1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHÁP LUẬT VỀ TIỀN LƯƠNG TỐI THIỂU TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

86 158 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 668,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể kể đến các công trình nghiên cứu như: Phạm Thị Quỳnh Trang 2009, Khóa luận tốt nghiệp, “Tiền lương tối thiểu trong pháp luật lao động Việt Nam”, Trường Đại học Luật Hà Nội; Đào D

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

CAO THỊ QUỲNH TRANG

PHÁP LUẬT VỀ TIỀN LƯƠNG TỐI THIỂU

TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ

HÀ NỘI, 2019

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

CAO THỊ QUỲNH TRANG

PHÁP LUẬT VỀ TIỀN LƯƠNG TỐI THIỂU

TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN Tôi là Cao Thị Quỳnh Trang , Học viên cao học đợt 1 -2017 chuyên

ngành Luật Kinh tế tại Học viện Khoa học xã hội, xin cam đoan luận văn

cứu khoa học độc lập của cá nhân tôi Kết quả nghiên cứu trong luận văn là

do tác giả thực hiện

Các tài liệu, số liệu, kết quả nghiên cứu của các tổ chức, cá nhân khác được tham khảo, sử dụng, trích dẫn trong luận văn đều đã được ghi rõ nguồn gốc một cách trung thực Tôi xin chịu trách nhiệm về những nội dung đã cam đoan ở trên

Tác giả luận văn

Cao Thị Quỳnh Trang

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

LUẬT VỀ TIÊN LƯƠNG TỐI THIỂU 6

1.1 Khái quát chung về tiền lương tối thiểu 6

1.2 Pháp luật về tiền lương tối thiểu 21

1.3 Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật về tiền lương tối thiểu tại Việt Nam 27

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TIỀN LƯƠNG TỐI THIỂU Ở VIỆT NAM 33

2.1 Quy định của pháp luật hiện hành về tiền lương tối thiểu ở Việt Nam 33 2.2 Thực tiễn thi hành pháp luật về tiền lương tối thiểu ở Việt Nam 43

THI 59 PHÁP LUẬT VỀ TIỀN LƯƠNG TỐI THIỂU Ở VIỆT NAM 59

3.1 Yêu cầu của việc hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về tiền lương tối thiểu 59 3.2 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về tiền lương tối thiểu 64

KẾT LUẬN 80 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

Trang 5

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong hai thập niên trở lại đây, tình hình kinh tế - xã hội nước ta đã có nhiều thay đổi quan trọng, đánh dấu bước ngoặt trên con đường phát triển: chỉ tiêu tăng trưởng luôn được duy trì, các chỉ báo xoá đói giảm nghèo, phát triển con người, bình đẳng giới tương đối khả quan trong điều kiện trình độ phát triển kinh

tế với xuất phát điểm thấp, bối cảnh thế giới và khu vực có nhiều biến động không thuận lợi Những thành tựu đó là kết quả của chính sách đổi mới đất nước đã được Đảng và Nhà nước ta đề ra và thực hiện thông qua các chính sách và biện pháp trên mọi lĩnh vực, trong đó các chính sách về tiền lương Tiền lương là một trong những công cụ kinh tế quan trọng và nhạy cảm trong đời sống kinh tế - chính trị

và xã hội của bất cứ một quốc gia nào Chính vì vậy, việc nghiên cứu tiền lương, nhất là tiền lương tối thiểu phải luôn được quan tâm để có thể giúp các nhà hoạch định chính sách cũng như các nhà chức trách có được một cái nhìn đầy đủ, toàn diện, chính xác và sâu sắc hơn nữa về chế định kinh tế đặc biệt quan trọng này

Như chúng ta đã biết, tiền lương đóng vai trò quan trọng trong đời sống của người lao động Tiền lương là nguồn để tái sản xuất sức lao động, vì vậy nó tác động rất lớn đến thái độ của người lao động đối với sản xuất, quyết định tâm tư, tình cảm của nhân dân đối với chế độ của xã hội Xét trên góc độ quản lý kinh doanh, quản lý xã hội, vì tiền lương luôn là nguồn sống của người lao động nên nó

là đòn bẩy kinh tế quan trọng Thông qua chính sách tiền lương, Nhà nước có thể điều chỉnh lại nguồn lao động giữa các vùng theo yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước

Tiền lương, trong đó có mức lương tối thiểu, là vấn đề rất phức tạp trong chính sách kinh tế - xã hội của mọi quốc gia Muốn giải quyết tương đối tốt, phù hợp chính sách tiền lương, cần thống nhất nhận thức và hành động về vấn đề này Tiền lương tối thiểu vốn nhằm bảo vệ người lao động, lo cho những người làm công ăn lương khó khăn nhất Nhưng để bảo đảm hài hòa lợi ích, Hội đồng Tiền lương Quốc gia được thành lập theo quy định tại Bộ luật Lao động năm 2012

Trang 6

2

là một cơ chế đối thoại Tiền lương tối thiểu từ chỗ hoàn toàn do Nhà nước dẫn dắt chuyển sang cơ chế ba bên, ghi nhận tầm quan trọng của việc người lao động

và người sử dụng lao động tham gia vào quá trình xác định tiền lương tối thiểu

Xuất phát từ tính cấp thiết, ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc của vấn đề

tiền lương tối thiểu tại Việt Nam nên tác giả mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Pháp luật

về tiền lương tối thiểu tại Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu luận văn

thạc sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Quá trình tìm hiểu và sưu tầm tài liệu cho thấy trước đây đã có không ít công trình nghiên cứu về vấn đề tiền lương tối thiểu tại Việt Nam Có thể kể đến các công trình nghiên cứu như: Phạm Thị Quỳnh Trang (2009), Khóa luận tốt

nghiệp, “Tiền lương tối thiểu trong pháp luật lao động Việt Nam”, Trường Đại

học Luật Hà Nội; Đào Duy Phương (2010), Chế độ pháp lý về lương tối thiểu và hướng hoàn thiện, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội; Phạm Thị Hồng (2013), Pháp luật về tiền lương – thực trạng áp dụng tại công ty cổ phần đầu tư và thương mại TNG, Luận văn ThS Luật học, Khoa Luật Đại học quốc gia

Hà Nội; Lưu Thị Lam (2014), luận văn thạc sĩ luật học, “Pháp luật Việt nam về

tiền lương tối thiểu” hay luận án tiến sĩ của Vũ Hồng Phong “Nghiên cứu tiền lương, thu nhập trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn Hà Nội” đề

cập đến vấn đề thực tiễn thực hiện các chế định pháp luật về tiền lương trên địa bản thành phố Hà Nội – một trong những trung tâm kinh tế - chính trị - xã hội lớn

nhất cả nước; luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện quy chế trả lương tại Tổng công ty

Sông Đà” của Nguyễn Thị Thùy Linh Rất nhiều báo cáo chuyên đề, đề tài nghiên

cứu về tiền lương tối thiểu: Báo cáo phiên 1 và phiên 2 của Bộ phận kỹ thuật Hội đồng tiền lương quốc gia về đề xuất mức lương tối thiểu năm 2018; Tham luận

“Hoàn thiện các quy định của pháp luật về tiền lương tối thiểu” của tiến sĩ Bùi Sỹ

Lợi – Phó chủ nhiệm Ủy ban về các vấn đề xã hội; các Báo cáo và đề xuất trao đổi tại cuộc họp Hội đồng tiền lương quốc gia của Phòng Thương mại và Công nghiệp

Trang 7

“Pháp luật về tiền lương tối thiểu tại Việt Nam hiện nay” tập trung nghiên cứu

và bám sát về vấn đề tiền lương tối thiểu đang trong quá trình sửa đổi, bổ sung Bộ luật lao động năm 2012 và việc ban hành Nghị định 157/2018/NĐ-CP của Chính Phủ quy định về mức lương tối thiểu vùng của người lao động làm việc theo hợp đồng lao động năm 2019 để đáp ứng yêu cầu đặt ra của thực tiễn áp dụng pháp

luật

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài nằm phân tích, làm rõ các nội dung pháp

lý về chính sách tiền lương tối thiểu, qua đó đưa ra những kiến nghị phù hợp để hoàn thiện nội dung này

Để đạt được mục đích trên, đề tài thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Khái quát về chế định tiền lương tối thiểu theo quy định của pháp luật quốc tế, pháp luật Việt Nam cũng như sơ lược sự phát triển của chế định này qua các thời kì Phân tích, làm rõ các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về chế định tiền lương tối thiểu

- Tìm hiểu thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về việc xác lập, điều chỉnh và áp dụng pháp luật về tiền lương tối thiểu

- Đề xuất các giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về tiền lương tối

thiểu trong hiện tại và tương lai

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung vào đối tượng nghiên cứu là:

- Các quan điểm về tiền lương tối thiểu;

- Quy định của pháp luật Việt Nam về tiền lương tối thiểu;

Trang 8

4

- Thực tiễn thi hành pháp luật về tiền lương tối thiểu

- Nội dung pháp lý về tiền lương tối thiểu bất cập cần hoàn thiện

Phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung vào chế định pháp luật tiền lương tối thiểu hiện hành của Việt Nam Cụ thể, bao gồm các nội dung như: quy định của pháp luật về tiền lương tối thiểu vùng, tiền lương tối thiểu ngành, tình hình thực hiện quy định về tiền lương tối thiểu trên thực tế và định hướng hoàn thiện pháp lý dựa trên chính sách pháp luật về tiền lương tối thiểu hiện tại

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, đồng thời sử dụng và kết hợp một cách hợp lý các phương pháp nghiên cứu khoa học như: phương pháp phân tích, phương pháp lịch sử, phương pháp tổng hợp, diễn giải, suy luận logic, so sánh… nhằm chứng minh các luận điểm nêu ra trong luận văn

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Ý nghĩa lý luận:

+ Đề xuất phương phương án xác định mức sống tối thiểu, phương án

kỹ thuật xây dựng phương án tiền lương tối thiểu tiến bộ, phù hợp với đặc thù kinh tế - xã hội của Việt Nam hiện nay

+ Đề xuất phương án pháp lý nhằm xác lập, điều chỉnh các quy định của pháp luật về tiền lương tối thiểu

Ý nghĩa thực tiễn:

+ Kết quả nghiên cứu giúp đánh giá tính phù hợp, những yếu tố tích cực

và những tồn tại, hạn chế còn tồn đọng của pháp luật về tiền lương tối thiểu ở Việt Nam

+ Kết quả nghiên cứu có thể được dùng để định hướng cho việc điều chỉnh pháp luật về tiền lương tối thiểu, định hướng cho các phương án xác lập tiền lương tối thiểu trong thời gian sắp tới

+ Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng làm tài liệu giảng dạy, nghiên cứu khoa học và tham khảo cho các đối tượng quan tâm

Trang 9

5

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài Lời mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát chung về tiền lương tối thiểu và pháp luật về tiền lương tối thiểu

Chương 2: Thực trạng pháp luật về tiền lương tối thiểu tại Việt Nam Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật

về tiền lương tối thiểu ở Việt Nam

Trang 10

6

Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TIỀN LƯƠNG TỐI THIỂU

VÀ PHÁP LUẬT VỀ TIÊN LƯƠNG TỐI THIỂU 1.1 Khái quát chung về tiền lương tối thiểu

1.1.1 Khái niệm và các loại tiền lương tối thiểu

1.1.1.1 Khái niệm tiền lương tối thiểu

Tiền lương tối thiểu theo quan điểm của Các Mác:

Lý luận nói chung về tiền lương đã được các nhà kinh tế nghiên cứu từ rất lâu bắt đầu là W.Petty Chính William Petty là người đầu tiên trong lịch sử đặt nền móng

cho lý thuyết “quy luật sắt về tiền lương” Lý thuyết mức lương tối thiểu phản ánh trình

độ phát triển ban đầu của chủ nghĩa tư bản Lúc này, sản xuất chưa phát triển, để buộc công nhân làm việc, giai cấp tư sản phải dựa vào Nhà nước để duy trì mức lương thấp Tuy nhiên từ lý luận này ta thấy được là, công nhân chỉ nhận được từ sản phẩm lao động của mình những tư liệu sinh hoạt tối thiểu do họ tạo ra Phần còn lại đã bị nhà tư bản chiếm đoạt Đó là mầm mống phân tích sự bóc lột

Lý luận về tiền lương của Mác là sự tiếp tục phát triển lý luận về tiền lương của các nhà kinh tế cổ điển trước đó Lý luận tiền lương của Mác đã vạch rõ bản chất của tiền lương dưới chủ nghĩa tư bản đã bị che đậy – tiền lương là giá cả của lao động, bác bỏ quan niệm của các nhà kinh tế tư bản trước đó (Ricardo) Những luận điểm của Mác về tiền lương vẫn còn giá trị đến ngày nay

Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tiền lương là một phần thu nhập quốc dân biểu hiện bằng tiền mà người lao động nhận được để bù đắp cho lao động đã

bỏ ra tuỳ theo số lượng và chất lượng của người lao động đó Như vậy tiền lương là một phần giá trị mới sáng tạo ra được phân phối cho người lao động để tái sản xuất sức lao động của mình Vì người lao động trong quá trình tham gia sản xuất phải hao phí một lương sức lao động nhất định và sau đó phải được bù đắp bằng việc sử dụng tư liệu tiêu dùng

Dựa vào cơ sở xác định chi phí bù đắp và duy trì sức lao động của người công

nhân, C Mác khẳng định: “Chi phí sản xuất ra sức lao động đơn giản là bao gồm chi phí

Trang 11

7

sinh hoạt của người công nhân và chi phí tái sản xuất ra công nhân Giá những chi phí sinh hoạt và chi phí tái sản xuất đó là tiền công Tiền công được quy định như vậy là tiền công tối thiểu”[3,tr.38,39]

Tiền lương tối thiểu theo quan điểm của quốc tế:

Tiền lương tối thiểu là một chính sách, chế định pháp luật được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm Có tới 90% các nước duy trì hệ thống lương tối thiểu và sử dụng lương tối thiểu như một công cụ quan trọng để bảo vệ những người lao động lương thấp

dễ bị tổn thương Là kênh điều tiết thị trường quan trọng nhằm tạo dựng sự ổn định trong phát triển kinh tế, bền vững trong yếu tố dân sinh

Ngay từ năm 1919, trong hiến chương thành lập của mình, ILO đã khuyến cáo

“đảm bảo mức tiền lương đủ sống cho người lao động” là một trong những nội dung thể hiện sự quan tâm và chủ trương hoàn thiện các điều kiện lao động, an sinh xã hội và thúc đẩy hòa bình, đặt ra những cơ sở đầu tiên về việc ghi nhận tiền lương tối thiểu của một tổ chức quốc tế hàng đầu về vấn đề lao động Trong Công ước số 26 ngày 30/05/1928 của

Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) cho rằng: “Tiền lương tối thiểu là mức trả công lao

động thấp nhất trả cho người lao động làm các công việc đơn giản nhất đủ đảm bảo cho

họ một mức sống tối thiểu với tư cách là người chủ gia đình, phù hợp với điều kiện kinh

tế xã hội” và “không có sự sắp đặt nào để có thể điều chỉnh lương theo thoả ước tập thể hoặc bằng cách khác, với một mức lương thấp”

Năm 1944, Tuyên bố Philadenphia đã khuyến khích các nước đấu tranh bảo vệ

“mức tiền lương tối thiểu đủ sống cho toàn thể những người làm công ăn lương”

Tiếp theo, tại Công ước 131 về tiền lương tối thiểu do ILO ban hành năm 1970

và Khuyến nghị kèm theo số 135, đã xác định “đảm bảo cho những người làm công ăn lương một sự đảm bảo xã hội cần thiết dưới dạng mức tiền lương tối thiểu đủ sống” Như vậy, đã có sự định hình rất rõ ràng về một mức “đảm bảo xã hội cần thiết” được ILO thiết lập như cơ chế đảm bảo mức sống tối thiểu cho người lao động trên cơ sở tiền lương tối thiểu Nguyên tắc tham vấn đầy đủ về tiền lương tối thiểu đối với xã hội là trọng tâm của Công ước này

Trang 12

8

Trong tuyên bố Chương trình hành động tại Hội nghị thế giới 03 bên năm 1976

về việc làm, phân phối thu nhập và tiến bộ xã hội, đã khuyến nghị “Bảo đảm mức sống

tối thiểu là một trong những nội dung cơ bản của chiến lược phát triển kinh tế xã hội và chính sách tiền lương của mỗi nước”

Việc làm và tiền lương là hai phạm trù có mối quan hệ với nhau, nó khác với khái niệm “thu nhập tối thiểu” Thu nhập tối thiểu có mục tiêu đảm bảo mức sống tối thiểu cho một người không phụ thuộc vào việc người đó có đi làm hay không Mức tiền lương tối thiểu không bao gồm các khoản tiền thưởng hoặc phúc lợi xã hội và cũng không áp dụng đối với một số việc nhất định Các mức tiền lương thấp nhất xác định thông qua thỏa ước lao động tập thể không phải các mức tiền lương tối thiểu vì nó không được luật pháp hóa Tương tự, mức tiền lương thấp nhất trong khu vực hưởng lương từ ngân sách nhà nước cũng không phải mức tiền lương tối thiểu

Quan niệm tiền lương tối thiểu ở Việt Nam:

Tại Việt Nam, tiền lương tối thiểu được quy định tại Điều 91 Bộ luật lao động

2012, là mức thấp nhất trả cho người lao động làm công việc đơn giản nhất, trong điều kiện lao động bình thường và phải bảo đảm nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ Tiền lương tối thiểu hay mức lương tối thiểu được Chính phủ quyết định dựa trên cơ sở khuyến nghị của Hội đồng tiền lương quốc gia – là cơ quan đại diện ba bên cấp quốc gia, tiêu chí để xác định tiền lương tối thiểu căn cứ vào nhu cầu sống tối thiểu của người lao động, gia đình họ và các điều kiện kinh tế - xã hội

Để làm rõ, có thể hiểu mức lương tối thiểu được sử dụng để trả cho người lao động làm công việc yêu cầu trình độ lao động giản đơn nhất, cường độ lao động nhẹ nhàng nhất, diễn ra trong điều kiện lao động bình thường và được sử dụng để xác định các mức lương, phụ cấp và các khoản bổ sung khác cho người lao động Do đó, tiền lương tối thiểu có những đặc trưng cơ bản sau đây:

Thứ nhất, tiền lương tối thiểu được áp dụng để trả cho người lao động làm công việc giản đơn nhất, không cần qua đào tạo

Thứ hai, tiền lương tối thiểu được trả tương ứng với điều kiện lao động và môi trường lao động bình thường Do vậy, mức lương tối thiểu sẽ không thể được sử dụng để

Trang 13

“Lương tối thiểu không phải tự chúng ta nghĩ ra mà do những lực lượng tiến bộ

trên thế giới, trong đó có Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) thấy rằng, người lao động chính là những tầng lớp yếu thế trong xã hội, nhưng lại chiếm số đông nên cần phải được bảo vệ một cách tích cực

Tiền lương tối thiểu là lưới an toàn cuối cùng để bảo vệ người lao động, với vai trò như vậy rất cần có tiền lương tối thiểu Hiện nay trong 189 quốc gia tham gia ILO thì

có đến 130 nước có quy định về tiền lương tối thiểu Nhiều nước phát triển như Mỹ, Nhật Bản, EU hay các nước xung quanh chúng ta như Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia… đều có quy định về tiền lương tối thiểu chứ không phải ngẫu nhiên”[8]

Thật vậy, tiền lương tối thiểu không phải ngẫu nhiên mà có, tiền lương tối thiểu

là công cụ điều tiết và kiểm soát dân sinh quan trọng của mỗi chính phủ, nhà nước Tiền lương tối thiểu phải phản ánh được mức sống tối thiểu của người lao động làm công ăn lương trong từng thời kỳ nhất định Đây là một trong những nền tảng đảm bảo quan trọng cho việc duy trì năng suất và chất lượng lao động; là cơ sở cho việc vươn tới các mục tiêu tiến bộ và công bằng xã hội của Việt Nam nói riêng, yêu cầu của quá trình hội nhập quốc tế nói chung

1.1.1.2 Các loại tiền lương tối thiểu

Việc phân loại tiền lương tối thiểu có ý nghĩa pháp lý quan trọng Trước hết,

giúp chúng ta phân biệt được loại tiền lương tối thiểu này với loại tiền lương tối thiểu khác, từ đó đưa ra được các cơ chế điều chỉnh hợp lý tuỳ thuộc vào đặc trưng của mỗi

loại Bên cạnh đó, phân loại tiền lương tối thiểu giúp đảm bảo được sự công bằng trong

việc trả lương cho người lao động khi điều kiện lao động có những yếu tố khác nhau nhất

Trang 14

10

định Có rất nhiều cách phân loại tiền lương tối thiểu, tác giả khái quát và phân tích một

số căn cứ phân loại điển hình như sau:

