1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐỔI MỚI GIÁO DỤC TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ DƯỚI GÓC NHÌN PHẢN BIỆN XÃ HỘI

121 108 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 1,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đồng thời, báo điện tử còn thực sựphát huy vai trò tư vấn, giám sát và quản lý xã hội của mình, tăng cường tính phản biện trong báo chí và trở thành những diễn đàn tập hợp các ý kiến phả

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS ĐẶNG THỊ THU HƯƠNG

Hà Nội - Năm 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Đặng Thị Thu Hương Các phân tích, kết luận nghiên cứu trình bày trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào khác Những thông tin tham khảo được trích dẫn trong khóa luận đều

có ghi rõ nguồn sử dụng

Hà Nội, ngày 1 tháng 10 năm 2018

Học viên

Đỗ Ngọc Hà

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Với tình cảm trân trọng và lòng biết ơn sâu sắc, lời đầu luận văn tôi xin gửi lời cảm ơn tới PGS.TS Đặng Thị Thu Hương, người đã trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo tôi rất tận tình trong quá trình nghiên cứu, từ khi nhận đề tài đến khi hoàn thành luận văn này Sự chỉ bảo của cô đã mang lại cho tôi hệ thống các phương pháp, kiến thức cũng như kỹ năng hết sức quý báu để có thể hoàn thiện luận văn

một cách tốt nhất

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, các thầy giáo, cô giáo Khoa Báo chí và Truyền thông đã truyền thụ cho tôi những kiến thức nền tảng vững chắc và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong

quá trình học tập cũng như hoàn thành luận văn

Xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã động viên, khích lệ, hỗ trợ tôi rất

nhiều để tôi có thể thực hiện luận văn này

Luận văn là kết quả của quá trình học tập và sự nỗ lực của bản thân tôi, tuy nhiên cũng không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót Tôi rất mong nhận

được những góp ý chân thành của các thầy cô để đề tài này được hoàn thiện hơn Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 1 tháng 10 năm 2018

Học viên

Đỗ Ngọc Hà

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5

3.1 Mục đích nghiên cứu 5

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 7

6.1 Ý nghĩa lý luận 7

6.2 Ý nghĩa thực tiễn 7

7 Kết cấu luận văn 7

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI TRÊN BÁO CHÍ VÀ VẤN ĐỀ ĐỔI MỚI GIÁO DỤC HIỆN NAY 8

1.1 Phản biện xã hội và vai trò của báo chí trong việc thực hiện phản biện xã hội 8

1.2 Báo điện tử và ưu thế của báo điện tử trong quá trình phản biện xã hội 16

1.3 Vấn đề đổi mới giáo dục hiện nay 21

1.4 Giới thiệu tổng quan về các báo điện tử khảo sát 32

* Tiểu kết chương 1 36

Chương 2: THỰC TRẠNG VIỆC THÔNG TIN VỀ ĐỔI MỚI GIÁO DỤC TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ DƯỚI GÓC NHÌN PHẢN BIỆN XÃ HỘI 37

2.1 Số lượng, tần suất xuất hiện tác phẩm phản biện về những vấn đề đổi mới giáo dục 37

Trang 6

2.2 Nội dung phản biện xã hội về đổi mới giáo dục 44

2.3 Phản hồi của độc giả 69

2.4 Hình thức phản biện xã hội về đổi mới giáo dục 74

* Tiểu kết chương 2 85

Chương 3: MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHẢN BIỆN XÃ HỘI VỀ ĐỔI MỚI GIÁO DỤC TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ 86

3.1 Đánh giá chung về kết quả phản biện xã hội về đổi mới giáo dục trên báo điện tử 86

3.2 Một số vấn đề đặt ra đối với phản biện xã hội về đổi mới giáo dục trên báo điện tử 94

3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả phản biện xã hội về đổi mới giáo dục trên báo điện tử 98

* Tiểu ết chương 3 106

KẾT LUẬN 108

TÀI LIỆU THAM KHẢO 111

Trang 7

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ Bảng số liệu:

Bảng 2.1 Số lượng tác phẩm phản biện về 5 vấn đề đổi mới giáo dục trên 4 báo

điện tử từ 8/2016 – 9/2017 37

Bảng 2.2 Thời gian khảo sát thực tế các tác phẩm phản biện về 5 vấn đề đổi mới giáo dục trên 4 báo điện tử từ 1/8/2016 – 30/9/2017 40

Bảng 2.3 Tần suất xuất hiện các tác phẩm phản biện về 5 vấn đề đổi mới giáo dục trên 4 báo điện tử từ 8/2016 – 9/2017 41

Bảng 2.4 Lượng chủ thể phản biện 46

Bảng 2.5 Số lượt xuất hiện khách thể phản biện 53

Bảng 2.6 Số lượng phản hồi của độc giả 70

Bảng 2.7 Các thể loại báo chí được sử dụng 75

Biểu đồ: Biểu đồ 2.1 Số lượng tác phẩm phản biện về 5 vấn đề đổi mới giáo dục trên 4 báo điện tử từ 8/2016 – 9/2017 39

Biểu đồ 2.2 Các nhóm chủ thể phản biện 45

Biểu đồ 2.3 Tỷ lệ số lượt phản biện trên 4 báo 45

Biểu đồ 2.4 Tỷ lệ thể loại báo chí được sử dụng 76

Trang 8

Ngày nay, cả nhân loại đã và đang bước nền kinh tế tri thức, vấn đề con người được đặt ra ở tầm cao mới, coi sự phát triển nguồn nhân lực con người là cuộc cách mạng trong bối cảnh thế giới đang biến động mạnh mẽ, cùng hợp tác, cùng cạnh tranh Từ đó cũng đặt ra những yêu cầu cấp thiết cần tập trung nhiều hơn đến lĩnh vực giáo dục và đào tạo Một nền giáo dục kém sẽ không thể đào tạo được nguồn nhân lực chất lượng cao Và nếu thiếu nguồn nhân lực ấy thì Việt Nam sẽ bị tụt hậu trong một thế giới đang biến đổi từng ngày, nhất là khi khoa học – công nghệ đang có những bước phát triển vượt bậc

Trải qua bao thập kỷ, Đảng và Nhà nước ta luôn xem “giáo dục là quốc sách hàng đầu, là tương lai của dân tộc” mà các cơ quan có thẩm quyền và các tầng lớp nhân dân đều phải coi trọng Sau Hội nghị Trung ương 8, Khóa XI vào tháng 10/2013, vấn đề đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo được coi như là một trong những nội dung vừa chiến lược, vừa cấp thiết Đây là sứ mệnh thiêng liêng và cũng vô cùng nặng nề đặt ra cho ngành giáo dục và đào tạo trước yêu cầu của giai đoạn phát triển mới của đất nước

Bên cạnh đó, giáo dục là một ngành đặc thù với sự tác động rộng lớn Những thông tin về hoạt động giáo dục, đặc biệt là đổi mới, cải cách giáo dục luôn được đông đảo nhân dân quan tâm, theo dõi Báo chí với chức năng thông tin luôn là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo dục - Đào tạo và các cơ quan có thẩm quyền với quần chúng nhân dân trong lĩnh vực giáo dục Đặc biệt là báo điện tử

Trang 9

2

với sự phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng trong những năm gần đây đã tích cực, kịp thời phản ánh những vấn đề liên quan đến đổi mới của giáo dục nước nhà, thu hút sự chú ý lớn của dư luận Đồng thời, báo điện tử còn thực sựphát huy vai trò tư vấn, giám sát và quản lý xã hội của mình, tăng cường tính phản biện trong báo chí và trở thành những diễn đàn tập hợp các ý kiến phản biện, góp ý cho các cơ chế, chính sách để nâng cao hiệu quả của hoạt động đổi mới giáo dục Đây là điều vô cùng quan trọng bởi quá trình phản biện xã hội của báo chí tạo ra sự đồng thuận của xã hội, đưa ra cái nhìn đa chiều để hướng đến cách giải quyết tối ưu nhất, bảo vệ quyền lợi chính đáng cho công chúng Trong quá trình đó, báo chí tác động đến các cơ quan ban hành chính sách, tạo điều kiện cho người dân được đối thoại và góp ý thẳng thắn về những vấn đề liên quan đến giáo dục, nhằm biến đổi đời sống giáo dục theo một chiều hướng tốt đẹp hơn Trong một lĩnh vực được quan tâm hàng đầu như giáo dục, việc báo chí, đặc biệt là báo điện tử thực hiện quá trình phản biện xã hội lại càng trở nên có ý nghĩa

Việc nghiên cứu về những thông tin liên quan đến đổi mới giáo dục trên báo điện tử từ góc nhìn phản biện xã hội sẽ góp phần nêu rõ thực trạng phản ánh thông tin, tác động của quá trình phản biện xã hội từ đó đề xuất những giải pháp nhằm phát huy hiệu quảquá trình này trên báo điện tử Đó là một việc làm mang tính thực tế và cần thiết Chính vì những lý do đó, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu

đề tài “Đổi mới giáo dục trên báo điện tử dưới góc nhìn phản biện xã hội”

