1. Trang chủ
  2. » Tất cả

CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH CỦA CÔNG AN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

101 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó, còn có các đề tài nghiên cứu khác như bài viết “Cải cách hành chính ở Việt Nam: thành tựu và các rào cản hiện nay” của GS.TSKH Nguyễn Văn Thâm 2005, đề tài “Cải cách hành

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN LAM

CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH CỦA CÔNG AN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

HÀ NỘI, năm 2019

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN LAM

CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH CỦA CÔNG AN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Luật hiến pháp và luật hành chính

Mã số: 8.38.01.02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS NGUYỄN MINH MẪN

HÀ NỘI, năm 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tài liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, có xuất xứ rõ ràng Những kết luận trong luận văn chưa từng công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào Tôi xin chịu trách nhiệm về đề tài nghiên cứu của mình

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

NGUYỄN LAM

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CATP Công an Thành phố CBCS Cán bộ, chiến sỹ

CCHC Cải cách hành chính TP.HCM Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH 11 1.1 Khái niệm, mục tiêu, bản chất của cải cách hành chính ở Việt Nam hiện nay 11

1.1.1.Khái niệm cải cách hành chính 11

1.1.2 Mục tiêu của cải cách hành chính ở Việt Nam hiện nay 13

1.1.3 Bản chất của cải cách hành chính 15

1.2 Sự cần thiết của cải cách hành chính ở Việt Nam hiện nay 18

1.3 Nguyên tắc, nội dung và phương thức tiến hành cải cách hành chính ở Việt Nam giai đoạn hiện nay 21

1.3.1 Nguyên tắc cải cách nền hành chính ở Việt Nam 21

1.3.2 Nội dung, phương thức tiến hành cải cách nền hành chính nhà nước giai đoạn 2010-2020 23

1.4 Các yếu tố bảo đảm hiệu quả công tác cải cách hành chính 26

1.4.1 Yếu tố thể chế, đặc điểm tổ chức, vận hành của hệ thống chính trị 26

1.4.2 Yếu tố tổ chức bộ máy nhà nước 27

1.4.3 Yếu tố con người 28

1.4.4 Yếu tố cơ sở vật chất, tài chính 30

1.5 Khái quát bài học kinh nghiệm về cải cách hành chính ở các nước trong khu vực và trên thế giới 31

1.5.1 Cộng hòa Liên bang Đức 32

1.5.2 Hàn Quốc 33

1.5.3 Singapore 35

1.5.4 Nhật Bản 36

1.5.5 Trung Quốc 37

1.5.6 Bài học kinh nghiệm 38

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH TẠI CÔNG AN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY 41

Trang 6

2.1 Khái quát về cải cách hành chính trong lực lượng Công an nhân dân 41

2.1.1 Chủ trương, quan điểm của Bộ Công an về vấn đề cải cách hành chính

CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH Ở CÔNG AN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 73 3.1 Định hướng chung 75

3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác cải cách hành chính tại Công an

thành phố Hồ Chí Minh 78 KẾT LUẬN 91 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

MỞ ĐẦU

Ngày nay, cải cách hành chính là vấn đề mang tính toàn cầu Tại các nước phát triển và các nước đang phát triển trên toàn thế giới hiện nay đều xem cải cách hành chính như một động lực mạnh mẽ nhằm chủ động thúc đẩy tăng trưởng kinh

tế, phát triển dân chủ và các mặt khác của đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội

Tại Việt Nam, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước được bắt đầu từ năm

1986, đến nay đã tiến hành được hơn 30 năm và sẽ tiếp tục thực hiện trong thời gian sắp tới Đồng thời với việc đổi mới về kinh tế thì cải cách hành chính cũng được tiến hành từng bước thận trọng và đã thu được nhiều kết quả rất đáng khích lệ Khởi đầu từ việc cải cách thủ tục hành chính, đến cải cách nền hành chính nhà nước với

ba nội dung là: cải cách thể chế hành chính; cải cách bộ máy hành chính nhà nước; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống bộ máy nhà nước Hiện nay tại Việt Nam cải cách hành chính đã chuyển sang một bước mới với bốn nội dung cụ thể: Cải cách thể chế hành chính; cải cách bộ máy hành chính nhà nước; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức; cải cách tài chính công trong hệ thống bộ máy nhà nước Cải cách hành chính đang thể hiện rõ vai trò quan trọng của mình trong việc đẩy nhanh sự phát triển đất nước theo mục tiêu xây dựng một nền hành chính trong sạch, vững mạnh, tiết kiệm, chuyên nghiệp, phục vụ nhân dân ngày một tốt hơn

Là trung tâm chính trị - văn hóa, khoa học - xã hội, kinh tế của cả nước, thành phố Hồ Chí Minh cũng nghiêm túc thực hiện công tác cải cách hành chính Cùng với các cơ quan, đơn vị, địa phương, Công an thành phố Hồ Chí Minh (CA TPHCM) xác định công tác cải cách hành chính (CCHC) là yêu cầu cấp thiết và là một trong những mặt công tác trọng tâm, đột phá CATP.HCM đã tập trung phát huy vai trò của toàn thể cán bộ chiến sĩ nhằm đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thời kỳ hội nhập và phát triển đất nước Qua đó, công tác CCHC

ở CATP.HCM những năm qua đã có những chuyển biến mạnh mẽ, đạt được những kết quả tích cực, được các cấp, các ngành và nhân dân ghi nhận, đánh giá cao Phát huy những kết quả đạt được, CATP.HCM ngày càng có những bước tiến mới trong

Trang 8

công cuộc cải cách thủ tục hành chính, với mục tiêu “Xây dựng phong cách người Công an nhân dân bản lĩnh, nhân văn, vì nhân dân phục vụ”

1 Lý do chọn đề tài

Công an nhân dân là một bộ phận trong hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước,

là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, trong đó công tác CCHC của lực lượng Công an nhân dân liên quan trực tiếp đến hoạt động của tổ chức, doanh nghiệp và đời sống của nhân dân

Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013 có quy định “Nhà nước xây dựng Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, dựa vào dân và làm nòng cốt cho phong trào nhân dân ” [31, Điều 67] Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, văn kiện Đại hội lần thứ XI của Đảng đã khẳng định “Xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại” [16]

Để thực hiện được mục tiêu trên, lực lượng Công an nhân dân phải coi trọng đổi mới về mọi mặt, trong đó có công tác CCHC – một công tác quan trọng có ý nghĩa quyết định đến tổ chức và hoạt động hành chính của lực lượng Công an nhân dân Như vậy CCHC trong Công an nhân dân xuất phát từ những quy định của Hiến pháp, pháp luật về mục tiêu xây lực lượng CAND “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ

và từng bước hiện đại” đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ và công tác Công an trong tình hình mới

Với chức năng, nhiệm vụ là quản lý nhà nước về an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, đấu tranh phòng chống tội phạm, trong công tác, lực lượng công an thường xuyên phải tiếp xúc, giải quyết những vấn đề liên quan đến lợi ích thiết thực của người dân Tuy nhiên, hiện nay thủ tục hành chính trong lực lượng Công an còn rườm rà, gây phiền hà cho người dân, cơ chế tiếp dân chưa hiệu quả,

bộ máy tổ chức lực lượng chưa tinh gọn, thiếu phối hợp, các văn bản pháp luật còn chồng chéo dẫn đến chất lượng công tác của cán bộ chiến sỹ bị ảnh hưởng

Chính vì vậy, CCHC đối với lực lượng Công an nhân dân là hết sức cần thiết, phù hợp với quan điểm CCHC của Đảng và Nhà nước Việc nghiên cứu về lý

Trang 9

luận và thực tiễn công tác cải cách hành chính trong Công an TPHCM là cần thiết

và cấp bách để cải tiến, nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về an ninh trật

tự theo hướng tạo thuận lợi cho tổ chức, công dân, doanh nghiệp, cũng như các yêu cầu nghiệp vụ của lực lượng công an

2 Tình hình nghiên cứu

Lý luận về cải cách nền hành chính tại Việt Nam không phải là một vấn đề mới, đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, chuyên gia, nhà quản lý Những vấn đề này được nêu và thảo luận ở nhiều hội thảo, bài viết, các công trình nghiên cứu về quá trình cải cách hành chính ở Việt Nam như:

Sách “Cải cách hành chính nhà nước – thực trạng, nguyên nhân và giải

pháp” của TS Thang Văn Phúc chủ biên (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội,

2001): sách gồm 5 chương, tập trung cung cấp những nội dung về quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước, thực trạng và phương hướng đổi mới về cải cách hành chính trong bốn lĩnh vực quan trọng là cải cách thể chế pháp lý, cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước, cải cách trong việc quản lý và phát triển nguồn nhân lực, cải cách trong việc quản lý tài chính công Trong quá trình nghiên cứu, tôi

đã kế thừa có chọn lọc một số giải pháp nâng cao hiệu quả cải cách hành chính mà tôi thấy phù hợp với đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Sách “Cơ sở lý luận và thực tiễn về hành chính nhà nước” (Nhà xuất bản

Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2013) do PGS.TS Nguyễn Hữu Hải chủ biên Sách gồm 8 chương, tập trung cung cấp những kiến thức cơ bản về hành chính nhà nước như: trình bày các khái niệm cơ bản, đặc điểm nguyên tắc tổ chức và hoạt động của hành chính nhà nước, các lý thuyết, mô hình hành chính nhà nước, kiểm soát bên ngoài và kiểm soát nội bộ đối với hành chính nhà nước, giải pháp nâng cao hiệu quả, hiệu lực hành chính nhà nước Trong quá trình nghiên cứu, tôi đã tiếp thu và kế thừa phần cơ sở lý luận của tác giả, đồng thời vận dụng cơ sở lý luận này vào thực tiễn để rút ra sự khác biệt giữa từng thời kỳ, từng lĩnh vực khác nhau

Ngoài ra, có một số đề tài nghiên cứu chuyên sâu về từng lĩnh vực trong cải cách hành chính như:

Trang 10

Trong sách “Cải cách chính quyền địa phương, lý luận và thực tiễn” các tác

giả Tô Tử Hạ, Nguyễn Hữu Trị, Nguyễn Hữu Đức (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 1998) đã trình bày những cách thức, phương thức cải cách hành chính của chính quyền địa phương ở nước ta, trong đó có chính quyền ở cấp phường, xã về mặt tổ chức bộ máy, thể chế, tài chính, ngân sách, cán bộ Tuy nhiên, những nội dung này chỉ liên quan đến chính quyền ở cấp phường, xã mà chưa đề cập chuyên sâu vào các nội dung chung cho chính quyền ở cấp lớn hơn như tại các

đô thị, tỉnh, thành phố, thành phố trực thuộc trung ương hiện nay ở nước ta

Sách “Đổi mới, hoàn thiện bộ máy nhà nước trong giai đoạn hiện nay” của

tác giả Bùi Xuân Đức (Nhà xuất bản Tư pháp, năm 2004) đề cập đến đổi mới hành chính bên dưới cấp thành phố và mô hình được tổ chức linh hoạt, không nhất thiết cấp nào cũng như nhau, có thể có một hoặc hai cấp dưới cấp thành phố, có thể là quận hoặc có thể là phường, nhưng bộ máy hành chính phải gọn nhẹ Tác giả đã khẳng định cấp chính quyền ở đô thị không nhất thiết phải qua ba cấp như hiện nay, đây là tư duy khoa học, cũng như quan điểm, nhận thức phù hợp với thực tiễn hiện nay đòi hỏi bộ máy nhà nước cần phải đối mới cơ quan quyền lực cũng như cơ quan

