Sự đa dạng và phứctạp của thế giới nhân vật trong truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy và NguyễnNgọc Tư đã cho thấy nghệ thuật xây dựng nhân vật, mối quan tâm sâu sắc, sựnhạy cảm, tinh tế của cá
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Hà Văn Đức
Hà Nội-2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, cán bộ trong khoa Vănhọc, Bộ phận Quản lý và Đào tạo sau đại học trường Đại học Khoa học Xãhội và Nhân văn đã dạy dỗ, giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi học tập
Đặc biệt, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS HàVăn Đức, người đã động viên giúp đỡ và hướng dẫn tôi rất nhiều để tôi cóthể hoàn thành luận văn này
Lời cuối cùng tôi cũng xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp,những người thân yêu đã luôn ở bên cổ vũ và hỗ trợ tôi trong suốt quátrình học tập và nghiên cứu
Lâm Hồng Diệp
Trang 4MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
PHẦN MỞ ĐẦU 3
1 Lí do chọn đề tài 3
2 Lịch sử vấn đề 4
2.1 Lịch sử nghiên cứu truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư 5
2.2 Lịch sử nghiên cứu truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy 10
2.3 Lịch sử nghiên cứu so sánh truyện ngắn của hai tác giả Đỗ Bích Thúy và Nguyễn Ngọc Tư 13
3 Đối tượng, phạm vi, nhiệm vụ nghiên cứu 14
3.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 14
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 15
4 Phương pháp nghiên cứu 16
5 Cấu trúc của luận văn 16
PHẦN NỘI DUNG 17
CHƯƠNG 1: TRUYỆN NGẮN ĐỖ BÍCH THÚY VÀ NGUYỄN NGỌC TƯ TRONG DÒNG CHẢY CỦA TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI 17
1.1 Sự phát triển của truyện ngắn nữ trong văn học Việt Nam đương đại 17 1.2 Sự nghiệp sáng tác truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy và Nguyễn Ngọc Tư 21 1.2.1 Đỗ Bích Thúy 21
1.2.2 Nguyễn Ngọc Tư 25
Trang 51.3 Tiểu kết 27
CHƯƠNG 2: CÁC KIỂU NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA ĐỖ BÍCH THÚY VÀ NGUYỄN NGỌC TƯ 29
2.1 Khái lược về thế giới nhân vật trong tác phẩm của Đỗ Bích Thúy và Nguyễn Ngọc Tư 29
2.2 Các kiểu nhân vật tiêu biểu 30
2.2.1 Nhân vật bi kịch 30
2.2.2 Nhân vật tha hóa 37
2.2.3 Nhân vật vượt lên số phận, hoàn cảnh 39
2.3 Tiểu kết 43
CHƯƠNG 3: NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬTTRONG TRUYỆN NGẮN CỦA ĐỖ BÍCH THÚY VÀ NGUYỄN NGỌC TƯ 45
3.1 Nghệ thuật miêu tả ngoại hình 45
3.2 Nghệ thuật biểu hiện nội tâm 54
3.2.1 Đối thoại và độc thoại nội tâm 54
3.2.2 Nghệ thuật miêu tả tâm lý 62
3.2.3 Không gian, thời gian nghệ thuật 69
3.3 Tình huống truyện 73
PHẦN KẾT LUẬN 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Năm 1986 là dấu mốc quan trọng trong tiến trình phát triển của đất nước nóichung và văn học nói riêng Mang đặc tính là một thể loại nhỏ gọn và linhhoạt, truyện ngắn thích ứng rất nhanh với những yêu cầu của đời sống NhưGiáo sư Nguyễn Đăng Mạnh đã nhận định:“Yếu tố quan trọng bậc nhất củatruyện ngắn là những chi tiết cô đúc, có dung lượng lớn và lối hành văn mangnhiều ẩn ý, tạo cho tác phẩm những chiều sâu chưa nói hết Truyện ngắn làthể loại gần gũi với đời sống hằng ngày, súc tích, dễ đọc, lại thường gắn liềnvới hoạt động báo chí, do đó có tác dụng, ảnh hưởng kịp thời trong đời sống.Nhiều nhà văn lớn trên thế giới và nước ta đã đạt tới đỉnh cao của sự nghiệpsáng tạo nghệ thuật chủ yếu bằng những truyện ngắn xuất sắc của mình”[25,
tr 134] Khác với giai đoạn trước, ở giai đoạn này tính chất “một chủ đề” hay
“nhát cắt” – “bó hẹp” của truyện ngắn bị phá vỡ Các tác giả đưa vào tácphẩm của mình cái nhìn đa chiều với nhiều mảng hiện thực phức tạp, đa dạng;bản thân truyện ngắn được mở rộng về biên độ trên nhiều phương diện Vềmặt hình thức, một bộ phận co rút lại thành truyện cực ngắn, một bộ phận lại
đi theo xu hướng tiểu thuyết hóa nghĩa là tăng dung lượng, trải dài về mặt câuchữ
Một điểm thay đổi đặc biệt, đáng ngạc nhiên và đầy mới lạ của truyện ngắnđương đại Việt Nam chính là sự phát triển và trổ bông của những cây bútnữ.Các tác giả nữ đã tìm được khung trời sáng tạo riêng cho mình Chưa baogiờ, văn học Việt Nam lại có sự nở rộ của các tên tuổi nữ như ở giai đoạn này
Đỗ Bích Thúy và Nguyễn Ngọc Tư là hai trong số rất nhiều các tác giả nữ tàinăng trong dòng chảy ấy Không thể khẳng định rằng đây là những cái têntiêu biểu nhất trong đội ngũ sáng tác nữ nhưng họ thực sự là những cây bút cá
Trang 7tính, có màu sắc riêng Hai tác giả ở cùng một thế hệ và cùng có những mốiquan tâm chung trong sáng tác nhưng mỗi người lại mang tới cho độc giả mộtcách tiếp cận khác biệt Chọn Nguyễn Ngọc Tư người con của vùng đất mũi
Cà Mau – miền cực Nam của Tổ Quốc với những trang viết đậm phong vịphương Nam và Đỗ Bích Thúy người đã sinh ra và lớn lên nơi rẻo cao HàGiang – miền cực Bắc của nước ta với những dòng văn giàu chất miền núiphía Bắc để thấy được cuộc sống, hiện thực được phát hiện, trải nghiệm, nhìnnhận qua lăng kính của từng miền văn hóa
Nhà văn Tô Hoài đã từng nói: “Nhân vật là nơi duy nhất tập trung hết thảy,giải quyết hết thảy một sáng tác” Đúng vậy, ở bất cứ loại hình nghệ thuật nàonhân vật đều là linh hồn của tác phẩm, được coi là người phát ngôn của tácgiả, thông qua nhân vật người nghệ sĩ biểu đạt cách nhìn của mình về cuộcđời, thể hiện những mong muốn, khát vọng của bản thân hoặc soi chiếu tínhcách xã hội, thời đại, Truyện ngắn cũng không ngoại lệ “Truyện ngắn sốngbằng nhân vật Ở một góc độ nào đó, nhân vật sáng tạo nên cốt truyện, cốttruyện chính là sự phát triển của tính cách”[44, tr 127] Sự đa dạng và phứctạp của thế giới nhân vật trong truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy và NguyễnNgọc Tư đã cho thấy nghệ thuật xây dựng nhân vật, mối quan tâm sâu sắc, sựnhạy cảm, tinh tế của các cây bút nữ đối với con người trong vùng mỹ cảmcủa các chị
Từ những lí do trên chúng tôi lựa chọn Thế giới nhân vật trong truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy và Nguyễn Ngọc Tư làm đề tài nghiên cứu.
2 Lịch sử vấn đề
Ngay từ khi các tác phẩm của Đỗ Bích Thúy và Nguyễn Ngọc Tư xuất hiệnlần đầu tiên đã nhận được sự quan tâm của rất nhiều độc giả, đặc biệt là cáctác giả, các nhà nghiên cứu, bằng chứng là sự dày đặc của các luận văn, các
Trang 8bài viết và các công trình nghiên cứu, phê bình và lý luận,… Trong phạm viquan sát có hạn, người viết xin chia những công trình mà bản thân đã tìm hiểuđược thành các đề mục cụ thể sau:
2.1 Lịch sử nghiên cứu truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư
Nguyễn Ngọc Tư xuất hiện trên văn đàn Việt Nam và được những ngườitrong nghề chú ý ngay từ những truyện ngắn đầu tiên được đăng trên Văn
nghệ Trẻ, cụ thể là Con sáo sang sông đăng trong số 40, ra ngày 30/9/2000, Người xưa đăng trong số 20, ra ngày 19/5/2001 Khi tác phẩm Ngọn đèn không tắt ra đời, Nguyễn Ngọc Tư đã nhận được rất nhiều lời khen ngợi từ
các nhà văn, nhà nghiên cứu Nhà văn Nguyễn Quang Sáng trong Lời giới
thiệu của tập truyện Ngọn đèn không tắt đã viết: “Ngọn đèn không tắt đã tạo
