ĐỖ MINH CƯƠNG ĐA DẠNG CÁC LOÀI CÂY THUỐC VÀ CÁC LOÀI CÂY CÓ ĐỘC CỦA CỘNG ĐỒNG CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI VÙNG NÚI TAM ĐẢO VÀ TÌM KIẾM CÁC LOÀI CÓ HOẠT TÍNH SINH HỌC LUẬN VĂN THẠC SỸ SINH H
Trang 1ĐỖ MINH CƯƠNG
ĐA DẠNG CÁC LOÀI CÂY THUỐC VÀ CÁC LOÀI CÂY CÓ ĐỘC CỦA CỘNG ĐỒNG CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI VÙNG NÚI TAM ĐẢO VÀ TÌM KIẾM CÁC LOÀI CÓ HOẠT
TÍNH SINH HỌC
LUẬN VĂN THẠC SỸ SINH HỌC
HÀ NỘI - 2018
Trang 2ĐỖ MINH CƯƠNG
ĐA DẠNG CÁC LOÀI CÂY THUỐC VÀ CÁC LOÀI CÂY CÓ ĐỘC CỦA CỘNG ĐỒNG CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI VÙNG NÚI TAM ĐẢO VÀ TÌM KIẾM CÁC LOÀI CÓ HOẠT
TÍNH SINH HỌC
Chuyên ngành: Thực vật học
Mã số: 842 01 11
LUẬN VĂN THẠC SỸ SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THẾ CƯỜNG
HÀ NỘI - 2018
Trang 3Tài nguyên sinh vật – Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, tôi đãnhận được sự giảng dạy ủng hộ và giúp đỡ của các thầy cô giáo, bạn bè vàđồng nghiệp Nhân dịp này tôi xin được cảm ơn TS Nguyễn Thế Cường đãhướng dẫn khoa học của luận văn giúp tôi hoàn thiện luận văn này.
Xin cảm ơn Đề tài cấp Viện Hàn lâm KHCNVN: “Điều tra, đánh giá
các loài cây thuốc và cây có độc của cộng đồng các dân tộc thiểu số tại vùng núi Tam Đảo và tìm kiếm các loài có hoạt tính sinh học nhằm đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững”; Mã số: VAST04.07/18-19 đã hỗ trợ
kinh phí thực hiện luận văn này
Tôi cũng xin cảm ơn chân thành tới hội đồng giáo dục, các đồng nghiệptại trường THPT Marie Curie Hải Phòng nơi tôi công tác đã tạo mọi điều kiện
về thời gian và nhân lực giúp tôi hoàn thành mọi công việc được giao Đặcbiệt, tôi muốn gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè là hậu phương vững chắc, làđộng lực giúp tôi vượt qua mọi khó khăn để hoàn thành tốt luận văn của mình
Cuối cùng, trong quá trình thực hiện còn nhiều hạn chế về mặt thờigian, nhân lực và tài chính nên chắc chắn bản luận văn còn nhiều thiếu sót.Tôi kính mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy côgiáo, các nhà khoa học và đồng nghiệp để bản luận văn được hoàn thiện hơn.Trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 10 năm 2018
Tác giả
Đỗ Minh Cương
Trang 4liệu, kết quả nghiên cứu là trung thực, chưa từng được ai công bố trong cáccông trình nghiên cứu khác.
Hà Nội, tháng 10 năm 2018
Tác giả
Đỗ Minh Cương
Trang 5MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 4
1.1.1 Sơ lược về đa dạng cây thuốc và cây có độc trên thế giới và trong khu vực 4
1.1.2 Sơ lược tình hình nghiên cứu đa dạng cây thuốc và cây có độc ở trong nước 8
1.1.2.1 Tình hình điều tra, thống kê nguồn tài nguyên cây dược liệu ở Việt Nam 8
1.1.2.2 Những nghiên cứu, đánh giá về giá trị sử dụng và giá trị kinh tế của nguồn tài nguyên cây thuốc 11
1.1.2.3 Tình hình nghiên cứu kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của đồng bào các dân tộc Việt Nam 12
1.2 Điều kiện tự nhiên VQG Tam Đảo 14
1.2.1 Địa hình, địa chất thổ nhưỡng 14
1.2.2 Khí hậu thuỷ văn 15
1.2.3 Tài nguyên thiên nhiên 16
1.2.4 Điều kiện kinh tế xã hội 17
1.3 Tình hình nghiên cứu về tài nguyên cây thuốc và cây có độc tại vùng núi Tam Đảo 18
1.4 Sơ lược về nghiên cứu hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định và chống ôxi hóa trên hệ 2,2-diphenyl-1-picrylhydrazyl (DPPH). 20
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 Nội dung nghiên cứu 22
2.2 Phương pháp nghiên cứu 22
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27
Trang 63.1.1 Tính đa dạng các bậc taxon 27
3.1.2 Đánh giá đa dạng về nhóm bệnh 33
3.1.3 Đánh giá về bộ phận sử dụng và cách sử dụng 36
3.1.4 Đánh giá về khả năng chữa bệnh khác nhau của các loài 41
3.1.5 Đánh giá về cây có độc và cách sử dụng 42
3.1.6 Đa dạng trong phương thức sử dụng của từng dân tộc 44
3.1.6.1 Đa dạng trong phương thức sử dụng của dân tộc Sán Dìu 44
3.1.6.2 Đa dạng trong phương thức sử dụng giữa dân tộc Dao và dân tộc Sán Dìu 46
3.1.7 Các loài thực vật quý hiếm 50
3.2 Thử hoạt tính sinh học của dịch chiết 51
3.2.1 Mẫu dịch chiết 51
3.2.2 Kết quả thử hoạt tính chống oxy hóa 51
3.2.3 Kết quả đánh giá hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định 52
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55 PHỤ LỤC
Trang 7DMSO Dimethyl sulfoxid.