ở địa phương

Bên cạnh đó, còn có các đề tài nghiên cứu khác như bài viết “Cải cách hành

chính ở Việt Nam: thành tựu và các rào cản hiện nay” của GS.TSKH Nguyễn Văn

Thâm (2005), đề tài “Cải cách hành chính và xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt

Nam hiện nay” của PGS.TS Đinh Ngọc Vượng (2010) và các báo cáo định kỳ tình

hình thực hiện công tác cải cách hành chính của Bộ Nội vụ, các bài viết trên Tạp chí cộng sản, Tạp chí Tổ chức nhà nước… Các đề tài, báo cáo này nghiên cứu kỹ hơn

về những thành tựu đã đạt được sau vài năm cải cách hành chính, nêu ra một số rào cản trong công cuộc cải cách hành chính ở Việt Nam những năm 2010 và đưa ra những giải pháp cụ thể nhằm cải cách nền hành chính nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Về quá trình và kinh nghiệm cải cách hành chính của các quốc gia phát triển

trên thế giới, có một số sách chuyên khảo như sách “Tổ chức bộ máy nhà nước và

Trang 11

cải cách hành chính ở Cộng hòa Liên bang Đức” do PTS Thang Văn Phúc chủ

biên Sách có 6 chương, gồm các nội dung về tổ chức bộ máy và nền hành chính Liên bang; chế độ công chức, công vụ; tổ chức bộ máy nhà nước ở cấp bang; tổ chức bộ máy chính quyền địa phương; cải cách và hiện đại hóa nền hành chính công

ở Cộng hòa Liên bang Đức Qua đó cho thấy tình hình lịch sử, quá trình và một số bài học kinh nghiệm khi tiến hành cải cách hành chính tại nước Cộng hòa Liên bang Đức

Ngoài ra còn có quyển sách “Tìm hiểu về hành chính công Hoa Kỳ - lý thuyết

và thực tiễn” (Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội, năm 2009) của PGS.TS Nguyễn

Hữu Hải Nội dung cuốn sách gồm hai phần: Phần I tập trung giới thiệu về lịch sử phát triển của khoa học hành chính công Hoa Kỳ qua các thời kỳ, khái quát về cơ sở thực tiễn của việc hình thành các lý thuyết về hành chính công; Phần II giới thiệu tóm tắt các lý thuyết tiêu biểu về hành chính công của các nhà khoa học trên thế giới trong suốt chiều dài lịch sử phát triển của khoa học hành chính công theo các chủ đề như: ngành khoa học về hành chính công, mối quan hệ giữa hành chính và chính trị, lý thuyết tổ chức, quản lý nguồn nhân lực, quá trình ngân sách công, quản

lý công, phân tích chính sách công, thực thi và đánh giá chương trình, mối quan hệ liên chính quyền, đạo đức hành chính, quản lý công mới

Một số tài liệu dịch khác như “Nhà nước trong một thế giới đang chuyển đổi:

Báo cáo về tình hình phát triển thế giới 1997” của Ngân hàng thế giới (Nhà xuất

bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998), “Phục vụ và duy trì: Cải thiện hành chính

công trong một thế giới cạnh tranh” của S Chiavo – Campo và P.S.A Sundaram

(Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội) đều đề cập đến các xu hướng cải cách trong hoạt động của Chính phủ các nước trên thế giới [24]

Ngoài ra, đề tài cải cách hành chính cũng đã được khai thác dưới góc nhìn pháp lý với công trình nghiên cứu ở cấp khóa luận cử nhân, luận văn thạc sĩ và công trình dự thi nghiên cứu khoa học Ở cấp độ luận văn thạc sỹ có các luận văn sau:

Luận văn thạc sỹ quản lý hành chính công của Lê Thị Bình Minh về “Đẩy mạnh cải

cách hành chính Nhà nước tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2011-2020”; Luận văn thạc sĩ

Trang 12

“Cải cách thủ tục Hành chính tại Ủy ban nhân dân huyện Kim Động, tỉnh Hưng

Yên” của tác giả Vũ Thị Thanh Hương (2016) [23]; “Thực trạng và giải pháp đổi mới cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa tại Ủy ban nhân dân quận Kiến An” của tác giả Nguyễn Đình Nam (2017) [25]; “Thực hiện thủ tục hành chính của Ủy ban nhân dân phường - Qua thực tiễn phường Trần Phú, Quận Hoàng Mai,

TP Hà Nội” của tác giả Nghiêm Xuân Hùng (2016) [22] … Các tác giả đã nghiên

cứu về cơ sở lý luận và thực tiễn về cải cách hành chính ở Việt Nam trong từng thời

kỳ, tại Ủy ban nhân dân của một số địa phương cụ thể, từ đó rút ra được những bài học kinh nghiệm phù hợp với tình hình thực tế của đất nước

Các công trình nghiên cứu nói trên đã phân tích, bình luận khá đầy đủ và toàn diện những nội dung cơ bản về tình hình cải cách hành chính ở Việt Nam Tuy nhiên, các đề tài nghiên cứu và các luận văn trên chỉ nghiên cứu chung về tình hình cải cách thủ tục hành chính của Việt Nam hoặc chỉ nghiên cứu về cải cách thủ tục hành chính tại các Ủy ban nhân dân địa phương

Mặc dù được lựa chọn là một trong những nội dung quan trọng của Chương trình tổng thể CCHC nhà nước, nhưng cho đến nay, các vấn đề nghiên cứu về CCHC trong lực lượng Công an nói riêng và tại Công an thành phố Hồ Chí Minh nói riêng mới chỉ dừng lại ở các báo cáo, tổng kết của địa phương mà chưa có công trình chuyên khảo đi sâu nghiên cứu vấn đề CCHC trong lực lượng Công an nhân dân Do đó việc tìm hiểu và nghiên cứu những khó khăn, hạn chế trong công tác CCHC trong lực lượng Công an là cần thiết

Từ việc tìm hiểu và đánh giá tình hình nghiên cứu nêu trên, tác giả nhận thấy rằng cho đến nay vẫn chưa có đề tài nào nghiên cứu về công tác cải cách hành chính trong lực lượng Công an nhân dân Vì vậy, đây là công trình nghiên cứu đầu tiên về vấn đề này ở cấp độ luận văn thạc sỹ luật học Trong quá trình nghiên cứu, bản thân tác giả có kế thừa, chọn lọc một số ý tưởng của các công trình nghiên cứu trên, kết hợp với việc phân tích thực trạng của công tác CCHC tại Công an thành phố Hồ Chí Minh hiện nay Qua đó, đưa ra những giải pháp phù hợp với tình hình thực tiễn của

Trang 13

lực lượng Công an nhân dân TPHCM nhằm nâng cao hiệu quả công tác CCHC của lực lượng Công an nói chung và lực lượng Công an TPHCM nói riêng

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu đề tài

Luận văn tập trung làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về công tác CCHC trong lực lượng Công an nhân dân; đưa ra các đánh giá, phân tích thực trạng của công tác cải cách hành chính trong lực lượng Công an TPHCM Từ kết quả lý luận

và phân tích thực tiễn, tác giả đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao, hoàn thiện công tác cải cách hành chính trong lực lượng Công an nhân dân tại TPHCM nói riêng và Việt Nam nói chung

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Để thực hiện các mục đích nêu trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm

vụ cụ thể sau:

Thứ nhất, làm rõ khái niệm cải cách hành chính và sự cần thiết phải cải cách hành chính ở Việt Nam Đồng thời cũng liệt kê, phân tích và bình luận các nguyên tắc, quan điểm cải cách nền hành chính Nhà nước Việt Nam Từ đó, đánh giá và phân tích các mục tiêu, nội dung cải cách nền hành chính nhà nước đã đạt được và chưa đạt được trong giai đoạn 2010-2020

Thứ hai, phân tích những chủ trương, quan điểm của Bộ Công an, của Đảng

ủy - Ban Giám Đốc CATP về vấn đề CCHC Từ đó, đánh giá thực trạng công tác CCHC trong lực lượng Công an TP.HCM thời gian qua

Thứ ba, nghiên cứu lịch sử CCHC của một số quốc gia trên thế giới, từ đó rút

ra những kinh nghiệm cụ thể, so sánh với tình hình thực trạng công tác CCHC tại CATP để rút ra các bài học kinh nghiệm có thể áp dụng

Thứ tư, tổng hợp những nội dung đã nghiên cứu trên, đưa ra kiến nghị, đề xuất góp phần hoàn thiện CCHC tại Công an TP.HCM

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là công tác CCHC trong lực lượng Công an nhân dân

Trang 14

Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sỹ, phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào công tác CCHC của lực lượng Công an nhân dân tại TPHCM trong khoảng thời gian từ 2001 đến nay Ngoài ra, phạm vi nghiên cứu còn bao gồm các bài báo, bài viết khoa học, sách chuyên khảo, báo cáo tổng kết của cơ quan quản lý,

đề tài nghiên cứu khoa học, kể cả luận án, luận văn, khóa luận có liên quan đến cải cách hành chính

Trong quá trình nghiên cứu và phân tích đối tượng nghiên cứu, người viết viện dẫn nội dung các văn bản của Đảng và Chính phủ để làm cơ sở phân tích các nội dung của CCHC Đồng thời cũng nghiên cứu công tác CCHC ở một số quốc gia khác để rút ra ưu và khuyết điểm, từ đó đưa ra giải pháp góp phần hoàn thiện nền hành chính Việt Nam hơn Tuy nhiên, các nội dung này sẽ không được nghiên cứu sâu và toàn diện mà chỉ được trích dẫn và phân tích đối với các vấn đề có liên quan đến đối tượng nghiên cứu

5 Phương pháp nghiên cứu

Dựa trên mục tiêu của đề tài này là rút ra giải pháp, các phương pháp được

sử dụng chủ yếu là liệt kê, tổng hợp, so sánh, phân tích trong quá trình nghiên cứu

Ngoài ra, đề tài được nghiên cứu dựa trên phương pháp lý luận và phân tích thực tiễn, từ đó đánh giá và rút ra kết luận trong từng chương mục, cụ thể như sau:

- Đối với Chương 1: Một số vấn đề lý luận về cải cách hành chính

Chương 1 của luận văn đề cập đến khái niệm cải cách hành chính; sự cần thiết phải cải cách hành chính ở Việt Nam; nguyên tắc, quan điểm, bản chất cải cách thủ tục hành chính Nhà nước Việt Nam; mục tiêu và nội dung cải cách nền hành chính Đồng thời so sánh với công tác cải cách hành chính ở một số quốc gia khác

