Do đó, song song với chủ trương nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị, kiến thức quản lý nhà nước…cho đội ngũ cán bộ, công chức; Các cấp ủy Đảng và Nhà nước đã xác đ
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN KIỀU VINH
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ
Ở TỈNH NINH THUẬN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI - 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN KIỀU VINH
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ
Ở TỈNH NINH THUẬN HIỆN NAY
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những vấn đề được trình bày trong luận văn do tôi tự tìm hiểu, có sự tham khảo, sưu tầm từ những nghiên cứu của các tác giả đi trước Các số liệu và kết quả nghiên cứu là trung thực, có trích dẫn rõ ràng
Hà Nội, ngày tháng 9 năm 2019
TÁC GIẢ
Nguyễn Kiều Vinh
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH VÀ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ 12
1.1 Một số khái niệm 11
Cán bộ, công chức cấp xã 12
Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã 15
Chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã 17
1.2 Nội dung đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã 20
1.3 Các bước thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã 21
Đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, công chức cấp xã về trình độ lý luận chính trị 24
Đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, công chức cấp xã về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ 27
Đào tạo bồi dưỡng cho cán bộ, công chức cấp xã về chương trình quản lý nhà nước 28
Đào tạo bồi dưỡng cho cán bộ, công chức cấp xã về trình độ tin học, ngoại ngữ 29
Đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, công chức cấp xã tiếng dân tộc 30
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã 30
Các yếu tố bên ngoài 30
Các yếu tố bên trong 31
Trang 5Chương 2: THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH THUẬN HIỆN NAY 34
2.1 Tổng quan về đội ngũ Cán bộ, công chức cấp xã ở tỉnh Ninh Thuận 34
2.2 Quá trình thực hiện chính sách đào tào, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa tỉnh Ninh Thuận 36
2.3 Thực trạng việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận 39
2.4 Đánh giá kết quả việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã ở tỉnh Ninh Thuận 48
Những ưu điểm đạt được 51
Những tồn tại, hạn chế 53
2.5 Nguyên nhân 54
Nguyên nhân chủ quan 53
Nguyên nhân khách quan 55
Chương 3: NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN ĐẨY MẠNH VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH THUẬN 57
3.1 Mục tiêu, định hướng thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận hiện nay 58
Định hướng hoàn thiện thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận 59
3.2 Các giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã 62
Tiếp tục hoàn thiện thể chế thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã 62
Trang 6Nâng cao năng lực chủ thể thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công
chức cấp xã 64
3.3 Một số giải pháp khác 66
3.4 Một số kiến nghị và đề xuất 73
Đối với Bộ Nội vụ 74
Đối với Tỉnh ủy, Uỷ ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận 75
KẾT LUẬN 77 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, nước ta có khoản hơn 11 nghìn đơn vị hành chính cấp xã, gồm: hơn 1000 phường, 634 thị trấn, 9000 cấp xã Vì vậy, trong số các cấp hành chính nhà nước thì cấp xã là cấp hành chính chiếm tỷ lệ nhiều nhất trong tổng số các đơn vị của nền hành chính nhà nước ta Cấp xã là cấp cơ sở, mang nét đặc thù có tính cộng đồng dân cư ở các thôn, bản, làng, xóm, ấp…có tính truyền thống lâu đời, có sự liên kết chặt chẽ trên các mặt của đời sống xã hội loài người về: huyết thống, phong tục, sản xuất, văn hóa và kinh tế - chính trị ; do vậy có tính tự quản trên nhiều phương diện của đời sống xã hội
Đơn vị hành chính cấp xã, đặc biệt tại các xã vùng sâu, vùng xa, vùng núi, biên giới và hải đảo, thường có tính tự quản, tính cộng đồng cao hơn so với các đơn vị hành chính cấp cơ sở khác như phường, thị trấn Tùy theo đặc điểm, tình hình ở mỗi xã, các mối quan hệ người dân sinh sống trong cộng đồng, tộc người thường được điều chỉnh bằng nhiều quy định (hương ước hay luật tục, phong tục, tập quán, ) và thiết chế (tổ chức chính trị - xã hội, quỹ, hội, họ mạc, thôn/làng, .) không giống nhau, có tính chính thức hoặc phi chính thức; trong đó, có cả những quy định và thiết chế riêng do chính những thành viên trong cộng đồng lập ra như quỹ, hội…
Vai trò của chính quyền cấp xã thể hiện tính chất đặc thù của hệ thống chính quyền ở cơ sở; đồng thời, phải phản ánh tính chất tự quản khá cao của
nó, nhất là trong bối cảnh xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN theo kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay
Chính quyền cấp xã có các vai trò là: cầu nối của các tổ chức, cá nhân đối với cơ quan hành chính nhà nước; triển khai cụ thể hóa đưa các chủ
Trang 9trương, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước để thực hiện, quản lý toàn bộ mọi mặt kinh tế - chính trị và xã hội của địa phương Phản ánh đầy đủ mọi phương diện của cuộc sống xã hội nước ta
Theo quy định của Hiến pháp Nhà nước CHXHCN Việt Nam năm
2013, chính quyền cấp xã là một tổ chức các đơn vị hành chính trong bốn cấp hành chính của nước ta Được cấu thành bởi HĐND và UBND phù hợp theo đặc điểm, tình hình ở từng vùng, miền trên cả nước sao cho thích hợp Đây là đơn vị hành chính có số lượng, cơ cấu đông nhất trong các đơn vị hành chính nhà nước ta
Ngày nay, trong quá trình xây dựng và bảo vệ tổ quốc của nước ta, đội ngũ những người lãnh đạo, cán bộ, công chức có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định sự thành bại của một dân tộc, quốc gia, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã đề cập đến vai trò: “Cán bộ là gốc của mọi vấn đề, gốc có tốt thì ngọn mới tốt” Người CBCC phải có phẩm chất đạo đức cách mạng, luôn mang trọng trách ý nghĩa là “Đày tớ của nhân dân” nên phải tận tụy, hết lòng
hết sức vì nhân dân Vì vậy, đòi hỏi mỗi cán bộ, công chức luôn có tinh thần học hỏi, có kiến thức để thực thi công vụ, thực hiện chính sách pháp luật nhà nước một cách hiệu quả
Chính quyền cấp cơ sở là nơi triển khai, vận dụng, đưa chính sách của Đảng, Nhà nước đi vào thực tiễn Việc triển khai chính sách có được thực thi hay không là do cấp hành chính này; do đó, chính quyền cấp xã có vai trò rất quan trọng trong triển khai thực hiện, nó mang tính chất bắt cầu giữa cơ quan hành chính cấp Trung ương và cơ quan hành chính cấp địa phương Chính quyền cơ sở (bao gồm HĐND và UBND xã, phường, thị trấn), một bộ phận nền tảng của hệ thống chính trị bao gồm tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân ở cơ sở, là cấp gần gũi nhất với dân, trực tiếp thực thi nhiệm vụ
Trang 10quản lý hành chính Nhà nước ở cơ sở và tổ chức hướng dẫn thực hiện các công việc có tính tự quản của cộng đồng dân cư ở cơ sở Năng lực, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền cơ sở quyết định trực tiếp việc phát huy trên thực tế quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm sự ổn định và phát triển của mỗi cơ sở nói riêng và của đất nước nói chung Vì vậy, chính quyền cấp
xã là cấp trực tiếp chăm lo, giải quyết quyền lợi của dân về mặt dân trí, dân sinh, dân quyền, đồng thời trực tiếp giúp nhân dân địa phương thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước Vì vậy, chính quyền cấp xã
có vị trí rất quan trọng trong hệ thống hành chính nhà nước, chính quyền cấp
xã có vững mạnh mới thể hiện được sự vững chắc của cả hệ thống bộ máy nhà nước
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn hiện nay, trên cơ sở kế thừa quan điểm, mục tiêu tại Hội nghị Trung ương 3 khóa VIII, Nghị quyết Trung ương 7 khóa
XII đã vạch ra các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu nhằm “Xây dựng đội ngũ cán
bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ” Trong đó, coi nhiệm vụ thứ 3 về “Xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có phẩm chất, năng lực, uy tín, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới” là nhiệm vụ quan trọng Trước yêu cầu, nhiệm vụ mới đòi hỏi phải
có đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có trình độ, năng lực, phẩm chất chính trị, đạo đức đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới đặt ra Cán bộ, công chức cấp xã
ở tỉnh Ninh Thuận trong những năm qua về cơ bản đã được qua đào tạo, bồi dưỡng nhưng do điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh còn gặp nhiều khó khăn, công tác đào tạo, bồi dưỡng còn nhiều vấn đề cần được quan tâm đầu tư nhiều hơn nữa Một bộ phận CBCC cấp xã chưa thực sự nhận thức được tầm quan trọng của việc không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ để chủ động xây dựng kế hoạch học tập cá nhân Sự quan tâm chỉ đạo của lãnh đạo
Trang 11số chính sách cho công tác này còn chậm đổi mới, chưa theo kịp với thực tế
và yêu cầu về công tác cán bộ trong tình hình mới Thực tế đó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả thực thi công vụ ở một số địa phương trong tỉnh, làm giảm sút niềm tin của quần chúng nhân dân vào cơ quan công quyền
Từ những căn cứ, cơ sở và nguyên nhân nêu trên, đặt ra mục tiêu cho Tỉnh ủy, UBND tỉnh Ninh Thuận cần phải chỉ đạo, lãnh đạo xây dựng năng lực CBCC cấp xã hơn nữa, nhất là cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã một cách bài bản, khoa học; đặc biệt là thực hiện tốt chính sách đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
Từ những phân tích trên, học viên lựa chọn đề tài nghiên cứu “Thực hiện
chính sách đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở tỉnh Ninh Thuận hiện nay” để làm đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành chính
sách công là hết sức cấp thiết, có ý nghĩa thực tiễn trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Tỉnh Ninh Thuận là địa phương có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh
sống (hiện có khoảng 162.000 người dân tộc thiểu số – chủ yếu là dân tộc Chăm và dân tộc Raglai, chiếm 26,7% dân số toàn tỉnh) Do đó, song song
với chủ trương nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị, kiến thức quản lý nhà nước…cho đội ngũ cán bộ, công chức; Các cấp ủy Đảng và Nhà nước đã xác định cần phải tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cấp xã nhất là cho cán bộ, công chức công tác ở vùng dân tộc, miền núi – đặc biệt là cán bộ, công chức làm công tác dân vận, mặt trận, cán bộ chủ chốt hoặc thuộc diện quy hoạch tăng cường cho các xã có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của bộ máy quản lý, hoạt động chính trị tại cơ sở; tạo điều kiện thuận lợi và nâng cao hiệu quả trong việc
Trang 12triển khai thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước tại nơi có đồng bào dân tộc sinh sống;
Tuy nhiên, nhận thức của một số lãnh đạo xã về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xã còn nhiều hạn chế, chưa coi đây là một trong những giải pháp để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức xã; thái độ tham gia học tập của một số cán bộ, công chức chưa nghiêm, chưa xác định đúng mục tiêu của đào tạo, bồi dưỡng Kinh phí hỗ trợ cho cán bộ, công chức tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng còn nhiều hạn chế, ảnh hưởng đến đời sống của cán bộ, công chức xã Nguồn ngân sách tỉnh hạn chế nên kinh phí còn hạn hẹp nên chủ yếu bố trí cho các lớp bồi dưỡng ngắn hạn; chỉ mới đáp ứng yêu cầu trước mắt đối với một số nội dung, đối tượng cấp bách mà chưa đáp ứng yêu cầu về lâu dài; Một số văn bản quy định về định mức chi trong hoạt động đào tạo, bồi dưỡng chưa phù hợp Tỉnh chưa xây dựng được đội ngũ giảng viên nguồn để phục vụ công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nói chung và cán bộ, công chức xã nói riêng Một số chính sách về đào tạo, bồi dưỡng chậm ban hành hoặc chậm sửa đổi bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tế
Trước những thực trạng, nguyên nhân nêu trên, tác giả đã nghiên cứu luận văn chính sách công về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận hiện nay, trong đó cần phải đề cập đến:
- “Công tác Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức từ góc nhìn thực tiễn”, GS.TS Nguyễn Hữu Hải, Lê Thị Hương, Quản lý nhà nước, Học viện
Hành chính 2008, số 155, tr 24-27;
- Luận văn thạc sỹ quản lý hành chính công của tác giả Ngô Thị Minh
Phú (2011), “Đào tạo, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực hành chính nhà nước quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội”, Học viện Hành chính 2011;
Trang 13- Luận văn Thạc sỹ Quản lý Hành chính công của tác giả Đỗ Thị Thu
Hằng (2014), “Nâng cao năng lực đội ngũ công chức cấp xã trong giai đoạn hiện nay”, Học viện Hành chính 2014;
- Văn Tất Thu (2014), “Những yêu cầu trong đổi mới nội dung và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức hành chính”.Tạp chí
Quản lý Nhà nước số 222 - tháng 7/2014
- Đề tài cấp Bộ, Bộ Nội vụ của Tiến sĩ Trần Quang Minh (2001), đó là
“Cơ sở khoa học của việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chính quyền cơ sở cấp xã”
- Hồ Việt Hạnh, “Bàn về Khái niệm chính sách công” Tạp chí nhân lực
Khoa học xã hội của Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội, số 12 – 2017
Ở đây, tác giả nhấn mạnh thực trạng đội ngũ CBCC cấp cơ sở ở nước ta hiện nay dựa trên nghiên cứu về số lượng, cơ cấu, chất lượng, trình độ văn hóa, trình độ lý luận chính trị, trình độ QLNN, trình độ chuyên môn nghiệp
vụ Đồng thời, tác giả đưa ra những yêu cầu của thời kỳ đổi mới và nhiệm vụ ĐTBD cán bộ chính quyền cơ sở, đề xuất một số giải pháp quan trọng như nâng cao năng lực và chất lượng QLNN về công tác ĐTBD; Củng cố và tăng cường chất lượng hoạt động của hệ thống các cơ sở ĐTBD cán bộ chính quyền cơ sở; Tăng cường đầu tư, tạo nguồn kinh phí cho hoạt động ĐTBD CBCC ở cơ sở
- Lê Chi Mai (2002), “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cơ sở - vấn đề và giải pháp”, Tạp chí Cộng sản; Tác giả đã khái quát tình hình của
việc thực hiện ĐTBD cho CBCC ở cơ sở hiện nay; đồng thời, cũng đề ra những biện pháp thực hiện tốt hơn trên phương diện cá nhân của tác giả qua thực tế công tác của tác giả
- Luận văn thạc sỹ Chính sách công của tác giả Lê Phương Thảo
Trang 14(2014), “Chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã từ thực
tiễn tại UBND huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội”
Trên cơ sở các đề tài của các tác giả đã nêu lên những quan điểm, lý luận và hệ thống của việc thực hiện chính sách, đào tạo bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, công chức hiện nay của nước ta Trong đó, đề cập đến các yếu tố tác động bên trong và bên ngoài liên quan đến việc triển khai thực hiện chính sách ĐTBD CBCC Từ đó, cho chúng ta thấy rõ được những mặt tồn tại, hạn chế trong thực hiện chính sách và đề ra các giải pháp thực hiện một cách hoàn thiện hơn trong thời gian đến Đặc biệt là, đã đưa ra được các giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp xã Tuy nhiên, các tác giả chỉ đề ra những giải pháp mang tính chất lý luận, mà chưa tính hết các nguyên nhân và đặc điểm tình hình của từng cấp cơ sở, sát và phù hợp với đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội từng vùng, miền và thực tiễn từng địa phương
Để tiếp tục tăng cường quán triệt các chủ trương, đường lối của Đảng về tiếp tục cải cách chế độ công vụ, công chức Thống nhất về nhận thức coi đây là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục và gắn với việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 6, Nghị quyết Trung ương 7 (khóa XII) và Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020, Kế hoạch cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2016 - 2020; tập trung thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm có liên quan đến nhiệm vụ đã đề ra tại Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2015 - 2020 đảm bảo nội dung, lộ trình phù hợp với tình hình thực tế của địa phương trong từng năm và phân công trách nhiệm thực hiện cụ thể đối với tất cả các cơ quan, đơn vị; đẩy mạnh thực hiện việc chuẩn hóa chức danh và tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính trong thực thi công vụ gắn với trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, địa phương nhằm góp phần xây dựng một nền hành chính liêm chính, chuyên
Trang 15nghiệp, hiện đại, minh bạch, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong giai đoạn hiện nay.
