1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TỈNH THÁI NGUYÊN

93 116 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 687,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quyền năng này được quy định trong ộ luật Tố tụng hình sự và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân để kháng nghị những bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án cùng

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN THỊ QUỲNH ANH

KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TỈNH THÁI NGUYÊN

Ngành: Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự

Mã số : 8.38.01.04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS PHẠM MẠNH HÙNG

Trang 2

LỜI CAM OAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi, chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực

Người cam đoan

Trần Thị Quỳnh Anh

Trang 3

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN HAI CẤP TỈNH THÁI NGUYÊN 34

2.1 Khái quát thực trạng kháng nghị phúc thẩm hình sự tại tỉnh Thái Nguyên 34 2.2 Những kết quả đạt được trong công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự của

VKSND hai cấp tỉnh Thái Nguyên 36 2.3 Những tồn tại, hạn chế trong công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự của

VKSND hai cấp tỉnh Thái Nguyên 47

KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM HÌNH SỰ 61

3.1 Hoàn thiện các quy định của pháp luật Tố tụng hình sự về kháng nghị phúc thẩm 61 3.2 Tăng cường việc triển khai, áp dụng các quy định của pháp luật Tố tụng hình sự

về kháng nghị phúc thẩm 62 3.3 Tăng cường và đổi mới công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành; công tác thanh tra, kiểm tra trong nội bộ ngành Kiểm sát, trong đó có công tác kháng nghị phúc thẩm 64 3.4 Nâng cao trình độ, kỹ năng nghiệp vụ và trách nhiệm của Kiểm sát viên về

công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự 68 3.5 Tăng cường sự chỉ đạo, phối hợp giữa Viện kiểm sát nhân dân hai cấp tỉnh Thái Nguyên 71 3.6 Tăng cường quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát và Tòa án trong việc giải quyết kháng nghị phúc thẩm hình sự 73 3.7 Tăng cường công tác kiểm sát các bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án 74 3.8 Tăng cường cơ sở vật chất, phương tiện làm việc, chính sách chế độ đối với cán

bộ, Kiểm sát viên 76

KẾT LUẬN 78 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT T T

BLTTHS : ộ luật Tố tụng hình sự BLHS : ộ luật Hình sự

CHXHCN : Cộng hòa xã hội chủ nghĩa TAND : Tòa án nhân dân

VKSND : Viện kiểm sát nhân dân VKS : Viện kiểm sát

Trang 5

MỞ ẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Điều này đã được quy định cụ thể tại Điều 107 Hiến pháp năm 2013 và Khoản 1, Điều 2 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014

Kể từ khi thành lập đến nay, ngành Kiểm sát nhân dân đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động

tư pháp, góp phần đảm bảo mọi hành vi phạm tội đều phải được khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm

và làm oan người vô tội Viện kiểm sát thực hiện chức năng thực hành quyền công tố thông qua việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Đồng thời, VKSND còn thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động xét xử của Tòa án với một quyền năng pháp lý quan trọng là kháng nghị phúc thẩm Quyền năng này được quy định trong ộ luật Tố tụng hình sự và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân để kháng nghị những bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án cùng cấp và cấp dưới trực tiếp, trong trường hợp việc xét xử của Tòa án vi phạm pháp luật nghiêm trọng các quy định của Luật hình sự, Tố tụng hình sự hoặc sau phiên tòa xét xử sơ thẩm mà phát hiện thấy quá trình tố tụng từ khi khởi tố

vụ án hình sự đến truy tố, xét xử có vi phạm pháp luật cả về hình thức và nội dung Viện kiểm sát kháng nghị để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại vụ án

Trang 6

theo trình tự phúc thẩm nhằm sửa chữa, khắc phục các sai lầm của Tòa án cấp

sơ thẩm khi ra các bản án, quyết định có vi phạm

Trong những năm qua công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự của VKSND hai cấp tỉnh Thái Nguyên đã có những chuyển biến tích cực, đa số các bản kháng nghị có bố cục chặt chẽ, lập luận rõ ràng, viện dẫn căn cứ pháp

lý chính xác, tính tranh tụng trong kháng nghị đã được nâng lên Do vậy, tỷ lệ kháng nghị được Viện kiểm sát cấp trên bảo vệ cũng cao hơn, số lượng kháng nghị năm sau cao hơn năm trước Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy việc kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm của Viện kiểm sát còn nhiều hạn chế chưa phát huy được hết chức năng, nhiệm vụ của Ngành Công tác kiểm sát bản án, biên bản nghị án, biên bản phiên tòa và các tài liệu khác thực hiện chưa tốt, dẫn đến vi phạm của cấp sơ thẩm không bị phát hiện, mặt khác do trình độ nhận thức của Kiểm sát viên không đầy đủ, chất lượng bản kháng nghị chưa đạt, nên có nhiều quyết định kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát ban hành chưa chính xác, dẫn đến nhiều vụ án Viện kiểm sát phải rút kháng nghị, tỷ lệ kháng nghị được Tòa án chấp nhận còn thấp trong khi số lượng án sơ thẩm phải sửa, hủy án thông qua kháng cáo chiếm tỷ lệ khá lớn Công tác kháng nghị phúc thẩm chưa thật sự được quan tâm đúng mức nên chưa phát huy được hết vai trò, chức năng nhiệm vụ của Ngành trong quá trình giải quyết án hình sự

Với mong muốn từ quá trình nghiên cứu lý luận cũng như thực tiễn về kháng nghị phúc thẩm hình sự nói chung va kháng nghị phúc thẩm hình sự từ thực tiễn tỉnh Thái Nguyên nói riêng, qua đó tìm ra nguyên nhân và kiến nghị những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng kháng nghị phúc thẩm thời gian

tới, học viên lựa chọn đề tài: “Kháng nghị phúc thẩm theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Thái Nguyên” làm luận văn thạc sỹ luật

học của mình

Trang 7

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Hiện nay, đã có nhiều tác giả nghiên cứu về chế định kháng nghị phúc thẩm hình sự dưới nhiều góc độ, phương diện khác nhau, cụ thể:

- Các công trình nghiên cứu về những vấn đề lý luận về kháng nghị phúc thẩm hình sự: GS TS Võ Khánh Vinh (2004), ình luận khoa học ộ luật TTHS, Nxb Công an nhân dân; TS Phạm Mạnh Hùng (2018), ình luận

khoa học ộ luật TTHS, Nxb Lao động; Đại học Luật Hà Nội (2017) Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân; Đinh Văn Quế (2007), Bàn thêm về kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm vụ án hình sự, Tạp chí Kiểm sát (số 15); Ngô Thanh Xuyên (2012), Bàn về khái niệm kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm hình sự, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (số 6)…

- Các công trình nghiên cứu về những bất cập, hạn chế trong các quy định pháp luật về kháng nghị phúc thẩm hình sự: Hoàng Thị Minh Sơn

(2013), Một số bất cập trong quy định của Bộ luật TTHS về kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, Tạp chí Luật học (số 8); Mai Thanh Hiếu (2015), Khái niệm hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm trong tố tụng hình sự, Tạp chí Luật học (số 1)…

- Các công trình nghiên cứu về thực tiễn áp dụng pháp luật về kháng

nghị phúc thẩm hình sự: Vũ Đức Thành (2010), Đôi điều rút ra qua thực hiện công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự ở Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh, Tạp chí Kiểm sát (số 16); Lê Thành Dương (2014), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về kháng nghị phúc thẩm hình sự, VKSND tối cao…

- Các công trình nghiêm cứu về các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự: Ngô Thanh Xuyên, Đỗ Mạnh Phương

(2014), Hoàn thiện các quy định về kháng nghị phúc thẩm hình sự trong Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành, Tạp chí Kiểm sát (số 17); Nguyễn Thị Lan

Trang 8

(2017), Giải pháp nâng cao chất lượng công tác kháng nghị phúc thẩm hình

sự của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng, Tạp chí Kiểm sát (số 3)…

Nhìn chung, các bài viết và công trình nghiên cứu về kháng nghị phúc thẩm hình sự đã có sự phân tích, đánh giá ở những phương diện khác nhau, tuy nhiên thường chỉ tập trung giải quyết một hoặc một vài nội dung nhất định

mà chưa có bài viết nào đi sâu nghiên cứu, phân tích về chế định kháng nghị phúc thẩm ở cả phương diện lý luận và thực tiễn công tác này của VKSND hai cấp tỉnh Thái Nguyên

Vì vậy, đề tài nghiên cứu của luận văn lựa chọn vấn đề phân tích, đánh giá về những kết quả đã đạt được, những mặt còn tồn tại, hạn chế trong công tác kháng nghị phúc thẩm; lý giải những yếu tố ảnh hưởng và đê xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng kháng nghị phúc thẩm hình sự của VKSND hai cấp tỉnh Thái Nguyên

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn hướng đến mục đích đánh giá khách quan, toàn diện công tác kháng nghị phúc thẩm, chỉ ra được những tồn tại, hạn chế để đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự của VKSND hai cấp tỉnh Thái Nguyên

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn tập trung vào thực hiện những nhiệm vụ chính như:

- Làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và các quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm của Viện kiểm sát

- Phân tích, đánh giá toàn diện việc thực hiện pháp luật và thực tiễn công tác kháng nghị phúc thẩm của VKSND hai cấp tỉnh Thái Nguyên Từ

đó, nêu lên được những mặt tích cực cũng như những tồn tại, hạn chế trong

Trang 9

việc thực hiện công tác kháng nghị phúc thẩm và chỉ ra nguyên nhân của tồn tại, hạn chế đó

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự của ngành Kiểm sát nói chung và của VKSND tỉnh Thái Nguyên nói riêng

4 ối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: luận văn đi vào nghiên cứu các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về kháng nghị phúc thẩm hình sự của VKS, có sự so sánh đối chiếu giữa LTTHS năm 2003 với LTTHS năm 2015; Luật tổ chức VKSND năm 2002 và 2014, liên hệ với thực tiễn tỉnh Thái Nguyên

- Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu toàn diện thực trạng công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự của VKSND hai cấp tỉnh Thái Nguyên trong thời gian

từ năm 2014 đến năm 2018

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận: Luận văn nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận là phép duy vật biện chứng của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, về cải cách tư pháp

- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, lịch sử cụ thể, hệ thống, thống kê, so sánh – đối chiếu…

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

- Ý nghĩa lý luận: Luận văn góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn, các quy định về kháng nghị phúc thẩm hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, đồng thời đề ra giải pháp hoàn thiện một số vấn đề lý luận

về thủ tục phúc thẩm

- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của Luận văn góp phần đánh giá thực trạng công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự trong 05 năm vừa qua

Trang 10

và nâng cao hiệu quả áp dụng thủ tục kháng nghị phúc thẩm của VKSND hai cấp tỉnh Thái Nguyên

7 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật tố tụng hình sự về kháng nghị

phúc thẩm hình sự

Chương 2: Thực trạng kháng nghị phúc thẩm hình sự của viện kiểm sát nhân

dân hai cấp tỉnh thái nguyên

Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác kháng nghị phúc

thẩm hình sự

Trang 11

Chương 1 NHỮNG VẤN Ề LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ

KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM HÌNH SỰ 1.1 Những vấn đề lý luận về kháng nghị phúc thẩm hình sự

1.1.1 Khái niệm kháng nghị phúc thẩm hình sự

Theo khoản 1, Điều 107 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (CHXHCN) Việt Nam năm 2013, Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp Khoản 1, Điều 2, Luật tổ chức VKSND năm 2014, VKSND có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp

VKSND là cơ quan duy nhất được giao chức năng thực hành quyền công tố Hoạt động này được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo

về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự nhằm bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội Trong giai đoạn xét xử, VKSND thực hiện chức năng thực hành quyền công tố để bảo vệ quan điểm truy tố theo cáo trạng, bảo đảm xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Đồng thời, VKSND còn thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động xét xử của Tòa án Nếu xét thấy bản

án hoặc quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng thủ tục

tố tụng hoặc vi phạm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật hình sự, xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, xã hội và quyền, lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng thì Viện kiểm sát (VKS) cùng cấp hoặc cấp trên trực tiếp sẽ sử dụng một quyền năng pháp lý đặc biệt để yêu cầu Tòa án cấp trên tiến hành xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm, đó là quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự

Trang 12

Khoản 1, Điều 5 Luật tổ chức VKSND năm 2014 quy định: “Trường hợp hành vi, bản án, quyết định của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp có vi phạm pháp luật nghiêm trọng, xâm phạm quyền con người, quyền công dân, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của

tổ chức, cá nhân thì VKSND phải kháng nghị Cơ quan, người có thẩm quyền phải giải quyết kháng nghị của VKSND theo quy định của pháp luật” Như

vậy, kháng nghị là một quyền năng pháp lý quan trọng của VKS khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của mình

Theo Từ điển Tiếng Việt, thuật ngữ “kháng nghị” là bày tỏ ý kiến chống lại điều đã quyết nghị [20, tr 894]; “phúc thẩm” là xét lại những vụ án

do Tòa án dưới đưa lên [20, tr 1087]

Theo Từ điển Luật học, “kháng nghị” của VKS là việc VKS khi thực hành quyền kiểm sát hoạt động tư pháp không đồng ý với toàn bộ hoặc một phần bản án, quyết định của Tòa án, gửi văn bản đến Tòa án có thẩm quyền làm ngưng hiệu lực thi hành đối với toàn bộ hoặc một phần bản án đó để xét

xử theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm đảm bảo cho vụ án được xét xử chính xác, khách quan, đúng pháp luật [8, tr 731]; “Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm” chỉ có VKS cùng cấp, cùng lãnh thổ với Tòa án đã ra bản án, quyết định sơ thẩm và VKS cấp trên trực tiếp của VKS này mới có quyền kháng nghị những bản án, quyết định sơ thẩm

Từ đó, có thể hiểu kháng nghị là hành vi tố tụng của VKS, thể hiện việc không đồng ý với toàn bộ hoặc một phần bản án, quyết định của Tòa án, với mục đích bảo đảm cho việc xét xử được chính xác, khách quan, công bằng đồng thời khắc phục, sửa chữa những sai sót trong bản án, quyết định của Tòa

án [3]

Điều 232 Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS) năm 2003 quy định:

“Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng

Trang 13

nghị những bản án hoặc quyết định sơ thẩm” Điều 36 LTTHS năm 2003 quy định: “…2 Khi thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với vụ án hình sự, Viện trưởng Viện kiểm sát

có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: i) Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm các bản án, quyết định của Tòa án”

Khoản 2, Điều 41 LTTHS năm 2015 quy định Viện trưởng VKS có

quyền: “o) Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm bản

án, quyết định của Tòa án theo quy định của Bộ luật này”

Khoản 3, Điều 4 Luật tổ chức VKSND năm 2014 quy định: “Khi thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm

vụ, quyền hạn sau đây: d) Kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật”

Như vậy, pháp luật đã quy định rõ khi xét thấy những bản án và quyết định sơ thẩm của Tòa án có vi phạm pháp luật nghiêm trọng thì VKS cùng cấp và VKS cấp trên trực tiếp có thẩm quyền kháng nghị phúc thẩm Kháng nghị phúc thẩm hình sự là quyền năng pháp lý quan trọng, xuất phát từ chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong lĩnh vực hình sự của VKS và xuất phát từ nguyên tắc cơ bản trong tố tụng hình sự nước ta đó là bảo đảm hai cấp xét xử Theo nội dung của nguyên tắc này, một

vụ án có thể được xét xử qua hai cấp, từ đó những vấn đề của vụ án sẽ một lần nữa được xem xét, phân tích, đánh giá, làm cơ sở cho các phán quyết của Tòa

án đảm bảo độ chính xác, khách quan cao hơn Thông qua hoạt động xét xử

vụ án hình sự qua hai cấp xét xử, Tòa án cấp phúc thẩm có thể kịp thời sửa chữa những sai lầm, thiếu sót trong những bản án, quyết định của Tòa án cấp

sơ thẩm Đồng thời, việc xét xử lại vụ án mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử sẽ giúp tìm ra nguyên nhân của những sai lầm hay những vi phạm pháp luật

Trang 14

trong việc áp dụng pháp luật của Tòa án nói riêng và các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung

Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, kháng nghị của VKS không phải chỉ có trong trình tự phúc thẩm mà còn là căn cứ để xét xử giám đốc thẩm hoặc tái thẩm Cụ thể, kháng nghị là căn cứ để xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm thì gọi là kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, nếu kháng nghị là căn cứ để xét xử theo thủ tục tái thẩm thì gọi là kháng nghị theo thủ tục tái thẩm, nếu kháng nghị là căn cứ để xét xử theo thủ tục phúc thẩm thì gọi là kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm Tuy nhiên, do giới hạn của phạm vi nghiên cứu nên đề tài chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu về kháng nghị phúc thẩm hình sự

Khái niệm kháng nghị phúc thẩm hình sự đã được đề cập nhiều trong khoa học pháp lý nước ta Tuy nhiên, trong LTTHS hiện hành, các văn pháp pháp lý khác và trong các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học vẫn

chưa đưa ra một định nghĩa thống nhất về khái niệm “kháng nghị phúc thẩm hình sự” Có tác giả cho rằng kháng nghị phúc thẩm là quyền năng pháp lý

được Nhà nước giao cho VKSND để kháng nghị những bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án cùng cấp và cấp dưới trực tiếp khi phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng để yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm nhằm bảo đảm việc xét xử đúng pháp luật, nghiêm minh và kịp thời [11] Quan điểm khác lại định nghĩa kháng nghị phúc thẩm là một văn bản do VKS ban hành yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử nhưng xét thấy không đúng pháp luật [21]

Trên cơ sở phân tích nội dung, đặc điểm, đặc trưng, mục đích của kháng nghị phúc thẩm hình sự, nghiên cứu các tài liệu có liên quan cũng như tiếp thu các quan điểm của các nhà khoa học về tố tụng hình sự, tác giả đưa ra