nên một không khí rất tự nhiên về màu sắc, hương vị của mảnh đất cuối cùngcủa Tổ quốc – mũi Cà Mau, của những con người tứ xứ, về mũi đất của rừng,của sông nước, của biển cả mà cha ông ta đã dày công khai phá… Qua ngòibút của Nguyễn Ngọc Tư, những con người lam lũ, giản dị, bộc trực ấy chứađựng bên trong cả tâm hồn vừa nhân hậu, vừa tinh tế qua cách đối nhân xửthế” Hay trong lời giới thiệu về Nguyễn Ngọc Tư ở trang 4, Văn nghệ Trẻ số
44, ra ngày 29/10/2000, nhà văn Dạ Ngân cũng nhận định: “Phải nói rằng
Ngọn đèn không tắt rất dễ đọc Nhưng tôi không đọc một lượt Vấn vương,
xao xuyến và vì sao cứ muốn đọc tới đọc lui, vì sao? Tôi nhớ đọt dừa bụi lá
và ánh đèn ở đầm Bà Tường, nhớ rau choại luộc và màu nước diệp lục củasông Trẹm, nhớ bông súng trắng và tiếng chim bìm bịp ở Đầm Dơi, nhớ lắm
Cô gái đất mũi này, cô nhà báo Nguyễn Ngọc Tư này cho tôi tất cả những thứ
đó, tất cả những gì làm nên hai chữ Cà Mau, hay rộng hơn, U Minh Có bảnsắc Nam Bộ nhưng tôi là người miền Tây tôi hiểu trong bản sắc ấy có văn hóatiểu vùng, người Cà Mau, dân Cà Mau làm một tiểu vùng đặc biệt nên vừa có
Trang 9Võ Tòng, vừa có Dạ cổ hoài lang” Giá trị của Ngọn đèn không tắt lại càng
được khẳng định rõ hơn vào năm 2001 khi đạt giải Nhất cuộc thi Vận độngsáng tác văn học tuổi 20, giải B của Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội Vănhọc Nghệ thuật Việt Nam
Sau Ngọn đèn không tắt, các tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư liên tục
được đăng trên các báo tạp chí, và được xuất bản thành sách với số lượng đầusách ngày càng tăng Nhiều tác giả, nhà báo, nhà nghiên cứu, phê bình, dànhnhững trang viết nói về chị Trần Hữu Dũng phát biểu: “Cái mới trong vănNguyễn Ngọc Tư chính là cái cũ, cái lạ ở cô là tài khui mở những sinh hoạtthân thuộc trước mắt Nguyễn Ngọc Tư không “vén màn” cho người đọc thấycái chưa từng thấy, cô không dẫn dắt ta khám phá những ngõ ngách của nộitâm mà ta chưa từng biết (một điều cũng rất cần, nhưng để những nhà vănkhác) Cô chỉ đưa ra một tấm gương rất trong, thật sáng, để chúng ta nhìn thấynhững sinh hoạt, tình tự rất thường Và qua đó, lạ thay, như một tiếng đàncộng hưởng, ta khám phá cái phong phú của chính đời ta.”[9, tr 1] Nhà vănNguyên Ngọc nhận xét: “Cô ấy như một cái cây tự nhiên mọc lên giữa rừngtràm hay rừng nước Nam Bộ vậy, tươi tắn lạ thường, đem đến cho văn họcmột luồng gió mát rợi, tinh tế mà chân chất, chân chất mà tinh tế, đặc biệt
“Nam Bộ” một cách như không, chẳng cần chút cố gắng nào cả như các tácgiả Nam Bộ đi trước” [32, tr 1] Nhà văn Dạ Ngân cũng không tiếc lời cangợi: “Cái cách tu từ của Tư là tuyệt vời Tôi thấy phương ngữ mà Ngọc Tưđưa vào truyện bao giờ cũng có sự cân nhắc cho sự đóng góp vào vốn liếngchung của ngôn ngữ quốc gia Những người bẩm sinh có tài năng lớn thì họmới làm được cái đó chứ! Nó tự nhiên như không thôi! Thả cái chữ ra thìđúng là cái chữ đó thôi không phải cái chữ nào khác.”[3, tr 3] Nhà văn ChuLai thì đánh giá: “Nguyễn Ngọc Tư là một cây viết đặc biệt của miền TâyNam Bộ, một tài năng văn học hiếm có hiện nay của Việt Nam” [20, tr 1]
Trang 10Khi nói tới thị hiếu thẩm mỹ của Nguyễn Ngọc Tư, Trần Phỏng Diều nhậnđịnh: “Nguyễn Ngọc Tư là nhà văn của vùng đất Nam Bộ, tuổi thơ của chị đãgắn liền với những dòng sông uốn khúc, rừng đước bạt ngàn, đồng lúa mênhmông Do đó có thể nói, thị hiếu thẩm mỹ trong Nguyễn Ngọc Tư cũngchính là hình tượng người nghệ sĩ, hình tượng người nông dân và hình tượngcon sông đưa mình uốn khúc, chở nặng tình người”[8, tr 94] Nguyễn Thanh
trong Nguyễn Ngọc Tư, nữ nhà văn xóm Rẫy cũng đã khẳng định: “Trong hầu
hết các truyện, Nguyễn Ngọc Tư dường như đã làm một thông điệp, nói hộthay cho người dân đói nghèo, cơ cực nơi vùng đất Mũi, những ước mơ thầmkín, những nỗi lòng đau thắt của kẻ yêu thương lỡ dỡ và ngang trái của nhữngmối tình chân không thành bắt nguồn từ cảnh hàn vi nghiệt ngã Và người đọckhông khó nhận ra nhân vật lãng đãng, cốt truyện tản mạn không hề mangdấu ấn rập khuôn theo nguyên mẫu nào Tác giả viết dễ dàng như thể đang đibắt sâu ở liếp rẫy ngoài đồng, luống rau trong vườn hoặc chuyện đuổi gà vịtnơi sân nhà.”[39]
Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư đã tạo nên sức ảnh hưởng, làm dậy sóng nền
văn học nước nhà với “sự cố cánh đồng” năm 2006 Cánh đồng bất tận được
đăng lần đầu trên báo Văn nghệ số 33 ra ngày13/8/2005 và được Nhà xuấtbản Trẻ xuất bản và phát hành (cùng các truyện ngắn khác) trong tập truyệncùng tên vào tháng 11/2005 nhưng tới năm 2006, tác phẩm mới thực sự tạo
thành cú nổ “Công văn do phó Ban TVH (tôi viết tắt) ký, đề cập truyện Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư do Nhà xuất bản Trẻ phát hành tháng
11/2005 đã bị “số đông không đồng tình, phản ứng gay gắt… không có tính tưtưởng giáo dục, bôi đen xã hội nông thôn… đề nghị Hội Văn học - Nghệ thuậtkiểm điểm phê phán tác giả một cách nghiêm khắc ”.”[29] Xoay quanh
Cánh đồng bất tận có nhiều ý kiến trái chiều, có khen có chê, có lên án, có
ngợi ca Rất nhiều tác giả công nhận cái tài của Nguyễn Ngọc Tư và bênh vực
Trang 11ủng hộ Cánh đồng bất tận của chị Nhà thơ Nguyễn Hữu Quý thì khẳng định:
“Nếu được chọn người có tác phẩm văn học xuất sắc nhất Việt Nam năm
2005, tôi sẽ chọn nữ nhà văn trẻ Nguyễn Ngọc Tư với “Cánh đồng bất
tận”[37, tr 1] Nhà nghiên cứu Phan Quý Bích đã viết: “Cánh đồng bất tận
dựng lại một thế giới có khả năng chao đảo giữa văn minh và dã man, giữahạnh phúc và khổ đau, đúng hơn một thế giới có thể đổi màu về phía hai cựccủa nó, mà con người vừa là tác giả tạo ra nó, vừa là nạn nhân Nhân vậtchính của thế giới chao đảo ấy là người cha, người kể chuyện xưng tôi”[5, tr.6] “Những chi tiết vay mượn nguyên xi từ đời sống như địa danh, như dịch
cúm gà là những cái “neo” để định vị câu chuyện thành chuyện ở đây, lúc
này Mà có lẽ chuyện cũng không chỉ có thể xảy ra ở Cà Mau lúc này, mà cóthể xảy ra ở bất kỳ đâu, bất kỳ lúc nào trên đất nước ta, trên thế giới, một khiđói nghèo, dốt nát và thù hận cứ tạo thành một dòng chảy bất tận, một khinhân vật chỉ có thể là Điền (đất), Nương (cô gái), hoặc không có tên (chị gáiđiếm) hoặc có tên thì lại là Hận, là Thù hệt như tự nhiên hoang dã”[5, tr
11] Phạm Xuân Nguyên cho rằng: “Cánh đồng bất tận là một truyện hay, nó
chứng tỏ bút lực của Nguyễn Ngọc Tư trong việc đào sâu vào thể hiện cuộcsống, khơi sâu vào thân phận con người Viết được một truyện như thế chứng
tỏ Tư có tài năng văn chương và có lòng thương người Đúng vậy, thươngngười bằng những nỗi đau của con người, bằng cái cách nhìn thẳng vàonhững vùng sáng tối chồng chéo trên những khuôn mặt người và trong nhữngcõi lòng người” [34, tr 1] Nguyễn Ngọc Tư đã khai thác sâu, cảm sâu vàotừng số phận, nhìn con người bằng đôi mắt nhân ái và cảm thông với nhữngcuộc đời bằng trái tim quá đỗi nhân văn, bởi thế mà tác phẩm của chị khiến
“Người đọc đã được bất ngờ trước những phận người, kiếp người hôm nay,tại đây như trong truyện kể( ), Nguyễn Ngọc Tư đã bắt đầu chạm được vào
Trang 12những vỉa tầng cuộc sống của vùng đất cô sống và viết văn Dữ dội và nhântình, văn Tư bắt đầu là như thế” [33, tr 1].