DPPH Diphenyl-1-Picrylhydrazyl
ĐDSH Đa dạng sinh học
ELISA Enzyme-linked Immunosorbent assay
International Union for Conservation of Nature and NaturalIUCN Resources - Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài
nguyên Thiên nhiên
NĐ 32/2006 Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý
thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm
PRA Participatori Rural Appraisal - Phương phương pháp đánh
giá có sự tham gia của người dân
RRA Rapid Rural Appraisal - Phương pháp đánh giá nhanh nông
thôn
SĐVN Sách đỏ Việt Nam
TCN Trước công nguyên
USD United States dollar
VSVKĐ Vi sinh vật kiểm định
VU Vulnerable – Sẽ nguy cấp
WHO World Health Organization - Tổ chức Y tế Thế giới
Trang 8Bảng 3.1 Số lượng cây thuốc và cây có độc của đồng bào dân tộc ở Tam Đảo 27
Bảng 3.2 So sánh hệ cây thuốc và cây có độc của đồng bào dân tộc ở vùng
núi Tam Đảo với đa dạng thực vật ở Tam Đảo 28
Bảng 3.3 Các họ có nhiều loài cây thuốc của đồng bào dân tộc Tam Đảo 30
Bảng 3.4 Các chi có nhiều loài cây thuốc nhất của đồng bào dân tộc Tam Đảo 31 Bảng 3.5 Đa dạng các nhóm bệnh chữa trị bệnh của đồng bào dân tộc vùng núi Tam Đảo 33
Bảng 3.6 Đa dạng trong các bộ phận sử dụng làm thuốc của đồng bào dân tộc vùng núi Tam Đảo 37
Bảng 3.7 Đa dạng trong cách thức sử dụng các loài cây thuốc và cây có độc của đồng bào dân tộc vùng núi Tam Đảo 39
Bảng 3.8 Số cây thuốc và cây có độc của đồng bào dân tộc chữa các nhóm bệnh khác nhau 41
Bảng 3.9 Danh sách cây có độc của đồng bào dân tộc tại vùng núi Tam Đảo 42 Bảng 3.10 Đa dạng trong phương thức sử dụng của dân tộc Sán Dìu ở vùng núi Tam Đảo 45
Bảng 3.11 Số cây thuốc cùng chữa 1 loại bệnh của dân tộc Dao và Sán Dìu ở vùng núi Tam Đảo 46
Bảng 3.12 Các loài thực vật quý hiếm trong danh lục cây thuốc của đồng bào dân tộc ở vùng núi Tam Đảo 50
Bảng 3.13 Danh sách 03 mẫu dịch chiết tổng 51
Bảng 3.14 Kết quả đánh giá hoạt tính chống oxi hóa 51
Bảng 3.15 Kết quả đánh giá hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định 52
Trang 9Hình 3.1 Biểu đồ cây thuốc và cây có độc của đồng bào dân tộc ở Tam Đảo28
Hình 3.2 Biểu đồ so sánh hệ cây thuốc và cây có độc của đồng bào dân tộc ởvùng núi Tam Đảo với đa dạng thực vật ở Tam Đảo 29Hình 3.3 Biểu đồ các họ có nhiều loài cây thuốc của đồng bào dân tộc TamĐảo……… 30Hình 3.4 Biểu đồ các chi có nhiều loài cây thuốc của đồng bào dân tộc TamĐảo 32Hình 3.5 Biểu đồ đa dạng các nhóm bệnh của đồng bào dân tộc vùng núiTam Đảo 35Hình 3.6 Biểu đồ đa dạng trong các bộ phận được sử dụng làm thuốc củađồng bào dân tộc vùng núi Tam Đảo 37Hình 3.7 Biểu đồ đa dạng trong cách thức sử dụng các loài cây thuốc và cây
có độc của đồng bào dân tộc vùng núi Tam Đảo 40Hình 3.8 Biểu đồ cây thuốc và cây có độc của đồng bào dân tộc chữa cácnhóm bệnh khác nhau 41Hình 3.9 Biểu đồ đa dạng trong phương thức sử dụng của dân tộc Sán Dìu ởvùng núi Tam Đảo 46
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một quốc gia ở Đông Nam Châu Á đã có trên 4000 nămlịch sử dựng nước và giữ nước Trong nền văn minh Văn Lang và văn minhĐại Việt, những y lý và y thuật dựa trên nền tảng của lý luận y học PhươngĐông kết hợp với kinh nghiệm sử dụng các nguồn dược liệu phong phú và củacộng đồng 54 dân tộc Trải qua hàng thế kỷ, với sự phát triển mạnh mẽ của yhọc Phương Tây nhưng cộng đồng các dân tộc Việt Nam vẫn biết cách sửdụng và phát triển các phương thuốc cổ truyền của họ, làm cho các loài câythuốc và công dụng của chúng ngày càng có ý nghĩa hơn
Tam Đảo không chỉ được biết đến với những danh lam thắng cảnh nổitiếng, những cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, nơi đây còn lưu giữ nguồn tàinguyên động, thực vật quý giá Các cộng động dân tộc tại đây vẫn lưu truyềncác bài thuốc dân gian từ thế hệ này sang thế hệ khác và một số bài thuốccũng như phương pháp chữa bệnh còn mang nhiều bản sắc riêng Các bàithuốc là sự kết hợp giữa những cây dược liệu được khai thác trong tự nhiênvới kinh nghiệm cha ông truyền lại Ngoài các phương thuốc và cách chữabệnh theo quan niệm của y học truyền thống, cộng đồng các dân tộc nơi đâycòn tìm tòi các cây dược liệu mới để tạo ra các phương thuốc mới
Để phục vụ cho công tác phòng và chữa bệnh, người dân nơi đâythường xuyên thu hái một số lượng lớn các loài cây thuốc từ tự nhiên Do đó,một số loài cây thuốc bị khai thác với khối lượng lớn dẫn đến trữ lượng nguồntài nguyên cây thuốc mọc tự nhiên ở rừng Tam Đảo đã bị giảm sút nghiêmtrọng Nếu không có các chương trình, kế hoạch và phương thức bảo vệ, một
số cây thuốc sẽ bị tuyệt diệt, một số bài thuốc dân gian của cộng đồng dân tộccũng sẽ bị thất truyền Xuất phát từ thực trạng đó chúng tôi tiến hành đề tài
“Đa dạng các loài cây thuốc và các loài cây có độc của cộng đồng các dân
Trang 11tộc thiểu số tại vùng núi Tam Đảo và tìm kiếm các loài có hoạt tính sinh học”.