Thứ nhất, căn cứ vào phạm vi áp dụng của tiền lương tối thiểu, có thể phân chia

thành tiền lương tối thiểu chung duy nhất và tiền lương tối thiểu cho từng nhóm lao động

cụ thể

Theo quy định tại Điều 5 Mục III Khuyến nghị số 135 về ấn định lương tối thiểu của Tổ chức Lao động quốc tế ngày 22/06/1970 quy định:

“(1) Hệ thống lương tối thiểu có thể được áp dụng với những người làm công

ăn lương theo Điều 1 của Công ước trên bằng cách ấn định một mức lương tối thiểu duy nhất để áp dụng chung hoặc ấn định một loạt mức lương tối thiểu áp dụng cho các nhóm người lao động cụ thể

(2) Một hệ thống dựa trên mức lương tối thiểu duy nhất:

(a) phải tương thích với mức ấn định các mức lương tối thiểu khác tại các vùng hoặc miền khác nhau với ý định cho phép những khác biệt về chi phí cuộc sống;

(b) phải không làm tổn hại đến các tác dụng của quyết định, trước đây hoặc sau này, về mức lương tối thiểu cao hơn mức tối thiểu chung cho các nhóm người lao động

cụ thể”

Một là, tiền lương tối thiểu chung duy nhất

Tiền lương tối thiểu chung duy nhất là tiền lương tối thiểu do Nhà nước quy định, áp dụng chung cho người lao động làm việc trong mọi ngành nghề, mọi khu vực trong cả nước

Tiền lương tối thiểu chung duy nhất là loại tiền lương phổ cập được áp dụng thống nhất trên toàn lãnh thổ quốc gia, không phân biệt vùng, ngành kinh tế cũng như quan hệ lao động Mọi mức lương kể cả mức lương tối thiểu khác cũng không được thấp hơn mức lương tối thiểu chung Nói cách khác, lương tối thiểu chung phải đảm bảo là

“lưới an toàn chung”, là nền thấp nhất để trả công cho lao động xã hội, là cơ sở để xây

dựng hệ thống thang lương, bảng lương và các loại tiền tối thiểu khác Tiền lương tối thiểu chung duy nhất là loại tiền lương được nhiều quốc gia áp dụng làm “lưới an toàn

Trang 15

11

chung” cho chính sách tiền lương tối thiểu Điển hình như Mỹ, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản, Đức…

Hai là, tiền lương tối thiểu áp dụng cho nhóm người lao động cụ thể

Việc xây dựng và áp dụng chính sách tiền lương tối thiểu cho nhóm người lao động cụ thể có thể được các quốc gia tiếp cận tùy thuộc vào đặc thù kinh tế và định hướng lập pháp của từng quốc gia Hiện nay, tiền lương áp dụng cho nhóm người lao động cụ thể theo tinh thần của Khuyến nghị số 135 về ấn định tiền lương tối thiểu của Tổ chức Lao động quốc tế khá đa dạng Nhóm người lao động cụ thể dựa trên cơ sở phân chia về lĩnh vực lao động, chúng ta có “tiền lương tối thiểu theo ngành”; dựa trên cơ sở phân chia về vị trí địa lý, chúng ta có “tiền lương tối thiểu theo vùng”

Tiền lương tối thiểu theo ngành là loại tiền lương tối thiểu do Nhà nước quy

định hoặc đại diện hai bên quan hệ lao động thỏa thuận để áp dụng cho người lao động trong một ngành hoặc một nhóm ngành kinh tế kỹ thuật có tính chất ngành nghề tương đồng trên cơ sở tiền lương tối thiểu chung và có tính đến các yếu tố lao động đặc thù của từng ngành nghề đó sao cho tiền lương tối thiểu theo ngành ít nhất cũng phải bằng hoặc phải cao hơn tiền lương tối thiểu chung

Tiền lương tối thiểu vùng do nhà nước quy định, áp dụng cho người lao động

làm việc ở từng vùng lãnh thổ nhất định, căn cứ trên mức lương tối thiểu chung và có tính đến những yếu tố đặc thù vùng lãnh thổ đó như điều kiện kinh tế của vùng, mức thu nhập bình quân trên đầu người của từng vùng, mức chi tiêu tối thiểu chung của vùng và các yếu tố có liên quan khác như điều kiện làm việc, ăn ở, đi lại, yếu tố địa lý… Phạm vi

áp dụng của tiền lương tối thiểu vùng hẹp hơn so với tiền lương tối thiểu chung vì nó chỉ

áp dụng cho một vùng lãnh thổ nhất định đặc trưng bởi những yếu tố địa lý như đồng bằng, miền núi, trung du, miền biển khác nhau… do đó, ảnh hưởng khác nhau đến quá trình lao động, sản xuất và sinh hoạt của người lao động và gia đình họ Mục tiêu của tiền lương tối thiểu theo vùng là đáp ứng sự khác biệt về không gian của các yếu tố chi phối tiền lương tối thiểu chung, nhấn mạnh yếu tố đặc thù của từng vùng cũng như chiến lược phát triển trong từng vùng đó

Trang 16

12

Tiền lương tối thiểu vùng được áp dụng tại đa số các nước châu Á như Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Việt Nam [11]

Thứ hai, căn cứ vào thẩm quyền quyết định mức lương tối thiểu, có tiền lương

tối thiểu do Chính phủ quyết định, công bố và tiền lương tối thiểu do doanh nghiệp tự

Một là, tiền lương tối thiểu do Chính phủ quyết định

Tiền lương tối thiểu có vai trò quan trọng không chỉ đối với chính sách tiền lương mà ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống của người lao động và sự tăng trưởng phát triển kinh tế - xã hội trong các thời kỳ Cho nên việc công bố tiền lương tối thiểu là rất quan trọng, phải thông qua cơ quan Nhà nước có thẩm quyền mới đảm bảo được hiệu lực pháp lý và tầm quan trọng của nó Dựa trên quyết định đơn phương của chính phủ theo luật tiền lương tối thiểu được một số quốc gia ấn định như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Đức

Hai là, tiền lương tối thiểu do doanh nghiệp tự quy định, áp dụng trong phạm vi doanh nghiệp

Việc Nhà nước ban hành tiền lương tối thiểu là để tạo ra “lưới an toàn” xã hội cho người lao động, đảm bảo cho họ có thể duy trì cuộc sống và tái sản xuất sức lao động Người sử dụng lao động trong mọi trường hợp phải tiến hành trả lương cho người lao động ở “ngưỡng” đó, nghĩa là không được thấp hơn tiền lương tối thiểu Tuy nhiên, tùy theo điều kiện và khả năng, các doanh nghiệp có thể quy định, áp dụng mức lương tối thiểu cao hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định Quy định này là phù hợp với yêu cầu thực tiễn, bởi mỗi doanh nghiệp đều có khả năng riêng, đồng thời chính sách tiền lương cũng là công cụ hữu hiệu để các doanh nghiệp thu hút lao động khi cần thiết

Thứ ba, dựa trên cơ cấu mức tiền lương tối thiểu theo thời gian, có tiền lương

tối thiểu theo giờ và tiền lương tối thiểu theo tháng

Tiền lương tối thiểu theo giờ phụ thuộc vào tổng số giờ làm việc Do đó, nếu

người lao động không được bố trí đủ thời gian làm việc hoặc bị lạm dụng để trả cho công việc toàn thời gian hoặc theo tháng, mức lương tháng của họ sẽ không đảm bảo được mức sống tối thiểu Tuy nhiên, lương tối thiểu theo giờ có yếu tố linh hoạt thuận lợi cho

Trang 17

13

người lao động và doanh nghiệp Việc trả lương tối thiểu theo giờ dành cho những người lao động làm công việc trong điều kiện giản đơn, công việc không đầy đủ, công việc trong thời gian ngắn và linh hoạt Những công việc có đặc thù ngắn hạn, người lao động làm việc bán thời gian Hiện nay, quy định về tiền lương tối thiểu theo giờ thường được Chính phủ ở các nước phát triển ấn định

Tiền lương tối thiểu theo tháng là mức tiền lương quy định cho một tháng làm

việc của lao động giản đơn, làm việc trong điều kiện lao động bình thường mà người sử dụng lao động không được trả thấp hơn cho người lao động

1.1.2 Bản chất của tiền lương tối thiểu

Dưới góc độ của một doanh nghiệp, tiền lương trong sản xuất kinh doanh là yếu

tố được tính vào chi phí sản xuất Nó phụ thuộc vào quan hệ cung - cầu lao động trên thị trường, giá cả sinh hoạt, tập quán tiêu dùng, hiệu quả kinh doanh của từng ngành, cũng như chính sách tiền lương của mỗi doanh nghiệp

Về bản chất, tiền lương là giá cả sức lao động được hình thành trên cơ sở giá trị sức lao động, thông qua sự thoả thuận giữa người có sức lao động và người thuê mướn,

sử dụng sức lao động, đồng thời chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế trong đó có quy luật cung - cầu Trong đó giá trị sức lao động là toàn bộ những chi phí về ăn, ở, đi lại, các chi phí thiết yếu khác nhằm bù đắp một lượng nhất định những hao phí sức lao động: cơ bắp, trí tuệ, thần kinh, để duy trì sức khoẻ của bản thân người lao động trong trạng thái bình thường và tái sản xuất sức lao động cả về lượng và chất

Xét về mặt cấu trúc, tiền lương tối thiểu là một bộ phận cấu thành của tiền lương Về bản chất tiền lương tối thiểu là giá cả sức lao động được hình thành trên cơ sở giá trị sức lao động Tuy nhiên, giá cả sức lao động ở đây được hiểu là giá cả thấp nhất của hàng hoá sức lao động Tiền lương tối thiểu không chỉ được áp dụng cho lao động giản đơn mà là khung pháp lý quan trọng, mang tính chất bắt buộc người sử dụng lao động phải trả thấp nhất là bằng chứ không được thấp hơn mức Nhà nước ấn định, tạo ra lưới an toàn bảo vệ người lao động trong quan hệ lao động Tuy nhiên, tùy theo điều kiện

và khả năng, các doanh nghiệp có thể quy định, áp dụng mức lương tối thiểu cao hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định Quy định này là phù hợp với yêu cầu thực

Trang 18

14

tiễn, bởi mỗi doanh nghiệp đều có khả năng riêng, đồng thời chính sách tiền lương cũng

là công cụ hữu hiệu để các doanh nghiệp thu hút lao động khi cần thiết, đồng thời đó cũng là cách Nhà nước tôn trọng và khuyến khích sự thỏa thuận hợp pháp giữa hai bên trên tinh thần tự nguyện

Giá trị sức lao động được coi là cơ sở tính tiền lương tối thiểu bao gồm những chi phí cần thiết để duy trì sức khỏe và đảm bảo tái sản xuất sức lao động ở mức tối thiểu Nghĩa là tiền lương tối thiểu chỉ đáp ứng cho giá trị sức lao động có trình độ giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường với cường độ lao động nhẹ nhàng nhất