Do vậy, trong phần này, phương pháp tổng hợp, liệt kê, so sánh các số liệu và các nguồn thông tin, tài liệu chính quy được sử dụng chủ yếu Từ đó, tác giả tiếp tục sử dụng phương pháp lý luận để trình bày và phân tích các khái niệm, đặc điểm và sự khác biệt giữa các quốc gia

- Đối với Chương 2: Thực trạng công tác cải cách hành chính ở Công an TPHCM

Trang 15

Đây là chương quan trọng nhất của đề tài nghiên cứu, thể hiện thành quả của

tư duy và sáng tạo của tác giả Trong quá trình viết, tác giả đã phải sử dụng kết hợp phương pháp tổng hợp, liệt kê, phương pháp logic và phương pháp lý luận để trình bày từng đề mục

- Đối với Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác cải cách hành chính ở Công an TP.HCM

Từ kết quả nghiên cứu ở Chương 2, tác giả sử dụng phương pháp phân tích thực tiễn rồi đánh giá, rút ra kết luận và đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác CCHC ở Công an TP.HCM

6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài

Như đã trình bày tại phần lý do chọn đề tài, tác giả nhận thức rằng CCHC là

đề tài không mới Tuy nhiên, thực tế tình hình nghiên cứu đề tài cho thấy chưa có công trình nghiên cứu nào trình bày một cách chuyên sâu về CCHC trong lực lượng Công an nhân dân Vì vậy, đây là công trình nghiên cứu đầu tiên về vấn đề này ở cấp độ luận văn thạc sỹ luật học

Trong Luận văn này, tác giả có sự thống kê, phân tích đầy đủ các yếu tố nguyên tắc, mục tiêu, nội dung cải cách hành chính, đồng thời cũng đã có những kiến nghị phù hợp với thực trạng công tác cải cách hành chính ở Công an TPHCM hiện nay Do vậy, tác giả tin rằng Luận văn này sẽ có ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn trong việc hoàn thiện quy định về cải cách hành chính, tháo gỡ những vướng mắc, bất cập và nâng cao hiệu quả công tác CCHC trong lực lượng Công an nhân dân nói riêng, nền hành chính Việt Nam nói chung

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận văn gồm 03 chương:

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH Ở

CATP.HCM

Trang 16

Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ

CÔNG TÁC CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH Ở CATP.HCM

Trang 17

Chương 1:

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH

1.1 Khái niệm, mục tiêu, bản chất của CCHC ở Việt Nam hiện nay

1.1.1 Khái niệm cải cách hành chính

Thuật ngữ "cải cách" được dùng rất phổ biến trong ngôn ngữ phương Tây và phương Đông, được hiểu cụ thể như là một quá trình, một hoạt động cụ thể có mục đích làm thay đổi, chuyển biến những cái cũ đang có hiện nay theo hướng tốt hơn hoặc thay thế cái cũ bằng cái mới, đáp ứng các yêu cầu khách quan của tình hình Cải cách có thể diễn ra ở những cấp độ, mức độ khác nhau và trên nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Có những hoạt động cải cách mang tính chất cách mạng, có những cuộc cải cách chỉ là sự thay đổi hình thức so với ban đầu Cải cách bao gồm tập hợp của nhiều cải tiến, sáng kiến, thay đổi, chuyển đổi, chuyển hóa, phát triển Cải cách còn được xem là một biện pháp giải quyết những đòi hỏi của thực tiễn với mục tiêu rõ ràng, chương trình, mục đích cụ thể và yêu cầu phải hoàn thành và có kết quả trong một thời gian cụ thể đã được xác định Với ý nghĩa như trên thì hoạt động cải cách luôn luôn hiện diện trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội

Thuật ngữ “hành chính” có gốc từ tiếng Latinh “administratio” là quản lý, lãnh đạo trong một phạm vi cụ thể, nhất định Tuy hiện nay có nhiều cách hiểu và giải thích khác nhau về thuật ngữ này, tuỳ theo góc độ tiếp cận của từng nhà nghiên cứu, nhưng đặc điểm cơ bản của hành chính xuất phát từ việc trong bất kỳ xã hội nào cũng cần có sự phân công lao động, cần tới sự xác lập những tỉ lệ giữa các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Như vậy, hành chính theo nghĩa chung là quản

lý công việc, là quản lý xã hội; theo nghĩa riêng, hẹp hơn là công việc nhà nước và

tổ chức quản lý nhà nước Về cơ bản, hành chính là tổng thể những hoạt động quản

lý của con người nhằm quản lý, cải tạo, điều chỉnh các khách thể, các hoạt động nhằm đảm bảo cho nó vận động tới một mục tiêu, phương hướng cụ thể đã được xác định

Trang 18

Căn cứ vào quan niệm về cải cách và hành chính từ đó đã được bổ sung làm

rõ ở trên thì hoạt động cải cách hành chính là hoạt động có ý thức và mục đích cụ thể của con người nhằm cải tạo, điều chỉnh, nâng cấp nhằm xây dựng và hoàn thiện công tác quản lý đối với tất cả các hệ thống trong xã hội Do hoạt động hành chính luôn gắn liền với hoạt động của các cơ quan nhà nước, các thể chế chính trị nên khái niệm CCHC thường được xem như tương đồng với khái niệm CCHC nhà nước Theo đó, các khái niệm CCHC thống nhất tại các điểm cụ thể như sau: CCHC

là sự thay đổi, điều chỉnh có kế hoạch theo một mục tiêu xác định nhưng không làm triệt tiêu hay chuyển đổi bản chất của hệ thống hành chính nhà nước mà nhằm mục đích để hệ thống hành chính nhà nước hoạt động hiệu lực, hiệu quả hơn; từ đó hướng đến mục tiêu điều tiết những mâu thuẫn, trùng lấp trong bộ máy, cơ cấu tổ chức và các cơ chế quản lý của bộ máy hành chính nhà nước; đồng thời tập trung vào xác địcnh cụ thể trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân thông qua đó nhằm thiết lập một hệ thống hành chính chặt chẽ, thống nhất, có hệ thống từ trên xuống dưới CCHC không phải là cải cách chế độ chính trị - kinh tế - xã hội mà là quá trình điều chỉnh, khắc phục mọi trở lực trong cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của nền hành chính, từ đó góp phần xây dựng, phát triển một cách năng động

và phù hợp với sự biến đổi kinh tế - xã hội

Tuy nhiên, cũng trên cở sở của khái niệm cải cách, khi nhấn mạnh đến cấp

độ, mức độ, tính chất của các cuộc cải cách đã hình thành nên hai luồng khái niệm

về CCHC Một số tác giả cho rằng, CCHC là phải nhằm mục tiêu thay đổi toàn bộ các nội dung của nền hành chính như: thể chế, bộ máy, tài chính công, công vụ, công chức… Theo đó, cần phân biệt CCHC với những biến đổi thông thường, những "cải tiến" thường nhật trong một nền hành chính tương đối ổn định và phát triển Về quy mô, CCHC là một quá trình cải biến có tầm vóc và phức tạp hơn, tập trung vào nhiều nội dung, yêu cầu lớn chứ không chỉ là các vấn đề mang tính cải tiến Về phạm vi, CCHC liên quan đến các bộ phận cấu thành của nền hành chính từ thể chế hành chính, tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ công chức, hoạt động công vụ

và các nguồn lực công Với nhận định trên, CCHC được hiểu là một quá trình cải

Trang 19

biến có kế hoạch đồng bộ chế độ hành chính cũ, xây dựng chế độ và phương pháp hành chính mới trên nhiều phương diện nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động của nền hành chính nhà nước

Mặt khác, một số tác giả lại cho rằng, CCHC không bắt buộc phải tạo ra sự thay đổi đối với toàn bộ các nội dung của nền hành chính mà là thay đổi một hoặc một số nội dung của nền hành chính Theo đó, tùy thuộc vào đặc thù từng quốc gia trong từng giai đoạn phát triển nhất định, CCHC được nhận định là một quá trình cải biến có mục đích và kế hoạch cụ thể nhằm đạt được mục tiêu là hoàn thiện một hay một số nội dung của nền hành chính nhà nước nhằm kiến tạo, xây dựng một nền hành chính vững mạnh, hiệu lực, hiệu quả

Như vậy, CCHC là những nỗ lực có chủ định nhằm tạo nên những thay đổi căn bản trong hệ thống hành chính nhà nước thông qua các cải cách có hệ thống hoặc các phương thức để cải tiến ít nhất một trong những yếu tố cấu thành của nền hành chính công CCHC được hiểu là những thay đổi có tính hệ thống, lâu dài và có mục đích nhằm làm cho hệ thống hành chính nhà nước hoạt động tốt hơn, thực hiện tốt hơn các chức năng, nhiệm vụ quản lý xã hội của mình, với mục đích tăng cường tính hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước

1.1.2 Mục tiêu của cải cách hành chính ở Việt Nam hiện nay

Mục tiêu chung của CCHC tại Việt Nam hiện nay là xây dựng một nền hành chính trong sạch, vững mạnh, quản lý toàn xã hội một cách hiệu quả, đáp ứng các yêu cầu của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Yêu cầu này đòi hỏi trước hết phải xây dựng một nền hành chính dân chủ, pháp quyền, bảo đảm các quyền công dân theo luật định thông qua hệ thống lập quy và bằng các biện pháp cụ thể Đó là nền hành chính vì dân, coi công dân là trung tâm và đề cao chức năng phục vụ công Bằng hành động thực tiễn, nền hành chính quan tâm đảm bảo các quyền và lợi ích của công dân, bảo đảm an sinh xã hội, công bằng, bình đẳng, tạo điều kiện cần thiết để mọi thành viên cùng phát triển

Trang 20

Ngay từ những năm đầu của đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã xác định cải cách tổ chức và hoạt động của nhà nước là nhằm xây dựng một nhà nước xã hội chủ nghĩa vững mạnh phục vụ cho công cuộc đổi mới với những mục tiêu cụ thể sau:

- Kiến tạo, hoàn thiện hệ thống thể chế kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm giải phóng lực lượng sản xuất, huy động và sử dụng có hiệu quả tất cả các nguồn lực cho xây dựng và phát triển đất nước

- Tạo ra một môi trường kinh doanh công bằng, thông thoáng, thuận lợi, minh bạch, hiệu quả nhằm giảm thiểu thời gian và chi phí của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong việc tuân thủ và thực hiện các thủ tục hành chính

- Xây dựng, củng cố, hoàn thiện hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước

từ trung ương tới địa phương tinh gọn, hiệu quả, trong sạch, vững mạnh, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, tăng cường tính dân chủ và pháp quyền trong mọi hoạt động quản lý, điều hành của Nhà nước, Chính phủ và các cơ quan hành chính nhà nước khác

- Bảo đảm thực hiện trên thực tế quyền dân chủ của nhân dân, bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, của đất nước

- Xây dựng, kiện toàn đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có đủ phẩm chất đạo đức, năng lực và trình độ chuyên môn nghiệp vụ từng bước đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân cũng như góp phần vào sự phát triển của đất nước

