từ tháng 11/2009, với phương pháp nghiên cứu hồi cứu, cắt ngang một năm, từ tháng 5
năm 2008 đến tháng 5 năm 2009, cho biết: Ở Tiền giang năm 2007, TNTT lànguyên nhân hàng đầu dẫn đến nhập viện và tử vong ở trẻ vị thành niên [14] Tỷ lệtrẻ bị TNTT do súc vật cắn có 44%; bị té ngã là 38% và TNGT là 13% [15].Nguyên nhân TNTT bởi dụng cụ ở gia đình có 8%, ở trường học là 4% Mức độ chủyếu là dạng trầy xước (42%), là vết thương hở có 27%, là gãy xương có 21% [15]
Thời gian xảy ra TNTT chủ yếu vào ban ngày, với tỷ lệ 86%, mùa mưa 64% [16].
Về địa điểm xảy ra chấn thương ở nhà là 38%, ở đường phố là 33% và ở trường học
là 12%; xảy ra khi các em đang vui chơi 55%, đang tham gia giao thông là 27%,đang làm việc nhà là 11% và đang tham gia thể dục thể thao là 7% [5] [16] Khuyếnnghị của nghiên cứu là, các hộ gia đình cần quản lý tốt các thú nuôi trong nhà; thiết
kế, bài trí các vật dụng gia đình gọn gàng, dọn dẹp nhà cửa đảm bảo khu vực vuichơi, sinh hoạt cho trẻ an toàn Nhà trường và gia đình đặc biệt quan tâm giám sát
trẻ tốt hơn; giáo dục sớm cho trẻ về phòng ngừa TNTT.
Hệ thống ghi nhận tử vong do TNTT từ các xã của 63 tỉnh thành trong cảnước cho thấy: Trong giai đoạn từ năm 2005 – 2007, số trường hợp tử vong do
Trang 18- 2007 là 6938 - 7198 – 7894) [17] Số liệu cũng cho thấy đuối nước là nguyên nhângây tử vong hàng đầu cho TE Việt Nam, thứ nhì là TNGT, thứ ba là ngã và ngộ độc.Một số nghiên cứu khác về TNTTTE cũng cho kết quả tương tự trong đó đuốinước, TNGT là những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do TNTTTE [19].
Các kết quả nghiên cứu trên cho thấy rằng TNTT có thể xảy ra ở tất cảcác lứa tuổi Kiến thức, thái độ và kỹ năng về phòng tránh TNTT có ảnh hưởng tớiTNTT Việc nâng cao nhận thức, cung cấp kiến thức và kỹ năng phòng tránh TNTT
ở TE cho gia đình, cho giáo viên nhà trường và cho trẻ em ngay từ thời ấu thơ là rấtquan trọng Điều đó đòi hỏi cần sự tham gia của cán bộ CTXH cùng với các kỹnăng của nghề công tác xã hội sẽ giúp hình thành môi trường xã hội an toàn và hạnchế TNTT cho trẻ em
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa lý khoa học
Thông qua việc vận dụng vào nghiên cứu các quan điểm, chính sách củaĐảng và Nhà nước về BVCSGD trẻ em, các quy định trong Công ước quyền trẻ emcũng như việc vận dụng một số lý thuyết như lý thuyết hệ thống, lý thuyết nhu cầu,những khái niệm công cụ liên quan đến vai trò của công tác xã hội, đề tài đã làmsáng tỏ những vấn đề lý luận về công tác xã hội, vai trò của nhân viên công tác xãhội trong đời sống xã hội, đặc biệt trong xây dựng mô hình môi trường an toànBVCS trẻ em, phòng chống TNTT trẻ em ở nước ta hiện nay
3.2 Ý nghĩa lý thực tiễn
Kết quả nghiên cứu có thể là một tài liệu tham khảo tốt cho việc xây dựngmôi trường an toàn bảo đảm phòng chống TNTT cho trẻ em trong hệ thống cáctrường Tiểu học và Mầm non, kể cả trong cộng đồng nói chung
Nghiên cứu đưa ra các biện pháp tổ chức, kỹ năng hiệu quả trong việc phòngchống TNTT ở trẻ em trong các trưởng Tiểu học, giúp địa phương xây dựng môitrường trường học phù hợp an toàn cho trẻ em học tập và sinh hoạt,
Trang 19Ý nghĩa đối với cộng đồng trong việc thiết lập, liên kết giữa các hệ thống gia đình nhà trường tạo môi trường sống an toàn cho trẻ hướng tới sự phát triển bền vữnggóp phần xây dựng cuộc sống bình yên hạnh phúc cho người dân.
-Qua nghiên cứu, tìm hiểu thực tế có cơ hội áp dụng những lý thuyết vàphương pháp đã được học vào thực tiễn cuộc sống, đặc biệt là những kỹ năng thựchành CTXH Từ đó giúp cho bản thân nắm vững kiến thức, rèn luyện kỹ năng và cóthêm nhiều kinh nghiệm trong những nghiên cứu tiếp theo và quá trình công tác củamình
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu, nghiên cứu công tác xã hội nhóm trong hỗ trợ trẻ em phòng tránhtai nạn thương tích; đánh giá tính hiệu quả xây dựng mô hình can thiệp hỗ trợphòng tránh TNTT cho các em học sinh dựa trên sự liên kết các nguồn lực giữa nhà
trường và gia đình tại trường tiểu học Giao Phong, huyện Giao Thủy
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Xây dựng cơ sở lý luận, như thực tiễn trong việc nghiên cứu giải pháp canthiệp phòng, tránh TNTT cho học sinh tiểu học khu vực nông thôn dựa vào nhàtrường và gia đình
Phân tích đánh giá thực trạng, nguy cơ TNTT đối với trẻ em tại xã GiaoPhong nói chung và đối với trẻ em tại trường Tiểu học xã Giao Phong nói riêng.Phân tích, đánh giá thực trạng giáo dục kỹ năng sống và các giải pháp can thiệpphòng tránh TNTT cho học sinh đã được triển khai trong trường Tiểu học GiaoPhong
Đưa ra giải pháp và vận dụng phương pháp CTXH nhóm nhằm hỗ trợ cho trẻ cónhững kỹ năng, kiến thức để ứng biến và phòng tránh trước những nguy cơ, rủi ro
do TNTT có thể gây ra
Trang 205 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Công tác xã hội nhóm trong phòng, tránh TNTT cho học sinh tiểu học
5.2 Khách thể nghiên cứu
- Học sinh Trường Tiểu học Giao Phong, huyện Giao Thủy
- Ban giám hiệu, cán bộ giáo viên Trường Tiểu học Giao Phong;
- Phụ huynh có con đang theo học tại Trường Tiểu học Giao Phong;
- Cán bộ chính quyền địa phương xã Giao Phong, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam
Định
5.3 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian nghiên cứu: Trường Tiểu học Giao Phong, huyện Giao Thủy,
tỉnh Nam Định
- Phạm vi thời gian nghiên cứu: Thời gian khảo sát từ tháng 02/12017 - 08/2017
- Phạm vi nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu chỉ tập trung phân tích làm rõ thực trạng
TNTT ở trẻ em, dấu hiệu nhận biết, các biện pháp phòng ngừa và việc vận dụngphương pháp CTXH nhóm nhằm nâng cao kỹ năng phòng tránh TNTT cho học sinhTrường Tiểu học Giao Phong, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định
6 Câu hỏi nghiên cứu
- Những nguyên nhân và rủi ro nào dẫn tới TNTT cho học sinh hiện nay?