Trang 15

định nghĩa về kháng nghị phúc thẩm hình sự như sau: Kháng nghị phúc thẩm hình sự là quyền năng pháp lý mà Nhà nước giao cho Viện kiểm sát nhân dân thể hiện quan điểm của Viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại bản án, quyết định hình sự sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật theo trình tự phúc thẩm Qua đó nhằm bảo đảm việc xét xử của Tòa án được thực hiện theo đúng pháp luật, việc xét xử nghiêm minh, kịp thời, đúng người, đúng tội, không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội

1.1.2 Đặc điểm của kháng nghị phúc thẩm hình sự

Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm vụ án hình sự có một số đặc điểm

cơ bản như sau:

- Kháng nghị phúc thẩm hình sự là quyền năng pháp lý mà Nhà nước giao cho VKSND Đây là chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của VKS đã được quy định tại Khoản 1 Điều 107 Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm

2013 và được cụ thể hóa trong Luật tổ chức VKSND năm 2014 Thông qua công tác kháng nghị, VKS đồng thời thực hiện được chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự

Khoản 1 Điều 3 Luật tổ chức VKSND năm 2014 quy định: “Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự”

ên cạnh chức năng thực hành quyền công tố thì VKS còn có nhiệm vụ quan trọng khác trong tố tụng hình sự, đó là chức năng kiểm sát các hoạt động

tư pháp Theo đó, VKS sẽ kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay

từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

Trang 16

và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự cho đến khi thi hành các bản

án, quyết định của Tòa án Như vậy, hai chức năng này của VKS được thực hiện xuyên suốt trong quá trình giải quyết một vụ án hình sự và thông qua hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa sơ thẩm, VKS phát hiện có những vi phạm pháp luật nghiêm trọng thì VKS có quyền kháng nghị phúc thẩm Điều 23 LTTHS năm 2003, nay là Điều 20 LTTHS năm 2015 quy định trách nhiệm của VKS khi thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, cụ thể “Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, quyết định việc buộc tội, phát hiện vi phạm pháp luật nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội, pháp nhân phạm tội, vi phạm pháp luật đều phải được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh, việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, pháp nhân phạm tội, không làm oan người vô tội” Như vậy, khi thực hiện chức năng thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự, VKS kháng nghị các bản án, quyết định của Tòa

án trong trường hợp phát hiện oan, sai, bỏ lọt tội phạm, người phạm tội, pháp nhân phạm tội; khi kiểm sát việc xét xử vụ án hình sự, VKS kháng nghị đối với bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng

- Hoạt động kháng nghị phúc thẩm xuất hiện khi VKS nhận thấy có những “vi phạm pháp luật nghiêm trọng” trong bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án cùng cấp hoặc cấp dưới trực tiếp Vấn đề đặt ra ở đây là đánh giá mức độ vi phạm pháp luật của bản án, quyết định như thế nào? Có quan điểm cho rằng, khi đánh giá mức độ vi phạm thì chỉ cần xác định bản án, quyết định có sự vi phạm pháp luật là đã có căn cứ để kháng nghị phúc thẩm Mặt khác, Điều 32 Quy chế về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét

xử các vụ án hình sự ban hành kèm theo Quyết định số 505/2017/QĐ-VKSTC

Trang 17

ngày 18/12/2017 của VKSND tối cao nêu căn cứ để kháng nghị phúc thẩm là

có “vi phạm pháp luật”, tức là vi phạm trong việc áp dụng pháp luật nội dung (luật hình sự) và vi phạm pháp luật hình thức (luật tố tụng hình sự)

Tuy nhiên, Luật tổ chức VKSND năm 2014 đã quy định rõ mức độ vi phạm làm căn cứ cho việc kháng nghị phúc thẩm phải là “vi phạm pháp luật nghiêm trọng” Cụ thể Điều 5 Luật tổ chức VKSND năm 2014 quy định VKSND có quyền kháng nghị, kiến nghị Theo đó, quyền kháng nghị được thực hiện khi phát hiện hành vi, bản án, quyết định của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp có “vi phạm pháp luật nghiêm trọng”, xâm phạm quyền con người, quyền công dân, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì VKSND phải kháng nghị; quyền kiến nghị được VKSND thực hiện khi phát hiện hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp có “vi phạm pháp luật ít nghiêm trọng” không thuộc trường hợp kháng nghị thì VKSND kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân đó khắc phục vi phạm pháp luật và xử lý nghiêm minh người vi phạm pháp luật Như vậy, không phải đối với vi phạm pháp luật nào trong hoạt động tư pháp VKS cũng ban hành kháng nghị mà kháng nghị của VKS chỉ được ban hành đối với những vi phạm pháp luật nghiêm trọng

- Đối tượng của kháng nghị phúc thẩm là bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật Hoạt động kháng nghị là một trong những căn cứ

để Tòa án xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm Theo quy định tại Điều

230 LTTHS 2003 nay là Điều 330 LTTHS 2015 thì xét xử phúc thẩm là một thủ tục tố tụng hình sự, tính chất của xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án, quyết định sơ thẩm đối với vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị Xét xử phúc thẩm góp phần bảo đảm cho việc xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, kịp thời khắc phục những sai lầm, thiếu sót

Trang 18

có thể xâm phạm quyền con người, quyền công dân, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Như vậy, một bản án, quyết định sơ thẩm sẽ được xem xét lại theo thủ tục phúc thẩm khi có đủ hai điều kiện: bản án, quyết định đó chưa có hiệu lực pháp luật và bị kháng cáo hoặc kháng nghị Điều này khác với kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm có đối tượng là bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án

- Kháng nghị phúc thẩm góp phần cho một trong những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự là chế độ hai cấp xét xử (sơ thẩm và phúc thẩm) được bảo đảm Theo nguyên tắc này, bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án bị kháng nghị thì vụ án phải được xét xử phúc thẩm Sau khi vụ án được xét xử phúc thẩm thì bản án, quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật và được đưa ra thi hành, không phụ thuộc vào việc bản án, quyết định đó có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm Còn giám đốc thẩm, tái thẩm không phải là một cấp xét xử mà chỉ là thủ tục “xét lại” bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhưng phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án (đối với thủ tục giám đốc thẩm) hoặc có tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Tòa án không biết được khi ra bản án, quyết định đó (đối với thủ tục tái thẩm)

- VKS cùng cấp hoặc VKS cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản

án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật Ở thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm do tính chất “xét lại” bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật là đặc biệt nên thẩm quyền kháng nghị đã được giới hạn Theo đó, thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm thuộc về VKSND tối cao, TAND tối cao, Tòa án quân sự Trung ương, Viện kiểm sát quân sự trung ương, VKSND cấp cao và TAND cấp cao; thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm chỉ

Trang 19

có Viện trưởng VKSND tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương và Viện trưởng VKSND cấp cao

Từ những phân tích trên về đặc điểm của kháng nghị phúc thẩm hình sự

có thể thấy, kháng nghị phúc thẩm hình sự là quyền năng pháp lý đặc biệt mà Nhà nước giao cho VKSND Kháng nghị phúc thẩm hình sự được VKS cùng cấp hoặc VKS cấp trên trực tiếp thực hiện khi phát hiện bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án có vi phạm pháp luật nghiêm trọng, để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại vụ án đó theo trình tự phúc thẩm nhằm kịp thời sửa chữa, khắc phục những thiếu sót, vi phạm của Tòa án cấp dưới, đảm bảo việc xét xử đúng pháp luật, nghiêm minh và kịp thời, đồng thời bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức xã hội và Nhà nước

1.1.3 Vai trò của kháng nghị phúc thẩm hình sự

- Việc quy định và thực hiện tốt công tác kháng nghị phúc thẩm hình

sự có vai trò quan trọng trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền, bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa Quy định này góp phần quan trọng vào việc thực thi pháp luật xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Xuất phát từ chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự của mình, VKS sẽ phát hiện kịp thời những vi phạm pháp luật nghiêm trọng, từ đó ban hành kháng nghị nói chung và kháng nghị phúc thẩm nói riêng làm căn cứ bảo đảm hoạt động xét xử của Tòa án được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, bảo đảm nhận thức và áp dụng thống nhất pháp luật, bảo đảm cho quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng, không để xảy ra oan, sai, bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội

- Việc quy định và thực hiện quyền kháng nghị phúc thẩm là căn cứ quan trọng làm phát sinh thủ tục phúc thẩm Xét xử phúc thẩm có mục đích là kiểm tra lại tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm và xét xử lại vụ án

Trang 20

về mặt nội dung Từ đó, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, xã hội và của công dân được bảo vệ; những thiếu sót, vi phạm trong hoạt động xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm được khắc phục, sửa chữa; pháp luật được hướng dẫn, giải thích và áp dụng thống nhất

- Việc thực hiện tốt công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự có vai trò quan trọng trong việc thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp của VKS Việc phát hiện ra những vi phạm để ban hành kháng nghị và yêu cầu Tòa án xét xử vụ án theo trình tự phúc thẩm sẽ góp phần bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh, được áp dụng và thực thi thống nhất Thật vậy, hiểu được tầm quan trọng của khâu công tác này, trong những năm quan Viện trưởng VKSND tối cao đã ban hành nhiều Chỉ thị về tăng cường công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự Trên cơ sở đó đã tạo nhiều chuyển biến mới đối với công tác này trong ngành Kiểm sát nhân dân