Đặc biệt hoạt động cải cách các thủ tục hành chính có ảnh hưởng đến đời sống, các hoạt động sản xuất, kinh doanh của người dân, doanh nghiệp luôn được chính quyền các cấp từ Trung ương đến các địa phương xác định là khâu đột phá mạnh mẽ trong hoạt động cải cách hành chính Theo chủ trương này và dưới sự quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, ngành và các chính quyền địa phương, hệ thống thủ tục ấy đã được đổi mới một bước, góp phần hoàn thiện thể chế của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cải thiện môi trường đầu tư, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp trong sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh

Trang 21

1.1.3 Bản chất của cải cách hành chính

Để kiến tạo một nền hành chính hiện đại, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả thì bắt buộc phải tìm hiểu rõ những đặc tính cụ thể, chủ yếu của nền hành chính nhà nước Những đặc tính này phải vừa thể hiện đầy đủ bản chất của Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, vừa kết hợp được những đặc điểm chung của một nền hành chính phát triển theo hướng hiện đại CCHC không phải là làm thay đổi bản chất của hệ thống hành chính, mà chỉ góp phần phát triển, điều chỉnh, hoàn thiện hệ thống hành chính góp phần giúp cho hệ thống này trở nên hiệu lực, hiệu quả hơn, bảo đảm phục vụ nhân dân được tốt hơn so với thời gian trước đây Như vậy, ngoài những điểm giống CCHC ở các nước, bản chất CCHC ở Việt Nam có những đặc trưng riêng sau:

Thứ nhất, CCHC không tách rời sự lãnh đạo của Đảng

Bất kỳ nền hành chính nhà nước nào cũng có tính lệ thuộc vào chính trị và hệ thống chính trị Cả lý luận và thực tiễn đều cho thấy, Đảng nào cầm quyền sẽ đứng

ra lập Chính phủ Nền hành chính lại được tổ chức và vận hành dưới sự lãnh đạo, điều hành của Chính phủ, vì vậy dù muốn hay không, nền hành chính phải lệ thuộc vào hệ thống chính trị, phải phục tùng sự lãnh đạo của đảng cầm quyền Ngoài ra, đặc trưng này còn thể hiện ở việc các tổ chức Đảng, các đảng viên đang giữ các chức vụ lãnh đạo trong các cơ quan, tổ chức của nhà nước từ trung ương tới cơ sở Các thành viên này có trách nhiệm triển khai nghị quyết Đảng về CCHC thông qua các hình thức thích hợp, trong đó có hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước

Mặc dù lệ thuộc vào chính trị, song nền hành chính cũng có tính độc lập tương đối về hoạt động chuyên môn nghiệp vụ và kỹ thuật hành chính Mặt thuận lợi từ đặc trưng này chính là ở chỗ dễ tạo sự đồng thuận trong hoạch định chính sách, biện pháp, thể chế cho cải cách Đặc trưng tiêu biểu của hệ thống chính trị Việt Nam là hệ thống một đảng duy nhất cầm quyền CCHC muốn tiến hành được, muốn duy trì và đẩy mạnh, trước hết phải là một chủ trương trong đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam Tách rời vai trò lãnh đạo của Đảng không thể có cải

Trang 22

cách, càng không thể có những kết quả tích cực Từ năm 1995 cho đến nay, chủ trương cải cách hành chính đã được xác định trong một loạt các Nghị quyết của Đảng tại các hội nghị Ban Chấp hành Trung ương và trong các văn kiện Đại hội Đảng, trong đó nổi bật là Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa X vì đó là một Nghị quyết riêng về CCHC

Cải cách hành chính không tách rời sự lãnh đạo của Đảng vừa là bài học kinh nghiệm, vừa là đặc trưng cải cách của Việt Nam

Thứ hai, cải cách hành chính mang tính pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Khoản 1 Điều 2 Hiến pháp năm 2013 quy định “Nhà nước Cộng hòa xã hội

chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân” Với tư cách là công cụ thực hiện quyền lực nhà nước, nền

hành chính nhà nước được tổ chức và hoạt động tuân theo những quy định pháp luật, đồng thời yêu cầu mọi công dân và tổ chức trong xã hội phải nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật Đảm bảo tính pháp quyền của nền hành chính là một trong những điều kiện để xây dựng Nhà nước chính quy, hiện đại, trong đó bộ máy hành pháp hoạt động có kỷ luật, kỷ cương

Ở nước ta hiện nay, tính pháp quyền được thể hiện rõ ràng trên cả hai phương diện là quản lý nhà nước bằng hệ thống pháp luật và theo hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành Điều đó có nghĩa là, các cơ quan hành chính nhà nước sử dụng luật pháp là công cụ nhằm quản lý, điều chỉnh, điều tiết các mối quan

hệ xã hội đối với các đối tượng được mình quản lý Đồng thời, tại các cơ quan hành chính nhà nước cũng như đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức từ trung ương đến địa phương cần phải được tổ chức và hoạt động theo các quy định cụ thể của pháp luật; việc cải cách hành chính cũng phải thực hiện theo quy định của pháp luật nói chung và hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật nói riêng chứ không được thực hiện một cách tự do, tuỳ tiện vượt qua hay đứng ngoài các quy định của pháp luật

Thứ ba, CCHC mang tính phục vụ nhân dân Nền hành chính nhà nước có

nhiệm vụ và trách nhiệm phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội và phục vụ những nhu cầu thiết, chính đáng yếu của người dân Đề cập đến nền hành chính

Trang 23

phục vụ là đề cập đến nền hành chính dân chủ, pháp quyền, trách nhiệm và lấy phục

vụ người dân làm mục đích chủ yếu, lấy hiệu quả hoạt động và sự hài lòng của người dân làm tiêu chuẩn thước đo đánh giá chất lượng, hiệu quả của nền hành chính Bản chất của nền hành chính phục vụ là nền hành chính lấy người dân làm trung tâm nên mọi hoạt động của nó đều thể hiện rõ bản chất của Nhà nước ta hiện nay là nhà nước của dân do dân và vì dân

Do đó, phải xây dựng một nền hành chính công bằng, bình đẳng trong sạch, không vì mục tiêu lợi ích, không đòi hỏi lợi ích từ người được phục vụ Bản chất của nhà nước ta là nhà nước Pháp quyền xã hội chủ nghĩa Tôn trọng và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân là tư tưởng chủ đạo trong xây dựng, thực hiện

hệ thống thể chế hành chính ở nước ta

Thứ tư, CCHC diễn ra đồng thời với khá nhiều cuộc cải cách khác, trên nhiều lĩnh vực khác hiện nay cụ thể như: cải cách kinh tế, cải cách các hoạt lập pháp, tư pháp, cải cách đội ngũ cán bộ công chức Đặc trưng này đòi hỏi phải có

sự chỉ đạo thống nhất, có hệ thống thứ bậc chặt chẽ, tập trung nhằm bảo đảm mục tiêu chung của phát triển

Sự chỉ đạo nhất quán của Chính phủ là một trong các yếu tố bảo đảm cải cách hành chính đạt kết quả Do vị trí là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, Chính phủ đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác chỉ đạo triển khai cải cách hành chính tại nước ta hiện nay Đồng thời, việc đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ của cải cách hành chính nói riêng và các cuộc cải cách khác trong hệ thống chính trị nói chung cũng giữ vai trò quan trọng Qua đó tạo ra sự đồng bộ, thống nhất ở tầm vĩ mô trong hoạch định thể chế, chính sách, pháp luật để bảo đảm các cuộc cải cách có thể hiệu quả hơn

Thứ năm, CCHC được triển khai trên diện rộng, ở tất cả các cấp hành chính, nhiều nội dung trên nhiều lĩnh vực cải cách, mỗi lĩnh vực lại bao gồm một loạt các lĩnh vực thành phần cho thấy tính phức tạp, độ rộng của cải cách hành chính ở Việt Nam Vì vậy, triển khai cải cách hành chính hết sức khó khăn và phải làm lâu dài

Trang 24

Đối tượng tác động của nền hành chính có nội dung hoạt động phức tạp và quan hệ đa dạng, phong phú đòi hỏi các nhà quản lý hành chính phải có kiến thức văn hóa xã hội và kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ chuyên sâu Ngoài ra, các mối quan hệ xã hội và hành vi công dân cần được pháp luật điều chỉnh diễn ra một cách thường xuyên, liên tục theo các quá trình phát triển kinh tế - xã hội Chính vì vậy, nền hành chính Nhà nước phải hoạt động liên tục, ổn định để đảm bảo hoạt động sản xuất, lưu thông không bị gián đoạn trong bất kỳ tình huống nào Tuy nhiên, nhà nước là một sản phẩm của xã hội, trong khi đời sống kinh tế - xã hội luôn vận động biến đổi, nên hành chính nhà nước cũng phải thích nghi với hoàn cảnh thực tế để đáp ứng yêu cầu phát triển

So với nhiều quốc gia đã tiến hành cải cách hành chính thì cải cách hành chính ở Việt Nam được triển khai trên nhiều lĩnh vực từ thể chế, tổ chức bộ máy, thủ tục tới con người, các cơ chế hoạt động, ứng dụng công nghệ thông tin vào hành chính v.v Có thể nói gần như các yếu tố cấu thành cơ bản của nền hành chính quốc gia đều đòi hỏi phải cải cách, thay đổi Chính vì vậy, việc triển khai không đơn giản và cũng không thể sớm đạt kết quả

1.2 Sự cần thiết của cải cách hành chính ở Việt Nam hiện nay

Hoạt động hành chính nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm trật tự của xã hội, duy trì sự phát triển xã hội theo định hướng của nhà nước, qua đó hiện thực hóa mục tiêu chính trị của đảng cầm quyền đại diện cho lợi ích của giai cấp cầm quyền trong xã hội Chính vì vậy, nâng cao chất lượng hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước là yêu cầu và mong muốn của mọi quốc gia CCHC đã trở thành một trong những đòi hỏi khách quan của sự phát triển và đổi mới Khẳng định tầm quan trọng của cải cách hành chính nhà nước với tư cách là một bộ phận không tách rời và quyết định thành công của đổi mới, Đảng và Nhà nước đã xác định: cải cách hành chính là nội dung trọng tâm của công cuộc đổi mới và cải cách nhà nước theo hướng xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Cải cách nền hành chính nhà nước là một quá trình liên tục mang tính quyết định nhằm làm cho hoạt động thực thi quyền hành pháp ngày càng thích ứng hơn

Trang 25

với yêu cầu của sự vận động và phát triển nền kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia Hiện nay cần phải cải cách nền hành chính xuất phát từ các lý do sau:

Về mặt khách quan: có nhiều lý do khách quan đòi hỏi cải cách nền hành

chính nhà nước

Một là do trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, CCHC hướng tới việc nâng cao khả năng hoạt động của bộ máy hành chính để giúp cho quá trình quản lý xã hội của Nhà nước được tốt hơn, trước hết là quản lý nền kinh tế, định hướng cho nền kinh tế phát triển theo đúng định hướng của Nhà nước Sự phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đặt

ra yêu cầu đối với Nhà nước nói chung và nói riêng đối với nền hành chính nhà nước cần không ngừng hoàn thiện thể chế cũng như nâng cao hiệu lực pháp lý theo

cơ chế mới nhằm bảo đảm cho đất nước phát triển nhanh, mạnh vững vàng theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đồng thời phải tăng cường điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức, bộ máy của các cơ quan hành chính trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước trên các lĩnh vực được phân công quản lý

Hai là, xu thế của thế giới hiện nay là toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế Toàn cầu hoá là một quá trình khách quan, tất yếu đã và đang ảnh hưởng sâu rộng đến tất

cả các quốc gia trên thế giới trong đó có cả Việt Nam Quá trình hội nhập quốc tế là một yêu cầu cấp thiết đối với các quốc gia để có thể tận dụng được cơ hội, thành tựu khoa học kỹ thuật, đồng thời hạn chế những thách thức trong toàn cầu hoá để có thể phát triển bền vững Tổ chức bộ máy hành chính của các quốc gia phải vận động nhanh nhạy, hiệu quả hơn để tăng cường tiềm lực của quốc gia trong quá trình hội nhập Hiện nay xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế đã và đang đặt ra những yêu cầu mới đối với các hoạt động hành chính của nhà nước phải thay đổi cả về nội dung, hình thức, các phương thức thực hiện hoạt động hành chính nhà nước phải tuân thủ nghiên ngặt theo các quy định, thông lệ quốc tế trong hoạt động hành chính nhà nước Từ đó đặt ra những yêu cầu mới đối với thể chế hành chính cũng như đối

Trang 26

với đội ngũ cán bộ phải kịp thời cập nhật, thích ứng với các quy định pháp luật và các thông lệ quốc tế

Ba là do sự phát triển của khoa học - công nghệ Các ảnh hưởng cũng như các thành tực của cách mạng kỹ thuật - công nghệ đã tạo nên những ảnh hưởng mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống kinh tế, văn hóa xã hội bao gồm cả các hoạt động quản lý Những thay đổi này đã và đang đặt ra nhiều thách thức mới đối với nền hành chính truyền thống Qua đó cũng đặt ra yêu cầu phải cải cách nền hành chính, điều chỉnh sắp xếp lại tổ chức bộ máy, cải tiến và đổi mới các phương thức quản lí co người để bắt kịp những tiến bộ của thế giới

Bốn là do đòi hỏi của công dân và xã hội đối với Nhà nước ngày càng cao Công cuộc đổi mới đã đạt được nhiều thành tựu, nâng cao mức sống và nhận thức của người dân Điều đó đòi hỏi nhà nước phải phát huy dân chủ, thu hút sự tham gia của người dân vào quản lí nhà nước và phải công khai, minh bạch trong các hoạt động của mình

Về mặt chủ quan: do những hạn chế, yếu kém, không phù hợp từ bên trong

bộ máy hành chính nhà nước Nền hành chính nhà nước ở nước ta trong quá trình đổi mới vẫn còn tồn tại nhiều biểu hiện tiêu cực, chưa đáp ứng được những yêu cầu của cơ chế quản lý mới cũng nhu cầu của nhân dân trong điều kiện mới, hiệu lực, hiệu quả quản lý chưa cao, thể hiện trên các mặt:

Một là, nền hành chính công truyền thống vốn mang tính chất nặng nề và trì trệ, đồng thời với việc là tồn tại đã tồn tại lâu dài ở nước ta cùng với cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp Hiện nay dù đã chuyển sang nền kinh tế thị trường nhưng

cơ chế xin – cho, quan liêu, bao cấp vẫn tồn tại trong một số các hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước Những cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nhà nước của bộ máy hành chính hiện nay đối với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa được xác định thậ sự rõ ràng và phù hợp; sự phân công, phân cấp giữa các ngành và các cấp chưa thật sự rõ ràng, thống nhất

Hai là các hệ thống thể chế hành chính nhà nước đặc biệt là những thể chế về kinh tế rất chậm được thay đổi, còn thiếu đồng bộ, chồng chéo và thiếu thống nhất;

Trang 27

thủ tục hành chính trên nhiều lĩnh vực còn rườm rà, phức tạp; các quy trình về giải quyết các thủ tục đôi khi còn chưa phù hợp với thực tế hoạt động của đời sống xã hội, gây nhiều khó khăn, phiền hà, tốn kém cho người dân và doanh nghiệp

Ba là, tổ chức bộ máy quản chính nhà nước cồng kềnh, nhiều tầng nấc, kém hiệu lực; phương thức quản lý hành chính vừa tập trung quan liêu lại vừa phân tán, chưa thông suốt; chưa có những cơ chế, chính sách tài chính thích hợp với hoạt động của các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, tổ chức làm dịch vụ công Đội ngũ cán bộ, công chức tại một số nơi còn tác phong làm việc quan liêu, chậm đổi mới; tình trạng sách nhiễu nhân dân đã và đang còn xảy ra trong một bộ phận cán

bộ, công chức, viên chức nhà nước khi giải quyết các thủ tục hành chính

Bốn là các phương thức tác động của chủ thể hành chính đối với các đối tượng được quản lý cần được điều chỉnh theo yêu cầu quản lý tầm chiến lược đối với nền kinh tế Tổ chức bộ máy hành chính ở các địa phương và cơ sở chưa thực sự gắn bó với người dân, chưa kịp thời nắm bắt được những vấn đề nổi cộm trên địa bàn, còn lúng túng, bị động khi xử lý các tình huống phức tạp

Năm là, hành chính nhà nước có nhiều lựa chọn đối với các phương thức quản lý của mình do có sự hỗ trợ tích cực thì thành quả của công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế Chế độ quản lí tài chính không phù hợp với cơ chế thị trường, các hoạt động sử dụng và quản lí kinh tế và tài chính công chưa thật sự chặt chẽ, còn xảy ra tình trạng lãng phí và kém hiệu quả trong hoạt động quản lý

Từ những lý do chủ quan và khách quan như phân tích ở trên cho thấy việc cải cách nền hành chính của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là cần thiết và cấp bách

1.3 Nguyên tắc, nội dung và phương thức tiến hành cải cách hành chính ở Việt Nam giai đoạn hiện nay

1.3.1 Nguyên tắc cải cách nền hành chính ở Việt Nam

CCHC là một bộ phận quan trọng của cải cách và đổi mới hệ thống chính trị, tác động trực tiếp, làm thay đổi diện mạo của cơ cấu hành chính và thể chế hành chính Cải cách nền hành chính ở Việt Nam hiện nay dựa trên các nguyên tắc sau:

Trang 28

Thứ nhất, các hoạt động cải cách hành chính ở nước ta hiện nay bắt buộc phải được đặt trong khuôn khổ hệ thống các quan điểm và chủ trương của Đảng Cộng Sản Việt Nam về đổi mới hệ thống chính trị và cải cách bộ máy Nhà nước Hoạt động cải cách hành chính phải đi kèm với các hoạt động xây dựng và chỉnh đốn Đảng; đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước nói chung và nền hành chính nói riêng nhằm giữ vững và phát huy bản chất của giai cấp công nhân, xây dựng Nhà nước Việt Nam pháp quyền XHCN

Thứ hai, quan điểm khoa học đồng bộ trong cải cách hành chính Quan điểm khoa học đòi hỏi chúng ta phải biết nghiên cứu, tiếp thu những luận điểm khoa học

về quản lý Nhà nước, thẩm định, lựa chọn những trí tuệ khoa học trong nước và thế giới Tránh tình trạng giáo điều hoặc cải cách hành chính theo lối “cắt giảm” mang tính “cơ học”, nhìn thấy cái lợi ích trước mắt mà không thấy lợi ích lâu dài

Thứ ba, quan điểm về một nền hành chính được tổ chức thành một hệ thống thống nhất, ổn định, hoạt động thông suốt Quan điểm này đòi hỏi sự phân công, phân cấp cụ thể, rõ ràng từ trung ương đến địa phương và chế độ trách nhiệm cụ thể, rõ ràng, rành mạch có kỷ cương nghiêm ngặt; các cơ quan hành chính và đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức Nhà nước chịu sự giám sát chặt chẽ của nhân dân Đặc biệt cần tăng cường chủ động xây dựng và thực hiện các cơ chế, biện pháp hữu hiệu để chủ động ngăn ngừa những hành vi thiếu dân chủ, tuỳ tiện, quan liêu, nhũng nhiễu, gây phiền hà cho nhân dân khi thực hiện các thủ tục hành chính

Thứ tư, cải cách hành chính cần phải được tiến hành từng bước cụ thể, đồng thời xác định các mục tiêu, nhiệm vụ có trọng tâm, chủ động xác định các khâu, các bước đột phá đối với từng giai đoạn và thời gian cụ thể đã được xác định Đây là quan điểm xuất phát từ thực tiễn tổ chức và hoạt động của quá trình quản lý Nhà nước ở Việt Nam Trong cải cách có nhiều nội dung, hình thức phải làm; có vấn đề chủ yếu, trọng tâm, có những vấn đề là cơ sở, là tiền đề, khâu đột phá của cả quá trình cải cách Do đó, cần đặt ra các chương trình cụ thể để thực hiện cho từng năm, từng giai đoạn Đồng thời cần phân công rõ trách nhiệm của từng bộ, nghành cụ thể

Trang 29

trong việc thực hiện các nhiệm vụ và giải pháp, tránh tình trạng đã có nội dung, giải pháp mà không có chủ thể thực hiện

Một vấn đề đang được quan tâm trong cải cách hành chính ở Việt Nam là vấn đề phân cấp trong quản lý nhà nước Phân cấp là việc chuyển đổi các công việc, nguồn lực do chính quyền trung ương nắm giữ cho chính quyền địa phương các cấp một cách lâu dài, ổn định bằng các văn bản luật, dưới luật, nhằm mở rộng dân chủ, phát huy tính chủ động sáng tạo của chính quyền địa phương Như vậy, vấn đề phân cấp gắn với vấn đề dân chủ, dân chủ là cốt lõi của nhà nước pháp quyền, không có dân chủ thì không có nhà nước pháp quyền, không mở rộng quyền chủ động sáng tạo của chính quyền địa phương thì không có nhà nước pháp quyền

Tóm lại nguyên tắc của việc CCHC ở Việt Nam là CCHC theo hướng làm cho bộ máy hành chính hoàn thiện hơn, hoạt động có hiệu quả hơn, phục vụ nhân dân ngày một đúng pháp luật, tốt hơn và tiết kiệm nhất, dần từng bước chuyển nền hành chính từ cơ quan cai quản thành các cơ quan phục vụ dân, làm các dịch vụ hành chính đối với dân, công dân là khách hàng của nền hành chính, là người đánh giá khách quan nhất về mọi hoạt động của bộ máy nhà nước, bộ máy hành chính

1.3.2 Nội dung, phương thức tiến hành cải cách nền hành chính nhà nước giai đoạn 2010-2020

Ngày 08/11/2011, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 30c/NQ-CP của Chính phủ về Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 –

2020 Trong đó có nêu cụ thể 6 nội dung CCHC như sau:

Thứ nhất là cải cách thể chế: Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống thể chế, cơ chế, chính sách Trước hết là thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm sự công bằng trong phân phối thành quả của đổi mới, của phát triển kinh tế - xã hội; tiếp tục đổi mới thể chế về doanh nghiệp nhà nước mà trọng tâm là xác định rõ vai trò quản lý của Nhà nước với vai trò chủ sở hữu tài sản, vốn của Nhà nước Đồng thời việc hoàn thiện các quy định cụ thể của pháp luật về mối quan hệ giữa Nhà nước và người dân, tập trung phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ, quyền giám sát của người dân, thực hiện việc trao đổi tiếp thu ý kiến của nhân dân

Trang 30

trước khi đưa ra quyết định đối với các chủ trương, chính sách quan trọng của các

cơ quan hành chính nhà nước

Thứ hai trong cải cách thủ tục hành chính: Cần chủ động nghiên cứu đề xuất tinh giảm, đơn giản hóa các hồ sơ, quy trình thực hiện đồng thời nâng cao chất lượng thủ tục hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước đặc biệt là các loại thủ tục hành chính liên quan trực tiếp đến các hoạt động của người dân và doanh nghiệp Tích cực, chủ động cải cách thủ tục hành chính để chủ động góp phần cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, qua đó góp phần huy động mọi nguồn lực của

xã hội tập trung vào nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, tạo mọi điều kiện thuận lợi để nền kinh tế của đất nước tăng trưởng và phát triển nhanh chóng và bền vững trong giai đoạn hiện nay Đồng thời, kiểm soát chặt chẽ việc xây dựng và ban hành mới các loại thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật; bảo đảm tính công khai, minh bạch, phù hợp với các quy định của pháp luật đối với các thủ tục hành chính thông qua các hình thức thiết thực và thích hợp phù hợp với đặc thù của các lĩnh vực chuyên ngành; đảm bảo tính thống nhất, khoa học cách tính chi phí mà cá nhân, tổ chức phải chi trả khi giải quyết thủ tục hành chính tại cơ quan hành chính nhà nước; chủ động xây dựng, cập nhật đối với hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, sử dụng, khai thác hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính

Thứ ba là chủ dộng thực hiện cải cách cơ cấu tổ chức của bộ máy nhà nước: Tiến hành tổng rà soát trong phạm vi cả nước về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức bộ máy, biên chế hiện có của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các cấp, cơ quan, tổ chức khác thuộc bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương đến các địa phương; tích cực thực hiện chuyển đổi, bàn giao những công việc, nhiệm vụ mà các cơ quan hành chính nhà nước không nên làm hoặc thực hiện còn chưa hiệu quả Tiếp tục nghiên cứu, đổi mới phương thức, tác phong làm việc của các cơ quan hành chính nhà nước, bảo đảm thống nhất

và nâng cao về mọi mặt đối với với việc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông tập trung tại các bộ phận tiếp nhận, trả kết quả thuộc Văn phòng Hội đồng

Trang 31

nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện và các cơ quan hành chính khác; lấy sự hài lòng của cá nhân, tổ chức và người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước đạt mức trên 80% vào năm 2020 Cải cách và triển khai sâu rộng, thống nhật cơ chế tự chủ, ràng buộc trách nhiệm của các đơn vị sự nghiệp dịch vụ công; góp phần từng bước nâng cao chất lượng dịch vụ công nhất là trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, quản lý nhà nước về an ninh trật tự…

Thứ tư là xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức: Nghị quyết nêu rõ, hoàn thiện quy định của pháp luật về tuyển dụng, bố trí, phân công nhiệm vụ phù hợp với trình độ, năng lực, sở trường của công chức, viên chức trúng tuyển; thực hiện chế độ thi nâng ngạch theo nguyên tắc cạnh tranh; thi tuyển cạnh tranh để bổ nhiệm vào các vị trí lãnh đạo, quản lý từ cấp vụ trưởng và tương đương (ở trung ương), giám đốc sở và tương đương (ở địa phương) trở xuống Tập trung nguồn lực ưu tiên cho cải cách chính sách tiền lương, chế độ bảo hiểm xã hội và ưu đãi người có công; đến năm 2020, tiền lương của cán bộ, công chức, viên chức được cải cách cơ bản; bảo đảm được cuộc sống của cán bộ, công chức, viên chức và gia đình ở mức trung bình khá trong xã hội

Thứ năm là cải cách tài chính công: Tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách tài chính đối với doanh nghiệp nhà nước, nhất là các tập đoàn kinh tế và các tổng công ty; quản lý chặt chẽ việc vay và trả nợ nước ngoài; giữ mức nợ Chính phủ, nợ quốc gia và nợ công trong giới hạn an toàn Đổi mới cơ chế phân bổ ngân sách cho cơ quan hành chính nhà nước, tiến tới xóa bỏ chế độ cấp kinh phí theo số lượng biên chế, thay thế bằng cơ chế cấp ngân sách dựa trên kết quả và chất lượng hoạt động, hướng vào kiểm soát đầu ra, chất lượng chi tiêu theo mục tiêu, nhiệm vụ của các cơ quan hành chính nhà nước

Thứ sáu là hiện đại hóa hành chính: Hoàn thiện và đẩy mạnh hoạt động của Mạng thông tin điện tử hành chính của Chính phủ trên Internet Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước để đến năm 2020: 90% các văn bản, tài liệu chính thức trao đổi giữa các cơ quan hành chính nhà nước được thực hiện dưới dạng điện tử; cán bộ, công chức,

Trang 32

viên chức thường xuyên sử dụng hệ thống thư điện tử trong công việc Hầu hết các dịch vụ công được cung cấp trực tuyến trên Mạng thông tin điện tử hành chính của Chính phủ ở mức độ 3 và 4, đáp ứng nhu cầu thực tế, phục vụ người dân và doanh nghiệp mọi lúc, mọi nơi, dựa trên nhiều phương tiện khác nhau

1.4 Các yếu tố bảo đảm hiệu quả công tác CCHC

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI xác định rằng cải cách nền hành chính nhà nước là trọng tâm của việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Năng lực, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của nền hành chính vừa là mục tiêu của cải cách hành chính, vừa là nhiệm vụ hàng đầu của toàn Đảng, toàn dân trong xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam Để thực hiện thắng lợi mục tiêu cải cách hành chính, trước tiên cần làm rõ và nhận thức đầy đủ các yếu tố bảo đảm hiệu quả công tác CCHC sau:

1.4.1 Yếu tố thể chế, hệ thống chính trị

Hệ thống thể chế hành chính là căn cứ và tiền đề pháp lý cho các hoạt động quản lý, điều hành của bộ máy hành chính nhà nước Môi trường thể chế là điều kiện tiên quyết để duy trì và bảo đảm sự vận hành của cả hệ thống cơ quan hành chính nhà nước Các cơ quan hành chính nhà nước chỉ có thể hoạt động hiệu quả trong môi trường thể chế thuận lợi, gồm hệ thống văn bản chứa đựng các quy định được ban hành đúng thẩm quyền, kịp thời, phù hợp với yêu cầu quản lý và trình độ phát triển của các quan hệ kinh tế - xã hội và bảo đảm sự bao quát toàn bộ các ngành, lĩnh vực quản lý từ trung ương đến địa phương Khi yếu tố thể chế thuận lợi, các văn bản, thủ tục hành chính được ban hành có căn cứ khoa học, hợp lý, tạo nên khuôn khổ pháp lý và cơ chế vận hành đồng bộ, nhịp nhàng, nhanh nhạy, thông suốt của bộ máy hành chính nhà nước Từ đó, các cơ quan nhà nước mang tính phục vụ nhân dân hiệu quả hơn, cải cách hành chính cũng đạt hiệu quả cao hơn

Hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy hành chính phụ thuộc vào nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, cần có sự phân công rành mạch, rõ

Trang 33

ràng thẩm quyền giữa các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp Xuất phát từ đặc điểm hệ thống chính trị của Việt Nam là “Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội”, vai trò tác động của đảng cầm quyền đối với

tổ chức và phương thức hoạt động của bộ máy hành chính cơ bản có sự khác biệt với nhiều nước, mà chủ yếu và trước hết là ở tính độc lập tương đối của chúng Ví

dụ, trong hoạt động lập quy, Chính phủ không chỉ cụ thể hóa quy định trong các đạo luật mà còn phải thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng Công tác tổ chức, quản lý, đầu tư, phát triển nguồn nhân lực đội ngũ cán bộ công chức, viên chức từ khâu quy hoạch, tuyển dụng, sử dụng, đào tạo chuyên sâu, đề bạt, kỷ luật cho đến chế độ, chính sách đãi ngộ, chính sách tiền lương của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đều gắn với công tác đảng, công tác chính trị Từ đó có thể thấy cải cách hành chính luôn có mối quan hệ hữu cơ, quan hệ tương hỗ với việc đổi mới phương thức, nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn hiện nay

Tương tự như vậy, mối quan hệ giữa bộ máy hành chính nhà nước với các bộ phận khác của hệ thống chính trị như các tổ chức chính trị - xã hội, các cơ quan lập pháp và tư pháp… cũng có nhiều nét đặc thù và đều trực tiếp hoặc gián tiếp tác động đến hiệu quả quản lý nhà nước Do vậy, nâng cao hiệu quả cải cách hành chính nhà nước phải dựa trên cơ sở bảo đảm tính đồng bộ giữa tiến trình cải cách hành chính với cải cách tư pháp và lập pháp trong chỉnh thể đổi mới toàn bộ hệ thống chính trị Đó cũng là đòi hỏi khách quan ở Việt Nam hiện nay

1.4.2 Yếu tố tổ chức bộ máy nhà nước

Hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước là hoạt động quản lý hành chính nhà nước, chịu sự chi phối, tác động của rất nhiều yếu tố và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, khi một yếu tố thay đổi sẽ kéo theo các nhân tố khác thay đổi Đó

là các yếu tố như cơ cấu, tổ chức, chức năng của các cơ quan hành chính, đội ngũ cán bộ, công chức, chế độ công vụ… Sự phân công trong nội bộ hệ thống tổ chức, việc xác định nhiệm vụ cho các cơ quan khác nhau tạo được sự điều hoà, phối hợp cần thiết nhằm bảo đảm thực hiện được mục tiêu tổng thể của hệ thống các cơ quan hành chính và cả bộ máy nhà nước nói chung Cơ cấu tổ chức hợp lý sẽ tránh được

Trang 34

sự chồng chéo, vướng mắc, dễ dàng phối hợp, điều chỉnh công việc trong thực hiện nhiệm vụ, tiết kiệm thời gian; ngược lại nếu cơ cấu bất hợp lý sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động Bộ máy hành chính là một chỉnh thể và mỗi cơ quan hành chính là một

bộ phận, cả bộ máy chỉ hoạt động tốt khi mỗi bộ phận vừa thực hiện tốt nhiệm vụ của mình vừa phối hợp tốt với các bộ phận khác để hoàn thành được mục tiêu chung