Tuy nhiên bên cạnh đó cũng có không ít ý kiến chê Cánh đồng bất tận và
trách Nguyễn Ngọc Tư bởi tác phẩm của chị Tiêu biểu là ông Vưu Nghị Lực– người giữ chức Phó giám đốc Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Cà Mau lúc bấygiờ: “Cây bút nữ xứ Cà Mau ơi, cô phải biết những cánh đồng này chứ: Cánhđồng hoang, Máu thắm đồng Nọc Nạn, Đồng Chó ngáp Những chuyện mà
cô kể không còn là chuyện của cánh đồng nữa; tôi nghĩ đó là “vũng lầy bấttận” thì đúng hơn Mọi thứ do nhân xưng “tôi” cố ý xuyên tạc bằng trí tưởngtượng nhồi nhét, bằng thao tác lượm lặt và một mặc cảm về tính giao bệnhhoạn Cánh đồng của Nguyễn Ngọc Tư tất cả đều dâm ô hết Hình ảnh nôngdân Chí Phèo - Thị Nở trở nên lưu manh hóa bởi giai đoạn xã hội thối nát.Còn những hình ảnh nông dân của Ngọc Tư trở nên dâm ô hóa, ngay hôm naybởi cái gì, vì ai mà con người chỉ còn quan hệ tính loài? Cô chửi vào họ mộtcách không thương tiếc: thất học, hung hãn; nghèo đói, dốt nát tăm tối; nhữngđứa tên Hận, tên Thù nhàu úa, cộc cằn, chửi thề là tươi rói Cánh đồng Việt
Nam sau 30 năm giải phóng phận người mà như thế? Ở Cánh đồng bất tận
không có vấn đề tính giao của người! Tác giả chỉ bêu rếu trên năm sự vụ ănnằm, năm sự vụ mà thật tình nếu có thì ở cái xứ quê cô người dân chỉ dám rỉtai nhau, chứ nào dám đăng (văn) đàn ong ỏng đánh “ùm” vậy.”[24]
Nhưng dù thế nào thì tới thời điểm này Cánh đồng bất tận cũng như Nguyễn
Ngọc Tư đã nhận được sự công nhận của giới văn chương và độc giả, đúng
như nhà văn Dạ Ngân trong bài Cánh đồng bất tận – Chuyện bây giờ mới kể
đã viết: “Chính công văn của Ban Tuyên giáo tỉnh ủy Cà Mau đã làm
cho Cánh đồng bất tận bật lên như một tai nạn chưa từng có trong văn giới đầu thế kỷ Trong rủi có may là vậy Cánh đồng bất tận là một truyện vừa mỹ
Trang 13mãn xét về dung lượng, về phát hiện nhân sinh bên trong sự phức tạp của conngười và lấp lánh văn phong mới rợi Báo Tuổi trẻ khi ấy còn nhiều những
nhà báo giỏi giang kỳ cựu lập tức phơi-dơ-tông Cánh đồng bất tận trên báo
ngày, một việc làm chưa từng có trong làng báo Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Một bệ phóng, nhưng trước hết Cánh đồng bất tận đã mang trong mình nó
một ngòi nổ, một sức công phá, một dấu son Một cống hiến đích thực.”[29]Những năm gần đây có rất nhiều luận văn thạc sĩ, tiến sĩ nghiên cứu vềNguyễn Ngọc Tư, chúng ta có thể kể đến các công trình như: Nghệ thuật tự sựtrong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, Luận văn Thạc sĩ của Bùi Thị Nga(2008, Đại học Sư phạm Hà Nội), Bùi Phương Anh (2009) nghiên cứu vềQuan niệm nhân sinh của người phụ nữ qua các sáng tác văn xuôi thời kỳ đổimới qua sáng tác của Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Hảo, Nguyễn Ngọc Tư,Luận văn Thạc sĩ, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, NguyễnThị Bích (2009) tìm hiểu về Thế giới nhân vật trong truyện ngắn NguyễnNgọc Tư, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Sư phạm Hà Nội Năm 2010 Đại họcKhoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội có Luận văn thạc sĩ của Lê Thị Tuyết
về Nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư và ĐỗHoàng Diệu, và Vũ Thị Hải Yến (2012) với Luận văn Thạc sĩ Nghệ thuật trầnthuật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (Đại học Khoa học Xã hội và Nhânvăn Hà Nội), và còn rất nhiều các công trình nghiên cứu khác
2.2 Lịch sử nghiên cứu truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy
Năm 1999, sau khi Đỗ Bích Thúy đạt giải Nhất cuộc thi truyện ngắn của
Tạp chí Văn nghệ Quân đội (1999) với chùm 3 tác phẩm: Sau những mùa trăng, Đêm cá nổi, Ngải đắng ở trên núi , nhà văn Khuất Quang Thụy đánh
giá: “Chùm truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy được trao giải nhất bởi đó lànhững truyện ngắn thuyết phục nhất viết về những gì đang diễn ra trong tâm
Trang 14hồn con người Việt Nam hiện nay Sự biến động của thời đại mới đã tác độnglên mọi số phận của con người Việt Nam, kể cả những người sống nơi thâmsơn cùng cốc Cuộc sống đã đòi hỏi mọi người phải suy nghĩ, trăn trở để làmsao vừa hòa nhập được với thời đại, với đất nước vừa không đánh mất đinhững giá trị riêng của mỗi con người, mỗi cộng đồng dân tộc Đó chính làthử thách lớn nhất của thời mở cửa”[53]
Đỗ Bích Thúy tiếp tục khẳng định được tài năng và bản sắc của mìnhqua những tác phẩm viết về miền núi Như nhà văn Trung Trung Đỉnh nhậnxét: “Tôi có cảm giác Đỗ Bích Thúy còn quá nhiều điều để viết về miền rẻocao xa xôi nhưng gần gũi, tuyệt vời đẹp ấy của đất nước ta Tôi cũng là người
mê viết truyện ngắn và mê cao nguyên đá kỳ vĩ Hà Giang, nhưng đọc truyệnngắn của Đỗ Bích Thúy, tôi thực sự ngả mũ chào thua! Dẫu đây mới chỉ là
mở đầu Một mở đầu mơ ước của mọi nhà văn [ ] Đỗ Bích Thúy có khả năngviết truyện về cảnh sinh hoạt truyền thống của người miền cao một cách tàitình Không truyện nào không kể về cách sống, lối sinh hoạt, nết ăn ở và cảcảnh quan sinh hoạt lễ hội, phong tục tập quán Truyện nào cũng hay, cũngmới, cũng lạ mặc dù tác giả không hề cố ý đưa vào chi tiết lạ Thế mà đọc đếnđâu ta cũng sững sờ và bị chinh phục bởi những chi tiết rất đặc sắc chỉ ngườimiền cao mới có.”[12, tr 8] Cũng nhận thấy ảnh hưởng của miền đất Tây Bắcđối với ngòi bút Đỗ Bích Thúy, Điệp Anh viết: “Thế mạnh của Đỗ Bích Thúy
là đời sống Tây Bắc với những không gian vừa quen vừa lạ, với những phongtục tập quán đặc thù, khiến người đọc luôn thấy tò mò và bị cuốn hút Trongtruyện ngắn Đỗ Bích Thúy, không gian Tây Bắc hiện lên đậm nét, để lại dư vịkhó quên trong lòng độc giả, dù người đọc vẫn chưa hết quyến luyến vớinhững áng văn thơ dặt dìu tiếng sáo, tiếng khèn la đà với rượu nồng bếp lửacủa rừng núi Tây Bắc trong sáng tác của các bậc tiền bối như Tô Hoài, Chế
Lan Viên, Tố Hữu ”[2] Nhà văn Chu Lai trong Cái duyên và sức gợi của
Trang 15hai giọng văn trẻ thì nhận xét: “Đọc Thúy, người ta có cảm giác như được ăn
một món ăn lạ, được sống trong một mảnh đất lạ mà ở đó tràn ngập những cáirất riêng đậm chất dân gian của hương vị núi rừng, của con suối chảy ra từkhe đá lạnh, của mây trời sánh đặc như “một bầy trăn trắng đang quấn quyệnvào nhau”, của mùi ngải đắng, mần tang, của những nét ăn nét ở, phong tụctập quán còn giữ nguyên vẻ hoang sơ, thuần phác của ánh trăng “giữa mùa cứrọi vào nhà cả đêm, trăng đi một vòng cửa trước ra cửa sau”, của những tráitim con gái vật vã, cháy bùng theo tiếng khèn gọi tình thung xa, của bếp lửanhà sàn và tiếng mõ trâu gõ vào khuya khoắt, của những kiếp sống nhọc nhằn
và con bìm bịp say thuốc, say rượu ngủ khì bên chân chủ ”[21, tr 102]
Ngày 26/3/2011 Nhà xuất bản Phụ nữ đã phối hợp cùng Đoàn trường Đại họcQuốc gia Hà Nội tổ chức buổi giao lưu giữa hai nhà văn Đỗ Bích Thúy,Hoàng Anh Tú với các bạn sinh viên, Hoàng Chiến vừa ghi lại buổi giao lưuvừa bày tỏ những cảm nhận của bản thân về nhà văn Đỗ Bích Thúy: “Đauđáu với những phận người, đặc biệt là người phụ nữ vùng cao, bằng vốn vănhóa vùng miền cũng như điểm nhìn mang tính phát hiện, tinh tế và thuầnphác, các tác phẩm của nhà văn Đỗ Bích Thúy đã chuyên chở đến bạn đọcđầy đủ và sắc nét về đất và người vùng núi Sắc dân thiểu số, thân phận vàtính nhân văn trong mỗi sáng tác của chị đã làm nên một Đỗ Bích Thúy vớinhững câu chuyện rẻo cao, gợi và sâu lắng”[7, tr 63] Nhắc tới không giantrong sáng tác của Đỗ Bích Thúy tác giả Lê Thành Nghị đã nhận định:
“Không gian trong truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy đầy hoa, lá rừng, có tiếng
gà gáy tách te trong bụi rậm, có những dòng suối trong với những viên đácuội đỏ, có những chàng trai thổi sáo theo sau các cô gái quẩy tấu xuống chợ,những nồi thắng cố nghi ngút khói trong những phiên chợ vùng cao đầy màusắc, những đêm trăng lóng lánh huyền ảo, những cụm mần tang mọc trong
Trang 16thung lũng, lễ hội Gầu tào với điệu hát gầu Plềnh mê đắm của những cô gái,những chàng trai người Mông trên đỉnh núi…”[30].
Và chúng ta có thể thấy không cần cầu kỳ, hoa mỹ, không cần quá phức tạphay khó hiểu, chính sự chân thực gần gũi trong cách viết của Đỗ Bích Thúy
đã giúp cho tác phẩm của chị tới gần hơn với đông đảo bạn đọc, để lại những
ấn tượng sâu sắc và lâu bền Đúng như nhà thơ Trần Đăng Khoa đã từng viết
trong Lời giới thiệu tập truyện ngắn Đàn bà đẹp của Đỗ Bích Thúy: “Truyện
chị viết rất giản dị, nhiều truyện không có cốt hoặc có cốt thì cái cốt truyệncũng rất lỏng lẻo, mờ nhạt Bởi thế nên truyện của Đỗ Bích Thúy thườngkhông tóm tắt được, vì chẳng có gì để tóm tắt Vậy mà chị vẫn dựng được mộttác phẩm hoàn chỉnh, hấp dẫn trong trẻo và nhói buốt ” [42, tr 8])
Cũng như Nguyễn Ngọc Tư, các tác phẩm của Đỗ Bích Thúy cũng nhận được
sự quan tâm của rất nhiều người, chúng ta có thể kể đến các công trình nghiên
cứu của các tác giả như: Nguyễn Thị Thu Thủy (2012), Truyện ngắn Đỗ Bích Thúy nhìn từ góc độ thể loại, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội; Nguyễn Thị Hải Hà (2013), Truyện ngắn Đỗ Bích Thúy nhìn từ góc độ văn hóa, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội; Nguyễn Xuân Thủy (2013), Đặc điểm truyện ngắn Đỗ Bích Thúy, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội; Kiều Thị Định (2014), Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy, Luận
văn Thạc sĩ, Đại học Sư phạm Hà Nội;… cùng nhiều luận văn khác
2.3 Lịch sử nghiên cứu so sánh truyện ngắn của hai tác giả Đỗ Bích Thúy
và Nguyễn Ngọc Tư
Trong phạm vi quan sát của chúng tôi, các công trình nghiên cứu và các bàiviết mới chỉ dừng lại ở việc khảo sát riêng từng tác giả hoặc nghiên cứuchung về đặc điểm nghệ thuật trong truyện ngắn của họ hay đặt tác phẩm của
Trang 17họ trong bình diện văn hóa, có thể kể tới công trình của Phạm Thùy Dương
(2009), Tìm hiểu thi pháp truyện ngắn Đỗ Bích Thúy và Nguyễn Ngọc Tư,
Luận văn Thạc sĩ, Đại học Sư phạm Hà Nội, hay Nguyễn Thanh Hồng (2009),
Tìm hiểu một số cách tân nghệ thuật trong truyện ngắn của một số cây bút nữ thời kỳ 1986 - 2006 (Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy),
Luận văn Thạc sĩ, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, Nhữngbài viết của các tác giả vẫn chưa đi sâu vào nghiên cứu kĩ lưỡng và đối chiếu -
so sánh thế giới nhân vật trong truyện ngắn của hai cây bút Đỗ Bích Thúy vàNguyễn Ngọc Tư Vì thế từ cơ sở của những ý kiến, đánh giá và nhận định đã
có chúng tôi muốn đi sâu phân tích và bổ sung đầy đủ hơn một số góc nhìn
3 Đối tượng, phạm vi, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Trang 18một số truyện trùng nhau Mặc dù thế, số lượng các tác phẩm (truyện ngắn)của cả hai tác giả đều khá lớn Trong phạm vi của một luận văn, chúng tôikhông thể khảo sát và nghiên cứu chi tiết ở tất cả các tác phẩm Do những lý
do đó chúng tôi xin nghiên cứu về Thế giới nhân vật trong truyện ngắn của
Đỗ Bích Thúy và Nguyễn Ngọc Tư ở các tập truyện ngắn sau:
- Đỗ Bích Thúy, Tiếng đàn môi sau bờ rào đá, NXB Công an nhân dân, 2005
- Đỗ Bích Thúy, Những buổi chiều ngang qua cuộc đời, NXB Thanh niên,
2002
- Đỗ Bích Thúy, Mèo đen, NXB Thời đại, 2011
- Đỗ Bích Thúy, Chuỗi hạt cườm màu xám, NXB Kim Đồng, 2014
- Nguyễn Ngọc Tư, Ngọn đèn không tắt, NXB Trẻ, 2000
- Nguyễn Ngọc Tư, Cánh đồng bất tận, NXB Trẻ, 2005
- Nguyễn Ngọc Tư, Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, NXB Văn hóa Sài Gòn,
2005
- Nguyễn Ngọc Tư, Gió lẻ và 9 câu chuyện khác, NXB Trẻ, 2008
- Nguyễn Ngọc Tư, Khói trời lộng lẫy, NXB Thời đại, 2010
- Nguyễn Ngọc Tư, Đảo, NXB Trẻ, 2014
Ngoài ra chúng tôi cũng sử dụng tham khảo một số tập truyện khác
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn xác định các nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản như sau: Khảo sát,nghiên cứu, tổng kết và đưa ra nhận định về quan niệm nghệ thuật về con
Trang 19người, sự đa dạng của thế giới nhân vật: (các kiểu nhân vật, nghệ thuật xâydựng nhân vật) trong truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy và Nguyễn Ngọc Tư.
