Kể từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời tháng 8/1945 đến nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, vấn đề quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo luôn được thực hiệ
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ KIM OANH
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÔN GIÁO TỪ THỰC TIỄN QUẬN HAI BÀ TRƯNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
HÀ NỘI, 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ KIM OANH
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÔN GIÁO TỪ THỰC TIỄN QUẬN HAI BÀ TRƯNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số : 8.38.01.02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS PHẠM TUẤN ANH
HÀ NỘI, 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn: “Quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn
quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội” là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các tài liệu, số liệu sử dụng trong luận văn là trung thực, chính xác và có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả nghiên cứu trong luận văn chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình khoa học nào
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Kim Oanh
Trang 4MỤC LỤC
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC VỀ TÔN GIÁO
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÔN
GIÁO TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HAI BÀ TRƯNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY
30
2.1 Khái quát về vị trí địa lý, tình hình kinh tế - xã hội và tôn
giáo trên địa bàn quận Hai Bà Trưng
30 2.2
Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU
QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÔN GIÁO TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HAI BÀ TRƯNG, THÀNH PHỐ
HÀ NỘI TRONG THỜI GIAN TỚI
61
3.1 Quan điểm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về tôn
giáo trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội
61
3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về
tôn giáo trên địa bàn quận Hai Bà trưng, thành phố Hà Nội trong thời gian tới
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Hệ thống tổ chức quản lý nhà nước đối với hoạt động
tôn giáo
20
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tôn giáo là một thực thể xã hội xuất hiện sớm trong lịch sử loài người, có nguồn gốc hình thành, phát triển và ảnh hưởng đến đời sống chính trị, văn hoá,
xã hội khác nhau trong mỗi quốc gia và trên toàn thế giới Tự do tôn giáo là một trong những quyền tự nhiên của con người và phải được pháp luật bảo vệ, đồng thời đó cũng là một mặt của giá trị dân chủ trên thế giới hiện nay Tín ngưỡng, tôn giáo là một nhu cầu tinh thần của nhân dân, nhưng tôn giáo với tư cách là một thực thể xã hội, là một lĩnh vực của đời sống xã hội thì tôn giáo cũng phải được Nhà nước quản lý như quản lý các lĩnh vực khác của đời sống xã hội Quản lý nhà nước (QLNN) về tôn giáo là một yêu cầu khách quan, cần thiết, bởi chỉ có được quản lý thì hoạt động tôn giáo mới thực sự diễn ra bình thường, quan hệ giữa các tôn giáo, giữa các tín đồ mới thực sự bình đẳng, quyền
tự do theo hoặc không theo tôn giáo nào của công dân mới được đảm bảo và tôn giáo không bị lợi dụng để nhằm mục đích chính trị hay ý đồ xấu Việt Nam là đất nước có nhiều tôn giáo, đa dạng về tổ chức, khác nhau về số lượng, có nguồn gốc phát sinh, du nhập, phát triển và ảnh hưởng khác nhau trong đời sống chính trị, văn hoá, xã hội Kể từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời (tháng 8/1945) đến nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, vấn đề quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo luôn được thực hiện nhất quán đó là: đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân; mọi tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật, các hành vi lợi dụng tôn giáo vào mục đích chính trị gây mất an ninh, trật
tự và chủ quyền quốc gia đều bị nghiêm trị Điều này được thể hiện rõ trong các văn kiện của Đảng và các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992, 2013
QLNN về tôn giáo luôn giữ vai trò quan trọng trong thực hiện chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước; góp phần củng cố, phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc; giữ vững an ninh - quốc phòng; phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, nâng cao dân trí cho nhân dân, trong đó có tín đồ các tôn giáo; phát huy dân chủ, tiếp thu những nhu cầu, nguyện vọng
Trang 8chính đáng của chức sắc, tín đồ các tôn giáo để đề ra những chủ trương, chính sách phù hợp với tình hình thực tế, góp phần tạo ra sự ổn định chính trị xã hội, phát huy tinh thần đoàn kết trong nhân dân QLNN về tôn giáo khuyến khích chức sắc, tín đồ các tôn giáo tham gia các hoạt động từ thiện xã hội có lợi cho sự phát triển đất nước, phù hợp với pháp luật và đạo lý Đồng thời, ngăn chặn được những hoạt động lợi dụng công việc từ thiện nhân đạo để tiến hành hoạt động tôn giáo trái pháp luật QLNN về tôn giáo giúp tạo ra tinh thần phấn khởi, tin tưởng vào chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước
Quận Hai Bà Trưng nằm ở phía đông nam thành phố Hà Nội, là quận trung tâm của thành phố Với vị trí địa lý quan trọng và đặc điểm dân cư đông, nhiều thành phần, công tác QLNN tại quận Hai Bà Trưng luôn được quan tâm; đặc biệt là QLNN đối với hoạt động tôn giáo Số lượng các tôn giáo hoạt động trên địa bàn quận Hai Bà Trưng tương đối đa dạng nhưng quy mô các tôn giáo không giống nhau, trong đó Phật giáo và Công giáo là hai tôn giáo có số lượng tín đồ đông nhất Hoạt động của các tín đồ, chức sắc trên địa bàn quận Hai Bà Trưng về
cơ bản chấp hành tốt chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; tích cực tham gia các hoạt động xã hội, ủng hộ các phong trào của địa phương Tuy nhiên, bên cạnh những tôn giáo được Nhà nước công nhận, tuân thủ pháp luật; trên địa bàn Quận vẫn có tôn giáo hoạt động trái phép; việc xây dựng, sửa chữa các cơ sở thờ tự vẫn còn vi phạm, Do đó, QLNN đối với hoạt động tôn giáo là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Quận
Từ những lý do nêu trên, tác giả chọn đề tài “Quản lý nhà nước về tôn giáo
từ thực tiễn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội” làm luận văn tốt nghiệp
thạc sĩ Luật học, chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính Đây là vấn
đề có tính cấp thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
QLNN là chức năng cơ bản của Nhà nước được thể hiện trên nhiều phương diện như kinh tế, văn hóa, xã hội, Đảng và Nhà nước ta nhận định: tôn giáo là vấn đề còn tồn tại lâu dài; tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ
Trang 9phận nhân dân Với vai trò và sự ảnh hưởng đa chiều, tôn giáo và vấn đề QLNN đối với các hoạt động tôn giáo trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học và được đề cập trong các công trình khoa học khác nhau Tác giả tổng quan tình hình nghiên cứu theo các vấn đề sau:
2.1 Nhóm công trình nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo nói chung
Cuốn sách “Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trong điều kiện
xây dựng Nhà nước dân chủ, pháp quyền Việt Nam hiện nay” của tác giả
Nguyễn Hữu Khiển [52], đã làm rõ ưu điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo; sự ra đời, vận động và phát triển của tôn giáo, các yếu tố cấu thành của tôn giáo; tình hình tôn giáo ở Việt Nam; Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN) về công tác tôn giáo và những nguyên tắc trong QLNN đối với những hoạt động tôn giáo
Cuốn sách “Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam” của tác giả Đặng Nghiêm Vạn [82], cung cấp những kiến thức căn bản và quan trọng về
lý luận tôn giáo học mác - xít đồng thời người đọc có thể nhìn nhận được khái quát thực trạng một số tôn giáo ở Việt Nam
Tác phẩm “Quản lý xã hội về tôn giáo” của tác giả Hoàng Quốc Bảo [17],
đã phân tích quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng về quản lý tôn giáo Giới thiệu một số tôn giáo ở Việt Nam như đạo Phật, đạo Công Giáo, đạo Tin Lành, đạo Hồi, đạo Cao Đài, đạo Hoà Hảo Các nguyên tắc và phương pháp quản lý xã hội về tôn giáo Tổ chức và nội dung quản lý xã hội về tôn giáo
Đề tài cấp Bộ “Quản lý Nhà nước về tôn giáo ở các tỉnh Tây Nguyên” của