Hệ thống tổ chức hành chính được nghiên cứu, xây dựng trên cơ sở phân định cụ thể, rõ ràng các chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền giữa các cơ quan, tổ chức

từ trung ương đến địa phương trong hệ thống tổ chức hành chính Hệ thống các thiết chế hành chính nhà nước bao gồm các cơ quan có chức năng quản lý hành chính nhà nước thống nhất hoàn chỉnh từ trung ương đến địa phương Hiệu quả hoạt động của các cơ quan này không hoàn toàn phụ thuộc vào hình thức, quy mô tổ chức mà chủ yếu phụ thuộc vào tính hoàn thiện của hệ thống Kinh nghiệm cho thấy, đây là những yếu tố cần và đủ bảo đảm sự vận hành thống nhất, thông suốt và tính hiệu lực, hiệu quả của bộ máy hành chính nhà nước Trong đó, việc xây dựng bộ máy nhà nước tinh gọn, hiệu quả vừa là mục tiêu, vừa là tất yếu khách quan mà Việt Nam đang hướng tới xây dựng và hoàn thiện tổ chức bộ máy nhà nước

1.4.3 Yếu tố con người

Trong các Nghị quyết các kỳ Đại hội đại biểu, Đảng luôn khẳng định yếu tố con người là yếu tố quan trọng nhất trong bảo đảm hiệu quả của công cuộc cải cách hành chính Trong yếu tố con người có hai nội dung là nội dung về đội ngũ cán bộ, công chức và nội dung về sự tham gia, ủng hộ của nhân dân

Thứ nhất, về đội ngũ cán bộ, công chức:

Để thực hiện công tác cải cách hành chính có hiệu quả, việc làm đầu tiên là phải quan tâm đến công tác cán bộ vì “Cán bộ là dây chuyền của bộ máy Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy toàn bộ máy cũng tê liệt” Đảng và Chính phủ đã nhận thức tầm quan trọng trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ đủ đức, đủ tài trong quản lý hành chính nên tại Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X, Đảng đã chỉ rõ phương hướng: “Tiếp tục đổi mới đồng bộ các khâu của công

Trang 35

tác cán bộ, tạo chuyển biến cơ bản, vững chắc trong công tác cán bộ; xây dựng đội ngũ cán bộ, đặt biệt là cán bộ chiến lược, người đứng đầu cơ quan, đơn vị thực sự vì Đảng, vì dân, có bản lĩnh, trí tuệ, đi đầu trong công tác, gương mẫu trong đạo đức, lối sống” [29]

Chất lượng nguồn nhân lực của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức luôn luôn là tiêu chí đặc biệt quan trọng quyết định hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước

Để xây dựng một nền hành chính chuyên nghiệp cần tập trung xây dựng và phát triển nguồn nhân lực tương ứng mang tính chuyên nghiệp cao trong giai đoạn hiện nay Việc xem xét, đánh giá tính chuyên nghiệp chủ yếu và trước hết dựa trên các tiêu chí như: có sự phân biệt rõ từng nhóm đối tượng phù hợp với yêu cầu và nội dung quản lý; trình độ, năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; nắm vững kỹ năng hành chính; ý thức chấp hành kỷ luật, kỷ cương và đề cao văn hóa công vụ, nhất là văn hóa giao tiếp, ứng xử

Từ đó nhằm mục đích nâng cao hiệu quả trong công tác cải cách hành chính, cần tập trung rà soát, xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức tốt và trình độ chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng công tác với cơ cấu, chức danh, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể nhằm chủ động đáp ứng các nhu cầu

cụ thể trong hoạt động việc thực thi công vụ

Thứ hai, về sự tham gia và ủng hộ của nhân dân:

Sự tham gia và ủng hộ của người dân đối với quản lý nhà nước không chỉ góp phần đảm bảo việc phát huy dân chủ của Nhà nước ta, đảm bảo quyền của nhân dân trong hoạt động quản lý nhà nước, khẳng định bản chất của Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, mà còn

là nhân tố quan trọng tác động đến hiệu quả quản lý nhà nước cũng như hiệu quả CCHC

Nhân dân tham gia quản lý nhà nước đảm bảo tính khách quan trong công tác quản lý nhà nước nói chung và quản lý hành chính nói riêng, giúp nhân dân hiện thực hóa địa vị pháp lý cũng như thể hiện nguyện vọng chính đáng, phát huy vai trò làm chủ của mình trong công tác quản lý nhà nước Hiện nay người dân có thể chủ

Trang 36

động tham gia các hoạt động quản lý nhà nước cũng như chủ động tham gia các hoạt động giám sát đối với các cơ quan quản lý nhà nước, thông qua việc trực tiếp thực hiện thủ tục hành chính tại các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương hoặc thông qua việc thực thi các quyền và nghĩa vụ công dân được quy định trong Hiến pháp Người dân cũng có thể gián tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước thông qua việc tham gia vào hoạt động của các tổ chức xã hội, các hoạt động tự quản ở cơ sở

Vì vậy, thực tiễn đã chứng minh sự tin tưởng, tham gia và ủng hộ của người dân càng lớn thì kết quả hoạt động quản lý của bộ máy hành chính càng cao, hiệu quả cải cách hành chính càng cao Đây cũng là bài học lớn mà Đảng và nhà nước luôn chú trọng đề cao trong tất cả các quá trình xây dựng đất nước

1.4.4 Yếu tố cơ sở vật chất, tài chính

Yếu tố cơ sở vật chất, tài chính là tổng thể các điều kiện vật chất, kỹ thuật, tài chính cần và đủ để đảm bảo cho hoạt động công vụ có hiệu quả Những bảo đảm

về mặt tài chính và điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật cho hoạt động quản lý nhà nước phụ thuộc một phần vào nhu cầu quản lý, nhưng chủ yếu là trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn Việc đầu tư về tài chính, trang bị cơ sở vật chất, kỹ thuật bảo đảm cho sự vận hành của bộ máy và hoạt động của chế độ công vụ, công chức vừa là điều kiện, vừa là một trong những tiêu chí chủ yếu đánh giá hiệu quả của nền hành chính (xét về hiệu quả chi tiêu công)

Bên cạnh đó, sự phát triển của khoa học, công nghệ và quá trình hội nhập quốc tế đang tạo ra những thay đổi trong tư duy và phương pháp tổ chức quản lý trên quy mô toàn xã hội Việc áp dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ trong quản

lý hành chính giúp thu hẹp khoảng cách không gian, rút ngắn thời gian, giảm chi phí thực tế và nhờ vậy trực tiếp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý, điều hành (ví dụ: ứng dụng công nghệ thông tin, áp dụng tiêu chuẩn ISO… trong hoạt động quản lý nhà nước trên nhiều lĩnh vực khác nhau ở tất cả các cấp chính quyền) Quá trình hội nhập quốc tế càng được đẩy nhanh thì áp lực về quá trình hiện đại hóa

Trang 37

nền hành chính, cũng như đòi hỏi về việc nâng cao năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức ngày càng gia tăng

Các yếu tố nêu trên được xem là những “yếu tố bên trong” gắn liền với cơ cấu tổ chức và quá trình vận hành của nền hành chính nhà nước từ trung ương đến

cơ sở Hiệu quả của cải cách nền hành chính nhà nước phụ thuộc vào chất lượng và

sự tác động qua lại lẫn nhau của các yếu tố trên Để có được một nền hành chính hiện đại, tiến bộ cần tích cực cải cách, liên tục đổi mới các thành tố cấu thành nền hành chính nhà nước đồng thời tăng cường rà soát chủ động hoàn thiện thể chế cũng như các điều kiện về môi trường kinh tế, xã hội để nền hành chính có năng lực thực hiện chức năng quản lý của Nhà nước thực sự đạt hiệu quả cao, đáp ứng nhu cầu hiện nay của nước ta

Trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế

ở nước ta hiện nay, hoạt động cải cách nền hành chính là một hoạt động mang tính tất yếu qua đó chủ động nghiên cứu chủ động đáp ứng các yêu cầu mới đặt ra thông qua thực tiễn khách quan của đời sống kinh tế, xã hội Để cải cách nền hành chính đạt hiệu quả cao thì cần phải đảm bảo sự phát triển phù hợp, hài hòa của các yếu tố nói trên Qua đó mới có thể nghiên cứu chủ động đáp ứng những nhiệm vụ, yêu cầu

cơ bản về hiệu lực, hiệu quả trong giai đoạn hiện hay đồng thời mang lại những tiện ích tốt nhất cho tất cả cộng đồng trong xã hội, hướng tập trung vào hoạt động lấy người dân làm trung tâm của hoạt động cải cách nền hành chính

1.5 Khái quát bài học kinh nghiệm về cải cách hành chính ở các nước trong khu vực và trên thế giới

Nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay

đã xác định hoạt động CCHC trong giai đoạn hiện nay là một nhu cầu manh tính khách quan tất yếu, đồng thời là một bước đột phá với mục đích nhằm đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế, tăng cường mạnh mẽ khả năng cạnh tranh và sự ưu việt của nền kinh tế, đẩy mạnh dân chủ và góp phần nâng cao chất lượng đời sống của người dân Trong luận văn này, tác giả tập trung nghiên cứu về kinh nghiệm CCHC của các quốc gia như Hàn Quốc, Singapore, Nhật Bản, Trung Quốc, Đức Đây là những

Trang 38

quốc gia phát triển, có tương đối nhiều điểm tương đồng với nước ta về vị trí địa lý hoặc về chế độ chính trị hay xuất phát điểm của nền kinh tế… Từ đó rút ra một số kinh nghiệm để vận dụng vào cải cách hành chính trong điều kiện cụ thể của Việt Nam giai đoạn hiện nay

1.5.1 Cộng hòa Liên bang Đức

Ngay từ khi lên cầm quyền vào năm 1982 [28], Chính phủ Liên bang của Thủ tướng Helmut Kohl đã quan tâm và có nhiều nỗ lực thể hiện quyết tâm tiến hành triệt để công cuộc cải cách và hiện đại hóa nền hành chính Nhiều chủ trương, biện pháp đã được đề ra với mục đích thiết lập một nền hành chính vận hành có hiệu quả, minh bạch và gần dân hơn, đủ sức đương đầu với mọi thách thức hiện nay

và trong tương lai Từ những năm 1990, Chính phủ Cộng hòa Liên bang Đức đã tiến hành một loạt biện pháp quan trọng nhằm thực hiện mục tiêu ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối nội là xây dựng một nhà nước gọn nhẹ như tiến hành soát xét

để giảm bớt chức năng, nhiệm vụ nhằm thu gọn bộ máy các cơ quan của Liên bang, đồng thời tiến hành cải cách nền công vụ theo Luật về cải cách pháp luật công vụ

Năm 1995, Chính phủ Cộng hòa Liên bang Đức đã thành lập Hội đồng tư vấn mang tên “Nhà nước gọn nhẹ” Nhiệm vụ của Hội đồng là theo dõi, hỗ trợ và thúc đẩy những sáng kiến và ý tưởng cải cách liên quan đến vấn đề nhà nước gọn nhẹ, bãi bỏ tệ quan liêu lỗi thời ở cấp Liên bang; nghiên cứu và đưa ra những khuyến nghị đối với Chính phủ trên các lĩnh vực như hành chính công, pháp luật về ngân sách, hệ thống văn bản pháp luật, tổ chức theo dõi, kiểm tra việc thực hiện

“Chương trình hành động tiếp tục nâng cao tính hiệu quả và tính kinh tế” của Chính phủ Đây là những biện pháp đầu tiên trên con đường tiến tới xây dựng một nhà nước gọn nhẹ

Từ những năm 2000, Đức thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm để cải cách

và hiện đại hóa nền hành chính như nâng cao năng lực bộ máy các cơ quan hành chính Liên bang; cải cách pháp luật công vụ và cải tiến công tác quản lý nhân lực;

Trang 39

cải cách công tác lập pháp; thực hiện chuyển đổi chức năng quản lý một số lĩnh vực

từ nhà nước sang tư nhân; tiến hành hiện đại hóa nền hành chính ở cấp bang và chính quyền tự quản địa phương; linh hoạt hóa hệ thống ngân sách… Nhờ đó, Đức

đã đạt được những thành tựu như tối ưu hóa quy trình làm việc để khai thác các tiềm năng, cơ cấu tổ chức gọn nhẹ nhưng hoạt động hiệu quả cao, số lượng biên chế giảm, chất lượng nhân sự cao, nâng cao được sự tự chịu trách nhiệm của đơn vị đối với hoạt động của đơn vị, cải tiến công tác quản lý chất lượng công việc; nhà nước chỉ tập trung vào những hoạt động mang tính công quyền về an ninh trật tự công cộng, quốc phòng, quản lý thuế, lao động và phúc lợi xã hội; hệ thống tư pháp tinh gọn, hiệu quả, phát huy triệt để tiềm năng nội lực, đáp ứng được yêu cầu cải cách hành chính của tình hình mới

Sau Thế chiến thứ 2 chỉ một thời gian ngắn, Đức từ một nước bị chiến tranh tàn phá dữ dội đã nhanh chóng vươn lên trở lại là một nước phát triển đồng đều các lĩnh vực Tác giả nhân thấy, bài học về “nhà nước gọn nhẹ” và chuyển đổi chức năng quản lý một số lĩnh vực từ nhà nước sang tư nhân phù hợp để áp dụng với Việt Nam giai đoạn hiện nay vì tình trạng bộ máy nhà nước cồng kềnh, hệ thống văn bản pháp luật đồ sộ nhưng không thực sự hiệu quả Ngoài ra, việc nhà nước quản lý tất

cả các lĩnh vực thiết yếu đã dẫn đến quá nhiều đại án tham nhũng nghìn tỷ, gây thiệt hại rất lớn cho ngân sách nhà nước vốn còn nghèo và nhiều nợ nước ngoài như hiện nay

Từ một quốc gia nông nghiệp, kém phát triển trong thập kỷ 60 của thế kỷ

XX, chỉ sau hơn 30 năm, Hàn Quốc đã vươn lên trở thành một trong những nền kinh tế phát triển nhất thế giới Tuy nhiên, một số bất cập mang tính hệ thống đã không được giải quyết triệt để nên đã trở thành các tác nhân gây ra khủng hoảng tài chính tiền tệ vào năm 1997 Khủng hoảng đã buộc Hàn Quốc đối diện với một nhận thức thực tế là, các phương thức cũ trong điều hành bộ máy nhà nước đã trở nên lạc hậu trong giai đoạn mới và cần có những thay đổi cơ bản để vực lại nền kinh tế của đất nước Hàn Quốc đã khẩn trương nghiên cứu những bài học kinh nghiệm quốc tế

Trang 40

để xây dựng Chương trình cải cách khu vực công, nhằm khắc phục hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ, tập trung trên bốn lĩnh vực chính: hợp tác, tài chính, lao động và khu vực công, trong đó xem việc tăng cường thúc đẩy cơ chế thị trường là nhiệm vụ trọng tâm

Hàn Quốc đã thành lập Uỷ ban đặc trách trực thuộc Tổng thống, chịu trách nhiệm lập kế hoạch ngân sách, cải cách Chính phủ và đưa vào thử nghiệm nhiều ý tưởng cải cách mới, một trong số đó là chế độ lương, thưởng dựa theo đánh giá chất lượng hoạt động của từng cá nhân (hoàn toàn trái với cơ chế trả lương dựa theo cấp bậc kiểu truyền thống), tiến hành giảm biên chế, từng bước thực hiện việc thuê khoán dịch vụ công, mở rộng phạm vi hoạt động của khu vực tư Cải cách được tiến hành tại tất cả các đơn vị thuộc khu vực công, với trọng tâm là tái cơ cấu nhằm làm gọn nhẹ bộ máy, áp dụng nguyên tắc cạnh tranh và nguyên tắc chất lượng thực thi công việc Kết quả việc thực hiện nhiệm vụ cải cách của từng cơ quan sẽ là cơ sở để tính toán phân bổ ngân sách cho cơ quan này vào năm sau

Kết quả thu được từ quá trình cải cách rất khả quan Về thể chế, đã sửa đổi các quy định của nhà nước để bảo đảm sự thích ứng với sự phát triển nhanh chóng của thị trường trên nguyên tắc giảm bớt sự can thiệp của nhà nước và giảm chi phí cho người dân Cải cách tổ chức bộ máy hành chính chú trọng vấn đề mấu chốt nhất

là phân cấp quản lý, đưa yếu tố cạnh tranh vào chế độ tuyển dụng theo nguyên tắc minh bạch và công khai Ban hành cơ chế đánh giá công chức đi đôi với điều chỉnh chế độ tiền lương Hiện nay, tại Hàn Quốc, bình quân có 27 công chức/1.000 dân, trong khi tỷ lệ này ở Mỹ là 75,4, Pháp là 82,2…; đã xây dựng được mạng lưới hạ tầng thông tin thuộc loại tốt nhất trên thế giới, thiết lập xong hệ thống xử lý công việc hành chính trong nội bộ các cơ quan hành chính thông qua mạng điện tử, tiến hành việc cung cấp dịch vụ công thông qua Internet, kể cả việc cung cấp dịch vụ hành chính thông qua điện thoại di động, công khai hoá việc xử lý các vấn đề của dân, của doanh nghiệp trên mạng

Mặc dù đã đạt được những kết quả nhất định trong CCHC, nhưng Hàn Quốc vẫn tiếp tục tiến trình cải cách để ngày càng hoàn thiện nền hành chính hơn Mục

Ngày đăng: 07/12/2019, 05:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Ngọc Anh (2015) Đẩy mạnh cải cách hành chính trong công an nhân dân phục vụ hiệu quả tổ chức, doanh nghiệp, công dân, Cục Pháp chế và cải cách hành chính, tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đẩy mạnh cải cách hành chính trong công an nhân dân phục vụ hiệu quả tổ chức, doanh nghiệp, công dân
2. Nguyễn Ngọc Anh (2018) “Kết quả và những giải pháp tiếp tục thực hiện cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 – 2020”,<http://tcnn.vn/news/detail/41036/Ket_qua_va_nhung_giai_phap_tiep_tuc_thuc_hien_cai_cach_hanh_chinh_nha_nuoc_giai_doan_2011_2020.html>, Ngày truy cập:13/9/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả và những giải pháp tiếp tục thực hiện cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 – 2020
3. Ban chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ (2016) Hội nghị Sơ kết công tác cải cách hành chính giai đoạn 2011-2015 và triển khai kế hoạch cải cách hành chính giai đoạn 2016-2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nghị Sơ kết công tác cải cách hành chính giai đoạn 2011-2015 và triển khai kế hoạch cải cách hành chính giai đoạn 2016-2020
4. Bộ Chính trị (2015) Nghị quyết số 39-NQ/TW của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, ban hành ngày 17/4/2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 39-NQ/TW của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức
5. Bộ Công an “Một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” (Đề án 106), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”
6. Bộ Nội vụ (2018) Báo cáo tình hình thực hiện công tác cải cách hành chính Quý 1/2018, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình thực hiện công tác cải cách hành chính Quý 1/2018
7. Bộ Nội vụ (2018) Hội nghị đánh giá kết quả Chỉ số cải cách hành chính năm 2017, phương hướng, nhiệm vụ công tác cải cách hành chính năm 2018 của Bộ Nội vụ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nghị đánh giá kết quả Chỉ số cải cách hành chính năm 2017, phương hướng, nhiệm vụ công tác cải cách hành chính năm 2018 của Bộ Nội vụ
8. S. Chiavo – Campo và P.S.A Sundaram (1999) Phục vụ và duy trì: Cải thiện hành chính công trong một thế giới cạnh tranh, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phục vụ và duy trì: Cải thiện hành chính công trong một thế giới cạnh tranh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
9. Chính phủ (2011) Hội nghị trực tuyến tổng kết Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010 và xây dựng Chương trình cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020, ngày 05/11/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nghị trực tuyến tổng kết Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010 và xây dựng Chương trình cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020
10. Chính phủ (2018) Nghị định số 01/2018/NĐ-CP của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an, ban hành ngày 06/8/2018, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 01/2018/NĐ-CP của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an
11. Chính phủ (2014) Nghị định số 108/2014/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách tinh giản biên chế, ban hành ngày 20/11/2014, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 108/2014/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách tinh giản biên chế
12. Chính phủ (2011) Nghị quyết số 30c/NQ-CP của Chính phủ về Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 – 2020, ban hành ngày 08/11/2011, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 30c/NQ-CP của Chính phủ về Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 – 2020
13. Chính phủ (2015) Nghị quyết 36a/NQ-CP của Chính phủ và Quyết định số 1819/QĐ-TTg ngày 26/10/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình quốc gia về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2016 – 2020, ban hành ngày 14/10/2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 36a/NQ-CP của Chính phủ và Quyết định số 1819/QĐ-TTg ngày 26/10/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình quốc gia về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2016 – 2020
14. Công an thành phố Hồ Chí Minh (2016) Báo cáo sơ kết giai đoạn I (2011- 2015) và phương hướng, nhiệm vụ giai đoạn II (2016-2020) thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 – 2020 trong CATP, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo sơ kết giai đoạn I (2011-2015) và phương hướng, nhiệm vụ giai đoạn II (2016-2020) thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 – 2020 trong CATP
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính Trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Nhà XB: Nxb Chính Trị quốc gia
16. Bùi Xuân Đức (2004) Đổi mới, hoàn thiện bộ máy nhà nước trong giai đoạn hiện nay, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới, hoàn thiện bộ máy nhà nước trong giai đoạn hiện nay
Nhà XB: Nxb Tư pháp
17. Tô Tử Hạ, Nguyễn Hữu Trị, Nguyễn Hữu Đức (1998) Cải cách chính quyền địa phương, lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách chính quyền địa phương, lý luận và thực tiễn
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
18. Nguyễn Hữu Hải (2013) Cơ sở lý luận và thực tiễn về hành chính nhà nước, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận và thực tiễn về hành chính nhà nước
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
19. Nguyễn Hữu Hải (2009) Tìm hiểu về hành chính công Hoa Kỳ - lý thuyết và thực tiễn, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu về hành chính công Hoa Kỳ - lý thuyết và thực tiễn
Nhà XB: Nxb Chính trị - Hành chính
20. Nguyễn Ngọc Hiến (2003) Những giải pháp thúc đẩy cải cách hành chính ở Việt Nam, NxbChính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những giải pháp thúc đẩy cải cách hành chính ở Việt Nam
Nhà XB: NxbChính trị Quốc gia

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w