3 Mục đích và nhiệm vụ nguyên cứu
3.1 Mục đích
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn việc thực hiện chính sách
đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở tỉnh Ninh Thuận
Tác giả nghiên cứu những vấn đề về thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã và thực trạng việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần thực hiện tốt hơn chính sách đào tạo, bồi dưỡng cho đội cán bộ, công chức cấp xã ở tỉnh Ninh Thuận hiện nay
- Làm rõ các nội dung, đánh giá thực tiễn việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã Việc tổ chức triển khai chính sách đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cấp xã của tỉnh Ninh Thuận; chỉ ra những mặt đạt được, chưa đạt được và nguyên nhân của những khuyết điểm Đồng thời, đánh giá và tìm ra các giải pháp thiết thực trong tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã tại tỉnh Ninh Thuận
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách ĐTBD CBCC và việc thực hiện chính sách cấp xã tại tỉnh Ninh Thuận trong thời gian tới
Trang 164 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng
cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Không gian: Ủy ban nhân dân các xã trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận
+ Thời gian: Giai đoạn từ năm 2014 – 2018, (dựa trên cơ sở tổng kết
Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức, giai đoạn 2014
-2018, định hướng đến năm 2025 theo Báo cáo tổng kết Sở Nội vụ Ninh Thuận)
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, chính sách Nhà nước về công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã), nghị quyết của Tỉnh ủy và UBND tỉnh Ninh Thuận
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập thông tin: Thu thập thông tin trên cơ sở báo cáo
tổng kết 03 năm triển khai thực hiện Quyết định số 163/QĐ-TTg ngày 25/01/2016 của Thủ tướng Chính phủ và Đề án 1956 của Chính phủ của Sở Nội vụ tỉnh Ninh Thuận; các văn bản liên quan chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã của Đảng, Trung ương, Bộ và UBND tỉnh… và tài liệu một số trang Thông tin điện tử khác
Phương pháp so sánh, phân tích và tổng hợp: Nhằm phân tích các số
liệu dẫn chứng giữa các năm làm cơ sở trong đánh giá việc triển khai thực
Trang 17hiện chính sách một cách khoa học và thiết thực của luận văn nhằm củng cố
và bổ sung luận văn chặt chẽ
Phương pháp đánh giá: Qua quá trình ĐTBD CBCC cấp xã ở tỉnh Ninh
Thuận giai đoạn 2014 - 2018 để thấy được những tồn tại, hạn chế và những kết quả việc tồn tại, hạn chế để tìm ra những biện pháp triển khai thực hiện tốt hơn trong thời gian tới
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa về nhận thức: Nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cơ quan,
đơn vị quản lý và sử dụng cán bộ, công chức trong nhận thức về vai trò, nhiệm vụ của hoạt động đào tạo, bồi dưỡng để tổ chức thực hiện đảm bảo chất lượng, hiệu quả chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã tại tỉnh Ninh Thuận
- Ý nghĩa thực tiễn đối với tỉnh Ninh Thuận: Đề xuất các giải pháp có
tính khả thi cao, bám sát thực tiễn nhằm giúp lãnh đạo UBND tỉnh Ninh Thuận điều chỉnh, hoàn thiện chính sách và việc thực hiện chính sách ĐTBD CBCC cấp xã trên địa bàn tỉnh đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính hiện nay
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể tham khảo làm tư liệu trong các các cơ quan hành chính nhà nước về ĐTBD CBCC cấp xã và triển khai việc thực hiện chính sách này ở địa phương
7 Cơ cấu của luận văn
Luận văn được bố cục theo 3 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Những vấn đề chung về chính sách và việc thực hiện chính
sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã
Chương 2: Thực trạng việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng
cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở tỉnh Ninh Thuận hiện nay
Trang 18Chương 3: Những giải pháp cơ bản đẩy mạnh việc thực hiện chính
sách đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở tỉnh Ninh Thuận hiện nay
Trang 19Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH VÀ VIỆC
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ,
CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1.1 Một số khái niệm
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu tác giả xin làm rõ một số khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu
Cán bộ, công chức cấp xã:
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, Luật CBCC năm 2008 của Quốc hội và Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ quy định như sau: Cán bộ, công chức cấp xã (được gọi chung
là cấp xã) họ là người Việt Nam, mang quốc tịch Việt Nam, được tuyển dụng vào cơ quan nhà nước và được bầu, bổ nhiệm giữ một vị trí chức vụ trong cơ quan hành chính nhà nước là HĐND, UBND đó là Chủ tịch HĐND, Phó Chủ tịch HĐND, Chủ tịch và các Phó Chủ tịch UBND, Bí thư, Phó Bí thư và người đứng đầu các đoàn thể, tổ chức CT - XH;
Vì vậy, công chức cấp xã có thể hiểu là người Việt Nam, mang quốc
tịch Việt Nam, được tuyển dụng vào cơ quan nhà nước và được bầu, bổ nhiệm giữ một vị trí chức vụ trong cơ quan hành chính nhà nước nên họ được trả
tiền lương mà họ hưởng được bằng từ nguồn NSNN theo quy định Theo đó,
- Cán bộ cấp xã là những người do người dân bầu ra để đảm nhiệm các chức vụ theo nhiệm kỳ tại cấp xã Đó là:
+ Chủ tịch HĐND, Phó Chủ tịch HĐND, Chủ tịch và các Phó Chủ tịch UBND Bí thư, phó Bí thư và người đứng đầu các đoàn thể, tổ chức CT - XH
Trang 20+ 05 tổ chức Đoàn thể, Chính trị - Xã hội đó là: Chủ tịch UBMTTQ Việt Nam, Chủ tịch HLHPN, Chủ tịch HND, Chủ tịch Hội CCB và Bí thư ĐTNCS HCM
- Công chức cấp xã còn là họ được biên chế, giao giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc HĐND, UBND cấp xã và có hưởng lương từ NSNN gọi chung là công chức cấp xã, gồm các chức danh sau:
+ Trưởng Công an; Chỉ huy trưởng quân sự; Văn phòng-Thống kê; + Địa chính, Xây dựng, Đô thị và Môi trường (đối với cấp phường, thị trấn) hoặc ĐC-NN-XD và MT (đối với cấp xã);
+ Tài chính - kế toán;Tư pháp - hộ tịch; Văn hoá - xã hội
Ngoài hai nhóm cán bộ, công chức nói trên, ở cấp xã còn có một số lượng khá lớn những người hoạt động không chuyên trách, không hưởng lương mà chỉ được hưởng phụ cấp hoặc khoán phụ cấp có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước Đội ngũ này không phải là cán bộ, công chức vì vậy ngày 22/10/2009 Chính Phủ ban hành Nghị định số 92/2009/NĐ-CP quy định về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với CBCC cấp xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã Theo đó, đã quy định việc những người không chuyên trách không thực hiện BHXH đóng bắt buộc đối với đối tượng này; cũng quy định về việc tham gia đào tạo, bồi dưỡng và mức phụ cấp khoán kinh phí… Căn cứ theo Nghị định
92 của Chính Phủ, Sở Nội vụ Ninh Thuận đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận ban hành Quyết định số 1299/2010/QĐ-UBND ngày 13/8/2010 quy định về số lượng, các chức danh, một số chế độ, chính sách đối với cán