tác giả Ngô Văn Minh [57], đã làm rõ một số vấn đề về lý luận QLNN đối với hoạt động tôn giáo trong thời kỳ đổi mới ở nước ta Khảo sát hoạt động tôn giáo
và công tác QLNN về tôn giáo tại các tỉnh Tây Nguyên từ tháng 6/2004 đến tháng 6/2009 Qua đó, đề xuất một số giải pháp cơ bản để tăng cường công tác QLNN về tôn giáo tại Tây Nguyên Đề tài đã góp phần vào việc tổng kết thực
Trang 10tiễn 5 năm thực hiện Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo tại một khu vực có tính đặc thù về vấn đề tôn giáo - dân tộc là Tây Nguyên
Cuốn sách “Quan điểm đường lối của Đảng về tôn giáo và những vấn đề
tôn giáo ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Hồng Dương [31], đã phân
tích những quan điểm, đường lối của Đảng về tôn giáo; phác họa nên bức tranh tôn giáo ở Việt Nam hiện nay đồng thời phân tích kinh nghiệm giải quyết vấn đề tôn giáo ở Việt Nam từ cái nhìn đối sánh với một số nước như so sánh kinh nghiệm giải quyết vấn đề tôn giáo của Trung Quốc, Thái Lan và Singapore Trên
cơ sở đó, tác giả phân tích những vấn đề đặt ra và đề xuất một số khuyến nghị đối với công tác tôn giáo ở Việt Nam hiện nay
Cuốn sách “Tiếp tục đổi mới chính sách về tôn giáo ở Việt Nam hiện nay -
Những vấn đề lý luận cơ bản” của tác giả Nguyễn Hồng Dương (Chủ biên) [32], đã
phân tích, đánh giá, tiến trình nhận thức, hình thành quan điểm của Đảng về tôn giáo từ năm 1930 đến nay, đưa ra những vấn đề còn bất cập về CTTG và chính sách tôn giáo hiện nay Hơn nữa, tác giả cũng đưa ra cụ thể được những thành tựu và những vấn đề mới đặt ra trong thực hiện chính sách tôn giáo, đòi hỏi Đảng và Nhà nước tiếp tục đổi mới chính sách đối với tôn giáo trong tình hình mới
Tác phẩm “Chính sách tôn giáo và nhà nước pháp quyền” của tác giả Đỗ Quang Hưng [50], là một công trình tổng kết thực tiễn đời sống tôn giáo và thực
hiện chính sách tôn giáo ở nước ta trong thời kỳ đổi mới Ngoài những vấn đề thuộc khung lý thuyết cơ bản, tác giả đã trình bày toàn cảnh đời sống tôn giáo Việt Nam hiện nay, làm rõ những vấn đề đặt ra trong mối quan hệ Nhà nước với các giáo hội, khảo sát, đánh giá những chuyển biến trong quá trình thực hiện chính sách tôn giáo, nêu lên những vấn đề đặt ra cần tiếp tục đổi mới, hoàn thiện chính sách tôn giáo Tác giả cũng gợi mở một vấn đề quan trọng khác là nỗ lực
mô hình hóa một nhà nước pháp quyền về tôn giáo trong điều kiện Việt Nam hiện nay
Luận án tiến sĩ “Quản lý nhà nước về tôn giáo ở Việt Nam từ năm 1975 đến
nay” của tác giả Bùi Hữu Dược [30], đã góp phần làm rõ tính tất yếu và yêu cầu
Trang 11đổi mới QLNN về tôn giáo trong quan hệ giữa nhà nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) với tôn giáo ở Việt Nam, đồng thời làm rõ thực trạng, nguyên nhân và những vấn đề đặt ra trong QLNN về tôn giáo ở Việt Nam từ năm 1975 đến năm
2013 Từ đó, đưa ra dự báo tình hình tôn giáo ở Việt Nam và khuyến nghị nhằm
nâng cao hiệu quả QLNN về tôn giáo ở Việt Nam trong thời gian tới
Luận án tiến sĩ “Tôn giáo và luật pháp về tôn giáo trong thời kỳ đổi mới ở
Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Vân Hà [46], đã nghiên cứu các nhân tố ảnh
hưởng đến việc thực hiện công tác xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực tôn giáo ở Việt Nam, đưa ra được thành tựu và hạn chế trong ban hành các chính sách liên quan đến tôn giáo ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới Từ đó, nêu lên một số vấn đề đặt ra và đề xuất các khuyến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tính khả thi trong quá trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền về lĩnh vực tôn giáo ở Việt Nam, góp phần bổ sung, phong phú thực tiễn nâng cao hiệu quả CTTG ở Việt Nam
Giáo trình “Quản lý xã hội về tôn giáo” của tác giả Hoàng Quốc Bảo[17],
đã chỉ ra đối tượng và phương pháp nghiên cứu quản lý xã hội về tôn giáo, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng CSVN về quản
lý tôn giáo Giới thiệu một số tôn giáo ở Việt Nam và nguyên tắc, phương pháp,
tổ chức, nội dung quản lý xã hội về tôn giáo và công tác QLNN đối với các hoạt động tôn giáo
2.2 Nhóm công trình nghiên cứu quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn thành phố Hà Nội
Luận văn thạc sĩ “Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn
Thành phố Hà Nội hiện nay” của tác giả Dương Ngọc Kiên [53], đã tập trung
nghiên cứu trên phương diện QLNN của chính quyền và hệ thống chính trị của thành phố Hà Nội đối với hoạt động của các tôn giáo, gồm: Phật Giáo, Công Giáo, Tin Lành, Cao Đài, Baha’i, Hồi Giáo, Minh Sư Đạo trên địa bàn thành phố
Hà Nội trong giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2014 Từ đó, đề xuất giải pháp
Trang 12nhằm góp phần nâng cao hiệu quả QLNN đối với các hoạt động tôn giáo trên địa bàn thành phố Hà Nội thời gian tới
Luận văn thạc sĩ “Quản lý Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa
bàn thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Phạm Thị Phương
Mai [56], đã phân tích tình hình tôn giáo ở thành phố Hà Nội và các hoạt động
có liên quan; Liên hệ trong sự phát triển vào xu thế chung của đất nước và thành tựu của địa phương, đồng thời đánh giá thực trạng hoạt động tôn giáo và QLNN đối với hoạt động tôn giáo ở thành phố Hà Nội Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện QLNN đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn thành phố Hà Nội
Luận án tiến sĩ “Tôn giáo và công tác tôn giáo ở Hà Nội hiện nay” của tác
giả Đàm Tuấn Anh [1], đã phân tích, đánh giá một cách tổng thể về tình hình, đặc điểm cùng với hoạt động của các tôn giáo trên địa bàn thành phố Hà Nội và công tác tôn giáo ở Hà Nội hiện nay Luận án đã rút ra một số kinh nghiệm trong công tác tôn giáo ở Hà Nội Đồng thời đề xuất một số khuyến nghị giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác tôn giáo trên địa bàn thành phố Hà Nội
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến những nội dung
cơ bản về tôn giáo, cơ sở lý luận cũng như thực tiễn về công tác QLNN đối với hoạt động tôn giáo dưới những khía cạnh nghiên cứu khác nhau và là nguồn tài liệu vô cùng hữu ích hỗ trợ cho công tác QLNN về tôn giáo Đồng thời, sẽ cung cấp cho tác giả những tư liệu quan trọng và xác thực để phân tích nhằm rút ra những thành tựu và hạn chế trong QLNN về tôn giáo Trên cơ sở đó, đưa ra được những dự báo và đề xuất một số quan điểm, giải pháp để nâng cao hiệu quả QLNN về tôn giáo trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ một số vấn đề lý luận về công tác QLNN về tôn giáo; đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về tôn giáo trên địa bàn quận Hai Bà Trưng Trên cơ sở
đó, đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả công tác QLNN về
tôn giáo trên địa bàn quận Hai Bà Trưng trong thời gian tới
Trang 133.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Làm rõ khái niệm, nguyên tắc, vai trò, mục tiêu, chủ thể, khách thể và nội dung của quản lý nhà nước về tôn giáo
- Phân tích và đánh giá thực trạng QLNN về tôn giáo trên địa bàn quận Hai
Bà Trưng, chỉ ra những kết quả đạt được, những vấn đề hạn chế, bất cập và nguyên nhân
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả QLNN về tôn giáo trên địa bàn quận Hai Bà Trưng trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Công tác quản lý nhà nước về tôn giáo trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo; các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo và công tác tôn giáo
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, để giải quyết mục tiêu, nhiệm vụ đề ra, trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng các
Trang 14phương pháp nghiên cứu cụ thể sau: phương pháp lịch sử cụ thể; phương pháp nghiên cứu tôn giáo học như xuất phát từ cấu trúc, chức năng tôn giáo; phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp thống kê, so sánh v.v Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành và chuyên ngành như: luật học, chính trị học, sử học, triết học, xã hội học, dân tộc học,…
6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Kết quả luận văn sẽ cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện hơn nữa chính sách và pháp luật về tôn giáo và công tác QLNN đối với hoạt động tôn giáo trong tình hình mới trên phạm vi cấp quận nói chung, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội nói riêng