Đề tài lựa chọn khảo sát các bài viết trên một số báo điện tử có số lượng độc giả lớn và cũng là những tờ báo hàng đầu về việc tuyên truyền chủ trương, chính

sách nói chung, về đổi mới giáo dục nói riêng Đó là báo Dân trí, Vietnamnet,

Nhân dân online, Giáo dục và Thời đại online

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

* Các công trình nghiên cứu lý luận về phản biện xã hội trên báo chí

Trang 10

3

Ở nước ta, các công trình nghiên cứu lý luận về báo chí, đặc biệt là phản biện xã hội trên báo chí được đề cập trong một số công trình nghiên cứu

Cuốn sách “Phản biện xã hội – những câu hỏi đặt ra từ cuộc sống” của tác giả

Trần Đăng Tuấn được Nhà xuất bản Đà Nẵng phát hành vào tháng 12/2006.Đây

là một tập sách tập hợp những bài nghiên cứu và tác phẩm báo chí của tác giả mang tính phản biện xã hội sâu sắc Tuy nhiên, ngoài 3 bài viết ở đầu và cuối sách có bàn đến vấn đề phản biện xã hội, các bài còn lại là những bài báo của tác giả Đặc biệt, tính phản biện xã hội của báo chí gần như không được đề cập trực tiếp trong cuốn sách này

Bài viết “Phản biện xã hội trên báo chí”, đăng trên chuyên trang Tuần Việt Nam

của báo điện tử Vietnamnet ngày 20/5/2008, dẫn lại từ bài viết của tác giả Đỗ Minh Tuấn trên báo Công an nhân dân Bài viết có đề cập đến vấn đề phản biện

xã hội nhưng từ góc độ xem xét những bất cập trong phản biện xã hội trên báo chí Việt Nam hiện nay chứ không xem xét toàn bộ vấn đề của phản biện xã hội Năm 2012, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông cho ra mắt cuốn sách

“Phản biện xã hội của tác phẩm báo chí Việt Nam qua một số sự kiện nổi bật”

của tác giả Phan Văn Kiền Cuốn sách đã đề cập đến nhiều vấn đề nổi bật của phản biện xã hội trên báo chí hiện đại Bên cạnh việc chỉ ra đặc trưng của phản biện xã hội trong báo chí, tác giả còn phân tích những yếu tố cản trở quá trình phản biện xã hội trong tác phẩm báo chí Việt Nam như “trọng tình”, chạy đua thông tin giật gân, câu khách, tư duy không hệ thống… Đặc biệt, tác giả đã nghiên cứu hai trường hợp nổi bật để làm rõ quá trình phản biện xã hội của báo chí Việt Nam Đó là loạt bài “Đêm trước đổi mới” trên báo Tuổi trẻ năm 2005

và loạt bài về mưa lũ tại Hà Nội – dự án đường sắt cao tốc trên báo điện tử

Vnexpress và Tiền phong online

Cũng trong năm 2012, đề án nghiên cứu “Hoạt động của báo, tạp chí khoa học

ở Việt Nam với tư cách là diễn đàn khoa học cho trí thức trong các hoạt động tư

Trang 11

4

vấn, phản biện và giám định xã hội” được tiến hành bởi TS Đặng Thị Thu

Hương và nhóm nghiên cứu khoa Báo chí và Truyền thông, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn đã cung cấp một cái nhìn tổng quát về sự tham gia của trí thức trong các hoạt động tư vấn, phản biện, giám định các chủ trương, chính sách, các dự án phát triển kinh tế - xã hội thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng như báo, tạp chí khoa học, báo điện tử… Với đề án này, các lý thuyết liên quan đến phản biện xã hội; mối quan hệ giữa phản biện xã hội

và vai trò tư vấn của báo chí truyền thông; tính chất đặc thù của báo chí trong việc phản biện xã hội… đã được phân tích rất kỹ lưỡng và cụ thể

Những nghiên cứu trên chính là nguồn tài liệu cung cấp cơ sở lý thuyết chắc chắn, cụ thể giúp chúng tôi thực hiện đề tài này

* Các công trình nghiên cứu về đổi mới giáo dục trên báo chí

Vấn đề giáo dục ở Việt Nam, đặc biệt là đổi mới giáo dục trên báo chí không phải là một vấn đề mới, nhưng tầm quan trọng và tính thời sự, tạo dư luận rộng lớn của nó đã thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của khá nhiều tác giả khóa luận, luận văn Các nghiên cứu chọn khảo sát nhiều tờ báo, nhiều giai đoạn, nhiều vấn

đề trọng tâm khác nhau tạo nên một hệ thống đề tài khá phong phú và đa dạng

Về luận văn thạc sĩ có khá nhiều đề tài nghiên cứu liên quan Trong đó có đề tài

“Tuyên truyền về giáo dục đại học trên báo chí thành phố Hồ Chí Minh” (Khảo sát các báo Sài Gòn Giải Phóng và Tuổi Trẻ từ năm 1994 - 2004) của Trần Thị

Phương Thảo, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, năm 2006;“Vai

trò của báo chí ngành giáo dục và đào tạo trong thời kì đổi mới (Khảo sát trên báo Giáo dục & Thời đại, Tạp chí Giáo dục, mạng giáo dục Edu.net từ năm 2001-2005)” của tác giả Nguyễn Xuân Đức, Trường Đại học Khoa học Xã hội

và Nhân văn, năm 2006; “Vai trò của báo chí đối với vấn đề cải cách giáo dục”

của ng Sơn Ca, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, năm 2006;

“Báo in Việt Nam trong công cuộc đổi mới giáo dục hiện nay (Giáo dục & Thời

Trang 12

5

đại, Lao động, Tuổi trẻ TP Hồ Chí Minh từ tháng 1/2008 đến tháng 6/2009) của

Văn Phương Hoa, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, năm 2010… Các luận văn đều tập trung làm rõ việc phản ánh của báo chí về các thông tin như tuyển sinh, tiêu cực trong giáo dục, những thành tựu, điển hình tích cực…

và góp ý của báo chí nhằm nâng cao hiệu quả đổi mới giáo dục Việt Nam

Luận văn “Phản biện xã hội về đổi mới giáo dục tiểu học trên báo in hiện nay

(Khảo sát báo Giáo dục và Thời đại, Tia sáng, Sài Gòn giải phóng, Tuổi trẻ TP HCM, Hà Nội mới từ 2008-2011)” của Trần Thị Hoa, Trường Đại học Khoa học

Xã hội và Nhân văn, năm 2013 có hướng tiếp cận giống như đề tài chúng tôi đang nghiên cứu, đó là phản biện xã hội Luận văn đã phân tích cách thức phản biện xã hội về đổi mới giáo dục tiểu học trên báo in với các vấn đề lớn như: chủ thể của hoạt động phản biện, nội dung phản biện và hình thức tổ chức của các bài báo… một cách khá chi tiết và bài bản

Như vậy, có thể thấy hệ thống khóa luận, luận văn nghiên cứu về vấn đề đổi mới giáo dục trên báo chí chiếm số lượng không nhỏ với cách tiếp cận, thời gian khảo sát… khác nhau Tuy nhiên, chưa có đề tài nào nghiên cứu về vấn đề đổi mới giáo dục trên báo điện tử - loại hình báo chí tuy ra đời sau những loại hình khác nhưng đã nhanh chóng phát triển về số lượng, chất lượng và ngày càng khẳng định được vị trí của mình trong đời sống báo chí, đời sống xã hội của đất nước Chúng tôi chọn thời gian khảo sát từ năm 2016-2017 cũng là giai đoạn gần thời điểm tiến hành nghiên cứu nhất, nên chưa có đề tài nào thực hiện khảo sát

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở hệ thống hóa các lý luận liên quan đến đề tài, luận văn sẽ khảo sát và phân tích thực trạng việc thông tin về đổi mới giáo dục trên báo điện tử dưới góc nhìn phản biện xã hội, từ đó đánh giá những thành công, hạn chế của các báo

Trang 13

6

điện tử trong lĩnh vực này và đề xuất những giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả phản biện xã hội cho các báo điện tử nói chung và các báo được khảo sát nói riêng

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, đề tài thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận nhằm xây dựng khung lý thuyết cho đề tài

- Khảo sát thực trạng việc thông tin về đổi mới giáo dục trên báo điện tử dưới góc nhìn phản biện xã hội

- Đánh giá thành công, hạn chế của các báo điện tử trong việc thông tin về đổi mới giáo dục dưới góc nhìn phản biện xã hội

- Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phản biện xã hội về đổi mới giáo dục trên báo điện tử trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là vấn đề đổi

mới giáo dục trên báo điện tử dưới góc nhìn phản biện xã hội

- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn thực hiện khảo sát trên 4 báo điện tử Dân trí,

Vietnamnet, Nhân dân online, Giáo dục và Thời đại online trong khoảng thời

gian từ tháng 8/2016 đến tháng 9/2017

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng một số phương pháp sau:

- Phương pháp nghiên cứu lịch sử và tư liệu thứ cấp: Hệ thống hóa và khảo sát các văn bản, công trình nghiên cứu đã công bố trước đó liên quan đến đề tài

- Phương pháp phân tích thông điệp:

+ Thống kê và phân tích các bài báo phản biện về đổi mới giáo dục trên báo điện

tử trong thời gian khảo sát

Trang 14

- Đề tài cũng góp phần làm rõ lý luận về báo điện tử và ưu thế của báo điện tử trong việc thực hiện phản biện xã hội