2 Mục tiêu
- Tìm hiểu sự đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc và cây có độc của đồng bào dân tộc tại vùng núi Tam Đảo
- Tìm kiếm các loài có hoạt tính sinh học tại vùng núi Tam Đảo
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Các loài thực vật bậc cao dùng làm thuốc và cây có độc tại vùng núi Tam Đảo
- Phạm vi nghiên cứu: vùng núi Tam Đảo gồm: Ngọc Thanh - MêLinh - Vĩnh Phúc, Đại Đình - Tam Đảo - Vĩnh Phúc, Quân Chu - Đại Từ -Thái Nguyên
Tiến hành phỏng vấn, điều tra các thầy lang thuộc dân tộc Dao và Sán Dìu sống tại vùng núi Tam Đảo gồm:
Trần Ánh Sáng (dân tộc Sán Dìu): Đại Đình – Tam Đảo – VĩnhPhúc
Hồ Văn Hai (dân tộc Sán Dìu): Đại Đình – Tam Đảo – VĩnhPhúc
Trịnh Văn Sáu (dân tộc Sán Dìu): Ngọc Thanh – Mê Linh – VĩnhPhúc
Đặng Đức Mùi (dân tộc Dao): Quân Chu – Đại Từ – Thái
Nguyên
Dương Trung Quý (dân tộc Dao): Quân Chu – Đại Từ – TháiNguyên
Trang 124 Ý nghĩa phương pháp luận
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU1.1 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.1.1 Sơ lược về đa dạng cây thuốc và cây có độc trên thế giới và trong khu vực
Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), đến năm 1985 trênthế giới đã có khoảng 20.000 loài thực vật được sử dụng trực tiếp làm thuốcchữa bệnh, hoặc được sử dụng làm nguyên liệu để cung cấp các hoạt chất tựnhiên dùng làm thuốc Cho đến nay, số loài cây thuốc được sử dụng trên thếgiới chưa có con số cụ thể, số lượng các loài cây thuốc và cây có độc ước tính
từ 30.000 đến 70.000 loài [7] Nguồn tài nguyên cây thuốc và cây có độc trênthế giới tập trung chủ yếu ở các vùng nhiệt đới, bao gồm lưu vực sôngAmazon của châu Mỹ, khu vực Đông Nam Á, khu vực Ấn Độ - Malaysia, khuvực Tây Phi
Trung Quốc là một trong những quốc gia có nền y học cổ truyền lâu đờinhất trong nền dược học châu Á Khoảng 5000 năm về trước (2.737 TCN -2.697 TCN), dược thảo ở Trung Quốc đã mô tả về giá trị và đặc điểm của hơn
70 loại thảo mộc [50] Trong cuốn sách "Cây thuốc Trung Quốc " xuất bản
năm 1985 đã liệt kê một loạt các loại cây cỏ như Rễ gấc (Momordica
cochinchinensis (Lour.) Spreng.) chữa nhọt độc, viêm tuyến hạch, sưng tấy
đau khớp, sốt rét; Cải soong ( Nasturtium officinale R.Br.) giải nhiệt, chữa lở
mồm, chảy máu chân răng, bướu cổ
Theo “Thần nông bản thảo”, người Trung Quốc cổ đại đã sử dụng 365
vị thuốc và cây thuốc để phòng và chữa bệnh Chính cuốn sách này đã tạo nềntảng cho sự phát triển của nền y học cổ truyền Trung Quốc cho đến ngày nay
Đến thời nhà Hán (năm 168 TCN) trong cuốn sách “Thủ Hậu cấp phương” đã
thống kê 52 đơn thuốc trị bệnh từ các loài cây cỏ [31],[10]
Trang 14Tới giữa thế kỷ XVI, Lý Thời Trân đã thống kê 1.200 vị thuốc trong có
nguồn gốc từ thực vật và động vật trong tập“Bản thảo cương mục” Đến nay,
kinh nghiệm sử dụng các loài cây thuốc của người Trung Quốc được đánh giá
là hàng đầu thế giới Hiện nay, tại Trung Quốc đã thống kê được khoảng trên8.000 loài cây đã được ghi nhận sử dụng làm thuốc và có độc tính [29]
Ấn Độ cũng là quốc gia ở châu Á có nguồn tài nguyên cây thuốc cũngnhư kinh nghiệm sử dụng rất đa dạng Vào khoảng 4500 - 1600 TCN trong
sách Rig - Veda đã có những ghi chép sớm nhất về sử dụng cây thuốc Cho
đến nay, Ấn Độ đã nghiên cứu và sử dụng khoảng 7.500 loài cây thuốc trongđiều trị bệnh trực tiếp hoặc cung cấp nguyên liệu sản xuất thuốc Nền y học cổtruyền Ấn Độ được gọi là Ayurveda có nguồn gốc từ thời cổ xưa
Cách đây 6.000 năm tại Ấn Độ, y học Ayurveda đã sử dụng bột nghệlàm thuốc chữa bệnh [44],[50] Cho đến nay, tại Himalaya có 1.748 loài được
sử dụng như là cây thuốc Hiện nay, lĩnh vực dược liệu ở Ấn Độ sử dụngkhoảng 280 loài cây thuốc, trong đó có 175 loài được tìm thấy ở Himalaya[39]
Tại khu vực Đông Nam Á, Indonesia có khoảng 7.500 loài, Malaysia cókhoảng 2000 loài [7] Trong đó, các quốc gia có số lượng lớn các loài câythuốc được sử dụng phải kể đến là Malaysia, Indonesia, Việt Nam
Ở Đông Nam Á, người Philippin dùng vỏ cây Bồ cu vẽ (Breynia
fruticosa (L) Hook.f.) sắc làm thuốc cầm máu, hoặc tán bột rắc lên mụn nhọt,
vết lở loét làm chúng chóng khỏi [7]
Người Cămpuchia, Malaysia, dùng cây Hương nhu tía (Ocimun
sanctum L.) trị đau bụng, sốt rét, nước lá tươi trị long đờm hoặc giã nát đắp trị
bệnh ngoài da, khớp [17]
Trang 15Hàn Quốc đã phát hiện 200 loài thuộc 168 chi, 87 họ được người dân
sử dụng để điều trị các bệnh khác nhau như: rối loạn cơ xương, đau nhức, rốiloạn hệ hô hấp, bệnh gan và các vết thương [48]
Không chỉ ở châu Á mà việc sử dụng cây cỏ làm thuốc cũng xuấthiện ở châu Âu từ lâu đời Năm 384 - 322 (TCN), Aristote người Hy Lạp đãghi chép và lưu giữ sớm nhất về kiến thức cây cỏ ở nước này Sau đó, năm
340 (TCN) Theophraste với tác phẩm "Lịch sử thực vật" đã giới thiệu gần
480 loài cây cỏ và công dụng của chúng [8]
Nghiên cứu về cây thuốc ở Serra de São Mamede, Bồ Đào Nha đãcung cấp thông tin của 165 loài thực vật làm thuốc [39] Đã có trên 518 loàithực vật thuộc 335 chi và 80 họ được người dân sử dụng để điều trị cácbệnh khác nhau ở khu vực Alps Empordaf, Catalonia, bán đảo Iberia [45]
Năm 1952, tác giả người Pháp A.Pétélot có công trình "Les phantes
de médicinales du Cambodye, du Laos et du Viet nam" gồm 4 tập nghiêncứu về cây thuốc và sản phẩm làm thuốc từ thực vật ở Đông Dương [46]
Ở Châu Phi, việc sử dụng các cây thuốc trong việc điều trị bệnh cũng
có từ rất sớm Khoảng 1500 năm TCN, dân tộc Ebers đã ghi lại hơn 870 toathuốc, 700 loại thảo dược và các chứng bệnh [3] Đến năm 800 TCN, trongthiên sử thi Iliad và Odyssey của Homer có 63 loài thực vật từ Minoan,Mycenae và Assyrian ở Ai Cập đã được giới thiệu [43] Hiện nay, cộng đồngdân tộc Mt Nyiru, Nam Turkana, Kenya đã ghi nhận 448 loài cây thuốc đượcngười dân sử dụng để điều trị nhiều loại bệnh [40] Kết quả điều tra cây thuốc
ở Babungo, phía Bắc Cameroon đã ghi nhận 107 loài thực vật thuộc 98 chi và
54 họ được người dân địa phương sử dụng [25]
Theo một hướng khác, nghiên cứu cây thuốc trên thế giới được tập trung theo các mục đích ứng dụng cụ thể Nhiều công trình theo hướng này đã
Trang 16được công bố trong những năm gần đây: các loài cây thuốc chữa bệnh ungthư, các loài cây thuốc chữa bệnh tiểu đường, v.v Tài nguyên thực vật làđối tượng quan trọng để sàng lọc tìm ra các thuốc mới Viện Ung thư Quốcgia Mỹ đã sàng lọc đến trên 35.000 trong số trên 250.000 loài thực vật đã biếttrên khắp thế giới để tìm và đã phát hiện hàng trăm cây thuốc có khả năngchữa trị bệnh ung thư, 25% đơn thuốc ở Mỹ có sử dụng chế phẩm có dượctính mạnh có nguồn gốc từ thực vật [31], [32].
Theo Fujiki (Nhật Bản) cùng các nhà khoa học ở Viện Hàn lâm Hoàng
gia Anh thì Chè xanh (Thea sinensis L.) còn ngăn chặn sự phát triển các loại
ung thư gan, dạ dày nhờ chất Gallat epigallocatechine
Theo Anon (1982) trong vòng gần 200 năm trở lại đây đã có ít nhất
121 hợp chất hóa học tự nhiên đã nắm được cấu trúc, thành phần hóa họcđược chiết từ các cây cỏ với mục đích làm thuốc từ đó tổng hợp nên các loại
thuốc chữa bệnh rất hiệu quả Như từ cây Lô hội (Aloe vera L.) theo Gotthall
(1950) đã phân lập được chất Glycosid barbaloin có tác dụng với vi khuẩn lao
và tác dụng với vi khuẩn Baccillus subtilis.
Người ta cũng đã chiết xuất được Berberin từ cây Hoàng Liên (Coptis
chinensis Franch.) Theo Gilliver (1946) thì Berberin có tác dụng kiềm chế
một số giống vi khuẩn làm hại cây cối Theo Schlederre (1962) thì nó có thểchữa khỏi bệnh Bouton d’orient Lebedev thì nhận thấy Berberin có tác dụngđối với tụ cầu, liên cầu, thương hàn, trực khuẩn lao, trực khuẩn ho gà [20]
Tokin, Klein, Penneys đã chứng minh rằng hầu hết cây cỏ đều có tínhkháng sinh, đó là một trong các yếu tố miễn dịch tự nhiên Tác dụng khángkhuẩn đó là do các hợp chất tự nhiên như: Phenolic, antoxyan, các dẫn chấtquinon, alkaloid, heterosid, flavonoid, saponin [20]
Trang 171.1.2 Sơ lược tình hình nghiên cứu đa dạng cây thuốc và cây có độc ở trong nước
1.1.2.1 Tình hình điều tra, thống kê nguồn tài nguyên cây dược liệu ở Việt Nam
Việt Nam là quốc gia nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có địahình và thổ nhưỡng rất đa dạng, có hệ thực vật rất phong phú và đa dạng, làmột trong những trung tâm đa dạng sinh vật có tính đa dạng sinh học cao trênthế giới Theo các tài liệu đã công bố gần đây, Việt Nam có khoảng trên15.000 loài thực vật, trong đó ngành Tảo có khoảng gần 2200 loài, ngành Rêukhoảng 480 loài, ngành Khuyết lá thông 1 loài, ngành Thông đất 55 loài,ngành Cỏ tháp bút 2 loài, ngành Dương xỉ khoảng gần 700 loài, ngành Hạttrần 70 loài và ngành Hạt kín khoảng trên 12.000 loài Trong đó, có rất nhiềuloài đã và đang có triển vọng được sử dụng làm thuốc
Thời Hùng Vương (2900 năm TCN), tổ tiên ta đã biết dùng cây cỏ đểlàm gia vị, kích thích sự ngon miệng và chữa bệnh Thế kỷ XI (TCN), nhândân ta có tục ăn trầu cho ấm người, thơm miệng, uống nước chè xanh chomát, nụ vối cho dễ tiêu Theo Long Úy chép lại, vào đầu thế kỷ thứ II có hàng
trăm vị thuốc từ đất Giao Chỉ như: Ý dĩ (Coix lachrymal-jobi L.), Hoắc hương (Pogostemon cablin Benth.) [11].
Đời nhà Lý (1010 – 1224) nhà sư Nguyễn Minh Không tức NguyễnChí Thành đã dùng nhiều loại cây cỏ chữa bệnh nên được phong tấn “Quốcsư” triều Lý Nhà Lý đặt quan hệ với Tống Huy Tông (Trung Quốc) trao đổithuốc Nam lấy thuốc Bắc [10]
Đời nhà Trần (1225- 1399) Việt Nam đã có nhiều danh y nghiên cứu,thống kê về các loài cây thuốc Đáng chú ý nhất là Tuệ Tĩnh, tên thực là
Nguyễn Bá Tĩnh (vào thế kỷ XIV) đã biên soạn bộ “Nam dược thần hiệu”
gồm 11 quyển với 499 vị thuốc nam, trong đó có 241 vị thuốc có nguồn gốc
Trang 18thực vật [10] Ông đã để lại cho đời sau nhiều bộ sách y thư quý giá như: “TuệTĩnh y thư”, “ Hồng Nghĩa Giác Tư Y” với 2 bài Hán - Nôm, trong đó tóm tắt
của 130 loài cây thuốc cùng cách trị 37 chứng sốt khác nhau (Thương hàn
tam thấp trùng pháp) [9].
Thế kỷ XVIII, Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (1729 - 1791) đãthừa kế dược học của Tuệ Tĩnh chép vào tập "Lĩnh Nam bản thảo", nội dunggồm 499 vị thuốc Nam của "Nam dược thần hiệu" và phát hiện thêm hơn
300 vị nữa Tư liệu vĩ đại nhất của ông là bộ sách: "Hải Thượng y tông tâmlĩnh" gồm 66 quyển viết về lý luận cơ bản, phương pháp chẩn đoán, trịbệnh Ông được mệnh danh là người sáng lập ra nghề thuốc Việt Nam [9]
Triều Tây Sơn (1788 - 1808) Nguyễn Hoành đã để lại tập "Namdược" với 620 vị thuốc, với các phương thuốc kinh nghiệm gia truyền [10]
Năm 1858, Trần Nguyên Phương với “Nam bang thảo mộc” đã kể tên và
mô tả công dụng của trên 100 loài cây thuốc [11]
Nhưng các nghiên cứu về các loài cây thuốc ở Việt Nam thực sự cónhiều ghi nhận từ sau cuộc kháng chiến chống Pháp Trong số các công trình
đã được công bố đáng chú ý là bộ sách “Dược liệu học và các vị thuốc Việt
Nam”, gồm 3 tập do Đỗ Tất Lợi biên soạn năm 1957, năm 1961 tái bản in
thành 2 tập Trong đó tác giả mô tả và nêu công dụng của hơn 100 cây thuốc
Nam Từ 1962 - 1965 Đỗ Tất Lợi lại cho xuất bản bộ “Những cây thuốc và vị
thuốc Việt Nam” gồm 6 tập Lần tái bản thứ 7 (1995) số loài cây thuốc được
nghiên cứu đã lên tới 792 loài và gần đây nhất là lần tái bản thứ 13, năm 2005[18]
Năm 1980, Đỗ Huy Bích, Bùi Xuân Chương đã giới thiệu 519 loài cây
thuốc, trong đó có 150 loài mới phát hiện trong“Sổ tay cây thuốc Việt
Nam”, [2].
Trần Đình Lý (1995) đã xuất bản "1900 loài cây có ích" cho biết trong số
Trang 19các loài thực vật bậc cao có mạch đã biết ở Việt Nam, có 76 loài cho nhựathơm, 160 loài có tinh dầu, 260 loài cho dầu béo, 600 loài chứa tanin, 50 loàicây gỗ có giá trị, 40 loài tre nứa, 40 loài song mây [19].
Võ Văn Chi (1996) với bộ sách "Từ điển cây thuốc Việt Nam" đã giớithiệu 3.200 loài cây mọc hoang và trồng ở Việt Nam Tác giả đã mô tả kháchi tiết từng loài, bộ phận dùng, nơi sống và thu hái, tính vị, công dụng củachúng Ngoài ra, sách còn có hình vẽ và ảnh chụp một số loài cây nên thuậnlợi cho việc tra cứu [6]
Năm 2006, trong cuốn “Cây có vị thuốc ở Việt Nam” Phạm Hoàng Hộ
đã thống kê được 2.000 loài có giá trị làm thuốc, ở đây tác giả chỉ mô tả sơlược đặc điểm nhận dạng và giá trị sử dụng của chúng [12] Năm 2007 trong
công trình “Cẩm nang cây thuốc cần được bảo vệ ở Việt Nam” Nguyễn Tập đã
giới thiệu 144 loài cây thuốc nguy cấp ở Việt Nam [23]
Tác giả Tào Duy Cần, Trần Sĩ Viên đưa ra “Cây thuốc vị thuốc và bài
thuốc Việt Nam” (2007) gồm trên 500 vị thuốc Nam – thuốc Bắc thường dùng
(vốn là những thảo mộc dễ kiếm, sống ở nước ta) được mô tả, xác định vùngphân bố, bộ phận dùng và tác dụng của thuốc ngoài ra còn kèm theo cácphương thuốc trị bệnh theo y học cổ truyền [4]
Cuối năm 2016, Viện Dược liệu đã xuất bản cuốn “Danh lục cây thuốcViệt Nam” giới thiệu 5.117 loài có công dụng làm thuốc ở nước ta Trongcuốn sách cũng chỉ ra rằng, nguồn cây thuốc mọc tự nhiên không chỉ đa dạng
về số lượng loài mà còn phong phú cả về khả năng khai thác, phân bố địa lýcũng như giá trị khai thác [35]
Từ năm 2000 đến nay, các nhà nghiên cứu của Viện Sinh thái và Tàinguyên sinh vật đã thu thập, nghiên cứu và công bố một số tài liệu liên quantới cây thuốc Đáng chú ý tập sách “Tài nguyên thực vật có tinh dầu ở ViệtNam” của tác giả Lã Đình Mỡi và cộng sự (2001; 2002), các tác giả đã đề cập
Trang 20đến giá trị sử dụng làm thuốc của nhiều loài thực vật có tinh dầu ở Việt Nam[21].