1.1.4 Hiệu lực của kháng nghị phúc thẩm hình sự

Hiệu lực của kháng nghị phúc thẩm là sự phát sinh việc thực hiện thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm và giới hạn việc thực hiện thẩm quyền xem xét và quyết định của tòa án trong giới hạn xét xử sơ thẩm, phạm vi và hướng kháng nghị theo quy định của pháp luật với điều kiện kháng nghị phúc thẩm hợp pháp về đối tượng, chủ thể, thời hạn, hình thức và thủ tục kháng nghị

Hiệu lực của kháng nghị là bảo đảm pháp lý cần thiết cho việc thực hiện đúng thẩm quyền của Tòa án phúc thẩm; bảo đảm cho việc xét xử lại vụ

án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm, tìm ra nguyên nhân của sai lầm hay vi phạm về pháp luật trong việc giải quyết vụ án của các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung và Tòa án cấp sơ thẩm nói riêng, từ đó tìm ra giải pháp thích

Trang 21

hợp để sửa chữa sai lầm, vi phạm của Tòa án cấp sơ thẩm, nâng cao trách nhiệm của Tòa án cấp sơ thẩm trong việc giải quyết vụ án Việc Tòa án cấp phúc thẩm sửa hoặc hủy bản án, quyết định sơ thẩm chính là hình thức hướng dẫn áp dụng pháp luật của Tòa án phúc thẩm đối với Tòa án sơ thẩm, bảo đảm tính thống nhất trong việc áp dụng, thi hành pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng xét xử và phòng ngừa sai lầm, vi phạm của Tòa án cấp sơ thẩm

1.1.5 Thẩm quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự

Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án cấp sơ thẩm và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là các chủ thể có thẩm quyền kháng nghị phúc thẩm Quyền kháng nghị của VKS cấp trên trực tiếp là quyền độc lập chứ không phải chỉ

bổ sung cho quyền kháng nghị của VKS cấp dưới Trong trường hợp kháng nghị của VKS cấp dưới và VKS cấp trên trực tiếp có nội dung bổ sung cho nhau thì Tòa án cấp phúc thẩm xem xét cả hai quyết định kháng nghị Trong trường hợp kháng nghị của VKS cấp dưới và cấp trên trực tiếp có nội dung mâu thuẫn nhau mà VKS cấp dưới không rút kháng nghị của mình, VKS cấp trên trực tiếp không rút kháng nghị của VKS cấp dưới thì Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét kháng nghị của VKS cấp trên trực tiếp

1.1.6 Thời hạn kháng nghị phúc thẩm hình sự

Thời hạn kháng nghị phúc thẩm là khoảng thời gian cần thiết theo quy định của pháp luật để VKS cùng cấp và VKS cấp trên trực tiếp thực hiện việc kháng nghị Thời hạn kháng nghị phúc thẩm tính từ thời điểm bắt đầu đến thời điểm kết thúc thời hạn kháng nghị Để xác định thời điểm bắt đầu thời hạn kháng nghị, pháp luật quy định ngày được xác định, tùy từng trường hợp ngày được xác định là ngày Tòa án tuyên án, ra quyết định hoặc ngày bản án, quyết định sơ thẩm được giao hoặc được niêm yết Để xác định thời điểm kết thúc thời hạn kháng nghị, pháp luật quy định ngày cuối cùng của thời hạn Trong trường hợp ngày cuối cùng của thời hạn là ngày nghỉ theo quy định của

Trang 22

pháp luật thì thời hạn kháng nghị được kéo dài đến hết ngày làm việc đầu tiên tiếp theo của ngày nghỉ đó

Sự kết thúc thời hạn kháng nghị có hậu quả tước bỏ quyền kháng nghị phúc thẩm của VKS, làm cho bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật Vì vậy, kháng nghị quá hạn là kháng nghị vô hiệu, trừ trường hợp có lí

do chính đáng và được Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận Lí do chính đáng của việc kháng nghị quá hạn là trường hợp do trở ngại khách quan không thể vượt qua, chủ thể của quyền kháng nghị phúc thẩm tuyệt đối không thể thực hiện việc kháng nghị trong thời hạn luật định

1.2 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về kháng

và “quyền chống án” đã được ghi nhận cho những chủ thể tố tụng khác nhau

Cụ thể, tại Điều 54 Sắc lệnh số 13 quy định: “Tòa đại hình sơ thẩm, ông Biện

lý có quyền chống án lên Tòa thượng thẩm”

Sau đó, thuật ngữ “kháng nghị” chính thức được ghi nhận vào năm

1957, tại điểm c Điều I mục II Thông tư số 141-HCTP ngày 5 tháng 12 năm

1957 của ộ Tư pháp về tổ chức và phân công nội bộ của Tòa án Theo đó, Công tố ủy viên, dưới sự lãnh đạo của ộ Tư pháp, có nhiệm vụ theo dõi việc xét xử và hòa giải tòa án nhân dân có hợp pháp không, kháng nghị đối với các bản án hoặc nghị quyết của tòa án xét không đúng pháp luật [1]

Trang 23

Đến năm 1959, lần đầu tiên trong Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có những quy định về hệ thống tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của VKS Để cụ thể hóa quy định của Hiến pháp, ngày 15/7/1960, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thông qua Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, quy định một cách cụ thể về hệ thống tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của VKS Trong đó, Điều 17 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 đã quy định VKSND tối cao và các VKSND địa phương

có một quyền quan trọng, đó là “kháng nghị những bản án hoặc quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân cùng cấp và cấp dưới một cấp”

Kế thừa những quy định của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm

1960, ngày 04/7/1981, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam đã thông qua Luật

tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981 Theo đó, Điều 13 của Luật quy

định khi thực hiện công tác kiểm sát xét xử, các VKSND có quyền “kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm các bản án và quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cùng cấp và dưới một cấp, khi thấy có vi phạm pháp luật” Như vậy, quy định này của điều luật đã chính thức ghi nhận

thuật ngữ “kháng nghị phúc thẩm”

Tiếp đó, Điều 19 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 được

Quốc hội thông qua ngày 02/4/2002 tiếp tục quy định: “Khi thực hành quyền công tố và kiểm sát việc xét xử các vụ án hình sự, Viện kiểm sát nhân dân có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm… các bản án, quyết định của Tòa

án nhân dân theo quy định của pháp luật” Đến Luật tổ chức Viện kiểm sát

nhân dân năm 2014 được Quốc hội thông qua ngày 24/11/2014 đã quy định

cụ thể tại Điều 18 của Luật, khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét

xử vụ án hình sự VKSND có nhiệm vụ, quyền hạn “kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án trong trường hợp phát hiện oan, sai, bỏ lọt tội phạm, người phạm tội” Và Điều 19 của Luật quy định khi kiểm sát xét xử vụ án hình sự,

Trang 24

VKSND có nhiệm vụ, quyền hạn “kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án

có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng”

Như vậy, qua các giai đoạn lịch sử, quy định về kháng nghị phúc thẩm hình sự về hình thức có những tên gọi khác nhau, từng bước đã có sự thay đổi, bổ sung, hoàn thiện hơn, dần đáp ứng yêu cầu thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử của VKS Có thể nói, chế định kháng nghị phúc thẩm hình sự đã được sửa đổi, bổ sung nhiều lần cho phù hợp với tình hình thực tế của mỗi thời kỳ cách mạng Việt Nam

Trong pháp luật tố tụng hình sự, khi LTTHS chưa được ra đời, các quy định về kháng nghị phúc thẩm hình sự được thực hiện theo ản hướng dẫn về trình tự tố tụng phúc thẩm về hình sự kèm theo Thông tư số 19/TATC ngày 02/10/1974 của TAND tối cao Sau đó, khi LTTHS ra đời, chế định kháng nghị phúc thẩm hình sự được quy định tại Phần thứ tư, Chương XXII, các Điều 206, 207, 208, 210, 211, 212, 213 của LTTHS năm 1988 Đến LTTHS 2003, chế định này được quy định tại Phần thứ tư, Chương XXIII, các Điều 230, 232, 233, 234, 236, 237, 238, 239 Theo đó, cả hai ộ luật trên đều quy định Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị những bản án hoặc quyết định sơ thẩm; kháng nghị được thể hiện bằng văn bản, có nói rõ lý do và được gửi đến Tòa án đã xử sơ thẩm; thời hạn kháng nghị là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (theo LTTHS 1998) hoặc 15 ngày đối với VKS cùng cấp, 30 ngày đối với VKS cấp trên trực tiếp,

kể từ ngày tuyên án (theo LTTHS 2003) Đồng thời, quy định rõ về hậu quả của kháng nghị cũng như thủ tục thông báo về việc kháng nghị, bổ sung, thay đổi, rút kháng nghị