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần giúp các cơ quan báo chí truyền thông, đặc biệt là các báo điện tử trực tuyến hiểu rõ hơn cách thức và kinh nghiệm phản biện xã hội của báo chí trong lĩnh vực đổi mới giáo dục

- Kết quả này cũng giúp các cơ quan có thẩm quyền nhận diện được thực trạng hoạt động phản biện xã hội của báo điện tử về đổi mới giáo dục để từ đó có giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác này

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về đổi mới giáo dục và phản biện xã hội trên báo điện

tử

Chương 2: Thực trạng việc thông tin về đổi mới giáo dục trên báo điện tử dưới góc nhìn phản biện xã hội

Chương 3: Một số vấn đề đặt ra và giải pháp nâng cao hiệu quả phản biện xã hội

về đổi mới giáo dục trên báo điện tử

Trang 15

8

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI TRÊN BÁO CHÍ

VÀ VẤN ĐỀ ĐỔI MỚI GIÁO DỤC HIỆN NAY 1.1 Phản biện xã hội và vai trò của báo chí trong việc thực hiện phản biện

xã hội

1.1.1 Khái niệm và chức năng của phản biện xã hội

Phản biện, theo Đại Từ điển Tiếng Việt, được hiểu là “việc xem xét, đánh giá

chất lượng một công trình khoa học trước hội đồng chấm thi nghiệm thu đề tài”

[40; tr.536] Từ điển Tiếng Việt cũng đưa ra định nghĩa tương tự, là việc “đánh

giá chất lượng một công trình khoa học khi công trình được đưa ra bảo vệ để lấy học vị trước hội đồng chấm thi” [25; tr.738]

Như vậy, cả hai cách định nghĩa trên đều hiểu phản biện theo nghĩa hẹp, như một hoạt động trong nghiên cứu khoa học Thực tế, phản biện là một từ Hán

Việt, với nghĩa tranh luận, biện luận theo hướng ngược lại Phản biện, có thể hiểu là sự tranh luận về một vấn đề trên cơ sở những lý lẽ, lập luận khách quan nhằm bác bỏ những lập luận đã được đưa ra trước đó, nhằm phân biệt đúng – sai, đồng thời bổ sung, góp ý để hoàn thiện và giải quyết vấn đề Phản biện là một hành động có chủ định của con người, có thể diễn ra công khai hoặc không công khai, với mục đích vì sự tiến bộ và phát triển của xã hội

Từ cách hiểu này, có thể lý giải phản biện xã hội là sự phản biện của xã hội, là

sự bàn luận, tranh luận của các lực lượng xã hội về những chủ trương, chính sách, đề án… có ảnh hưởng đến đời sống của họ Cùng với những bàn luận, phân tích, họ có thể đề xuất những kiến nghị, giải pháp giúp giai cấp cầm quyền điều chỉnh các chủ trương, chính sách, quyết định… phù hợp với lợi ích chung của xã hội Phản biện xã hội còn thể hiện ở việc cất lên tiếng nói, thảo luận về những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống xã hội nói chung Đó có thể là tiếng nói phê phán, phản đối hay ủng hộ, đồng tình để tác động đến bộ máy lãnh đạo, các

Trang 16

9

cơ quan công quyền có hướng xử lý, giải quyết phù hợp Đây là một hiện tượng tất yếu trong đời sống chính trị - xã hội, là biểu hiện của dân chủ xã hội

Phản biện xã hội là một dạng thức cụ thể của phản biện, đây là hoạt động diễn

ra công khai, chủ thể phản biện phải thông qua kênh truyền thông để truyền tải thông điệp của mình tới khách thể phản biện và thu hút sự quan tâm rộng rãi của công chúng

Khái niệm phản biện xã hội đã được sử dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia; với

nước ta, khái niệm này bắt đầu thu hút sự quan tâm, chú ý của giới nghiên cứu

từ khoảng 10 năm trở lại đây, nhất là sau khi phản biện xã hội được chính thức

ghi trong văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X

Trong Văn kiện Đại hội X, Đảng ta đã giải thích, phản biện xã hội là “phản biện

nói chung, nhưng có quy mô và lực lượng rộng rãi hơn của xã hội, của nhân dân

và các nhà khoa học về nội dung, phương hướng, chủ trương, chính sách, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, khoa học – công nghệ, giáo dục, y tế, môi trường, trật tự an ninh chung toàn xã hội của Đảng, Nhà nước và các tổ chức liên quan” [11; tr.183] Đồng thời, Đảng cũng khẳng định: “Phản biện xã hội là phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, ý thức trách nhiệm của nhân dân trong việc tham gia quản lý Nhà nước […] Nhân dân không chỉ có quyền mà còn có trách nhiệm tham gia hoạch định và thi hành các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước” [11; tr.182]

Đến Đại hội XI của Đảng, hoạt động phản biện xã hội được chú trọng và đề cao

hơn: “Đảng, Nhà nước có cơ chế, chính sách, tạo điều kiện để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân hoạt động có hiệu quả, thực hiện vai trò giám sát, phản biện

xã hội” [12; tr.84]

Bên cạnh đó, trong các cuốn sách và bài viết đăng trên các tạp chí, nhiều nhà

nghiên cứu cũng bàn luận về khái niệm phản biện xã hội Theo tác giả Nguyễn

Trần Bạt: “Phản biện xã hội là sự tranh luận một cách chuyên nghiệp giữa các

Trang 17

10

lực lượng xã hội với nhau hoặc với nhà cầm quyền để tạo sự chính xác chính trị của mỗi hành động có chất lượng chính sách hoặc định hướng, cho nên, nếu không có sự tham gia của hai lực lượng này thì quá trình còn lại là quá trình phản ứng xã hội chứ không phải là phản biện xã hội” [1]

Tác giả Phan Văn Kiền trong cuốn Phản biện xã hội của tác phẩm báo chí Việt

Nam qua một số sự kiện tiêu biểu (Nxb Thông tin và Truyền thông, 2012) thì

đưa ra quan điểm: “Phản biện xã hội là phản biện với những vấn đề có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống con người, ý nghĩa cuối cùng của nó thường có ảnh hưởng đối với một vấn đề có phạm vi rộng, tác động đến nhiều cá nhân” [19; tr.20]

Bàn về khái niệm phản biện xã hội, PGS TS Đặng Thị Thu Hương, trong đề án nghiên cứu cùng nhóm cộng sự, Hoạt động của báo, tạp chí khoa học ở Việt

Nam với tư cách là diễn đàn khoa học cho trí thức trong các hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội cho rằng: “Là một khái niệm chính trị - xã hội,

phản biện xã hội về thực chất là sự phản biện của nhân dân Nhân dân là chủ thể của phản biện xã hội với hai tư cách Thứ nhất, với tư cách là người chủ, nhân dân có quyền giám sát đối với mọi hoạt động của Nhà nước Bằng hình thức phản biện xã hội, nhân dân có công cụ hữu hiệu, có điều kiện tốt hơn thực hiện quyền giám sát các hoạt động của Nhà nước Thứ hai, với tư cách là đối tượng chịu sự quản lý của Nhà nước, nhân dân có quyền bảo vệ những lợi ích, quyền lợi chính đáng, hợp pháp của mình trước những chủ trương, chính sách, đề án của Nhà nước chưa đáp ứng đầy đủ hoặc xâm phạm các quyền lợi đó” [17; tr.17]

Để phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, thu hút và động viên quần chúng nhân dân tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội; tham gia hoạch định, thực thi chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước thì cần phải tạo điều kiện để nhân dân thực hiện tốt quyền phản biện xã hội của họ Quá trình phản biện xã hội diễn ra theo các bước:

Trang 18

11

- B1: Xuất hiện đối tượng phản biện (là các chủ trương, dự thảo, chính sách, đề án…) do khách thể phản biện đưa ra

- B2: Đối tượng phản biện tác động đến chủ thể phản biện (là các tổ chức,

cá nhân…) theo hướng tích cực hay tiêu cực

- B3: Chủ thể phản biện hình thành thông điệp phản biện để góp ý, bổ sung, phản hồi về vấn đề

- B4: Thông điệp phản biện được chuyển đến kênh truyền thông, là các phương tiện thông tin đại chúng

- B5: Kênh truyền thông truyền tải thông điệp phản biện của chủ thể tới khách thể

- B6: Khách thể phản biện tiếp nhận thông điệp và giải thích, tranh luận lại với chủ thể phản biện Ở giai đoạn này, có thể tiếp tục xuất hiện những thông điệp tranh biện giữa các bên

- B7: Sau quá trình tranh luận, khách thể phản biện đưa ra những giải pháp, điều chỉnh để xử lý vấn đề

Quá trình phản biện xã hội chỉ thu hút được đông đảo chủ thể phản biện tham gia khi nó có ý nghĩa rộng lớn, có ảnh hưởng, liên quan đến lợi ích chung của nhiều người trong xã hội Giá trị của phản biện xã hội là nhằm phát huy dân chủ,

là để Nhà nước lắng nghe tiếng nói của nhân dân Chính vì vậy, phản biện xã hội được coi là nhu cầu bức thiết, là đòi hỏi bắt buộc của quá trình lãnh đạo, điều hành đất nước Phản biện xã hội còn có tác dụng hạn chế sự lạm dụng quyền lực,

sự độc đoán chuyên quyền, quan liêu, tham nhũng trong cơ quan Đảng, cơ quan Nhà nước