Bên cạnh đó, nhiều đề tài nghiên cứu được Viện Sinh thái và Tàinguyên sinh vật thực hiện điều tra về cây thuốc như: Nguyễn Văn Dư (2015)
đã ghi nhận ở khu vực Tây Nguyên có 1.633 loài cây được dùng làm thuốc và
363 bài thuốc [36]; Lê Thanh Hương (2015) đã ghi nhận 745 loài cây làmthuốc tại tỉnh Thái Nguyên [13]
1.1.2.2 Những nghiên cứu, đánh giá về giá trị sử dụng và giá trị kinh tế của nguồn tài nguyên cây thuốc
Việt Nam là ngôi nhà chung của cộng đồng 54 dân tộc, trong đó ngườiKinh (Việt) có tỷ lệ dân số lớn nhất, chủ yếu phân bố ở các vùng châu thổ.Các dân tộc còn lại chủ yếu phân bố ở các khu vực đồi núi, sinh sống dọc venbiển miền Trung và Tây Nguyên Mỗi dân tộc có tập quán, niềm tin, tri thức
và kinh nghiệm sử dụng cây cỏ làm thuốc khác nhau Điều này dẫn đến sự đadạng về tri thức sử dụng cây thuốc ở Việt Nam [15]
Số liệu thống kê của ngành Y tế (giai đoạn trước 2010), mỗi năm ở ViệtNam tiêu thụ từ 30.000 - 50.000 tấn các loại dược liệu khác nhau Trên 2/3khối lượng này được khai thác từ nguồn cây thuốc mọc tự nhiên và trồng trọttrong nước Riêng từ nguồn cây thuốc tự nhiên đã cung cấp tới trên 20.000 tấnmỗi năm Tuy vậy, khối lượng dược liệu này trên thực tế mới chỉ bao gồm từ
200 loài được khai thác và đưa vào thương mại có tính phổ biến hiện nay Bêncạnh đó, còn nhiều loài cây thuốc khác vẫn được thu hái sử dụng tại chỗ trongcộng đồng, hiện chưa có con số thống kê cụ thể, v.v
Mặt khác, nghiên cứu về giá trị kinh tế của cây thuốc ở Việt Nam (trước2010), cho thấy dược liệu để xuất khẩu mỗi năm từ 5.000 đến gần 10.000 tấn,với giá trị khoảng 15 triệu USD, v.v Việt Nam còn xuất khẩu một số bánthành phẩm thuốc dưới dạng hoạt chất như: Berberin, palmatin, rotundin,
Trang 21rutin,… Một số doanh nghiệp đã xuất khẩu được thuốc hoạt chất như:Artemisinin, Artesunat,… và nhiều dạng thuốc Đông dược khác Nhu cầudược liệu cho khối công nghiệp dược khoảng 20.000 tấn/năm và cho xuấtkhẩu khoảng 10.000 tấn/năm Theo số liệu năm 1998, Tổng Công ty DượcViệt Nam đã xuất khẩu được 13 triệu USD, trong đó dược liệu, tinh dầu vàcác hoạt chất từ cây thuốc chiếm 74% Tiềm năng xuất khẩu dược liệu có thểđạt 40 - 50 triệu USD.
1.1.2.3 Tình hình nghiên cứu kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của đồng
bào các dân tộc Việt Nam
Trong những năm gần đây, có rất nhiều công trình mới nghiên cứu vềcây thuốc và được đúc rút thành những cuốn sách có giá trị Tuy nhiên, cáccông trình nghiên cứu về y học cổ truyền bản địa của các dân tộc thiểu số ởViệt Nam còn ít đề cập đến
Năm 1994, Lê Nguyên Khanh và Trần Thiện Quyền đã xuất bản cuốn
"Những bài thuốc kinh nghiệm bí truyền của các ông lang bà mế miền núi"[14]
Dự án Bảo tồn cây thuốc cổ truyền hoạt động từ năm 1997 đã tiến hànhđiều tra, khảo sát thu thập các loài cây thuốc và bài thuốc của cộng đồng dântộc ở nhiều vùng trên cả nước Người Dao ở VQG Ba Vì với 579 loài và 125bài thuốc; người Mường ở xã Cẩm Liên, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóavới 136 loài và 102 bài thuốc…[34]
Năm 2001, Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự trong công trình “Thực vật
học dân tộc - Cây thuốc của đồng bào Thái Con Cuông Nghệ An” đã thống kê
được 551 loài, 364 chi, 120 họ thực vật có giá trị làm thuốc, đặc biệt là trongnghiên cứu này nhóm tác giả đã đưa ra công dụng cụ thể của từng loài theocách sử dụng của người dân địa phương [26]
Trang 22Đặng Quang Châu (2001) đã công bố một số dẫn liệu về cây thuốccủa dân tộc Thái ở huyện Nghĩa Đàn (Nghệ An) gồm 177 loài, thuộc 149chi, thuộc 71 họ khác nhau [5].
Gần đây, năm 2003, Trần Văn Ơn trong luận án Tiến sĩ dược học
"Góp phần nghiên cứu bảo tồn cây thuốc ở Vườn Quốc gia Ba Vì", tác giả
đã điều tra được 503 loài cây thuốc được người Dao sử dụng thuộc 321 chi,
118 họ của 5 ngành thực vật [22]
Nguyễn Thị Thuỷ, Lưu Đàm Cư, Phạm Văn Thính, Bùi Văn Thanh(2005), khi nghiên cứu việc thu hái và sử dụng cây thuốc của đồng bào dântộc Tày khu vực Việt Lâm (Vị Xuyên, Hà Giang) đã cho biết: Có hơn 400 loàicây thuốc thường xuyên bị thu hái thuộc 104 họ thực vật [28]
Nguyễn Thị Phương Thảo, Nguyễn Thị Thuỷ, Phạm Văn Thính (2005),
đã điều tra các nhóm cây có ích trong cộng đồng dân tộc Mường và Dao tại xãChiềng Yên (Mộc Châu, Sơn La), cho biết: Người Mường đã khai thác và sửdụng thường xuyên 12 nhóm cây tài nguyên, trong đó nhóm cây thuốc gồm
198 loài… Người Dao thường xuyên khai thác và sử dụng 165 loài cây thuốc,bao gồm 22 loài cây rau ăn, 10 loài cây ăn quả, 9 loài cây lấy gỗ, 5 loài câyđộc…[25]
Bên cạnh đó, nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học vềnguồn tài nguyên cây thuốc của cộng đồng dân tộc trên khắp cả nước đã gópphần làm phong phú kho tàng tri thức y học dân tộc Kết quả điều tra kinhnghiệm sử dụng cây thuốc của đồng bào Dao tại vùng đệm VQG Ba Vì đã xácđịnh được 503 loài Tiến hành điều tra về tri thức sử dụng các loài cây thuốccủa cộng đồng dân tộc Cơ Tu và Vân Kiều tại vùng đệm VQG Bạch Mã, cácnhà khoa học đã chỉ ra người Cơ Tu sử dụng 249 loài cây thuốc thuộc 82 họ;người Vân Kiều sử dụng 27 loài thuộc 21 họ thực vật [1]
Trang 23Khi tìm hiểu về tri thức bản địa trong việc sử dụng tài nguyên câythuốc của cộng đồng tại VQG Phong Nha - Kẻ Bàng, Quảng Bình đã chỉ rađược 342 loài thuộc 104 họ thực vật được biết đến để chữa các loại bệnh khácnhau [16].