- Thực trạng hoạt động phòng tránh TNTT cho học sinh Trường Tiểu học Giao Phong
diễn ra như thế nào?
- Nhà trường và gia đình có những biện pháp nào trong việc hỗ trợ học sinh trang bị
kỹ năng phòng tránh TNTT trong trường và ngoài môi trường sống?
7 Giả thuyết nghiên cứu
- Dẫn tới TNTT cho học sinh là do những nguyên nhân như: sự tò mò và hiếu động
của học sinh, sự thiếu hiểu biết của học sinh, chưa có kỹ năng nhận diện nguy hiểm,
cả gia đình và nhà trường chưa sát sao trong việc quản lý học sinh trong và ngoàimôi trường học đường
- Hoạt động phòng tránh rủi ro TNTT cho học sinh Trường Tiểu học Giao Phong còn
Trang 21TNTT, cán bộ giáo viên nhà trường và phụ huynh còn chưa có kiến thức - kỹ năngphù hợp để trang bị cho học sinh.
- Hiện nay nhà trường và phụ huynh học sinh đã phối hợp đề ra những giải pháp
phòng ngừa TNTT cho học sinh Tuy nhiên những giải pháp đó chỉ mang tính hìnhthức, chỉ mới dừng lại ở việc truyền thông các kiến thức lý thuyết chung chung;Học sinh vẫn chưa được trang bị các kỹ năng thực hành cụ thể và những dấu hiệunhận biết cụ thể về các nguy cơ rủi ro TNTT cho bản thân
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu thứ cấp
Mục đích của phương pháp này là sử dụng các tài liệu có săn để phân tích,tổng hợp những tư liệu, số liệu cần thiết phục vụ nghiên cứu đề tài Các tài liệu thứcấp ở đây bao gồm có : Các báo cáo khoa học, các bài viết trên tạp chí khoa học xãhội, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ; tài liệu hội thảo; các công trình NCKH, dự án ,các tài liệu thống kê… đã được công bố; Các báo cáo, thông tin về tình hình KT-XHcủa địa phương nơi tiến hành khảo sát
8.2 Phương pháp điều tra khả sát thực địa
8.2.1 Phương pháp thu thập thông tin định tính - Phỏng vấn sâu (PVS)
Trong đề tài này, học viên đã trực tiếp PVS 15 đối tượng bao gồm: Các thầy,
cô hiệu trưởng, hiệu phó, giáo viên chủ nhiệm lớp và cán bộ phụ trách Đội TNTP;Các em học sinh của 5 Khối lớp; Đại diện phụ huynh học sinh trường Tiểu học xãGiao phong; Đại diện cán bộ xã Giao Phong nhằm thu thập thông tin sâu hơn, kỹhơn về những vấn đề cần quan tâm để phục vụ nghiên cứu đề tài
Trang 228.2.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Mục đích sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi nhằm thu thập thôngtin định lượng Bảng hỏi được thiết kế với hệ thống các câu hỏi đa dạng kết hợpgiữa câu hỏi đóng, câu hỏi mở Các câu hỏi chức năng được sắp xếp theo hệ thốngtrình tự logic thông tin thu thập, theo nội dung vấn đề nghiên cứu Bảng hỏi dễ hiểunhằm tạo điều kiện cho người được hỏi thể hiện quan điểm của mình với những vấn
đề được hỏi Trong nghiên cứu này học viên đã tiến hành điều tra bằng bảng hỏi códung lượng mẫu 200 phiếu đối với phụ huynh học sinh (PHHS) Số phiếu thu về là
200, được phân theo giới tính, nghề nghiệp, mức sống Phần mềm xử lý số liệuSPSS 18.0 đã được học viên sử dụng để xử lý thông tin thu thập
Cơ cấu mẫu phỏng vấn PHHS bằng bảng hỏi theo giới tính:
8.3 Phương pháp Công tác xã hội nhóm
Để tìm hiểu và có thể can thiệp sâu vào vấn đề, nghiên cứu áp dụng phươngpháp Công tác xã hội nhóm trọng tâm là các hoạt động nhóm, thảo luận nhóm xoayquanh vấn đề phòng tránh rủi ro TNTT Phương pháp thảo luận nhóm trong cácbuổi họp nhóm như: nhóm các phụ huynh học sinh phân theo lứa tuổi hoặc lớp có
02 nhóm; Theo nhóm các học sinh lớn tuổi như học sinh lớp 4, lớp 5 – có 02 nhóm.Khuyến khích các thành viên trong nhóm tranh luận, đưa ra ý kiến và những suynghĩ của mình liên quan đến việc phòng tránh TNTT ở học sinh
Trang 23CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Các khái niệm liên quan
1.1.1 Khái niệm học sinh tiểu học
Theo tác giả Trần Thị Minh Huế (Đại học Sư phạm Thái Nguyên) trong cuốnGiáo trình Giáo dục Tiểu học [26], thì khái niệm “học sinh tiểu học” được hiểu như
sau: “Học sinh tiểu học là học sinh từ lớp 1 đến lớp 5 thuộc lứa tuổi từ 6-11 tuổi và đang theo học các lớp của trường tiểu học thuộc hệ thống giáo dục Việt Nam”.
Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng khái niệm “học sinh tiểu học” của tácgiả Trần Thị Minh Huế ở tài liệu nêu trên để phân tích, luận giải, vận dụng vàonghiên cứu nhằm làm sáng tỏ những đặc điểm tâm sinh lý, những đặc trưng cơ bảncủa nhóm đối tượng học sinh tiểu học có ảnh hưởng như thế nào đến vấn đề phòngtránh rủi ro TNTT và đề xuất các biện pháp can thiệp – trợ giúp phù hợp với nhữngđặc thù tâm sinh lý, lứa tuổi, nhận thức và hiểu biết của học sinh
1.1.2 Khái niệm trẻ em
Theo Điều 1 – Công ước Quốc tề về quyền trẻ em của Liên Hợp Quốc
(1989) [29]: “Trẻ em có nghĩa là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật có thể được áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn”.
Trước đây, Uỷ ban Bảo vệ và Chăm sóc Trẻ em Việt Nam thì khái niệm “Trẻem” được hiểu là: “Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi trừ trường hợp phápluật áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn”
Còn theo Điều 1 - Luật Trẻ em (2016), thì khái niệm trẻ em được hiểu khá
đơn giản là: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi” Luật này quy định về quyền, bổn phận
của trẻ em; nguyên tắc, biện pháp bảo đảm thực hiện quyền trẻ em; trách nhiệm của
cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình, cá nhân trong việc thực hiện quyền vàbổn phận của trẻ em
Trẻ em ở những độ tuổi khác nhau, trong hoàn cảnh xã hội khác nhau thì cónhững đặc điểm rất khác nhau Do vậy người lớn cần phải có cách ứng xử phù hợp
Trang 24Trong đề tài này trẻ em được hiểu theo Luật Trẻ em năm 2016 và được tác
giả vận dụng vào đề tài nhằm phân tích, luận giải làm sáng tỏ những đặc điểm tâmsinh lý và các đặc trưng cơ bản của nhóm đối tượng trẻ em là học sinh tiểu họctrong vấn đề phòng tránh rủi ro TNTT
1.1.3 Khái niệm tai nạn thương tích
* Nhận thức về khái niệm “Tai nạn”:
Theo Tổ chức Catholic Relief Services Hoa Kỳ (CRS) [35]: “Tai nạn là một
sự kiện xảy ra bất ngờ, do những yếu tố bên ngoài tác động lên chủ thể là con người, có thể để lại những thiệt hại và những thương tổn về nhiều mặt như: tâm lý, thể chất cho con người” Có 2 loại tai nạn cơ bản, bao gồm:
- Tai nạn không có chủ định: thường xảy ra do sự vô ý hay không có sự chủ ý của
những người bị tai nạn hoặc của những người khác Các trường hợp thường gặp làtai nạn do giao thông như tai nạn ô tô, xe đạp, xe máy, người đi bộ, tàu hỏa, tàuthủy, máy bay; do bị ngã, lửa cháy, nghẹt thở, chết đuối, ngộ độc…;
- Tai nạn có chủ định: Loại hình tai nạn này gây nên do sự chủ ý của người bị tai nạn
hay của cá nhân những người khác Các trường hợp thường gặp là tự tử, giết người,bạo lực thành nhóm như chiến tranh, đánh nhau, hiếp dâm, hành hạ trẻ em, hành hạngười già, bạo lực trong trường học…
* Nhận thức về khái niệm “Thương tích”:
Theo Tổ chức Catholic Relief Services Hoa Kỳ (CRS) [35]: “Thươngtích được hiểu là không phải là tai nạn mà là sự tổn thương của cơ thể ở các mức độkhác nhau gây nên, bởi tiếp xúc đột ngột với các nguồn năng lượng (có thể là cáctác động cơ học, nhiệt, hóa chất, chất phóng xạ…) quá ngưỡng chịu đựng của cơ thểhoặc do cơ thể thiếu các yếu tố cần thiết cho sự sống như thiếu ôxy, mất nhiệt”.Thương tích có thể lý giải được và có thể phòng tránh được Tuy nhiên, khó có thểphân định rõ ràng giữa hai khái niệm tai nạn và thương tích cho nên chúng tathường gọi chung là tai nạn thương tích
* Nhận thức về khái niệm “Tai nạn thương tích”:
Trang 25Theo Tổ chức Catholic Relief Services Hoa Kỳ (CRS) [35]:“Tai nạn thươngtích là một sự kiện xảy ra bất ngờ ngoài ý muốn do một tác nhân bên ngoài gây nêncác tổn thương/thương tích cho cơ thể về thể chất hay tâm hồn của nạn nhân”.Học viên hiểu và sử dụng khái niệm “Tai nạm thương tích” theo nhận thức của tổchức Catholic Relief Services Hoa Kỳ (CRS)
Một số loại tai nạn thương tích chính hiện nay, gồm có:
- Tai nạn giao thông: Là những trường hợp tai nạn xảy ra do sự va chạm bất ngờ,
nằm ngoài ý muốn chủ quan của con người; chúng thường gây nên khi các đốitượng tham gia giao thông hoạt động trên đường giao thông công cộng, đườngchuyên dùng hoặc ở các địa bàn giao thông công cộng khác… Do chủ quan vi phạmluật lệ giao thông hay do gặp phải các tình huống, sự cố đột ngột không kịp phòngtránh nên đã gây ra thiệt hại, thương tổn đến tính mạng và sức khỏe
- Bỏng: Là tổn thương một hoặc nhiều lớp tế bào da khi cơ thể tiếp xúc với chất lỏng
nóng, chất rắn nóng, lửa Các trường hợp tai nạn thương tích khác ở da do sự phát
xạ của tia cực tím hoặc phóng xạ, điện, chất hóa học cũng như bị tổn thương phổi
do bị khói xộc vào cũng được xem là những trường hợp bị bỏng
- Đuối nước: Là những trường hợp tai nạn thương tích xảy ra khi bị chìm trong chất
lỏng như nước, xăng, dầu… dẫn đến ngạt thở do thiếu oxygen hoặc ngừng tim dẫnđến tử vong trong vòng 24 giờ phải cần đến sự chăm sóc y tế hay bị các biến chứngkhác
- Điện giật: Là những trường hợp tai nạn thương tích do tiếp xúc trực tiếp với nguồn
điện dẫn đến bị thương hoặc tử vong
- Ngã: Là những trường hợp tai nạn thương tích do bị ngã, rơi từ trên cao xuống hoặc
ngã trên cùng một mặt bằng
- Động vật cắn: Gây nên chấn thương là những trường hợp tai nạn thương
- tích do các loại động vật cắn, húc hoặc đâm phải vào người.