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần bổ sung vào kinh nghiệm thực tiễn trong công tác QLNN về tôn giáo tại một địa phương nhất định; có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong quá trình nghiên cứu, giảng dạy về tôn giáo và công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo, cũng như việc hoạch định chính sách
ở nhiều phương diện liên quan đến QLNN đối với hoạt động tôn giáo
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương, 7 tiết
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về tôn giáo trên địa bàn quận Hai Bà
Trưng, thành phố Hà Nội hiện nay
Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về tôn
giáo trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội trong thời gian tới
Trang 15Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÔN GIÁO
1.1 Khái niệm, vai trò và nguyên tắc của quản lý nhà nước về tôn giáo
1.1.1 Khái niệm quản lý nhà nước về tôn giáo
QLNN nói chung và QLNN về tôn giáo nói riêng là hoạt động chức năng của Nhà nước Để hiểu rõ hơn về QLNN đối với hoạt động tôn giáo trước hết ta cần hiểu về các khái niệm quản lý, QLNN, tôn giáo, hoạt động tôn giáo và QLNN về tôn giáo
* Quản lý
Thuật ngữ “Quản lý” đã được nhiều tác giả định nghĩa khác nhau dựa theo
mục tiêu và góc độ nghiên cứu Có quan điểm coi quản lý là quá trình bao gồm các khâu lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra những nỗ lực của các thành viên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác nhau của tổ chức để đạt được mục tiêu đã định trước Cũng có quan điểm cho rằng quản lý là sự tác động định hướng bất kỳ lên một hệ thống nào đó nhằm trật tự hoá nó và hướng nó phát triển phù hợp với những quy luật nhất định Mặc dù, có nhiều quan niệm khác nhau, song thuật ngữ quản lý đều được các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, nhà quản lý thống nhất ở hai nội dung:
Thứ nhất, quản lý là sự tác động mang tính tổ chức, tính mục đích của chủ
thể quản lý đến đối tượng quản lý
Thứ hai, mục tiêu là nhằm làm cho đối tượng quản lý hoạt động vận hành
phù hợp với ý chí của chủ thể quản lý đã định ra từ trước
Như vậy, nói đến quản lý trước hết đó là sự tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý Sự tác động này không phải mang tính đơn lẻ, tự phát mà nó mang tính tổ chức, tính mục đích rõ ràng Mục đích mà chủ thể quản lý đặt ra là hướng tới đối tượng quản lý hoạt động phù hợp với ý chí của mình
Trang 16Từ hai nội dung nêu trên có thể hiểu: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có
mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đặt
ra từ trước
* Quản lý nhà nước
“Quản lý nhà nước” là hoạt động quản lý xã hội của Nhà nước, trong đó quản lý xã hội được hiểu là sự tác động có ý thức để chỉ huy, điều khiển, hướng
dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người phù hợp với ý chí của chủ thể quản lý và quy luật khách quan Quản lý xã hội do nhiều chủ thể tiến hành khi nhà nước xuất hiện, những công việc quản lý xã hội quan trọng nhất do nhà nước đảm nhiệm QLNN là một chức năng cơ bản của Nhà nước, gắn liền với sự xuất hiện, tồn tại và phát triển của Nhà nước, đồng thời quyết định sự hưng thịnh, ổn định hay rối ren, thụt lùi, thậm chí suy vong của một quốc gia, dân tộc Thuật ngữ QLNN thường được tiếp cận theo hai góc độ:
Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội của Nhà nước, sử
dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người do tất cả các cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp, tư pháp) tiến hành để thực hiện các chức năng của Nhà nước đối với xã hội
Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội mang quyền lực
nhà nước với chức năng chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật của các cơ quan trong hệ thống hành pháp (Chính phủ, UBND các cấp)
* Tôn giáo
“Tôn giáo” là một hiện tượng lịch sử, xã hội đã xuất hiện từ rất lâu (Phật
Giáo khoảng thế kỷ thứ VI trước công nguyên, Công Giáo thế kỷ I trước công nguyên,…) và có nhiều cách hiểu khác nhau
Chủ nghĩa Mác - Lênin coi tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội duy tâm thần bí nhưng chủ nghĩa Mác - Lênin cũng thừa nhận tính chất, vai trò của tôn giáo, thừa nhận tôn giáo còn tồn tại lâu dài đồng thời chỉ rõ nguồn gốc của tôn giáo chính là xã hội, là tồn tại xã hội, là cuộc sống của con người lại được phản ánh một cách hoang đường kỳ dị
Trang 17Theo C.Mác, tôn giáo là một sản phẩm xã hội, nó được quy định và quyết định bởi lịch sử vì cơ sở của quá trình lịch sử là sự phát triển của các điều kiện vật chất của đời sống xã hội nên nguồn phát sinh của biểu tượng tôn giáo cũng ở ngay trong điều kiện sinh sống của con người Những lực lượng trần tục thống trị con người, đè nặng lên ý thức của họ một cách hoang đường đã sinh ra những biểu tượng siêu nhiên Những hình ảnh và biểu tượng tôn giáo trong ý thức của con người chính là tồn tại được phản ánh
Trong tác phẩm Chống Đuyrinh, Ph.Ăngghen đã viết: “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo - vào trong đầu óc của con người - của những lực lượng bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế” [22, tr.437]
Ở Việt Nam, vẫn phổ biến một quan điểm về tôn giáo theo loại hình tôn giáo của giáo hội, vẫn phân biệt tôn giáo và tín ngưỡng dân gian như là hai cấp
độ phát triển, như nhận xét của một tác giả nghiên cứu tôn giáo: “Hiện nay, ở nước ta và một số nước dường như chỉ coi các hình thức tôn giáo nảy sinh ra từ
xã hội có giai cấp, hay đúng hơn nữa là phải có tổ chức, giáo lý, giáo luật, mới được coi là tôn giáo [81, tr.29]
Như vậy, tôn giáo không phải là cái tự có mà là sản phẩm của con người Nói cách khác, tôn giáo là sự phản ánh xã hội vào ý thức con người Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, phản ánh tồn tại xã hội đã sinh ra nó Song
sự phản ánh đó chỉ là sự phản ánh phi lý tính, hoang đường để giải thích hoặc chi phối hiện thực Tôn giáo là sản phẩm của con người, nhưng không phải con người cá nhân, riêng lẻ mà là con người xã hội (hay xã hội con người), do đó tôn giáo là một hiện tượng xã hội Xét về mặt bản chất, tôn giáo là một hiện tượng
xã hội vừa thể hiện sự phản kháng trước những đau khổ, bất hạnh của con người, vừa biểu thị sự bất lực của con người trước sức mạnh của tự nhiên và xã hội Kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo, Đảng ta nhận định tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân
Trang 18dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Quan điểm này là cơ sở cho việc quản lý, xem xét, giải quyết các vấn đề tôn giáo ở nước ta hiện nay, đòi hỏi chúng ta phải có thái độ bình tĩnh, khách quan trong khi xem xét, giải quyết các vấn đề liên quan đến hoạt động tôn giáo; đảm bảo cho các tôn giáo ở Việt Nam sinh hoạt một cách bình thường, tuân thủ pháp luật, đồng hành với dân tộc và chủ nghĩa xã hội Điều 24 Hiến pháp năm
2013 quy định: "1 Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc
không theo một tôn giáo nào Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật 2 Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo 3 Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật" [60, tr.20] Như vậy, tôn giáo, tín ngưỡng đã trở thành quyền cơ
bản của mọi người dân Việt Nam; là một trong những quyền cơ bản của con người được Nhà nước và pháp luật tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm
Tuy nhiên, hiện nay trong các văn bản quản lý nhà nước về tôn giáo ở nước ta chưa có văn bản nào định nghĩa cụ thể về khái niệm này Mặc dù, việc giải thích khái niệm khá phức tạp, thậm chí khó có thể thống nhất, nhưng khi nói đến một tôn giáo hoàn chỉnh bao gồm các dấu hiệu cơ bản sau: là đại diện cho một cộng đồng người có chung niềm tin vào thế lực siêu nhiên, huyền bí; có hệ thống giáo lý, giáo luật, lễ nghi; có tổ chức hoạt động từ Giáo hội xuống cơ sở khá chặt chẽ
* Hoạt động tôn giáo
Hoạt động tôn giáo là “hoạt động truyền bá tôn giáo, sinh hoạt tôn giáo và quản lý tổ chức của tôn giáo” [62, tr.6] Truyền bá giáo lý, giáo luật (còn gọi là
truyền đạo) là việc tuyên truyền những lý lẽ về sự ra đời, về luật lệ của tôn giáo Thông qua hoạt động truyền đạo, niềm tin tôn giáo của tín đồ được củng cố, luật
lệ trong tôn giáo được tín đồ thực hiện Thực hành giáo lý, giáo luật, lễ nghi là hoạt động của tín đồ, nhà tu hành, chức sắc tôn giáo thể hiện sự tuân thủ pháp luật, thỏa mãn đức tin tôn giáo của cá nhân tôn giáo hay của cộng đồng tín đồ Hoạt động quản lý tổ chức của tôn giáo là thực hiện quy định của giáo luật, thực hiện hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo, đảm bảo duy trì trật tự trong tổ chức tôn giáo Trong các hoạt động này, việc phân biệt hoạt động truyền bá giáo