1.2 Điều kiện tự nhiên VQG Tam Đảo
1.2.1 Địa hình, địa chất thổ nhưỡng
a Địa hình
Địa hình Tam Đảo có đặc điểm là đỉnh nhọn, sườn rất dốc, độ chia cắtsâu, dày bởi nhiều dông phụ gần như vuông góc với dông chính Phía ĐôngBắc các suối chính đều chảy về sông Công tạo nên vùng bồn địa Đại Từ PhíaTây Nam, các lưu vực suối đều đổ về sông Phó Đáy,
Dãy núi Tam Đảo có trên 20 đỉnh núi được nối với nhau bằng đườngdông sắc, nhọn tạo nên một bức bình phong chắn gió mùa Đông Bắc cho vùngđồng bằng Các đỉnh có độ cao trên dưới 1.000 m Đỉnh cao nhất là Tam ĐảoBắc (Tam Đảo North - ranh giới giữa 3 tỉnh) cao 1.592m Ba đỉnh núi nổitiếng của Tam Đảo là Thiên Thị (1.375m), Thạch Bàn (1.388 m), và PhùNghĩa (1.300 m) Chiều ngang của khối núi rộng 10 - 15 km, sườn rất dốc vàchia cắt mạnh Độ dốc bình quân từ 16 - 350, nhiều nơi độ dốc trên 350 Độcao của núi giảm nhanh về phía Đông Bắc xuống lòng chảo Đại Từ tạo nênnhững mái dông đứng Hướng Đông Nam có xu hướng giảm dần đến giáp địaphận Hà Nội,
b Địa chất và thổ nhưỡng
Có 4 loại đất chính ở Tam Đảo đã được phát hiện là :
+ Đất Feralit mùn vàng nhạt phân bố ở độ cao trên 700 m
+ Đất Feralit mùn, vàng đỏ phân bố xung quanh sườn núi Tam Đảo ở
độ cao từ 400 - 700 m
Trang 24+ Đất Feralit đỏ vàng phát triển trên nhiều loại đá khác nhau như đá Shale, Mica, Phillite và đá Cát Phân bố trên các đồi cao từ 100 - 400 m.
+ Đất phù sa và dốc tụ phân bố ven chân núi và thung lũng hẹp giữa núi
và ven sông suối lớn Thành phần cơ giới của loại đất này là trung bình, tầngdày, độ ẩm cao, màu mỡ đã được khai phá trồng lúa và hoa màu
1.2.2 Khí hậu thuỷ văn
a Khí hậu
Tam Đảo nằm trong vùng khí hậu ẩm nhiệt đới mưa mùa vùng núi.Điều kiện khí tượng thuỷ văn ở mỗi vùng khác nhau Có thể coi trạm khítượng Tuyên Quang và Vĩnh Yên đặc trưng cho khí hậu sườn phía Tây TrạmĐại Từ đặc trưng cho khí hậu sườn phía Đông Trạm thị trấn Tam Đảo ở độcao 900 m đặc trưng cho khí hậu vùng cao và khu nghỉ mát
Bảng 1.1 Khí hậu vùng Tam Đảo
Nhiệt độ bình quân năm (0c) 22,9 22,9 23,7 18,0
Lượng mưa bình quân năm (mm) 1641,4 1906,2 1603,5 2630,3
Trang 25b Thuỷ văn
Trong khu vực có hai hệ thống sông chính là sông Phó Đáy ở phía Tây
và sông Công ở phía Đông Đường phân thuỷ của hai hệ thống sông trênchính là dông núi Tam Đảo chạy từ Đèo Khế (Sơn Dương) đến Mỹ Khê (BìnhXuyên)
Mạng lưới sông suối hai sườn Tam Đảo dồn xuống 2 sông chính nhưchân rết khá dày và ngắn, có cấu trúc dốc và hẹp lòng từ đỉnh xuống chân núi,lưu lượng nước lớn Khi xuống tới các chân núi, suối thường chảy dọc theocác chân thung lũng dài và hẹp trước khi đổ ra vùng đồi và vùng đồng bằng
Sông suối trong vùng không có khả năng vận chuyển thuỷ, chỉ có khảnăng làm thuỷ điện nhỏ Việc đắp đập tạo hồ có thể thực hiện được ở nhiềunơi quanh chân núi để tích nước phục vụ sản xuất
1.2.3 Tài nguyên thiên nhiên
a Hệ thực vật rừng Tam Đảo
Nhìn chung hệ thực vật Tam Đảo khá phong phú, được phân bố trênnhiều kiểu sinh cảnh khác nhau Đến nay, thống kê sơ bộ hệ thực vật rừngTam Đảo (chỉ tính thực vật bậc cao có mạch) có 1.297 loài thuộc 478 chi của
213 họ, trong đó có 375 loài cây thuốc Trong số này, nhiều loài cây thuốcmang nguồn gen quí hiếm và nguy cấp được sách đỏ Việt Nam ghi nhận, cần
ưu tiên trong bảo tồn,
b Hệ động vật rừng Tam Đảo
Trong khu vực Tam Đảo đến nay đã phát hiện được 840 loài động vậtbao gồm 64 loài thú, 240 loài chim, 75 loài bò sát, 28 loài ếch nhái và 434 loàicôn trùng Trong đó có 39 loài và phân loài đặc hữu,
Trang 261.2.4 Điều kiện kinh tế xã hội
Tam Đảo có diện tích tự nhiên là 23.475.95 ha, dân số trên 78.000người, trong đó 44.5% là đồng bào dân tộc thiểu số (chủ yếu là dân tộc SánDìu), Mán, Nùng, Dao Dân số trong độ tuổi lao động là 37.754 người Tỷ lệlao động được đào tạo, bồi dưỡng nghề tăng từ dưới 30% (năm 2010), lên48% (năm 2015) Tổng số lao động làm việc trong các cơ sở du lịch đến nay
là 7.173 người Hiện nay, trên địa bàn huyện có 136 doanh nghiệp, hợp tác xãđang hoạt động Trong đó 15 doanh nghiệp, hợp tác xã đăng ký kinh doanh dulịch, dịch vụ
Tam Đảo có hệ thống di sản văn hóa vật thể; hệ thống di tích thờ Thần,thờ Phật phong phú và đa dạng, phân bổ ở hầu khắp các địa phương Một số
di tích nổi tiếng như: Đền thờ Quốc Mẫu Tây Thiên, Đền Chân Suối, Đền BàChúa Thượng Ngàn, Đền thờ Đức Thánh Trần, Thiền viện Trúc Lâm TâyThiên, Đại Bảo tháp Tây Thiên tạo nên quần thể kién trúc tôn giáo và tâmlinh huyền ảo trong dãy núi Tam Đảo hùng vĩ