bộ, công chức xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn và thôn, khu phố, như sau:
Trang 21- Chức danh những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã loại 3
bố trí 19 người; cụ thể:
+ Công tác Đảng xã bố trí 2 người, bao gồm các chức danh nhiệm vụ tổ chức, kiểm tra, tuyên giáo, dân vận, văn phòng;
+ Công tác đoàn thể xã bố trí 8 người, bao gồm chức danh Phó Chủ tịch
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam bố trí 2 người; các chức danh Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ, Phó Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam, Phó Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Chủ tịch Hội Người cao tuổi, Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ, mỗi chức danh bố trí 1 người;
+ Công tác quốc phòng, an ninh bố trí 2 người, bao gồm các chức danh Phó chỉ huy Quân sự cấp xã, Phó Trưởng Công an xã;
+ Công tác nội chính, tư pháp và tổng hợp bố trí 2 người, bao gồm các chức danh nhiệm vụ: văn thư - lưu trữ - thủ quỹ, tư pháp - hộ tịch, nội vụ - tôn giáo - thi đua - khen thưởng - dân tộc;
+ Công tác văn hoá, xã hội bố trí từ 1 đến 2 người, bao gồm các chức danh nhiệm vụ: lao động - thương binh và xã hội, y tế, dân số - gia đình và trẻ
em, giáo dục - văn hoá - du lịch - thể dục thể thao - truyền thanh;
+ Công tác kinh tế, hạ tầng kỹ thuật bố trí từ 2 đến 3 người, bao gồm các chức danh nhiệm vụ: kế hoạch - thống kê, nông nghiệp và phát triển nông thôn, giao thông - xây dựng - đô thị, tài nguyên và môi trường, công thương
Đối với các xã loại 1, loại 2 việc bố trí chức danh những người hoạt động không chuyên trách như khoản 1, Điều này; ngoài ra, việc bố trí tăng thêm người đảm nhiệm các chức danh nhiệm vụ do Ủy ban nhân dân huyện, thành phố quyết định (trên cơ sở đề nghị của Ủy ban nhân dân cấp xã và thoả
Trang 22thuận thống nhất của Sở Nội vụ) cho phù hợp với nhiệm vụ, khối lượng công việc và đặc điểm của mỗi địa phương cơ sở và các quy định pháp luật có liên quan
Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã:
Đào tạo, bồi dưỡng là một trong những hoạt động quan trọng của cơ quan nhà nước nhằm phát triển nguồn nhân lực cho hệ thống chính trị nói chung và phát triển nguồn nhân lực hành chính công nói riêng
Đào tạo được hiểu là quá trình con người được tiếp cận các tri thức một cách hệ thống, khoa học về kỹ năng, được tiếp thu, truyền thụ ở từng cấp bậc theo thứ tự phù hợp lứa tuổi con người
Bồi dưỡng có nghĩa là con người được trao dồi các kỹ năng trong quá trình lao động, làm việc nhằm nâng cao hiểu biết để trang bị trong quá trình lao động và làm việc một cách tốt hơn Nội dung này đã được Chính phủ đã ban hành tại Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05/03/2010 quy định về đào tạo, bồi dưỡng công chức cho đội ngũ cán bộ, công chức trong cả nước để triển khai thực hiện trên tinh thần chủ trương của Trung ương về thực hiện Nghị quyết số 26 của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới công tác tuyển dụng, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và luân chuyển cán bộ đề ra nhằm xây dựng một lực lượng cán bộ, công chức có năng lực, trình độ cao đáp ứng được điều kiện trong tình mới
Bồi dưỡng là quá trình bổ sung, cập nhật, nâng cao kiến thức và kỹ năng làm việc cho cán bộ, công chức Bồi dưỡng là việc làm thường xuyên, nhằm trang bị cho cán bộ, công chức các kỹ năng mềm mang tính thực tiễn cao, thiết thực, nhằm bổ sung một số kiến thức mới thích ứng với sự phát triển và đỏi hỏi ngày càng cao, là một công việc diễn ra sau đào tạo
Trang 23Để xây dựng được đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất đạo đức tốt,
có bản lĩnh chính trị, có năng lực, có tính chuyên môn cao, tận tụy phục vụ nhân dân, bên cạnh các khía cạnh khác của công tác tổ chức cán bộ còn cần phải có các hình thức đào tạo, bồi dưỡng phù hợp, hiệu quả
Chính sách của Đảng, Nhà nước triển khai và tổ chức thực hiện ở địa phương tốt hay không là do đội ngũ Cán bộ, công chức cấp xã có vai trò rất quan trọng quyết định sự thành công hay thất bại của đường lối, chính sách do
cơ quan, tổ chức vạch ra Các chương trình, mục tiêu Quốc gia do đội ngũ cán
bộ, công chức cấp xã trực tiếp thực thi các chính sách, kế hoạch của chính quyền nhà nước;là nơi thực hiện các giao tiếp (trao đổi, tiếp nhận thông tin, ) giữa các cơ quan nhà nước với nhau và với doanh nghiệp và người dân Vì vậy, đội ngũ cán bộ, công chức phải thường xuyên cập nhật, phổ biến, quán triệt và ĐTBD về năng lực công tác, kỹ năng nghiệp vụ, tinh thần trách nhiệm
và ý thức phục vụ nhân dân nhất là văn hóa công vụ Thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2016-2020 theo Quyết định
số 225/QĐ-TTg ngày 04/02/2019 của Chính phủ cần đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả Đề án công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức
là một nhiệm vụ quan trọng được xác định trong Tập trung đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ CBCC cấp cơ sở về mọi mặt, bảo đảm tiêu chuẩn quy định; trong đó, chú trọng trang bị kỹ năng giải quyết công việc một cách hiệu quả và nâng cao năng lực giải quyết vấn đề ở cơ sở một cách chuyên nghiệp
Đào tạo, bồi dưỡng CBCC là có vai trò quan trọng cho đội ngũ CBCC
ở cơ sở trong thực thi nhiệm vụ, giải quyết các vấn đề mang tính sự vụ ở địa phương vì vậy trang bị kiến thức, kỹ năng nhằm trao dồi kinh nghiệm, nâng cao năng lực, trách nhiệm trong giải quyết công việc cho CBCC một cách hiệu quả trong thực thi công vụ Trong đó, chú trọng nội dung các kiến thức mới, chương trình mới bổ sung nhằm cập nhật các kỹ năng, đạo đức, văn hóa
Trang 24công vụ thể hiện tinh thần, thái độ phục vụ nhân dân của người CBCC ở cơ sở mang tính chất vì nhân nhân nhất là đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
Chương trình đào tạo, bồi dưỡng của cán bộ, công chức cấp xã là kiến thức quản lý nhà nước trên tất cả các lĩnh vực văn hóa – kinh tế, xã hội tùy theo từng nhiệm vụ, vị trí việc làm của từng công chức mà có chương trình đạo tạo khác nhau, trong đó tập trung về lý luận chính trị, các kỹ năng lãnh đạo cho từng công chức là đối tượng cấp xã, huyện, kỹ năng hội nhập quốc
tế, chương trình, hội nghị, hội thảo, đề án hoặc các lớp tập huấn kiến thức, phổ biến văn bản triển khai thực hiện ở cơ sở; đặc biệt chú trọng việc ứng dụng công nghệ thông tin, ngoại ngữ trong thời kỳ hội nhập cho đội ngũ CBCC cấp xã
Từ những quan điểm, chương trình ĐTBD nêu trên, có thể hiểu: Đào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp xã là việc làm thường xuyên giúp cho đội ngũ cán
bộ, công chức nêu cao tinh thần thái độ phục vụ, cải cách chế độ công vụ công chức, kỹ năng giải quyết công việc Qua đó, góp phần nâng cao tính chuyên môn, nghiệp vụ trong thực thi công vụ và văn hóa công sở giúp cho CBCC thực hành tốt nhiệm vụ mà nhân dân tin tưởng giao
Chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã:
Thực hiện chính sách ĐTBD cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã là toàn bộ quá trình đưa chính sách đào tạo, bồi dưỡng đó đi vào thực tiễn cuộc sống xã hội Việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ CBCC cấp xã là biến ý đồ của người ra chính sách để triển khai thực hiện một cách