Trang 19lý giáo luật và hoạt động thực hành giáo lý, giáo luật, lễ nghi chỉ mang tính tương đối có không ít hoạt động hành đạo có hoạt động truyền đạo
* Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo
Từ các khái niệm quản lý, quản lý nhà nước, tôn giáo, hoạt động tôn giáo, chúng ta có thể đưa ra khái niệm về quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo theo hai nghĩa sau:
Theo nghĩa rộng: là quá trình dùng quyền lực nhà nước (quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp) của các cơ quan nhà nước theo quy định của pháp luật để tác động, điều chỉnh, hướng dẫn các hoạt động tôn giáo và hành vi hoạt động tôn giáo của tổ chức, cá nhân tôn giáo diễn ra phù hợp với pháp luật, đạt được mục tiêu cụ thể của chủ thể quản lý
Theo nghĩa hẹp: là một dạng quản lý xã hội mang tính chất nhà nước; là chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước; là quá trình chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật của các cơ quan trong hệ thống hành pháp để điều chỉnh, hướng dẫn hoạt động các tôn giáo và mọi hành vi hoạt động tôn giáo của tổ chức, cá nhân tôn giáo diễn ra theo quy định của pháp luật Nói cách khác, đó là
sự quản lý của nhà nước đối với hoạt động của các tín đồ, chức sắc trong việc truyền bá, thực hành giáo lý, giáo luật, lễ nghi tôn giáo; quản lý nơi thờ tự, đồ dùng việc đạo, cơ sở vật chất xã hội của các tôn giáo
Từ đây, thuật ngữ quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo sử dụng trong luận văn được hiểu theo nghĩa hẹp của thuật ngữ này Như vậy, khi nhắc đến quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo là nói đến sự quản lý của các cơ quan hành pháp đối với hoạt động tôn giáo
1.1.2 Vai trò của quản lý nhà nước về tôn giáo
Tôn giáo là nhu cầu tinh thần chính đáng của một bộ phận đông đảo nhân dân Chính vì vậy, quản lý nhà nước về tôn giáo có vai trò đặc biệt quan trọng
Một là, quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo luôn giữ vai trò quan
trọng trong thực hiện chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước; góp phần củng
cố, phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc; giữ vững an ninh - quốc phòng Sự
Trang 20nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là của mọi người Việt Nam, dù ở trong nước hay đang sinh sống, học tập ở nước ngoài
Hai là, quản lý nhà nước về tôn giáo giúp phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, nâng cao dân trí cho nhân dân, trong
đó có tín đồ các tôn giáo; tạo ra mối quan hệ tốt giữa quần chúng với Đảng và Nhà nước; phát huy dân chủ, tiếp thu những nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của chức sắc, tín đồ các tôn giáo để đề ra những chủ trương, chính sách phù hợp với tình hình thực tế của địa phương, góp phần tạo ra sự ổn định chính trị - xã hội, phát huy tinh thần đoàn kết trong nhân dân
Ba là, cơ sở chính trị trong các vùng tôn giáo tập trung được xây dựng, củng
cố, phát huy được vai trò của quản lý nhà nước về tôn giáo của cán bộ, đảng viên, người có uy tín để vận động đồng bào có đạo, phát triển thêm được nhiều đảng
viên, hội viên các đoàn thể là tín đồ các tôn giáo Chức sắc các tôn giáo ở huyện
cũng được hoạt động thuận lợi trong khuôn khổ của pháp luật từ khâu tuyển chọn đào tạo, thuyên chuyển, bổ nhiệm, đến phân công địa bàn hoạt động
Bốn là, quản lý nhà nước về tôn giáo khuyến khích chức sắc, tín đồ các tôn
giáo tham gia các hoạt động từ thiện xã hội có lợi cho sự phát triển đất nước, phù hợp với pháp luật và đạo lý Đồng thời, ngăn chặn được những hoạt động lợi dụng công việc từ thiện nhân đạo để tiến hành hoạt động tôn giáo trái pháp luật
Năm là, quản lý nhà nước về hoạt động đối ngoại của các tôn giáo giúp tạo
ra tinh thần phấn khởi, tin tưởng vào chính sách tôn giáo, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước
1.1.3 Các nguyên tắc quản lý nhà nước về tôn giáo
Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo không ngoài mục đích bảo đảm cho hoạt động tôn giáo diễn ra trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật,
vì lợi ích chung, trong đó có cả lợi ích của đồng bào có đạo và lợi ích của các giáo hội Dó đó, quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo có một số nguyên tắc chính sau:
Trang 21Một là, nguyên tắc đảm bảo cho mọi công dân được bình đẳng trước Hiến pháp và pháp luật
Nguyên tắc này được thể hiện tại Điều 16 pháp năm 2013 Đây là nguyên tắc thể chế dân chủ trong hoạt động của Nhà nước ta Nội dung của nguyên tắc này được hiểu: Nhà nước đảm bảo quyền tự do tôn giáo hay không tôn giáo của công dân (dù là tín đồ tôn giáo hay không phải là tín đồ tôn giáo) bình đẳng trước pháp luật, được hưởng quyền lợi và có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ công dân Từ cơ sở này, tín đồ được tự do hành đạo trên cơ sở thực hiện nghĩa
Ba là, nguyên tắc về tính thống nhất giữa sinh hoạt tôn giáo và bảo tồn giá trị văn hoá
Niềm tin tôn giáo được thể hiện thông qua sinh hoạt vật chất của con người:
lễ nghi, trang phục…; được thể hiện thông qua các công trình kiến trúc, kinh sách…Những dạng vật chất của tôn giáo đồng thời cũng là sản phẩm của văn hóa Các giá trị này trải qua giai đoạn phát triển, dần kết hợp, hòa quyện với các truyền thống dân tộc Sự tồn tại của tôn giáo là động lực cho sự phát triển và bảo
Trang 22tồn các giá trị văn hóa Tuy nhiên, bên cạnh những giá trị văn hoá đích thực vẫn còn những hiện tượng phản văn hoá có trong tôn giáo, những hủ tục, mê tín dị đoan… Do đó, sự quản lý của Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo phải vừa giữ gìn được bản sắc văn hoá dân tộc, vừa loại bỏ dần những hiện tượng phản văn hoá trong sinh hoạt tôn giáo
Bốn là, nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất, hài hoà lợi ích cá nhân - cộng đồng và lợi ích quốc gia, xã hội
Đối với tín đồ các tôn giáo, nhu cầu tôn giáo của họ được nhà nước coi trọng và tạo mọi điều kiện để họ thực hiện những hành vi tôn giáo của mình Nhưng ở vào một thời điểm nào đó đứng trước nhiều nhu cầu khác đòi hỏi tín đồ phải giải quyết hài hoà, thoả đáng giữa lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể với lợi ích chung của xã hội Thực hiện nguyên tắc này đòi hỏi phải giải quyết tốt các xung đột, mâu thuẫn xuất hiện giữa các chủ thể nói trên Nhận thức cơ bản của nguyên tắc này là mỗi người có đạo thường có nhiều nhu cầu, trong đó nhu cầu tâm linh thể hiện trong sinh hoạt tôn giáo và trách nhiệm của công dân Đối với một tín
đồ, nhu cầu tâm linh được thỏa mãn ngay trong sinh hoạt tôn giáo như hành lễ, cầu nguyện Nhưng với người tín đồ đó, với tư cách công dân thì lợi ích xã hội nào đó có thể thực hiện được thông qua việc thực hiện một nghĩa vụ của người
đó Nguyên tắc này thực ra là yêu cầu ứng xử được đặt ra khi cùng một thời điểm xuất hiện hai hoạt động khác nhau: một là sinh hoạt tôn giáo, hai là hoạt động xã hội Ví dụ, thời điểm để đi hành hương, hành đạo ở một nơi nào đó trùng vào đúng thời điểm xảy ra thiên tai ở một địa phương cần có sự huy động sức người, sức của mới có thể khắc phục được,… Nguyên tắc này đòi hỏi trước những mâu thuẫn như vậy thì mọi công dân cần xác định lợi ích xã hội cộng đồng phải được đặt lên trên hết Ngay trong các giáo lý tôn giáo cũng có những điều răn dạy về đức hóa sinh của tín đồ, phật tử với đồng loại, với xã hội
Trang 23Năm là, những hoạt động tôn giáo vì lợi ích chính đáng và hợp pháp của tín
đồ phải được đảm bảo
Những hoạt động tôn giáo vì lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân được khuyến khích Mọi hành vi vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chống lại Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ngăn cản tín đồ làm nghĩa vụ công dân, phá hoại sự nghiệp đoàn kết toàn dân tộc, làm phương hại đến nền văn hoá lành mạnh của dân tộc và hoạt động
mê tín dị đoan đều bị lên án và xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật
1.2 Mục tiêu, chủ thể, khách thể và nội dung quản lý nhà nước về tôn giáo
1.2.1 Mục tiêu quản lý nhà nước về tôn giáo
*Mục tiêu tổng quát
Góp phần xây dựng các giá trị văn hóa và chuẩn mực xã hội, tạo nên những mối quan hệ lành mạnh
* Mục tiêu cụ thể