- Ngộ độc: Những trường hợp hít, ăn, tiêm vào cơ thể các loại độc tố dẫn đến tử vong
hoặc các loại ngộ độc khác cần đến sự chăm sóc y tế TNTT do ngộ độc còn có thể
do nguyên nhân ngộ độc thức ăn, ngộ độc bởi các chất độc khác
- Máy móc: Là những phương tiện có thể gây nên những tai nạn thương tích khi tiếp
xúc, vận hành dẫn đến các tổn thương thực thể hoặc tử vong
Trang 26- Bạo lực: Là các hành động sử dụng vũ lực đánh đập người, nhóm người, các cộng
đồng khác dẫn đến tai nạn thương tích, tử vong, tổn thương tinh thần, chậm pháttriển
- Tự tử và có ý định tự tử: Tự tử là trường hợp có thể gây nên TNTT như ngộ độc
hoặc ngạt thở do chính nạn nhân tự gây ra với mục đích đem lại cái chết cho chínhbản thân họ Một dự định tự tử có thể dẫn đến thương tích hay không dẫn đếnthương tích
1.1.4 Khái niệm công tác xã hội nhóm
Theo Payne Malcolm (1997) trong tài liệu The theory of modern social work[48] thì có nhiều cách tiếp cận với CTXH nhóm và mỗi cách tiếp cận có những
điểm mạnh và những ứng dụng thực hành cụ thể, theo tài liệu này thì: “CTXH nhóm là hoạt động có mục đích với các nhóm nhiệm vụ và trị liệu nhỏ nhằm đáp ứng nhu cầu tình cảm xã hội và hoàn thành nhiệm vụ”
Đây là một khái niệm về CTXH nhóm được hai tác giả Payne Malcolm đưa
ra mang tính bao quát và phản ánh được bản chất của CTXH nhóm bởi hoạt độngnày hướng trực tiếp tới cá nhân các thành viên trong nhóm và tới toàn thể nhómtrong một hệ thống cung cấp dịch vụ Bởi vậy, trong nghiên cứu này tác giả sẽ vậndụng khái niệm CTXH nhóm ở tài liệu của Payne Malcolm để can thiệp cho nhómhọc sinh Trường Tiểu học Giao Phong nhằm trang bị kỹ năng phòng tránh rủi roTNTT
1.2 Lý thuyết áp dụng trong nghiên cứu
1.2.1 Lý thuyết hệ thống [26]
Thuyết hệ thống nhấn mạnh vào sự tương tác giữa con người với môi trườngsinh sống của mình Nguyên tắc chủ đạo của lý thuyết này cho rằng cuộc sống bìnhthường của con người phụ thuộc vào môi trường xã hội hiện tại của họ; Con ngườiluôn tồn tại trong các hệ thống khác nhau, bao gồm các hệ thống lớn và các tiểu hệthống nó có tác động trực tiếp tới con người sống trong hệ thống đó
Trang 27Lý thuyết hệ thống có hai nhóm là lý thuyết hệ thống chung và lý thuyết hệthống sinh thái, lý thuyết hệ thống ứng dụng các khái niệm về hệ thống nói chungcoi mỗi hệ thống có một ranh giới nhất định; Một hệ thống có thể bao gồm các hệthống phụ và nằm trong một hệ thống lớn hơn, các hệ thống có thể trao đổi với nhau(hệ thống mở) hay khép kín (hệ thống đóng); Một tác động đầu vào sẽ dẫn tới mộtsản phẩm đầu ra qua hệ thống; Một hệ thống có thể ổn định hay biến động Lýthuyết hệ thống nhấn mạnh yếu tố xã hội, lý thuyết này được sử dụng để làm việcvới các cá nhân, nhóm và cộng đồng, quan tâm chính của nó là làm thế nào cho các
cá nhân, nhóm và cộng đồng có hành vi phù hợp với xã hội Có nhiều hệ thống khấcnhau Ví dụ như:
- Hệ thống tự nhiên hoặc không chính thức: gia đình, bạn bè, người lao động tự
do…
- Hệ thống chính thức: nhóm cộng đồng, tổ chức đoàn, đội, công đoàn…
- Hệ thống xã hội: bệnh viện, trường học…
CTXH theo lý thuyết hệ thống nhằm giúp cho học sinh ứng xử phù hợp hơnvới xã hội, môi trường xung quanh, bằng cách giảm bớt tác nhân gây căng thẳng,tăng cường các nguồn lực cá nhân, xã hội và sử dụng các nguồn lực này tốt hơn để
có những chiến lược đương đầu tốt hơn với môi trường đáp ứng tốt ơn nhu cầu củahọc sinh
Trong nghiên cứu đề tài, Học viên vận dụng lý thuyết hệ thống để xem xét lýgiải các vấn đề, hiện tượng trong mối quan hệ liên quan có tính hệ thống củachúng Từ đó, phân tích thực trạng hoạt động trợ giúp học sinh và vai trò củaNVCTXH trong hoạt động trợ giúp có ảnh hưởng đến việc trang bị các kiến thức –
kỹ năng phòng tránh rủi ro TNTT cho học sinh như thế nào, lý thuyết này góp phần
lý giải những hệ thống bên trong và bên ngoài cộng đồng nó có tác động đến nhómhọc sinh Trường Tiểu học Giao Phong ra sao Trên cơ sở đó, hiểu được các hệ thống
đó nó có tác động và ảnh hưởng tới sự tham gia của nhóm học sinh; để có biện phápđiều chỉnh, định hướng các hệ thống có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp tới nhómhọc sinh này
Trang 281.2.2 Lý thuyết nhu cầu Maslow [26]
Abraham Maslow (1908 – 1970) – nhà tâm lý học gốc Do Thái đã đưa ra
thuyết Nhu cầu Bản chất của thuyết này chính là thuyết động cơ- hành động Ông
chia nhu cầu con người thành năm thang bậc từ thấp đến cao và sắp xếp theo một hệ
thống trật tự cấp bậc, trong đó, các nhu cầu ở mức độ cao hơn muốn xuất hiện thìcác nhu cầu ở mức độ thấp hơn phải được thỏa mãn trước
Biểu 1.1 Tháp nhu cầu của Abraham Maslow
Theo Abraham Maslow những nhu cầu cơ bản ở phía đáy tháp phải được
thoả mãn trước khi nghĩ đến các nhu cầu cao hơn ở đỉnh tháp Các nhu cầu bậc cao
sẽ nảy sinh và mong muốn được thoả mãn ngày càng mãnh liệt khi tất cả các nhucầu cơ bản ở dưới (phía đáy tháp) đã được đáp ứng đầy đủ
Vận dụng, lý giải của học thuyết của A.Maslow về nhu cầu của con người
trong cuộc sống“Công tác xã hội xã hội nhóm trong phòng tránh tai nạn thương tích cho học sinh Trường Tiểu học Giao Phong”, học viên thấy rằng nhóm học sinh
có nhu cầu được trợ giúp, nhu cầu được bảo vệ lợi ích của bản thân; nhận được sựquan tâm, chăm sóc, trợ giúp từ nơi học tập, từ cộng đồng; được thể hiện và khẳngđịnh bản thân khi tham gia các hoạt động tại học tập; được giao lưu và chia sẻ vềđời sống vật chất, tinh thần với những học sinh khác tại trường học, nhu cầu đượcthuộc về một nơi nào đó, được an toàn; nhu cầu được bảo vệ và được chăm sóc,được giáo dục và học tập, được trợ giúp về mọi mặt