Kế thừa những quy định trên, LTTHS năm 2015 tiếp tục quy định về chế định này tại Chương XXII ở các Điều 336, 337, 338, 339, 342, 343 Từ những quy định trên, có thể thấy rằng, từ khi thành lập Nhà nước Việt Nam

Trang 25

Dân chủ Cộng hòa cho đến nay, pháp luật tố tụng hình sự đều có những quy định nêu rõ chỉ có VKS mới có quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự

1.2.2 Các quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về kháng nghị phúc thẩm hình sự

1.2.2.1 Thẩm quyền kháng nghị phúc thẩm

Theo quy định tại khoản 1, Điều 336 LTTHS năm 2015 thì VKSND cùng cấp với Tòa án đã ra bản án, quyết định sơ thẩm và VKSND cấp trên trực tiếp của VKSND đó có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật Người có thẩm quyền quyết định việc kháng nghị phúc thẩm là Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS (quy định tại Điều 41 LTTHS 2015)

Điều 36 Quy chế công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự (ban hanh kèm theo Quyết định số 505/2017/QĐ-VKSTC ngày 18/12/2017của Viện trưởng VKSND tối cao) đã nêu cụ thể: Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKSND cấp huyện kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với những bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của TAND cấp huyện; Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKSND cấp tỉnh kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của TAND cấp huyện, cấp tỉnh; Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKSND cấp cao kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của TAND cấp tỉnh thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ

Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 quy định về hệ thống VKSND gồm có 04 cấp: VKSND tối cao, VKSND cấp cao, VKSND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (VKSND cấp tỉnh), VKSND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương (VKSND cấp huyện) Sau khi Nghị quyết số 82/2014/QH13 ngày 24/11/2014 của Quốc hội về việc thi hành

Trang 26

Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân có hiệu lực thi hành thì VKSND tối cao chuyển giao nhiệm vụ thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử phúc thẩm cho VKSND cấp cao Theo đó Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKSND cấp cao có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của TAND tỉnh thành phố trực thuộc trung ương Như vậy, đây là quy định mới thay đổi về thẩm quyền kháng nghị phúc thẩm bởi VKSND tối cao không còn chức năng kháng nghị phúc thẩm

mà chuyển quyền năng này cho VKSND cấp cao

VKS có thể kháng nghị toàn bộ hoặc một phần của bản án, quyết định; đối với tất cả bị cáo và những người tham gia tố tụng khác hoặc chỉ với một

số người; hướng kháng nghị của VKS cũng không bị hạn chế Do thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án sơ thẩm thuộc về VKS cùng cấp và VKS cấp trên trực tiếp nên sẽ có những trường hợp xảy ra như:

- Nếu hai bản kháng nghị có tính chất bổ sung cho nhau thì tòa án cấp phúc thẩm sẽ chấp nhận để xét xử theo cả hai bản kháng nghị đó

- Nếu hai bản kháng nghị mâu thuẫn nhau, VKS cùng cấp không rút kháng nghị của mình, VKS cấp trên không hủy kháng nghị của VKSND cấp dưới thì tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét kháng nghị của VKS cấp trên trực tiếp do nguyên tắc hoạt động của VKSND là tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành

1.2.2.2 Phạm vi kháng nghị

Điều 239 LTTHS năm 2003 quy định về kháng cáo, kháng nghị những quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm, tuy nhiên tại Khoản 2 của điều luật chỉ liệt kê các quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có thể bị kháng cáo, đó là quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án, còn các quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm mà VKS có quyền kháng nghị lại không được quy định cụ thể Vì vậy, từ nội dung của điều luật ta có thể hiểu rằng VKS có thể kháng nghị phúc

Trang 27

thẩm đối với tất cả các quyết định tố tụng của Tòa án cấp sơ thẩm nếu phát hiện quyết định đó có vi phạm pháp luật nghiêm trọng Đến LTTHS năm

2015 đã quy định cụ thể các quyết định sơ thẩm có thể bị kháng cáo, kháng nghị tại Khoản 2 Điều 330, đó là quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ

vụ án, quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo, quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo và quyết định khác của Tòa án cấp sơ thẩm theo quy định của LTTHS 2015

1.2.2.3 Thời hạn kháng nghị phúc thẩm

Thời hạn kháng nghị là khoảng thời gian nhất định mà LTTHS quy định cho phép VKS kháng nghị đối với bản án, quyết định của Tòa án Thời hạn kháng nghị phúc thẩm được tính kể từ thời điểm bắt đầu đến thời điểm kết thúc thời hạn kháng nghị Hệ quả của việc kết thúc thời hạn kháng nghị sẽ làm mất quyền kháng nghị của VKS, khi đó bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có hiệu lực pháp luật

Điều 234 LTTHS năm 2003 quy định thời hạn kháng cáo, kháng nghị Tức là đã quy định chung thời hạn kháng nghị phúc thẩm của VKS đối với bản án với thời hạn kháng cáo Tiếp đó, thời hạn kháng nghị những quyết định của Tòa án sơ thẩm được quy định tại Khoản 1 Điêu 239 LTTHS 2003 LTTHS năm 2015 không tách biệt quy định về thời hạn kháng nghị đối với bản án, quyết định của tòa án cấp sơ thẩm thành 02 điều luật khác nhau mà xây dựng riêng một điều luật mới và vẫn giữ nguyên về mức thời hạn Cụ thể,

Điều 337 LTTHS năm 2015 quy định: “1 Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 30 ngày kể từ ngày Tòa án tuyên án 2 Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp đối với quyết định của Tòa

án cấp sơ thẩm là 07 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 15 ngày kể

từ ngày Tòa án ra quyết định” Sự thay đổi trên về kỹ thuật lập pháp đã phân

Trang 28

tách rõ giữa thời hạn kháng cáo và thời hạn kháng nghị, tránh nhầm lẫn giữa

hai thời hạn, từ đó tránh những vi phạm về thời hạn kháng nghị

án (Điều 359 LTTHS 2015) Đồng thời, áp dụng quy định tại Điều 37 Quy chế công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự (ban hanh kèm theo Quyết định số 505/2017/QĐ-VKSTC ngày 18/12/2017 của Viện trưởng VKSND tối cao thì có thể xác định căn cứ kháng nghị phúc thẩm đối với bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật như sau:

- Việc điều tra, xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm không đầy đủ dẫn đến đánh giá không đúng tính chất của vụ án

Tức là khi tiến hành thủ tục xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử chỉ hỏi thiên về một mặt, một khía cạnh, không điều tra xét hỏi đầy đủ các mặt, các khía cạnh của vấn đề, không làm rõ được những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự theo quy định tại Điều 85 LTTHS 2015 Hoặc việc điều tra xét hỏi đã bỏ sót một hoặc một số tình tiết về từng sự việc, từng tội trong một vụ án, không điều tra xét hỏi đối với người tham gia tố tụng dẫn đến việc không đảm bảo đủ cơ sở để đánh giá tính chất của vụ án Việc điều tra, xét hỏi không đầy đủ như trên đã dẫn đến việc không đánh giá đúng tính chất của vụ án, nội dung của vụ án bị đánh giá sai lệch, do đó VKS cần phải kháng nghị để xem xét, đánh giá lại tính chất vụ án đảm bảo chính xác, khách quan nhất

Trang 29

- Kết luận, quyết định trong bản án, quyết định sơ thẩm không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án

Điều này có nghĩa là, trong phần xét thấy, phần quyết định của bản án hoặc quyết định sơ thẩm có những vấn đề không phù hợp với các tình tiết khách quan đã được điều tra, xác minh, thu thập trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên tòa hoặc những tình tiết khách quan của vụ án được làm rõ tại phiên tòa qua phần xét hỏi, tranh luận Kết luận trong bản án hoặc quyết định sơ thẩm bị coi là không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án

có thể là một trong các trường hợp sau: kết luận không phù hợp với các chứng

cứ, tài liệu đã được điều tra, xác minh tại phiên tòa; có sự mâu thuẫn giữa các chứng cứ; tại phiên tòa không xem xét tình tiết có ý nghĩa quan trọng đối với

vụ án mà Tòa án dựa vào đó để kết luận về vụ án…

- Có sai lầm trong việc áp dụng các quy định của ộ luật hình sự, ộ luật Dân sự và các văn bản pháp luật khác

Kết quả của sai lầm trong việc áp dụng pháp luật có thể dẫn đến việc để xảy ra oan, sai Trong khoa học pháp lý hình sự, khái niệm “oan” có thể được hiểu là “Trường hợp không có sự việc phạm tội, hành vi không cấu thành tội phạm, do bị vu cáo, dựng vụ án giả hoặc hành vi do người khác thực hiện, nhưng một người vẫn bị điều tra, truy tố, xét xử và kết tội” Khái niệm về

“sai” có thể được hiểu là trường hợp các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng giải quyết vụ án hình sự một cách không khách quan, không đầy đủ, trái với những quy định của pháp luật Việc để xảy ra sai trong xét xử

vụ án hình sự với các biểu hiện như việc áp dụng pháp luật hình thức, pháp luật nội dung không đúng, không đầy đủ, không khách quan, việc áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với một người phạm tội chưa chính xác…