Nó không thể đáp ứng được tất cả nhu cầu cuộc sống của người lao động và gia đình họ,

mà chỉ đáp ứng được nhu cầu tối thiểu cần thiết để duy trì cuộc sống nhằm tái sản xuất sức lao động giản đơn và một phần tái sản xuất sức lao động mở rộng Đây chính là một trong những lý do việc hoạch định chính sách tiền lương tối thiểu qua từng thời kỳ của Nhà nước luôn được quan tâm, bàn luận, dự thảo và sửa đổi nhiều để có phương án phù hợp nhất theo từng thời kỳ

1.1.3 Vai trò của lương tối thiểu và pháp luật về tiền lương tối thiểu

1.1.3.1 Vai trò của tiền lương tối thiểu

Tiền lương tối thiểu có vị trí và vai trò rất quan trọng Hiện nay, chế độ tiền lương bao gồm các nội dung cơ bản: tiền lương tối thiểu, hệ thống thang bảng lương, các chế độ phụ cấp lương, chế độ tiền thưởng Trong đó tiền lương tối thiểu có vị trí đặc biệt,

là mức “sàn”, là cơ sở để xác định các nội dung khác trong chế độ tiền lương Chế định quan trọng đã được ILO khẳng định rất rõ ràng trong Khuyến nghị lương tối thiểu số 135 năm 1970 Tựu chung lại, tiền lương tối thiểu có những vai trò cơ bản sau:

Thứ nhất, tiền lương tối thiểu giúp tăng năng suất lao động

Năng suất lao động và tiền lương luôn tỷ lệ thuận với nhau Tuy nhiên, năng suất lao động không thể tăng đột biến ngay được vì vậy tiền lương sẽ chỉ tăng từ từ Bà Sandra Polaski, Phó Tổng giám đốc Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), khẳng định lương tối thiểu có vai trò rất quan trọng trong việc tăng năng suất lao động[7] Tăng tiền lương khiến người sử dụng lao động tìm cách tăng năng suất lao động thông qua đầu tư kỹ thuật, quá trình làm việc hiệu quả hơn

Trang 19

15

Thứ hai, tiền lương tối thiểu là “lưới an toàn” đối với người lao động

Vai trò này rất dễ nhận ra bởi tính đảm bảo của lương tối thiểu đối với các nhu cầu thiết yếu của người lao động Tiền lương tối thiểu loại bỏ sự bóc lột có thể xảy ra đối với người làm công ăn lương trước sức ép của thị trường Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, sức lao động được coi là một loại hàng hoá và cũng được tự do mua bán theo thoả thuận của người lao động và người sử dụng lao động Hiện nay, tình trạng thất nghiệp còn cao, cung lao động nhiều hơn cầu lao động, là điều kiện để người sử dụng lao động có cơ sở gây sức ép với người lao động, trả cho họ một mức lương thấp hơn mức lương họ đáng được hưởng Việc quy định tiền lương tối thiểu giới hạn rõ hành vi của người sử dụng lao động trong việc trả lương, bảo đảm sự cân bằng và bảo vệ người lao động khỏi sự bóc lột trước sức ép của thị trường

Thứ ba, tiền lương tối thiểu giúp xóa đói, giảm nghèo, đảm bảo tiến bộ xã hội

Về mặt lý thuyết, mỗi chính sách xóa đói giảm nghèo đều nhằm cụ thể những mục tiêu riêng, hỗ trợ một khu vực riêng, một đối tượng hay nhóm nhỏ đối tượng nào đó, tuy nhiên, đều có những điểm chung là giải quyết nguyên nhân dẫn đến gia tăng đói nghèo, cải thiện môi trường, trợ giúp dân thoát nghèo, từ đó giảm tỷ lệ nghèo đói Việc quy định khung tiền lương an toàn cho người lao động có vai trò quan trọng trong công tác xóa đói, giảm nghèo và đảm bảo tiến bộ xã hội Bởi lẽ, với khung tiền lương an toàn này, người lao động và gia đình của họ có thể được tiếp cận ở mức tối thiểu và đảm bảo đối với các nhu cầu thiết yếu, các dịch vụ y tế, văn hóa, dịch vụ xã hội Có thể coi việc xác định tiền lương tối thiểu là công cụ tấn công trực diện vào đói nghèo và vấn đề đảm bảo công bằng, tiến bộ xã hội của một quốc gia

Thứ tư, tiền lương tối thiểu là công cụ điều tiết của Nhà nước trên phạm vi toàn

xã hội và trong từng cơ sở kinh tế

Tiền lương tối thiểu là sự đảm bảo có tính pháp lý của Nhà nước đối với người lao động trong mọi ngành nghề, khu vực có tồn tại quan hệ lao động, đảm bảo đời sống tối thiểu cho họ phù hợp với khả năng của nền kinh tế Xuất phát từ nguyên tắc bảo vệ người lao động khi tham gia quan hệ lao động, Nhà nước quy định tiền lương tối thiểu như là một sự đảm bảo về mặt pháp lý đối với người lao động Tiền lương tối thiểu là

Trang 20

Thứ sáu, tiền lương tối thiểu là cơ sở xây dựng thang bảng lương, điều hòa tiền lương giữa các nhóm, vùng, lĩnh vực lao động

Tiền lương tối thiểu đảm bảo sự trả lương tương đương cho những công việc tương đương, tiền lương tối thiểu ở một mức độ nào đó là sự điều hoà trong các nhóm người lao động mà ở đó thường không được tính đúng mức Tiền lương tối thiểu, là cơ

sở tính các mức lương tiếp theo trong thang, bảng lương Vì thế, ở những công việc tương đương người lao động sẽ được trả mức lương tương đương

Thứ bảy, tiền lương tối thiểu giúp phòng ngừa xung đột lao động

Tiền lương tối thiểu phòng ngừa xung đột, tranh chấp lao động giữa giới chủ và giới thợ Sự xác định thoả đáng các mức tiền lương tối thiểu có thể xoá bỏ một trong những nguyên nhân gây nên xung đột giữa chủ và thợ để thúc đẩy kinh tế phát triển

Tóm lại, tiền lương tối thiểu là một chế định quan trọng trong nền tài chính của một quốc gia Tiền lương tối thiểu giải quyết được rất nhiều vấn đề quan trọng trong việc xây dựng lưới an toàn lao động chung cho toàn xã hội; là công cụ pháp lý, công cụ kinh

Trang 21

17

tế - xã hội quan trọng giúp đảm bảo ổn định các vấn đề tiên quyết, thiết yếu của một quốc gia

1.1.3.2 Vai trò của pháp luật về tiền lương tối thiểu

Như đã đề cập bên trên, tiền lương tối thiểu là một chế định tài chính quan trọng, tạo ra lưới an toàn lao động cho cho giới thợ Từ đó, hạn chế và loại trừ sự bóc lột triệt sức lao động có thể xảy ra đối với người lao động Việc luật hóa các quy định liên quan đến tiền lương tối thiểu là một vấn đề tiên quyết; chế định tiền lương tối thiểu là một bộ phận quan trọng trong hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về lao động nói riêng của bất kỳ quốc gia nào

Thứ nhất, pháp luật về lương tối thiểu đảm bảo vai trò điều chỉnh của hệ thống pháp luật nói chung, là công cụ thể chế hóa đường lối lãnh đạo của Đảng cầm quyền đối với lĩnh vực tiền lương Ở Việt Nam, từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, Đảng và Nhà nước chủ trương chuyển nền kinh tế Việt Nam phát triển theo nền kinh tế thị trường, có sự điều tiết của Nhà nước, hình thành và phát triển thị trường sức lao động

Hệ thống các quy định của pháp luật, trong đó có chế định tiền lương tối thiểu đã cụ thể hóa chủ trương này để có thể hiện thực hóa trong đời sống lao động; trở thành công cụ pháp lý cho phép các quan hệ lao động mới hình thành

Thứ hai, lưới an toàn lao động được luật hóa là một công cụ điều tiết thị trường, điều tiết quan hệ lao động quan trọng của Nhà nước Công cụ pháp lý mang tính quyền lực nhà nước có phạm vi điều chỉnh trên phạm vi toàn xã hội và đi sâu vào từng khu vực,

cơ sở kinh tế nhằm hạn chế và loại trừ sự bóc lột lao động; bảo vệ giá trị của tiền lương thực tế trước sự gia tăng của lạm phát và các yếu tố kinh tế khác; hạn chế sự cạnh tranh không công bằng trong thị trường lao động Khung pháp lý về tiền lương tối thiểu nhằm bảo vệ tối thiểu cho người lao động, khuyến khích những thỏa thuận có lợi cho người lao động trên mức sàn của luật

Thứ ba, pháp luật về tiền lương tối thiểu còn là căn cứ pháp lý để đảm bảo quyền và lợi ích cho các bên trong quan hệ lao động, là cơ sở pháp lý để các bên thỏa thuận, làm rõ nhu cầu và chính kiến của mình về vấn đề tiền lương phù hợp với điều kiện

và khả năng thực tế của các bên, là một trong những căn cứ để giải quyết các tranh chấp

Trang 22

18

lao động và đình công nếu có Đồng thời là công cụ pháp lý nhằm ràng buộc các bên thực hiện nghiêm túc các thỏa thuận về vấn đề tiền lương trong và sau khi kết thúc quan

hệ lao động

1.1.4 Các yếu tố chi phối mức lương tối thiểu

1.1.4.1 Quy định về tiền lương tối thiểu của Nhà nước

Trên thực tế các quốc gia có sự khác biệt nhất định về hoàn cảnh kinh tế, xã hội,

do đó dẫn đến sự khác biệt về hệ thống tiền lương tối thiểu Tuy nhiên, có những nguyên tắc chung được áp dụng phổ biến trong việc xây dựng chính sách pháp luật lương tối thiểu như sau:

Pháp luật về tiền lương tối thiểu chỉ thực sự hiệu quả khi xác định được đầy đủ các mục đích của lương tối thiểu và sự xác định chính xác các mục tiêu Chính sách pháp luật về tiền lương tối thiểu phải nhất quán với các chính sách khác như chính sách an sinh xã hội, thương lượng tập thể Điều này ngày càng trở nên quan trọng bởi trong một

số trường hợp, lương tối thiểu được quy định thấp hơn so với trợ cấp thất nghiệp và như vậy làm giảm hiệu quả và động lực làm việc Một số trường hơp khác, lương tối thiểu có những hậu quả ngoài ý muốn gây nản lòng (thậm chí thay thế) cho việc thương lượng tập thể về tiền lương