Thứ nhất, quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trước hết phải bảo
đảm được quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, bảo đảm cho các hoạt động tôn giáo được diễn ra bình thường theo đúng quy định của pháp luật
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền con người cơ bản được Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị của Liên hợp quốc ghi nhận Nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo còn tồn tại lâu dài cùng với sự phát triển của xã hội loài người chừng nào những nguồn gốc làm phát sinh ra nó chưa giải quyết được Suốt quá trình đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, coi đó là quyền cơ bản của công dân Cùng với việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, phải bảo đảm cho tổ chức, cá nhân tôn giáo được thực hiện các hoạt động hành đạo, truyền đạo và quản lý tổ chức một cách thuận lợi
QLNN cần phân biệt rõ giữa hoạt động tôn giáo thuần túy với hành vi lợi dụng hoạt động tôn giáo để có những biện pháp quản lý phù hợp, tránh can thiệp
Trang 24vào công việc nội bộ của tôn giáo Trong hoạt động tôn giáo, chúng ta cũng yêu cầu các tổ chức tôn giáo, tín đồ, chức sắc, nhà tu hành tuân thủ quy định của pháp luật Mọi hành vi vi phạm đều phải bị phê phán, nghiêm cấm và xử lý theo quy định của pháp luật
Thứ hai, QLNN đối với hoạt động tôn giáo phải phát huy được những mặt
tích cực của tôn giáo như tính hướng thiện, từ bi; khắc phục được những hạn chế, tiêu cực của tôn giáo đối với sự phát triển của xã hội
Nhà nước tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân tôn giáo tham gia cùng Nhà nước giải quyết những vấn đề của xã hội Mặt khác, Nhà nước phải luôn tăng cường cảnh giác đề phòng những âm mưu lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo chống lại chế độ xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, trong quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo, cần phân biệt rõ giữa hoạt động tôn giáo thuần tuý với hành vi lợi dụng hoạt động tôn giáo để đề ra những biện pháp quản lý phù hợp
Thông qua QLNN đối với hoạt động tôn giáo, phải giúp cho quần chúng từng bước xóa bỏ được những nhận thức lệch lạc về thế giới và con người, những luật lệ khắt khe trong tôn giáo Đặc biệt phải chống được âm mưu lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo chống lại Đảng, Nhà nước, xâm hại đến các quan hệ
xã hội được Nhà nước bảo hộ
Thứ ba, QLNN đối với hoạt động tôn giáo phải thực hiện được mục tiêu
đoàn kết đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo và đồng bào không có tín ngưỡng, tôn giáo, tạo ra sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Mục tiêu đoàn kết dân tộc, đoàn kết lương giáo luôn là bài học quan trọng trong suốt quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta, là truyền thống quý báu tạo nên sức mạnh của dân tộc Trong công tác tôn giáo, mục tiêu đoàn kết dân tộc, đoàn kết lương giáo càng quan trọng khi tôn giáo luôn là một trong những công cụ, phương tiện được các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước chia rẽ người theo đạo và người không theo đạo, thực hiện âm mưu diễn biến hòa bình
Trang 25Thứ tư, QLNN đối với hoạt động tôn giáo phải đảm bảo sự tăng cường vai
trò của Nhà nước trong việc điều chỉnh các hoạt động tôn giáo, góp phần phát triển văn hóa, khoa học
Tổ chức, cá nhân tôn giáo là một bộ phận của xã hội, được Nhà nước thừa nhận, phải đặt dưới sự quản lý của Nhà nước Hoạt động tôn giáo phải tuân thủ những quy định của Nhà nước Mọi hành vi nhằm biến tôn giáo thành một lực lượng đối trọng với Nhà nước, thoát ly khỏi sự quản lý của Nhà nước đều là bất hợp pháp Hoạt động tôn giáo nằm ngoài khuôn khổ pháp luật mà Nhà nước đã đặt ra đều phải bị xử lý theo quy định của pháp luật Khi vai trò của Nhà nước trong điều chỉnh các hoạt động tôn giáo được tăng cường, hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này sẽ được nâng cao, các quy định quản lý nhà nước được các tổ chức, cá nhân tôn giáo thực hiện nghiêm chỉnh, triệt để, pháp chế trong công tác tôn giáo được giữ vững
1.2.2 Chủ thể và khách thể quản lý nhà nước về tôn giáo
QLNN đối với hoạt động tôn giáo là quá trình tác động, điều hành, điều chỉnh của các cơ quan hành pháp để các hoạt động tôn giáo diễn ra theo đúng quy định của pháp luật Với cách hiểu như vậy, QLNN đối với hoạt động tôn giáo bao gồm các yếu tố: chủ thể quản lý, khách thể quản lý
1.2.2.1 Chủ thể quản lý nhà nước về tôn giáo
QLNN đối với hoạt động tôn giáo được thực hiện bởi cơ quan QLNN các cấp nhằm huy động sức mạnh của cộng đồng tín ngưỡng, tôn giáo để đạt mục đích của chủ thể cầm quyền đặt ra Khi hiểu QLNN đối với hoạt động tôn giáo là
sự quản lý của các cơ quan hành pháp đối với hoạt động tôn giáo thì chủ thể của QLNN đối với hoạt động tôn giáo chỉ bao gồm các cơ quan nhà nước thuộc hệ thống hành pháp (Chính phủ: các Bộ, cơ quan ngang Bộ, UBND các cấp) Trong
đó, Chính phủ thống nhất QLNN về hoạt động tôn giáo, toàn quyền quyết định các vấn đề có liên quan trên phạm vi cả nước Chính phủ sử dụng quyền hành pháp để thi hành pháp luật và chấp hành các nghị quyết của Quốc hội, đồng thời chủ động tham gia quá trình lập pháp về các vấn đề có liên quan đến tôn giáo; sử
Trang 26dụng quyền lập quy để ra các văn bản dưới luật để thực hiện và thống nhất QLNN về các hoạt động tôn giáo Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ chịu trách nhiệm tổ chức các hoạt động QLNN về hoạt động tôn giáo trong phạm vi ngành, lĩnh vực theo quy định của pháp luật UBND là cơ quan hành chính ở địa phương có trách nhiệm chấp hành pháp luật và các văn bản của các cơ quan hành chính nhà nước cấp trên, chấp hành nghị quyết của Hội đồng nhân dân (HĐND) và ra các quyết định, chỉ thị về lĩnh vực tôn giáo của địa phương, nói cách khác trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình UBND các cấp chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện các hoạt động QLNN đối với hoạt động tôn giáo tại địa phương
Mô hình QLNN đối với hoạt động tôn giáo được thể hiện cụ thể qua sơ đồ sau:
Trung ương Chính phủ Ban Tôn giáo của Chính phủ
Ban Tôn giáo thuộc
hóa - Xã hội
Sơ đồ 1.1: Hệ thống tổ chức quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo
Điểm nổi bật của sơ đồ này là đã chỉ ra hệ thống và tính thống nhất của bộ máy QLNN đối với hoạt động tôn giáo Quan hệ giữa bốn cấp từ Trung ương đến địa phương trong hoạt động điều hành chung của Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Mỗi cấp vừa có quyền hạn riêng vừa chịu sự tác động của các cấp trong hệ thống theo chiều dọc Nếu một khâu nào đó của một cấp bị trục trặc thì
sự điều hành của các cấp còn lại sẽ gặp trắc trở
Trang 27Trong hệ thống các cơ quan thuộc Chính phủ, Ban Tôn giáo Chính phủ thuộc Bộ Nội vụ có chức năng chính là QLNN về hoạt động tôn giáo trong phạm
vi cả nước, là đầu mối phối hợp với các ngành về công tác tôn giáo và liên hệ với các tổ chức tôn giáo
Ban Tôn giáo tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là cơ quan chuyên môn thuộc Sở Nội Vụ - UBND, chịu trách nhiệm trước UBND thực hiện chức năng QLNN về các hoạt động tôn giáo theo pháp luật của Nhà nước trong phạm
vi địa phương Ban Tôn giáo chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và hoạt động của Sở Nội vụ; đồng thời chịu sự hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp
vụ của Ban Tôn giáo Chính phủ trực thuộc Bộ Nội vụ
Phòng Nội vụ là cơ quan chuyên môn, tham mưu, giúp UBND huyện, quận QLNN về lĩnh vực công tác tôn giáo trên địa bàn huyện, quận Phòng Nội vụ chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của UBND huyện, quận đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của Ban Tôn giáo tỉnh hoặc Sở có chức năng quản lý công tác tôn giáo
UBND phường, xã do đồng chí Phó chủ tịch UBND phụ trách khối Văn xã (là ủy viên UBND) và một công chức Văn phòng - Thống kê (có phường, xã bố trí công chức Văn hóa - Xã hội) kiêm nhiệm thực hiện nhiệm vụ về công tác tôn giáo 1.2.2.2 Đối tượng quản lý nhà nước về tôn giáo
Trước hết, đối tượng của quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo bao
gồm: hoạt động tôn giáo của các tổ chức tôn giáo, của tín đồ, chức sắc, nhà tu hành và các cơ sở vật chất phục vụ hoạt động sinh hoạt tôn giáo như cơ sở tôn giáo, các đồ dùng phục vụ hoạt động tôn giáo