4 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu được vấn đề Thế giới nhân vật trong truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy và Nguyễn Ngọc Tư, luận văn phối hợp vận dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp loại hình
- Phương pháp so sánh - đối chiếu
Ngoài ra luận văn cũng sử dụng các thao tác bổ trợ sau:
- Thao tác phân tích - tổng hợp
- Thao tác khảo sát - thống kê
- Thao tác hệ thống
5 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và phần thư mục tham khảo, nội dung
chính của luận văn gồm ba chương như sau:
Chương 1: Truyện ngắn Đỗ Bích Thúy và Nguyễn Ngọc Tư trong dòng chảycủa truyện ngắn Việt Nam đương đại
Chương 2: Các kiểu nhân vật trong truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy và NguyễnNgọc Tư
Chương 3: Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn của Đỗ BíchThúy và Nguyễn Ngọc Tư
Trang 20PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: TRUYỆN NGẮN ĐỖ BÍCH THÚY VÀ NGUYỄN NGỌC TƯ TRONG DÒNG CHẢY CỦA TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM
ĐƯƠNG ĐẠI 1.1 Sự phát triển của truyện ngắn nữ trong văn học Việt Nam đương
đại
Sau công cuộc đổi mới xã hội và văn chương 1986, truyện ngắn songhành cùng tiểu thuyết trở thành hai thể loại chủ lực đem lại những thành tựurực rỡ cho nền văn học Việt Nam đương đại Các cuộc thi truyện ngắn “nổ ra”
đã thu hút được nhiều thế hệ nhà văn Nhiều cây bút trẻ và các tên tuổi mớixuất hiện: Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Quang Thiều, Tạ Duy Anh, Y Ban,Sương Nguyệt Minh, Bảo Ninh, Hồ Anh Thái, Không tự giam hãm hay épmình trong bất kì một khuôn khổ chật hẹp hay định sẵn nào, truyện ngắnphóng mình, mở rộng về biên độ phản ánh, hình thức thể loại, khuynh hướngnghệ thuật “muôn hồng nghìn tía”: kỳ ảo, hiện thực, lãng mạn, trữ tình, dòng
ý thức, triết lý, ; có kiểu truyện ngắn mini (rất ngắn), có kiểu truyện ngắn
“mang mầm mống của tiểu thuyết”, Khi tìm hiểu về văn học Việt Namđương đại các nhà nghiên cứu bắt đầu nói tới một “nền văn chương manggương mặt nữ” bởi sự đóng góp mạnh mẽ và đông đảo của đội ngũ các câybút nữ với nhiều màu sắc, phong cách và cá tính khác nhau: Lê Minh Khuê, YBan, Phan Thị Vàng Anh, Phong Điệp, Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ,Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy, Lực lượng sáng tác truyện ngắn nữ đươngđại không chỉ gây ấn tượng về số lượng mà còn khẳng định được chất lượng -tài năng, tạo được chỗ đứng rất riêng cho mình với những sản phẩm tinh thần
có giá trị cao và đặc sắc Minh chứng là hàng loạt những giải thưởng của các
Trang 21tác giả nữ ở các cuộc thi hàng năm trên các báo, tạp chí uy tín cũng như củacác hội nghề nghiệp Đặc biệt là những cơn “địa chấn” làm khuấy đảo đờisống văn học Việt Nam đương đại của các hiện tượng văn học khi tạo ranhững hiệu ứng tiếp nhận đa chiều và nhiều tranh cãi như hai tập truyện ngắn
Mê Lộ (1989) và Man Nương (1995) của Phạm Thị Hoài, tác phẩm Bóng đè (2005) của Đỗ Hoàng Diệu, truyện ngắn Cánh đồng bất tận (2005) của Nguyễn Ngọc Tư, và tập truyện I am đàn bà (2006) của Y Ban.
Kế thừa và phát huy thành công của văn học Việt Nam giai đoạn trước,các tác giả nữ có một vùng sáng tác phong phú và đa dạng với nhiều chủ đề
đề tài khác nhau Tuy nhiên có thể dễ dàng nhận thấy một số mảng đề tàiđược các nhà văn nữ đặc biệt quan tâm đó là: quê hương đất nước, chiến tranh– hậu chiến, hôn nhân – gia đình, lập nghiệp và những trăn trở, kiếm tìm đểgiải mã ý nghĩa cuộc sống.Boris Vasilyev từng nói: “Những cuộc chiến tranh
có bắt đầu nhưng chẳng có kết thúc Nó dai dẳng trên nước mắt những người
vợ góa, người mẹ, nỗi buồn của trẻ mồ côi, tiếng rên rỉ của người lính bịthương Những vết thương trên mặt đất biến dần, bãi chiến trường xưa thaybằng những luống cày mới, nhưng rất lâu, rất lâu trong mẩu bánh vẫn lưu lạimùi vị chua của bụi đất, thương đau” Trong nền văn học Việt Nam đươngđại, chiến tranh trở thành một “mảnh đất sáng tác” được các tác giả nữ “gieotrồng” đa dạng đầy thấm thía Không có nhiều trải nghiệm chân thực về cuộcchiến nhưng được sống trong không gian của những tái nhận thức về chiếntranh, họ viết bằng sự đồng cảm, xót xa cho nỗi đau dai dẳng và âm ỉ của cảthời chiến và thời hậu chiến Đó là nỗi đau của tình yêu đầu nồng nàn vớingười liệt sĩ trong quá khứ và sự đau khổ bởi cuộc sống hôn nhân vô vọng và
buồn tẻ với người chồng ở hiện tại như nhân vật Ngân trong Những bông bần
ly của Dương Thu Hương Đó là sự vô vọng của hai mươi năm thanh xuân
chờ đợi và hy vọng khi những người lính cứ xuất hiện trong cuộc đời họ rồi
Trang 22lại ra đi vĩnh viễn bởi sự tàn khốc của chiến tranh như nhân vật Hai Mật
trong Trên mái nhà người phụ nữ (Dạ Ngân), là sự kiếm tìm người lính mình
thương mến nhưng chưa kịp ngỏ lời trong hy vọng mong manh của nhân vật
Tuân ở Những giấc mơ có thực (Vũ Thị Hồng) Không khó để bắt gặp hình
ảnh những người bà, người mẹ, người vợ, trong truyện ngắn thời kỳ này vớinhững nỗi đau không thể khỏa lấp khi mất đi những người cháu, những ngườicon, người chồng Không chỉ tái hiện nỗi xót xa tột độ khi mất đi “miếng thịttrên đầu quả tim”, mất đi một phần máu thịt mà họ còn phải chịu đựng nỗi
khắc khoải, đau đáu kiếm tìm hài cốt thân nhân Trong Nắng chiều, Thụy Anh
phác họa nhân vật người bà đã 80 tuổi, đã kiệt sức sau nhiều năm dài thăm dòtin tức cậu Bình, nhưng vẫn vực dậy, phấn chấn như hồi sinh khi tìm đượcngười tổ chức đoàn vào Quảng Ngãi tìm mộ con, rồi khi biết ngôi mộ đượcchuyển ra Huế thì tiếp tục lần theo Bà gặp một bà mẹ liệt sĩ khác, được đềnghị coi là con chung, không làm động đến mồ mả nữa Rồi chúng ta đau chonỗi đau của nhân vật, xót xa cho hoàn cảnh cũng nhân vật khi đọc những
trang truyện Trận gió màu xanh rêu của Võ Thị Hảo Ở đó có người góa phụ
trở nên điên dại, không thể đối mặt với sự thật, không tin rằng chồng mình đãchết sau lần định di chuyển mộ mà trong đó là xương đầu nai Chiến tranh điqua, tưởng rằng những mất mát, buồn đau, sự chết chóc, bệnh tật, cũng theo
đó mà đi qua Nhưng không! Di chứng của nó mới thực sự khốc liệt Cónhững người đã đi qua khỏi chiến tranh, tránh thoát khỏi lưỡi hái của tử thần,
họ hy sinh cả tuổi xuân, cả nhan sắc, đổi lại bình yên cho đất nước nhưngkhông đổi lại được bình yên cho chính mình Trên con đường tìm kiếm hạnhphúc, họ chơi vơi và vô định Tưởng rằng hạnh phúc đã tới tay nhưng họ
không thể chạm vào, không dám chạm vào Đó là Thảo trong Người sót lại của Rừng Cười của Võ Thị Hảo Cô là cô gái duy nhất trong năm cô gái còn
sống, cô gái duy nhất không mắc “bệnh cười”, cũng là cô gái duy nhất có
Trang 23chàng bạch mã hoàng tử cho riêng mình nhưng cô đã không còn xinh đẹp trànđầy sức sống như trước khi bước vào cuộc chiến nữa Cái cô đã đánh mấtchính là cả tuổi xuân của mình Còn yêu mà cô gái ấy vẫn phải chấp nhận ra
đi vì lòng tự trọng không cho phép cô chấp nhận thứ tình yêu khiên cưỡngnhư một sự thương hại và chịu trách nhiệm, vì “cô không còn thấy lại ánh mắtlong lanh vụt sáng mỗi lần Thành gặp cô như ngày xưa” nữa, “Em là ngườisót lại của Rừng Cười nhưng hạnh phúc chẳng còn sót lại nơi em” Còn rấtnhiều, rất nhiều những số phận đáng thương khác, rất nhiều những nỗi đauchiến tranh khác đã được các tác giả nữ tái hiện bằng tất cả sự trân trọng vàcảm thông trong những trang viết của mình
Bên cạnh chiến tranh – hậu chiến, có nhiều truyện viết về hôn nhân, gia đình
đó là truyện của các tác giả Nguyễn Thị Thu Huệ, Y Ban, Trần Thùy Mai,…Tuy có những lối kể chuyện khác nhau, xây dựng nhân vật khác nhau vớinhững hoàn cảnh khác nhau nhưng nhìn chung các tác giả đều cho ta thấy sựthương cảm của họ trước sự trớ trêu của hoàn cảnh và xã hội đã tước đi hạnhphúc của nhiều người phụ nữ, làm xáo trộn đời sống hôn nhân và gia đình của
họ Đó là bi kịch của sự rạn nứt, đổ vỡ, của sự thiếu khuyết trong đời sống
tinh thần Chúng ta có thể thấy rõ điều này trong Trăng nơi đáy giếng của
Trần Thùy Mai Ông Phương - hiệu trưởng một trường Trung học phổ thông