Trang 30

Việc có những sai lầm nghiêm trọng trong áp dụng pháp luật có thể dẫn đến việc bỏ lọt tội phạm iểu hiện cụ thể của việc bỏ lọt tội phạm là việc bỏ lọt hành vi phạm tội, bỏ lọt người phạm tội, hoặc qua việc điều tra, truy tố xác định đối tượng có dấu hiệu của tội phạm nhưng khi tiến hành xét xử, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố là không có tội Đối với trường hợp Tòa án tuyên bố không có tội, theo quy định tại Khoản 2 Điều 250 LTTHS năm 2003 nay là Điều 358 LTTHS 2015 thì đây la một căn cứ để Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại ở cấp sơ thẩm, do đó VKS hoàn toàn có quyền kháng nghị phúc thẩm trong trường hợp này

Sai lầm trong việc áp dụng các quy định của LHS thường xuất phát từ việc hiểu và vận dụng các quy định có sự sai sót, không chỉ là sai điều khoản

áp dụng đối với hành vi phạm tội mà còn không đúng với các quy định có liên quan trong việc giải quyết đúng đắn vấn đề trách nhiệm hình sự của người phạm tội Đó có thể là áp dụng sai điểm, khoản, điều luật của LHS dẫn đến xét xử bị cáo về tội nặng hơn hoặc tội nhẹ hơn, về khoản nặng hơn hoặc nhẹ hơn không đúng với nguyên tắc xử lý vụ án Việc áp dụng pháp luật không chính xác sẽ dấn đến việc quyết định hình phạt không tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội hay việc áp dụng một số căn cứ không có cơ sở để thực hiện việc quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là không đúng

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm không đúng luật định hoặc có

Trang 31

phải gồm 02 Thẩm phán và 03 Hội thẩm nhưng phiên tòa xét xử sơ thẩm chỉ

có 01 Thẩm phán và 02 Hội thẩm

Có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng là trường hợp khi điều tra, truy tố, xét xử LTTHS quy định bắt buộc phải tiến hành một thủ tục tố tụng nào đó, nhưng cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, dẫn đến việc xâm phạm nghiêm trọng đến quyền lợi của bị can, bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự hoặc làm cho việc giải quyết vụ án thiếu khách quan toàn diện Ví dụ, hoạt động điều tra, truy tố, xét

xử không thực hiện đúng quy định về sự tham gia của người bào chữa trong trường hợp bắt buộc phải có người bào chữa; Tòa án xét xử không đúng thẩm quyền, vi phạm quy định về giới hạn xét xử hoặc không thực hiện việc hoãn phiên tòa khi phải hoãn phiên tòa theo luật định

1.2.2.5 Trình tự, thủ tục kháng nghị phúc thẩm hình sự

Khi xét thấy có căn cứ để tiến hành việc kháng nghị phúc thẩm, VKS thực hiện việc ban hành Quyết định kháng nghị Trong đó có các nội dung chính như ngày, tháng, năm ban hành quyết định; số của quyết định; tên của VKS ra quyết định; phạm vi kháng nghị là toàn bộ hay một phần bản án, quyết định sơ thẩm; lý do, căn cứ kháng nghị và yêu cầu của VKS; họ tên, chức vụ của người ký kháng nghị; nêu rõ những vi phạm pháp luật cụ thể của bản án, quyết định về đánh giá chứng cứ, về vận dụng chính sách pháp luật,

về áp dụng thủ tục tố tụng và nêu quan điểm của VKS về việc giải quyết vụ

án theo đúng quy định của pháp luật Nếu Điều 233 LTTHS năm 2003 chỉ quy định kháng nghị được gửi đến duy nhất Tòa án đã xét xử sơ thẩm; hình thức của kháng nghị được thể hiện bằng văn bản, có nêu rõ lý do thì Khoản 2 Điều 338 LTTHS năm 2015 đã quy định cụ thể hơn về thủ tục gửi quyết định kháng nghị: Trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra quyết định kháng

Trang 32

nghị, Viện kiểm sát phải gửi quyết định kháng nghị kèm theo chứng cứ, tài liệu, đồ vật bổ sung (nếu có) cho Tòa án đã xét xử sơ thẩm, đồng thời gửi quyết định kháng nghị cho bị cáo và những người liên quan đến kháng nghị nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của người liên quan đến kháng nghị VKS đã kháng nghị phải gửi quyết định kháng nghị cho VKS khác có thẩm quyền kháng nghị, cụ thể như sau: Kháng nghị cùng cấp của VKSND cấp tỉnh gửi VKSND cấp cao, kháng nghị cùng cấp của VKS quân sự cấp quân khu gửi VKS quân sự trung ương, kháng nghị của VKSND cấp cao gửi VKSND tối cao

Để đảm bảo cho việc giải quyết phúc thẩm đối với kháng nghị của VKS được kịp thời, khách quan và chính xác, Điều 339 LTTHS năm 2015 đã bổ sung một nội dung mới quy định về nghĩa vụ của Tòa án cấp sơ thẩm bên cạnh việc gửi hồ sơ vụ án, kháng nghị đồng thời phải gửi các chứng cứ, tài liệu, đồ vật kèm theo (nếu có) cho Tòa án cấp phúc thẩm trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày hết thời hạn kháng nghị

Điều 242 LTTHS năm 2003 quy định nghĩa vụ của Tòa án chậm nhất

là 15 ngày trước ngày mở phiên tòa, Tòa án cấp phúc thẩm phải thông báo bằng văn bản cho VKS cùng cấp về thời gian, địa điểm xét xử phúc thẩm vụ

án Tuy nhiên không có điều luật nào quy định về việc Tòa án cấp phúc thẩm phải chuyển hồ sơ vụ án cho VKS cùng cấp để nghiên cứu tham gia thủ tục phúc thẩm Khi đó, việc chuyển hồ sơ cho VKS cùng cấp để nghiên cứu được thực hiện theo hướng dẫn tại Nghị quyết 05/2005/NQ-HĐTP ngày 08/12/2005 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một

số quy định trong phần xét xử phúc thẩm của ộ luật tố tụng hình sự năm

2003 Khắc phục điều này, LTTHS năm 2015 đã quy định chặt chẽ hơn, theo đó Điều 341 LTTHS năm 2015 đã quy định nghĩa vụ của Tòa án cấp phúc thẩm phải chuyển hồ sơ vụ án cho VKS cùng cấp sau khi thụ lý vụ án, đồng thời quy định rõ thời hạn VKS phải trả lại hồ sơ cho Tòa án, cụ thể

Trang 33

trong thời hạn 15 ngày đối với VKSND cấp tỉnh và VKS quân sự cấp quân khu, 20 ngày đối với VKSND cấp cao, VKS quân sự trung ương kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án Trường hợp vụ án thuộc loại tội đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp thì thời hạn này có thể kéo dài nhưng không quá 25 ngày đối với VKSND cấp tỉnh, VKS quân sự cấp quân khu, 30 ngày đối với VKSND cấp cao, VKS quân sự trung ương

1.2.2.6 Thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị

Khi VKS đã gửi kháng nghị, Tòa án đã thụ lý ở cấp phúc thẩm, tuy nhiên VKS nhận thấy quyết định kháng nghị chưa đầy đủ, cần bổ sung kháng nghị, nội dung kháng nghị cần phải thay đổi cho phù hợp hay VKS nhận thấy việc kháng nghị là không đúng quy định, không cần thiết nên cần rút kháng nghị thì VKS sẽ thực hiện việc thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị

Điều 238 LTTHS năm 2003 quy định “Viện kiểm sát có quyền bổ sung, thay đổi kháng nghị…; rút một phần hoặc toàn bộ kháng nghị” Điều này đã dẫn đến những cách hiểu khác nhau về việc VKS cấp nào có quyền bổ sung, thay đổi kháng nghị, rút kháng nghị? Trong trường hợp kháng nghị trên cấp thì VKS cấp dưới có quyền bổ sung, thay đổi kháng nghị hay không? Hoặc trong trường hợp ngược lại, VKS cấp dưới kháng nghị thì VKS cấp trên trực tiếp có quyền bổ sung, thay đổi kháng nghị không? Đối với trường hợp rút kháng nghị khi VKS cấp dưới kháng nghị nhưng VKS cấp trên trực tiếp có quyền rút kháng nghị hay không và ngược lại? Trong những năm qua, nội dung này được thực hiện theo hướng dẫn của Nghị quyết 05/2005/NQ-HĐTP ngày 08/12/2005 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Quy chế thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử các vụ án hình sự ban hành kèm theo Quyết định số 960/2007/QĐ-VKSTC ngày 17/9/2007 của Viện trưởng VKSND tối cao Theo đó, Điều 37 Quy chế quy định với trường hợp bổ sung, thay đổi, rút kháng nghị trước khi mở phiên tòa, VKS đã kháng nghị hoặc