Tín đồ là “người tin theo một tôn giáo và được tổ chức tôn giáo đó thừa nhận” [62, tr.5] Tín đồ của các tôn giáo có sự thống nhất trên hai mặt: công dân
và tín đồ Về mặt công dân, họ bình đẳng trước pháp luật về quyền lợi và nghĩa
vụ như các công dân không tôn giáo Về mặt tín đồ, là người có tín ngưỡng tôn giáo (có niềm tin và tình cảm tôn giáo ở mức độ khác nhau); có quyền lợi và nghĩa vụ do tổ chức tôn giáo quy định (thể hiện trong giáo lý Mặt công dân và
Trang 28mặt tín đồ thống nhất trong con người tín đồ tôn giáo; nhưng không đồng nhất với nhau (mặt công dân là số một, mặt tín đồ là số hai)
Nhà tu hành là “tín đồ xuất gia, thường xuyên thực hiện nếp sống riêng theo giáo lý, giáo luật và quy định của tổ chức tôn giáo” [62, tr.5]
Chức sắc là “tín đồ được tổ chức tôn giáo phong phẩm hoặc suy cử để giữ phẩm vị trong tổ chức” [62, tr.5] Các chức sắc tôn giáo có sự thống nhất ba mặt:
công dân, hành đạo và đại diện Về mặt công dân, là người chuyên việc đạo, bình đẳng trước pháp luật về nghĩa vụ và quyền lợi như các công dân khác Mặt hành đạo, được Giáo hội đào tạo, tấn phong, bổ nhiệm giữ các phẩm trật khác nhau trong chức vị thánh và chức vị phẩm quyền (tùy theo từng tôn giáo) Chức sắc tôn giáo có uy quyền khác nhau tùy theo phẩm trật, năng lực hành đạo Mặt đại diện, ở những mức độ khác nhau cho tổ chức giáo hội trong mối quan hệ đối nội và trong quan hệ đạo - xã hội Ba mặt nói trên thống nhất trong con người chức sắc tôn giáo nhưng không đồng nhất; mặt công dân là số một, các mặt khác
là số hai, đặc biệt là mặt hành đạo Ở Việt Nam, nghĩa vụ của chức sắc tôn giáo được quy định tại Điều 9 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 như sau: “Chức sắc, chức việc, nhà tu hành, người đại diện, ban quản lý cơ sở tín ngưỡng có trách nhiệm hướng dẫn tín đồ, người tham gia hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo đúng quy định của pháp luật” [62, tr.13]
Sinh hoạt tôn giáo, lễ nghi tôn giáo: có hai đặc điểm chính Về chủ thể: có
thể do các thể nhân tôn giáo thực hiện đơn lẻ (như: đọc kinh, cầu nguyện…) và
có thể do các pháp nhân tôn giáo thực hiện (như: Ban hành giáo, hộ tự, Ban chấp
sự, Hội đồng tinh thần…) Về diễn biến: thực hiện theo lề luật và lễ nghi nhất định, ví dụ: lễ thường, lễ trọng, các phép bí tích, các khóa hạ, giới đàn…Lề luật
và lễ nghi thường chứa đựng trong văn tự (hiện hữu trong ngôn ngữ văn tự) và được thể hiện thành các hành vi có thể đo đếm (định lượng và định tính) thông qua các sinh hoạt tôn giáo cụ thể: lễ hôn phối, lễ cầu siêu, lễ tấn phong
Cơ sở tôn giáo gồm “chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường, trụ sở của tổ chức tôn giáo, cơ sở hợp pháp khác của tổ chức tôn giáo” [62,
Trang 29tr.6] Cơ sở tôn giáo có sự thống nhất giữa bốn mặt: vật chất, tôn nghiêm, trụ sở
và sinh hoạt cộng đồng Mặt vật chất, đó là những địa điểm được xây dựng bằng vật liệu khác nhau, theo những mô hình kiến trúc khác nhau, thể hiện niềm tin của từng tôn giáo Mặt tôn nghiêm, là nơi bái vọng, ngưỡng mộ, biểu hiện tình cảm và đức tin tôn giáo, nơi diễn ra những nghi lễ tôn giáo quan trọng Mặt trụ
sở, là nơi diễn ra hoạt động hành chính của đạo Mặt sinh hoạt cộng đồng, là nơi diễn ra các lễ hội tôn giáo, nơi sinh hoạt các hội đoàn tôn giáo… Trong các mặt trên, tôn nghiêm là mặt chi phối
Đồ dùng việc đạo bao gồm: kinh, sách, tượng, bài vị, tranh ảnh, cờ trống…;
trong đó mỗi đồ dùng có vai trò, vị trí khác nhau tùy theo lễ nghi của từng tôn giáo Đồ dùng việc đạo có chung một đặc điểm là sự thống nhất và đồng nhất giữa tính vật chất và tính biểu đạt Mặt vật chất, các đồ dùng được tạo nên bởi các chất liệu khác nhau dưới dạng vật chất cụ thể Mặt biểu đạt, mỗi đồ dùng biểu đạt một nội dung nào đó và cái được biểu đạt chỉ được hiện hữu khi đồ dùng được sử dụng vào một nội hoạt động tôn giáo cụ thể theo một lễ nghi nào
đó Trong các đồ dùng việc đạo thì kinh sách, tượng, bài vị là quan trọng nhất
Cơ sở vật chất khác: như khuôn viên (tạo nên cảnh quan kiến trúc văn hoá môi
trường), ruộng, đất, nhà chung, trường học, cơ sở từ thiện, những cơ sở vật chất
kỹ thuật này có hai mặt cơ bản Một mặt là tài sản của giáo hội, là nơi diễn ra các hoạt động của tổ chức tôn giáo, của giáo hội cơ sở Một mặt được Nhà nước bảo
hộ bằng cách cấp các văn bản mang giá trị pháp lý, được giáo hội giao trách nhiệm quản lý hay giao quyền sử dụng các cơ sở thuộc quyền sở hữu của giáo hội
1.2.3 Nội dung quản lý nhà nước về tôn giáo
1.2.3.1 Mô hình quản lý
- Nội dung chung về quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo gồm: + Xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật đối với hoạt động tôn giáo;
+ Tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật đối với hoạt động tôn giáo;
+ Tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật đối với hoạt động tôn giáo;
Trang 30+Tổ chức quản lý công tác nghiên cứu, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo;
+ Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về hoạt động tôn giáo;
- Nội dung cụ thể của quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo, gồm; + Quản lý về hoạt động tín ngưỡng;
+ Quản lý về sinh hoạt tôn giáo của tín đồ;
+ Quản lý về hoạt động của chức sắc, nhà tu hành;
+ Quản lý về công nhận tổ chức tôn giáo;
+ Quản lý về đại hội, hội nghị của tổ chức tôn giáo;
+ Quản lý về đào tạo của tổ chức tôn giáo;
+ Quản lý về phong chức, phong thần, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử trong tổ chức tôn giáo;
+ Quản lý việc xây dựng cơ sở tôn giáo;
+ Quản lý về xuất bản kinh sách tôn giáo;
+ Quản lý về hoạt động từ thiện xã hội của cá nhân, tổ chức tôn giáo;
+ Quản lý hoạt động quốc tế của cá nhân, tổ chức tôn giáo
1.2.3.2 Phạm vi quản lý cụ thể
* Về tổ chức tôn giáo và công nhận tổ chức tôn giáo:
- Về việc công nhân tổ chức tôn giáo: có hai giai đoạn, trước hết là đăng ký
hoạt động tôn giáo, sau khi đăng ký hoạt động tôn giáo nếu đủ điều kiện, trong
đó có điều kiện “hoạt động ổn định” thì được công nhận về tổ chức
Sau thời gian hoạt động ổn định, tổ chức đã đăng ký hoạt động tôn giáo muốn được xét công nhận về mặt tổ chức phải gửi hồ sơ đến Thủ tướng Chính phủ (tổ chức tôn giáo hoạt động trong phạm vi nhiều tỉnh) hoặc UBND cấp tỉnh (tổ chức tôn giáo hoạt động trong phạm vi một tỉnh) để được xem xét công nhận tổ chức tôn giáo
- Về thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức tôn giáo trực
thuộc:được thực hiện theo Điều 27 và Điều 28 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo
năm 2016
Trang 31* Về hội đoàn và dòng tu, tu viện của các tôn giáo:
- Về hội đoàn tôn giáo: Pháp luật xác định hội đoàn tôn giáo được xác định
là một hình thức tập hợp tín đồ do tổ chức tôn giáo lập ra nhằm phục vụ hoạt động tôn giáo Những hội đoàn do tổ chức tôn giáo lập ra không nhằm phục vụ hoạt động tôn giáo thì việc thành lập và hoạt động thực hiện theo quy định của pháp luật về lập hội Những hội đoàn do tổ chức tôn giáo lập ra chỉ nhằm phục
vụ lễ nghi tôn giáo, khi hoạt động không phải đăng ký với cơ quan nhà nước có
- Về hoạt động của dòng tu, tu viện và các tổ chức tu hành tập thể: theo
quy định hiện hành, dòng tu, tu viện hoặc các tổ chức tu hành tập thể tương tự các tổ chức này chỉ cần đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền (UBND cấp huyện, UBND cấp tỉnh hoặc Ban tôn giáo Chính phủ) là có quyền hoạt
động hợp pháp
* Về việc đào tạo chức sắc của các tổ chức tôn giáo:
Tổ chức tôn giáo được thành lập trường đào tạo, mở lớp bồi dưỡng những người chuyên hoạt động tôn giáo.Trước khi thành lập trường, mở lớp, tổ chức tôn giáo phải có hồ sơ gửi Ban Tôn giáo Chính phủ hoặc cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo cấp tỉnh Sau thời hạn quy định (60 ngày đối với việc thành lập trường, 30 ngày đối với việc mở lớp), Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch UBND cấp tỉnh có trách nhiệm xem xét, trả lời tổ chức tôn giáo
* Về việc phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử trong tổ chức tôn giáo: Theo quy định của pháp luật, đây là công việc nội bộ của tổ chức tôn giáo nên tổ chức tôn giáo có quyền thực hiện theo hiến chương, điều lệ của tổ chức đã được Nhà nước phê duyệt Trước khi bổ nhiệm, bầu cử, suy cử, tổ chức tôn giáo
có trách nhiệm gửi hồ sơ đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyển Những