có một gia đình yên ấm với cô giáo Hạnh Cô Hạnh chăm sóc chồng một cáchchu toàn và tỉ mỉ theo lối sống cổ điển của người phụ nữ Huế Cuộc sống củahai người cũng khá êm đềm nhưng cô Hạnh lại bị vô sinh nên cả hai đã bí mậtbàn bạc cho ông Phương có người phụ nữ khác Người phụ nữ ấy – cô Thắmsinh cho ông Phương cu Nhứt Rồi chuyện vỡ lở, nhà trường họp bàn kỷ luậtông Phương vì tội hủ hóa Vợ chồng hai người đã đối phó bằng cách trình đơn
li dị và ông Phương kết hôn với Thắm Cô Hạnh ở lại ngôi nhà cũ, cô cũngthôi dạy học rồi buồn sinh ốm nên cô đi cầu đồng và được khuyên kết hôn với
Trang 24người âm Khi tới thăm cô Hạnh, ông Phương đã khuyên cô đi dạy trở lại, vàkết thúc việc “mê tín dị đoan” nhưng cô hắt nước vào ông Phương Ông bỏ đi,
cô đóng cánh cửa như quyết chí sống cùng người âm Câu chuyện của giađình ông Phương và cô Hạnh chỉ là một lát cắt rất nhỏ trong những “khốihoàn cảnh” éo le khác của xã hội được các tác giả mang vào trong các tácphẩm của mình
Và để làm phong phú thêm cho văn học Việt Nam đương đại là những tácphẩm viết về những trăn trở, kiếm tìm để giải mã ý nghĩa cuộc sống của PhanThị Vàng Anh, Võ Thị Hảo,…; những câu chuyện xoay quanh vấn đề lậpnghiệp trong sáng tác của các tác giả của thế hệ 8x như: Chu Thùy Anh,Nguyễn Thị Châu Giang, Di Li…; hay đề tài quê hương, đất nước trong tập
truyện ngắn Thành phố đi vắng của Nguyễn Thị Thu Huệ, tập Khung trời bỏ lại của các tác giả nữ hải ngoại, và nhiều truyện, tập truyện ngắn của các tác
1.2.1 Đỗ Bích Thúy
Đỗ Bích Thúy quê gốc ở Nam Định, sinh ngày 13 tháng 4 năm 1975 tại mảnhđất vùng cao Hà Giang.Cuộc sống của chị có nhiều bước chuyển và tất cả đềunhư một sợi dây “duyên phận” dẫn dắt chị bước tới con đường văn chương
Trang 25Chị là học sinh giỏi văn (từng tham gia cuộc thi học sinh giỏi văn toàn quốc),chị thích đọc sách và yêu những cuốn sách bởi thế chị luôn có khát khao đượcviết ra những cuốn sách cho mình và cho mọi người.Bài tản văn đầu tiên Con
của rừng được đăng trên Tạp chí Tuổi Xanh với mười nghìn đồng nhuận bút
năm 1994 chính là sợi dây cót giúp chị say mê viết, mải miết viết nhiều năm
Và thật kì lạ, chị yêu văn, mơ ước được trở thành một nhà báo hay một côcông an nhưng chị lại theo học ngành Tài chính – Kế toán Tưởng rằng cuộcđời của chị sẽ gắn với những con số và khi ấy có lẽ cái tên Đỗ Bích Thúy sẽkhông gần gũi và quen thuộc với nhiều độc giả như hôm nay Thế nhưng “nào
có ngờ đâu, nhờ truyện ngắn Chuỗi hạt cườm màu xám đăng trên báo Tiền
phong, tôi nhận được lời mời về làm việc tại Hội Văn nghệ Hà Giang khi vừatốt nghiệp Về Hội Văn nghệ một thời gian, chính lãnh đạo Hội lại góp ý tôinên chuyển sang làm báo để có điều kiện đi thực tế Bởi thực tế chính là thứbột để gột lên hồ đối với người cầm bút Lăn lộn với nghiệp báo 4 năm, đicông tác vùng sâu vùng xa, tận mắt nhìn thấy cuộc sống của bà con vùng cao,mình thấy gắn bó, yêu nghề hơn Mỗi khi viết được một bài về cuộc sống củangười dân nơi đây, có khi vui lắm, cũng có khi buồn mất mấy ngày Rồi cũngchính cơ quan thấy tôi và một số anh chị em khác mặc dù làm báo đã lâunhưng chưa được đào tạo bài bản nên động viên đi thi Rồi thì tôi trở thànhsinh viên báo chí “già” nhất khóa 16 của Học viện Báo chí và Tuyên truyền.Thời gian này, nỗi nhớ nhà, nhớ mảnh đất và con người Hà Giang đã thôi thúctôi cầm bút Nghe theo lời khuyên của bạn bè, tôi gửi 3 truyện ngắn tham dựcuộc thi của Tạp chí Văn nghệ Quân đội và đoạt giải Nhất (năm 1999) Khi ratrường, rất may cho tôi là cánh cổng nhà số 4 (Cách gọi thân mật Tạp chí Vănnghệ Quân đội của bạn đọc - PV) đã rộng mở để tôi có thể trở thành một nhàvăn mặc áo lính như hôm nay”.[50] Suốt hành trình cảm và viết chị vẫn luônviết rất hay về miền núi – mảnh đất tưởng như đã quá quen với Đỗ Bích Thúy
Trang 26nhưng vẫn luôn tươi mới trong những sáng tác của chị Đó được coi là vùngthẩm mỹ mà chị đã đang và sẽ say mê như chị chia sẻ: “Sinh ra và lớn lên ở
Hà Giang rồi làm báo địa phương nhưng đến khi là sinh viên, viết truyện gửiTạp chí Văn nghệ Quân đội tôi mới viết về đề tài miền núi Cho đến nay, đóvẫn là vùng thẩm mĩ mà ngòi bút tôi đắm đuối Có lẽ vì xa nơi chôn rau cắtrốn, nỗi nhớ khắc khoải về miền núi đã khiến mình muốn viết về nơi ấy.Chính độ lùi thời gian đủ cho tôi cảm nhận về một vùng quê xa xôi, để khixuống thành phố học, không gian miền núi đã trở thành một nỗi ám ảnh, mộtnơi lưu giữ nguồn cảm xúc văn chương”.[26] Có nhiều cây bút viết về đề tàimiền núi nhưng Đỗ Bích Thúy đã tạo nên được một “thương hiệu” cho riêngmình, chị viết bằng những rung cảm dành cho quê hương: “Một nhà văn miềnxuôi lên để viết về đề tài miền núi sẽ khác với nhà văn ở đó mấy năm và viết
về miền núi, lại càng khác hơn người sinh ra ở đó và viết về nơi ấy Nếunhững nhà văn thành công về miền núi với ánh mắt người ngoài cuộc với tâmthế của người miền xuôi thì tôi lại khác Tôi muốn là người trong cuộc để viếtthật tự nhiên về cuộc sống và con người vùng cao quê tôi”.[26]
Đỗ Bích Thúy luôn viết bằng cả trái tim mình, phương châm về nghệ thuật,phong cách sáng tác và tư duy về nghiệp viết đều được thể hiện rất rõ quanhững tuyên ngôn của chính chị: “Miền núi là nơi tôi sinh ra, lớn lên và từnglàm việc Bố mẹ, anh chị và người thân của tôi vẫn sống ở đây Mới đầu tôiviết truyện vì thấy buồn, thấy cần viết Kể cả lúc đi làm báo, thu thập đượcnhiều vốn sống thì với tôi văn chương vẫn còn xa lạ Chỉ khi lên thành phốhọc tập, tôi mới nhận thấy sự khác biệt của cuộc sống và nó thôi thúc tôi viết.Tôi không bao giờ viết với mục đích câu khách, không có nhà văn nào lại nóimình viết để kiếm sống, họ viết vì nhu cầu nội tâm.”[18] Hay “Hình ảnh nhàvăn không quan trọng bằng những gì họ viết ra tôi quan niệm thế Vănchương như bông hoa ấy và nhà văn chỉ là gốc rễ đầy đất cát lặng lẽ chôn
Trang 27chân bên dưới mà thôi Sở dĩ tôi không ngừng viết về miền núi vì đó là mảnhđất của tôi mỗi khi viết về nó đắm chìm trong thế giới ấy tôi lại như người đi
xa được trở về nhà nhìn thấy đàn gà khi mình đi thì mới nở và khi mình về thìchúng đã trở thành những chú gà trống sặc sỡ Cái tâm trạng ấy nói thực lòngtôi chưa bao giờ cảm thấy khi viết về một đề tài khác mảnh đất khác Điềunày một phần được chứng thực từ người đọc họ cũng nói rằng khi tôi viết vềmiền núi tôi chính là mình.”[49]
Đỗ Bích Thúy đạt được thành công ở nhiều thể loại nhưng có lẽ truyện ngắnvẫn là mảnh ghép nổi bật nhất trong hành trình sáng tác của chị, mang lại chochị nhiều giải thưởng: giải A cuộc thi Tác phẩm Tuổi Xanh của báo Tiềnphong (1995), giải Nhất cuộc thi truyện ngắn của Tạp chí Văn nghệ Quân đội
(1999) với chùm 3 tác phẩm: Sau những mùa trăng, Đêm cá nổi, Ngải đắng ở trên núi, giải Ba cuộc thi sáng tác văn học của Nhà xuất bản Thanh niên
(2003), giải C cuộc thi sáng tác văn học cho tuổi trẻ lần hai của Nhà xuất bản
Thanh niên (2005) với tiểu thuyết Bóng của cây sồi được mở rộng từ truyện ngắn Thị trấn Năm 2006 truyện ngắn Tiếng đàn môi sau bờ rào đá của chị được đạo diễn Ngô Quang Hải chuyển thể thành kịch bản phim Chuyện của Pao Bộ phim này đã đoạt giải Cánh diều vàng năm 2006 của Hội điện ảnh
Việt Nam Hiện Đỗ Bích Thúy là nữ Phó tổng Biên tập đầu tiên trong lịch sửhơn 50 năm của Tạp chí Văn nghệ Quân đội - Tạp chí dành cho những ngườilính Đến nay chị đã xuất bản được nhiều tập truyện ngắn nhận được sự yêumến của đông đảo độc giả đó là:
- Sau những mùa trăng (2001), NXB Quân đội Nhân dân, Hà Nội
- Những buổi chiều ngang qua cuộc đời (2002), NXB Thanh niên, Hà
Nội
- Kí ức đôi guốc đỏ (2004), NXB Kim Đồng, Hà Nội
Trang 28- Tiếng đàn môi sau bờ rào đá (2005), NXB Công an Nhân dân, Hà
- Ngọn đèn không tắt (2000), NXB Trẻ, Hà Nội
- Ông ngoại (2001), NXB Kim Đồng, Hà Nội
- Biển người mênh mông(2003), NXB Trẻ, Hà Nội
- Giao thừa (2003), NXB Trẻ, Hà Nội
- Nước chảy mây trôi (2004), NXB Văn nghệ, TPHCM
- Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (2005), NXB Văn hóa Sài Gòn, TPHCM