Trang 29Vận dụng lý thuyết này trong nghiên cứu sẽ góp phần lý giải, phân tíchnhững nhu cầu cơ bản của nhóm học sinh khi tham gia các hoạt động tại trườnghọc, đánh giá được những nhu cầu từ thấp đến cao của nhóm học sinh, từ nhu cầu
về vật chất: ăn, mặc, ở, đi lại, giao tiếp đến những nhu cầu cơ bản ở bậc cao hơn
Lý thuyết góp phần chỉ ra nhu cầu chung và những nhu cầu cốt lõi về hoạtđộng can thiệp nhằm nâng cao kiến thức – kỹ năng phòng tránh rủi ro TNTT chohọc sinh, cũng như đánh giá cao khả năng của học sinh tự quyết định lấy cuộc sốngcủa mình trong phòng tránh TNTT
Lý thuyết này còn khẳng định rằng, hành vi con người chịu sự chỉ đạo củanhững mong muốn của cá nhân họ hoặc từ mong muốn của những người khác.Những mong muốn cho mỗi vai trò thì khác nhau nhưng phù hợp với vai trò mà cánhân thực hiện hoặc trình diễn trong cuộc sống hàng ngày của họ Lý thuyết này đềcập rằng, với cùng một hành vi, có thể chấp nhận ở vai trò này nhưng lại khôngđược chấp nhận ở vai trò kia Khi vai trò phù hợp với khả năng của cá nhân thìngười đó đảm trách tốt vai trò được phân công Thuyết này cũng cho rằng muốnthay đổi hành vi của một cá nhân, cần tạo cơ hội cho họ thay đổi vai trò của mình.Trong nghiên cứu này tác giả sử dụng lý thuyết vai trò để phân tích, đánh giá vai tròcủa của NVCTXH trong việc biện hộ, kết nối, truyền thông vận đồng nguồn lực trợgiúp nhóm học sinh Trường Tiểu học Giao Phong
Trang 30Thông qua việc tìm hiểu về các vai trò kỳ vọng, vai trò chủ quan và vai tròkhách quan, trong nghiên cứu này tác giả xác định như sau:
Vai trò kỳ vọng: Là những mong đợi về vai trò, về các hoạt động kết nối của
NVCTXH, nhằm trợ giúp nhóm học sinh hiện đang học tập tại Trường Tiểu họcGiao Phong có thể dễ dàng tiếp cận với kiến thức – kỹ năng phòng tránh rủi roTNTT
Vai trò chủ quan: Là sự đánh giá của chính NVCTXH, họ là những người
trực tiếp tham gia vào các hoạt động can thiệp, truyền thông, giáo dục biện hộ, vậnđộng, kết nối tổ chức các hoạt động trợ giúp, tập huấn nâng cao nhận thức cho họcsinh Trường Tiểu học Giao Phong
Vai trò khách quan: Là sự đánh giá của học sinh, phụ huynh học sinh, nhà
trường về các hoạt động mà NVCTXH đã và đang triển khai trợ giúp cho học sinhnhà trường Nhằm mục đích thông qua các hoạt động trợ giúp học sinh của trường
có thể thuận lợi hơn trong việc tiếp cận những nguồn lực trợ giúp, những thông tinkiến thức – kỹ năng phòng tránh rủi ro TNTT từ NVCTXH
Như vậy, trong nghiên cứu này tác giả sử dụng lý thuyết vai trò nhằm vậndụng phân tích NVCTXH và trên cơ sở những tồn tại, khó khăn, hạn chế trong quátrình thực hiện vai trò này, nghiên cứu đề xuất vai trò chuyên nghiệp của NVCTXHtrong hoạt động trợ giúp nhằm trang bị các kiến thức – kỹ năng về phòng tránh rủi
ro TNTT cho học sinh Trường Tiểu học Giao Phong, nâng cao năng lực cho đội ngũgiáo viên nhà của nhà trường Vì vậy, vai trò của NVCTXH trong nghiên cứu nàygiữ vai trò chủ đạo, là vai trò hạt nhân để phát triển các hoạt động trợ giúp xuyênsuốt cho học sinh, phụ huynh học sinh và nhà trường
1.3 Chính sách pháp luật của Nhà nước vấn đề phòng tránh TNTT
Nhà nước rất quan tâm đến vấn đề TNTT trẻ em, vì vậy Chính phủ đã liêntục có nhiều văn bản pháp luật chi đạo các hoạt động phòng, tránh TNTT đrr bảođảm an toàn tính mạng và cuộc sống phát triển tương lai của các em
Trang 31- Ngày 27/12/2001, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định Số 197/2001/QĐ-TTg phê duyệt Chính sách Quốc gia Phòng, chống TNTT giai đoạn 2002-2010 với
mục tiêu: Từng bước hạn chế TNTT trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội, góp phầnđảm bảo sự bền vững của quốc gia trên các mặt kinh tế, chính trị, xã hội…
- Ngày 17/01/2006, Bộ Y tế đã có Quyết định số 170/QĐ-BYT về việc ban hành Hướng dẫn Xây dựng cộng đồng an toàn, phòng chống tai nạn thương tích
- Ngày 28/4/2008, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ký Quyết định số 17/QĐ-BYT phê duyệt Chương trình hành động phòng, chống tai nạn thương tích tại cộng đồng đến năm 2010 Quyết định này là căn cứ pháp lý quan trọng để thúc đẩy và duy trì bền
vững những hoạt động, kết quả triển khai Chính sách quốc gia Phòng chống tai nạnthương tích năm 2002-2010 trong ngành y tế Thời gian thực hiện chương trìnhhành động từ năm 2007-2010 trên phạm vi toàn quốc
Cho đến nay, các tỉnh/ thành phố có kế hoạch phòng chống TNTT và xâydựng cộng đồng an toàn
- Ngày 11/11/2013 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 2158/QĐ-TTg Phê duyệt Chương trình phòng, chống tai nạn, thương tích trẻ em giai đoạn 2013
2020, nhằm kiểm soát tình hình TNTT trẻ em, đặc biệt là tai nạn đuối nước và tai
nạn giao thông nhằm đảm bảo an toàn cho trẻ em, hạnh phúc của gia đình và xã hội
- Ngày 12/5/2016, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ thị về việc “Tăng cường các giải pháp phòng, chống tai nạn thương tích, đuối nước cho trẻ em, học sinh sinh viên” Bộ yêu cầu các Sở Giáo dục và Đào tạo (1) Quán triệt và thực
hiện nghiêm túc Quyết định số 234/QĐ-TTg ngày 05/02/2016 của Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt Chương trình Phòng, chống tai nạn thương tích trẻ em giai đoạn
Trang 32Những văn bản pháp luật của Chính phủ là cơ sở pháp lý để các địa phương, tổchức và cá nhân có nhiệm vụ và trách nhiệm thực hiện việc phòng chống TNTT chotrẻ em trong bất kỳ hoàn cảnh và thời gian nào, nhằm bảo vệ sự an toàn và sự pháttriển sống còn của các em.
1.4 Một số đặc điểm tâm, sinh lý ở học sinh bậc tiểu học
1.4.1 Đặc điểm về sinh lý cơ thể
Học sinh tiểu học ở nước ta có độ tuổi từ 6- 11 tuổi Theo các nhà khoa học yhọc cho biết trẻ em nhóm tuổi này hệ xương, cơ còn đang trong thời kỳ phát triển:nhiều mô sụn dễ bị tổn thương do va chậm mạnh, bị cong vẹo, gẫy dập, Thể lựccủa các em mỗi năm tăng thêm 4 cm; trọng lượng cơ thể mỗi năm tăng 2kg Nếu trẻvào lớp 1 đúng 6 tuổi thì có chiều cao trung bình khoảng 106 cm (nam) 104 cm (nữ)cân nặng đạt 15,7 kg (nam) và 15,1 kg (nữ) Hệ tuần hoàn chưa hoàn chỉnh.Nóichung về thể lực của các em còn rất yếu dễ bị tổn thương khi bị va chạm mạnh, hay
bị dị ứng đối với tất cả các bộ phận trong cũng như bên ngoài trên cơ thể các em
1.4.2 Đặc điểm về hệ thần kinh và tâm lý lứa tuổi
Ở nhóm tuổi học sinh tiểu học hệ thần kinh cấp cao đang hoàn thiện về mặtchức năng, do vậy tư duy của các em chuyển dần từ trực quan hành động sang tưduy hình tượng, tư duy trừu tượng Về nhận thức cảm tính: Các cơ quan cảm giácnhư thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác đều phát triển và đang trongquá trình hoàn thiện Về tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, ít đi vàochi tiết và mang tính không ổn định Tư duy của các em mang đậm màu sắc xúccảm và chiếm ưu thế ở tư duy trực quan hành động Các phẩm chất tư duy chuyểndần từ tính cụ thể sang tư duy trừu tượng khái quát Phần đông các em hoạt động
đã có sự phân tích, tổng hợp, kiến thức còn sơ đẳng Các em cũng rất dễ bị tổnthương về tinh thần, tình cảm nếu xâm hại và chấn động mạnh về tâm lý bởi cácxung đột xã hội gây ra đối với các em
Trang 331.4.3 Đặc điểm về quan hệ xã hội
Ở mỗi trẻ em tiềm tàng khả năng phát triển về trí tuệ, lao động, rèn luyện vàhoạt động xã hội để đạt một trình độ nhất định về lao động nghề nghiệp, về quan hệgiao lưu và chăm lo cuộc sống cá nhân, gia đình Trẻ em ở lứa tuổi tiểu học là thựcthể đang hình thành và phát triển cả về mặt sinh lý, tâm lý, xã hội các em đang từngbước gia nhập vào xã hội thế giới của mọi mối quan hệ Do đó, học sinh tiểuhọc chưa đủ ý thức, chưa đủ phẩm chất và năng lực như một công dân trong xã hội.Các em luôn cần sự bảo trợ, giúp đỡ của người lớn, của gia đình, nhà trường và xãhội Học sinh tiểu học dễ thích nghi và tiếp nhận cái mới và luôn hướng tới tươnglai Nhưng cũng thiếu sự tập trung cao độ, khả năng ghi nhớ và chú ý có chủ địnhchưa được phát triển mạnh, tính hiếu động, dễ xúc động còn bộc lộ rõ nét Trẻ nhớrất nhanh và quên cũng nhanh
Chính vì những những đặc điểm như trên và những đặc điểm riêng biệt khác củanhóm tuổi này, các bậc cha mẹ và thày, cô giáo và cộng đồng cần phải tạo môitrường thân thiện cho các em được an toàn phát triển; Cần có những phương pháptruyền đạt kiến thức phù hợp cho các em; truyền đạt kinh nghiệm, rèn luyện nhữngthói quen tốt để các em trưởng thành trong giai đoạn phát triển tiếp theo Trong đó,phòng tránh tai nạn thương tích là một trong những kỹ năng cần thiết để các em tựbảo vệ mình khỏi những rủi ro bất trắc có thể xảy ra trong cuộc sống Hiện ở ViệtNam, TNTT ở trẻ em gây nên do các yếu tố nguy cơ có liên quan đến con người,môi trường và một số yếu tố khác Vì vậy tất cả các bậc cha mẹ, giáo viên, nhữngngười trông giữ trẻ và cộng đồng cần biết và nhận biết các yếu tố nguy cơ để chủđộng phòng tránh những tai nạn thương tích đáng tiếc có thể xảy ra ở trẻ [22]
1.5 Tình hình kinh tế – xã hội xã Giao Phong
Xã Giao Phong là một xã ven biển thuộc huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định,kinh tấ-xã hội của xã đang có nhiều thay đổi theo chiếu hướng tiến bộ Tổng giá trịsản xuất năm 2016 đạt 339,2 tỷ đồng tăng 11,5%, trong đó: giá trị sản xuất tiểu thủcông nghiệp-xây dựng cơ bản tăng 16,2%; giá trị sản xuất xuất nông nghiệp tăng
Trang 34Về Văn hóa - Thông tin, thể dục thể thao: Xã luôn duy trì phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” Hàng năm đều tổ chức “Ngày hội đại đoàn kết toàn dân” ở 3 thôn Năm 2016, toàn xã có 2.040 hộ được công nhận gia
đình văn hóa đạt 90,5%; 05 cơ quan, đơn vị giữ vững danh hiệu văn hóa Các hoạtđộng văn hóa văn nghệ, thể dục - thể thao diễn ra sôi nổi thu hút đông đảo nhân dântham gia
Về Giáo dục - Đào tạo: Xã đã hoàn thành phổ cập giáo dục trẻ Mầm non 5
tuổi Trường Mầm non của xã đạt danh hiệu đơn vị lao động tiên tiến xuất sắc cấp
huyện Trường Tiểu học Giao Phong là một trong những trường tiểu học điển hình
của huyện Giao Thủy : Năm học 2015 - 2016, nhà trường đã thực hiện tốt việc đổimới phương thức dạy học, tăng cường sử dụng các thiết bị dạy học, nâng cao chấtlượng dạy Trường thực hiện nghiêm túc quy chế , chế độ điểm, đánh giá xếp loại
học sinh theo tinh thần cuộc vận động hai không đã thu được kết quả tốt Trường Trung học cơ sở xã Giao Phong: đã hoàn thành tốt nhiệm vụ năm học 2015-2016.
Tổ chức thành công Lễ khai giảng năm học 2016-2017, ngay từ đầu năm học nhàtrường đã tập trung duy trì, ổn định nề nếp trong dạy và học phấn đầu đạt kết quảcao trong năm học 2016-2017
Về Y tế: Xã có trạm y tế Chất lượng khám, chữa bệnh đã được nâng cao; đã khám
và điều trị cho 7.066 lượt người tăng 7,7% so với năm 2015, trong đó khám bảohiểm y tế cho 1.316 lượt người Công tác tiêm chủng 8 loại vác xin cho trẻ em dưới
1 tuổi đạt 99,8%, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng 11,4% Xã đã củng cố vàgiữ vững xã đạt chuẩn quốc gia về y tế năm 2016
Về Dân số - KHHGĐ: Trong năm, tổng số sinh là 152 cháu đạt 104,8% kế
hoạch, tăng 11,8% so với cùng kỳ, tỷ số giới tính khi sinh 85,8 trẻ nam/100 trẻ nữ,
tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên là 13,1% tăng 2,1% so với kế hoạch, tăng 1,9% so vớicùng kỳ, tỷ suất sinh thô 16,7%0, tăng 1%0 so với năm 2015
Về Lao động - Thương binh và Xã hội: Xã Giao Phong đã tổ chức tốt việc
thực hiện công tác an sinh xã hội: Năm 2016 xã đã rà soát và thực hiện chế độ của
Trang 35nghị hưởng trợ cấp người cao tuổi cho 14 cụ;Tổ chức xét duyệt và đề nghị hưởngtrợ cấp bảo trợ xã hội cho 2 đối tượng; Đề nghị điều chỉnh tăng trợ cấp cho 10 đốitượng,; Đề nghị dừng hưởng trợ cấp 10 đối tượng Rà soát 22 đối tượng chính sách
đề nghị hỗ trợ nhà ở theo Quyết định 22 của Thủ tướng chính phủ Thực hiện tốt cácchính sách của Nhà nước đối với người có công, gia đình chính sách, hộ nghèo.Tăng cường công tác tuyên truyền để nhân dân tham gia các loại hình BHYT,BHXH tự nguyện theo quy định Chỉ đạo thực hiện tốt chương trình chăm sóc vàgiáo dục trẻ em đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
1.6 Tình hình kinh tế – xã hội xã Giao Phong
Những năm qua, công tác BVCS trẻ em tại xã Giao Phong (Giao Thủy, NamĐịnh) đã có những chuyển biến tích cực Trẻ em được chăm lo cải thiện cuộc sống,được học tập, vui chơi, giải trí lành mạnh Tuy nhiên, tình trạng trẻ em bị TNTT vẫndiễn biến phức tạp Theo số liệu của Phòng LĐ-TB và XH huyện Giao Thủy, năm
2016, toàn huyện Giao Thủy có 69 trường hợp trẻ em bị TNTT với 43 trẻ bị tửvong, trong đó xã Giao Phong có 16 trường hợp Các trường hợp TNTT gặp như:bỏng nước, đuối nước, ngã xe, ngộ độc thực phẩm, bị ném đá vào đầu, bị vật nặngrơi vào…
Nhằm giảm thiểu tình trạng tai nạn thương tích trẻ em, UBND xã GiaoPhong đã chỉ đạo các cơ quan, đoàn thể tại xã tích cực triển khai chương trìnhphòng, chống TNTT ở trẻ em Trong đó chú trọng công tác truyền thông trong cộngđồng để nâng cao nhận thức về hiểm họa TNTT và các kiến thức cơ bản về phòng,
chống TNTT, đuối nước cho trẻ em; xây dựng “Mô hình xã, phường phù hợp với trẻ em”… đặc biệt là việc phòng chống TNTT tại các vùng trọng điểm
UBND xã Giao Phong phối hợp với các cơ quan trường học, đoàn thể hướngdẫn các gia đình và nhà trường triển khai thực hiện kế hoạch phòng chống TNTT vàlồng ghép với thực hiện Chương trình BVCS trẻ em hằng năm Tổ chức tập huấncho cán bộ, CTV, cha mẹ, trẻ em về kỹ năng phòng tránh TNTT; các phương pháp
sơ cứu thông thường khi xảy ra TNTT ở trẻ em; đưa nội dung này vào hoạt động
Trang 36đuối nước trẻ em, tổ chức dạy bơi cho trẻ em trong trường học và tại cộng đồngtrong dịp hè; Hướng dẫn trẻ em sử dụng áo phao, phao bơi khi tham gia giao thôngđường thủy và các hoạt động vui chơi trong môi trường nước; Xây dựng hệ thốngthu thập thông tin, giám sát, đánh giá hoạt động phòng, chống TNTT trẻ em; Thựchiện sự chỉ đạo của Sở Y tế tỉnh Nam Định về tăng cường năng lực cấp cứu, điềutrị trẻ em bị tai nạn, thương tích; kiểm tra việc thực hiện vệ sinh an toàn thực phẩmtrong các trường học, các cơ sở dịch vụ kinh doanh gần trường học; Đẩy mạnh
phong trào xây dựng trường học “xanh - sạch - đẹp - an toàn” trong các trường tiểu
học, THCS; phối hợp với các ngành thực hiện các biện pháp phòng, chống tai nạn,thương tích trẻ em tại các trường học
Nhà trường phối hợp với Công an xã với Đoàn Thanh niên xã quản lý họcsinh trong dịp hè; Tổ chức các hoạt động vui chơi, giải trí an toàn, lành mạnh chotrẻ em; Cập nhật kiến thức về chăm sóc sức khỏe trẻ em, về sơ cấp cứu một sốtrường hợp đơn giản như: bỏng, thương tích gây chảy máu cho các gia đình phụhuynh học sinh… ; đồng thời trang bị cho trẻ em những kỹ năng cần thiết để chủđộng phòng, tránh tai nạn thương tích, hạn chế thấp nhất những điều đáng tiếc xảyra
Trang 37TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Trong nội dung chương 1, Nghiên cứu đã xác định làm rõ các khái niệm đểđịnh hướng xây dựng bộ công cụ nghiên cứu và định hướng thu thập thông tin, thaotác biện giải, phân tích các thông tin liên quan đến đề tài
Đã vận dụng hệ thống lý thuyết công tác xã hội vào lý giải các vấn đề liên
quan đến nghiên cứu, gồm 3 lý huyết chủ đạo: lý thuyết hệ thống, lý thuyết nhu cầu của Maslow, lý thuyết học tập xã hội và lý thuyết vai trò Trong đó, nêu rõ việc vận
dụng từng lý thuyết để giải quyết các vấn đề của đề tài nghiên cứu
Đã hệ thống hóa, phân tích làm rõ những chủ trương, chính sách pháp luậtcủa Nhà nước, của các bộ, ngành và các biện pháp phòng chống TNTT trẻ em trongthời gian qua làm cơ sở pháp lý triển khai thực hiện đề tài
Đã trình bày làm rõ những đặc điểm về tâm, sinh lý lứa tuổi học sinh Tiểuhọc và các nội dung liên quan đến nhận thức về cảnh báo phòng ngừa, cũng nhưnhững kỹ năng cân cần thiết để phòng tránh TNTT ở lứa tuổi này
Đã trình bày một cách khái quát một số đặc điểm địa bàn nghiên cứu nhưtình hình KT-XH của xã Giao Phong Việc chính quyền, Nhà trường và cộng đồngphối hợp quan tâm đến bảo vệ, chăm sóc trẻ em và phòng tránh TNTT ở trẻ em
Trang 38CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG, NGUY CƠ VÀ CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG TRÁNH TNTT CHO HỌC SINH TRƯỜNG TIỂU HỌC GIAO PHONG
2.1 Một số đặc điểm Nhân khẩu – Xã hội của đối tượng khảo sát
Đề tài nghiên cứu đã tiến hành khảo sát thực địa tại xã Giao Phong, huyệnGiao Thủy, tỉnh Nam Định Số phụ huynh học sinh (PHHS) tham gia trả lời phỏngvấn bằng bằng hỏi theo mẫu dự kiến là 200 người Kết quả thu được 200 phiếu.Sau đây là một số đặc điểm nhân khẩu xã hội của đối tượng khảo sát trên
Bảng 2.2 Trình độ học vấn của Phụ huynh học sinh
Trang 39Các PHHS làm nhiều nghề khác nhau, nhiều nhất là trồng tọt 36,5%; chănnuôi 33,5%; Kinh doanh buôn bán 13,5%; Tiểu thủ công nghiệp 10,5%; Lao động
Bảng 2.4 Mức sống hiện tại của hộ gia đình
(Nguồn: Kết quả khảo sát phụ huynh học sinh Trường Tiểu học Giao Phong)
2.2 Khả năng nhận diện TNTT đối với học sinh
2.2.1 Khả năng nhận diện các loại TNTT của phụ huynh học sinh
Tai nạn thương tích gây nên khuyết tật cho các em học sinh và có thể kéo dàihết cuộc đời Tuy nhiên, không phải mọi PHHS cũng nhận diện được đầy đủ các
Trang 40rõ về khả năng nhận diện các loại TNTT ở trẻ em của các bậc PHHS trường Tiểuhọc Xã Giao Phong.
(Nguồn: Kết quả khảo sát phụ huynh học sinh Trường Tiểu học Giao Phong)
Trên biểu đồ 2.1 cho thấy tỷ lệ PHHS nhận diện các loại TNTT TNTT được
PHHS nhận diện nhiều nhất, chiếm tỷ lệ cao nhất (94,5%) là “Tai nạn giao thông” Chiếm tỷ lệ cao thứ hai với 87,5% là loại TNTT “Ngạt thở do nước, chết đuối” Hai loại TNTT trên thường xảy ra phổ biến trong đời sống hàng ngày nên dễ
gây ấn tượng nhất
Các loại TNTT khác, PHHS trả lời ở mức tỷ lệ tương đối cao gồm: Có
72,5% PHHS cho rằng “Bỏng, điện giật” là TNTT ; 68,5% trả lời cho biết “Súc vật cắn” cũng là loại TNTT Hai loại TNTT này thường xảy ra trong cuộc sống đối
với trẻ em
Các loại TNTT được PHHS nhận diện có tỷ lệ trung bình và dưới trung bình
chút ít là: “Bị vật sắc nhọn đâm, cắt” (64,0%); “Ngộ độc thuốc, hóa chất, thức ăn” (61,0%); “Hóc, sặc” (56,5%) ; Ngã (47%)
Mặc dù một số hiện tượng sức khoẻ con người bị tổn thương do thời tiết,nhưng vẫn có một số PHHS không xác định được phản ứng tự nhiên của cơ thể đốivới môi trường tự nhiên mà vẫn xếp vào loại TNTT Tuy nhiên, tỷ lệ PHHS nhận
diện không cao: như “Ho, khản tiếng” (16,5%) và “Bị cảm nắng”
Qua kết quả thăm dò trên có thể thấy, phần lớn PHHS đã phần nào nhận diệnđược những dấu hiệu và các dạng TNTT Đây là những kiến thức hiểu biết rất cầnthiết để gia đình tăng cường kỹ năng sống, kỹ năng xử lý, giải quyết các tình huốngnhằm phòng, tránh rủi ro TNTT cho học sinh
Tuy nhiên cũng còn lo ngại vì có những PHHS chưa phân biệt được rõ đâu làTNTT đâu là phản ứng, dị ứng của cơ thể đối với sự thay đổi của môi trường tựnhiên, ví dụ như khi gặp nắng nóng, gió lạnh