Trang 32người không đáp ứng những tiêu chí mà Nhà nước đặt ra sẽ không được Nhà nước thừa nhận, nếu họ hoạt động tôn giáo sẽ là bất hợp pháp Riêng trường hợp phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử công dân Việt Nam vào các chức danh tôn giáo do nước ngoài quyết định thì phải có sự thỏa thuận trước với Ban Tôn giáo Chính phủ
* Về việc thuyên chuyển nơi hoạt động tôn giáo của chức sắc, nhà tu hành: được thực hiện theo quy định tại Điều 35 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016
* Về cách chức, bãi nhiệm chức sắc, chức việc: tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc cách chức, bãi nhiệm chức sắc, chức việc theo hiến chương của tổ chức và thông báo bằng văn bản đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền
* Về hoạt động tôn giáo: luật pháp xác định, hoạt động tôn giáo là hoạt động truyền bá tôn giáo, sinh hoạt tôn giáo và quản lý tổ chức của tôn giáo Cụ thể từng nội dung sau:
- Sinh hoạt tôn giáo của tín đồ: Tín đồ có quyền tự do bày tỏ đức tin, thực
hành các nghi thức thờ cúng, cầu nguyện, tham gia các hình thức sinh hoạt lễ nghi tôn giáo và học tập giáo lý tôn giáo mà mình tin theo; hoạt động tôn giáo phải tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quyền tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của người khác, thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo không cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của công dân, hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo bảo đảm an toàn, tiết kiệm, tôn trọng quy định của cơ sở tôn
giáo và tuân thủ quy định của pháp luật
- Hoạt động tôn giáo của chức sắc: Theo quy định của pháp luật, chức sắc
tôn giáo có quyền thực hiện lễ nghi tôn giáo trong phạm vi phụ trách, được giảng đạo, truyền đạo tại cơ sở tôn giáo Việc thực hiện lễ nghi tôn giáo ngoài phạm vi phụ trách, giảng đạo, truyền đạo người cơ sở tôn giáo phải có sự chấp thuận của
UBND cấp huyện nơi thực hiện
Hằng năm, tổ chức tôn giáo phải đăng ký chương trình hoạt động tôn giáo với UBND cấp xã, phường Đối với những hoạt động tôn giáo ngoài chương trình
Trang 33đã đăng ký thì tùy theo quy mô hoạt động tôn giáo, sự tham gia của tín đồ, phải được sự chấp thuận của UBND cấp tỉnh hoặc UBND cấp huyện
- Hội nghị, đại hội của tổ chức tôn giáo:Hội nghị thường niên, đại hội của
tổ chức tôn giáo, tùy theo cấp tổ chức phải được sự chấp thuận của Ban Tôn giáo
Chính phủ, UBND cấp tỉnh hoặc UBND cấp huyện
- Hoạt động tôn giáo ngoài nơi thờ tự: Các cuộc lễ của tổ chức tôn giáo
diễn ra ngoài cơ sở tôn giáo: cuộc lễ ngoài cơ sở tôn giáo phải có văn bản đề nghị gửi UBND cấp huyện hoặc UBND cấp tỉnh nơi diễn ra cuộc lễ
* Về quan hệ quốc tế của cá nhân, tổ chức tôn giáo: việc mời tổ chức, người nước ngoài vào Việt Nam để tiến hành các hoạt động trao đổi, hợp tác quốc tế có liên quan đến tôn giáo; tham gia hoạt động tôn giáo ở nước ngoài của tổ chức tôn giáo; tham gia khóa đào tạo tôn giáo ở nước ngoài, tổ chức tôn giáo phải có hồ
sơ gửi Ban Tôn giáo Chính phủ Đối với chức sắc, nhà tu hành xuất cảnh ra nước ngoài không thuộc các trường hợp trên thì thực hiện theo quy định của pháp luật
- Người nước ngoài khi vào Việt Nam được mang theo xuất bản phẩm tôn giáo và đồ dụng việc đạo để phụ vụ nhu cầu của bản thân; được tạo điều kiện sinh hoạt tôn giáo như những tín đồ của Việt Nam; được mời chức sắc tôn giáo
là người Việt Nam đến thực hiện lễ nghi tôn giáo cho mình; phải tuân thủ pháp luật Việt Nam và tôn trọng quy định của tổ chức tôn giáo Việt Nam
* Về việc sửa chữa, xây dựng cơ sở tôn giáo: hoạt dộng sửa chữa, cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới các công trình thuộc cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo thực hiện theo quy định của pháp luật về xây dựng Việc quản lý, sử dụng đất có các công trình tín ngưỡng, tôn giáo thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai Giải quyết đất đai cụ thể liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo được thực hiện theo ba
Trang 34nguyên tắc: một là, nhu cầu xây dựng cơ sở tôn giáo; hai là, tùy theo khả năng quỹ đất của địa phương; ba là, phụ thuộc vào quy hoạch xây dựng
* Việc xuất bản, in, phát hành kinh sách: các tổ chức tôn giáo được xuất bản, in phát hành kinh sách, báo, tạp chí và các xuất bản phẩm khác về tín ngưỡng, tôn giáo; được kinh doanh, xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm về tín ngưỡng, tôn giáo, sản xuất đồ dùng phục vụ hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, sản xuất đồ dùng phục vụ hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo thực hiện theo quy định của pháp luật về xuất bản, pháp luật về xuất nhập khẩu văn hóa phẩm
* Việc quyên góp, nhận tài sản hiến tặng: tổ chức tôn giáo được tổ chức quyên góp, nhận tài sản hiến, tặng, cho trên cơ sở tự nguyện của tổ chức, cá nhân trong nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài theo quy định của pháp luật Tùy theo phạm vi quyên góp, tổ chức tôn giáo phải thông báo bằng văn bản trước khi quyên góp với UBND cấp xã, UBND cấp huyện hoặc UBND cấp tỉnh về mục đích, phạm
vị, cách thức, thời gian thực hiện quyên góp, cách thức sử dụng tài sản được quyên góp Không được lợi dụng danh nghĩa cơ sở, tổ chức tôn giáo để quyên góp phục vụ lợi ích cá nhân hoặc những mục đích trái pháp luật UBND nơi nhận thông báo có trách nhiệm giám sát việc quyên góp theo nội dung thông báo
* Hoạt động từ thiện xã hội: tổ chức tôn giáo được Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện tham gia nuôi dạy trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; hỗ trợ cơ sở chăm sóc sức khỏe người nghèo, người tàn tật, người nhiễm HIV/AIDS, bệnh nhân phong, tâm thần; hỗ trợ phát triển các cơ sở giáo dục mầm non và tham gia các hoạt động khác vì mục đích từ thiện nhân đạo phù hợp với hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo và quy định của pháp luật
Chức sắc, nhà tu hành, với tư cách công dân được Nhà nước khuyến khích
tổ chức hoạt động giáo dục, y tế, từ thiện nhân đạo theo quy định của pháp luật
Trang 35Tiểu kết chương
Chương 1 đã làm rõ những khái niệm liên quan đến quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo, bao gồm khái niệm về quản lý, quản lý nhà nước, tôn giáo, hoạt động tôn giáo, quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo Từ đó chỉ
ra mục tiêu, khách thể và chủ thể, nội dung quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo Những nội dung trên là cơ sở quan trọng để tác giả phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo được trình bày ở chương sau
Trang 36Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÔN GIÁO TRÊN ĐỊA BÀN
QUẬN HAI BÀ TRƯNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY
2.1 Khái quát về vị trí địa lý, tình hình kinh tế - xã hội và tôn giáo trên địa bàn quận Hai Bà Trưng
2.1.1 Vị trí địa lý, tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn quận Hai Bà Trưng
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Quận Hai Bà Trưng nằm ở phía Đông Nam Thành phố Hà Nội, là quận trung tâm của Thành phố Phía Đông giáp sông Hồng, phía Tây giáp quận Đống
Đa và quận Thanh Xuân, phía Nam giáp quận Hoàng Mai, phía Bắc giáp quận Hoàn Kiếm Quận Hai Bà Trưng có diện tích tự nhiên 10,14 km2, dân số gần 32 vạn người Toàn quận có 20 đơn vị hành chính cấp phường (với 754 tổ dân phố,
215 địa bàn dân cư), 38 đơn vị hành chính sự nghiệp và 41 doanh nghiệp Có 16/20 phường có cơ sở tôn giáo
Quận Hai Bà Trưng có 91 di tích lịch sử, văn hóa và cách mạng (đã có 33 di tích đã được xếp hạng) Trong đó có những di tích nổi tiếng như: Chùa Hương Tuyết, Chùa Liên Phái, Chùa Thiền Quang - Quang Hoa - Pháp Hoa, Đền Hai Bà Trưng, Đình Tương Mai, Di tích cách mạng 152 Bạch Mai, Khu tưởng niệm đồng chí Hoàng Văn Thụ, Khu tưởng niệm nạn đói năm 1945, Di tích lịch sử cách mạng kháng chiến 18 Nguyễn Du v.v Là cửa ngõ phía Nam của kinh thành Thăng Long xưa, nên quận Hai Bà Trưng vẫn còn dấu tích của ba cửa ô là ô Đồng Lầm, còn gọi là ô Kim Liên ở chỗ ngã tư đường Kim Liên-Đại Cồ Việt; ô Cầu Dền, còn gọi là ô Thịnh Yên ở cuối phố Huế giáp phố Bạch Mai; ô Đống Mác tức là ô Lương Yên, ở ngã ba Lò Đúc-Trần Khát Chân
2.1.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội
- Về kinh tế: Trên địa bàn quận Hai Bà Trưng có nhiều nhà máy, xí nghiệp của Trung ương và Hà Nội như: Dệt Kim Đồng Xuân; cảng Hà Nội; cụm công