Trang 34

VKS cấp trên trực tiếp có quyền bổ sung, thay đổi kháng nghị của mình hoặc của VKS cấp dưới nhưng không được làm xấu hơn tình trạng của bị cáo; rút một phần hoặc toàn bộ kháng nghị Việc bổ sung, thay đổi, rút kháng nghị phải do lãnh đạo Viện quyết định bằng văn bản, có nêu rõ lý do Tại phiên tòa việc bổ sung, thay đổi, rút kháng nghị do KSV tham gia phiên tòa quyết định, nhưng phải có căn cứ và chịu trách nhiệm về quyết định của mình Sau phiên tòa KSV phải báo cáo ngay với lãnh đạo Viện và lãnh đạo đơn vị

Khắc phục việc quy định chưa rõ ràng của LTTHS năm 2003, LTTHS năm 2015 đã quy định cụ thể tại Điều 342, theo đó thời điểm rút kháng nghị của VKS có thể là trước khi bắt đầu phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm; thẩm quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị là của VKS ra quyết định kháng nghị; VKS ra quyết định kháng nghị hoặc VKS cấp trên trực tiếp

có quyền rút một phần hoặc toàn bộ kháng nghị Trường hợp thay đổi, bổ sung kháng nghị khi vẫn còn thời hạn kháng nghị thì VKS đã kháng nghị có quyền thay đổi, bổ sung nội dung bản kháng nghị đối với một phần hoặc toàn

bộ bản án, quyết định mà VKS có quyền kháng nghị theo hướng có lợi hoặc bất lợi cho bị cáo Nếu VKS rút kháng nghị, tuy nhiên sau đó nhận thấy việc rút là không chính xác, có căn cứ để thực hiện việc kháng nghị lại và thời hạn kháng nghị vẫn còn thì VKS có quyền được kháng nghị lại

Trong trường hợp đã hết thời hạn kháng nghị phúc thẩm thì trước khi bắt đầu phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, VKS ra quyết định kháng nghị vẫn có quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị nhưng không được làm xấu đi tình trạng của bị cáo Thay đổi, bổ sung kháng nghị làm xấu đi tình trạng của bị cáo là thay đổi, bổ sung theo hướng đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm tăng hình phạt, chuyển khung hình phạt nặng hơn; áp dụng điều luật của LHS về tội nặng hơn; không cho bị cáo được hưởng án treo đối với bị cáo đã được Tòa

án cấp sơ thẩm cho hưởng án treo; không cho bị cáo được miễn trách nhiệm

Trang 35

hình sự, miễn hình phạt đối với bị cáo đã được Tòa án cấp sơ thẩm miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, tăng mức bồi thường thiệt hại; áp dụng thêm hình phạt bổ sung; áp dụng thêm biện pháp tư pháp đối với bị cáo

Điều 238 LTTHS năm 2003 quy định VKS có quyền rút một phần hoặc toàn bộ kháng nghị, tuy nhiên chỉ quy định hậu quả pháp lý trong trường hợp VKS rút toàn bộ kháng nghị mà không quy định hậu quả pháp lý trong trường hợp VKS rút một phần kháng nghị; chỉ đặt vấn đề đối với phần kháng nghị bị rút trước khi mở phiên tòa thì mặc nhiên bị đình chỉ mà không quy định rõ trong trường hợp phần kháng nghị rút lại có liên quan đến kháng nghị khác thì sẽ giải quyết như thế nào? Điều 342 LTTHS năm 2015 quy định một cách chặt chẽ hơn, theo đó khi VKS rút một phần kháng nghị trước khi

mở phiên tòa mà xét thấy không liên quan đến kháng nghị khác thì Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định về việc rút một phần kháng nghị và quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần kháng nghị đó trong bản án phúc thẩm; việc thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị trước khi mở phiên tòa phải được lập thành văn bản và gửi cho Tòa án cấp phúc thẩm Tòa án cấp phúc thẩm phải thông báo cho Viện kiểm sát, bị cáo và những người có liên quan đến kháng nghị biết về việc thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị Việc thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị tại phiên tòa được ghi vào biên bản phiên tòa Trường hợp VKS rút một phần kháng nghị tại phiên tòa mà xét thấy không liên quan đến kháng nghị khác thì Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định về việc rút một phần kháng nghị và quyết định đình chỉ xét xử đối với phần kháng nghị đó trong bản án phúc thẩm

1.2.2.7 Hậu quả pháp lý của kháng nghị phúc thẩm hình sự

Hậu quả pháp lý của kháng nghị phúc thẩm được quy định tại Điều 237 LTTHS 2003, nay là Điều 339 LTTHS 2015 Điều 237 LTTHS năm

2003 đã thiếu sót khi chỉ quy định về hậu quả pháp lý của việc kháng nghị đối

Trang 36

với những phần của bản án bị kháng nghị thì chưa được đưa ra thi hành trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 255 của LTTHS năm 2003 mà không quy định về hậu quả pháp lý đối với những phần của quyết định bị kháng nghị Mặt khác, Điều 237 LTTHS năm 2003 quy định trong trường hợp kháng nghị đối với toàn bộ bản án thì toàn bộ bản án chưa được đưa ra thi hành mà không quy định trường hợp loại trừ là không đảm bảo

Khắc phục những thiếu sót trên, Điều 339 LTTHS năm 2015 đã quy định chặt chẽ hơn, theo đó những phần của bản án, quyết định của Tòa án bị kháng nghị thì chưa được đưa ra thi hành, trừ trường hợp quy định tại Điều

363 “Trường hợp bị cáo đang bị tạm giam mà Tòa án cấp sơ thẩm quyết định đình chỉ vụ án, tuyên bị cáo không có tội, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt cho bị cáo, hình phạt không phải là hình phạt tù hoặc phạt tù nhưng cho hưởng án treo hoặc khi thời hạn phạt tù bằng hoặc ngắn hơn thời hạn đã tạm giam thì bản án hoặc quyết định của Tòa án được thi hành ngay, mặc dù vẫn có thể bị kháng cáo, kháng nghị Hình phạt cảnh cáo được thi hành ngay tại phiên tòa” Đồng thời, khi có kháng nghị đối với toàn bộ bản

án, quyết định thì toàn bộ bản án, quyết định chưa được đưa ra thi hành, trừ trường hợp quy định tại Điều 363 LTTHS năm 2015 Khi giải quyết kháng nghị phúc thẩm, có thể đưa đến kết quả Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm, sửa bản án sơ thẩm hoặc hủy bản án sơ thẩm

Tiểu kết Chương 1

Kháng nghị phúc thẩm hình sự là một quyền năng pháp lý quan trọng của VKSND, xuất phát từ chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong lĩnh vực hình sự và xuất phát từ nguyên tắc cơ bản trong tố tụng hình sự nước ta đó là bảo đảm hai cấp xét xử Kháng nghị phúc thẩm không chỉ là quyền mà còn là trách nhiệm của VKS nhằm bảo vệ pháp

Trang 37

chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của công dân

Các quy định của pháp luật TTHS đã tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho VKS thực hiện tốt nhiệm vụ kháng nghị phúc thẩm Có thể thấy rằng các quy định của pháp luật TTHS về kháng nghị phúc thẩm đã từng bước được cụ thể hóa, đầy đủ hơn, thay đổi rõ ràng hơn, đây sẽ là cơ sở quan trọng góp phần nâng cao chất lượng kháng nghị phúc thẩm các vụ án hình sự

Trên cơ sơ lý luận về kháng nghị phúc thẩm hình sự, tác giả trình bày

về thực trạng của công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự từ thực tiễn tỉnh Thái Nguyên trong những năm gần đây tại phần sau của luận văn

Trang 38

Chương 2 THỰC TRẠNG KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN HAI CẤP TỈNH THÁI NGUYÊN

2.1 Khái quát thực trạng kháng nghị phúc thẩm hình sự tại tỉnh Thái Nguyên

Trong những năm qua, VKSND hai cấp tỉnh Thái Nguyên luôn quan tâm, chú trọng tới công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự, đặc biệt sau khi có Chỉ thị 03/2008/CT-VKSTC-VPT1 ngày 19/6/2008 (Chỉ thị 03) và sau đó là Chỉ thị 08/CT-VKSTC ngày 06/4/2016 của Viện trưởng VKSND tối cao (Chỉ thị 08) về việc tiếp tục tăng cường công tác kháng nghị án hình sự thì công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự đã đi vào nề nếp, ban hành nhiều bản kháng nghị có chất lượng, khắc phục được nhiều vi phạm pháp luật của Tòa án cấp

sơ thẩm, bảo đảm việc giải quyết các vụ án hình sự đúng pháp luật, nghiêm minh, xét xử đúng người, đúng tội, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội Qua số liệu thống kê của VKSND tỉnh Thái Nguyên từ ngày 01 tháng 12 năm 2013 đến ngày 30 tháng 11 năm 2018 cho thấy:

Theo bảng biểu số 2.1 và 2.2 thì: Số vụ án và bị cáo đưa ra xét xử sơ thẩm là 6838 vụ/12241 bị cáo; số vụ án và bị cáo được thụ lý phúc thẩm là

1128 vụ/1846 bị cáo, trong đó số vụ án và bị cáo bị VKSND hai cấp tỉnh Thái Nguyên kháng nghị phúc thẩm là 52 vụ/67 bị cáo Như vậy, trung bình mỗi năm đã xét xử sơ thẩm 1367 vụ/2448 bị cáo; thụ lý phúc thẩm là 225 vụ/369

bị cáo; ban hành 10 kháng nghị phúc thẩm; tỷ lệ giữa bị cáo có kháng nghị so với tổng số bị cáo thụ lý phúc thẩm là 3,7% (trong đó năm 2014 là 3,5%; năm