Về chức năng của phản biện xã hội, tác giả Phạm Quang Tú, trong bài viết Phản

biện xã hội: Khái niệm, chức năng và điều kiện hình thành [35] đã chỉ ra 3 chức

năng chính của phản biện xã hội:

Thứ nhất, phản biện xã hội giúp điều tiết xung đột lợi ích giữa các nhóm xã hội

để tạo ra đồng thuận xã hội Bởi xã hội là một tập hợp nhiều lực lượng xã hội,

Trang 19

12

nhóm xã hội khác nhau, và trong quá trình phát triển của mình, các nhóm tất yếu

có sự mâu thuẫn, xung đột với nhau về lợi ích Khi đó, quá trình phản biện xã hội sẽ giúp điều hòa mâu thuẫn, giải quyết các xung đột này thông qua con đường tranh luận, đối thoại một cách công khai, để từ đó tạo nên sự đồng thuận, thống nhất trong xã hội

Thứ hai, phản biện xã hội góp phần khắc phục những khiếm khuyết của các kiến tạo chính sách - thể chế, qua đó nâng cao chất lượng quản trị của bộ máy Nhà nước Phản biện xã hội không phải là sự phủ định, bác bỏ hoàn toàn những

chính sách của cơ quan công quyền Ngược lại, nó giúp cơ quan Nhà nước nhận

ra những lỗ hổng, khiếm khuyết, hạn chế của các chính sách, để từ đó đề xuất những hướng đi mới hay giải pháp khắc phục, thay thế hợp lý

Thứ ba, phản biện xã hội góp phần nâng cao trách nhiệm xã hội của cộng đồng, phát triển ý thức về quyền và nghĩa vụ của người công dân, qua đó từng bước hình thành môi trường xã hội dân chủ, tiến bộ Phản biện xã hội phát huy tiếng

nói của người dân, tạo điều kiện để nhân dân tham gia thảo luận, góp ý vào các vấn đề lớn của đất nước Từ đó, phản biện xã hội đóng vai trò ngày càng quan trọng trong sự phát triển, tiến bộ của xã hội

1.1.2 Vai trò của báo chí trong việc thực hiện phản biện xã hội

Báo chí cách mạng nước ta là cơ quan ngôn luận của Đảng, Nhà nước, là diễn đàn của nhân dân và có chức năng phản biện xã hội

Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, tháng 1/2011 đã chính thức đề cập đến vai trò tổ chức và phản biện xã hội của báo chí: “Chú trọng nâng cao tính tư tưởng, phát huy mạnh mẽ chức năng thông tin, giáo dục, tổ chức và phản biện xã hội của các phương tiện thông tin đại chúng vì lợi ích của nhân dân và đất nước; khắc phục xu hướng thương mại hóa, xa rời tôn chỉ, mục đích trong hoạt động báo chí, xuất bản” [12; tr.225]

Trang 20

13

Điều 25, Hiến pháp năm 2013 của nước ta cũng quy định rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình”

Điều 11, Luật Báo chí năm 2016 cũng khẳng định công dân có quyền tự do ngôn luận trên báo chí, “tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước”; “góp ý kiến phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức Đảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp và các tổ chức, cá nhân khác” [30; tr.7]

Những căn cứ pháp lý trên là cơ sở cho hoạt động phản biện xã hội được tiến hành và đem lại những thay đổi tích cực trong đời sống Bởi báo chí được khuyến khích phát huy vai trò “phản biện xã hội”, nhân dân cũng được đề cao

“quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí”, thì quá trình phản biện về các vấn đề, quyết sách mới thực sự có hiệu quả

Nếu phản biện xã hội là quá trình tranh luận, phản biện của quần chúng nhân dân với các chính sách của Nhà nước thì báo chí chính là phương tiện, là kênh thông tin giúp người dân thực hiện quyền tự do ngôn luận, phản ánh được ý chí

và nguyện vọng của mình Báo chí chính thống là kênh công khai, giúp cho quá trình thảo luận, phản biện về các vấn đề, các chính sách được chuyên nghiệp, khách quan và khoa học Nhờ có báo chí mà tiếng nói của nhân dân được lắng nghe, và từ đó tạo nên những tác động lớn trong đời sống xã hội

Đối với việc phản biện xã hội, báo chí là kênh thông tin quan trọng và có khả năng tạo ra sức mạnh tổng hợp nhằm tạo lập và định hướng dư luận xã hội Khả năng “thiết lập chương trình nghị sự” của báo chí có thể hướng dư luận đến những vấn đề gây tranh cãi, đáng quan tâm Từ đó các chuyên gia, cán bộ công quyền hay những người dân bình thường có thể thể hiện quan điểm, ý kiến trên các bài báo, các chương trình phát thanh, truyền hình… và được đông đảo công

Trang 21

14

chúng tiếp nhận Các tranh luận, áp lực dư luận xã hội sẽ tạo nên hiệu ứng lan tỏa, thúc đẩy các hành vi xã hội Trí tuệ của toàn dân được huy động để góp ý kiến cho các quyết sách lớn của Nhà nước trong quá trình xây dựng và thực thi nhằm hướng tới sự phát triển bền vững Ở đây báo chí đóng vai trò trung gian, cầu nối cho quá trình phản biện Đồng thời, báo chí cũng có thể trở thành chủ thể của hoạt động này khi các nhà báo, phóng viên đưa ra những bình luận, đóng góp của mình cho vấn đề được phản biện Với tính chất chân thật, khách quan, công khai, đại chúng… báo chí có những lợi thế nổi bật trong quá trình phản biện xã hội

“Báo chí trong tương quan với phản biện xã hội, là cơ quan “nói chuyên nghiệp”

để bảo vệ quyền lợi cho nhân dân Cho nên, khí nói đến phản biện trong báo chí

là nói đến vai trò của báo chí trong việc tư vấn, giám sát và quản lý xã hội thông qua hình thức “nói chuyên nghiệp” […] Phản biện xã hội của báo chí chính là phương pháp bảo vệ quyền lợi chính đáng cho công chúng của báo chí hiện đại Trong quá trình đó, báo chí tác động đến chính trị và giai cấp cầm quyền cũng

có những phản hồi ngược, tất cả nhằm biến đổi xã hội theo một chiều hướng tốt đẹp hơn Nói cách khác, tính phản biện xã hội của báo chí nhằm tạo ra một xã hội dân chủ cao, ở đó, người dân được đối thoại và góp ý thẳng thắn những vấn

đề liên quan đến đời sống của mình, vận mệnh của đất nước… với các nhà lãnh đạo” [19; tr.8]

Theo Trần Xuân Thân, tác giả luận án tiến sĩ “Phản biện xã hội trên báo điện

tử” (Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, năm 2015), hoạt động phản

biện xã hội trên báo chí Việt Nam chủ yếu thể hiện ở 5 phương diện: “1) Ngày càng đóng góp tích cực vào việc xây dựng và hoàn thiện đường lối lãnh đạo của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; 2) Phản ánh tâm tư, nguyện vọng, thái độ, quan điểm của nhân dân đối với các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; 3) Đấu tranh chống tiêu cực, lãng phí, tham nhũng, quan liêu, các tệ nạn xã hội; 4) Phát hiện, biểu dương và cổ vũ

Trang 22

15

những nhân tố mới, sáng kiến hay, giải pháp hữu ích phục vụ quá trình xây dựng

và phát triển đất nước; 5) Góp phần thay đổi nhận thức và dần hình thành thói quen cho các tổ chức, cá nhân công khai thảo luận về các vấn đề chung của xã hội” [38; tr.56]

Phản biện xã hội là một xu hướng tích cực đang được các tờ báo của Việt Nam phát huy ngày càng mạnh mẽ Báo chí Việt Nam đang mở rộng dần phạm vi ảnh hưởng của mình thông qua quá trình phản biện xã hội

1.1.3 Báo chí thực hiện truyền thông chính sách để phản biện xã hội

Theo GS TS Nguyễn Minh Thuyết, “chính sách là đường lối cụ thể của một chính Đảng hoặc một chủ thể quyền lực về một lĩnh vực nhất định cùng các biện pháp, kế hoạch thực hiện đường lối ấy Cấu trúc của chính sách: đường lối cụ thể (nhằm thực hiện đường lối chung), biện pháp, kế hoạch thực hiện Chủ thể ban hành Chính sách: chính đảng, cơ quan quản lý nhà nước, đơn vị, công ty…”

Có thể hiểu, chính sách là chương trình hành động do các nhà lãnh đạo hay nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình

Để chính sách sát với thực tiễn cuộc sống và đạt được sự đồng thuận giữa cơ quan ban hành với đối tượng tiếp nhận thì ngoài những yếu tố không thể thiếu như năng lực, trình độ, nhận thức… của những người trực tiếp soạn thảo chính sách, việc truyền thông về chính sách ngày càng có vai trò quan trọng

Truyền thông chính sách là quá trình phổ biến, thông tin về chính sách thông qua các phương tiện truyền thông đến với công chúng Truyền thông chính sách

là quá trình chia sẻ, tương tác xã hội để thông tin chính sách từ chủ thể hoạch định, xây dựng chính sách đến được các lực lượng xã hội khác nhằm tăng cường

sự hiểu biết, thay đổi nhận thức và hành vi của họ để đạt được mục tiêu chính sách Từ đó, có thể xem xét các yếu tố của quá trình truyền thông như tần suất, phương tiện truyền thông… có ảnh hưởng như thế nào đến mỗi giai đoạn của

Trang 23

16

chu trình chính sách Hiệu quả của truyền thông chính sách không chỉ quyết định sự thành công của từng chính sách riêng lẻ mà còn góp phần củng cố sự lãnh đạo của Đảng, năng lực quản lý của Nhà nước

Ở nước ta, truyền thông chính sách hướng tới mục tiêu giúp người dân có thể thực hiện được vai trò “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” Nhờ vậy, quyền tiếp cận thông tin của người dân được đảm bảo, đồng thời, trách nhiệm giải trình của các cơ quan công quyền cũng được nâng cao Trên thực tế, việc xây dựng và thực thi chính sách như thế nào, liên quan rất chặt chẽ tới công tác truyền thông chính sách, từ công bố dự thảo, lấy ý kiến nhân dân, thảo luận, tiếp thu ý kiến, chỉnh sửa và hoàn thiện chính sách

Nhà nước chủ trương tăng cường sự tham gia của các cơ quan báo chí vào quy trình chính sách, coi báo chí là kênh khảo sát, thăm dò công chúng chính thức trong việc lấy ý kiến để xây dựng và hoàn thiện chính sách, cũng như phản biện, sửa đổi chính sách Nhà nước quy định những trường hợp bắt buộc các cơ quan làm chính sách phải mời báo chí tham gia vào quy trình chính sách; quy định rõ ràng, cụ thể về vận động chính sách; truyền thông rộng rãi, nâng cao năng lực của báo chí trong việc phân tích, phản biện chính sách; thiết lập mối quan hệ tốt hơn giữa báo chí với các cơ quan ban hành chính sách

Trong thực thi chính sách và đánh giá chính sách, báo chí có vai trò tuyên truyền, giới thiệu, phổ biến chính sách của Chính phủ, các Bộ, ngành tới người dân; cùng với đó giám sát việc thực hiện chính sách, phát hiện những vấn đề bất cập, đánh giá hiệu quả chính sách thông qua dư luận xã hội và thông qua chính

sự thăm dò, khảo sát của cơ quan báo chí

1.2 Báo điện tử và ƣu thế của báo điện tử trong quá trình phản biện xã hội

1.2.1 Khái niệm báo điện tử

Cuối thế kỉ XX - đầu thế kỉ XXI, mạng Internet ra đời và phát triển mạnh mẽ, tác động tới mọi mặt của đời sống con người, trong đó có báo chí Sự hình thành

Trang 24

17

và phổ biến rộng khắp của Internet đã góp phần tạo ra một loại hình báo chí mới trong lịch sử,một sự kết hợp giữa Internet và báo chí, đó là báo điện tử

Cho đến nay, loại hình báo chí này vẫn chưa có một tên gọi thống nhất Trên thế

giới tồn tại các thuật ngữ như: Internet newspaper, online newspaper, electronic

journal… Ở Việt Nam, một số thuật ngữ được dùng phổ biến là: báo điện tử, báo mạng điện tử, báo mạng, báo trực tuyến…

Luật báo chí Việt Nam (năm 2016) sử dụng thuật ngữ báo điện tử Theo điều 3

luật này, “báo điện tử là loại hình báo chí sử dụng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được truyền dẫn trên môi trường mạng, gồm báo điện tử và tạp chí điện tử” [30;

tr.2] Trong luận văn này, chúng tôi cũng sử dụng thuật ngữ báo điện tử làm tên

gọi thống nhất, để phù hợp với các văn bản pháp quy hiện hành

Báo điện tử, hiểu một cách đơn giản và đầy đủ là hình thức tổ chức thông tin báo chí và phát hành trên mạng Internet Báo điện tử là một phần của không gian mạng

Ở Việt Nam, sau hơn 20 năm phát triển, số lượng báo điện tử rất phong phú và được chia làm hai dạng Một là các báo điện tử ra đời độc lập, không phát triển

từ báo giấy hay phát hành kèm báo giấy như VnExpress, Vietnamnet,

VietnamPlus… Hai là các báo điện tử là phiên bản điện tử của các tờ báo giấy

đã hình thành trước đó như Tuổi trẻ online, Thanh niên online, Lao động

online…

Ra đời và phát triển muộn hơn các loại hình báo chí khác, báo điện tử kế thừa những công cụ truyền tải thông tin vốn có của các loại hình báo chí đi trước như: chữ viết, biểu đồ, hình ảnh tĩnh (báo in), âm thanh audio (phát thanh), video, hình ảnh động (truyền hình)…

Từ sự kế thừa, tổng hợp đó, cùng với cách thức truyền thông qua mạng Internet, báo điện tử mang trong mình những đặc trưng riêng biệt, nổi bật Những đặc

Trang 25

18

trưng ấy cũng tạo nên thế mạnh rõ rệt cho báo điện tử trong quá trình phản biện

xã hội

1.2.2 Ưu thế của báo điện tử trong quá trình phản biện xã hội

Có thể nói, báo điện tử có ưu thế rất lớn trong quá trình phản biện xã hội so với các loại hình báo chí khác Bởi nó là con đẻ của sự phát triển vượt bậc về công nghệ thông tin, hoạt động được nhờ các phương tiện kỹ thuật tiên tiến, số hóa, các máy tính nối mạng và các server, các phần mềm ứng dụng Trên cơ sở phát huy đặc trưng của một loại hình truyền thông đa phương tiện, báo điện tử thể hiện những lợi thế riêng có sau:

Báo điện tử có tính thời sự cao, phi định kỳ, vì vậy có khả năng cung cấp thông tin một cách nhanh chóng, cập nhật Báo in có chu kỳ phát hành nhất định, theo ngày/tuần/tháng… Phát thanh và truyền hình có lịch phát thanh, phát sóng cố định, việc cập nhật thông tin trực tiếp là có thể nhưng cũng bị hạn chế bởi lịch phát và thời lượng chương trình.Trong khi đó, báo điện tử lại hoàn toàn chủ động, linh hoạt trong việc đưa tin Bất cứ khi nào có thông tin mới, báo điện tử đều có thể truyền tải tức thời đến độc giả của mình Nếu có nội dung cần chỉnh sửa, cập nhật, các biên tập viên/nhà báo hoàn toàn có thể thực hiện với những thao tác đơn giản Báo điện tử ngày nay cũng có xu hướng tường thuật trực tiếp

sự kiện, giúp công chúng theo dõi được diễn biến các vụ việc một cách dễ dàng Đây là một đặc trưng nổi trội của báo điện tử, giúp hoạt động phản biện xã hội diễn ra thuận lợi và nhanh chóng hơn Khi kênh truyền thông truyền tải được thông tin nhanh, kịp thời đến các chủ thể, khách thể phản biện thì quá trình phản biện chắc chắn sẽ hiệu quả hơn

Về mặt nội dung và hình thức thể hiện thông điệp phản biện, báo điện tử cũng

có những thế mạnh nhất định giúp chất lượng thông điệp được nâng cao Bởi trên báo điện tử, người ta thấy “hình bóng” của cả báo in, phát thanh, truyền hình Khả năng tích hợp đa phương tiện các yếu tố chữ viết, hình ảnh, video, đồ

Trang 26

19

họa… cho phép báo điện tử truyền tải thông tin đến người đọc một cách sinh động, hấp dẫn và dễ tiếp nhận Nội dung phản biện cũng trở nên thuyết phục hơn, gây ấn tượng hơn với độc giả Đây chính là thế mạnh giúp báo điện tử trong tương lai sẽ trở thành kênh truyền thông chủ đạo Hiện nay, nhiều tờ báo điện tử còn sử dụng hình thức megastory – không chỉ là một bài báo đa phương tiện mà còn được thiết kế theo cách thức hoàn toàn mới, giúp cho việc trải nghiệm sản phẩm báo chí của người đọc được nâng tầm Những bài báo được đầu tư kỹ lưỡng về nội dung, thiết kế đẹp mắt và minh họa độc đáo, sáng tạo lôi cuốn người đọc cùng phân tích và cảm nhận về các vấn đề được đặt ra Với những bài báo dạng này, độc giả của báo điện tử sẽ dành nhiều thời gian hơn để tìm hiểu về vấn đề mình quan tâm, cảm xúc của họ cũng được khơi gợi để có những phản hồi, góp ý cho quá trình phản biện xã hội

Bên cạnh đó, báo điện tử cũng không bị giới hạn về dung lượng như các tác phẩm báo in, phát thanh, truyền hình, vì vậy việc trình bày nội dung phản biện không bị gò bó Cũng bởi đặc trưng này mà báo điện tử có thể triển khai các bài

có nội dung chuyên sâu như tạp chí – dạng megastory – vốn có dung lượng dài gấp 3 – 4 lần bài viết thông thường Tác giả chỉ cần diễn đạt các vấn đề phản biện một cách chặt chẽ, logic và thuyết phục được người đọc

Một đặc trưng khác tạo nên ưu thế rất lớn cho báo điện tử trong hoạt động phản biện xã hội so với các loại hình báo chí là tính tương tác cao Tương tác hấp dẫn bạn đọc bởi thông tin được mang tính hai chiều Sự tương tác giúp độc giả trở thành một phần của nội dung truyền thông, có thể bày tỏ thái độ, phản biện với nội dung tin, bài

Nếu như độc giả của báo in muốn phản hồi ý kiến, gửi thông tin cho tòa soạn cần phải viết thư, gửi email và mất thời gian chờ đợi hồi âm; thính giả và khán giả của phát thanh, truyền hình cũng tương tự ngoại trừ việc tương tác trong các chương trình lên sóng trực tiếp; thì đối với báo điện tử, việc tương tác dễ dàng hơn rất nhiều Người đọc có thể ngay lập tức để lại bình luận công khai của

Trang 27

20

mình dưới mỗi bài báo điện tử, đồng thời tương tác với các độc giả khác có cùng vấn đề quan tâm Họ cũng có thể tương tác ngay trong bài viết, khi trả lời các câu hỏi người viết đặt ra trong bài, lựa chọn nội dung họ muốn đọc, và trải nghiệm tác phẩm báo chí theo cách riêng của mình

Hiện nay, nhiều tờ báo điện tử cũng thường xuyên tổ chức các buổi giao lưu trực tuyến, giúp độc giả có thể tương tác với nhân vật, với tòa soạn một cách vô cùng đơn giản Từ khả năng tương tác cao như vậy, quá trình phản biện xã hội sẽ được đẩy nhanh, giúp các ý kiến đóng góp của người dân sớm được nhà cầm quyền tiếp nhận và xem xét, từ đó hoàn thiện chính sách

Ngoài ra, báo điện tử còn có khả năng liên kết, lưu trữ và cho phép tìm kiếm thông tin rất dễ dàng, thuận tiện Nhờ vào các siêu liên kết (hyperlink) dưới dạng

từ khóa, độc giả chỉ cần một click chuột để có thể dẫn đến một bài viết khác cùng chủ đề, để có thể tìm hiểu kỹ hơn vấn đề mình quan tâm Chính vì vậy, các bài báo điện tử trên mạng Internet tạo nên một kho lưu trữ thông tin khổng lồ giúp người đọc có thể tra cứu bất cứ lúc nào Việc tìm kiếm, tra cứu cũng hết sức đơn giản, nhanh chóng như tìm theo từ khóa, theo chủ đề, theo ngày tháng… Đối với bạn đọc ham hiểu biết, sẽ không mất nhiều thời gian để họ có thể theo dõi chiều sâu của thông tin

Với mỗi bài báo, người đọc có thể tùy ý đọc nhanh hay chậm, một lần hay nhiều lần, lựa chọn đọc phần nội dung mà mình muốn Trong khi đó, với báo in, phát thanh và truyền hình, việc tìm kiếm, tra cứu thông tin sẽ rất khó khăn và tốn nhiều thời gian, công sức Không chỉ vậy, các chương trình phát thanh và truyền hình cũng hạn chế nhu cầu cá nhân hóa của người tiếp nhận với các sản phẩm

Họ chủ yếu thưởng thức chương trình theo lịch phát thanh, phát sóng cố định của các Đài phát thanh, truyền hình

Nhờ những ưu thế rõ rệt kể trên, báo điện tử đã và đang đóng vai trò quan trọng trong quá trình phản biện xã hội Đó là một kênh truyền thông không thể thiếu,

Trang 28

xã hội, thúc đẩy đất nước phát triển một cách dân chủ và văn minh

1.3 Vấn đề đổi mới giáo dục hiện nay

1.3.1 Khái niệm đổi mới giáo dục

* Khái niệm đổi mới

Trong cuốn Từ điển Tiếng Việt của tác giả Nguyễn Như Ý (Nxb Văn hóa –

Thông tin, 1998), khái niệm “đổi mới”được diễn giải là “thay đổi hoặc làm cho thay đổi tốt hơn, tiến bộ hơn hiệu quả hơn so với trước”

Theo đó, khái niệm “đổi mới” gần với “cải cách”: “Cải cách là sửa đổi cho hợp

lý hơn, phù hợp hơn với tình hình mới” [40; tr.657]

GS.TS Phạm Ngọc Quang trong một bài nghiên cứu cho rằng: “Đổi mới là cái vốn có của mọi vận động và phát triển trong tự nhiên, xã hội cũng như trong tư duy Bất kỳ sinh vật nào cũng luôn luôn tự đổi mới để thích nghi với những sự thay đổi của môi trường sống Đối với xã hội, đổi mới là một phản ứng mang tính tự nhiên của xã hội để bảo đảm sự thích nghi của nó trước những biến đổi môi trường tự nhiên, môi trường quốc tế, để thích ứng với tình thế Đổi mới là quá trình vận động tự nhiên của mọi hiện tượng xã hội” [28]

Trang 29

22

Như vậy, có thể hiểu, “đổi mới” là thay đổi cách nghĩ, cách làm cũ lạc hậu, lỗi thời bằng cách nghĩ, cách làm khác, tiến bộ hơn, phù hợp với quy luật của sự phát triển Đổi mới không phải là phủ định hoàn toàn nhận thức và cách làm trước đó cùng những thành tựu đã được tạo ra, mà là khẳng định những gì đã nghĩ và làm đúng, giữ lại những giá trị tích cực của quá khứ, lấy đó làm tiền đề đểtiến lên; đồng thời loại bỏ những gì đã hiểu và làm sai, cùng hậu quả do những sai sót đó tạo ra

* Khái niệm đổi mới giáo dục

Từ khái niệm “đổi mới”, „đổi mới giáo dục” có thể hiểu là những quyết sách, hành động để nền giáo dục thay đổi theo hướng tiến bộ hơn, hiệu quả hơn, phù hợp với xu thế giáo dục chung của thế giới và đáp ứng sự phát triển của thời đại Đổi mới giáo dục đang là một xu thế toàn cầu Trong xu thế ấy đòi hỏi mọi lực lượng vật chất phải thay đổi, sáng tạo để thích nghi với sự biến đổi mạnh mẽ của khoa học công nghệ, của xã hội thông tin và sự phát triển của kinh tế tri thức Đổi mới giáo dục muốn hiệu quả và đúng hướng cần một tư duy mới, tiến hành một cách hệ thống, phát triển từ mô hình thực tế đã nghiên cứu lâu dài và có hiệu quả, có cơ sở lý luận, có tầm nhìn chiến lược; không thể là các giải pháp tình thế, tức thời và chắp vá

1.3.2 Quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước về đổi mới giáo dục

* Quan điểm của Đảng về đổi mới giáo dục

Từ khi giành được độc lập năm 1945 đến nay, nước ta đã ba lần tiến hành cải cách giáo dục vào năm 1950, 1956 và 1981 Cuộc cải cách giáo dục lần 1 chuyển hệ thống tú tài cũ của chế độ Thực dân sang hệ thống phổ thông 9 năm với phương châm “Dân tộc, khoa học, đại chúng” Cuộc cải cách giáo dục lần 2 chuyển từ hệ thống phổ thông 9 năm sang hệ thống phổ thông 10 năm và lấy nhiệm vụ xóa nạn mù chữ, góp phần đẩy mạnh sản xuất và nâng cao giác ngộ chính trị của nhân dân, phát triển mạnh mẽ quy mô, xây dựng nền giáo dục phục

Trang 30

Bên cạnh đó, cùng với công cuộc đổi mới đất nước, ngành giáo dục đã liên tục

tự đánh giá và đổi mới ở các cấp học, trên nhiều lĩnh vực Giáo dục Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận, góp phần quan trọng vào thắng lợi của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, giáo dục và đào tạo cũng bộc lộ những hạn chế, bất cập, trong đó có những vấn đề gây bức xúc dư luận kéo dài, chậm được khắc phục, chưa đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế

Những đổi mới giáo dục trong thời gian qua còn thiếu đồng bộ, chắp vá; nhiều chính sách, cơ chế, giải pháp về giáo dục đã từng có hiệu quả, nay trở nên không còn phù hợpvới giai đoạn phát triển mới của đất nước, cần được điều chỉnh vàbổ sung

Đứng trước yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả, tăng sức cạnh tranh, đòi hỏi giáo dục phải nhanh chóng đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của người dân, đào tạo được đội ngũ nhân lực trình độ cao

Hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng;

sự phát triển nhanh chóng của khoa học - công nghệ và sự cạnh tranh quyết liệt trên nhiều lĩnh vực giữa các quốc gia đòi hỏi giáo dục cần phải đổi mới Bởi thực chất, sự cạnh tranh giữa các quốc gia hiện nay là cạnh tranh về nguồn nhân lực và khoa học - công nghệ Xu thế chung của thế giới thế kỉ XXI là tiến hành đổi mới mạnh mẽ hay cải cách giáo dục Vì vậy, đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo chính là yêu cầu cấp thiết để phát triển đất nước

Trang 31

24

Trên cơ sở đánh giá toàn diện, sâu sắc thực trạng giáo dục - đào tạo nước nhà cũng như xu hướng phát triển giáo dục - đào tạo trên thế giới và nhu cầu phát triển nguồn nhân lực của đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế, Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung u o ng Đảng (khóa XI) đã ban hành Nghị quyết số 29-NQ/T ngày 4/11/2013 “Về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”