Trang 37nghiệp Minh Khai - Vĩnh Tuy với hàng chục xí nghiệp nhà máy, chủ yếu thuộc các ngành dệt, cơ khí, chế biến thực phẩm Kinh tế nhiều thành phần trên địa bàn quận phát triển nhanh Hiện trên địa bàn quận có hơn 3.200 doanh nghiệp, trong
đó 70% là thương mại, dịch vụ, còn lại là hoạt động công nghiệp; có 2.166 hộ kinh doanh cá thể Hàng năm, giá trị sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh tăng 14,5%; doanh thu thương mại, du lịch, dịch vụ tăng hơn 15%; tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn quận luôn đạt và vượt chỉ tiêu được giao Theo số liệu báo cáo năm 2018, tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn quận tiếp tục ổn định Theo đó, giá trị sản xuất trên địa bàn Quận năm 2018 tăng 16,6%, trong đó dịch vụ tăng 18,7%, công nghiệp và xây dựng tăng 14,5% Tổng số thu ngân sách trên địa bàn 10 tháng năm 2018 đạt 7.982 tỷ 845 triệu đồng đạt 107% so với dự toán kế hoạch đề ra; ước thực hiện cả năm đạt 9.200 tỷ đồng đạt 123% so với dự toán kế hoạch đề ra, đạt 136% so với thu ngân sách thực hiện năm 2017
- Về công tác xã hội: Trong những năm qua, quận đã hỗ trợ sửa chữa và xây dựng 167 nhà đại đoàn kết, hỗ trợ cho 1.201 hộ gia đình thoát nghèo, trên 33.000 lao động được giới thiệu việc làm Công tác y tế, dân số, kế hoạch hóa gia đình; công tác giáo dục và đào tạo; công tác thông tin tuyên truyền và tổ chức các hoạt động văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao tiếp tục giữ vững và đạt kết quả tốt trong nhiều năm qua
2.1.2 Tình hình và đặc điểm tôn giáo trên địa bàn quận Hai Bà Trưng
2.1.2.1 Tình hình tôn giáo trên địa bàn quận Hai Bà Trưng
Từ năm 2003 trở về trước, trên địa bàn quận Hai Bà Trưng có 04 tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận, trong đó có 03 tôn giáo có cơ sở thờ tự và tín đồ (gồm Phật Giáo, Cao Đài, Công Giáo); 01 tôn giáo chỉ có tín đồ (đạo Tin Lành); đạo Baha’i chưa đủ điều kiện được Nhà nước công nhận Hoạt động tôn giáo trên địa bàn quận tập trung ở 02 tôn giáo lớn là Đạo Phật và Đạo Công Giáo Đạo Tin Lành và đạo Cao Đài ít tín đồ và chưa được Nhà nước công nhận nhiều hệ phái của đạo Tin Lành nên hoạt động của 02 đạo này chưa có gì nổi bật
Trang 38Sau khi triển khai thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa IX) về công tác tôn giáo cho đến nay, quận Hai Bà Trưng hiện có 05 tôn giáo được Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân và đang hoạt động đó là: Đạo Phật, Đạo Công Giáo, Đạo Cao Đài, Đạo Tin Lành, Đạo Baha’i Có 03 tôn giáo lớn có cơ sở thờ tự là Phật Giáo, Đạo Công Giáo, Đạo Cao Đài; có 03 điểm nhóm Tin Lành tư gia được công nhận, đủ điều kiện hoạt động trên địa bàn; Đạo Baha’i đã được Nhà nước công nhận Số lượng tín đồ, chức sắc các tôn giáo có phần tăng so với giai đoạn trước Cụ thể:
Đạo Phật (Phật Giáo): Trên địa bàn quận hiện có 23 chùa (16 chùa đã được
xếp hạng di tích lịch sử) Trong đó, có 22 chùa có sư trụ trì, 01 chùa không có sư trụ trì (chùa Tổ Ông)
Về chức sắc: có 01 vị hòa thượng, 01 ni trưởng, 07 vị ni sư, 03 vị tỳ khiêu giữ chức vụ, 60 vị sư, 07 vị tăng, 53 vị ni
Về tín đồ: Có khoảng 10.000 tín đồ theo Đạo Phật
Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam quận Hai Bà Trưng có 09 vị do Đại đức Thích Đạo Thông làm Trưởng ban Trị sự
Hoạt động tôn giáo của Phật giáo được thực hiện trên cơ sở giáo lý cơ bản
là thể hiện ở một số thuyết như: Tứ diệu đế, Duyên khởi, Vô thường, Vô ngã, Nghiệp báo, Nhân quả, Luân hồi [71, tr.43] và trên cơ sở giáo luật của Phật Giáo
gồm: Ngũ giới, Thập thiện và Bát quan trai giới (dành cho tín đồ), Thập giới/Sa
di giới (dành cho tu sĩ mới xuất gia), Cụ túc giới/Tỷ khiêu giới (dành cho tu sĩ
chính thức) và Bồ tát giới (dành cho cả tín đồ/cư sĩ tại gia lẫn tu sĩ/tăng sĩ xuất gia) [71, tr.45]
Những năm gần đây, Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam quận Hai Bà Trưng đã có nhiều kết quả tốt đẹp trong hoạt động hoằng pháp, Giáo hội luôn tổ chức các hội nghị về sinh hoạt Phật giáo, tạo ra nhiều hoạt động Phật giáo quan trọng, như: đào tạo tăng ni, giảng pháp cho dân chúng, tổ chức đại lễ đàn thụ giới, tổ chức Đại Pháp hội để cầu an và truyền pháp, tham gia các chương trình
an sinh xã hội Hàng tuần, chương trình thuyết giảng định kỳ tại các lớp giáo lý
Trang 39cơ bản và nâng cao cho Phật tử tại một số chùa được duy trì đều đặn đã thu hút được đông đảo Phật tử tham gia Hoằng pháp ngoài trang bị giáo lý còn phát huy tinh thần nhập thế của Phật giáo, hòa nhập quần chúng, thích nghi với đối tượng,
có nội dung thích ứng và lắng nghe nhu cầu, tâm tư của quần chúng Phật tử Hoạt động xã hội của Phật giáo được thể hiện ở chỗ trong thời gian qua, Phật Giáo quận Hai Bà Trưng tích cực tham gia các hoạt động xã hội, có nhiều đóng góp trên các lĩnh vực y tế, giáo dục và từ thiện nhân đạo, tiêu biểu như: tặng những xuất cơm, cháo cho các bệnh nhân nghèo đang điều trị tại bệnh viện (chùa Liên Phái, chùa Đức Viên, chùa Vua, chùa Thanh Nhàn,…) Ngoài ra, Phật Giáo quận Hai Bà Trưng còn tích cực vận động cứu trợ đồng bào bị thiên tai, ủng hộ xây dựng nhà tình nghĩa, trợ cấp học bổng cho học sinh và sinh viên nghèo hiếu học, ủng hộ các chiến sĩ biên cương và hải đảo, hỗ trợ các thương binh, bệnh binh, bệnh nhân nghèo khó…
Ngoài ra, các chức chắc, chức việc và nhà tu hành của Phật Giáo cũng tích cực tham gia vào cơ quan dân cử, tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội các cấp Trong kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021 đã có 02 vị chức sắc trúng cử đại biểu HĐND cấp quận; 05 chức sắc trúng cử đại biểu HĐND cấp phường; đặc biệt có 01 chức sắc trúng cử đại biểu HĐND 2 cấp (cấp quận và cấp phường) Bên cạnh đó, các chức sắc còn tham gia vào hoạt động của Ủy ban MTTQ cấp quận và phường
Nhìn chung, hoạt động của Phật Giáo trên địa bàn quận về cơ bản là ổn định do được sự quan tâm giúp đỡ thường xuyên cả về vật chất và tinh thần của Đảng, chính quyền địa phương, được nhân dân phát tâm công đức để tu sửa nơi thờ tự và duy trì các hoạt động Hoạt động nội bộ của các tăng ni đã ngày càng chú trọng vào việc nâng cao chất lượng và trình độ trên nhiều mặt Chức sắc, tín đồ Đạo Phật có tư tưởng đồng hành cùng dân tộc, chấp hành tố t chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tham gia tích cực các phong trào của địa phương, luôn ủng hộ các hoạt động của chính quyền địa phương
Trang 40Đạo Công Giáo (Thiên Chúa Giáo): Trên địa bàn quận hiện có 02 nhà thờ
họ là nhà thờ Trung Chí và nhà thờ Tân Lạc, 01 dòng tu là Dòng tu “Con Đức Mẹ Mân Côi - Chí Hòa” Trong đó, nhà thờ Trung Chí thuộc giáo xứ Hàm Long, nhà thờ Tân Lạc đã có quyết định lên giáo xứ và hiện không còn thuộc giáo xứ Hàm Long
Về chức sắc: có 02 chức sắc tôn giáo
Về tín đồ: có 2024 tín đồ
Hoạt động tôn giáo của Công Giáo trên cơ sở hệ thống giáo lý trong Cựu
ước và Tân ước có 5 tín điều cơ bản: (1) Thiên Chúa và sự sáng tạo thế giới của
Thiên Chúa (2) Con người và sự sa ngã của con người (3) Chúa Giêsu và công cuộc cứu chuộc (4) Chúa Giêsu trở lại và sự phán xét cuối cùng (5) Thiên
đường và Địa ngục, thiên thần và ma quỷ Giáo lý Công giáo thể hiện tập trung ở các nội dung: Chỉ tin thờ một Thiên Chúa Chúa Giêsu Kitô, do Đức Mẹ Maria sinh hạ, vừa là Người thật vừa là Chúa thật, chết 3 ngày rồi sống lại, ở trần gian
40 ngày rồi về trời Con người do Thiên Chúa tạo ra, có phần hồn và phần xác, mắc tội tổ tông truyền, ai không theo đạo sẽ không được cứu rỗi Giáo hoàng là thủ lĩnh tối cao của Giáo hội Giáo hội có quyền thay mặt Thiên Chúa tha tội cho
con người Giáo hội có 7 phép bí tích (Rửa tội, Thêm sức, Giải tội, Thánh thể,
Xức dầu, Truyền chức, Hôn phối) do Chúa Giêsu thiết lập để con người được
hưởng hồng ân của Thiên Chúa Song cùng với hệ thống giáo lý, Công giáo hoạt
động theo giáo luật được ghi trong Bộ Giáo luật 1983 (đề cập về hành đạo, quản
đạo và truyền đạo) và được sử dụng trên toàn thế giới, trong đó có các nội dung
chủ yếu, gồm: Mười điều răn của Thiên Chúa gồm: phải thờ kính Thiên Chúa
trên hết; không được lấy danh Thiên Chúa để làm những việc phàm tục, tầm thường; dành ngày chủ nhật để thờ phụng Thiên Chúa; thảo kính cha mẹ; không được giết người; không được dâm dục; không được tham lam lấy của người khác; không được che giấu sự giả dối; không được ham muốn vợ chồng người
khác; không được ham muốn của cải trái lẽ Sáu điều răn của Giáo hội gồm: dự
lễ chủ nhật và các ngày lễ buộc; kiêng việc xác ngày chủ nhật cùng các ngày lễ