1.1.4.2 Chỉ số giá tiêu dùng và hiện tượng lạm phát

Định nghĩa mức lương tối thiểu đã cho thấy mức lương tối thiểu phụ thuộc trực tiếp vào giá sinh hoạt (được xác định thông qua chỉ số giá tiêu dùng – CPI) Chỉ số giá tiêu dùng là một trong những chỉ tiêu thuộc Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia Chỉ tiêu này phản ánh mức độ và xu hướng biến động của giá hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng theo thời gian Cụ thể, nếu chỉ số giá tiêu dùng tăng, giá cả hàng hóa tăng, người lao động phải dành phần lương để chi cho đời sống cao hơn, mức còn lại để tiết kiệm sẽ bị giảm hoặc thậm chí không còn tiền cho tiết kiệm Và như vậy, nếu chỉ số giá tiêu dùng tăng thì mức lương tối thiểu phải tăng theo để đảm bảo nhu cầu sống tối thiểu Do đó, các nhà hoạch định chính sách sẽ phải tính đến mức độ tăng, giảm của chỉ số giá tiêu dùng để làm căn cứ tính toán mức lương tối thiểu

Trang 23

19

Lạm phát nói chung có thể được hiểu là việc giá cả hàng hóa tăng lên so với mức giá thời điểm trước Cần phải hiểu việc tăng giá ở đây là tăng giá chung cho hầu hết các hàng hóa và dịch vụ chứ không phải tăng giá một loại hàng hóa cá biệt Khi giá trị của hàng hóa và dịch vụ tăng lên đồng nghĩa với sức mua của đồng tiền sẽ giảm đi Khi

đó với cùng một lượng tiền nhưng người tiêu dùng mua được ít hàng hóa hơn so với trước đó Như vậy, trượt giá hay lạm phát có ảnh hưởng đến việc tăng lương tối thiểu chung Để đảm bảo mức sống tối thiểu, tiền lương tối thiểu phải tăng đảm bảo bù phần trượt giá của đồng tiền hay mức lạm phát của nền kinh tế

1.1.4.3 Đặc điểm về cung – cầu trên thị trường lao động

Khi cung về lao động lớn hơn cầu về lao động thì tiền lương có xu hướng giảm, khi cung về lao động nhỏ hơn cầu về lao động thì tiền lương có xu hướng tăng, còn khi cung về lao động bằng với cầu lao động thì thị trường lao động đạt tới sự cân bằng Tiền lương lúc này là tiền lương cân bằng, mức tiền lương này bị phá vỡ khi các nhân tố ảnh hưởng tới cung cầu về lao động thay đổi như năng suất biên của lao động, giá cả của hàng hoá, dịch vụ…

Như vậy, lương tối thiểu cũng là một loại tiền lương nên chế định này cũng bị chi phối bởi đặc điểm về cung cầu trên thị trường lao động Nếu cung lớn hơn cầu, mức lương tối thiểu sẽ giảm và ngược lại Sở dĩ như vậy vì sức lao dộng cũng là một loại hàng hóa nên nó cũng có các thuộc tính là giá trị và giá trị sử dụng Để thấy được giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động thì cũng như các loại hàng hóa khác là phải thông qua thị trường của nó (thị trường lao động) mà nhân tố cấu thành là cung, cầu và giá cả Giá cả luôn luôn tỷ lệ thuận với cầu và tỷ lệ nghịch với cung Nghĩa là, trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, thì một sự tăng lên của cầu hay giảm xuống của cung sẽ làm cho giá cả tăng lên; và ngược lại, một sự giảm xuống của cầu và một sự tăng lên của cung sẽ làm cho giá cả giảm xuống

1.1.4.4 Một số yếu tố khác

Thứ nhất, vai trò của tổ chức Công đoàn đối với pháp luật tiền lương tối thiểu

Không thể phủ nhận trong những năm qua, tổ chức Công đoàn Việt Nam đã đạt được nhiều nước tiến trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao

Trang 24

20

động Chúng ta cũng có thể bắt gặp hình ảnh tương tự tại Úc, Singapore hay sự tăng lên

về vai trò của Công đoàn tại Trung Quốc Năng lực của công đoàn đóng vai trò quan trọng trong việc lên tiếng bảo vệ quyền lợi cho người lao động bằng chế định tiền lương

tối thiểu trên cơ sở đại diện 03 bên tại cơ quan tiền lương quốc gia

Thứ hai, cũng giống như tiền lương, tiền lương tối thiểu phụ thuộc vào loại hình công việc, mức độ “đơn giản” trong thực hiện công việc

Với mỗi loại công việc khác nhau sẽ có mức lương sàn khác nhau Ví dụ những ngành đòi hỏi trình độ tay nghề cao, sức khỏe tốt như công việc hầm mỏ, khai khoáng, các công việc tiếp xúc với môi trường hoặc các chất độc hại thì tiền lương tối thiểu của các công việc đó sẽ cao hơn Các công việc nhẹ nhàng như dệt may, thủ công sẽ có mức lương tối thiểu thấp hơn Điều này thể hiện với các ngành khác nhau thì mức lương tối thiểu khác nhau

Thứ ba, các yếu tố thuộc về sức khỏe, năng lực tài chính của doanh nghiệp

Khi doanh nghiệp mạnh về tài chính thì mức tiền lương chi trả cho người lao động sẽ tăng, đồng nghĩa với mức lương tối thiểu cũng tăng Tuy nhiên, do mức lương tối thiểu chỉ bảo vệ quyền lợi tối thiểu cho người lao động mà thực tế, mức lương doanh nghiệp trả thường sẽ cao hơn, thậm chí cao hơn nhiều so với mức lương tối thiểu nên việc điều chỉnh mức lương tối thiểu dường như không có tác động xấu đến tình hình tài chính của doanh nghiệp trừ phi doanh nghiệp đang áp dụng lương tối thiểu để trả cho người lao động

Thứ tư, các yếu tố chủ quan thuộc về Người lao động

Các yếu tố thuộc về người lao động như năng suất lao động, trình độ lao động, thâm niên công tác, kinh nghiệm làm việc, vị trí làm việc, thể lực…Trong đó, năng suất lao động là yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất đến mức lương tối thiểu Vì theo lý thuyết, năng suất lao động tăng kéo theo thu nhập bình quân đầu người (GDP) tăng và ngược lại, GDP tăng có sự đóng góp đáng kể của năng suất lao động Năng suất lao động tăng thì lương tối thiểu trả cho người lao động cũng phải tăng theo

Trang 25

21

1.2 Pháp luật về tiền lương tối thiểu

1.2.1 Khái niệm của pháp luật về tiền lương tối thiểu

Tiền lương tối thiểu là một chế định pháp lý quan trọng trong nền tài chính của một quốc gia Chính vì vậy, Nhà nước đã sớm ghi nhận chế định này trong các văn bản pháp luật chuyên nghành Ở Việt Nam hiện nay, chế định tiền lương tối thiểu được ghi nhận trong Bộ luật lao động năm 2012 như sau:

Khái niệm tiền lương được quy định tại Điều 90 Bộ luật lao động 2012:

“1 Tiền lương là khoản tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động

để thực hiện công việc theo thỏa thuận

Tiền lương bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác

Mức lương của người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Chính phủ quy định

2 Tiền lương trả cho người lao động căn cứ vào năng suất lao động và chất lượng công việc

3 Người sử dụng lao động phải bảo đảm trả lương bình đẳng, không phân biệt giới tính đối với người lao động làm công việc có giá trị như nhau”

Mức lương tối thiểu được quy định tại Điều 91 Bộ luật lao động 2012 như sau:

“1 Mức lương tối thiểu là mức thấp nhất trả cho người lao động làm công việc

giản đơn nhất, trong điều kiện lao động bình thường và phải bảo đảm nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ

Mức lương tối thiểu được xác định theo tháng, ngày, giờ và được xác lập theo vùng, ngành

2 Căn cứ vào nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ, điều kiện kinh tế - xã hội và mức tiền lương trên thị trường lao động, Chính phủ công bố mức lương tối thiểu vùng trên cơ sở khuyến nghị của Hội đồng tiền lương quốc gia

3 Mức lương tối thiểu ngành được xác định thông qua thương lượng tập thể ngành, được ghi trong thỏa ước lao động tập thể ngành nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ công bố”

Trang 26

22

Mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định có ý nghĩa bắt buộc đối với cả hai bên trong quan hệ lao động Điều 3 Công ước số 26 năm 1928 của ILO về việc thiết lập những phương án ấn định lương tối thiểu cho rằng mức lương tối thiểu không thể bị hạ thấp bởi giới chủ và giới thợ, dù là bằng thỏa thuận cá nhân hay bằng thỏa ước tập thể, trừ khi được thông qua bằng một quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Như vậy có thể hiểu: pháp luật về lương tối thiểu là hệ thống các quy tắc xử sự, là

công cụ điều chỉnh các quan hệ về tiền lương do Nhà nước ban hành, thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền và được thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước trong quan hệ lao động Nội dung của pháp luật về tiền lương tối thiểu được xác định

bao gồm tổng thể các quy định liên quan như khái niệm, phân loại, phương pháp xác định tiền lương tối thiểu, căn cứ điều chỉnh, công bố tiền lương tối thiểu…

1.2.2 Các căn cứ xác định mức lương tối thiểu

Việc xác định tiền lương tối thiểu có ý nghĩa rất quan trọng, nó ảnh hưởng tới quyền lợi của người lao động, người sử dụng lao động và ảnh hưởng tới sự phát triển chung của kinh tế xã hội Tiền lương tối thiểu được xác định theo từng bộ tiêu chí Các tiêu chí được sử dụng tại các nước khác nhau là khác nhau Tuy nhiên, các tiêu chí này thường nằm trong hai nhóm chính: Các nhân tố về xã hội – nhu cầu của người lao động

(ii) Những nhân tố về kinh tế, kể cả những đòi hỏi của phát triển kinh tế, năng suất lao động và mối quan tâm trong việc đạt tới và duy trì một mức sử dụng lao động cao

Trang 27

23

Trong Khuyến nghị số 135 năm 1970 của tổ chức Lao động Quốc tế (Khuyến nghị 135), để xác định mức lương tối thiểu, cần phải xem xét các tiêu chí sau, cùng với các tiêu chí khác:

(i) Nhu cầu của người lao động và gia đình của họ;

(ii) Mức tiền lương chung của quốc gia;

(iii) Chi phí sinh hoạt và các thay đổi liên quan;

(iv) Các chế độ an sinh xã hội

(v) Các tiêu chuẩn sống tương đối của các nhóm xã hội;

(vi) Các yếu tố kinh tế, bao gồm các yêu cầu về phát triển kinh tế, mức độ năng suất và mong muốn đạt được và duy trì mức độ làm việc cao

Có thể thấy, các tiêu chí từ (i) đến (v) đều có liên quan đến nhu cầu của người lao động; tiêu chí (vi) là yếu tố kinh tế, nhằm xem xét mức lương tối thiểu về cơ bản phải có thể chi trả được và không nên có những tác động tiêu cực đáng kể tới thị trường lao động

và nền kinh tế nói chung

Từ đó, có thể khái quát nhóm các cơ sở xác định tiền lương tối thiểu như sau:

Tiền lương tối thiểu phải đảm bảo nhu cầu tiêu dùng tối thiểu cho bản thân người lao động (trong đó có quyền nuôi con) Mục đích của tiền lương tối thiểu là đảm bảo cho người lao động có thể duy trì cuộc sống của mình và tiếp tục tái sản xuất sức lao động Ngoài ra, tiền lương tối thiểu còn được người lao động sử dụng để nuôi con Vì vậy, việc xác định tiền lương tối thiểu phải trên cơ sở các nhu cầu tiêu dùng tối thiểu cho bản thân

và gia đình người lao động

(ii) Cơ sở tiền công trung bình cho người lao động trên thị trường lao động

(iii) Cơ sở khả năng chi trả của doanh nghiệp, cơ sở xác định này nhằm không những bảo vệ quyền lợi người lao động mà còn đảm bảo cho quyền lợi hợp pháp của người sử dụng lao động

(iv) Cơ sở khả năng chi trả của nền kinh tế và quỹ tiêu dùng dân cư

(v) Cơ sở tốc độ trượt giá so với lúc thiết kế tiền lương trước đây

Trang 28

171 nước chiếm 92% các nước thành viên có quy định mức lương tối thiểu Một xu hướng xuất hiện những năm gần đây là ngày càng có nhiều quốc gia ban hành luật về tiền lương tối thiểu cũng như nhiều nước Chính phủ quyết định vấn đề này nhằm bảo vệ người lao động Việt Nam là thành viên của ILO, cũng thuộc số đông thành viên quy định mức lương tối thiểu Mục tiêu, tiêu chí cũng như cơ chế xác định mức lương tối thiểu của chúng ta thời gian gần đây đang đi theo các quy định trong các công ước và

khuyến nghị của ILO;

Ví dụ điển hình như tại Trung Quốc Năm 1978, Trung Quốc bắt đầu cải cách kinh tế theo hướng thị trường và điều này đã làm xói mòn các nền tảng tư tưởng và thực tiễn của hệ thống lương bình quân chủ nghĩa Sự cần thiết phải xây dựng một hệ thống công vụ cạnh tranh có thể hấp dẫn và giữ được người tài, đã thúc ép các nhà cải cách Trung Quốc phải thay đổi hệ thống lương công vụ Để tăng cường bảo vệ quyền lợi của những người lao động bằng mức lương tối thiểu, Luật Lao động năm 1994 của Trung Quốc đã quy định hệ thống lương tối thiểu chung phải đảm bảo hỗ trợ được những nhu cầu thiết yếu của người lao động

Hay như tại Hàn Quốc, để thu hút nhân tài cho nền hành chính công, tháng 4/2007 Chính phủ nước này đã công bố chính sách lương mới Theo đó, ngân sách nước này đã chi thêm 214 triệu đôla Singapore (SGD), nâng tổng số quỹ tiền lương mỗi năm

Trang 29

Thực tế tại Việt Nam từ khi có chính sách tiền lương năm 1960 đến nay, vấn đề tiền lương tối thiểu luôn luôn được đặt ra nghiên cứu và Chính phủ quy định theo từng thời kỳ Năm 1995, lương tối thiểu được quy định trong Bộ luật Lao động, đặc biệt Bộ luật Lao động năm 2012 quy định rất rõ về mục tiêu, tiêu chí và phương thức xác định mức lương tối thiểu (thực chất là chúng ta nghiên cứu công ước 131 của ILO để nội luật hóa vấn đề này)

Thứ hai, pháp luật về tiền lương tối thiểu đều được xây dựng trên những nguyên tắc và căn cứ chung

Thị trường lao động yêu cầu đáp ứng công việc đòi hỏi rất đa dạng, có công việc

vị trí đòi hỏi người lao động phải qua đào tạo ở trình độ nhất định và tích lũy kinh nghiệm ở mức nào đó thì mới đáp ứng được, ngược lại có công việc giản đơn không cần đào tạo hoặc thời gian đào tạo ngắn là đáp ứng yêu cầu, theo đó sự thỏa thuận tiền lương

sẽ tạo ra thang giá trị giữa các công việc với nhau có mức cao nhất và mức thấp nhất (mức tối thiểu) Đối với công việc đòi hỏi trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao thì người lao động hoàn toàn có vị thế để thương lương với người sử dụng lao động, ngược lại người lao động làm công việc giản đơn thì vị thế thương lượng với người sử dụng lao động yếu hơn và kết quả thương lượng phụ thuộc rất lớn vào quan hệ cung cầu, nếu không có sự tham gia của bên thứ ba (tổ chức đại diện hoặc Nhà nước) trong quá trình thương lượng thì hai bên vẫn tìm ra được mức lương thấp nhất này nhưng phần lớn là người lao động sẽ bị thua thiệt vì mức thỏa thuận khó đảm bảo mức sống tối thiểu Cho nên tổ chức đại diện hoặc Nhà nước phải đặt ra ngưỡng để hai bên thương lượng, thỏa

Trang 30

26

thuận không được thấp hơn ngưỡng này nhằm bảo vệ người lao động không bị rơi vào tình trạng nghèo khó Vì vậy công ước của ILO và Bộ luật Lao động nhiều quốc gia trên thế giới đã đưa ra quy định mức lương tối thiểu là mức lương trả cho người lao động làm công việc giản đơn nhất mà công việc này không cần qua đào tạo cũng làm được, trong điều kiện lao động bình thường, mức lương tối thiểu phải bảo đảm nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ

Theo công ước về tiền lương tối thiểu của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) ban hành, các yếu tố được xem xét để xác định mức lương tối thiểu gồm: nhu cầu của người lao động và gia đình họ, mức lương chung của nền kinh tế, chi phí cho cuộc sống và thay đổi nếu có, lợi ích về an sinh xã hội, mức sống tương quan của các nhóm xã hội và các nhân tố kinh tế, bao gồm yêu cầu phát triển kinh tế, mức tăng năng suất và lao động

Thứ ba, những nội dung cơ bản của pháp luật tiền lương tối thiểu trong hệ thống pháp luật quốc tế

Hệ thống pháp luật quốc tế ghi nhận đầy đủ những nội dung cơ bản của chính sách pháp luật về tiền lương tối thiểu, làm cơ sở cho các quốc gia nội luật hóa vào hệ thống pháp luật trong nước Tùy vào đặc điểm kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia mà có xây dựng nội dung về chính sách tiền lương tối thiểu cho phù hợp Thông tin tham khảo được đưa ra trong đoạn 2, Điều 4 của Khuyến nghị số 135 của Tổ chức Lao động quốc tế cần bao gồm, đặc biệt là những thông tin về các vấn đề sau đây:

“(a) lựa chọn và áp dụng các tiêu chí để xác định mức lương tối thiểu;

(b) mức hoặc các mức lương tối thiểu sẽ được ấn định;

(c) điều chỉnh mức hoặc các mức lương tối thiểu theo thời gian;

(d) các vấn đề gặp phải trong việc thi hành quy định về lương tối thiểu;

(e) thu thập dữ liệu và triển khai nghiên cứu về thông tin của các cơ quan ấn định lương tối thiểu.”

Như vậy, có thể thấy rằng, chính sách tiền lương tối được Tổ chức Lao động quốc

tế vạch rõ những nội dung cần được đảm bảo trong chính sách tiền lương tối thiểu nói chung Đây đều là những nội dung mang tính chất cơ bản và cốt lõi; qua đó, ý nghĩa của pháp luật tiền lương tối thiểu mới được thể hiện và nâng tầm khả thi trong thực tiễn

Trang 31

27

Mức lương tối thiểu không phù hợp sẽ tạo ra các tác động vĩ mô bất lợi cho nền kinh tế Vì lẽ đó, chính sách đối với tiền lương tối thiểu là một trong số các nội dung được quan tâm hàng đầu tại hầu hết các quốc gia trong hệ thống chính sách tiền lương Hầu hết các quốc gia khi ban hành chính sách tiền lương tối thiểu đều nêu phương pháp

xác định dựa trên căn cứ của Tổ chức Lao động quốc tế: “Khi xác định tiền lương tối

thiểu, các yếu tố sau nên xem xét tối đa và phù hợp với từng trường hợp cụ thể như nhu cầu của người lao động và gia đình của họ và được xem xét vào tiền lương chung quốc gia, mức sống, trợ cấp xã hội và chất lượng cuộc sống Các yếu tố kinh tế bao gồm các điều kiện cần thiết cho phát triển kinh tế và các yêu cầu đối với việc đạt được và duy trì các mức cao của năng suất và việc làm”[6]

1.3 Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật về tiền lương tối thiểu tại Việt Nam

1.3.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1959

Ngày 12/3/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 29 và Sắc lệnh này được đánh giá như là “Bộ luật Lao động” đầu tiên của Việt Nam Cùng với Sắc lệnh 29, lần đầu tiên khái niệm tiền lương tối thiểu xuất hiện chính thức trong một văn bản luật ở

nước ta Điều thứ 58, Sắc lệnh số 29 nêu rõ: “Tiền công tối thiểu là số tiền do chính phủ

ấn định theo giá sinh hoạt, để một công nhân không chuyên nghiệp sinh sống một mình, trong một ngày, ở một khu vực nhất định”

Tại Sắc lệnh 133/SL (7/1946) đã ấn định lương tối thiểu của công chức các ngạch (mỗi tháng 150 đồng – 15 kg gạo cho Hà Nội, Hải phòng và 130 đồng – 13 kg gạo cho các tỉnh khác Đến tháng 2/1947, lương tối thiểu nâng lên 180 đồng và lương tối đa là

600 đồng (đã trừ 10% cho quỹ hưu bổng) cho công chức

Năm 1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 188-SL ngày 29/5/1948 về việc lập một chế độ công chức mới và một thang lương chung cho các ngạch và các hạng công chức Việt Nam Sắc lệnh này quy định các ngạch công chức với các bậc lương và các loại phụ cấp Trong Sắc lệnh 188-SL không quy định rõ mức tiền lương tối thiểu làm

cơ sở để tính toán các bậc lương Tuy nhiên Điều 5 Sắc lệnh 188-SL quy định “ Nếu lương và các khoản phụ cấp kể trên của một công chức dưới 220 đồng một tháng thì

Trang 32

270-Trong chế độ tiền lương năm 1960, Nhà nước chưa quy định tiền lương tối thiểu theo vùng, tuy nhiên thông qua chế độ phụ cấp khu vực đã thể hiện sự phân biệt giữa vùng này so với vùng khác qua các yếu tố sau:

- Điều kiện khí hậu xấu;

- Điều kiện sinh hoạt khó khăn, vật giá đắt đỏ có tính chất thường xuyên;

- Điều kiện công tác xa xôi, hẻo lánh

Căn cứ vào các yếu tố trên chia các địa phương thành 7 khu vực với 7 mức phụ cấp: 40%, 25%, 20%, 15%, 12%, 10%, 6% Những vùng khan hiếm lao động, tập trung những công trình quan trọng sẽ nghiên cứu đặt các khoản phụ cấp tạm thời nhằm khuyến khích người lao động đến phụ vụ các công trình và giải quyết một phần khó khăn cho công nhân trong thời gian khi điều kiện sinh hoạt chưa ổn định

1.3.2 Giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1985

Từ năm 1960 đến năm 1985 tuy Nhà nước không tiến hành cải cách tiền lương, không công bố mức lương tối thiểu nhưng thực tế đã nhiều lần tăng tiền lương danh nghĩa thông qua các hình thức trợ cấp tạm thời, hình thức tiền thưởng, khuyến khích lương sản phẩm, lương khoán… và điều chỉnh mức phụ cấp khu vực đối với các địa phương

Ngày 18/9/1985, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 235/HĐBT về cải tiến chế độ tiền lương của công nhân, viên chức và lực lượng vũ trang Điều 2 Nghị

định 235/HĐBT quy định: “Mức lương tối thiểu là 220 đồng một tháng Mức lương này

ứng với mức giá ở những vùng có giá sinh hoạt thấp nhất hiện nay Khi nào mức giá thay đổi hoặc ở những vùng có giá sinh hoạt cao hơn thì tiền lương được tính thêm phụ

Trang 33

Ngày 28/12/1988, Hội đồng Bộ trưởng có Quyết định số 202/HĐBT về tiền lương công nhân, viên chức sản xuất, kinh doanh khu vực quốc doanh và công ty hợp doanh và Quyết định số 203/HĐBT về tiền lương công nhân, viên chức hành chính, sự nghiệp, lực lượng vũ trang và các đối tượng hưởng chính sách xã hội, nâng mức lương tối thiểu lên 22.500 đồng/tháng Như vậy, giai đoạn này, mặc dù Nhà nước đã tách khu vực sản xuất ra khỏi khu vực hành chính sự nghiệp, tuy nhiên mức tiền lương tối thiểu được quy định cho hai khu vực trên là như nhau

Ngày 23/5/1993 Chính phủ ban hành Nghị định số 25-CP quy định tạm thời chế

độ tiền lương mới của công chức, viên chức hành chính, sự nghiệp và lực lượng vũ trang và Nghị định số 26-CP quy định tạm thời chế độ tiền lương mới trong doanh nghiệp Cũng giống như năm 1988, Nhà nước đã ban hành một mức lương tối thiểu áp dụng cho

cả hai khu vực doanh nghiệp và hành chính, sự nghiệp là 120.000đồng/ tháng

Sau khi Hiến pháp năm 1992 ra đời, nước ta thực hiện chủ trương muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới, mở rộng giao lưu hợp tác trên hầu hết các lĩnh vực (kinh

tế, văn hóa, xã hội….) Do vậy giai đoạn này đã có rất nhiều các nhà đầu tư nước ngoài đến đầu tư kinh doanh tại Việt Nam và rất nhiều các cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế tại Việt Nam Trước tình hình này, vừa là để bảo vệ người lao động trong nước, vừa là để khuyến khích đầu tư nước ngoài, tại Khoản 3 Điều 3 Nghị định số

Trang 34

30

197/CP ngày 31/12/1994 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ Luật lao động quy định: “Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội sau khi lấy ý kiến Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, Uỷ ban Nhà nước về Hợp tác và Đầu tư và đại diện của người sử dụng lao động trình Chính phủ công bố hoặc Chính phủ uỷ quyền cho Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội công bố mức lương tối thiểu đối với người lao động Việt Nam làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trong Khu chế xuất, Khu công nghiệp và các cơ quan, tổ chức nước ngoài hoặc quốc tế tại Việt Nam”

Ngày 03/5/1995, Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh và xã hội đã ban hành Thông tư số 11/BLĐTB-XH hướng dẫn thực hiện Nghị định số 197/CP nói trên, công bố

mức tiền lương tối thiểu “Mức lương tối thiểu hiện nay là 35 USD/tháng, áp dụng đối

với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đóng trên địa bàn Hà Nội và thành phố

Hồ Chí Minh; 30 USD/tháng áp dụng đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đóng trên các tỉnh, thành phố, thị xã thị trấn còn lại hoặc các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động đơn giản thuộc các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản Đối với các ngành, nghề đã được thoả thuận mức lương tối thiểu cao hơn thì tiếp tục thực hiện mức lương tối thiểu đó cho đến khi có quyết định mới”

1.3.4 Giai đoạn từ 4/1993 đến năm 2004

Sau 03 năm điều chỉnh tiền lương tối thiểu tính từ năm 1994, ngày 21/01/1997 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 06/CP về việc giải quyết tiền lương và trợ cấp năm

1997 đối với công chức, viên chức hành chính, sự nghiệp, người nghỉ hưu, nghỉ mất sức, lực lượng vũ trang; cán bộ xã, phường và một số đối tượng hưởng chính sách xã hội, nâng mức tiền lương tối thiểu từ 120.000đồng/tháng lên 144.000đồng/tháng

Tiếp đến, ngày 15/12/1999, Chính phủ tiếp tục điều chỉnh mức tiền lương tối thiểu cho các đối tượng hưởng lương từ ngân sách nhà nước từ 144.000đồng/tháng lên 180.000đồng/tháng (Theo Nghị định số 175/1999/NĐ-CP)

Đến 15/12/2000, mức tiền lương tối thiểu được điều chỉnh lên 210.000đồng/tháng, áp dụng cho cả khu vực doanh nghiệp và hành chính, sự nghiệp (Nghị định số 77/2000/NĐ-CP) Và mức tiền lương tối thiểu 210.000đồng/tháng được duy trì cho đến năm 2004

Trang 35

31

1.3.5 Giai đoạn từ năm 2004 đến nay

Từ năm 2004 đến nay, Chính phủ đã liên tục có những điều chỉnh trong chính sách tiền lương Từ năm 2004 đến nay, Chính phủ đã 5 lần điều chỉnh tiền lương Năm

2004 mức tiền lương tối thiểu là 290.000đ/tháng Tiền lương tối thiểu chung từ 01/10/2005 là 350.000đồng/tháng (Nghị định số 118/2005/NĐ-CP ngày 15/9/2005), 01/10/2006 là 450.000đồng/tháng (Nghị định số 94/2006/NĐ-CP ngày 07/9/2006), 01/01/2008 là 540.000đồng/tháng (Nghị định số 166/NĐ-CP ngày 16/11/2007), 01/05/2009 là 650.000đồng/tháng (Nghị định số 33/2009/NĐ-CP ngày 06/4/2009), 01/5/2010 là 730.000đồng/tháng (Nghị định số 28/2010/NĐ-CP ngày 25/3/2010) Theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật Lao động thì mức lương tối thiểu vùng được điều chỉnh căn cứ vào nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ; điều kiện kinh tế -

xã hội và mức tiền lương trên thị trường lao động Căn cứ quy định trên, từ năm 2013 đến năm 2019, hàng năm Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội với vai trò là thành viên của Hội đồng tiền lương quốc gia đã phân tích, đánh giá thực tế, thương lượng, thống nhất phương án điều chỉnh mức lương tối thiểu vùng và khuyến nghị với Chính phủ công

bố mức điều chỉnh: Năm 2014 tăng bình quân 15,2%; năm 2015 tăng bình quân 14,2%, năm 2016 tăng bình quân 12,4%; năm 2017 tăng bình quân 7,3%; năm 2018 tăng bình quân là 6,5%; năm 2019 tăng bình quân 5,3

Từ ngày 1/1/2019, mức lương tối thiểu theo quy định tại Nghị định số 157/2018/NĐ-CP ngày 16/11/2018 của Chính phủ: Vùng I là 4.180.000 đồng/tháng, vùng II là 3.710.000 đồng/tháng, vùng III là 3.250.000 đồng/tháng, vùng IV là 2.920.000 đồng/tháng

Tiểu kết chương

Trong Chương 1 tác giả tập trung tiếp cận, phân tích, nghiên cứu làm rõ các vấn

đề pháp lý cơ bản về tiền lương tối thiểu và pháp luật về tiền lương tối thiểu Qua đó, mang lại cách nhìn tổng quan, toàn diện các vấn đề lý luận về tiền lương tối thiểu: Khái niệm, vai trò, các yếu tố xác định và chi phối tới tiền lương tối thiểu; các vấn đề về khái niệm, vai trò của pháp luật về tiền lương tối thiểu, phân tích làm sáng tỏ nội dung hình thức pháp luật về lương tối thiểu; khái quát pháp luật về lương tối thiểu của một số quốc

Trang 36

có những đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật tại Chương 3

Trang 37

33

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TIỀN LƯƠNG TỐI THIỂU Ở VIỆT NAM

2.1 Quy định của pháp luật hiện hành về tiền lương tối thiểu ở Việt Nam

2.1.1 Tiền lương tối thiểu vùng

2.1.1.1 Chính sách pháp luật về tiền lương tối thiểu vùng

Lương tối thiểu vùng được hiểu là mức lương thấp nhất làm cơ sở để doanh nghiệp và người lao động thỏa thuận và trả lương Trong nhiều năm qua, mức lương tối thiểu vùng đã dần được điều chỉnh để phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Tiền lương tối thiểu vùng được áp dụng rộng rãi tại đa số các nước châu Á như Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Việt Nam [11]

Theo quy định tại Điều 5 Nghị định số 157/2018/NĐ-CP của Chính Phủ định nghĩa tiền lương tối thiểu vùng:

“1 Mức lương tối thiểu vùng quy định tại Điều 3 Nghị định này là mức thấp nhất

làm cơ sở để doanh nghiệp và người lao động thỏa thuận và trả lương, trong đó mức lương trả cho người lao động làm việc trong điều kiện lao động bình thường, bảo đảm

