Tuynhiên trên thực tế hiện nay công tác trọng yếu này đã và đang bộc lộ không íthạn chế và bất cập; đáng lưu ý về việc ban hành chính sách còn chồng chéo, tổ chức thực hiện
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-o0o -NGUYỄN THỊ NGA
QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HOÀI ĐỨC,
THÀNH PHỐ HÀ NỘIChuyên nganh: Quản lý kinh tế
Mã số: 60 34 04 10 LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây làcông trinh̀ nghi ên cƣ́u đôc̣ lâp̣ của tô i Các sốliêụ vàkết quảnghiên cƣ́u trong luâṇ văn là trung thực Các số liệu trích dẫntrong quátrinh̀ nghiên cƣ́u đều ghi rõnguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Nga
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành công trình nghiên cứu này, cùng với sư ̣nỗlưc̣ của bản thân, tôi đã nhâṇ đươc̣ sư ̣giúp đỡ tận tình, có hiệu quả từ TS Đinh Quang Ty
- thầy hướng dẫn khoa học và xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Thầy
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo trong Khoa Kinh tếChính trị, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, Lãnh đạo vàcác cán bộ Chi cục Thuế huyện Hoài Đức, tất cả bạn bè và người thân đã giúp
đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và thưc̣ hiêṇ luận văn này
Để có thể đạt được những k ết quả nghiên cứu tốt hơn trong tương lai ,tác giả rất mong tiếp tuc̣ nh ận được sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của cácnhà chuyên môn, của các thầy cô trong Khoa Kinh tế chính trị, Đại học Kinhtế - Đại học Quốc gia Hà Nội và những người thân khác
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Nga
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ iii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN - THỰC TIỄN THIẾT YẾU VÀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 4
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 4
1.1.1 Tình hình nghiên cứu nước ngoài 4
1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 5
1.2 Một số vấn đề lý luận cơ bản về thuế thu nhập cá nhân và quản lý nhà nước về thuế thu nhập cá nhân 9
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thuế thu nhập cá nhân 9
1.2.2 Nội dung quản lý thuế thu nhập cá nhân 19
1.2.3 Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến quản lý thuế thu nhập cá nhân 27
1.3 Một số mô hình tổ chức quản lý thuế thu nhập cá nhân ở các nước trên thế giới, có thể tham khảo cho Việt Nam 32
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39
2.1 Các phương pháp nghiên cứu 39
2.1.1 Phương pháp thu thập thông tin, tài liệu 39
2.1.2 Phương pháp xử lý thông tin tài liệu, số liệu 40
2.1.3 Phương pháp phân tích thông tin, số liệu 40
2.2 Địa điểm và thời gian thực hiện nghiên cứu 42
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HOÀI ĐỨC 43
Trang 63.1 Giới thiệu khái quát về bộ máy quản lý thuế ở Việt Nam hiện nay và Chi
cục Thuế Hoài Đức 43
3.1.1 Hệ thống tổ chức bộ máy quản lý thuế ở Việt Nam hiện nay 43
3.2 Tình hình và kết quả quản lý thuế thu nhập cá nhân tại Chi cục Thuế Hoài Đức giai đoạn 2013 - 2016 50
3.2.1 Khái quát bước đầu về tình hình 50
3.2.2 Công tác tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế 51
3.2.3 Công tác kê khai và kế toán thuế 53
3.2.4 Thực trạng công tác thanh tra, kiểm tra thuế thu nhập cá nhân và xử lý vi phạm về kê khai và nộp thuế 62
3.3 Đánh giá chung 63
3.3.1 Những kết quả nổi bật trong quản lý thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn huyện Hoài Đức 63
3.3.2 Những hạn chế đáng lưu ý trong quản lý thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn huyện Hoài Đức và nguyên nhân 72
CHƯƠNG 4: ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM HOÀN THIỆN QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HOÀI ĐỨC 84
4.1 Định hướng cơ bản trong việc tăng cường quản lý thuế thu nhập cá nhân đến năm 2020, tầm nhìn 2025 84
4.1.1 Bảo đảm thực hiện và có hiệu quả đúng chủ trương, chính sách, pháp luật thuế trong từng giai đoạn 84
4.1.2 Bảo đảm công bằng xã hội và nguồn thu cho NSNN 85
4.2 Các nhóm giải pháp 86
4.2.1 Rà soát và tăng cường công tác cấp mã số thuế cá nhân 86
4.2.2 Về quản lý thu nhập chịu thuế 87
Trang 74.2.3 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra đối tượng nộp thuế thu nhập cá
nhân 90
4.2.4 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế 92
4.2.5 Đóng gớp ý kiền để hoàn thiện chính sách thuế thu nhập cá nhân và các chính sách khác liên quan 94
4.2.6 Đầu tư cơ sở hạ tầng, tin học hóa công tác quản lý thu thuế 98
4.2.7 Nâng cao hiệu quả tổ chức bộ máy quản lý 99
4.2.8 Nâng cao năng lực, phẩm chất cán bộ ngành thuế 100
4.2.9 Kết hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng với cơ quan thuế trong công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân 103
KẾT LUẬN 106
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
Trang 88 QTT Quyết toán thuế
9 TNCN Thu nhập cá nhân
12 UNT Ủy nhiệm thu
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
1 Bảng 1.1 Cấu trúc của thuế qua các giai đoạn phát triển 15
2 Bảng 3.1 Tổ chức bộ máy quản lý thu thuế theo chức năng 49
của Chi cục Thuế huyện Hoài Đức
3 Bảng 3.2 Nguồn lực quản lý thuế TNCN tại Cục thuế TP Hà 50
Nội và Chi cục Thuế huyện Hoài Đức
4 Bảng 3.3 Kết quả thu nộp thuế TNCN tại Chi cục Thuế 58
Hoài Đức giai đoạn 2013-2016
5 Bảng 3.4 Kết quả thu nợ thuế TNCN của Chi cục Thuế 60
huyện Hoài Đức giai đoạn 2013-2016
6 Bảng 3.5 Kết quả thực hiện hoàn thuế TNCN tại Chi cục 61
Thuế huyện Hoài Đức giai đoạn 2013-2016
Trang 10DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
1 Sơ đồ 3.1 Cơ cấu tổ chức của Tổng cục Thuế 43
2 Sơ đồ 3.2 Cơ cấu tổ chức Cục thuế trực thuộc Tổng cục 44
Thuế
3 Sơ đồ 3.3 Cơ cấu, tổ chức Chi cục Thuế trực thuộc Cục T 45
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ở tất cả các nước trên thế giới hiện nay thuế được dùng làm công cụđiều tiết vĩ mô nền kinh tế, điều hòa thu nhập, thực hiện công bằng xã hội vàlà công cụ chủ yếu để huy động nguồn lực vật chất cho nhà nước Trong điềukiện kinh tế Việt Nam, thuế gián thu có vai trò rất to lớn; nhưng với mục đíchđiều hòa thu nhập, thực hiện công bằng xã hội bằng thuế trong nền kinh tế thìthuế trực thu lại thể hiện tính ưu việt, đồng thời làm tăng nguồn thu cho Ngânsách nhà nước (NSNN) một cách hợp lý, hợp hiến Vì vậy, hướng đến mộtchính sách thu nhập là điều tất yếu nhằm góp phần điều tiết bớt một phần thunhập từ các tầng lớp có thu nhập cao trong xã hội, hình thành các quỹ tiền tệtập trung giúp Nhà nước ngày càng thực hiện tốt hơn các chính sách xã hộicủa mình
Thuế Thu nhập cá nhân (TNCN) ra đời ở Việt Nam vào năm 1990 dướitên gọi “Pháp lệnh thuế đối với người có thu nhập cao” và đã trải qua 8 lầnsửa đổi, bổ sung vào các năm 1992, 1994, 1997, 1999, 2001, 2004, 2007,
2012 để phù hợp với những điều kiện về kinh tế - xã hội Luật Thuế TNCN rađời để thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước về lĩnh vựctài chính và đã đặt ra những yêu cầu mới trong công tác quản lý thuế TNCN.Luật có hiệu lực từ 01/01/2009
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, thủ
đô Hà Nội nói chung và Hoài Đức nói riêng trở thành nơi tập trung một bộphận lớn dân cư sinh sống và làm việc Nền kinh tế Việt Nam hội nhập ngàycàng sâu rộng với các nền kinh tế trong khu vực và trên thế giới, thị trườnglao động mở rộng và sự ra đời của nhiều ngành nghề mới có thu nhập caochính là yếu tố làm tăng thu nhập của đông đảo dân cư Sự đa dạng về hìnhthức thu nhập và gia tăng số lượng cá nhân có thu nhập chịu thuế đòi hỏicông tác quản lý thuế TNCN trên địa bàn cần được hoàn thiện hơn Thực tế
Trang 12đã cho thấy, công tác quản lý thuế TNCN ở thành phố Hà Nội nói chung vàhuyện Hoài Đức nói riêng vẫn còn hạn chế đáng quan ngại liên quan đến cấp
mã số thuế, kê khai và nộp thuế, quản lý nợ, thanh tra và kiểm tra thuế, Những hạn chế này đã và đang ảnh hưởng bất lợi đến phát triển kinh tế - xãhội trên địa bàn
Như vậy, để Luật thuế thu nhập cá nhân thực sự phát huy được vai tròlà công cụ phân phối thu nhập đảm bảo tính công bằng xã hội thì công tácquản lý thuế phải được xem xét, xử lý thật sự khoa học và kỹ lưỡng Tuynhiên trên thực tế hiện nay công tác trọng yếu này đã và đang bộc lộ không íthạn chế và bất cập; đáng lưu ý về việc ban hành chính sách còn chồng chéo,
tổ chức thực hiện chính sách kém hiệu quả; bộ máy quản lý cồng kềnh và việckiểm soát thực hiện chính sách, tuyên truyền chính sách thuế thu nhập cá nhânđến các cá nhân, tổ chức trong xã hội là chưa đạt hiệu quả cao; công tác tinhọc hóa trong quản lý thuế thu nhập cá nhân cũng chưa được nâng cao dẫnđến việc gây phiền nhiễu cho người dân trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế,
… làm giảm hiệu quả của chính sách thuế thu nhập cá nhân trong xã hội
Những vấn đề nói trên thật sự có tính cấp thiết; đòi hỏi phải có nhữnggiải pháp thích hợp tăng cường công tác quản lý thuế TNCN Luận văn
“Quản lý thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội” sẽ góp phần đáp ứng những yêu cầu thiết yếu đó.
Câu hỏi nghiên cứu của đề tài là: Chi cục thuế huyện Hoài Đức cầnphải làm gì và làm như thế nào để hoàn thiện quản lý thuế thu nhập cá nhântrên địa bàn Huyện?
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
2.1 Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở phân tích thực trạng công tác quản lý thuế thu nhập cánhân tại chi cục thuế huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, Luận văn chỉ ra hạnchế còn tồn tại và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu
Trang 13quả của công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân trong những năm tới của chi cục thuế huyện Hoài Đức.
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về thuế TNCN và về quản lý thuế TNCN
- - Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý thuế TNCN ở huyện HoàiĐức, góp phần làm rõ những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của lĩnh vựcnày trên địa bàn
- - Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý thuế TNCN góp phần thúc đẩy, phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện Hoài Đức
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn : Luận văn đi sâu nghiên cứu vềquản lý thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn huyện Hoài Đức, thành phố HàNội
Phạm vi nghiên cứu : Thực trạng quản lý thuế TNCN trên địa bànhuyện Hoài Đức, TP Hà Nội giai đoạn 2013-2016 ; và các giải pháp đến năm
2020, tầm nhìn 2025
4 Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày thành 4 chương như sau :
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề lý luận - thực tiễn thiết yếu về thuế thu nhập cá nhân và quản lý thuế thu nhập cá nhân
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng quản lý thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn huyện Hoài Đức
Chương 4: Định hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện quản lý thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn huyện Hoài Đức
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN - THỰC TIỄN THIẾT YẾU VÀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP
CÁ NHÂN 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu nước ngoài
Thuế thu nhập nói chung và thuế TNCN nói riêng đã được áp dụng từlâu trên thế giới và có lịch sử hàng trăm năm Thuế TNCN được áp dụng lầnđầu tiên ở Anh năm 1799 dưới hình thức thu tạm thời nhằm mục đích trangtrải cho cuộc chiến tranh chống Pháp và được chính thức ban hành vào năm
1842 Sau đó, thuế TNCN được lan truyền nhanh chóng sang các nước côngnghiệp khác như: Nhật Bản (năm 1887), Mỹ (năm 1913), Pháp (năm 1914)…Các nước Châu Á như Thái Lan bắt đầu áp dụng vào năm 1939, ở Philippinnăm 1945, Hàn Quốc năm 1948, Inđônêsia năm 1949, Trung Quốc năm 1984.Đến nay, đã có khoảng 180 nước áp dụng thuế TNCN và thuế TNCN đã trởthành một bộ phận quan trọng trong hệ thống chính sách thuế của nhiều nước.Các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển đều coi thuế TNCN là mộttrong những sắc thuế có tầm quan trọng đặc biệt trong việc huy động nguồnthu ngân sách, thực hiện phân phối theo nguyên tắc công bằng xã hội và điềutiết vĩ mô nền kinh tế Tuy nhiên, đặt ra mức thuế cao hay thấp, đánh vào tổngthu nhập hay đánh vào từng khoản thu nhập khác nhau của chủ thể thườngphụ thuộc vào quan điểm điều tiết thu nhập và mục tiêu đặt ra trong chínhsách kinh tế, xã hội của từng nước ở từng thời kỳ nhất định Ở các nước pháttriển, thuế TNCN thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số thu từ thuế (ThuếTNCN chiếm tỷ trọng gần 40% trong tổng thu thuế Ngân sách Liên bang Mỹ,Tây Ban Nha 38%, Anh 35%, Đan Mạch 50%) và được xem là một loại thuếrất quan trọng, thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số thu thuế, là công cụ
Trang 15đảm bảo tính công bằng, tính hiệu quả kinh tế và hội nhập (PGS TS Lê Văn
Ái, TS Đỗ Đức Minh, “Chương 2 - Thuế TNCN của một số nước trên thế
giới và kinh nghiệm áp dụng cho Việt Nam”, Thuế TNCN trên thế giới và định hướng vận dụng ở Việt Nam, Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội, 2002,
trang 45-106)
1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, trong thời kỳ áp dụng mô hình kinh tế kế hoạch hóa tậptrung, Nhà nước ta không thu thuế đối với thu nhập của cá nhân không kinhdoanh Bởi vì, nguồn thu nhập của cư dân trong xã hội thời kỳ đó mang tính chấtthuần nhất, do cơ chế phân phối bình quân theo kế hoạch trực tiếp của Nhànước Khi thực hiện đường lối đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, chế độ phân phốithu nhập theo cơ chế thị trường hình thành và phát triển, thu nhập của người dânđược cải thiện Bên cạnh đó, sự phân hóa thu nhập và phân cực
giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội diễn ra rất nhanh Để độngviên một phần thu nhập của một bộ phận dân cư có thu nhập cao hơn so vớimức thu nhập chung của cộng đồng vào NSNN và thực hiện chính sách điềutiết thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội, ngày 27/12/1990 Hộiđồng Nhà nước ban hành Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhậpcao, Pháp lệnh này được áp dụng trên thực tế kể từ ngày 1/4/1991 Qua quátrình tổ chức thực hiện, Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhậpcao được Ủy ban thường vụ Quốc hội sửa đổi, bổ sung nhiều lần vào các năm
1992, 1993, 1994, 1997, 1999 Ngày 19/5/2001, Ủy ban Thường vụ Quốc hộiban hành Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao để thay thếcho tất cả các Pháp lệnh về thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao đãban hành trước đó Ngày 24/3/2004 Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hànhPháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Thuế thu nhập đối vớingười có thu nhập cao năm 2001 Ngày 21/11/2007, Quốc hội ban hành Luật
Trang 16Thuế TNCN và luật này chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009,thay thế cho Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao trướcđây Đồng thời việc quản lý thuế TNCN cũng được thực hiện theo cơ chế tự
kê khai, tự nộp thuế theo QĐ 197/2003/QĐ - TTg và triển khai sâu rộngchương trình cải cách và hiện đại hóa ngành thuế
Dưới nhiều góc độ khác nhau đã có nhiều công trình và đề tài nghiêncứu về lĩnh vực thuế trong thời gian qua, điển hình như:
Nhóm các công trình về hoàn thiện chính sách, công tác quản lý
thuế:
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ "Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế ở Việt Nam trong điều kiện hiện nay" do PGS.TS Nguyễn Thị Bất làm chủ nhiệm; “Nâng cao hiệu quả quản lý thu thuế ở Việt Nam trong quá trình đổi mới”, luận văn thạc sĩ kinh doanh và quản lý, của Trịnh Hoàng
Cơ, Hà Nội, 2004; “Tăng cường quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam”, luận văn thạc sĩ kinh tế của Đặng Thị Lan Hương, Hà Nội, năm 2013;“Thực trạng và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế Thu nhập cá nhân trên địa bàn thành phố Hà Nội”, luận văn thạc sĩ kinh tế của Trần Hải Nam, Hà Nội, năm 2013; “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý thuế Tại Cục Thuế Hà Nội”, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế của Hoàng Hải Yến, Hà Nội, năm
2013;
Ởcác công trình nêu trên, các tác giả đã phân tích thực trạng công tácquản lý thuế và chỉ ra được các thành tựu, hạn chế và nguyên nhân; đề xuấtnhững giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách và công tác quản lý thuế ở ViệtNam những năm gần đây phù hợp với chiến lược cải cách ngành thuế theohướng hiện đại hóa Trong đó một số tác giả đã đề xuất và luận chứng khá chitiết các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế trong quá trình đổi mới
“Quản lý và điều hành công tác thuế trong bối cảnh suy giảm kinh tế
Trang 17trong nước và suy thoái kinh tế toàn cầu”, tác giả Đặng Hạnh Thu, Tạp chí
Cộng Sản số 803, 2009 Tác giả đã đặt ra những vấn đề cần phải quan tâmtrong công tác quản lý và điều hành công tác thuế trong bối cảnh suy thoáikinh tế toàn cầu đã có những ảnh hưởng trực tiếp đến Việt Nam khi chúng ta
đã tham gia vào WTO
Nhóm các công trình về hoàn thiện, nâng cao năng lực trong công
tác thuế:
“Hoàn thiện quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp ở nước ta hiện nay”, luận văn thạc sĩ kinh doanh và quản lý của Vũ Thị Mai, Hà Nội, 2005;
“Hoàn thiện quy trình quản lý thu thuế theo hướng hiện đại hoá ngành Thuế
ở Việt Nam”, luận văn thạc sĩ kinh tế của Nguyễn Thu Thuỷ, Hà Nội, 2006;
“Cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế và những vấn đề đặt ra ở Việt Nam”, tác giả
Nguyễn Văn Hiệu, Nguyễn Việt Cường, Nxb Tài chính, Hà Nội, 2007;
“Hoàn thiện công tác kiểm tra thuế trong cơ chế tự khai, tự nộp thuế ở Việt Nam”, luận văn thạc sĩ kinh tế của Lê Thị Thu Hồng, 2008;
Trong các công trình nói trên tác giả đã đề cập đến thực trạng các quytrình và công tác quản lý thuế; đề xuất các giải pháp nhằm thực hiện tốt cácquy trình quản lý thuế trong từng lĩnh vực và địa bàn cụ thể
Nhóm công trình nghiên cứu về chính sách thuế TNCN:
“Thuế TNCN trên thế giới và định hướng vận dụng ở Việt Nam” - Lê Văn Ái, Đỗ Đức Minh, Đỗ Thị Thìn; “Thuế TNCN: Kinh nghiệm trên thế giới
và việc triển khai thực hiện tại Việt Nam”, Nguyễn Thị Thanh Thủy, 2009, số
143, tr 10-13, Tạp chí Kinh tế và Phát triển; “Thuế TNCN: Quá khứ - hiện tại
và tương lai”, Phạm Quang, 2009, số 140, tr 25-26 - Tạp chí kinh tế và phát
triển Các ấn phẩm đã khái quát một số vấn đề cơ bản về quá trình hình thành,việc thực hiện thuế TNCN trong cả chặng đường từ lúc hình thành cho đếnhiện tại và cả những dự báo cho tương lai sắp tới ; đồng thời đã tổng hợp
Trang 18những kinh nghiệm thực hiện Luật Thuế TNCN ở một số nước trên thế giới,và việc triển khai thực hiện ở Việt Nam, từ đó đề xuất giải pháp để việc triểnkhai thuế TNCN được tốt hơn trong thời gian tới.
“Thuế TNCN ở Việt Nam và định hướng hoàn thiện”, Vũ Văn Trường , trường ĐH Tài chính kế toán Hà Nội ; “Những vấn đề cơ bản về thuế TNCN”; Luận án tiến sỹ kinh tế - Lý Phương Duyên - Học Viện Tài
chính Ngoài ra, còn có một số nghiên cứu của các sinh viên, học viên về lĩnhvực này: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý thuế TNCN; Chính sáchthuế TNCN ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế; Thuế TNCN:
lý luận và thực tiễn; Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế TNCN; Sosánh Luật thuế TNCN với Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhậpcao, …
Nhìn chung, những công trình nghiên cứu trên đây đã cho chúng ta hiểuđược thế nào là thuế TNCN, sự cần thiết phải áp dụng luật thuế TNCN vào đờisống Đồng thời qua các công trình nghiên cứu này, chúng ta có cái nhìn tổngquát về quá trình hình thành, những chuyển biến, thay đổi và thực tiễn áp dụngLuật thuế TNCN ở Việt Nam, những thành tựu đạt được và những vướng mắccòn tồn tại Mặc dù những nội dung này rất phong phú nhưng vẫn là chưa đủ để
có thể hiểu một cách thấu đáo nội dung thuế TNCN đứng trên giác độ của nhàquản lý thuế Thuế TNCN vốn là một vấn đề phức tạp, khó áp dụng Vậy làmcách nào để cho nhà quản lý có thể hiểu và quản lý tốt nếu công tác trong lĩnhvực thuế TNCN, nhất là trong thời kỳ thực hiện cơ chế tự khai, tự nộp - Ngườinộp thuế (NNT) tự kê khai, tự tính thuế và tự nộp thuế vào NSNN Với việc ápdụng cơ chế tự khai, tự nộp thì cơ quan Thuế sẽ không phải can thiệp vào việcthực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp mà tập trung nguồn lực cho công tác tuyêntruyền, hỗ trợ, hướng dẫn để NNT có đủ năng lực thực hiện nghĩa vụ NSNN.Đồng thời cũng tăng cường các biện pháp
Trang 19theo dõi giám sát, kiểm tra để kịp thời phát hiện, chấn chỉnh các hành vi phạmpháp luật thuế, tránh gây thất thu NSNN.
Cho tới nay chưa có công trình nào nghiên cứu về quản lý thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.
1.2 Một số vấn đề lý luận cơ bản về thuế thu nhập cá nhân và quản
lý nhà nước về thuế thu nhập cá nhân
Để có cơ sở xây dựng khái niệm về thuế thu nhập cá nhân, trước hết tôi xin được đề cập đến cac cách quan niệm về thuế thu nhập cá nhân
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thuế thu nhập cá nhân
Tùy theo mục đích nghiên cứu, các nhà kinh tế quan niệm về thu nhậpdưới các góc độ khác nhau Hai nhà kinh tế Anh là R.M.Haig và H.C.Simonsđầu thế kỷ 20 đã đưa ra định nghĩa về thu nhập cho rằng thu nhập là tổng giátrị của cải ròng tăng lên của một cá nhân cộng với sự tiêu dùng của người đótrong một thời gian nhất định, thường là 1 năm Quan điểm này mang tính lýthuyết và được chấp nhận rộng rãi trong giới nghiên cứu Tuy nhiên, trên thựctế khó thực hiện, vì rằng giá trị tăng thêm đó mới chỉ dừng lại dưới dạng tiềmnăng, mặt khác nó lại được biểu hiện dưới các hình thức khác nhau bằng tiền,hàng hóa và dịch vụ song lại chỉ được thực hiện khi có sự chuyển dịch quyền
sở hữu
Dựa trên cơ sở định nghĩa trên, các nhà kinh tế học hiện đại đã đưa rahai quan niệm mới về thu nhập làm cơ sở đánh thuế TNCN:
- Quan niệm về “thu nhập bao quát” (Tài liệu Hội thảo Việt - Nhật về
thuế TNCN, tổ chức tháng 4/2011 tại Hà Nội) cho rằng, thu nhập là mọikhoản thu nhập ròng từ các nguồn sau khi đã khấu trừ đi các chi phí để tạo rachúng, từ đó hình thành một phương thức đánh thuế trên tổng tài sản ròng,nghĩa là đánh thuế vào tất cả các lợi ích nhận được, bao gồm cả các lợi íchngẫu phát - lợi ích có tính chất nhất thời
Trang 20- Quan niệm về “thu nhập hạn hẹp” (Tài liệu Hội thảo Việt - Nhật về
thuế TNCN, tổ chức tháng 4/2011 tại Hà Nội) dựa trên cơ sở thu nhập chỉ giớihạn trong những lợi ích phát sinh lặp đi lặp lại, có tính chất liên tục để hìnhthành một phương thức đánh thuế thu nhập dựa trên các nguồn phát sinh thunhập
Trước đó nhà kinh tế học người Mỹ Paul.A.Samuelson đã từng đưa ramột khái niệm tương đối hoàn chỉnh về thu nhập: “Thu nhập là tổng số tiền kiếmđược hoặc thu góp được trong một khoảng thời gian nhất định (thường là mộtnăm)” Thuật ngữ “tiền” ở đây được hiểu là những khoản thu nhập dưới dạngtiền tệ hay hiện vật được tính thành tiền, nó bao gồm cả phần sản xuất, kinhdoanh, dịch vụ, từ lao động hoặc không từ lao động, từ quyền sở hữu về tài sản,về tiền mà có hoặc tiêu dùng các dịch vụ không phải thanh toán
Trong các định nghĩa nêu trên, mặc dù chưa phản ánh một cách đầy đủ
tất cả các khía cạnh của thu nhập, nhưng tổng hợp lại cho thấy thu nhập có một số điểm chung sau đây:
- Thu nhập luôn gắn với một chủ thể nhất định trong nền kinh tế - xãhội, thể hiện tính sở hữu của thu nhập
- Thông thường việc xác định thu nhạp của các chủ thể khác nhautrong một thời gian nhất định được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ - là hinhthức thông qua đó có thể biết được tổng số thu nhập từ các nguồn khác nhau của một cá nhân hay một pháp nhân
- Thu nhập được hình thành thông qua quá trình phân phối lần đầu và phân phối lại thu nhập quốc dân, do thị trường và nhà nước thực hiện
Qua phân tích các đặc điểm nêu trên, có thể đi tới khái niệm tổng hợpnhư sau: “Thu nhập là tổng các giá trị tài sản và của cải được biểu hiện dướihình thức tiền tệ mà một chủ thể nào đó trong nền kinh tế - xã hội tạo ra vànhận được từ các nguồn lao động, tài sản hay đầu tư thông qua quá trình phân
Trang 21phối tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân trong một khoảng thời hạnnhất định (thường là một năm)” (PGS TS Lê Văn Ái, TS Đỗ Đức Minh,
Thuế TNCN trên thế giới và định hướng vận dụng ở Việt Nam, Nhà xuất bản
Tài chính, Hà Nội, 2002, trang 8-9)
Thu nhập của các chủ thể bị chi phối bởi các nhân tố sau đây:
- Thứ nhất, là trình độ phát triển kinh tế, xã hội của một quốc gia lànhân tố có ảnh hưởng quyết định đến mức tăng thu nhập cho cá nhân Điềunày thể hiện ở chỗ, ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, thu nhậpbình quân đầu người thường rất cao; ngược lại trong các quốc gia có nềnkinh tế kém phát triển, thu nhập bình quân đầu người còn thấp Thu nhập bìnhquân đầu người không chỉ là khoản thu nhập nhận được từ lao động mà cònlà tổng số các lợi ích nhận được từ các dịch vụ công cộng
- Thứ hai, là thu nhập phụ thuộc vào cơ chế phân phối tổng sản phẩm
xã hội và thu nhập quốc dân trong những điều kiện kinh tế nhất định, trong đóchế độ sở hữu về các yếu tố sản xuất chi phối mức thu nhập của các thànhviên tham gia vào quá trình sản xuất và phân phối thu nhập
- Thứ ba, là do những nhân tố có tính xã hội khác tác động đến thunhập của các chủ thể như: Khả năng đầu tư và tạo thêm việc làm của nhànước; chế độ phúc lợi của Nhà nước; trình độ nhận thức và nghề nghiệp củangười lao động; quyền sở hữu về tài sản của các cá nhân; quan hệ tình cảmtrong xã hội;
Việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới thu nhập nhằm giúp chocác nhà quản lý và hoạch định chính sách có quan điểm đúng đắn khi đưa racác quy định về phân phối thu nhập
Tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu mà thu nhập được chia thành cácloại khác nhau dựa theo các tiêu thức sau đây:
Trang 22- Căn cứ vào nguồn tạo ra thu nhập có các loại: Thu nhập từ lao động,thu nhập từ kinh doanh, thu nhập từ tài sản, thu nhập từ đầu tư, thu nhập từ thừa kế, và các thu nhập khác.
- Căn cứ vào tính đều đặn hay không đều đặn của việc phát sinh ở trong nước và thu nhập phát sinh từ nước ngoài
- Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ phát sinh thu nhập có thu nhập phát sinh ở trong nước và thu nhập phát sinh từ nước ngoài
- Căn cứ vào chủ thể được hưởng thu nhập có thu nhập công ty, TNCN, thu nhập Chính phủ,
- Căn cứ vào tính pháp lý của thu nhập, có thể chia thành thu nhập hợppháp và thu nhập không hợp pháp Thu nhập hợp pháp là thu nhập được tạo
ra từ hoạt động hợp pháp và được nhà nước kiểm soát, bảo vệ Thu nhậpkhông hợp pháp là thu nhập được tạo ra từ hoạt động bất hợp pháp nên Nhànước không thể hoặc rất khó kiểm soát được và do đó không được pháp luậtbảo vệ Về lý thuyết, các khoản thu nhập từ các hoạt động bất hợp pháp có thểthuộc phạm vi quy định chung trong khái niệm thu nhập toàn bộ hoặc trong hệthống phân loại thu nhập có thể coi là một loại thu nhập Vì vậy, ở một sốnước, các khoản thu nhập nhận được từ các hoạt động bất hợp pháp vẫn bịđánh thuế, song việc đánh thuế được hiểu ở nghĩa tước đoạt và tịch thu Theoquan điểm của một số nhà kinh tế học hiện đại ở các nước phát triển thì khảnăng đánh thuế đối với thu nhập bất hợp pháp cung cấp công cụ cho việc khởi
tố với tội danh không thực hiện nghĩa vụ thuế, vì tội phạm thường không kêkhai thu nhập bất hợp pháp Vì thế, để truy tố tội phạm, cách thành công nhấtlà trước hết căn cứ vào tội trốn thuế
Mặc dù có nhiều nguồn thu nhập nhưng trong thực tế không phải toàn
bộ thu nhập nói trên đều là đối tượng điều chỉnh của thuế thu nhập Thuế thunhập chỉ điều chỉnh phần thu nhập chịu thuế Thu nhập chịu thuế là phần thunhập làm cơ sở đánh thuế thu nhập Nó được xác định trên cơ sở các khoản
Trang 23thu nhập nhận được sau khi miễn trừ một số khoản chi phí Tùy theo chínhsách thuế thu nhập của mỗi nước mà nội dung, phương pháp xác định cáckhoản miễn trừ và thu nhập chịu thuế có sự khác nhau.
1.2.1.1 Khái niệm thuế thu nhập cá nhân
Về nguyên tắc, bất kỳ một thể nhân hay pháp nhân nào khi nhận đượcthu nhập dưới bất kỳ hình thái nào (hiện vật hay giá trị) và bất kể từ nguồnnào (do lao động, hay đầu tư, ) đều phải trích một phần từ thu nhập đó đểnộp cho nhà nước dưới dạng thuế thu nhập
Thuế thu nhập được chia làm hai loại: Thuế thu nhập công ty và thuếTNCN
Nhìn một cách tổng quát, thuế TNCN là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập của mỗi cá nhân trong xã hội trong một khoảng thời gian nhất định
(thường là một năm) (Bộ Tài Chính - Tổng Cục Thuế, “Chuyên đề 13: Thuế
TNCN”, Tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ cho công chức mới - Kiến thức về hệ thống chính sách thuế hiện hành, Tập 3, 2011, trang 60.)
Thuế TNCN đã được áp dụng từ rất lâu ở các nước phát triển Lần đầutiên ra đời ở Anh vào năm 1799 thuế TNCN đã được áp dụng như một hìnhthức thu tạm thời nhằm mục đích trang trải cho cuộc chiến tranh chống Phápvà được chính thức ban hành vào năm 1842 Sau đó thuế TNCN đã nhanhchóng được lan truyền sang các nước công nghiệp khác như: NhậtBản(1887), Mỹ (1913), Pháp (1914), Liên Xô (1922), Trung Quốc (1936) Theo thống kê của ERNST and YOUNG tại “The global Excutive”, hiện naythế giới có hơn 136 nước áp dụng thuế TNCN Các quốc gia có nền kinh tếthị trường phát triển đều coi thuế TNCN là một trong những sắc thuế có tầmquan trọng đặc biệt trong việc huy động nguồn thu ngân sách, thực hiện phânphối công bằng xã hội và điều tiết vĩ mô nền kinh tế (PGS TS Lê Văn Ái,
TS Đỗ Đức Minh, Thuế TNCN trên thế giới và định hướng vận dụng ở Việt Nam, Nhà xuất bản Tài Chính, Hà Nội, 2002, trang 12).
Trang 24Sự xuất hiện của thuế TNCN do những nguyên nhân sau:
Thứ nhất, thuế TNCN ra đời bắt nguồn từ yêu cầu đảm bảo sự công
bằng trong phân phối thu nhập Điều này đặc biệt cần thiết trong điều kiệnkinh tế thị trường, vì thu nhập của một cá nhân hay tổ chức phụ thuộc chủ yếuvào việc cung cấp các yếu tố sản xuất (vốn, lao động, công nghệ, ) Trongđiều kiện đó, sự phân hóa giàu nghèo khi phân phối lại thu nhập là điều khótránh khỏi Vì vậy, cần áp dụng thuế TNCN để thực hiện điều tiết thu nhậpnhằm rút gọn khoảng cách giàu nghèo trong xã hội
Mặt khác, trong hệ thống thuế thông thường áp dụng hai loại thuế: thuếgián thu và thuế trực thu Thuế TNCN là loại thuế trực thu, tức là thuế đánhtrực tiếp vào thu nhập của NNT và điều tiết TNCN đảm bảo sự công bằngtheo chiều dọc Nếu chỉ áp dụng các loại thuế gián thu thì mới thực hiện đượccông bằng theo chiều ngang, tức là tất cả mọi người đều phải nộp thuế nhưnhau không phân biệt khả năng của họ Để đảm bảo sự công bằng theo chiềungang và chiều dọc trong chính sách thuế khóa thì cần thiết phải ban bànhthuế TNCN để điều tiết thu nhập theo khả năng đóng góp của NNT
Thứ hai, do nhu cầu chi tiêu ngày càng tăng của Nhà nước Sự giảm dần
của thuế quan do yêu cầu tự do hóa thương mại để phát triển kinh tế của tất cảcác nước có nền kinh tế thị trường đòi hỏi phải tăng nguồn thu tài chính nhànước thông qua các loại thuế khác như thuế hàng hóa, thuế thu nhập công ty vàthuế TNCN, trong đó thuế TNCN là nguồn tài chính lớn cho ngân sách của quốcgia, đặc biệt đối với các nước phát triển Trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất,
số NNT TNCN mới chỉ chiếm khoảng gần 1 triệu người, năm 1939 tăng lên 5triệu người; thì đến năm 1980 con số này là 100 triệu người, biến thuế này thành
thứ thuế đại chúng (PGS.TS Lê Văn Ái, TS Đỗ Đức Minh, Thuế TNCN trên thế giới và định hướng vận dụng ở Việt Nam, NXB Tài Chính - 2002, trang 13) Khi
trình độ kinh tế càng phát triển thì thuế thu
Trang 25nhập ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong tổng số thu về thuế VasanthiMonsingh (1998) đã liên hệ các giai đoạn phát triển của nền kinh tế với đặcđiểm cấu truc thuế như sau:
Bảng 1.1: Cấu trúc của thuế qua các giai đoạn phát triển
Vai trò các loại thuế
Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu giữ vị trí trọng yếu
Thuế đánh vào hàng hóa, dịch vụ nội địa chiếm tỷ trọng chủ yếu
Thuế thu nhập và đóng góp bảo hiểm xã hội chiếm vị trí quan trọng nhất
(Nguồn: PGS.TS Lê Văn Ái, TS Đỗ Đức Minh, Thuế TNCN trên thế giới và định hướng vận dụng ở Việt Nam, NXB Tài Chính -2002, trang 14).
Vì vậy, việc nghiên cứu và cải cách hệ thống thuế thu nhập nhằm biếnchúng thành chỗ dựa ngày càng quan trọng hơn theo tiến trình phát triển củanền kinh tế là một mục tiêu được chú trọng đối với các nước đang phát triển
Thứ ba, thuế thu nhập được sử dụng như một công cụ linh hoạt để điều
Thời kỳ hậu công nghiệp
Thời kỳ tiến đến công nghiệp
hóa, hiện đại hóa
Thời kỳ mới cất cánh
Thời kỳ
Trang 26những lý thuyết căn bản của Kenyes về tính hữu dụng giảm dần của thu nhậpcho rằng mức thu nhập càng cao thì tính hữu dụng của nó càng thấp Do vậy,
để tăng phúc lợi xã hội, cần thiết phải điều tiết bớt thu nhập của những đốitượng có thu nhập cao và phân phối lại cho những đối tượng có thu nhập thấphơn Bên cạnh đó, thông qua chính sách miễn giảm, ưu đãi, thuế thu nhập
có thể có tác động trực tiếp đến định hướng tiêu dùng và đầu tư theo hướng
có lợi, thực hiện mục tiêu điều chỉnh kinh tế của nhà nước
1.2.1.2 Đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân
Thuế TNCN có những đặc điểm quan trọng sau:
15
Trang 27Một là,thuế TNCN là một loại thuế trực thu đánh vào thu nhập của
NNT, NNT đồng nhất với người chịu thuế nên khó có thể chuyển gánh nặngthuế sang cho người khác
Hai là, thuế TNCN là loại thuế có độ nhạy cảm cao vì nó liên quan trực
tiếp đến lợi ích cụ thể của NNT và liên quan đến hầu hết mọi cá nhân trong xãhội Đặc điểm này xuất phát từ tính trực thu của thuế TNCN
Ba là, thuế TNCN là loại thuế luôn gắn liền với chính sách xã hội của
quốc gia mặc dù các quốc gia hiện nay vẫn luôn hướng tới một hệ thốngchính sách thuế mang tính trung lập Khi tính thuế TNCN, chính phủ cácnước thường xem xét đến hoàn cảnh cá nhân của NNT bằng việc quy địnhmột số khoản được khấu trừ có tính chất xã hội trước khi tính thuế
Bốn là, thuế TNCN thường được tính theo biểu thuế lũy tiến từng phần
do thuế TNCN được đánh theo nguyên tắc “khả năng nộp thuế” và cũng xuấtphát từ vai trò chủ yếu của thuế TNCN là điều tiết mạnh người có thu nhậpcao, động viên sự đóng góp của những người có thu nhập thấp, thu nhậptrung bình trong xã hội
Năm là, thuế TNCN không bóp méo giá cả hàng hóa, dịch vụ Thuế
TNCN không cấu thành trong giá bán (giá thanh toán) hàng hóa, dịch vụ nên
nó không tạo ra sự sai lệch giá cả hàng hóa, dịch vụ
1.2.1.3 Vai trò của thuế thu nhập cá nhân
Xuất phát từ những đặc điểm kể trên, Thuế TNCN có vai trò quan
trọng:
Thứ nhất, thuế TNCN là công cụ góp phần thực hiện công bằng xã hội,
giảm bớt sự chênh lệch về thu nhập giữa những người có thu nhập cao và những người có thu nhập thấp trong xã hội.
Thuế TNCN luôn gắn với chính sách xã hội của một quốc gia Mặc dùvề quan điểm hoàn thiện chính sách thuế là cần phải xây dựng một chính sách
Trang 28thuế có tính trung lập cao, không nhằm nhiều mục tiêu khác nhau, nhưngtrong thực tế chưa có quốc gia nào tách rời hẳn chính sách thuế TNCN vớimột số chính sách xã hội Sự công bằng được biểu thị bởi biểu thuế thuế lũytiến từng phần, mức điều tiết về thuế tăng dần đều, người có thu nhập caophải nộp thuế nhiều Chính sách xã hội thể hiện thông qua cơ chế chiết trừ giacảnh và một số khoản giảm trừ trước khi tính thuế.
Thứ hai, thuế TNCN là một công cụ đảm bảo nguồn thu quan trọng và
ổn định cho NSNN.
Thuế TNCN có diện thu thuế rất rộng, khả năng tạo nguồn thu choNSNN cao, nhất là ở những quốc gia có nền kinh tế phát triển Bên cạnh đó,Thuế TNCN có độ co giãn theo thu nhập tương đối lớn nên cùng với sự pháttriển của nền kinh tế, thu nhập của các tầng lớp dân cư cũng không ngừngtăng lên, nếu có chính sách động viên hợp lý, ổn định thì không cần phảithường xuyên thay đổi mà vẫn thu được một mức thu mong muốn Do sự ổnđịnh trong mức huy động thuế đã tạo ra một môi trường phù hợp với mục tiêuđầu tư kinh tế dài hạn của quốc gia, góp phần khuyến khích, thúc đẩy sảnxuất kinh doanh có hiệu quả, thu được lợi nhuận nhiều, tạo ra mức thu nhậpngày càng cao từ đó tạo nguồn thu ngày càng tăng trưởng cho NSNN
Kinh tế - xã hội càng phát triển, hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâurộng thì nhu cầu chi tiêu của nhà nước để giải quyết các vấn đề an ninh, quốcphòng, an sinh xã hội, phát triển sự nghiệp giáo dục, y tế cũng ngày cànggia tăng Thêm vào đó, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế dẫn đến cơ cấu thungân sách cũng chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng thu NSNN ThuếTNCN cũng sẽ góp phân nâng cao tỷ trọng thu nội địa để ổn định thu choNSNN trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Tỷ trọng thuế TNCN trongtổng số thu Ngân sách tại các nước trong khối ASEAN, như Thái Lan, Ma-lay-xi-a, Phi-lip-pin khoảng 12-16%, các nước đang phát triển khoảng 13-14%, các nước phát triển như: Mỹ, Nhật, Anh, Pháp, Đức khoảng 30-40%;
Trang 29ở Việt Nam, tỷ trọng thuế TNCN hiện nay khoảng 4,1% (Bộ Tài chính
-Tổng cục Thuế, Tài liệu Bồi dưỡng nghiệp vụ cho công chức mới, NXB Tài
chính, năm 2011)
Thứ ba, thuế TNCN là công cụ kinh tế vĩ mô được nhà nước sử dụng
điều tiết thu nhập, tiêu dùng và tiết kiệm.
Thuế TNCN không chỉ là công cụ huy động nguồn thu NSNN, thựchiện công bằng xã hội, mà còn là một trong những công cụ quan trọng củaNhà nước trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế Thông qua mức thuế TNCNvà chế độ miễn giảm thuế có thể khuyến khích đầu tư, tiết kiệm
Như đã phân tích, thuế TNCN động viên trực tiếp vào thu nhập của cánhân, thể hiện rõ nghĩa vụ của công dân đối với đất nước và được căn cứ trêncác nguyên tắc “lợi ích”, “công bằng” và “khả năng nộp thuế” Việc áp dụngthuế TNCN sẽ góp phần đảm bảo tính hợp lý, công bằng, hiệu quả của hệthống chính sách thuế và hạn chế sự gia tăng khoảng cách chênh lệch giàunghèo giữa các tầng lớp dân cư; đồng thời nhà nước sẽ nắm được thông tinvề thu nhập của cá nhân Thông qua đó, vừa thực hiện động viên nguồn lựcvừa góp phần phòng chống tham nhũng, lãng phí
Thứ tư, thuế TNCN góp phần quản lý thu nhập dân cư.
Thông qua việc kiểm tra, xác minh thu nhập tính thuế TNCN, cơ quanNhà nước có thể phát hiện những khoản thu nhập hợp pháp, không hợp pháp để
có những biện pháp xử lý phù hợp Qua tài liệu, số liệu về thuế TNCN giúp choChính phủ có thêm cơ sở để đánh giá khái quát về tình hình thu nhập xã hội, về
cơ cấu thu nhập dân cư để đề ra các chính sách kinh tế - xã hội phù hợp
Qua thời gian thực hiện thuế TNCN ở Việt Nam, bước đầu đã tạo chomọi người dân quen với việc kê khai thu nhập và nhận thức được trách nhiệmvề đóng thuế thu nhập, một loại thuế phổ biến trên thế giới và cũng là tiền đềtrong quá trình hoàn thiện chính sách thuế TNCN ở Việt Nam
Trang 30Tóm lại, thuế TNCN đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển
của mỗi quốc gia Tuy nhiên, vì công tác quản lý thuế TNCN còn nhiều hạnchế nên những vai trò này vẫn chưa thực sự được phát huy ở những nướcchậm phát triển
1.2.2 Nội dung quản lý thuế thu nhập cá nhân
Công tác quản lý thuế TNCN là một phần quan trọng của quản lý tàichính nhà nước, Công tác này cần được nhìn nhận ở tầm vĩ mô và phải baogồm toàn bộ các công việc thuộc các lĩnh vực lập pháp và hành pháp, tư phápvề thuế TNCN Nội dung của công tác quản lý thuế TNCN bao gồm :
kể từ ngày phát sinh nghĩa vụ thuế TNCN hoặc phát sinh yêu cầu được hoànthuế Hồ sơ đăng ký thuế đối với NNT là cá nhân thuộc diện nộp thuế TNCNgồm: - Tờ khai đăng ký thuế theo mẫu quy định; - Bản sao không yêu cầuchứng thực Chứng minh nhân dân hoặc chứng minh quân đội hoặc hộ chiếuđối với người nước ngoài
NNT sử dụng mã số thuế để: Thực hiện các thủ tục kê khai và nộp thuế,phí, lệ phí với cơ quan thuế và thực hiện thủ tục kê khai, nộp thuế với cơ quanHải quan; Ghi trên các giấy tờ giao dịch như: hóa đơn, chứng từ, hợp đồng
Trang 31kinh tế và các giấy tờ, tài liệu có liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế;
Sử dụng khi mở tài khoản tiên gửi tại ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng khác
Cơ quan quản lý thuế sử dụng mã số thuế thuế để quản lý NNT và ghi mã sốthuế trên mọi giấy tờ giao dịch với NNT như: thông báo nộp thuế, thông báophạt, lệnh thu, các quyết định phạt hành chính thuế, biên lại kiểm tra về thuế
Khai thuế, tính thuế
Khai thuế là việc NNT tự xác định số thuế phải nộp phát sinh trong kỳ
kê khai thuế theo quy định của từng luật thuế, pháp luật thuế NNT sử dụnghồ sơ khai thuế của từng loại thuế theo quy định của luật Quản lý thuế để kêkhai số thuế phải nộp với cơ quan thuế và tự chịu trách nhiệm về tính chínhxác của các số liệu trong hồ sơ khai thuế Cơ quan thuế tôn trọng việc tự tínhthuế và khai thuế của NNT; đồng thời có các biện pháp giám sát hiệu quả, vừađảm bảo khuyến khích sự tuân thủ tự nguyện của NNT, vừa bảo đảm pháthiện, ngăn ngừa những trường hợp vi phạm pháp luật thuế
Nguyên tắc khai thuế và tính thuế: (i) NNT phải khai chính xác, trungthực, đầy đủ các nội dung trong tờ khai thuế theo mẫu do Bộ Tài chính quyđịnh và nộp đủ các loại chứng từ, tài liệu quy định trong hồ sơ khai thuế với
cơ quan quản lý thuế; (ii) NNT tự tính số thuế phải nộp, trừ trường hợp việctính thuế do cơ quan quản lý thuế thực hiện theo quy định của Chính phủ
Khai thuế đối với tổ chức, cá nhân trả thu nhập chịu thuế TNCN: Tổchức, cá nhân trả thu nhập khấu trừ thuế TNCN khai thuế theo tháng hoặcquý Trường hợp trong tháng hoặc quý, tổ chức, cá nhân trả thu nhập khôngphát sinh khấu trừ thuế TNCN thì không phải khai thuế Việc khai thuế theotháng hoặc quý được xác định một lần kể từ tháng đầu tiên có phát sinh khấutrừ thuế và áp dụng cho cả năm tính thuế Cụ thể như sau: Tổ chức, cá nhântrả thu nhập phát sinh số thuế khấu trừ trong tháng của ít nhất một loại tờ khaithuế TNCN từ 50 triệu đồng trở lên thì thực hiện khai thuế theo tháng, trừ
Trang 32trường hợp tổ chức, cá nhân trả thu nhập thuộc diện khai thuế giá trị gia tăngtheo quý; Tổ chức, cá nhân trả thu nhập không thuộc diện khai thuế tháng thìthực hiện khai thuế theo quý Tổ chức, cá nhân trả thu nhập thuộc diện chịuthuế TNCN không phân biệt có phát sinh khấu trừ thuế hay không phát sinhkhấu trừ thuế có trách nhiệm khai quyết toán thuế TNCN và quyết toán thuếTNCN thay cho các cá nhân có ủy quyền.
Khai thuế đối với cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công,
từ kinh doanh Đối với cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công, từkinh doanh khai thuế trực tiếp với cơ quan thuế theo quý, theo năm hoặc theotừng lần phát sinh tùy từng trường hợp cụ thể Cá nhân cư trú có thu nhập từtiền lương, tiền công, từ kinh doanh có trách nhiệm khai quyết toán thuế nếu
có số thuế phải nộp thêm hoặc có số thuế nộp thừa đề nghị hoàn thuế hoặc bùtrừ thuế vào kỳ khai thuế tiếp theo Trong một vài trường hợp luật định, cánhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công có thể ủy quyền cho tổ chức, cánhân trả thu nhập quyết toán thuế thay
Trường hợp khai thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản;khai thuế đối với thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng vốn; khai thuế đối với cánhân có thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán; khai thuế đối với thu nhập từnhận thừa kế, quà tặng; thì khai thuế theo từng lần phát sinh
Thời hạn nộp hồ sơ khai thuế: Đối với loại thuế khai và nộp theo tháng:ngày thứ hai mươi của tháng tiếp theo tháng phát sinh nghĩa vụ thuế; Đối vớihồ sơ khai thuế tạm tính theo quý: ngày thứ ba mươi của quý tiếp theo quýphát sinh nghĩa vụ thuế; đối với hồ sơ khai thuế năm: ngày thứ ba mươi củatháng đầu tiên của năm dương lịch hoặc năm tài chính; đối với hồ sơ quyếttoán thuế năm: ngày thứ chín mươi, kể từ ngày kết thúc năm dương lịch hoặcnăm tài chính; đối với hồ sơ khai theo từng lần phát sinh nghĩa vụ thuế: ngàythứ mười, kể từ ngày phát sinh nghĩa vụ thuế
Trang 33 Nộp thuế
NNT có thể nộp thuế bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản Cơ quan thuế,Kho bạc nhà nước, Ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng nơi thutiền thuế có trách nhiệm hướng dẫn cách lập chứng từ nộp tiền vào NSNNcho NNT đối với từng hình thức nộp tiền mặt hoặc chuyển khoản NNT phảighi đầy đủ, chi tiết các thông tin trên chứng từ nộp tiền thuế do Bộ Tài chínhquy định Thời hạn nộp thuế chậm nhất là ngày cuối cùng của thời hạn nộp hồ
sơ khai thuế Đồng tiền nộp thuế là Đồng Việt Nam, trừ trường hợp nộp thuếbằng ngoại tệ theo quy định của Chính phủ
Miễn thuế, giảm thuế
Cơ quan quản lý thuế thực hiện miễn thuế, giảm thuế đối với cáctrường hợp thuộc diện miễn thuế, giảm thuế được quy định tại các văn bảnpháp luật về thuế Nguyên tắc miễn, giảm thuế TNCN: Đối với NNT gặp khókhăn do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn, bệnh hiểm nghèo việc xét giảm thuếTNCN được thực hiện theo năm dương lịch Đối với cá nhân kinh doanh,nhóm cá nhân kinh doanh nộp thuế TNCN theo phương pháp khoán có tạmngừng, nghỉ kinh doanh việc xét giảm thuế khoán được thực hiện theo thángngừng, nghỉ kinh doanh việc xét giảm thuế khoản được thực hiện theo thángngừng, nghỉ kinh doanh Đối với cá nhân thuộc đối tượng được miễn thuế,giảm thuế TNCN theo quy định về chuyên gia nước ngoài thực hiện chươngtrình, dự án ODA tại Việt Nam; chuyên gia nước ngoài thực hiện chươngtrình, dự án viện trợ phi chính phủ tại Việt Nam; cá nhân nước ngoài làm việctại văn phòng của tổ chức phi chính phủ; cá nhân làm việc tại khi kinh tế thựchiện thủ tục miễn thuế, giảm thuế theo hướng dẫn riêng của Bộ Tài Chính
Cá nhân được hoàn thuế trong các trường hợp sau đây: (i) Số tiền thuế
đã nộp lớn hơn số thuế phải nộp; (ii) Cá nhân đã nộp thuế nhưng có thu nhập
Trang 34tính thuế chưa đến mức phải nộp thuế; (iii) Các trường hợp khác theo quyếtđịnh của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Việc hoàn thuế TNCN áp dụng đối với những cá nhân đã đăng ký và có
mã số thuế tại thời điểm nộp hồ sơ quyết toán thuế Đối với cá nhân đã ủyquyền quyết toán thuế cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện quyết toánthay thì việc hoàn thuế của cá nhân được thực hiện thông qua tổ chức, cánhân trả thu nhập Tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện bù trừ số thuế nộpthừa, nộp thiếu của các cá nhân Sau khi bù trừ, nếu còn số thuế nộp thừa thìđược bù trừ vào kỳ sau hoặc hoàn thuế nếu có đề nghị hoàn Đối với cá nhânthuộc diện khai trực tiếp với cơ quan thuế có thể lựa chọn hoàn thuế hoặc bùtrừ vào kỳ sau tại cùng cơ quan thuế Trường hợp cá nhân có phát sinh hoànthuế TNCN nhưng chậm nộp tờ khai quyết toán theo quy định thì không ápdụng phạt đối với vi phàm hành chính khai quyết toán thuế quá thời hạn
1.2.2.2 Giám sát sự tuân thủ
Quản lý thông tin về NNT
Hệ thống thông tin về NNT là tất cả các thông tin, tài liệu liên quan đếnnghĩa vụ thuế của NNT, bao gồm các thông tin định danh, thông tin về tìnhhình sản xuất kinh doanh, kê khai, nộp thuế, tình hình tuân thủ pháp luật thuế,giải quyết khiếu nại tố cáo về thuế và các thông tin khác do NNT và các tổchức, cá nhân khác tự nguyện cung cấp hoặc cung cấp theo yêu cầu bắt buộccủa cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Thông tin về NNT là cơ sở để cơ quan quản lý thuế thực hiện:
- Đánh giá tác động của chính sách thuế đến hoạt động sản xuất kinhdoanh và tình hình tăng trưởng kinh tế để xây dựng, điều chỉnh, hoàn thiệnchính sách thuế, cơ chế quản lý thuế, ngăn ngừa các hành vi gian lận thuế
- Dự báo, phân tích khả năng thu ngân sách và mức độ động viên, đóng góp nghĩa vụ thuế đối với từng NNT hoặc nhóm NNT
Trang 35- Báo cáo thống kê phục vụ cho việc chỉ đạo điều hành công tác quản
lý thuế và phục vụ cho các mục đích quản lý khác của Nhà nước
- Xây dựng và thực hiện các biện pháp quản lý thuế; các chương trìnhrà soát đánh giá tình hình kê khai, nộp thuế để ngăn ngừa, phát hiện kịp thờicác vi phạm pháp luật về thuế
- Đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật về thuế của NNT để áp dụng cácbiện pháp quản lý, xử lý thuế phù hợp
Xuất phát từ tầm quan trọng trên, hệ thống thông tin về NNT phải đảmbảo chính xác và được cập nhật kịp thời Luật nghiêm cấm hành vi làm sailệnh, sử dụng sai mục đích, truy cập trái phép, lấy cắp thông tin, làm ngừngtrệ hoạt động của hệ thống thông tin, phá hủy hệ thống thông tin về NNT.Mọi hành vi vi phạm về quản lý, sử dụng thông tin đều bị xử lý theo quy địnhcủa pháp luật
Cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm tổ chức xây dựng, quản lý và pháttriển cơ sở dữ liệu, hạ tầng kỹ thuật của hệ thống thông tin về NNT; tổ chứcđơn vị chuyên trách thực hiện nhiệm vụ thu thập, xử lý thông tin, quản lý cơ
sở dữ liệu và bảo đảm duy trì, vận hành hệ thống thông tin về NNT Cơ quanquản lý thuế áp dụng các biện pháp nghiệp vụ cần thiết để thu thập, xử lýthông tin theo mục tiêu và yêu cầu của từng giai đoạn Cơ quan quản lý thuếphối hợp với cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để trao đổi thông tin, kếtnối mạng trực tuyến
NNT có trách nhiệm cung cấp đầy đủ thông tin trong hồ sơ thuế, cungcấp thông tin liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế theo yêu cầu của cơquan quản lý thuế Thông tin cung cấp cho cơ quan quản lý thuế phải đầy đủ,chính xác, trung thực, đúng thời hạn
Kiểm tra, thanh tra thuế
Thanh tra, kiểm tra thuế là một trong bốn chức năng cơ bản của quản lýthuế theo mô hình chức năng Bên cạnh việc tôn trọng kết quả tự tính, tự khai,
Trang 36tự nộp thuế của NNT, cơ quan thuế thực hiện các biện pháp giám sát hiệu quảvừa đảm bảo khuyến khích sự tuân thủ tự nguyện, vừa đảm bảo phát hiệnngăn ngừa các trường hợp vi phạm pháp luật thuế Thanh tra, kiểm tra là mộtbiện pháp hữu hiệu nhằm phát hiện ngăn ngừa vi phạm, giúp NNT nhận thấyluôn có một hệ thống giám sát hiệu quả tồn tại và kịp thời phát hiện các hành
vi vi phạm của họ
Kiểm tra thuế, thanh tra thuế là hoạt động giám sát của cơ quan thuếđối với các hoạt động, giao dịch liên quan đến phát sinh nghĩa vụ thuế và tìnhhình thực hiện thủ tục hành chính thuế, chấp hành nghĩa vụ nộp thuế củaNNT, nhằm đảm bảo pháp luật thuế được thực thi nghiêm chỉnh trong đờisống kinh tế - xã hội
Mục đích của thanh tra, kiểm tra thuế:
- Phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hiện tượng trốn thuế, gianlận thuế, xâm tiêu tiền thuế, dây dưa nợ đọng thuế đối với NNT và cơ quan,
tổ chức, cá nhân có liên quan
- Phát hiện những bất hợp lý, những kẽ hở trong các văn bản pháp luậtthuế để kịp thời đề xuất với cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung và xáclập các căn cứ hoàn thiện chính sách thuế cũng như cơ chế quản lý thuế
- Điều tra, xác minh để làm sáng tỏ những khiếu nại về thuế, làm căn
cứ cho việc xử lý kịp thời những khiếu nại về thuế
Việc kiểm tra thuế, thanh tra thuế phải tuân theo các guyên tắc sau:
- Thực hiện trên cơ sở phân tích thông tin, dữ liệu liên quan đến NNT,đánh giá việc chấp hành pháp luật của NNT, xác minh và thu thập chứng cứ
để xác định hành vi vi phạm pháp luật về thuế
- Không cản trở hoạt động bình thường của NNT
- Tuân thủ quy định của luật Quản lý thuế và các quy định của pháp luật có liên quan
Trang 371.2.2.3 Xử lý vi phạm pháp luật về thuế
Đối tượng xử phạt vi phạm pháp luật thuế bao gồm các đối tượng sau:(i) NNT có hành vi vi phạm pháp luật về thuế; (ii) Cơ quan thuế, công chứcquản lý thuế vi phạm pháp luật về thuế; (iii) Người có thẩm quyền và tráchnhiệm xử lý vi phạm pháp luật về thuế; (iv) Cơ quan nhà nước, tổ chức, cánhân khác vi phạm pháp luật về thuế
Hành vi vi phạm pháp luật về thuế của NNT: (i) Vi phạm các thủ tụcthuế; (ii) chậm nộp tiền thuế; (ii) khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộphoặc tăng số tiền thuế được hoàn; (v) trốn thuế, gian lận thuế
Nguyên tắc, thủ tục xử phạt vi phạm pháp luật về thuế:
- Mọi hành vi vi phạm pháp luật về thuế được phát hiện phải được xử
lý kịp thời, công minh, triệt để Mọi hậu quả do vi phạm pháp luật về thuế gây
ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật
- Tổ chức, cá nhân chỉ bị xử phạt hành chính thuế khi có hành vi vi phạm pháp luật về thuế
- Việc xử lý vi phạm pháp luật về thuế phải do người có thẩm quyền thực hiện
- Một hành vi vi phạm pháp luật về thuế chỉ bị xử phạt một lần
- Việc xử lý vi phạm pháp luật về thuế phải căn cứ vào tính chất, mức
độ vi phạm và những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng để quyết định mức xử phạtthích hợp
- Trình tự, thủ tục xử phạt vi phạm pháp luật về thuế thực hiện theo quy định của Chính phủ
- Trường hợp vi phạm pháp luật về thuế đến mức truy cứu tráchnhiệm hình sự thực hiện theo pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự
(“Chương XII - Xử lý vi phạm pháp luật về thuế”, Luật quản lý thuế ngày 29
tháng 11 năm 2006)
Trang 381.2.3 Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến quản lý thuế thu nhập cá nhân
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến quản lý thuế TNCN Mỗi nhân tố đều
có thể ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực tới công tác này tùy theo tính chất vàtrạng thái của nhân tố đó Nhiệm vụ của các cơ quan chức năng trong bộ máynhà nước là phải tìm cách hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực, đồng thời pháthuy những ảnh hưởng tích cực nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế TNCN
Luật pháp và các chính sách có liên quan của nhà nước
Thuế TNCN là sắc thuế nhạy cảm và phức tạp vào bậc nhất trong cácsắc thuế ở nước ta Thuế này trực tiếp tác động đến túi tiền của người dântrong điều kiện mức sống của đa số dân còn thấp, lại không am tường phápluật và thủ tục thuế, cũng chưa có đủ ý thức công dân để thật thà khai báo thunhập
Khả năng kiểm soát và chứng minh TNCN rất hạn chế, đặc biệt đối vớikhu vực hành nghề tự do và kinh doanh nhỏ Đối tượng nộp thuế đa dạng, thunhập tính thuế không đồng nhất, bao gồm từ tiền công, tiền lương của ngườilao động đến lãi của những nhà kinh doanh, nhà đầu tư Tính nhạy cảm vàphức tạp như vậy đòi hỏi phải rất thận trọng để tránh những sai sót khôngđáng có trong chính sách và biện pháp, có thể tạo ra những phản ứng xã hội
Một chính sách thuế được cho là công bằng, nếu không có biện phápquản lý khả thi tất yếu sẽ dẫn tới bất công trong thực tế Thực tế thu thuếTNCN hiện hành đối với những người hành nghề tự do cho thấy rõ như vậy
Để bảo đảm sự thống nhất giữa chính sách và biện pháp ngay từ đầu,đòi hỏi các nhà soạn thảo luật giải trình biện pháp và Quốc hội chỉ thông quatừng chính sách khi biện pháp được giải trình có tính khả thi, trả lời được rõràng, cụ thể và có sức thuyết phục những câu hỏi còn vướng mắc khi áp dụngchính sách thuế, tính thuế thế nào? Chẳng hạn như:
Trang 39- Theo luật thuế TNCN, thu nhập chịu thuế từ kinh doanh của hộ nhỏđược xác định bằng cách lấy doanh thu trừ đi chi phí Như vậy, đối với các hộnhỏ trước nay vẫn thu Thuế Giá trị gia tăng và Thuế Thu nhập doanh nghiệpbằng cách khoán thì cách tính doanh thu và chi phí những hộ này thế nào?
- Đối với thu nhập từ lao động của những người thu nộp tại nguồn,cách thu đối với những người có thu nhập ở nhiều nơi, cách quyết toán vàhoàn thuế như thế nào để bảo đảm đơn giản về thủ tục mà lại không thất thu,giải quyết nhanh gọn, không phiền hà cho NNT Cách thu đối với nhữngngười hành nghề tự do làm sao đơn giản thủ tục nhưng đặt được thu nhậpcủa họ vào tầm kiểm soát của cơ quan thuế Đây là hai vấn đề về mặt biệnpháp cần được giải quyết ổn thỏa
- Biện pháp thu thuế trong những trường hợp chuyển nhượng chứngkhoán Đối với những chứng khoán giao dịch qua thị trường chứng khoán, dựluật quy định thu tại nguồn, tức là qua các công ty chứng khoán Vậy các công
ty này vừa phải thường xuyên thu thuế khi phát sinh mỗi chuyển nhượng,vừa phải quyết toán thuế cả năm cho từng khách hàng của mình hay sao? Giảiquyết ra sao khi một nhà đầu tư lại mua bán thông qua nhiều công ty chứngkhoán? Những chuyển nhượng ngoài thị trường chứng khoán có thu
thuế hay không và nếu thu thì dùng biện pháp nào? Có chính sách phân biệt vàcách phân biệt nhà đầu tư dài hạn và nhà đầu tư ngắn hạn hay là không có?
- Luật quy định thu nhập chịu thuế chuyển nhượng bất động sản tínhbằng cách lấy giá bán trừ giá mua hay chi phí tạo lập Cách tính giá bán và giámua hay chi phí tạo lập như thế nào, đặc biệt là đối với những bất động sảntạo lập đã lâu đời?
- Thuế TNCN có chính sách giảm trừ gia cảnh Song về mặt biện phápthực hiện lại không hề đơn giản Không đòi hỏi NNT chứng minh về ngườiphụ thuộc được giảm trừ, khó loại trừ khả năng khai man Nếu đòi hỏi chứng
Trang 40minh thì vấn đề trở nên rắc rối Trong thực tế, chứng minh quan hệ ruột thịtkhông khó, vì đã có nhiều giấy tờ ghi nhận hoặc có thể dựa vào xác nhận củachính quyền địa phương Song chứng minh về quan hệ nuôi dưỡng là vấn đềtế nhị, riêng tư của từng gia đình và có rất nhiều “kịch bản” có thể xảy ra.Chính quyền địa phương không thể xác nhận Vậy thủ tục cụ thể thế nào chovừa đơn giản, không gây phiền hà, vừa chống khai man hoặc tạo được lòngtin rằng không có khai man.
Đó là những câu hỏi trong nhiều câu hỏi của cuộc sống cần phải giảiđáp bằng những biện pháp khả thi với những lý lẽ thuyết phục Có vậy chínhsách mới có tính khả thi Và để trả lời được, các biện pháp cần được nghiêncứu sâu hơn, cụ thể hơn nữa Do đó, thời gian nghiên cứu của các các cơ quansoạn thảo luật và cả của Quốc hội cần phải kéo dài hơn
Cơ sở vật chất của ngành thuế
Nhân tố này có ảnh hưởng mạnh mẽ tới công tác quản lý thuế TNCN.Những quy định trong chính sách về diện thu thuế, phương thức kê khai, nộpthuế, quyết toán thuế… phụ thuộc rất nhiều vào khả năng đáp ứng của ngànhthuế Khả năng này lại phụ thuộc rất lớn vào cơ sở vật chất của ngành thuế.Cũng như vậy, sự phát triển của hệ thống ngân hàng và ứng dụng các tiến bộkhoa học về tin học và mạng sẽ là một nhân tố rất hữu ích cho cơ quan thuếtrong việc quản lý thu thuế hiệu quả, chính xác, kịp thời và tiết kiệm chi phí.Nếu như các khoản thu nhập được thanh toán qua hệ thống ngân hàng dướihình thức tài khoản séc hoặc bằng thẻ ATM cá nhân thì sẽ rất thuận tiện cho
cơ quan thuế trong việc giám sát Phương pháp thu thuế TNCN thông qua hệthống ngân hàng, điều này vừa giúp giảm bớt công việc và chi phí cho cơquan thuế, vừa kiểm soát chặt chẽ hơn thu nhập của đối tượng nộp thuế.Chính vì vậy, sự phát triển của hệ thống ngân hàng đi kèm với việc phát triểnhình thức thanh toán qua tài khoản sẽ là một điều kiện tất yếu để có thể thực