Nghị quyết nêu rõ giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được

ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội Nghị quyết được coi là kim chỉ nam cho công cuộc đổi mới giáo dục và đào tạo; thống nhất nhận thức và hành động; phát huy trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân, huy động các nguồn lực với sự phối hợp của nhiều cơ quan, ban ngành và các tổ chức xã hội cho sự nghiệp giáo dục

Tiếp tục thực hiện chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo mà Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI (NQ 29-NQ/TW) đề ra, Đại hội Đảng lần thứ XII (tháng 1/2016) đề ra phương hướng: Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, với tiến bộ khoa học, công nghệ; phấn đấu trong những năm tới, tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục – đào tạo; phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực

Như vậy, Đảng ta đã nhận thức rõ, đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện Đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục và đào tạo cũng như việc tham gia của gia

Trang 32

25

đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học Đổi mới để tạo ra chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng và hiệu quả giáo dục, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc, nhu cầu học tập của nhân dân

Đổi mới phải bảo đảm tính hệ thống, có tầm nhìn dài hạn, phù hợp với từng loại đối tượng và cấp học, các giải pháp đồng bộ, khả thi, có trọng tâm, trọng điểm,

lộ trình, bước đi phù hợp

Đổi mới căn bản và toàn diện không có nghĩa là làm lại tất cả, từ đầu mà cần vừa kế thừa, củng cố, phát huy các thành tựu, phát triển những nhân tố mới, tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của thế giới, vừa kiên quyết chấn chỉnh những nhận thức, việc làm lệch lạc; đổi mới có trọng tâm, trọng điểm, có lộ trình phù hợp với thực tế đất nước, địa phương Những hạn chế, thách thức của giáo dục phải được nhận thức sâu sắc, có giải pháp hữu hiệu và lộ trình khắc phục, vượt qua để đưa sự nghiệp giáo dục lên tầm cao mới

* Chính sách của Nhà nước về đổi mới giáo dục

Cụ thể hóa đường lối của Đảng, căn cứ vào tình hình thực tiễn, Nhà nước ta đã ban hành, triển khai nhiều chính sách về đổi mới giáo dục Trong các văn bản, chương trình hành động của Chính phủ đề cập đến rất nhiều nội dung đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân Các cơ chế, chính sách được Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành hàng năm cũng liên tục đổi mới chương trình giáo dục, phương pháp thi, đánh giá của các cấp học cũng như công tác quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ công chức, viên chức trong ngành

Nhằm thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/T ngày 4/11/2013 Hội nghị Ban Chấp hành Trung u o ng khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, Thủ tướng Chính phủ đã ký

Trang 33

và đào tạo thông qua phối hợp với các cơ quan báo chí

Về việc hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân, Chính phủ chủ trương “rà soát

và điều chỉnh hệ thống giáo dục quốc dân theo các cấp học và trình độ đào tạo”;

“rà soát việc thực hiện quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học và cơ sở giáo dục nghề nghiệp theo cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo” Hệ thống giáo dục quốc dân phải được hoàn thiện theo hướng mở, linh hoạt, liên thông giữa các cấp học và các hình thức đào tạo

Theo Chương trình hành động này, chương trình giáo dục cũng phải được triển khai đổi mới theo hướng tinh giản, thiết thực; chú trọng giáo dục truyền thống, đạo đức; nâng cao năng lực ngoại ngữ; rèn luyện kỹ năng thực hành và phát triển khả năng sáng tạo Khuyến khích cá nhân, tổ chức tham gia biên soạn sách giáo khoa Đối với giáo dục mầm non, cần triển khai chương trình hướng dẫn chăm sóc, giáo dục trẻ tại gia đình và các nhóm trẻ tư thục, độc lập

Vấn đề đổi mới hình thức, phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá có điểm nổi bật là việc tổ chức thi, công nhận tốt nghiệp trung học phổ thông và tuyển sinh Cao đẳng, Đại học tiến tới tổ chức một kỳ thi chung, lấy kết quả để xét tốt nghiệp Trung học phổ thông và làm căn cứ tuyển sinh đào tạo nghề cũng như Cao đẳng, Đại học

Bên cạnh đó, Chương trình hành động còn bao quát các nội dung đổi mới liên quan đến đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, công tác dạy nghề, vấn đề tăng cường

cơ sở vật chất và ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế

Trang 34

27

Từ Chương trình hành động của Chính phủ, ngày 25/7/2014, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đương nhiệm Phạm Vũ Luận cũng ký Quyết định số 2653/QĐ-BGDĐT ban hành Kế hoạch hành động của ngành giáo dục Kế hoạch triển khai những nhiệm vụ, giải pháp đã được định hướng trong Chương trình hành động của Chính phủ

Trong đó, nhiệm vụ tuyên truyền về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục được

cụ thể hóa thành “phối hợp với các cơ quan hữu quan mở kênh phát thanh, truyền hình về giáo dục và đào tạo ở Trung ương và các trang báo giấy và báo điện tử về giáo dục và đào tạo ở các địa phương; Thành lập Trung tâm truyền thông giáo dục thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo”

Chương trình giáo dục có rất nhiều nhiệm vụ được đặt ra, từ đổi mới chương trình giáo dục mầm non đến giáo dục phổ thông, dạy nghề nhằm giúp người học phát triển toàn diện Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng chủ trương phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương và các ngành có liên quan xây dựng và ban hành chương trình giáo dục chính trị, đạo đức công dân, giáo dục quốc phòng - an ninh, giáo dục kỹ năng sống trong các cấp học và trình độ đào tạo với nội dung thiết thực và các hình thức linh hoạt, hiệu quả, triển khai ngay từ năm học 2014-

2015

Công tác dạy nghề cũng được chú ý với các giải pháp như: “Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội thực hiện đề án triển khai phân luồng và định hướng nghề nghiệp cho học sinh phổ thông; thống nhất việc quản lý các trường trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp nghề; hoàn thiện Luật Giáo dục nghề nghiệp Trong giai đoạn 2014-2016, phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch và các địa phương hoàn thành việc sắp xếp các trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp, trung tâm dạy nghề cấp huyện; xây dựng quy chế phối hợp hoạt động của trung tâm học tập cộng đồng với trung tâm văn hóa, thể thao cấp xã”

Trang 35

28

Cùng với đó, việc chủ động hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong giáo dục và đào tạo cũng là một trong những vấn đề được nhấn mạnh Để cụ thể hóa nội dung này, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xác định: Xây dựng chính sách khuyến khích, thu hút chuyên gia nước ngoài, người Việt Nam ở nước ngoài tham gia nghiên cứu, giảng dạy tại Việt nam và cử chuyên gia, giảng viên của Việt nam ra nước ngoài giảng dạy, nghiên cứu khoa học Thúc đẩy việc hình thành và phát triển hệ thống chuyển đổi tín chỉ giữa các nước ASEAN; mở rộng các chương trình trao đổi và dịch chuyển sinh viên quốc tế; tăng cường ký kết thỏa thuận hợp tác và công nhận bằng cấp với các nước trong khu vực và trên thế giới

Ngoài Chương trình hành động của Chính phủ, Kế hoạch hành động của Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/T , Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng ban hành nhiều chính sách, quy chế cụ thể ở nhiều thời điểm khác nhau khác nhằm từng bước đổi mới, hoàn thiện nền giáo dục theo hướng tiên tiến, hiệu quả hơn Những chính sách này có thể phù hợp hay chưa phù hợp, có thể nhận được những ý kiến đồng tình hay phản đối của người dân Báo chí, với chức năng thông tin của mình, chính là kênh truyền tải những chính sách giáo dục đó và ở mức độ cao hơn, còn thực hiện một vai trò quan trọng là phản biện

xã hội

1.3.3 Các vấn đề đổi mới giáo dục tiêu biểu từ 8/2016 – 9/2017

Năm học 2016 – 2017, ngành giáo dục tiếp tục đẩy mạnh đổi mới giáo dục một cách toàn diện Qua khảo sát, trong khoảng thời gian từ tháng 8/2016 – 9/2017, chúng tôi nhận thấy có 5 vấn đề đổi mới giáo dục tiêu biểu như sau:

* Kỳ thi THPT Quốc gia

Đổi mới thi cử là bước quan trọng trong đổi mới giáo dục Vì thế, trong những năm gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo liên tục thay đổi quy chế thi tốt nghiệp

Trang 36

tủ, học lệch và giảm bớt chi phí

Năm học 2016 – 2017 là năm học thứ 2 kỳ thi “2 trong 1” này được tổ chức Kỳ thi THPT Quốc gia năm 2017 cũng có rất nhiều thay đổi so với các năm học trước đó Năm 2017, kỳ thi THPT Quốc gia được rút ngắn với thời gian thi là 2,5 ngày và là năm đầu tiên Bộ Giáo dục và Đào tạo giao cho các địa phương chủ trì tổ chức để lấy kết quả xét tốt nghiệp và xét tuyển vào các trường Đại học, Cao đẳng

Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức thi 5 bài thi gồm 3 bài thi độc lập (Toán, Ngữ văn, Ngoại ngữ) và 2 bài thi tổ hợp Khoa học Tự nhiên (tổ hợp các môn: Vật lí, Hóa học, Sinh học), Khoa học xã hội (tổ hợp các môn: Lịch sử, Địa lí, Giáo dục công dân; riêng thí sinh GDTX chỉ thi Lịch sử, Địa lí) Tất cả các môn đều thi theo hình thức trắc nghiệm khách quan, riêng môn Ngữ văn thi theo hình thức tự luận Đây là lần đầu tiên nước ta tổ chức thi theo bài và có dạng bài thi tổ hợp gồm nhiều môn học và cũng là lần đầu tiên, môn Giáo dục công dân được đưa vào Kỳ thi Bên cạnh đó, mỗi thí sinh trong cùng một phòng thi cũng có một mã

đề thi chuẩn hóa riêng

Theo Quy chế tuyển sinh năm 2017, thí sinh có thể đăng ký không giới hạn số nguyện vọng, khác với năm trước đó, số nguyện vọng đăng ký hạn chế ở 4 nguyện vọng vào 2 trường

* Tự chủ Đại học

Trước xu thế đổi mới, Đảng và Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách phát triển giáo dục Đại học theo hướng nâng cao chất lượng, trao quyền tự chủ, giảm

Trang 37

30

áp lực cho ngân sách Nhà nước Từ chỗ toàn bộ hệ thống giáo dục Đại học Việt Nam được xem như một trường Đại học lớn, chịu sự quản lý của Nhà nước về mọi mặt, các trường Đại học đã dần được trao quyền tự chủ

Ngày 24/10/2014, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định phê duyệt Đề án thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động giai đoạn 2015-2017 (tại Nghị quyết 77/NQ-CP) cho

23 cơ sở giáo dục Đại học công lập trực thuộc các bộ, ngành Trung ương, trong

đó 12 trường có thời gian tự chủ trên 2 năm, 3 trường có thời gian tự chủ từ 1-2 năm, 5 trường có thời gian tự chủ dưới 1 năm

Nghị quyết số 89/NQ-CP phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 9/2016, Chính phủ thống nhất chủ trương đẩy mạnh thực hiện tự chủ Đại học gắn với nâng cao chất lượng giáo dục Đại học

Theo đó, các trường Đại học được giao quyền tự chủ cả về chuyên môn, tổ chức nhân sự, tài chính và tăng cường trách nhiệm giải trình; quy định rõ về kiểm định chất lượng và cơ chế học bổng nhằm bảo đảm quyền tiếp cận giáo dục Đại học chất lượng cao cho con em hộ nghèo, đối tượng chính sách

Bên cạnh đó, tự chủ Đại học còn thể hiện ở việc giảm mạnh sự can thiệp hành chính của các cơ quan chủ quản đối với hoạt động của các trường Đại học, tiến tới xóa bỏ cơ chế chủ quản; đổi mới mô hình quản trị Đại học theo hướng chuyển từ chế độ thủ trưởng (hiệu trưởng) sang chế độ tập thể lãnh đạo (hội đồng trường)

* Thông tư 22 về đánh giá học sinh Tiểu học

Ngày 28/9/ 2016, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số BGDĐT (Thông tư 22) nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều của thông tư số 30/2014/TT-BGDĐT (Thông tư 30), ban hành năm 2014 về Quy định đánh giá học sinh Tiểu học

22/2016/TT-Khi Thông tư 22 có hiệu lực (từ ngày 06/11/2016), việc đánh giá học sinh Tiểu học được thực hiện theo các quy định của Thông tư 30 và những sửa đổi, bổ

Trang 38

Ví dụ, Thông tư 22 quy định, hồ sơ đánh giá học sinh gồm “Học bạ” và “Bảng tổng hợp kết quả đánh giá giáo dục của lớp” Như vậy, “Sổ theo dõi chất lượng giáo dục” trước đây được thay bằng “Bảng tổng hợp kết quả đánh giá giáo dục”; đồng thời không quy định cứng nhắc bất kì loại sổ nào sử dụng trong quá trình đánh giá học sinh

Về việc khen thưởng cuối năm học, Thông tư 22 quy định những học sinh hoàn thành xuất sắc các nội dung học tập, rèn luyện và những học sinh có thành tích vượt trội hay tiến bộ vượt bậc về ít nhất một môn học hoặc ít nhất một năng lực, phẩm chất được giáo viên giới thiệu và tập thể lớp công nhận Nhà trường cũng

có thể khen thưởng đột xuất cho học sinh có thành tích nổi bật trong các phong trào thi đua hoặc có thành tích đột xuất trong năm học Quy định này giúp cho giáo viên và nhà trường thuận lợi hơn trong vấn đề khen thưởng học sinh, mà vẫn đảm bảo yêu cầu không gây áp lực cho học sinh, phụ huynh; đồng thời hạn chế bệnh thành tích trong giáo dục

* Bỏ biên chế giáo viên

Trang 39

32

Ngày 16/5/2017, thông tin Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Phùng Xuân Nhạ đưa ra tại buổi tiếp xúc cử tri tại Bình Định, sẽ thí điểm bỏ biên chế trong ngành giáo dục được xã hội quan tâm

Theo đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ triển khai thí điểm không còn công chức, viên chức trong giáo viên mà theo chế độ hợp đồng có vào - ra, có chế độ đãi ngộ lớn Lĩnh vực đào tạo sẽ theo hướng thị trường lao động, tăng cường chất lượng

* Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể

Ngày 12/4/2017, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chính thức công bố dự thảo chương trình giáo dục phổ thông (GDPT) tổng thể để lấy ý kiến rộng rãi trong dư luận

Dự thảo Chương trình tổng thể nêu rõ các nội dung: Kế hoạch dạy học, Hệ thống môn học, Đổi mới phương pháp giáo dục, Đổi mới đánh giá kết quả giáo dục, Điều kiện thực hiện chương trình và Phát triển chương trình GDPT

Với chi phí 77 triệu USD, chương trình mới được xây dựng với các môn học như: Thế giới công nghệ, Cuộc sống quanh ta, Giáo dục kinh tế và pháp luật…

Hệ thống các môn học của chương trình được chia thành các môn học bắt buộc, môn học bắt buộc có phân hóa, môn học tự chọn và môn học tự chọn bắt buộc Học sinh của từng cấp học khác nhau sẽ có các hệ thống môn học khác nhau

1.4 Giới thiệu tổng quan về các báo điện tử hảo sát

Với đề tài nghiên cứu này, chúng tôi chọn khảo sát 4 tờ báo điện tử Đây đều là những tờ báo lớn, có vị thế và tầm ảnh hưởng rộng rãi tại Việt Nam

1.4.1 Báo Dân trí

Dân trí là một tờ báo điện tử trực thuộc Trung ương Hội Khuyến học Việt Nam

Năm 2005, trang tin điện tử Dân trí ra mắt độc giả 3 năm sau, từ một trang tin,

Dân trí được Bộ Thông tin - Truyền thông chính thức cấp phép trở thành báo

điện tử vào ngày 15/7/2008

Trang 40

33

Dân trí là một trong những tờ báo điện tử hàng đầu Việt Nam hiện nay, với

lượng truy cập website và phiên bản di động (mobile) luôn nằm trong top dẫn đầu qua các cuộc khảo sát Là một tờ báo do Hội Khuyến học Việt Nam làm chủ

quản, bên cạnh những thông tin về Kinh doanh, Giải trí, Pháp luật…, báo Dân

trí luôn cập nhật những tin tức đáng chú ý trong lĩnh vực tri thức, giáo dục – đào

tạo của nước nhà, với các mục như Tuyển sinh, Du học, Khuyến học

Với tiêu chí nội dung nhân văn – nhân bản – nhân ái, báo Dân trí không chỉ thu

hút độc giả trong nước mà còn có đông đảo bạn đọc trên khắp thế giới Phiên

bản tiếng Anh của tờ Dân trí là Dtinews, được cấp phép hoạt động từ ngày

Báo điện tử Vietnamnet tiền thân là mạng thông tin trực tuyến VASC Orient,

hình thành từ năm 1997 Vietnamnet được cấp giấy phép hoạt động với vai trò là

một tờ báo điện tử chính thức từ ngày 23/1/2003 Khi đó, báo Vietnamnet trực

thuộc Tập đoàn Bưu chính Viễn thông và là một trong những tờ báo điện tử xuất

hiện sớm nhất tại Việt Nam Từ năm 2008, báo Vietnamnet là đơn vị trực thuộc

Bộ Thông tin và Truyền thông Hiện nay, Vietnamnet được tổ chức trên cơ sở hợp nhất báo Vietnamnet và báo Bưu điện Việt Nam

Bản Tiếng Anh của báo điện tử Vietnamnet cũng được coi là tờ báo tiếng Anh trực tuyến đầu tiên tại Việt Nam, ra đời năm 2003, mang tên Vietnamnet Bridge Với nhiều chuyên mục như Chính trị, Thể thao, Giáo dục, Bất động sản… báo

Vietnamnet đã và đang đưa thông tin đa dạng về mọi lĩnh vực, đáp ứng nhu cầu

của công chúng

Ngày đăng: 07/12/2019, 07:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w