có hiệu quả thiết thực đúng mục đích của chính sách cần triển khai Việc triển khai thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã một cách bài bản, có trọng tâm, trọng điểm thì công việc thực hiện tốt hơn và phù hợp với tình hình thực tiễn của từng công chức ở mỗi vùng, miền
Trang 25khác nhau góp phần thực hiện chính sách tốt đáp ứng nhu cầu trong tình hình phát triển mới của đất nước
Dựa trên những căn cứ, mục tiêu, chương trình nội dung của đào tạo, bồi dưỡng, có thể đề cập tổng quát chính sách đào tạo, bồ dưỡng cán bộ, công chức cấp xã, cụ thể như sau:
Chính sách ĐTBD cho CBCC cấp xã là một giải pháp hiệu quả nhằm trang bị cho đội ngũ CBCC những kỹ năng, thái độ và có bản lĩnh trong quá trình thực thi công vụ, đáp ứng yêu cầu của việc cải cách hành chính xây dựng nền hành chính kiến tạo liêm chính, kiến tạo và hành động của thời kỳ công nghệ 4.0 và yêu cầu tình hình mới nước ta
Trong công cuộc kháng chiến, kiến quốc Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn chú trọng kiến chọn người tài, kiến thiết đất nước giai đoạn đầu năm
1945 khi mới giành độc lập, nhằm thấy rõ được vị trí, vai trò quan trọng công tác ĐTBD cho đội ngũ cán bộ, công chức là nhiệm vụ hàng đầu trong công tác xây dựng của Đảng và Nhà nước Cụ thể:
Tại Hội nghị lần thứ 3 của BCH TW khóa VIII đã đề ra Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 18/6/1997 xây dựng chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước Trong đó, xác định việc nâng cao năng lực lãnh đạo cho đội ngũ cán bộ, công chức các cấp và đề cao tinh thần trách nhiệm của người đứng đầu phải có kiến thức, trình độ chuyên môn cao và có đạo đức cách mạng, bản lĩnh chính trị vững vàng đủ sức khỏe để lãnh đạo đất nước; đảm bảo việc tổ chức đầy đủ theo số lượng cơ cấu tuổi, giới tính, thành phần sao cho có tính kế thừa, tiếp nối trong công tác xây dựng CBCC các cấp
Mặc dù trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới, trong nước và trong tỉnh gặp nhiều khó khăn, thử thách nhưng việc phát triển và nâng cao chất lượng ĐTBD cho CBCC cấp xã được tập trung thực hiện nghiêm túc, tạo nên
Trang 26sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động của đội ngũ cán bộ, công chức, nhất là người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, địa phương về vai trò, tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong sự phát triển kinh tế-xã hội; nhiều chương trình, đề án, kế hoạch, cơ chế, chính sách
về phát triển nguồn nhân lực đã được ban hành và triển khai thực hiện đạt một
số kết quả nhất định trong 5 năm đầu của giai đoạn thực hiện, góp phần phát triển kinh tế-xã hội của địa phương
Nhận thức của các cấp, các ngành về vai trò, tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngày càng được nâng cao; qua đó đã tạo
sự đồng thuận trong quá trình triển khai thực hiện các kế hoạch, chương trình,
đề án, giải pháp phát triển nguồn nhân lực trên địa bàn
Công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực luôn được các ngành, các cấp quan tâm; cơ sở vật chất cho phát triển giáo dục, đào tạo nghề được tiếp tục được đầu tư nâng cấp; quy mô giáo dục được duy trì và chất lượng được nâng lên; mạng lưới đào tạo nghề được mở rộng, xã hội hoá trong dạy nghề có bước chuyển biến rõ nét, quy mô và chất lượng đào tạo nghề từng bước được nâng lên
Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã tiếp tục được củng cố, tăng cường về
số lượng và chất lượng; công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức được quan tâm đúng mức và đạt kết quả tích cực; Công tác tuyển dụng, sử dụng công chức dần đi vào nề nếp hơn, sát nhu cầu, vị trí việc làm, cơ cấu và tiêu chuẩn ngạch tuyển dụng và đều thực hiện thông qua thi tuyển, xét tuyển theo nguyên tắc cạnh tranh Công tác quy hoạch đã từng bước gắn với đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ Công tác đề bạt, bổ nhiệm, luân chuyển cán bộ đã đảm bảo chất lượng, phù hợp với tiêu chuẩn chức danh theo quy định
Trang 27Mục tiêu đổi mới, hoàn thiện công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức hàng năm và tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức các cấp với nhiều hình thức linh hoạt như: thuê chuyên gia nước ngoài đào tạo tại chỗ và cử cán bộ đi đào tạo ở nước ngoài
về kiến thức quản lý công, ngoại ngữ, tin học và theo các chuyên ngành phù hợp với tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm của từng cán bộ, công chức; đồng thời, mời gọi các trường đại học, các trung tâm đào tạo có uy tín, có thương hiệu đầu tư thành lập các cơ sở đào tạo tại tỉnh Đã tập trung xây dựng
và triển khai thực hiện nhiều chương trình, đề án, dự án về đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức và đào tạo nghề cho lao động, nhất là đào tạo nghề cho lao động nông thôn gắn với giải quyết việc làm; thông qua đó, nguồn nhân lực của địa phương đã từng bước tăng về số lượng và chất lượng, góp phần đạt mục tiêu phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của địa phương
Kiên quyết khắc phục những yếu kém trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, trách nhiệm, năng lực và động cơ đúng đắn, thực sự tiên phong, gương mẫu, luôn đặt lợi ích của tập thể, quốc gia, dân tộc lên trên lợi ích cá nhân
Hội nghị Trung ương 7 khóa XII đã ban hành Nghị quyết số NQ/TW ngày 19/5/2018 tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ Đây là
26-sự thể hiện bước tư duy đột phá của BCH TW khóa XII về công tác cán bộ nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của đất nước trong giai đoạn mới - giai đoạn toàn cầu hóa và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế gắn với phát triển kinh tế tri thức và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 của nhân loại đang diễn ra mạnh
Trang 28Nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ tổ quốc và hội nhập quốc tế được đề cập trong những chủ trương của Đảng và pháp luật Nhà nước được đưa ra khi nhận thấy vị trí, vai trò quan trọng của đội ngũ CBCC trong công cuộc xây dựng thời kỳ mới Đồng thời, đội ngũ CBCC cấp xã trong thực thi công vụ còn bộc lộ nhiều hạn chế, kỹ năng chưa chuyên nghiệp Vì vậy, Đảng ta trong các văn kiện đã rất chú trọng đến công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCC thông qua các chủ trương lớn nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng và hiệu quả ĐTBD, góp phần xây dựng đội ngũ CBCC cấp xã chuyên nghiệp có
đủ phẩm chất, trình độ và năng lực, đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân, sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa của đất nước và hội nhập quốc tế
1.2 Nội dung của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã
Trên cơ sở các chủ trương của Đảng, Chính phủ đã ban hành các chính sách được xác định trong các văn bản quy phạm pháp luật để hiện thực hóa công tác đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, công chức các cấp, cụ thể: như Luật, Nghị quyết, Nghị định, Quyết định, Thông tư, Công văn, trong đó:
“Nghị quyết số 32-NQ/TW ngày 26/5/2014 của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ lãnh đạo, quản lý, Quyết định số 971/QĐ-TTg ngày 01/7/2015 sửa đổi, bổ sung Quyết định số 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020, nội dung nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Quyết định số 1600/QĐ-TTg ngày 16/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 – 2020; Quyết định số 163/QĐ-TTg ngày 25/01/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2016 -
Trang 292025; Quyết định số 579/QĐ-TTg ngày 19/04/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011- 2020”
“Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05/03/2010 của CP quy định về Đào tạo, bồi dưỡng công chức, Nghị định số 101/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 và Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010 của Chính phủ quy định những người là công chức; Thông tư số 139/2010/TT-BTC ngày 21/9/2010 của BTC quy định việc lập dự toán, quản lý và sử dụng kinh phí từ ngân sách nhà nước dành cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức; Thông tư số 03/2011/TT-BNV ngày 25/01/2011 của BNV về Hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05/03/2010 của Chính phủ về Đào tạo, bồi dưỡng công chức; Công văn số 4524/BNV-ĐT ngày 27/10/2014 của BNV về việc hướng dẫn thực hiện công tác đánh giá chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức”
Với mục tiêu từng năm theo nhiệm kỳ Đại hội đề ra, để tạo sự thay đổi, chuyển biến tích cực về số lượng, chất lượng và hiệu quả công tác ĐTBD thông qua kế hoạch đào tạo bồi dưỡng, xây dựng được đội ngũ CBCC cấp xã
có đủ trình độ, phẩm chất đạo đức và năng lực, kỹ năng thực thi công vụ, phục vụ Nhân dân góp phần phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Các chính sách mà Nhà nước ta đề ra qua các giai đoạn ngày càng được hoàn thiện hơn,
từ việc xác định vị trí việc làm của từng đối tượng, yêu cầu, nội dung, hình thức ĐTBD các cấp, trong đó, có đội ngũ CBCC cấp xã đã từng bước đáp ứng được các yêu cầu trong thực thi công vụ, phục vụ Nhân dân
1.3 Các bước thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã
Căn cứ Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05/3/2010 của Chính phủ
về ĐTBD công chức; Thông tư số 03/2011/TT- BNV ngày 25/01/2011 của
Trang 30Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số CP; Quyết định số 1374/QĐ-TTg ngày 12/8/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt kế hoạch ĐTBD CBCC giai đoạn 2011 - 2015; Quyết định số
18/2010/NĐ-402/QĐ-TTg ngày 14/3/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án
“Phát triển đội ngũ CBCC, viên chức, người DTTS trong thời kỳ mới”, thực hiện chính sách ĐTBD cán bộ công chức cấp xã, gồm các nội dung sau:
Đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, công chức cấp xã về trình độ lý luận chính trị:
Nhằm trang bị cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã và những người hoạt động không chuyên trách, tổ dân thôn, khu phố những kiến thức cơ bản
và những lý luận chính trị - hành chính; củng cố, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ lãnh đạo, quản lý; kỹ năng tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao
Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có trình độ chuyên môn và hiểu biết
cơ bản về những vấn đề chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng, phong cách Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; một số nội dung của khoa học hành chính và kỹ năng lãnh đạo, quản lý Biết vận dụng kiến thức lý luận Mác-Lênin và đường lối, quan điểm của Đảng vào thực tiễn công tác của mình; một số kỹ năng lãnh đạo, quản lý, nghiệp vụ về công tác Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể nhân dân nhằm nâng cao năng lực tổ chức thực tiễn, tổ chức quần chúng thực hiện nhiệm vụ chính trị ở cơ sở Góp phần củng cố niềm tin, nhận thức vào chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, sự nghiệp đổi mới do Đảng lãnh đạo; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; nâng cao năng lực, phẩm chất, đạo đức của cán bộ lãnh đạo, quản lý ở cơ sở
Trang 31Tại Điều 4 Nghị định số 18/2010/NĐ-CP của Chính phủ quy định cụ thể việc thực hiện chế độ đào tạo, bồi dưỡng được điều chỉnh tùy theo từng ngạch và chức vụ lãnh đạo, quản lý đang giữ, cán bộ công chức cấp xã có trách nhiệm thực hiện chế độ học tập lý luận chính trị suốt đời để nâng cao năng lực hiểu biết về Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng, phong cách Hồ Chí Minh theo quy định của cơ quan có thẩm quyền đã phân cấp
Trên cơ sở kiến thức chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng, phong cách
Hồ Chí Minh, thông qua các lớp Trung cấp LLCT, Cao cấp LLCT để quán triệt các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đến đội ngũ CBCC các cấp….để cập nhật, bổ sung nhằm xây dựng đội ngũ CBCC cấp
xã có lập trường chính trị, tư tưởng vững vàng, thái độ chính trị đúng đắn, phẩm chất tư tưởng tốt trước âm mưu thế lực thời kỳ mới trên các lĩnh vực nhất là lĩnh vực văn hóa, tư tưởng Đây là điều kiện cơ bản để CBCC đủ điều kiện bổ nhiệm lãnh đạo, quản lý, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, xây dựng địa phương vững mạnh về chính trị, kinh tế và trật tự xã hội
Cụ thể: Chưa qua đào tạo: Cán bộ công chức: 52/352 người, tỷ lệ: 14,7%
(trong đó: Bác Ái: 10/47, Ninh Hải: 13/50, Ninh Phước: 11/86, Ninh Sơn: 3/46, Phan Rang-Tháp Chàm: 10/88, Thuận Bắc: 5/35); Trưởng các Đoàn thể: 115/310 người tỷ lệ: 36,9% (trong đó: Bác Ái: 24/45, Ninh Hải: 14/44, Ninh Phước: 33/74, Ninh Sơn: 11/40, Phan Rang-Tháp Chàm: 23/80, Thuận Bắc: 10/28) riêng vùng núi: 24 người
- Sơ cấp: Cán bộ công chức: 43/352 người, tỷ lệ: 12,2% (trong đó: Bác Ái: 3/47, Ninh Hải: 9/50, Ninh Phước: 13/86, Ninh Sơn: 11/46, Phan Rang- Tháp Chàm: 4/88, Thuận Bắc: 3/35), Trưởng các Đoàn thể: 77/310 người, tỷ lệ: 24,7% (trong đó: Bác Ái: 7/45, Ninh Hải: 15/44, Ninh Phước: 13/74, Ninh Sơn:
Trang 3215/40, Phan Rang-Tháp Chàm: 23/80, Thuận Bắc: 4/28) riêng vùng núi: 16
người
- Trung cấp: Cán bộ công chức: 244/352 người, tỷ lệ: 69.3% (trong đó: Bác Ái: 33/47, Ninh Hải: 25/50, Ninh Phước: 59/86, Ninh Sơn: 30/46, Phan Rang-Tháp Chàm: 70/88, Thuận Bắc: 27/35); Trưởng các Đoàn thể: 117/310 người, tỷ lệ: 37,6% (trong đó: Bác Ái: 14/45, Ninh Hải: 15/44, Ninh Phước: 28/74, Ninh Sơn: 12/40, Phan Rang-Tháp Chàm: 34/80, Thuận Bắc: 13/28)
riêng vùng núi: 23 người
- Cao cấp: Cán bộ công chức: 13/352 người, tỷ lệ: 3,7% (trong đó: Bác Ái: 1/47, Ninh Hải: 3/50, Ninh Phước: 3/86, Ninh Sơn: 2/46, Phan Rang- Tháp Chàm: 4/88, Thuận Bắc: 0/35); Trưởng các Đoàn thể: 2/310 người, tỷ lệ: 0,64% (trong đó: Bác Ái: 0/45, Ninh Hải: 0/44, Ninh Phước: 0/74, Ninh Sơn: 2/40, Phan Rang-Tháp Chàm: 0/80, Thuận Bắc: 0/28)
(Nguồn: Báo cáo của Sở Nội vụ tỉnh Ninh Thuận)
Đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, công chức cấp xã về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ :
Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã là người trực tiếp thực thi, thi hành chính sách ở cơ sở và đưa chính sách áp dụng vào thực tiễn đời sống xã hội
Do đó, trong quá trình triển khai thực hiện họ sẽ bắt gặp nhiều vấn đề nảy sinh từ thực tiễn cuộc sống phát sinh tại địa phương đang diễn ra ngày càng nhanh chóng nó có liên quan và ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ của người dân ở cơ sở Vì vậy, việc đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ nâng nhằm đáp ứng yêu cầu thời kỳ hội nhập để nâng cao tay nghề, vị trí việc làm cho công chức cấp xã là đòi hỏi cấp thiết để cho đội ngũ CBCC có tay nghề, kỹ năng và nhiệm vụ trong thực thi công vụ một cách tốt nhất đáp ứng yêu cầu
Trang 33mong mỏi nhân dân nhất là các thủ tục hành chính, từ đó tạo được động lực, niềm tin cho cán bộ, công chức trong thi hành nhiệm vụ
Năng lực sở trường công tác của từng công chức thể hiện ở tính chuyên môn nghiệp vụ của CBCC được biểu hiện thông qua ĐTBD ở từng bậc, trình độ khác nhau, ở từng vị trí việc làm, thâm niên công tác và kỹ năng kinh nghiệm tích lũy trong quá trình công tác của từng CBCC Đó là thước đo
sự hài lòng của từng CBCC trong thi hành công vụ, thể hiện được năng lực, đánh giá được kết quả thực hiện nhiệm vụ từng CBCC Việc không có trình
độ, kỹ năng trong thi hành nhiệm vụ thì người CBCC không thể hoàn thành tốt nhiệm vụ chuyên môn của mình khi mà tổ chức phân công làm ảnh hưởng chung đến tổ chức và chậm trễ sự phát triển của xã hội nói chung Các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước luôn được đề ra để triển khai rộng khắp trên các lĩnh vực nên có tác động trực tiếp rất lớn và ảnh hưởng đến cuộc sống sinh hoạt của nhân dân, có tác động rất lớn đến tình hình kinh tế, an ninh - chính trị, xã hội của địa phương
Đào tạo là một quá trình trong đó về chuyên môn nghiệp vụ, kiến thức theo tiêu chuẩn ngạch, bậc cho CBCC ở cơ sở theo từng vị trí việc làm, như:
kỹ năng hành chính, đạo đức công vụ, bồi dưỡng kiến thức về hội nhập giai đoạn mới, Đề án đào tạo ngoại ngữ, ứng dụng tin học thời kỳ công nghệ 4.0,… Mục đích xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có đủ chuyên môn, nghiệp vụ và năng lực, kỹ năng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ và nâng cao hiệu lực, hiệu quả QLNN do Đảng và Nhà nước đề ra và trên từng địa phương
về các lĩnh vực: quản lý đất đai, tài nguyên môi trường, xây dựng, hành chính
tư pháp, hộ tịch… đó là đòi hỏi cấp bách, việc làm thường xuyên cho đội ngũ cán bộ, công chức nói chung và cho CBCC cấp xã nói riêng
Trang 34Cụ thể: Chưa qua đào tạo: Cán bộ công chức: 222/352 người, tỷ lệ: 63%
(trong đó: Bác Ái: 41/47, Ninh Hải: 36/50, Ninh Phước: 54/86, Ninh Sơn: 31/46, Phan Rang-Tháp Chàm: 41/88, Thuận Bắc: 19/35); Trưởng các Đoàn thể: 238/310 người tỷ lệ: 76,7% (trong đó: Bác Ái: 43/45, Ninh Hải: 37/44, Ninh Phước: 56/74, Ninh Sơn: 33/40, Phan Rang-Tháp Chàm: 50/80, Thuận Bắc: 21/28) riêng vùng núi: 55 người
- Sơ cấp: Cán bộ công chức: 38/352 người, tỷ lệ 10,8% (trong đó: Bác Ái: 0/47, Ninh Hải: 2/50, Ninh Phước: 14/86, Ninh Sơn: 6/46, Phan Rang- Tháp Chàm: 10/88, Thuận Bắc: 6/35), Trưởng các Đoàn thể: 17/310 người tỷ lệ: 5,5% (trong đó: Bác Ái: 0/45, Ninh Hải: 1/44, Ninh Phước: 4/74, Ninh Sơn: 2/40, Phan Rang-Tháp Chàm: 9/80, Thuận Bắc: 1/28)
- Trung cấp: Cán bộ công chức: 64/352 người, tỷ lệ: 18,2% (trong đó: Bác Ái: 4/47, Ninh Hải: 9/50, Ninh Phước: 14/86, Ninh Sơn: 8/46, Phan Rang-Tháp Chàm: 23/88, Thuận Bắc: 6/35), Trưởng các Đoàn thể: 47/310 người tỷ lệ: 15,1% (trong đó: Bác Ái: 2/45, Ninh Hải: 4/44, Ninh Phước: 12/74, Ninh Sơn: 5/40, Phan Rang-Tháp Chàm: 18/80, Thuận Bắc: 5/28)
riêng vùng núi: 4 người
- Cao đẳng: Cán bộ công chức: 3/352 người, tỷ lệ: 0,85% (trong đó: Bác Ái: 0/47, Ninh Hải: 0/50, Ninh Phước: 1/86, Ninh Sơn: 0/46, Phan Rang- Tháp Chàm: 2/88, Thuận Bắc: 0/35), Trưởng các Đoàn thể: 3/310 người tỷ lệ: 0,96% (trong đó: Bác Ái: 0/45, Ninh Hải: 1/44, Ninh Phước: 0/74, Ninh Sơn: 0/40, Phan Rang-Tháp Chàm: 2/80, Thuận Bắc: 0/28)
- Đại học: Cán bộ công chức: 25/352 người, tỷ lệ: 7% (trong đó: Bác Ái: 2/47, Ninh Hải: 3/50, Ninh Phước: 3/86, Ninh Sơn: 1/46, Phan Rang- Tháp Chàm: 12/88, Thuận Bắc: 4/35), Trưởng các Đoàn thể: 4/310 người tỷ
Trang 35lệ: 1,3% (trong đó: Bác Ái: 0/45, Ninh Hải: 1/44, Ninh Phước: 2/74, Ninh Sơn: 0/40, Phan Rang-Tháp Chàm: 1/80, Thuận Bắc: 0/28)
(Nguồn: Báo cáo của Sở Nội vụ tỉnh Ninh Thuận)
Đào tạo bồi dưỡng cho cán bộ, công chức cấp xã về chương trình quản lý nhà nước:
Trình độ quản lý của mỗi cán bộ, công chức hành chính nhà nước là thước đo thể hiện năng lực quản lý nhà nước trong việc hiểu biết, vận dụng các nguyên tắc, chủ nghĩa Mác – Lê nin đi vào thực tiễn một cách khoa học
và phù hợp Nhận thức kiến thức đó giúp đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trang bị, cập nhật những kiến thức cần thiết về Quản lý nhà nước và kỹ năng thực thi công việc, đồng thời, tăng cường ý thức phục vụ nhân dân nhằm nâng cao năng lực công tác cho cán bộ, công chức trong thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm được giao Vì vậy, đòi hỏi phải xây dựng được đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có bản lĩnh chính trị vững vàng, có khả năng tư duy chiến lược, phương pháp khoa học trong nhận thức, thích ứng với những biến động của tình hình thế giới và trong nước, trang bị, cập nhật những kiến thức cần thiết về quản lý nhà nước và kỹ năng thực thi công việc
Để xây dựng nhà nước pháp quyền, xã hội chủ nghĩa thì việc quản lý nhà nước gắn với mục tiêu cải cách nền hành chính theo từng giai đoạn, người cán bộ, công chức cấp xã phải có hiểu biết pháp luật Thực trạng hiện nay, nhận biết về pháp luật của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã nước ta vẫn còn
ở mức trung Tuy nhiên, để thực hiện đúng chức trách nhiệm vụ cơ quan phân công, vị trí việc làm của người CBCC thì phải được trang bị những kỹ năng tối thiểu và có những hiểu biết về những quy định của pháp luật, về những vấn đề liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của quản lý nhà nước cơ sở nói chung và của từng loại ngạch, bậc công chức nói riêng
Trang 36Do đó, thực hiện chính sách ĐTBD là việc làm thường xuyên để xây dựng được một bộ máy hành chính cấp xã vững mạnh, trong đó có đội ngũ CBCC có năng lực, chuyên môn một cách chuyên nghiệp đáp ứng yêu cầu của thời kỳ hội nhập, thời kỳ mới xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN theo định hướng kinh tế thị trường
Cụ thể: Cán bộ chủ chốt: 130/352 người đã qua bồi dưỡng quản lý nhà
nước dành cho cán bộ xã, tỷ lệ: 36,9% (trong đó: Bác Ái: 13/47, Ninh Hải: 28/50, Ninh Phước: 19/86, Ninh Sơn: 23/46, Phan Rang-Tháp Chàm: 38/88, Thuận Bắc: 9/35)
- Trưởng các Đoàn thể: 60/310 người đã qua bồi dưỡng quản lý nhà
nước dành cho cán bộ xã, tỷ lệ: 19,2% (trong đó: Bác Ái: 6/45, Ninh Hải: 15/44, Ninh Phước: 10/74, Ninh Sơn: 14/40, Phan Rang-Tháp Chàm: 13/80, Thuận Bắc: 2/28)
(Nguồn: Báo cáo của Sở Nội vụ tỉnh Ninh Thuận)
Đào tạo bồi dưỡng cho cán bộ, công chức cấp xã về trình độ tin học, ngoại ngữ:
Trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước đòi hỏi CBCC cấp xã phải được trang bị nhiều loại kiến thức khác nhau, hỗ trợ cho việc thực hiện nhiệm vụ được tốt hơn trong đó ứng công nghệ thông tin nhằm giải quyết công việc nhanh chóng và tiện lợi Giải phóng sức lao động và ghi nhớ, lưu trữ nhiều văn bản, giấy tờ Việc ĐTBD cho đội ngũ cán bộ, công chức có kỹ năng về công nghệ thông tin trong thời kỳ công nghệ là nhằm tra cứu, khai thác, trao đổi thông tin giữa các cơ quan hành chính các cấp với nhau nhằm tiết kiệm ngân sách nhà nước Tuy nhiên, cần nâng cao vai trò cảnh giác trong đánh cắp thông tin, an ninh mạng nhất là mạng xã hội trong quản lý nhà nước Đội ngũ
Trang 37hội nhập sâu rộng vì vậy bồi dưỡng, có kế hoạch nâng cao hiểu biết ngoại ngữ cho cán bộ cấp xã là thiết thực cho lĩnh vực chuyên môn của từng CBCC trong giao tiếp, phục vụ công việc
Đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, công chức cấp xã tiếng dân tộc:
Đội ngũ CBCC cấp xã công tác tại vùng có đông đồng bào, dân tộc là đối tượng cần phải tăng cường đào tạo, bồi dưỡng tiếng dân tộc thiểu số cho cán bộ, công chức công tác ở vùng dân tộc, miền núi – đặc biệt là cán bộ, công chức làm công tác dân vận, mặt trận, cán bộ chủ chốt hoặc thuộc diện quy hoạch tăng cường cho các xã có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của bộ máy quản lý, hoạt động chính trị tại cơ sở; tạo điều kiện thuận lợi và nâng cao hiệu quả trong việc triển khai thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước tại nơi có đồng bào dân tộc sinh sống
Yêu cầu cấp bách của công tác quản lý và phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn an ninh, quốc phòng đòi hỏi đội ngũ CBCC cấp xã công tác ở các vùng có đồng bào DTTS phải biết tiếng dân tộc để giao tiếp và sử dụng trong công tác Để việc học tiếng DTTS trở thành nhiệm vụ thường xuyên đối với CBCC công tác tại vùng dân tộc, miền núi, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 253/QĐ-TTg ngày 05/3/2003; Quyết định số 03/2004/QĐ-TTg ngày
07/01/2004; Quyết định số 402/QĐ-TTg ngày 14/3/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số trong thời kỳ mới”, Quyết định số 124/QĐ-TTg ngày 16/01/2014 Đề án “Tiếp tục củng cố, kiện toàn chính quyền cơ sở vùng Tây Nguyên giai đoạn 2014 - 2020” và UBND tỉnh có Kế hoạch số 5086/KH-
UBND ngày 15/12/2016 về đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực các dân tộc
Trang 38thiểu số tỉnh Ninh Thuận giai đoạn 2016 – 2020 và định hướng đến năm
2030
Qua đó đã bảo tồn, phát huy được tiếng nói, chữ viết của đồng bào dân tộc; nắm bắt được phong tục tập quán, văn hóa, tín ngưỡng; quan tâm, đáp ứng kịp thời nhu cầu đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào dân tộc; thắt chặt hơn nữa khối đại đoàn kết các dân tộc trong xây dựng phát triển kinh tế -
xã hội, ngăn chặn được âm mưu diễn biến hòa bình của các thế lực thù định, gây chia rẽ khối đại đoàn kết các dân tộc
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã
Các yếu tố bên ngoài:
Một là môi trường thực hiện chính sách ĐTBD CBCC cấp xã: là yếu tố liên quan, tác động đến các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị, an ninh quốc phòng, quốc tế Theo nghĩa rộng, do điều kiện thiên nhiên, khí hậu khắc nghiệt nên ảnh hưởng đến sản xuất, kinh tế của tỉnh còn nghèo, đời sống một bộ phận cán bộ, công chức còn khó khăn Tuy nhiên, môi trường thực hiện chính sách ĐTBD CBCC ở tỉnh Ninh Thuận hiện nay nói chung và cấp
xã nơi học viên nghiên cứu có nhiều hạn chế nhất định: một bộ phận các cấp chính quyền chưa nhận thức cao về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của chính sách ĐTBD đội ngũ CBCC chưa nhiệt tình ủng hộ, đánh giá cao và hợp tác tích cực trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã thông qua ĐTBD nâng cao trình độ
Hai là do địa phương có nhiều dân tộc thiểu số, sống đan xen vào nhau phục thuộc vào thiên nhiên, có nhiều tôn giáo ảnh hưởng không nhỏ đến công tác đào tạo, bồi dưỡng nhất là các xã vùng sâu, vùng núi còn hạn chế, chưa
Trang 39thật sự đáp ứng đủ nhu cầu học tập của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức
và yêu cầu của các đơn vị liên kết giảng dạy
Ba là tiềm lực các nhóm chủ thể thực hiện chính sách ĐTBD CBCC cấp xã: những tiềm lực mà mỗi nhóm có được trong mối quan hệ so sánh với các nhóm đối tượng khác Cụ thể, trong chính sách ĐTBD CBCC tiềm lực thuộc về đối tượng thụ hưởng chính sách - đội ngũ CBCC, tiềm lực kinh tế của đối tượng thụ hưởng chính sách và các đối tượng hỗ trợ thực hiện chính sách ĐTBD quyết định mức độ tham gia vào quá trình thực hiện chính sách của CBCC Trong trường hợp vì lí do kinh tế mà đội ngũ CBCC - đối tượng thụ hưởng chính sách, không thể tiếp cận được với các mục tiêu của chính sách thì coi như chính sách đó thất bại Bên cạnh đó, các đối tượng không nhiệt tình tham gia thì mục tiêu chính sách cũng không đạt được Tiềm lực của đội ngũ CBCC cấp xã hiện nay có nhiều thuận lợi hơn trong việc thực hiện chính sách này
Các yếu tố bên trong
Một là đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kiến thức, năng lực quản lý, kỹ năng điều hành cho đội ngũ cán bộ, công chức theo hướng chuyên nghiệp, đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, lý luận chính trị, kiến thức quản lý nhà nước được các cấp ủy Đảng, thủ trưởng các cơ quan đơn vị, địa phương chú trọng nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong tình hình mới Đội ngũ cán bộ, công chức được đào tạo cả về chuyên môn, lý luận chính trị, quản lý nhà nước với nhiều hình thức, đã từng bước nâng dần chất lượng, đáp ứng tiêu chuẩn chức danh cán bộ, công chức nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý
Tuy nhiên, việc đào tạo cán bộ, công chức ở một số cơ quan, đơn vị chưa gắn với quy hoạch và yêu cầu nhiệm vụ cơ quan, đơn vị; cán bộ, công
Trang 40chức tham gia bồi dưỡng ngắn ngày chủ yếu là do yêu cầu đủ các chứng chỉ
để thi nâng ngạch, chuyển ngạch mà chưa thật sự xuất phát từ nhu cầu nâng cao năng lực làm việc theo chức danh, vị trí việc làm đang hoặc sẽ đảm nhiệm Trong công tác cán bộ vẫn còn bất cập ở một số khâu, như: tuyển dụng, quy hoạch, chính sách đãi ngộ, sử dụng và đánh giá có nơi, có lúc làm chưa tốt, chưa thực sự xuất phát từ năng lực công tác, đã làm giảm động lực học tập và phát huy hiệu quả học tập của cán bộ, công chức sau khi được đào tạo, bồi dưỡng
Hai là năng lực thực hiện chính sách của đội ngũ cán bộ, công chức: hiệu quả, kết quả của chính sách phụ thuộc rất lớn vào năng lực CBCC cấp xã thực hiện chính sách ĐTBD - những người trực tiếp đưa chính sách vào cuộc sống Năng lực CBCC thực hiện chính sách ĐTBD CBCC cấp xã bao gồm năng lực, tinh thần trách nhiệm, kỷ luật Tuy nhiên, do số lượng CBCC cấp
xã có hạn nên khó đi ĐTBD vì không có người thay thế, làm việc
Ba là một số cơ quan, đơn vị, địa phương ở vùng khó khăn chưa chủ động rà soát để kịp thời đăng ký cho các công chức tại cơ quan, đơn vị, địa phương tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng để đáp ứng đầy đủ các điều kiện, tiêu chuẩn của chức danh hiện đang đảm nhiệm hoặc chức danh quy hoạch theo quy định