2015 là 2,8%; năm 2016 là 4,4%; năm 2017 la 4,5%; năm 2018 là 3,1%) Kháng nghị trên một cấp vẫn còn ít, sự phối kết hợp giữa hai cấp sơ thẩm, phúc thẩm trong công tác kháng nghị còn hạn chế Từ năm 2014 đến năm

Trang 39

2018, VKSND tỉnh kháng nghị đối với 29 bị cáo, chiếm tỷ lệ 43,3% trên tổng

số bị cáo do hai cấp kháng nghị

ảng biểu số 2.3 thể hiện, trong 05 năm từ năm 2014 đến năm 2018, số

vụ án được đưa ra xét xử phúc thẩm là 538 vụ/970 bị cáo, trong đó số vụ có kháng nghị đưa ra xét xử phúc thẩm là 46 vụ/61 bị cáo, số bị cáo kháng cáo đưa ra xét xử là 492 vụ/909 bị cáo Như vậy, đối với các vụ án đã đưa ra xét

xử phúc thẩm thì tỷ lệ giữa số bị cáo có kháng nghị chiếm tỷ lệ rất thấp, chỉ 6,3% so với số bị cáo đã đưa ra xét xử phúc thẩm (cụ thể: năm 2014: 5,4%; năm 2015: 5,5%; năm 2016: 7,1%; năm 2017: 8,2%; năm 2018: 6%)

Kết quả giải quyết các vụ án có kháng nghị phúc thẩm của VKS hai cấp tỉnh Thái Nguyên theo bảng 2.4 trong giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2018 như sau: số vụ án và bị cáo bị VKSND hai cấp tỉnh Thái Nguyên kháng nghị phúc thẩm là 52 vụ/67 bị cáo; số vụ VKS rút kháng nghị: 06 vụ/06 bị cáo (chiếm tỷ lệ 8,9%); số vụ VKS cấp tỉnh bảo vệ kháng nghị là 46 vụ/61 bị cáo, trong đó Tòa án cấp phúc thẩm đã chấp nhận kháng nghị đối với 36 vụ/47 bị cáo (chiếm tỷ lệ 70,1%), không chấp nhận kháng nghị đối với 10 vụ/14 bị cáo (chiếm tỷ lệ 21%) Phần lớn các kháng nghị của VKS được cấp phúc thẩm chấp nhận đều là kháng nghị yêu cầu khắc phục những sai sót của Tòa án cấp

sơ thẩm như: đề nghị tăng án; chuyển hình phạt từ cho hưởng án treo sang hình phạt tù; về áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; về xác định sai tư cách những người tham gia tố tụng; về tổng hợp hình phạt…

Theo bảng biểu số 2.5 thể hiện kết quả xét xử theo thủ tục phúc thẩm cho thấy: tổng số bị cáo bị Tòa án cấp phúc thẩm tuyên hủy, sửa án là 586 bị cáo trên tổng số bị cáo Tòa án đưa ra xét xử 970 bị cáo (chiếm tỷ lệ 60,4%) Tổng số bị cáo bị Tòa án cấp phúc thẩm tuyên hủy, sửa án thông qua kháng nghị là 47 bị cáo trên tổng số bị cáo bị Tòa án cấp phúc thẩm tuyên hủy, sửa

Trang 40

586 bị cáo (chiếm tỷ lệ 8%) Như vậy, số bị cáo bị Tòa án phúc thẩm hủy, sửa

án vẫn chủ yếu là thông qua kháng cáo

2.2 Những kết quả đạt được trong công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự của VKSND hai cấp tỉnh Thái Nguyên

2.2.1 Những kết quả đạt được

Xác định được tầm quan trọng của công tác kháng nghị phúc thẩm hình

sự, VKSND hai cấp tỉnh Thái Nguyên đã tiếp tục quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc Chỉ thị 03 và Chỉ thị 08 của Viện trưởng VKSND tối cao, từng bước đưa công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự đi vào nề nếp và có những chuyển biến nhất định, đa số các bản kháng nghị có bố cục chặt chẽ, lập luận rõ ràng, viện dẫn căn cứ pháp lý chính xác, tính tranh tụng trong kháng nghị đã được nâng lên Hình thức kháng nghị tuân thủ đúng mẫu kháng nghị của Ngành, thể thức văn bản và thời hạn kháng nghị đảm bảo theo quy định của pháp luật Do vậy tỷ lệ kháng nghị được Viện kiểm sát cấp trên bảo

vệ cũng cao hơn, tỷ lệ kháng nghị được tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận cũng cao hơn, công tác kháng nghị đã khắc phục những thiếu sót của Tòa án trong việc quyết định hình phạt ở nhiều vụ án, góp phần đấu tranh kiên quyết và có hiệu quả đối với các loại tội phạm

Phần lớn kháng nghị của VKSND hai cấp tỉnh Thái Nguyên là đề nghị tăng án; chuyển hình phạt từ cho hưởng án treo sang hình phạt tù; về áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; về xác định sai tư cách những người tham gia tố tụng; về tổng hợp hình phạt…

Các quyết định kháng nghị của VKS thường tập trung vào các sai phạm sau của Tòa án:

a) Kháng nghị do xác định sai tư cách người tham gia tố tụng

Ví dụ: vụ án Trần Quang Luyến phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” bị Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ

Ngày đăng: 06/12/2019, 18:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nguyễn Hòa ình (2016) Những nội dung mới trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nội dung mới trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
4. Dương Thanh iểu (2007) “Những vấn đề cần chú ý để nâng cao chất lượng công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát nhân dân”, Tạp chí Kiểm sát, số 8,tr.3 – 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cần chú ý để nâng cao chất lượng công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát nhân dân”, "Tạp chí Kiểm sát
5. ộ Chính trị (2002) Nghị quyết số 0 NQ-TW về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, ban hành ngày 02/01/2002, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 0 NQ-TW về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
6. ộ Chính trị (2005) Nghị quyết số 4 NQ-TW về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, ban hành ngày 24/5/2005, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 4 NQ-TW về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
7. ộ Chính trị (2005) Nghị quyết số 4 NQ-TW về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, ban hành ngày 02/06/2005, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 4 NQ-TW về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
8. ộ Tư pháp và Viện Khoa học pháp lý (2007) Từ điển Thuật ngữ Luật học, Nxb Bách khoa và Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Thuật ngữ Luật học
Nhà XB: Nxb Bách khoa và Nxb Tư pháp
9. ộ Tư pháp (1957) Thông tư số 141-HCTP về tổ chức và phân công nội bộ của Tòa án, ban hành ngày 05/12/1957, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 141-HCTP về tổ chức và phân công nội bộ của Tòa án
10. Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa (1946) Sắc lệnh số 13, ban hành ngày 24/01/1946, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sắc lệnh số 13
11. Lê Thành Dương (2014) “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về kháng nghị phúc thẩm hình sự”, Tạp chí Kiểm sát, số 12, tr.32 – 40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về kháng nghị phúc thẩm hình sự”, "Tạp chí Kiểm sát
12. Đại học Luật Hà Nội (2008) Giáo trình Luật Tố tụng hình sự của nước cộng hòa xã hội chủ ngh a Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Tố tụng hình sự của nước cộng hòa xã hội chủ ngh a Việt Nam
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
13. Đại học Luật Hà Nội (2017) Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
14. Đại học Quốc gia Hà Nội (2013) Giáo trình Luật Tố tụng hình sự của nước cộng hòa xã hội chủ ngh a Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Tố tụng hình sự của nước cộng hòa xã hội chủ ngh a Việt Nam
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
17. Phạm Mạnh Hùng (2018) Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
Nhà XB: Nxb Lao động
18. Phạm Xuân Khoa (2014) “ àn về vai trò, trách nhiệm của Kiểm sát viên trong tố tụng hình sự”, Tạp chí Kiểm sát, số 23, tr. 12-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: àn về vai trò, trách nhiệm của Kiểm sát viên trong tố tụng hình sự”, "Tạp chí Kiểm sát
19. Tạ Trung Kiên (2013) “Một số đề xuất tăng cường công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự trong thời gian tới”, Tạp chí Kiểm sát, số 23, tr.16 - 19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đề xuất tăng cường công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự trong thời gian tới”, "Tạp chí Kiểm sát
20. Hoàng Phê (2012) Từ điển Tiếng Việt, Nxb Hồng Đức, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
22. Quốc hội (1988) Bộ luật tố tụng hình sự, ban hành ngày 26/6/1988, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật tố tụng hình sự
23. Quốc hội (2003) Bộ luật tố tụng hình sự, ban hành ngày 26/11/2003, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật tố tụng hình sự
24. Quốc hội (2015) Bộ luật tố tụng hình sự, ban hành ngày 27/11/2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật tố tụng hình sự
25. Quốc hội (1959) Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, ban hành ngày 31/12/1959, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm