1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG LAO ĐỒNG ĐỐI VỚI VẬN ĐỘNG VIÊN THỂ THAO THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY .... Chính vì vậy, tác giả đã chọn “Giao kết
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN HÀ TRƯỜNG HẢI
GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG
ĐỐI VỚI VẬN ĐỘNG VIÊN THỂ THAO THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
HÀ NỘI, năm 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN HÀ TRƯỜNG HẢI
GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG
ĐỐI VỚI VẬN ĐỘNG VIÊN THỂ THAO THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thanh tất cả các môn học và đã hoàn thanh tất
cả các nghia vụ tài chính theo quy định của Học viện Khoa học xã hội
Vậy tôi viết lời cam đoan này đề nghị Học viện khoa học xã hội xem xét
để tôi có thể bảo vệ luận văn
Tôi xin chân thanh cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
NGUYỄN HÀ TRƯỜNG HẢI
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG LAO ĐỒNG ĐỐI VỚI VẬN ĐỘNG VIÊN THỂ THAO THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY 9
1.1 Khái quát chung về Hợp đồng lao động dành cho vận động viên 9
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, phân loại hợp đồng lao động 9
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm Hợp đồng lao động với vận động viên thể thao 18
1.2 Những vấn đề chung về giao kết Hợp đồng lao động đối với Vận động viên 25
1.2.1 Chủ thể giao kết Hợp đồng lao động 25
1.2.2 Nguyên tắc và trình tự giao kết Hợp đồng lao động 25
1.3 Những vấn đề chung về thực hiện hợp đồng lao động 32
1.3.1 Sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động 32
1.3.2 Tạm hoãn hợp đồng lao động 33
Chương 2: THỰC TIỄN THỰC HIỆN VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI VẬN ĐỘNG VIÊN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY 36
2.1 Thực tiễn thực hiện và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về giao kết hợp đồng lao động đối với vận động viên theo pháp luật Việt Nam hiện nay 36
2.1.1 Thực tiễn quy định của pháp luật về giao kết hợp đồng lao động đối với vận động viên 36
2.1.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về giao kết hợp đồng lao động đối với vận động viên theo pháp luật lao động Việt Nam hiện nay 48
Trang 52.2 Thực tiễn thực hiện và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thực hiện hợp đồng lao động đối với vận động viên theo pháp luật Việt Nam hiện nay 50
2.2.1 Thực tiễn thực hiện Hợp đồng lao động đối với vận động viên 50 2.2.2 Kiến nghị về thực hiện hợp đồng hợp đồng lao động đối với vận động viên 59
KẾT LUẬN 66 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLDS: Bộ luật dân sự
BHTN: Bảo hiểm tai nạn
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chăm sóc sức khỏe, tăng cường thể chất của nhân dân được coi là một nhiệm vụ quan trọng của Đảng và Chính phủ Vận động thể dục, thể thao là một biện pháp hiệu quả để tăng cường lực lượng sản xuất và lực lượng quốc phòng của nước nhà, đó chính là quan điểm của Đảng ta về phát triển sự nghiệp thể dục, thể thao Việt Nam và cũng là lời khuyến cáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với toàn dân ta trong lời kêu gọi toàn dân tập thể dục từ những ngày đầu tiên xây dựng nước Việt Nam dân chủ cộng hòa “Dân cường thì nước thịnh” Cho đến nay, Đảng và Nhà nước ta vẫn không ngừng quan tâm, chỉ đạo ngành thể dục, thể thao nước nhà nỗ lực phấn đấu thực hiện bằng được mục tiêu quan trọng này Phát triển mạnh thể dục, thể thao, kết hợp thể thao phong trào và thể thao thành tích cao, dân tộc và hiện đại Có chính sách và cơ chế phù hợp để bồi dưỡng và phát triển tài năng, đưa thể thao nước ta đạt vị trí cao ở khu vực, từng bước tiếp cận với châu lục và thế giới ở những bộ môn Việt Nam có ưu thế”
Việt Nam hiện đang là một đất nước có nền kinh tế công nghiệp hóa, hiện đại hóa Về mặt phát triển kinh tế mà chúng ta đang được chú trọng rất nhiều Tuy nhiên về mặt xã hội chúng ta cũng phải chú trọng về mặt phát triển con người Với một đất nước đang trong giai đoạn xây dựng kinh tế sẽ không chú trọng nhiều đến việc vui chơi giải trí cũng như là phát triển thể thao Nhưng Việt Nam đã làm được điều ngược lại chúng ta vẫn phát triển nền kinh tế như bình thường nhưng mà hiện nay chúng ta đã có được các câu lạc thể thao lớn nhỏ ở các địa phương Thể thao càng phát triển thì đòi hỏi phải có một nguồn vận động viên dòi dào cũng có nghĩa là cung cấp về sức lao động rất lớn cho
sự phát triển và hội nhập thể thao Vận động viên thể thao là một nghề được
Trang 8xem là tương đối đặc biệt trong xã hội bởi vì sự đặc thù về công việc của và môi trường lao động của các vận động viên.
Nói đến thể thao, nói đến các kỳ đại hội thể thao dù lớn hay nhỏ, trong nước hay ngoài nước thì vận động viên là nhân tố đặc biệt quan trọng tạo nên các trận tranh đấu đầy tính hấp dẫn Với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, thì hoạt động thể dục thể thao cũng có bước phát triển nhanh để hòa cùng nhịp sống hội nhập thể thao quốc tế Thể thao càng phát triển thì đòi hỏi phải có một nguồn vận động viên dồi dào cũng có nghĩa là cung cấp về sức lao động rất lớn cho sự phát triển và hội nhập thể thao Vận động viên thể thao là một nghề được xem là tương đối đặc biệt trong xã hội bởi vì sự đặc thù về công việc và môi trường lao động của các vận động viên Vì vậy, việc điều chỉnh của pháp luật đối với quan hệ này là rất cần thiết Quan hệ pháp luật này nhằm bảo vệ các vận động viên nói riêng và các nhà quản lý nói chung tránh các rủi ro pháp lý không đáng có nếu các bên có tranh chấp Quan hệ pháp luật này chính là các Hợp đồng lao động giữa các vận động viên và với các trung tâm hoặc câu lạc bộ
Với các giải đấu quan trọng nhất của thể thao Việt Nam trong năm 2019
là tập trung chuẩn bị để đạt thành tích cao nhất tại Đại hội thể thao Đông Nam
Á lần thứ 30 tại Philippin và nhất là Sea Game 31 do Việt Nam đăng cai tổ chức tại Hà Nội năm 2021 thì việc các vận động viên phải tích cực tập luyện và thi đấu cũng không tránh khỏi các vấn đề tranh chấp về Hợp đồng lao động
Từ những tranh chấp vận động viên giữa các đơn vị, câu lạc bộ đòi hỏi pháp luật lao động cần có chính sách kịp thời về nhóm đối tượng đặc biệt này nhằm ngăn ngừa và hạn chế các hành vi vi phạm về pháp luật lao động Tuy nhiên đánh giá một cách toàn diện thì Bộ Luật lao động năm 2012 chưa đề cập đến nhóm hợp đồng lao động cho vận động viên vẫn còn đó những hạn chế và vướng mắc trong quá trình vận hành của các trung tâm và câu lạc bộ hiện nay
Trang 9Chính vì vậy, tác giả đã chọn “Giao kết và thực hiện Hợp đồng lao động đối với vận động viên thể thao theo pháp luật Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu của mình với mong muốn những đóng góp ý kiến được ghi nhận và
cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật về Hợp đồng lao động đối với vận động viên thể thao
2 Tình hình nghiên cứu
Trong thời gian qua đã có một số công trình, bài viết về Hợp đồng lao động Tuy nhiên các công trình nghiên cứu đó chỉ tập trung vào các khía cạnh chung chung trong quan hệ lao động mà không đề cập chi tiết và cụ thể về các khía cạnh đặc thù cho vận động viên Chính vì lý do đó, đề tài này là một bước đột phá mang tính cụ thể đích danh về giao kết và thực hiện Hợp đồng lao động dành cho vận động viên Đặc biệt tại thời điểm hiện nay khi mà BLLĐ 2012 đang có dự thảo lấy ý kiến và sửa đổi BLLĐ 2012, đây chính là tiền đề và bước ngoặc cực tốt để đề xuất hoàn thiện và đảm bảo các quy định của BLLĐ áp dụng vào thực tiễn tốt hơn
Về hệ thống giáo trình: Giáo trình “Luật lao động Việt Nam” của trường Đại học Luật Hà Nội (2005, 2008, 2012, 2018),…
Về một số bài viết được đăng trên báo và tạp chí như: “Bàn về hợp đồng làm việc của viên chức” ngày 27/10/2018 của ThS Nguyễn Thị Thu Hương - Tạp chí Dân chủ và Pháp luật; “Giao kết hợp đồng lao động theo Bộ luật Lao động năm 2012 từ quy định đến nhận thức và thực tiễn”, Tạp chí Luật học số 03/2013 của tác giả Nguyễn Hữu Chí và Pháp luật lao động trong thể thao chuyên nghiệp của Phạm Thị Thúy Nga và Chu Thị Thanh An
Về hệ thống luận án, luận văn có các bài viết nghiên cứu: Luận văn thạc
sĩ Luật Kinh tế: “Pháp luật về giao kết hợp đồng lao động – Thực trạng và một
số kiến nghị”, (2015) của tác giả Hồ Thị Hồng Lam; Luận văn thạc sĩ luật học:
“Giao kết hợp đồng lao động theo pháp luật lao động Việt Nam từ thực tiễn các
Trang 10doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại thành phố Đà Nẵng”, (2018) của tác giả Lê Duy Lương, Luận văn thạc sĩ luật học: “Thực tiễn áp dụng pháp luật hợp đồng lao động tại các doanh nghiệp trong khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hưng Yên”, (2014) của tác giả Lê Thị Nga…
Những công trình nghiên cứu nêu trên hết sức có giá trị cho bài viết của tác giả về vấn đề giao kết Hợp đồng lao động Nội dung mà các công trình đó
đã đề cập tập trung về hợp đồng lao động nói chung và về giao kết Hợp đồng lao động trong các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay có nhiều nét tương đồng và thống nhất
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu này nhằm cung cấp những bằng chứng về các rào cản pháp
lý và rào cản thực tiễn hiện nay đối với vận động viên đang tập luyện và thi đấu tại các trung tâm huấn luyện thể dục thể thao hoặc câu lạc bộ Nghiên cứu cũng tìm kiếm và nêu lên các điểm mà vận động viên được hưởng lợi từ quan hệ pháp luật lao động Căn cứ vào các bất cập đó, tác giả đưa ra các đề xuất cập nhật nhằm hoàn thiện thêm về Hợp đồng lao động dành cho các vận động viên
Từ mục tiêu chung, nghiên cứu này sẽ gồm các mục tiêu cụ thể như sau: Thứ nhất: Nghiên cứu lại toàn bộ Bộ luật lao động 2012 và Dự thảo BLLĐ 2012 sửa đổi bổ sung để hiểu rõ và đúng tinh hoa nội hàm của Pháp luật
Trang 11Nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động, chuyển nhượng hợp đồng lao động hoặc chấm dứt Hợp đồng lao động dành cho các vận động viên
Thứ ba: căn cứ vào tình hình thực tế những vấn đề phát sinh tranh chấp
về Hợp đồng lao động giữa vận động viên và các trung tâm huấn luyện hoặc câu lạc bộ mà vận động viên đang tham gia tập luyện và thi đấu bị vướng mắc
ở điểm nào? Mức độ tuân thủ về Pháp luật lao động của các trung tâm huấn luyện hoặc câu lạc bộ ra sao Vấn đề nào đạt được, vấn đề nào còn vướng mắc hoặc đang diễn ra mà chưa có quan hệ pháp luật về lao động điều chỉnh thì đưa
ra các giải pháp và đề xuất để hoàn thiện nhằm đảm bảo hệ thống pháp luật lao động dành cho các vận động viên
Để đạt được các mục đích nghiên cứu cơ bản trên, luận văn xác định những nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:
- Phân tích các khái niệm và đặc điểm của hợp đồng lao động, vận động viên
- Phân tích khái niệm và bản chất của hợp đồng lao động dành cho vận động viên, nội dung của vợp đồng lao động dành cho vận động viên
- Phân tích khái niệm, đặc điểm và những nội dung cơ bản của hợp đồng lao động dành cho vận động viên
- Đánh giá thực trạng pháp luật về việc thực hiện hợp đồng lao động dành cho vận động viên nhằm nhận diện những mặt tích cực, những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của nó
- Đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện chế định pháp luật việc thực hiện hợp đồng lao động dành cho vận động viên lý giải cơ sở của việc hình thành các nguyên tắc giao kết và thực hiện hợp đồng lao động dành cho vận động viên
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 12Đối tượng của luận văn chính là hình thức, nội dung, quy định về thực hiện, chấm dứt đối với vận động viên thể thao theo pháp luật Việt Nam hiện nay
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Xuất phát điểm là từ các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử theo quan điểm khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin: Tồn tại xã hội là yếu tố quyết định ý thức xã hội, đồng thời là giữa chúng có mối liên hệ biện chứng Trong kiến trúc thượng tầng xã hội thì pháp luật là một bộ phận của nó, được hình thành từ một cơ sở hạ tầng phù hợp Pháp luật được xem là tấm gương phản chiếu xã hội, còn về phần mình, cơ sở thực tiễn của pháp luật được xem là xã hội Về lý thuyết và thực tiễn cho thấy, các quy định của pháp luật phù hợp với sự phát triển của các điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội thì mới
có tính khả thi trong quá trình thực hiện và áp dụng pháp luật; từ đó tạo cơ sở cho xã hội ổn định và phát triển
Ngoài ra, trong quá trình thực hiện đề tài này, tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp lịch sử được sử dụng khi nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật lao động về hòa giải tranh chấp lao động cá nhân qua các thời kỳ ở Việt Nam;
Phương pháp phân tích, phương pháp phân tích này đã được tôi sử dụng xuyên suốt trong toàn bộ luận văn Phương pháp này được áp dụng để làm rõ những quy định cụ thể liên quan đến thương lượng hòa giải tranh chấp lao động cá nhân;
Phương pháp tổng hợp cũng được sử dụng xuyên suốt trong trong toàn
bộ luận văn Dựa trên cơ sở các tài liệu mà tôi đã phân tích, so sánh, tôi đã sử dụng phương pháp này để tổng hợp những vấn đề cần phải nêu ra, từ đó rút ra những nhận định, kiến nghị, những bổ sung cần thiết nhằm hoàn thiện các quy
Trang 13định của pháp luật Việt Nam hiện hành về thực trạng việc giao kết Hợp đồng lao động với Vận động viên thể thao tại Việt Nam;
Phương pháp so sánh được thực hiện nhằm tìm hiểu quy định của pháp luật hiện hành với hệ thống pháp luật trước đây ở Việt Nam cũng như pháp luật của một số nước khác quy định về thương lượng, hòa giải tranh chấp lao động
cá nhân Qua đó, phân tích nét tương đồng và đặc thù của pháp luật Việt Nam quy định về thương lượng, hòa giải tranh chấp lao động cá nhân, phù hợp với điều kiện về kinh tế, văn hóa, xã hội và tập quán của Việt Nam;
Phương pháp thống kê đã được thực hiện xuyên suốt trong quá trình khảo sát thực tiễn việc áp dụng pháp luật, với các số liệu cụ thể giải quyết các vấn đề về thương lượng, hòa giải tranh chấp lao động cá nhân Tìm ra mối liên
hệ giữa các quy định của pháp luật với thực tiễn áp dụng đã phù hợp hay chưa? Các lý do? Từ đó mà xem xét nội dung quy định của pháp luật về thương lượng, hòa giải tranh chấp lao động cá nhân, với thực tiễn của đời sống xã hội nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật về vấn đề này
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần hoàn thiện một số vấn đề lý luận liên quan đến pháp luật về việc giao kết hợp đồng lao động dành cho vận động viên tại Việt Nam
Ý nghĩa thực tiễn
Những phân tích, đánh giá kết quả thực trạng, hạn chế, nguyên nhân, những kiến nghị, đề xuất của Luận văn có thể nghiên cứu vận dụng vào thực tiễn, góp phần bảo đảm hoàn thiện và thực thi pháp luật về việc gia kết hợp đồng lao động dành cho vận động viên tại Việt Nam Bên cạnh đó, luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, chuyên khảo trong các trường đại học, cao đẳng
Trang 147 Kết cấu của luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu và danh mục tài liệu tham khảo ra còn lại được chia kết cấu thành hai chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về giao kết và thực hiện hợp đồng lao động dành cho vận động viên thể thao
Chương 2: Thực tiễn thực hiện và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng lao động đối với vận động viên theo pháp luật Việt
Nam hiện nay
Trang 15Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI VẬN ĐỘNG VIÊN THỂ THAO THEO
PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY 1.1 Khái quát chung về hợp đồng lao động dành cho vận động viên
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, phân loại hợp đồng lao động
1.1.1.1 Khái niệm về hợp đồng lao động
Trong quan hệ xã hội thì hợp đồng được xem là một trong những hình thức pháp lý cơ bản Để xã hội có thể tồn tại và phát triển một cách tốt nhất, các chủ thể có thể thực hiện việc trao đổi các lợi ích của mình thông qua sự thỏa thuận giữa các bên, phải dựa trên các nguyên tắc tự do, tự nguyện, bình
đẳng và được pháp luật bảo vệ “Hợp đồng” được định danh bằng thuật ngữ
pháp lý dựa trên các hiện tượng đó
Trong lĩnh vực lao động thì Bộ luật Lao động được xác định là "luật gốc", Bộ luật Lao động đã đề cập một cách đầy đủ về các nội dung liên quan đến việc quản lý, sử dụng lao động và làm việc của người lao động, quan hệ lao động và các quan hệ xã hội khác có liên quan đến quan hệ lao động cũng được điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn như: hợp đồng lao động, thoả ước lao động tập thể, tiền lương, bảo hiểm xã hội, đình công,… đã được điều chỉnh hợp lý
Trong quá trình thực hiện, hệ thống pháp luật lao động tiếp tục được sửa đổi và hoàn thiện cho phù hợp với quá trình phát triển của xã hội Xét trên tổng thể, Bộ luật Lao động năm 2012 đã quy định tiêu chuẩn lao động; quyền, nghĩa
vụ, trách nhiệm của NLĐ, người sử dụng lao động, tổ chức đại diện của NLĐ,
tổ chức đại diện người sử dụng lao động trong QHLĐ và các quan hệ khác liên quan trực tiếp đến QHLĐ; quản lý nhà nước về lao động, với những nội dung chủ yếu sau: Tiếp tục khẳng định quyền tự do tìm việc, lựa chọn việc làm và
Trang 16nơi làm việc của NLĐ; quyền được thương lượng thỏa thuận với người sử dụng lao động về những vấn đề liên quan đến lợi ích của mình trong quá trình làm việc người sử dụng lao động muốn sử dụng NLĐ làm việc lâu dài cần phải có chính sách đãi ngộ phù hợp và có sức cạnh tranh cao - Quy định tại chương III , mục 1 Giao kết hợp đồng lao động, Điều 15 Luật số: 10/2012/QH13 ban hành
ngày 18 /03/2012 và có hiệu lực ngày 01/05/2013 có ghi “Hợp đồng lao động
là sự thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm
có trả lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động.” [23, tr.6]
Giao kết hợp đồng lao động là quá trình người lao động và người sử dụng lao động bày tỏ ý chí nhằm đi đến việc xác lập quan hệ, thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng lao động Trên cơ sở tuân theo nguyên tắc do pháp luật quy định về nguyên tắc giao kết, điều kiện, chủ thể, hình thức, nội dung
Tự do giao kết hợp đồng, nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội Nội dung của nguyên tắc thể hiện hai vế có tầm quan trọng hàng đầu trong giao kết hợp đồng: tự do nhưng không được trái với các đòi hỏi mà pháp luật quy định: không được trái pháp luật, trái đạo đức xã hội
Giao kết hợp đồng được bắt đầu bằng việc một bên đề nghị với bên kia giao kết hợp đồng và đồng thời thường kèm theo ngay nội dung chủ yếu của hợp đồng và thời hạn trả lời Trong trường hợp đó, người đề nghị không được thay đổi, mời người thứ ba trong thời hạn chờ trả lời và phải chịu trách nhiệm
về lời đề nghị của mình
Về các nội dung cụ thể của hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quá trình tham gia vào quan hệ lao động có thể thấy là sự thỏa thuận một cách bình đẳng, tự nguyện giữa người lao động và người sử dụng lao động Như vậy hợp đồng lao động của chủ thể là người lao động có nhu cầu về việc
Trang 17làm và người sử dụng lao động có nhu cầu thuê mướn sức lao động có thể xem
là sự thỏa thuận trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng Nhưng người lao động bắt buộc chịu sự quản lý của người sử dụng lao động, cam kết làm hoặc làm một
số công việc theo thỏa thuận để được hưởng lương và thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo thỏa thuận
Điều kiện để tham gia vào quan hệ lao động là người lao động phải là người từ đủ 15 tuổi trở lên và có có khả năng lao động Đối với một số trường hợp, pháp luật cho phép sử dụng lao động là người dưới 15 tuổi nhưng khi giao kết hợp đồng lao động phải có sự đồng ý bằng văn bản của cha, mẹ hoặc người giám hộ hợp pháp của người lao động đó
Trong các quan hệ lao động nếu có yếu tố nước ngoài, điều kiện chủ thể của NLĐ được pháp luật quy định chặt chẽ hơn, phải thỏa mãn các điều kiện
để được cấp giấy phép lao động cụ thể: “Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ
theo quy định của pháp luật; có sức khỏe phù hợp với yêu cầu công việc; là nhà quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia hoặc lao động kỹ thuật; không phải là người phạm tội hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài; được chấp thuận bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc sử dụng người lao động nước ngoài” [23, tr.48]
Trong nền kinh tế thị trường, Hiến pháp đã ghi nhận quyền tự do kinh doanh của các thành phần kinh tế, do vậy hầu như mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức đều có thể trở thành người sử dụng lao động nếu có thuê mướn lao động Theo quy định tại khoản 2 Điều 3 BLLĐ, đối với người sử dụng lao động là các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, pháp luật lao động không quy định trực tiếp điều kiện cụ thể Điều kiện chủ thể và thẩm quyền giao kết Hợp đồng lao động của các chủ thể này sẽ do các luật khác quy định
Trang 18Đối với người sử dụng lao động là cá nhân thì pháp luật lao động quy định trực
tiếp về điều kiện chủ thể
1.1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng lao động
Thứ nhất, trong hợp đồng lao động phải có sự phụ thuộc về pháp lý giữa NLĐ và người sử dụng lao động
Hợp đồng lao động đã taọ ra sự phụ thuộc pháp lý giữa người lao động
và người sử dụng lao động Sự phụ thuộc mà được pháp luật thừa nhận và sự phụ thuộc này phải mang tính khách quan tất yếu khi người lao động tham gia vào quan hệ lao động đó được hiểu là sự phụ thuộc pháp lý Đây được coi là đặc trưng tiêu biểu nhất của hợp đồng lao động để phân biệt hợp đồng lao động với hợp đồng dân sự, thương mại được nhiều các quốc gia thừa nhận, so sánh với tất cả các loại hợp đồng khác, duy nhất hợp đồng lao động có đặc trưng này Trong quá trình tham gia vào quan hệ lao động, mỗi người lao động thực hiện nghĩa vụ với tính cá nhân đơn lẻ nhưng quá trình lao động lại mang tính
xã hội hóa cao, hiệu quả cuối cùng phụ thuộc vào sự hợp tác của tất cả các cá nhân và sự điều hành của người sử dụng lao động (người sử dụng lao động có quyền ra các mệnh lệnh, chỉ thị còn người lao động có nghĩa vụ thực hiện) Khi người sử dụng lao động phải bỏ tiền ra để mua sức lao động đương nhiên họ phải tính toán về kết quả và hiệu suất giải quyết công việc nên họ có quyền quyết định các cách thức làm việc, quản lý, giám sát, điều hành kinh doanh trong quá trình sử dụng lao động để đạt hiệu quả và lợi ích cao nhất Hơn thế nữa người sử dụng lao động có quyền thay đổi địa điểm kinh doanh, giải thể,
tổ chức lại, yêu cầu phá sản dẫn đến sự thay đổi về lao động Quyền này đã được pháp luật công nhận và trao lại cho người sử dụng lao động và quyền này
là một quyền đặc thù của người sử dụng lao động trong quan hệ pháp luật lao động
Trang 19Ở đây, vai trò của pháp luật hợp đồng lao động rất quan trọng Một mặt, pháp luật đảm bảo và tôn trọng quyền quản lý của người sử dụng lao động Mặt khác do người lao động cung ứng sức lao động, sự điều phối của người sử dụng lao động có sự tác động lớn đến sức khỏe, tính mạng, danh dự nhân phẩm của người lao động, cho nên pháp luật các nước thường có các quy định ràng buộc, kiểm soát sự quản lý của người sử dụng lao động trong khuôn khổ và tương quan với sự bình đẳng có tính bản chất của quan hệ lao động
Thứ hai, việc làm có trả lương chính là đối tượng của hợp đồng lao động
Hợp đồng lao động không giống với các loại hợp đồng khác, nó là một mối quan hệ mua bán hàng hàng hóa đặc biệt Hàng hóa đặc biệt ở đây chính
là sức lao động Loại hàng hóa đặc biệt này không thể tách rời với người lao động mà nó luôn tồn tại gắn liền với chính cơ thể của người lao động bao gồm
cả sức lực và trí lực Có thể nói “sức lao động” Là một loại hàng hóa mang tính trừu tượng nó chỉ có thể chuyển giao từ “bên bán” sang “bên mua” thông qua việc thực hiện một công việc nào đó cho bên mua Vì vậy, việc mua hàng hóa của người sử dụng lao động ở đây chính là sức lao động thì sẽ được hiểu như người sử dụng lao động đang sở hữu một quá trình lao động của người lao động được biểu thị thông qua trình độ, ý thức kỹ luật, thời gian làm việc,… để thực hiện được yêu cầu của người sử dụng lao động thì người lao động cần phải cung ứng chính sức lao động của chính mình đó chính là trí lực và thể lực thông qua khoảng thời gian được xác định Khi các bên thỏa thuận về công việc phải làm, các bên đã tính toán cân nhắc về thể lực và trí lực của người lao động để thực hiện công việc đó Khi người lao động đã cung ứng sức lao động để làm một công việc cho người sử dụng lao động như đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động, họ sẽ được nhận một khoản tiền mà người sử dụng lao động và người lao động đã thỏa thuận trước khi tiến hành giao kết hợp đồng lao động Khoản tiền
Trang 20đó được gọi là tiền lương Tiền lương này không phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của người sử dụng lao động
Thứ ba, người lao động phải tự mình thực hiện công việc trong quan
hệ hợp đồng lao động
Đặc điểm này được thừa nhận rộng rãi trong khoa học pháp lý, xuất phát
từ bản chất của QHLĐ: NLĐ phải trực tiếp thực hiện công việc của mình mà không được tự ý chuyển giao cho người khác mà không được sự đồng ý của người sử dụng lao động Trong QHLĐ, “Theo hợp đồng lao động, người sử dụng lao động không chỉ chú tâm đến lao động quá khứ mà họ còn quan tâm đến lao động sống, nghia là lao động đang có, lao động đang diễn ra” Trong quan hệ lao động khi người sử dụng lao động thuê mướn NLĐ, họ không thể chỉ chú trọng vào trình độ chuyên môn hay khả năng giải quyết công việc của NLĐ mà họ còn xét đến nhiều khía cạnh khác nhau như: đạo đức, phẩm chất,
ý thức,… Vì các yếu tố luôn ở mỗi người sẽ tồn tại một cách khác nhau tức là nhân thân của họ khác nhau nên người lao động bắt buộc phải trực tiếp thực hiện các công việc cũng như nghĩa vụ của mình đã cam kết trong hợp đồng lao động và không được chuyển giao cho người thứ ba mà không có sự cho phép của người sử dụng lao động Việc tự mình thực hiện các công việc và nghĩa vụ được giao chính là cơ sở để NLĐ được đảm bảo hưởng các quyền lợi của mình
từ người sử dụng lao động theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động đã ký kết như: BHXH, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp, khen thưởng, kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất và các chế độ khác như nghỉ hàng năm, nghỉ lễ tết, tiền thưởng, quyền hưởng chế độ hưu trí, trợ cấp Theo quy định tại điều 30 BLLĐ năm
2012, “Công việc theo hợp đồng lao động phải do người lao động đã giao kết hợp đồng thực hiện” [23, tr.9] Tuy nhiên trong trường hợp người sử dụng lao
động đồng ý thì NLĐ có thể nhờ người khác làm thay Ngoại lệ này nhằm bảo
Trang 21đảm yêu cầu linh hoạt của quan hệ lao động và phù hợp với nguyên tắc tự định đoạt của các bên trong quan hệ lao động
Thứ tư, sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng lao động thường bị hạn chế bởi những giới hạn pháp lý nhất định trong hợp đồng lao động
Với tất cả các quan hệ hợp đồng, sự thỏa thuận của các bên bao giờ cũng phải luôn đảm bảo các nguyên tắc chung đó là: bình đẳng, tự do, tự nguyện, không trái pháp luật… Trong quan hệ hợp đồng lao động các bên tham gia cũng phải đảm bảo và tuân thủ nguyên tắc chung này Với hợp đồng lao động, sự thỏa thuận luôn bị chi phối bởi nguyên tắc quyền lợi của NLĐ là tối đa và nghĩa
vụ là tối thiểu và các khuôn khổ, khống chế bởi những ngưỡng pháp lý nhất định của BLLĐ, TƯLĐTT Việc quy định giới hạn tối thiểu về quyền của NLĐ mà sự thỏa thuận không được thấp hơn chỉ được cao hơn còn giới hạn tối
đa của nghĩa vụ thì lại không được cao hơn chỉ được thấp hơn Nguyên tắc bất
di bất dịch này được nhận thấy trong tất cả các điều khoản của BLLĐ 2012 và hiện nay là BLLĐ năm 2019 dự thảo Có sự khác nhau là trong các quan hệ hợp đồng khác, khung pháp lý cho sự thỏa thuận rất rộng, đảm bảo tối đa quyền định đoạt của các bên; còn trong quan hệ hợp đồng lao động lại rất đặc biệt, quyền tự do định đoạt luôn bị chi phối bởi những giới hạn tương đối chặt chẽ
Thứ năm, hợp đồng lao động được thực hiện liên tục trong thời gian xác định hay không xác định
Trong giao kết hợp đồng lao động các bên bắt buộc phải thỏa thuận thời hạn của hợp đồng cũng như thời gian làm việc của người lao động Thời hạn của hợp đồng lao động có thể sẽ được xác định từ ngày hợp đồng lao động có hiệu lực đến một thời điểm nào đó đã thỏa thuận song cũng có thể không xác định trước thời hạn kết thúc Vì vậy người lao động bắt buộc phải thực hiện nghĩa vụ lao động của mình một cách liên tục theo thời gian làm việc và trong một khoảng thời gian nhất định hay không xác định đã thỏa thuận trong hợp
Trang 22đồng lao động Căn cứ vào từng công việc sẽ có những tính chất và đặc thù khác nhau để có thể lựa chọn loại hợp đồng lao động
1.1.1.3 Phân loại hợp đồng lao động
Việc xác định chính xác hợp đồng lao động sẽ có ý nghĩa lớn đối với hoạt động giải quyết tranh chấp lao động, đặc biệt là tranh chấp liên quan đến đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động Bởi vì việc xác định đúng loại hợp đồng lao động là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động giữa người sử dụng lao động với người lao động đã hợp pháp hay chưa về thời hạn báo trước, để từ đó giải quyết đúng các quyền lợi hợp pháp của mỗi bên Thời hạn hợp đồng lao động là khoảng thời gian mà hợp đồng lao động phát sinh hiệu lực, ràng buộc trách nhiệm pháp
lý đối với các bên trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ đã được xác định trong nội dung của hợp đồng lao động Theo quy định tại Điều 22 Bộ luật lao
động 2012, Hợp đồng lao động được giao kết theo một trong ba loại sau:
Thứ nhất, Hợp đồng lao động không xác định thời hạn
“Hợp đồng lao động không xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng” [23, tr.7]
Đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn này, thì các bên sẽ không xác định trước được thời điểm chấm dứt hợp đồng, nên nó chỉ chấm dứt được dựa vào các trường hợp được pháp luật quy định hoặc một bên đơn phương chấm dứt hợp đồng hoặc hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng Hợp đồng lao động này áp dụng cho những công việc không xác định thời điểm kết thúc hoặc những công việc có thời hạn trên 36 tháng và trường hợp tuyển dụng vào biên chế nhà nước trước đây nay chuyển sang ký kết hợp đồng lao động Điều đó cũng có nghĩa rằng, hợp đồng này thực hiện từ khi bắt đầu đến khi có một sự kiện làm chấm dứt quan hệ giữa các bên Ưu điểm của nó là tạo ra một
Trang 23môi trường tự do, các chủ thể có thể chủ động chấm dứt hợp đồng bất cứ khi nào với điều kiện phải tuân thủ đúng về thời hạn báo trước Đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn thì hình thức của hợp đồng là phải thành lập bằng văn bản
Thứ hai, Hợp đồng lao động xác định thời hạn
“Hợp đồng lao động xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến 36 tháng.” [23, tr.7]
Đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn này, thì các bên sẽ xác định trước được thời điểm chấm dứt hợp đồng khi giao kết hợp đồng lao động Do
đó, đến thời điểm hết hạn hợp đồng mà hai bên đã thỏa thuận thì hợp đồng lao động sẽ chấm dứt Tuy nhiên, nếu hết hạn hợp đồng mà NLĐ vẫn tiếp tục làm việc thì hai bên phải xem xét và giao kết hợp đồng lao động mới Nhưng theo quy định của pháp luật thì hai bên chỉ được giao kết tối đa hai lần liên tiếp loại hợp đồng lao động xác định thời hạn
Thứ ba, Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng [23, tr.7]
Đây là một loại hợp đồng có xác định thời hạn nhưng chỉ được giao kết trong thời hạn ngắn (dưới 12 tháng) Do thời hạn ngắn nên loại hợp đồng này không mang tính chất ổn định Vì vậy pháp luật quy định chỉ được áp dụng hợp đồng lao động mùa vụ này cho những công việc có tính chất mùa vụ hoặc những công việc tạm thời trong khoảng thời gian dưới 12 tháng
Thứ tư, chuyển hóa loại hợp đồng lao động
Chuyển hóa loại hợp đồng lao động là trường hợp mà loại hợp đồng lao động các bên đã giao kết sẽ tự động chuyển hóa thành loại hợp đồng lao động khác theo quy định của pháp luật mà không phụ thuộc vào ý chí của các bên
Trang 24Theo quy định tại Khoản 2 Điều 22 BLLĐ thì “Khi hợp đồng lao động xác định thời hạn và hợp đồng lao động mùa vụ này hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hợp đồng lao động hết hạn, hai bên phải ký kết hợp đồng lao động mới; nếu không ký kết hợp đồng lao động mới thì hợp đồng lao động xác định thời hạn này trở thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn và hợp đồng lao động theo mùa vụ này trở thành hợp đồng lao động xác định thời hạn với thời hạn là 24 tháng.” [23, tr.7]
Tuy nhiên có hai đối tượng sau không áp dụng quy định về loại hợp đồng tại Điều 22 BLLĐ
• Trường hợp thứ nhất, được áp dụng đối với giám đốc doanh nghiệp 100% vốn của nhà nước quy định tại Điều 6 Nghị định số 44/2013/NĐ-CP:
“Thời hạn của hợp đồng lao động do hai bên xác định trong khoảng thời gian
từ đủ 12 tháng đến 36 tháng.” [9, tr.5]
• Trường hợp thứ hai, được quy định tại Khoản 2 Điều 180 BLLĐ:
“Thời hạn của hợp đồng lao động đối với lao động là người giúp việc gia đình
do hai bên thỏa thuận.” [23, tr.50]
Đối với từng loại hợp đồng thì thời hạn, quyền và nghĩa vụ giữa người
sử dụng lao động với người lao động sẽ khác nhau Trong đó sự khác nhau giữa các loại hợp đồng lao động đó chính là trách nhiệm đóng thuế của người lao động, trách nhiệm tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế của người sử dụng lao động và người lao động hay cách thức chấm dứt hợp đồng lao động theo mùa vụ Tùy thuộc vào tính chất công việc mà người sử dụng và người lao động
có thể lựa chọn hợp đồng lao động sao cho phù hợp nhất
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm hợp đồng lao động với vận động viên thể thao
1.1.2.1 Khái niệm về vận động viên thể thao
Trang 25Thể thao ngày nay đang trở mình tiến lên chuyên nghiệp một cách mạnh
mẽ và trở thành một nghề nghiệp được xã hội công nhận, vận động viên thể thao hiển nhiên được coi là người lao động thật sự, lao động cật lực Khi đề cập đến vận động viên, ông Vương Bích Thắng, Tổng cục trưởng tổng cục Thể dục Thể Thao cho biết nghề vận động viên cũng giống như những ngành nghề khác [16]
Theo Wikipedia thì vận động viên là những người được đào tạo để thi đấu các môn thể thao đòi hỏi sức bền, sức khỏe và tốc độ Vận động viên có thể là người thi đấu thể thao chuyên nghiệp hoặc nghiệp dư [1]
Theo tác giả Nguyễn Thị Thảo thì vận động viên được cô miêu tả trong cuộc thi viết Nghề của tôi như sau: Chúng tôi thường nói với nhau rằng, nghề vận động viên là nghề của đam mê và nhiệt huyết, thấm đẫm nước mắt và những nỗi đau về thể xác, những đôi chân bầm tím vì các đòn tấn công, cũng như sự đau đớn khi gặp phải chấn thương phải nằm viện điều trị và chờ tháng ngày dài đằng đẵng để mổ, vì với môn võ chấn thương là người bạn đồng hành và không thể tránh khỏi trong đời vận động viên [26]
Ngày 25 tháng 9 năm 2000, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành pháp lệnh về Thể dục thể thao và ngày 29 tháng 11 năm 2006, Quốc hội đã ban hành Luật Thể dục thể thao và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2007 (được sửa đổi, bổ sung ngày 14 tháng 6 năm 2018 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2019), vận động viên phải thỏa các điều kiện sau đây:
Thứ nhất: là công dân Việt Nam
Thứ hai: có trình độ chuyên môn đáp ứng yêu cầu tuyển chọn của ban
huấn luyện
Thứ ba: có phẩm chất đạo đức tốt
Đặc biệt đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài có đủ các tiêu chuẩn quy định các điều kiện nêu trên thì cũng có thể được tuyển vào đội tuyển
Trang 26quốc gia phù hợp với pháp luật Việt Nam và quy định của các tổ chức thể thao quốc tế
Như vậy, vận động viên có thể được hiểu là người có trình độ chuyên môn về thể thao và đáp ứng được yêu cầu tuyển chọn của ban huấn luyện, có phẩm chất đạo đức tốt
Ngoài ra đối với vận động viên là người nước ngoài đối với một số môn
mà giải đó ban tổ chức cho phép người vận động viên nước ngoài tham gia (ví
dụ như giải bóng đá, bóng chuyền, xe đạp hiện nay tại Việt Nam) thì các vận động viên đó phải tuân thủ thêm các loại giấy tờ về giấy chứng nhận chuyển nhượng quốc tế bản gốc (ITC), giấy phép lao động do cơ quan lao động cấp tỉnh nơi có trụ sở của câu lạc bộ [23, tr48]
1.1.2.2 Khái niệm hợp đồng lao động với vận động viên
Pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng lao động nói chung và giao kết và thực hiện hợp đồng lao động đối với vận động viên nói riêng là do Bộ Luật lao động điều chỉnh Do đó, nguồn của giao kết và thực hiện hợp đồng lao động là một bộ phận của Luật lao động Nguồn của Luật lao động là hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành đảm bảo thực hiện điều chỉnh các quan hệ xã hội về lao động và các quan hệ xã hội có liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động Còn nguồn chủ yếu của luật lao động chỉ bao gồm các văn bản luật và các văn bản dưới luật
Hợp đồng lao động với vận động viên là sự thỏa thuận trên tinh thần bình đẳng và tự nguyện giữa vận động viên và người sử dụng lao động về các nội dung cụ thể trong hợp đồng lao động, quyền và nghĩa vụ của các bên trong quá trình duy trì quan hệ lao động Như vậy có thể xem hợp đồng lao động là sự thỏa thuận trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng của chủ thể là vận động viên có nhu cầu về tập luyện, thi đấu và người sử dụng lao động có nhu cầu đào tạo, huấn luyện và tổ chức thi đấu Trong đó vận động viên chịu sự quản lý của người sử
Trang 27dụng lao động, cam kết tập huấn theo các chương trình đảo tạo, thi đấu căn cứ theo kế hoạch huấn luyện, thi đấu của trưởng bộ môn, ban chuyên môn và giáo
án của huấn luyện viên trong thời gian tập luyện và thi đấu theo quy định hưởng
lương, các chế độ và thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo thỏa thuận
Khái niệm về hợp đồng lao động với vận động viên thể thao qua mỗi thời điểm khác nhau nhưng có một điểm chung là để thiết lập quan hệ lao động giữa vận động viên với người sử dụng lao động, là phải có một hình thức hình thức
đó chính là hợp đồng lao động để làm phát sinh mối quan hệ giữa hai bên chủ thể của quan hệ lao động Có thể hiểu hợp đồng lao động với vận động viên thể thao cũng là một loại hợp đồng dân sự đặc biệt, mang những đặc điểm nói chung của hợp đồng đó là sự tự do, tự nguyện và bình đẳng của các chủ thể trong quan hệ, là sự thỏa thuận giữa một bên là vận động viên có nhu cầu về tập luyện, thi đấu, còn bên kia là người sử dụng lao động có nhu đào tạo, huấn luyện và tổ chức thi đấu Trong đó vận động viên không phân biệt giới tính và quốc tịch, cam kết làm một công việc cho người sử dụng lao động, không phân biệt là thể nhân hoặc pháp nhân, công pháp hay tư pháp, bằng cách tự nguyện đặt hoạt động nghề nghiệp của mình dưới quyền quản lý của người sử sụng lao động để đổi lấy một số tiền công lao động gọi là tiền lương
1.1.2.3 Đặc điểm hợp đồng lao động với vận động viên thể thao
Như đã trình bày ở phần khái niệm vận động viên, hợp đồng lao động với vận động viên là một hợp đồng đặc thù dành cho vận động viên nên có các điểm đặc thù như sau:
Thứ nhất: Một bên chủ thể của hợp đồng lao động luôn là các cơ sở
thể thao điều 54 Luật Thể dục, thể thao Cơ sở thể thao (“CSTT”) bao gồm:
Trung tâm đào tạo, huấn luyện vận động viên thể thao;
Trung tâm hoạt động thể thao;
Cơ sở dịch vụ hoạt động thể thao;
Trang 28 Câu lạc bộ thể thao chuyên nghiệp;
Trường năng khiếu thể thao
Những điều kiện trên đây không những góp phần hạn chế, loại trừ những
cơ sở thể thao không đủ tiêu chuẩn hoạt động trên thị trường thể thao mà còn góp phần làm rõ các quan hệ thể thao Ngoài ra, khi cơ sở thể thao hội đủ các điều kiện trên sẽ góp phần bảo vệ lợi ích hợp pháp của CSTT và vận động viên,
là căn cứ để các thẩm phán, các trọng tài viên (các trọng tài viên thể thao) tiến hành thẩm định và đánh giá vấn đề hiệu lực của hợp đồng lao động với vận động viên
Thứ hai: Hợp đồng lao động với vận động viên có thể có sự tham gia của người đại diện
Đại diện thể thao có vai trò có giá trị trong việc đảm bảo và đàm phán Hợp đồng lao động cho các vận động viên chuyên nghiệp Đại diện thể thao có thể là các luật sư hoặc là các cá nhân đại diện Những người này tùy bộ môn yêu cầu phải được được đào tạo và có chứng chỉ hành nghề như bộ môn như bóng đá Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, việc thuê người đại diện là không bắt buộc
để đảm bảo các giao dịch cho vận động viên đó Một số vận động viên không muốn thuê người đại diện vì nhiều lý do trong đó có thể đến vấn đề trả thù lao hoặc các chi phí khác có liên quan
Thứ ba: Hợp đồng lao động với vận động viên phải luôn được ký kết dưới hình thức văn bản
Căn cứ theo Điều 45 Luật thể dục thể thao quy định: “ Vận động viên chuyên nghiệp phải ký hợp đồng lao động với câu lạc bộ thể thao chuyên nghiệp; quyền và nghĩa vụ của vận động viên chuyên nghiệp được thực hiện theo hợp đồng lao động đã ký với câu lạc bộ thể thao chuyên nghiệp; hợp đồng lao động ký giữa vận động viên chuyên nghiệp với câu lạc bộ thể thao chuyên nghiệp theo quy định của pháp luật về lao động và phù hợp với quy định của tổ
Trang 29chức thể thao quốc tế tương ứng” Đây là đặc điểm quan trọng của hợp đồng lao động với vận động viên, căn cứ vào Hợp đồng lao động này chứng minh vận động viên đang thuộc biên chế của CSTT nào Vì vậy, để vận động viên đó
đủ điều kiện tập luyện và thi đấu và chuyển nhượng bắt buộc vận động viên phải ký hợp đồng lao động bằng văn bản [23, Điều 45]
Thứ tư: Đối tượng của hợp đồng lao động đối với vận động viên luôn
là sự tham gia của vận động viên với các giải thi đấu thể thao
Căn cứ vào kế hoạch, ngân sách tài chính mà CSTT sẽ tham gia các giải đấu, CSTT sẽ rà soát và đánh giá lại toàn bộ lực lượng vận động viên để tuyển chọn các vận động viên đáp ứng yêu cầu chuyên môn, thể lực và các tiêu chuẩn khác theo từng tiêu chuẩn của CSTT quy định để tiến hành giao kết hợp đồng lao động mới với vận động viên hoặc chuyển nhượng vận động viên đang có cho các đơn vị khác nhằm bảo toàn lực lượng vận động viên tham gia vào các giải thi đấu của mình Chính đặc điểm tham gia các giải thi đấu thể thao này hình thành nên mối quan hệ pháp luật về hợp đồng lao động với vận động viên Như vậy yếu tố đối tượng của hợp đồng lao động với vận động viên chính là sự tham gia các giải thi đấu thể thao
Thứ năm: Hợp đồng lao động với vận động viên luôn nhằm mục đích sinh lời
Tính chất sinh lời của hợp đồng lao động với vận động viên luôn được biểu hiện qua việc câu lạc bộ sẽ có những hợp đồng quảng cáo mới, bán được tiền vé, tiền quần áo hoặc các vật lưu niệm Thậm chí tiền chênh lệch quảng cáo mà vận động viên mang lại Số lượng các sản phẩm bán càng cao, thì lợi nhuận của câu lạc bộ càng nhiều và số lượng Hợp đồng quảng cáo của vận động viên càng nhiều thì tỷ lệ phần trăm mà câu lạc bộ được hưởng từ vận động viên
đó càng lớn Vì vậy, vận mệnh của câu lạc bộ càng gắn với khả năng tạo ra giá
Trang 30trị thặng dư của các giải đấu và giá trị vận động viên mang lại thông qua việc
ký kết hợp đồng lao động với vận động viên
Thứ sáu: Khi có tranh chấp về hợp đồng lao đông với vận động viên bắt buộc phải giải quyết nội bộ
Thể thao là một ngành đặc thù, vì thế các tranh chấp các mâu thuẫn đều giải quyết bằng các luật lệ riêng của tổ chức thể thao của mình đang là thành viên Ví dụ liên đoàn bóng đá Việt Nam có quyền giải quyết các tranh chấp liên quan đến bóng đá trong phạm vi nội bộ bóng đá Việt Nam, như tranh chấp giữa các bộ phận, các thành viên trong LĐBĐVN Thẩm quyền xử lý các tranh chấp quốc tế thuộc về FIFA, ví dụ: tranh chấp giữa các bộ phận thuộc các liên đoàn quốc gia hoặc các Liên đoàn châu lục khác nhau
Thứ bảy: Hợp đồng lao động với vận động viên luôn luôn phải có thời hạn
Đây là điểm đặc trưng của hợp đồng lao động với vận động viên so với các hợp đồng lao động lĩnh vực khác ngoài thể thao Hợp đồng lao động trong lĩnh vực khác ngoài thể thao thì người lao động có thể có hợp đồng lao động không xác định thời hạn, tuy nhiên trong lĩnh vực thể thao thì rất hiếm vận động viên có đủ thể lực để tham gia thi đấu đỉnh cao Chính vì thế, để bảo vệ cho vận động viên cũng như CSTT thì hợp đồng lao động với vận động viên phải là hợp đồng lao động xác định thời hạn, bên cạnh đó, theo trong tập luyện và thi đấu, vận động viên bị chấn thương hoặc không đáp ứng chuyên môn của huấn luyện viên mà hợp đồng lao động vẫn tiếp tục duy trì thì sẽ khó khăn và lãng phí tài nguyên và kinh phí cho chính vận động viên và người sử dụng lao động
Trang 311.2 Những vấn đề chung về giao kết hợp đồng lao động đối với vận động viên
1.2.1 Chủ thể giao kết hợp đồng lao động
Quan hệ pháp luật hợp đồng lao động với vận đông viên là quan hệ tập luyện, thi đấu và thành tích đạt được mà vận động viên và người sử dụng vận động viên đã thỏa thuận trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng lao động Tham gia quan hệ này có ít nhất hai chủ thể và nhiều nhất bốn chủ thể
Thứ nhất: người sử dụng vận động viên
Thứ hai: vận động viên
Thứ ba: người đại diện
Thứ tư: người giám hộ
Chủ thể giao kết hợp đồng gồm người lao động và người sử dụng lao động (theo Bộ luật Lao động 2012) quy định:
Đối với người lao động: Bộ luật Lao động 2012 quy định “người lao động là người đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý điều hành của người sử dụng lao động” [23, tr.1]
“Người sử dụng lao động là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã,
cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng lao động; nếu là cá nhân thì phải có năng lựcc hành vi dân sự đầy đủ” [24, tr.1]
Do đó theo Khoản 3 Điều 4 NĐ Số: 152/2018/NĐ-CP thì NLĐ ở đây
chính là vận động viên
Nhưng đối với người sử dụng lao động thì lại khác họ có thể ủy quyền cho người khác ký kết hợp đồng lao động, nhưng trừ trường hợp người sử dụng lao động là cá nhân BLLĐ năm 2012 quy định vấn đề này một cách chi tiết, cụ thể hơn so với BLLĐ trước đó Trong BLLĐ năm 2012 cũng đã quy định về vấn đề này một cách chặt chẽ, cụ thể và chi tiết hơn so với BLLĐ trước đó
Trang 32Thực tế khi quan hệ việc làm giữa hai bên người sử dụng lao động và vận động viên phát sinh, tức thì hàng loạt các quan hệ liên quan cũng sẽ phát sinh như:
kế hoạch huấn luyện, tiền lương, tiền hỗ trợ tập huấn, bảo hiểm, Chính vì vậy mà mỗi bên sẽ luôn có những đòi hỏi khác nhau về quyền và nghĩa vụ nhất định của chính khi tham gia vào quan hệ lao động, thời điểm để thoả thuận và
thống nhất, các yêu cầu và đòi hỏi của hai bên là khi giao kết hợp đồng lao động Trong trường hợp vận động viên từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì việc giao kết hợp đồng lao động phải được sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật của vận động viên và không được tự mình giao kết hợp đồng Do đây là
những lao động đặc biệt tức là lao động chưa thành niên nên chưa nhận thức đầy đủ về hành vi của mình vì vậy pháp luật mới quy định phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật (theo quy định điều Điều 136 Bộ Luật dân sự
2015) “Bao gồm những người: Cha, mẹ đối với con chưa thành niên; người giám hộ đối với người được giám hộ.” [23, tr.39]
1.2.2 Nguyên tắc và trình tự giao kết hợp đồng lao động
1.2.2.1 Nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động
Nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động là (những) tư tưởng chỉ đạo phải tuân theo trong toàn bộ quá trình đàm phán, giao kết hợp đồng lao động của người sử dụng lao động và người lao động Tinh thần của nguyên tắc nêu trên còn được vận dụng trong quá trình thực hiện, thay đổi, chấm dứt hợp đồng lao động BLLĐ năm 2012 đã quy định một chi tiết và cụ thể về nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động tại Điều 17
Nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực [23,tr.6]
Tự nguyện là một trong những nguyên tắc quan trọng để khẳng định hợp đồng lao động là kết quả thỏa thuận của người sử dụng lao động và người lao động, không bên nào ép buộc bên nào giao kết hợp đồng lao động sự tự
Trang 33nguyện chính là biểu hiện của yếu tố “tự do” của các chủ thể phù hợp với pháp luật Nguyên tắc này cũng là một trong những cơ sở quan trọng ràng buộc trách nhiệm của các bên trong việc thực hiện hợp đồng lao động và giải quyết những vấn đề phát sinh có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của các bên
Bình đẳng là nguyên tắc khẳng định vị thế ngang nhau của người sử dụng lao động và người lao động khi giao kết hợp đồng lao động Thực hiện nguyên tắc này giúp phòng tránh việc người sử dụng lao động lợi dụng “sức mạnh” và vị thế của mình để áp đặt đối với người lao động khi giao kết hợp đồng lao động Tuy nhiên, cũng cần hiểu rằng, bình đẳng giữa hai bên khi giao kết hợp đồng lao động chỉ là sự bình đẳng tương đối, bởi dù sao người lao động chỉ đứng ở vị trí của người đi làm thuê, ngay cả trong giai đoạn giao kết hợp đồng lao động Việc tôn trọng, thực hiện nguyên tắc bình đẳng không ảnh hưởng đến quyền quyết định của người sử dụng trong việc tuyển dụng hay không tuyển dụng người lao động vào làm việc
Thiện chí, hợp tác chính là điều quyết định việc người sử dụng lao động và người lao động xích lại với nhau, cùng nhau đồng thuận để thiết lập và duy trì quan hệ lao động bằng cách giao kết và thực hiện hợp đồng lao động Thiện chí biểu hiện cách đối xử tốt đẹp, chân thành với nhau; hợp tác là thể hiện sự phối hợp cùng nhau trong thỏa thuận, bàn bạc giải quyết vấn đề Khi không có thiện chí và không muốn hợp tác thì sẽ không có việc giao kết hợp đồng lao động Trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động, nếu các bên không còn thiện chí và không muốn tiếp tục hợp tác cũng là lúc quan hệ lao động sẽ đi vào chỗ bế tắc và đổ vỡ
Nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng lao động nhưng không được trái pháp luật, thỏa ước lao động tập thể và đạo đức xã hội [23, tr.6]
Trang 34Không trái pháp luật, thỏa ước lao động tập thể và đạo đức xã hội là yêu cầu tất yếu trong việc giao kết hợp đồng lao động Nguyên tắc này liên quan nhiều đến việc xác định các nội dung thỏa thuận đưa vào hợp đồng khi giao kết hợp đồng lao động Điều này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người sử dụng lao động và người lao động trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng, mà còn ảnh hưởng đến lợi ích của các chủ thể khác có liên quan và lợi ích chung của xã hội Thực hiện nguyên tắc này cho thấy, mặc dù hợp đồng lao động là kết quả của sự tự do thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động, nhưng sự tự do ở đây là có giới hạn Giới hạn đó là chính là chuẩn mực tối thiểu về quyền (ví dụ: quy định về lương tối thiểu, thời giờ nghỉ ngơi tối thiểu…), tối đa về nghĩa vụ (ví dụ: quy định về thời giờ làm việc tối đa…) của người lao động được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước, là những điều cấm của pháp luật vì lợi ích của chính các bên và lợi ích chung của xã hội (ví dụ: quy định về cấm người sử dụng lao động giữ bản chỉnh giấy tờ tùy thân, văn bằng chứng chỉ của người lao động; cấm người sử dụng lao động buộc người lao động phải thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tiền hoặc bằng tài sản khi giao kết, thực hiện hợp đồng lao động…), những chuẩn mực về đạo đức xã hội…
Cả hai nguyên tắc này đều thể hiện sự tôn trọng của pháp luật đối với quyền quyết định của người sử dụng lao động và vận động viên khi giao kết hợp đồng lao động Không bên nào được phép ép buộc bên nào, người sử dụng lao động là đại diện cho một đơn vị đào tạo, huấn luyện vận động viên thể thao
có nhu cầu đào tạo, huấn luyện, tổ chức thi đấu thể thao, phục vụ cho hoạt động
và phát triển của đơn vị, vì vậy có quyền những tiêu chuẩn, điều kiện nhất định
để tuyển chọn vận động viên vận động viên là người có nhu cầu tìm kiếm một đơn vị đào tạo, huấn luyện vận động viên thể thao nên cũng có những quyền căn cứ vào những tiêu chuẩn, điều kiện đưa ra của người sử dụng lao động để
Trang 35xem xét, nếu phù hợp với khả năng, năng lực của mình thì chấp thuận, hoặc có thể có những nội dung cần thoả thuận lại với người sử dụng lao động để đi đến
sự đồng thuận của cả 2 bên như: thoả thuận lại tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế,… Là những đòi hỏi không thể thiếu trong giao kết, thực hiện những hợp đồng vì khi thiếu đi một dấu hiệu, một yếu tố nào đó, thi quan hệ hợp đồng
sẽ bị đặt vào tình trạng khập khiễng
Trong bất kỳ trường hợp nào, nếu như vận động viên không đồng ý thì người sử dụng lao động không được phép bắt buộc vận động viên phải giao kết họp đồng, vì họ có quyền tự do lựa chọn bất cứ người sử dụng lao động nào mà
họ mong muốn và ở bất cứ nơi nào mà pháp luật không cấm
1.2.2.2 Trình tự giao kết hợp đồng lao động