đủ thời giờ làm việc bình thường trong tháng và hoàn thành định mức lao động hoặc công việc đã thỏa thuận phải bảo đảm:

a) Không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm công việc giản đơn nhất;

b) Cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm công việc đòi hỏi người lao động đã qua học nghề, đào tạo nghề theo quy định tại khoản 2 Điều này”

Về phạm vi phân cấp vùng áp dụng, địa bàn áp dụng mức lương tối thiểu vùng

được quy định theo đơn vị hành chính cấp quận, huyện, thị xã và thành phố trực thuộc tỉnh

Về đối tượng áp dụng, tại Điều 2 Nghị định số 157/2018/NĐ-CP của Chính phủ,

quy định mức lương tối thiểu vùng, quy định đối tượng áp dụng Nghị định này bao gồm:

Trang 38

so với mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm công việc đòi hỏi người lao động đã qua học nghề, đào tạo nghề theo quy định

Dưới đây là tổng hợp các lần điều chỉnh tiền lương tối thiểu vùng của Chính phủ

từ năm 2009 đến năm 2019, biến động tiền lương tăng khá đồng đều qua các năm, nếu tính trong vòng 10 năm từ 2009 đến 2019 mức biến động này là 522,5% (Vùng 1), 501,4% (Vùng 2), 471% (Vùng 3), 449,2% (Vùng 3):

Bảng 2 1 Biến động tiền lương tối thiểu thời kỳ 2009 – 2019

Trang 39

( Nguồn: Khảo sát của tác giả)

2.1.1.2 Phương pháp xác định, điều chỉnh và phương pháp phân vùng mức lương tối thiểu vùng hiện nay

Thứ nhất, về phương pháp xác định mức lương tối thiểu vùng

Như đã đề cập tại Chương 1, Để xác định mức lương tối thiểu, trong Khuyến nghị

của ILO đã nêu rõ: “Trong chừng mực có thể và thích hợp, xét theo thực tiễn và điều kiện

quốc gia, những yếu tố cần lưu ý để xác định mức lương tối thiểu gồm:

Những nhu cầu của người lao động và gia đình họ, xét theo mức lương chung trong nước, giá sinh hoạt, các khoản trợ cấp an toàn xã hội và mức sống so sánh giữa các đối tượng khác nhau;

Những nhân tố về kinh tế, kể cả những đòi hỏi của phát triển kinh tế, năng suất lao động và mối quan tâm đạt tới và duy trì một mức sử dụng lao động cao”

Việt Nam đã cụ thể hóa nội dung này tại các văn bản pháp luật, gần đây nhất tại

Khoản 2 Điều 91 Bộ luật lao động năm 2012: “Căn cứ vào nhu cầu sống tối thiểu của

người lao động và gia đình họ, điều kiện kinh tế - xã hội và mức tiền lương trên thị trường lao động” Trên thực tế việc xác định và căn cứ điều chỉnh mức lương tối thiểu

được thực hiện theo bốn phương pháp sau:

Một là, xác định mức lương tối thiểu dựa vào nhu cầu tối thiểu của người làm công việc đơn giản nhất, chưa qua đào tạo, trong điều kiện bình thường và nhu cầu nuôi con gồm: Nhu cầu lương thực, thực phẩm; nhu cầu phi lương thực, thực phẩm; nhu cầu chi nuôi con của một người lao động Tuy nhiên, trong quá trình vận dụng phương pháp này cũng đã bộc lộ một số hạn chế nhất định Khi vận dụng nhu cầu dinh dưỡng để tính mức chi phí, Tổng cục Thống kế đã không loại bỏ một số bộ phận “phế phẩm” không dùng được của các khoản lương thực, thực phẩm như vỏ trứng, cuống rau…; hoặc tính

Trang 40

36

tiền nhà ở vào trong nhu cầu sống tối thiểu ở mức 80 ngàn đồng/người/tháng là không phù hợp Phía Tổng liên đoàn lao động Việt Nam khi tính nhu cầu tối thiểu được xác định theo mức chi tiêu thấp nhất của người lao động, chứ không xuất phát từ nhu cầu tối thiểu của người lao động nên không đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng hoặc có lúc xác định mức sống tối thiểu từ bữa ăn thực tế của công nhân, chỉ tính trên một số mặt hàng thiết yếu thông dụng hàng ngày

Hai là, xác định lương tối thiểu dựa vào kết quả điều tra tiền lương, tiền công thấp nhất trên thị trường lao động mà các doanh nghiệp đang trả cho người lao động giản đơn, chưa qua đào tạo (theo vùng, ngành và tính chất sở hữu) Mức lương tối thiểu này về cơ bản sát với thị trường nhưng chưa hẳn đáp ứng được nhu cầu sống tối thiểu thực sự của người lao động

Ba là, xác định mức lương tối thiểu dựa trên khả năng của nền kinh tế Phương pháp này phải sử dụng các công cụ kinh tế lượng để dự báo, dựa trên số liệu thống kê vĩ

mô hàng năm của cả nước và đưa vào tương quan giữa tiền lương tối thiểu và GDP bình quân đầu người theo từng thời kỳ

Bốn là, tính theo tốc độ trượt giá sinh hoạt so với kỳ gốc của mức lương tối thiểu

đã xác định, sau đó tính toán điều chỉnh mức lương tối thiểu của kỳ tiếp theo, theo chỉ số giá tiêu dùng tại một thời điển nhất định Hạn chế của phương pháp này chỉ đảm bảo bù trượt giá, còn các yếu tố khác như năng suất lao động, nhu cầu đời sống con người ngày càng tăng thì không được tính đến

Thứ hai, về điều chỉnh mức lương tối thiểu vùng

Về điều chỉnh mức lương tối thiểu phải tuân thủ và đảm bảo các nguyên tắc khách quan và phù hợp với nền kinh tế thị trường Mức lương tối thiểu được điều chỉnh khi: giá tiêu dùng được tính trong cơ cấu tiền lương tối thiểu tăng, làm ảnh hưởng đến tiền lương tối thiểu thực tế; khi mức thu nhập chung của toàn xã hội tăng lên theo mức tăng năng suất lao động xã hội và mức tăng trưởng kinh tế; phải phù hợp với nền kinh tế, đảm bảo quan hệ hợp lý giữa tích lũy và tiêu dùng

Việc điều chỉnh tiền lương tối thiểu vùng dựa trên các căn cứ sau:

Ngày đăng: 06/12/2019, 16:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Xuân Anh – Thanh Vũ/TTXVN (2018) “Tăng lương tối thiểu vùng năm 2019: Bài 1 - Người lao động và doanh nghiệp cùng kêu khó”,<https://bnews.vn/tang-luong-toi-thieu-vung-nam-2019-bai-1-nguoi-lao-dong-va-doanh-nghiep-cung-keu-kho/92495.html>, (26/04/2019) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng lương tối thiểu vùng năm 2019: Bài 1 - Người lao động và doanh nghiệp cùng kêu khó
3. Trương Văn Cẩm (2017) “ Tiền lương tối thiểu ở một số quốc gia – Kinh nghiệm cho Việt Nam”, <http://www.thesaigontimes.vn/146566/Tien-luong-toi-thieu-o-mot-so-quoc-gia---kinh-nghiem-cho-Viet-Nam.html>,(28/03/2019) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “" Tiền lương tối thiểu ở một số quốc gia – Kinh nghiệm cho Việt Nam
4. Mai Đan (2018) “Hiệp định CPTPP không đưa ra tiêu chuẩn mới về lao động”, <http://thoibaotaichinhvietnam.vn/pages/xa-hoi/2018-03-22/hiep-dinh-cptpp-khong-dua-ra-tieu-chuan-moi-ve-lao-dong-55152.aspx>, (25/03/2019) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệp định CPTPP không đưa ra tiêu chuẩn mới về lao động
5. Hà Giang (2017) “Quý I/2017: Tỷ lệ thất nghiệp giảm nhẹ, thu nhập của người lao động tăng”, <http://kinhtevadubao.vn/chi-tiet/2-8084-quy-i2017--ty-le-that-nghiep-giam-nhe-thu-nhap-cua-nguoi-lao-dong-tang.html>,(26/04/2019) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quý I/2017: Tỷ lệ thất nghiệp giảm nhẹ, thu nhập của người lao động tăng
6. Hoàng Thị Huyền (2015) “Chính sách tiền lương của một số nước và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam”,<http://tcnn.vn/Plus.aspx/vi/News/125/0/1010073/0/20593/Chinh_sach_tien_luong_cua_mot_so_nuoc_va_nhung_van_de_dat_ra_doi_voi_Viet_Nam>,(20/03/2019) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách tiền lương của một số nước và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam
7. Lê Huy (2014) “Lương tối thiểu có vai trò quan trọng trong tăng năng suất lao động”, <https://baomoi.com/luong-toi-thieu-co-vai-tro-quan-trong-trong-tang-nang-suat-lao-dong/c/15364803.epi>, (9/6/2019) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lương tối thiểu có vai trò quan trọng trong tăng năng suất lao động
9. Phan Minh (2014) “Bất cập trong cơ chế lương tối thiểu vùng”, <http://dantri.com.vn/viec-lam/bat-cap-trong-co-che-luong-toi-thieu-vung-1407329075.htm>, (30/03/2019) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bất cập trong cơ chế lương tối thiểu vùng
11. TTXVN (2017) “Chính sách tiền lương cần được tiếp tục hoàn thiện khi Việt Nam hội nhập khu vực và quốc tế”,<http://www.molisa.gov.vn/vi/Pages/chitiettin.aspx?IDNews=25443>, (03/04/2019) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách tiền lương cần được tiếp tục hoàn thiện khi Việt Nam hội nhập khu vực và quốc tế
12. Phương Thoa (2019) “Lương có đáp ứng nhu cầu sống tối thiểu của người lao động?”, <http://cafef.vn/luong-co-dap-ung-nhu-cau-song-toi-thieu-cua-nguoi-lao-dong-20190416091227671.chn>, (26/04/2019) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lương có đáp ứng nhu cầu sống tối thiểu của người lao động
13. Theo VGP (2019) “Lương tối thiểu vùng 2019: Cao nhất 4,18 triệu đồng/tháng”, < https://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/luong-toi-thieu-vung-2019-cao-nhat-la-4-180-000-dong-thang-505535.html>, (6/6/2019) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lương tối thiểu vùng 2019: Cao nhất 4,18 triệu đồng/tháng
16. Tổng liên đoàn lao động Việt Nam (2018), Báo cáo đề xuất mức lương tối thiểu vùng năm 2018 số 64/BC-TLĐ của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam ngày 26/06/2017 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w