- Ngày mai của những ngày mai (2005), NXB Phụ nữ, Hà Nội
- Cánh đồng bất tận (2005), NXB Trẻ, Hà Nội
- Sống chậm thời @ (2007), NXB Trẻ
- Gió lẻ và 9 câu chuyện khác (2008), NXB Trẻ, Hà Nội
- Khói trời lộng lẫy (2010), NXB Thời đại, Hà Nội
- Đảo (2014), NXB Trẻ, Hà Nội
Các tác phẩm của chị cũng đạt được nhiều giải thưởng: Tác phẩm đầu tay là
tập kí sự Nỗi niềm sau cơn bão dữ đã đưa chị vào nghề văn chính thức với giải Ba báo chí toàn quốc năm 1997 Tập truyện Ngọn đèn không tắt đạt giải
Trang 29Nhất cuộc vận động sáng tác văn học tuổi 20 lần II (năm 2000), giải B Hội
Nhà văn Việt Nam (năm 2001) Tác phẩm Đau gì như thể đạt giải Ba cuộc thi
truyện ngắn báo Văn nghệ Chị được biết đến nhiều nhất bởi tập truyện gây
tranh cãi mang tên Cánh đồng bất tận Tập truyện đã nhận được giải thưởng
của Hội nhà văn Việt Nam năm 2006, giải thưởng văn học các nước Đông
Nam Á (ASEAN) năm 2008 Và truyện ngắn Cánh đồng bất tận đã được
chuyển thể thành phim điện ảnh cùng tên của đạo diễn bởi Nguyễn PhanQuang Bình năm 2010 Năm 2018, cũng tác phẩm này đã giúp chị nhận đượcGiải thưởng Literaturpreis do Litprom (Hiệp hội quảng bá văn học châu Á,châu Phi, Mỹ Latin ở Đức) bình chọn, dựa trên việc xem xét các bản dịchtiếng Đức tác phẩm nổi bật của các tác giả nữ đương đại tiêu biểu trong khuvực Giải thưởng được trao hàng năm nhằm vinh danh các tác giả nữ đến từchâu Á, Phi, Mỹ Latinh, các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất (UAE) vàvùng Caribe Hiện nay Nguyễn Ngọc Tư làm phóng viên của tạp chí Vănnghệ bán đảo Cà Mau và hội văn học Nghệ thuật Cà Mau Nguyễn Ngọc Tưcũng được nhận tặng thưởng dành cho tác giả trẻ của Ủy ban toàn quốc Liênhiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam Chị còn là một trong mườigương mặt trẻ tiêu biểu năm 2002 do Trung ương Đoàn trao tặng
Là tác giả đạt được nhiều thành công và luôn cống hiến hết mình cho vănchương, Nguyễn Ngọc Tư viết nên những trang viết từ sự chân thành, tìnhyêu và lòng bao dung Những mạch nguồn dẫn chị đến với văn chương,những quan niệm của chị về nghiệp cầm bút đã từng được chị chia sẻ: “Và tôiviết văn Câu hỏi mà những người thân đặt ra khi nhìn thấy những trang viếtđầu tiên của tôi là “Tại sao con viết văn?” Tôi bảo rằng tại con buồn Đó làngộ nhận đầu tiên của tôi về nghề viết, tôi tưởng viết là sẽ không cô đơn nữa.Nhưng cô đơn là sự tối cần của người viết, nó là một điều kiện hàng đầu củanhà văn Không một người viết hay nào tôi biết mà không cô đơn, không một
Trang 30thần tượng văn chương nào của tôi mà không bị cô đơn giày vò.Và để chạytrốn nỗi cô đơn trong giao tiếp đơn thuần mặt nhìn mặt, tay nắm tay, việc viếtvăn đã dẫn tôi đến sự cô đơn khác, đó là ở giữa đám đông mà họ không thấytôi, hoặc họ thấy một cái gì đó giống tôi, họ tưởng là tôi, nhưng tôi đang đứng
ở một chỗ khác, một mình, chờ một bàn tay chạm Khi người ta bằng mọicách chạy trốn sự cô đơn thì tôi và những đồng nghiệp của tôi lại nuôi cô đơn,cho nó ăn để duy trì sự cô đơn tồn tại trong người mình cho cái gọi là sáng tạovăn chương.”[63], “Tôi sinh sống ở vùng đất Nam Bộ và những tác phẩm củatôi đều viết về đất và người Nam Bộ Mảnh đất cuối cùng của đất nước tôihay mang một cảm giác nhược tiểu của vùng đất mới khai phá, không có cáinền văn hóa dày và sâu, nằm xa những trung tâm văn hóa kinh tế lớn, giáodục, đặc biệt là văn học ít có thành tựu, không được đánh giá cao trong giớicầm bút, trong những tổng kết của văn học Việt Nam Bất cứ người viết vănnào xuất hiện ở vùng đất này đều được sự đón nhận nồng nhiệt, tôi cũng vậy.Được xem như một đặc sản của miền Nam, một người viết Nam Bộ thuần túy,nhận nhiều kỳ vọng của mọi người, đặc biệt là đồng nghiệp, tôi sung sướng,
và thấy hài lòng, mình đã làm việc đó cho quê hương, cho mảnh đất này.”[63]
1.3 Tiểu kết
Văn học Việt Nam sau năm 1986 là một nền văn học mang gương mặt
nữ Không chỉ có nhân số đông đảo, các tác giả nữ còn chứng minh được khảnăng sáng tạo, nguồn nhiệt huyết văn chương và tài năng sáng tác của mìnhbằng nhiều giải thưởng và danh hiệu trong suốt nhiều năm liền, đó là Y Ban ,Nguyễn Thị Thu Huệ, Trần Thanh Hà, Đỗ Bích Thúy, Các cây bút nữ đãthực sự đem đến một luồng sinh khí mới để thể hiện một cách chân thực bềsâu và bề sau của cuộc sống con người hôm nay Họ không chỉ viết tiếp về đềtài chiến tranh (Lê Minh Khuê, Võ Thị Hảo,…), quê hương, đất nước
Trang 31(Nguyễn Thị Thu Huệ, các tác giả nữ hải ngoại,…) – những mảng hiện thực
đã được viết rất thành công ở giai đoạn trước mà họ còn mở rộng, đi sâu, đisát vào những mảng đề tài khác tưởng như đã quen thuộc nhưng được viết rấtmới, rất lạ như hôn nhân, gia đình (Nguyễn Thị Thu Huệ, Y Ban, Trần ThùyMai,…); trăn trở, kiếm tìm, giải mã ý nghĩa cuộc sống (Phan Thị Vàng Anh,
Võ Thị Hảo,…); hay lập nghiệp (Chu Thùy Anh, Nguyễn Thị Châu Giang, DiLi…), Khác với văn học gian đoạn trước và văn học giai đoạn này của cáccây bút nam giới, các tác phẩm của những cây bút nữ quan tâm nhiều hơn đếntâm lý nhân vật, họ xây dựng nhân vật mang đậm bản sắc của thời đại, vùngmiền, thế hệ và cá tính hóa ngôn ngữ, giọng điệu nhân vật Trong rất nhiều
“đóa hoa xinh đẹp và ngát hương” của vườn truyện ngắn đương đại ViệtNam, Đỗ Bích Thúy và Nguyễn Ngọc Tư là hai bông hoa nhận được rất nhiều
sự chú ý của cả độc giả và giới nghiên cứu Có thể đây không phải là hai câybút tiêu biểu nhất, xuất sắc nhất nhưng họ thực sự là những cây bút tạo đượcnhững dấu ấn cho riêng mình Dù con đường đến với văn chương của họ khácnhau, dù cách dung nhập vào lời văn câu chữ và dùng nó để cảm nhận, chiêmnghiệm về cuộc đời của họ khác biệt nhưng cả Đỗ Bích Thúy và NguyễnNgọc Tư đều say với văn chương và yêu mến cuộc đời bằng tất cả sự chânthành và dung dị nhất Hai tác giả đều giống nhau về mặt tuyên ngôn nghệthuật: Họ viết bằng chính cảm xúc của mình, viết cho quê hương, cho mảnhđất mình sinh ra, lớn lên, và viết cho những con người thuần phác, nhân hậunhưng cũng lắm đa đoan và truân chuyên mà họ đã tiếp xúc
Trang 32CHƯƠNG 2: CÁC KIỂU NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA
ĐỖ BÍCH THÚY VÀ NGUYỄN NGỌC TƯ 2.1 Khái lược về thế giới nhân vật trong tác phẩm của Đỗ Bích
Thúy và Nguyễn Ngọc Tư
Nhân vật là phương tiện cơ bản để nhà văn khái quát hiện thực một cách
hình tượng Nói như tác giả Hà Minh Đức trong Lí luận văn học (NXB Giáo
dục, 2003): “Văn học không thể thiếu một nhân vật, vì đó chính là phươngtiện cơ bản để thể hiện nhận thức của mình về một cá nhân nào đó; về mộtloại người nào đó; về một vấn đề nào đó của hiện thực.” Nếu như các nhà văncủa những giai đoạn trước thường xây dựng nên những nhân vật điển hìnhmang tính đại diện, tượng trưng (như nhân vật Bá Kiến, Chí Phèo, trong tác
phẩm Chí Phèo của nhà văn Nam Cao) thì hai tác giả Nguyễn Ngọc Tư và Đỗ
Bích Thúy lại ưu tiên tạo nên những nhân vật mang hơi thở cuộc sống và gầnnhất với đời thường Xuất phát từ thiên tính nữ, nhân vật nữ chiếm được sự
ưu ái và quan tâm đặc biệt của cả hai cây bút Họ nhìn thấy ở người phụ nữ ởmọi phương diên từ cô đơn, bi kịch, đau khổ, lòng vị tha, sự nhân ái, Như
Đỗ Bích Thúy tâm sự về tập Người đàn bà miền núi: “Tại sao tôi cứ viết về
đàn bà với những cuộc đời rủi ro và số phận nghiệt ngã với những cái bướuxấu xí và tấm lưng còng gập? Tại sao những người đàn bà của tôi khi nàocũng phải sống trong những nỗi khát khao lớn hơn dãy Tây Côn Lĩnh sâu hơnđáy sông Lô - những nỗi khát khao không gì nhấn chìm được cũng khôngcách gì đạt tới được? Những cuộc đời đầy âu lo những năm tháng luôn phảiđối mặt với thiên nhiên khốc liệt cõi đời trắc trở tình yêu mong manh Tạisao vậy? Phải chăng vì như một người đã nói với tôi: Cuộc đời đàn bà buồnnhiều hơn vui lo âu nhiều hơn mãn nguyện? Phải chăng vì trời sinh ra đàn bà
để chẳng sống mấy cho mình?”[45, tr 8], những người đàn bà với chị là
Trang 33“người đã án ngữ trong kí ức của tôi về vùng đất thân yêu bạt ngàn cây rừnghoang vu gió tầm tã mưa sôi sùng sục nước dưới những dòng sông ngoằnngoèo cuộn chảy ”[49].
2.2 Các kiểu nhân vật tiêu biểu
Trong truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy và Nguyễn Ngọc Tư, nhân vật đượcxem xét ở rất nhiều mặt và nhiều góc độ Để chia rõ ràng cả hệ thế nhân vậtphong phú ra thành từng kiểu rạch ròi thì thực sự rất khó khăn bởi đôi khi cácvùng nhân vật bị giao thoa với nhau Do đó, ở luận văn này chúng tôi xinphân chia thế giới nhân vật một cách tương đối thành ba kiểu Trong khinghiên cứu, chúng tôi đặt các tác phẩm của hai tác giả trong tương quan sosánh, đối chiếu để làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt
2.2.1 Nhân vật bi kịch
Nhân vật cô đơn, bi kịch là kiểu nhân vật khá phổ biến trong văn học ViệtNam đổi mới Các nhà văn đã tiếp cận hiện thực ở cả những miền khuất lấp,những cảnh ngộ đáng thương của con người Nhân vật trong truyện ngắn của
Đỗ Bích Thúy và Nguyễn Ngọc Tư bị đưa vào những hoàn cảnh éo le, mang
số phận bất hạnh, đáng thương, có khi hoàn cảnh ấy được tạo ra bởi bàn taycủa những người xung quanh, có đôi lúc lại được tạo ra bởi chính họ Nhữngcon người ấy luôn bị nỗi cô đơn bủa vây: cô đơn ngay khi sống giữa đámđông (hoặc xa lạ hoặc thân thiết), có khi lại cô đơn vì cái tôi quá lớn, vì cátính khác biệt của bản thân, Họ gắn cuộc đời với những cuộc hành trìnhkiếm tìm để mong muốn có được hạnh phúc, nhiều nhân vật vì không thoátkhỏi cái bóng của sự cô đơn, khỏi vòng luẩn quẩn của số phận mà phải tìmđến cái chết
Trang 34Trong truyện ngắn Lặng yên dưới vực sâu, Đỗ Bích Thúy đã thể hiện rõ bi
kịch của các nhân vật trong tình yêu: là Súa, là Vừ, là Phống, là Nhí, Súađẹp nhất vùng, những tưởng Súa sẽ có một cuộc đời hạnh phúc vì Súa có mộttình yêu thật đẹp với Vừ Nhưng không, thủ tục cướp dâu đã mở màn cho bikịch của Súa, của Vừ và cả của Phống: “Tiếng sáo bên ngoài vẫn réo rắt Đấy
là tiếng sáo của người trên núi cao Bên trong nó ngoài sự trầm bổng còn có
cả tiếng gió, mùi gió… Nhưng tiếng sáo mà Súa nghe đêm nay lại có mùi củanước mắt đang khô”[42, tr 58] Phống cướp Súa trong ngày cưới biếnchuyện tình của Súa và Vừ trở thành một mầm cây mãi mãi không thể ra hoakết trái: “Cha ơi, đó không phải Vừ Vừ ơi, sao Vừ lại để người yêu của mìnhchết nửa người thế này.Còn cái đầu này nữa, sao không chết luôn để khỏi phảihỏi mình đang mơ hay tỉnh đây” [42, tr 60] Trái tim người con gái ấy như đãchết lặng thế nên Súa muốn kết thúc cuộc sống của mình, thế nhưng cái chếtcũng đâu phải dễ dàng: “Chẳng lẽ người con gái Mông này không được sốngnhư ý của mình, chết cũng không như ý của mình nốt? Chẳng lẽ lại thế hả đứa
em chồng?”[42, tr 75] Súa đành phải sống – sống mà như đã chết, lặng lẽ,sầu đau trong kiếp làm vợ của Phống - người mà trái tim Súa chưa từng baogiờ rung động Trong khi đó người yêu Súa là Vừ cũng đang quay quắt trongniềm đau khi luôn chờ đợi và khao khát được gặp người yêu một lần Tưởngrằng trong sự bi ai về tình yêu chia cắt, “thủ phạm” là Phống sẽ vui vẻ nhưngnào ngờ đâu, đây cũng là một nạn nhân của bi kịch tình yêu Phống giàu nhấtlàng, cũng xấu xa nhất nhưng Phống lại muốn có được Súa cả thể xác và tâmhồn, Phống yêu Súa, thứ tình yêu có phần cực đoan, bởi thế anh đã chiếmđoạt Súa, giữa họ đã có một mối dây liên kết dù không phải kết tinh của tìnhyêu: “Tuyết đã phủ kín hai bàn chân Súa Đứa bé lại cựa quậy Nó không nhìnthấy tuyết đang rơi, nhẹ bỗng như những quả bông nở bị gió thổi đi tứ phía.Giá mà nó cứ ở yên trong bụng mẹ thế này thì tốt quá Nhưng không được đã
Trang 35sắp đến ngày nó nhìn thấy sương mù rồi”[42, tr 78] Đứa bé sắp chào đời, Súa
sẽ ở lại, phải chăng Phống đã chiến thắng? Súa đã thử chấp nhận Phống,muốn thực sự coi Phống là chồng, tha thứ cho Phống để bắt đầu một cuộcsống mới Cái kết có hậu dường như đang ở ngay trước mặt, chỉ là nó tới hơichậm, sự tha thứ của Súa ngay lần đầu tiên đã trở thành lần cuối cùng khi nókhông đến kịp lúc để giữ Phống lại cuộc đời: “Không phải chồng Súa bị ngã.Người đàn ông Mông sinh ra, tập đi, cưỡi ngựa, chăn bò và chết đi trên nhữngmép vực, không bao giờ bị trượt chân”[42, tr 140] Phống nhận ra mình đã sai
đã thua cuộc dù rằng mình đã làm chồng, làm cha, người thứ ba ấy đã phải trảgiá bằng chính mạng sống của mình, kéo theo bi kịch (một lần nữa) của cảSúa: “Gió vẫn rít từng cơn qua rừng nguyên sinh toàn lim, sến hàng trăm nămtuổi trên đỉnh Tây Côn Lĩnh Những ngôi sao đầu tiên của đêm tối đã xuấthiện trên cao, ánh sáng le lói của nó hắt xuống khiến cho đáy vực xuống sâuthêm chút nữa, khoảng cách từ chỗ Súa đứng đến nơi người đàn ông kia nằmlặng yên cũng xa thêm một đoạn… Cuộc sống đã dừng lại Súa chỉ cảm thấyduy nhất điều đó, khi gió từ đáy vực đang thốc ngược lên”[42, tr 139] Cũng
trong Lặng yên dưới vực sâu, bên cạnh Súa, Vừ, Phống còn có Nhí – một con
người cũng mang bi kịch Nhí sinh ra đã không thể nói mà chỉ có thể biểu đạtmọi cảm xúc qua nét mặt, ánh nhìn Tân là người đàn ông Nhí yêu, là ngườikhiến Nhí vọng tưởng về hạnh phúc và cũng là người khiến Nhí cảm thấycuộc đời đang dừng lại ở ngưỡng tuổi 16: “Đúng là Nhí đã nghĩ, sau này Tân
sẽ làm một ngôi nhà nhỏ tí, trên ngọn cây lim to nhất phía sau nương ngô kia,
và hai người sẽ sống ở trên đó Hàng ngày Nhí ôm con ngồi vắt vẻo ở cửa,buông hai chân thõng xuống chờ Tân đi làm về…”[42, tr 113] Ước mơ giản
dị như thế cũng không thể trở thành sự thật khi người con trai ấy ra đi mãimãi Chuỗi bi kịch cuộc đời làm các nhân vật đều “chết” – chết về thể xác và
chết về tâm hồn Nhân vật Mai trong truyện ngắn Cạnh bếp có cái muôi gỗ
Trang 36mang nỗi bất hạnh của một người phụ nữ không sinh được con trai cho chồng
và chồng đã ra đi để kiếm đứa con trai với người phụ nữ khác Cũng là nỗi bất
hạnh về đường con cái là nhân vật Bình trong Chiếc hộp khảm trai Bình
được chồng yêu chiều, mẹ chồng tuy khắc kỷ nhưng lại rất thương hai vợchồng Bình lại không hạnh phúc vì hai người không có con Bình đã từngnghĩ tới việc nhận con nuôi nhưng lại cho rằng những người không ra gì mới
bỏ con và con của những người không ra gì ấy lớn lên chắc gì đã tử tế Nhữngsuy nghĩ quẩn quanh và dằn vặt ấy khiến Bình trở thành một người khác ănnói chỏng lỏn và cáu kỉnh Nhưng khi mẹ chồng ốm nặng rồi mất, Bình mớibiết Hải chồng mình là con nuôi của mẹ, cũng biết rằng việc hai người không
có con không phải do Hải Nhân vật “nàng” trong truyện Đàn bà đẹp lại mang
bi kịch của người phụ nữ đẹp và giàu có Nàng càng lúc càng đẹp, vẻ đẹpđược “tu sửa”mỗi lúc một hoàn hảo, nàng đủ đầy về vật chất, nàng có mọi thứmình muốn chỉ trừ hạnh phúc và tình yêu bên người chồng (thứ có lẽ là quantrọng nhất) Thế nên nàng càng đẹp về nhan sắc bên ngoài thì càng héo honbên trong tâm hồn; nàng càng đủ đầy về vật chất thì càng thiếu thốn về tinh
thần:“Rồi có lúc nàng thấy mình đẹp, càng đẹp thì càng vô duyên biết mấy.
Trong lúc mình như một đóa sen trắng muốt, thì chồng mình càng giống hệtmột con tôm khô trong túi hút chân không, còn gì vô duyên hơn” [42, tr 165]
Đó còn là bị kịch của nhân vật “người chị dâu” trong tác phẩm Sau những mùa trăng Chị là cô gái xinh đẹp khiến bao chàng trai xao xuyến, chồng của
cô cũng đã từng vì cô thổi khèn gọi yêu đến đêm thứ chín Chị không maymắn khi chồng bị lợn rừng hục chết trong một đêm lên nương canh ngô Chịtrở thành goá phụ Chị hiểu trách nhiệm của mình, chị hy sinh, tần tảo lo toanchu toàn cho gia đình nhà chồng Nhưng chị vẫn luôn khát khao yêu thương
Có chàng trai thầm thương chị và chị dường như đã say lòng Tình yêu làmchị đẹp hơn, rạng rỡ nhưng cũng làm chị héo mòn mặt tái xanh, mắt như
Trang 37người say rượu Chị phải đấu tranh giằng xé giữa yêu và tránh nhiệm, giữacảm xúc và lý trí Những ràng buộc của bổn phận, của xã hội đã thắng và điều
ấy càng làm bi kịch của người con gái ấy sâu thêm
Có thể thấy hầu hết bi kịch của các nhân vật trong truyện ngắn Đỗ BíchThúy đều xuất phát từ tình yêu: đau khổ vì yêu, độc ác vì yêu, ích kỷ vì yêu,sống vì yêu và chết cũng vì yêu Giống như Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Ngọc Tưcũng đặt nhân vật của mình trong sự éo le của tình cảm với các mối quan hệphức tạp Chúng ta cũng thương xót cho nhân vật ông Năm Nhỏ trong truyện
ngắn Cải ơi! bị mang tiếng oan là “giết con” khi nhỏ Cải con của vợ ông sợ
tội bỏ trốn vì làm mất đôi trâu Ông làm trong gánh hát chỉ để được mượnmicro trước giờ diễn nói dăm ba lời: “Cải ơi, ba là Năm Nhỏ nè con” Ôngnghĩ ra nhiều phương kế để có thể tìm được nhỏ Cải; thậm chí ông còn trộmtrâu với hy vọng được lên truyền hình Cuộc hành trình tìm kiếm trong vôvọng suốt 12 năm, sự chờ đợi trong mòn mỏi suốt 12 năm: “Ông già NămNhỏ lặng đi, tự hỏi, bây giờ ông lên tivi, con Cải có nhận ra ông không Câutrả lời là có, ông đã dắt con nhỏ đi hái xoài chín trong vườn hoang, đã chặtchuối làm bè dạy cho nó bơi lội, thả trâu, chơi diều, ông đã cõng con nhỏ đitắt mấy vạt đồng đến khám bệnh chỗ ông bác sĩ già, mỗi khi nó nhức đầu, sổmũi Cây kẹp nhỏ, mớ dây thun khoanh, mấy cục kẹo dừa vung vinh trong túi
áo mỗi khi ông đi chợ về… Tất cả những thứ đó, ông nhớ mồn một thì nhỏCải chắc chưa quên Ông già muốn lên tivi để nhắn đứa trẻ bỏ nhà rằng, về đi
con ơi, đôi trâu có sá gì!”[58, tr 13] Gia đình Tư Nhớ trong truyện Đau gì như thể cũng mang nỗi oan ngang trái khi hai cha con bị vấy tiếng cha
dượng hại đời con riêng của vợ: “Có người chưa đi qua cái miễu ông tà đãcười cợt bàn với nhau, không biết thằng nhỏ kêu ông Tư nhỏ là gì ha, là ngoạihay cha”[68, tr 121] Biết mình oan mà không thể minh oan, không thể làm
gì ngoài việc “nổi quạu đùng đùng, thiên hạ phải để tôi sống đàng hoàng như
Trang 38một người chớ Tiếng kêu nghe thấu đến trời, sao đồng loại con người khônghọc cách hiểu nhau”[68, tr 121] Đó là hoàn cảnh bất hạnh của gia đình ông
Chín trong Nhớ sông: “Gia đình ông Chín sống hẳn trên ghe Cảnh của ông
cũng buồn lắm Nhà nghèo, ra riêng, gia đình chỉ cho hai công đất NămGiang ba tuổi, Giang lên sởi Ông Chín bán đất cứu con Số tiền con dư lại,ông mua chiếc ghe nhỏ đi bán hàng bông Cả nhà dắt díu nhau linh đinh sôngnước”[58, tr 114] Sự đưa đẩy của hoàn cảnh khiến con người có những niềmkhát khao thật bình dị: “Có lúc, vừa ghé lại bờ, chưa kịp buộc dây ghe vô gốcmắm, do quẩn chân lâu ngày, Giang đã chạy lên bờ, chạy cuống chạy cuồngnhư vui như điên trên đất, má Giang rớt nước mắt, “Con nó thiệt thòi…” ÔngChínan ủi, “vì miếng ăn mà, mình ơi”.”[58, tr 114].Và cũng chính hoàn cảnhtạo cho người ta những thói quen, những “niềm nhớ” thật lạ: “Ghé Đập Sậy,Giang đòi ông Chín ở lại một đêm, cho Giang xuống ghe ngủ với con Thủy.Giang than nức nở, “Trời ơi con nhớ ghe quá trời đất đi.”[58, tr 117] Sốphận dường như thấy rằng cái nghèo, cái thiếu thốn vất vả ấy dường như vẫnchưa đủ làm con người ta bất hạnh hay sao nên số phận tiếp tục “đẩy ngã” họbằng một biến cố nữa: “Hôm đó, trời mưa nhỏ nhưng gió nhiều, gió bạt taychèo liêu xiêu Nước từ vàm sông cuồn cuộn đổ ra Chiếc ghe bạt nước tấp vô
xà lan chở cát Ông Chín, ba Giang chống đằng mũi, má Giang chống đằnglái Giang ngồi trong mũi ghe ôm con Thủy vào lòng Giang thấy rõ ràng lúccây sào trong tay má đang trôi vào thành xà lan trượt hướt lên, má ngã xuống,đầu má đập vào cái gờ sắt, đôi chân còn víu vào ghe Rồi má cong lại nhưchiếc võng, hụp vào sông”[58, tr.113] Đó còn là bi kịch của một nhóm nông
dân trong truyện Lỡ mùa, họ không có đất canh tác do những quy hoạch
treo.Họ ao ước được cày bừa trên mảnh đất của chính cha ông mình nhưngkhông thành: “Trời vẫn trĩu đầy nước, tối âm u, ông Ba thấy núi mây đenthẫm dựng lên một mảng trời phía Trảng Cò, ông chắc lưỡi như xót xa lắm,
Trang 39điệu này dưới mình mưa lớn dữ, đất chắc chìm hết rồi, đồng chỉ chắc còn loingoi cỏ, muốn cày, bừa cũng khó lắm đây Ông Ba già nghe ruột mình nônlên, từng khúc, từng khúc, nghẹn ứ đến mức ông không lên tiếng được”[68, tr.
38].Và có lẽ những nhân vật bi kịch xuất hiện nhiều nhất trong Cánh đồng bất tận từ nhân vật chính cho tới những nhân vật phụ - những người đàn bà
mà nhân vật “tôi” gặp trên những con sông cạn nước, những cánh đồng khô
nẻ Bi kịch của người vợ phải ra đi có lẽ vì mặc cảm tội lỗi và xấu hổ khi đứacon chứng kiến chị sa ngã hơn là vì đuổi theo những súc vải đủ màu sắc Bikịch của người chồng bị bỏ rơi, trở nên đáng sợ “như con thú”, trả thù bằngcách “mê hoặc” vợ người khác rồi vứt bỏ họ giữa đường: “Cha mang họ đimột quãng đường vừa đủ để người ở lại nhìn rõ chân dung của sự phản bội,sau đó người đàn bà bị hắt lên bờ Con đường quay về bị bịt kín” [58, tr 189-190] Để rồi sau đó“sự báo ứng dường như đang ở rất gần” [58, tr 198].Người cha sau một thời gian trút hết thù hận cuộc đời và người vợ bằng sự
“máu lạnh”, không thương tiếc trên những người phụ nữ mà ông gặp đã phảiđau đớn khi tận mắt nhìn cảnh đứa con gái bị hãm hiếp mà bất lực mà vôphương cứu con Đó còn là bi kịch của Nương và Điền khi phải chứng kiến sự
đổ vỡ của gia đình, sự sa ngã của cha mẹ để lại những tàn tích trong tâm hồn
Và càng bi kịch hơn khi cả hai đứa trẻ dường như đã bị hủy hoại cuộc đời:Điền chối bỏ niềm vui trở thành người đàn ông thực thụ bởi sự miệt thị vàgiận dữ rồi sau này vô vọng chạy theo người đàn bà bị sỉ nhục: “Điền khôngtrở lại Tôi chờ nó đến khi mùa mưa đổ xuống cánh đồng Chia Cắt (tôi tạmgọi vậy) một trời sao Chờ chơi vậy chứ tôi biết Điền chẳng quay về” [58, tr.204]; còn Nương bị đám trai làng hãm hiếp ngay trước mặt người cha tội lỗiđang bị đổ nghiến xuống bùn: “Mắt cha tôi ầng ậc nước, tôi không rõ là phènhay máu nhoèn nhoẹt.”[58, tr 211], “Nhưng lúc nầy, cảm giác thật đơn điệu
Trang 40Đầu tiên là sự xé toạc, và từ rách nát, đau đớn như lũ kiến cánh được giảithoát, chúng bò rân khắp cơ thể, tôi thấy mình đang chết” [58, tr 212]
2.2.2 Nhân vật tha hóa
Trong truyện ngắn các nhà văn Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Ngọc Tư, ta thấy cómột hệ thống các nhân vật tha hóa Họ vốn là những con người “tính bảnthiện” nhưng vì hoàn cảnh xã hội và sự bức bách của thế giới xung quanh họbuộc - phải - tha - hóa để tồn tại Thực chất đây cũng là những con ngườiđáng thương Có những nhân vật tha hóa có khả năng thức tỉnh: Họ là nhữngcon người vừa bước qua ranh giới của sự sa ngã Bản thân họ tồn tại vốn làmột sự mâu thuẫn và đấu tranh không ngừng giữa thiện – ác Lại có nhữngnhân vật không có khả năng thức tỉnh: Họ là những con người bị hận thù,phẫn nộ, đau khổ, xâm lấn hoàn toàn Họ đánh mất đi bản ngã của mình, họlàm tổn thương chính mình và những người xung quanh; họ gây ra những tội
ác khó lòng tha thứ
Nhân vật Hầu Nhìa Thò trong truyện ngắn Mèo đen của Đỗ Bích Thúy làvốn
là một người hiền lành, tốt tính nhưng hắn không thể thắng nỗi những cám dỗ
và bị “bóng tối” nuốt chửng trở thành một người nghiện ngập khiến gia đìnhtan nát Để có tiền, Thò bán đi mọi thứ có thể bán trong nhà, không ai có thểngăn cản Thò: “Bố mẹ đã từng đuổi theo Thò để cố giữ lại con bò, con dê,nhưng cuối cùng thì cũng đành để Thò dắt đi, vì lần nào Thò cũng rút con daogăm nhọn hoắt, dí vào cổ mình, dọa chết.Thì thôi vậy, mất bò mất dê cũngđược, còn hơn mất thằng con trai duy nhất trong nhà.”[44, tr 32] Thò đã từngquyết tâm bỏ thuốc vì “đứa gái” – người Thò muốn lấy làm vợ, Thò thậm chícòn chặt đứt hai ngón tay để thể hiện quyết tâm ấy Nhưng “đứa gái” vẫn bỏ
đi, và Thò vẫn vì cơn thèm thuốc mang đồ đi bán Con mèo đen người bạntinh thần của em gái hắn chính là đối tượng Thò sẽ đem bán Vì buộc quá