Căn cứ trên cơ sở các quy định hiện hành của pháp luật thì việc giao kết hợp đồng lao động, có thể được chia ra làm ba bước khi giao kết hợp đồng lao động như sau:
Bước 1:
Các bên thiết lập và bày tỏ sự mong muốn về việc thiết lập quan hệ hợp đồng lao động thông qua thư mời hay phương thức nào đó và đưa ra các yêu cầu về tiêu chuẩn tuyển dụng từ phía CSTT Còn về phía vận động viên có thể trực tiếp đến trụ sở của người sử dụng lao động xin ứng tuyển
Bước 3:
Trang 36Hoàn thiện và giao kết hợp đồng Theo quy định tại Điều 16 Bộ luật Lao động 2012 “Hợp đồng lao động phải được giao kết bằng văn bản và được làm thành 02 bản, người lao động giữ 01 bản, người sử dụng lao động giữ 01 bản, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này Đối với công việc tạm thời có thời hạn dưới 03 tháng, các bên có thể giao kết hợp đồng lao động bằng lời
sở sự thỏa thuận của các bên và phải lập bằng văn bản có chữ ký của các bên Theo khoản 3 điều 45 “hợp đồng lao động ký giữa vận động viên chuyên nghiệp với câu lạc bộ thể thao chuyên nghiệp theo quy định của pháp luật về lao động
và phù hợp với quy định của tổ chức thể thao quốc tế tương ứng” [24, tr.58] Hợp đồng lao động bằng văn bản bắt buộc phải phải có những điều khoản nhất định theo BLLĐ
Trang 37 Nội dung của hợp đồng lao động
Nội dung của hợp đồng lao động là toàn bộ những vấn đề cần được nêu
ra trong hợp đồng và trong đó bắt buộc phải chứa đựng các quyền và nghĩa vụ
do các bên đã thỏa thuận Theo điều 45 Luật Thể dục thể thao số 77/2006/QH11 quy định: “Quyền và nghĩa vụ của vận động viên chuyên nghiệp: vận động viên chuyên nghiệp phải ký hợp đồng lao động với câu lạc bộ thể thao chuyên nghiệp Quyền và nghĩa vụ của vận động viên chuyên nghiệp được thực hiện theo hợp đồng lao động đã ký với câu lạc bộ thể thao chuyên nghiệp Hợp đồng lao động ký giữa vận động viên chuyên nghiệp với câu lạc bộ thể thao chuyên nghiệp theo quy định của pháp luật về lao động và phù hợp với quy định của tổ chức thể thao quốc tế tương ứng.” [24, tr.14] Nội dung của hợp đồng lao động phải có những điều chủ yếu theo Điều 23 BLLĐ 2012 Tuy nhiên, đối với hợp đồng lao động với vận động viên thì nội dung hợp đồng lao động phải có những nét đặc trưng như sau:
a Thời gian làm việc: Như đã đề cập, đây là một ngành đặc biệt nên thời gian làm việc không thể cố định như bao nhiêu nghề khác Mà thời gian làm việc phải xác định là tập luyện thì bao nhiêu và bao lâu Một năm vận động viên tham gia bao nhiêu trận đấu cho một mùa giải và tham gia bao nhiêu giải đấu Nếu có phát sinh thêm giải đấu thì sẽ điều chỉnh và bổ sung thêm trong phụ lục hợp đồng lao động (nếu có)
b Địa điểm là việc: Địa điểm làm việc thì không phải cố định một chỗ
mà là phải duy chuyển liên tục
c Tiền lương và thưởng: tiền lương và tiền thưởng do các bên thỏa thuận nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiếu do luật quy định
Trang 381.3 Những vấn đề chung về thực hiện hợp đồng lao động
1.3.1 Sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động
Việc cho mượn vận động viên được coi là chuyển nhượng tạm thời, song chỉ phải thực hiện bằng văn bản thoả thuận giữa hai câu lạc bộ, có sự đồng ý của vận động viên và không phải chuyển thẻ vận động viên Thời gian một lần mượn không quá 12 tháng Tuy nhiên các câu lạc bộ tham gia việc cho mượn vận động viên phải thực hiện nghĩa vụ về tài chính theo quy định của Liên đoàn Theo quy định của LTDTT điều 47 quy định “Việc chuyển nhượng vận động viên chuyên nghiệp giữa hai câu lạc bộ thể thao chuyên nghiệp trong nước được thực hiện bằng hợp đồng khi hợp đồng lao động của vận động viên chuyên nghiệp còn hiệu lực; Việc chuyển nhượng vận động viên chuyên nghiệp giữa câu lạc bộ thể thao chuyên nghiệp Việt Nam và câu lạc bộ thể thao chuyên nghiệp nước ngoài phải tuân thủ quy định của Luật này và các quy định về chuyển nhượng của liên đoàn thể thao quốc tế; Trình tự, thủ tục chuyển nhượng vận động viên chuyên nghiệp do liên đoàn thể thao quốc gia quy định phù hợp với pháp luật Việt Nam và các quy định của liên đoàn thể thao quốc tế mà mình
là thành viên.” [24, tr.14] Trong quá trình quản lý và sử dụng vận động viên,
vì nhiều lý do và mục đích khác nhau, các người sử dụng lao động thỏa thuận cho mượn vận động viên đang thuộc biên chế của của mình để bổ sung lực lượng, mục đích thương mại hoặc thậm chí cho vận động viên của mình có cơ hội cọ xát thực tế (trong trường hợp ở lại câu lạc bộ không có khả năng tranh chấp với các vận động viên đang có phong độ tốt) Chính vì lý do này, thì hợp đồng lao động dành cho vận động viên có thể được điều chỉnh sửa đổi, hoặc bổ sung hợp đồng lao động
1.3.1.1 Sửa đổi thời giờ làm việc của các vận động viên bằng việc tham gia bao nhiêu trận đấu trong một mùa giải (số lượng tham gia các trận đấu của vận động viên tăng lên hoặc giảm xuống)
Trang 39Trong quá trình tập luyện và thi đấu, vận động viên có thể phải đáp ứng các yêu cầu về thể lực, tiêu chí chiến thuật của huấn luyện viên Nếu vận động viên không đáp ứng yêu cầu như chấn thương, vi phạm kỹ luật, không phù hợp với chiến thuật của huấn luyện viên thì CSTT và vận động viên bắt buộc phải sửa đổi hợp đồng lao động nhằm điều chỉnh lại thời gian làm việc của vận động viên
1.3.1.2 Sửa đổi tiền hoa hồng mà câu lạc bộ nhận được sau khi vận động viên có tiền từ quảng cáo
Trong quá trình tập luyện và thi đấu, vận động viên đang là biên chế của CSTT liên tục đạt được nhiều thành tích cao và được sự chú ý từ người hâm
mộ và có một lượng lớn cổ động viên ủng hộ Điều này làm giá trị vận động viên được nâng lên và có nhiều gợp đồng quảng cáo thương mại, nhiều hợp đồng khác ngoài chuyên môn thể thao phục vụ cho mục đích thương mại Thì CSTT và vận động viên sẽ tiến hành đàm phán điều chỉnh lại nội dung trong Hợp đồng lao động hoặc ngược lại
1.3.2 Tạm hoãn hợp đồng lao động
1.3.2.1 BLLĐ 2012 Điều 32 đã quy định các trường hợp tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động như sau:
“1 Người lao động đi làm nghĩa vụ quân sự
2 Người lao động bị tạm giữ, tạm giam theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự
3 Người lao động phải chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc
4 Lao động nữ mang thai theo quy định tại Điều 156 của Bộ luật này
5 Các trường hợp khác do hai bên thoả thuận.” [23, tr.10]
Trang 40Điều 9 NĐ 05/2015/NĐ-CP hướng dẫn về trường hợp tạm hoãn Hợp đồng lao động trong trường hợp NLĐ được bổ nhiệm hoặc được cử làm người đại diện phần vốn góp của Nhà nước cụ thể:
“1 Người sử dụng lao động và người lao động trong công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà nước làm chủ sở hữu, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do công ty mẹ tập đoàn kinh tế nhà nước, Tổng công ty nhà nước, công ty mẹ trong mô hình công ty mẹ - công ty con làm chủ
sở hữu thỏa thuận tạm hoãn hợp đồng lao động trong các trường hợp sau đây:
a) Người lao động được cấp có thẩm quyền bổ nhiệm làm thành viên hội đồng thành viên hoặc chủ tịch công ty, kiểm soát viên, tổng giám đốc (giám đốc), phó tổng giám đốc (phó giám đốc), kế toán trưởng;
b) Người lao động được cấp có thẩm quyền cử làm người đại diện phần vốn và làm việc tại doanh nghiệp có vốn góp của nhà nước hoặc của công ty
mẹ hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con
2 Thời gian tạm hoãn thực hiện hợp đồng là thời gian người lao động được bổ nhiệm hoặc được cử làm đại diện phần vốn và làm việc tại doanh nghiệp có vốn góp của nhà nước hoặc của công ty mẹ hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con.” [8, tr.7]