Những năm qua du lịch của Tam Đảo có bước phát triển khá, hạ tầng dulịch được đầu tư đồng bộ tạo động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội của huyệntăng trưởng ổn định và đạt nhiều kết quả quan trọng trên tất cả các lĩnh vực.Công tác quy hoạch và đầu tư hạ tầng được quan tâm Lĩnh vực giáo dục đàotạo, dân số, việc làm và giảm nghèo, y tế và chăm sóc sức khoẻ cho nhân dânđược cải thiện, các hoạt động văn hóa xã hội đạt được kết quả tốt Toàn huyện
có 104 khách sạn, nhà nghỉ và 01 khu Resort với 1800 phòng, hàng năm đón1.700.000 lượt khách Kết quả quý I/2017, đã đón trên 1.310.000 lượt dukhách đến thăm quan, hành hương vãn cảnh, bằng 103% so với cùng kỳ, trong
đó thị trấn Tam Đảo đón khoảng 60.000 lượt khách tăng 23% so với cùng kỳnăm 2016 Khu danh thắng Tây Thiên số lượng khách đón trên 1.250.000lượt
Trang 271.3 Tình hình nghiên cứu về tài nguyên cây thuốc và cây có độc tại vùng núiTam Đảo
Mặc dù, vùng núi Tam Đảo được đánh giá là kho tài nguyên quý giá,nơi lưu giữ sự đa dạng sinh học cao với rất nhiều loài động, thực vật đặc hữu,quý hiếm Tuy nhiên, đến nay các công trình nghiên cứu về tài nguyên câythuốc ở khu vực này còn hạn chế, chỉ mới tập trung chủ yếu trong phạm viVQG Tam Đảo
Năm 1993, trong Luận chứng kinh tế - kỹ thuật VQG Tam Đảo, ViệnĐiều tra Quy hoạch Rừng đã tiến hành điều tra về điều kiện tự nhiên, thảmthực vật, hệ động - thực vật tại khu vực quy hoạch VQG, trong đó có nêu tên
và công dụng của 118 loài cây thuốc
Năm 2000, Trần Công Khánh và cộng sự, đã điều tra về tài nguyên cây
có ích ở 4 xã: Đại Đình, Minh Quang, thị trấn Tam Đảo (huyện Tam Đảo) vàQuân Chu (huyện Đại Từ) Kết quả đã ghi nhận 613 loài thực vật trong đó đãđịnh được tên 469 loài, thuộc 308 chi, trong 121 họ Trong đó có ghi nhận 361loài dùng làm thuốc
Năm 2000, Nguyễn Tập và cộng sự đã nghiên cứu về nguồn tài nguyêncây thuốc của VQG Tam Đảo, ghi nhận có 375 loài thực vật có giá trị làmthuốc, 289 chi, 116 họ
Năm 2004, Trần Huy Thái và cộng sự trong Báo cáo Khoa học Hội nghịtoàn quốc "Bước đầu nghiên cứu về hoạt tính sinh học của một số loài thựcvật tại Trạm ĐDSH Mê Linh" đã cho thấy, trong số 74 loài thực vật được thử
có 46 loài kháng vi sinh vật Bao gồm 30 loài có hoạt tính kháng vi khuẩnGr(-); gồm 37 loài có hoạt tính kháng vi khuẩn Gr(+); 11 loài có hoạt tínhkháng nấm mốc; 13 loài có hoạt tính kháng nấm men [24]
Trong báo cáo kết quả đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ cấp viện
khoa học và công nghệ Việt nam, đề tài “ Nghiên cứu phục hồi, bảo tồn và
Trang 28phát triển Đa dạng thực vật (nguyên vị và chuyển vị) tại Trạm Đa dạng sinh học Mê linh – Vĩnh Phúc” giai đoạn 2001 - 2009 do GS TSKH Nguyễn Tiến
Bân chủ nhiệm đề tài và các cộng sự đã tiến hành bảo tồn 75 loài cây (trong
đó có nhiều loài cây làm thuốc) có nguồn gốc tại khu vực Trạm Đa dạng sinhhọc Mê Linh và vùng phụ cận được trồng tại vườn cây thuốc và 80 loài câyđược sưu tầm từ những vùng sinh thái khác đưa vào trồng tại vườn cây thuốccủa Trạm Đa dạng Sinh học có tính thích nghi cao với điều kiện sống ở đây,cây đạt tỷ lệ sống khá cao, sinh trưởng và phát triển bình thường [37]
Đề tài cũng đã thống kê được 635 loài được sử dụng làm thuốc, 174 loàithuộc dạng cây gỗ, 73 loài làm rau ăn, 70 loài cho quả hạt ăn được, 62 loàilàm cảnh, 30 loài cho tinh dầu, một số loài cho đan lát, Đã đưa vào trồng tạiTrạm Đa dạng sinh học Mê Linh 45 loài, trong đó gần 30 loài là những câybản địa trước đây đã có trong khu vực nay đã bị mất hoặc trở thành khanhiếm
Kết thúc đề tài đã tiến hành điều tra hiện trạng hệ thực vật Trạm đa dạngsinh học Mê Linh kết quả thu được là 171 họ, 651 chi, với 1165 loài, nếu tính
cả số loài được đưa vào trồng thì số loài hiện có trong khu vực trạm là 1226loài Thống kê được 766 loài có giá trị sử dụng Trong đó có 618 loài làmthuốc; 162 loài cho gỗ; 71 loài làm rau ăn; 66 loài cho quả và hạt ăn được; 52loài được dùng làm cảnh; 28 loài cho dầu và tinh dầu; 14 loài dùng đan lát …
Đã đưa vào trồng tại Trạm đa dạng sinh học Mê Linh 88 loài thuộc 65 chi, 31
họ thực vật Trong số 88 loài có 27 loài trước đây vốn có ở Mê Linh, nay đãmất hay rất hiếm, 61 loài di nhập chuyển vị từ các vùng khác đến nhằm bổsung và tăng cường tính đa dạng thực vật cho trạm [37]
Năm 2012, Đỗ Văn Tuân đã xác định được nguồn tài nguyên cây thuốccủa VQG Tam Đảo (bao gồm vùng lõi và vùng đệm), có 895 loài cây thuốcthuộc 612 chi của 177 họ, trong 5 ngành thực vật [30]
Trang 291.4 Sơ lược về nghiên cứu hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định và chống ôxihóa trên hệ 2,2-diphenyl-1-picrylhydrazyl (DPPH).
Việc nghiên cứu khả năng kháng các chủng vi sinh vật kiểm định sẽ có ýnghĩa quan trọng trong việc định hướng nghiên cứu tạo các thuốc kháng sinhthế hệ mới Đặc biệt với một số chủng vi sinh vật có phổ gây bệnh rộng mà lại
có khả năng kháng cao các loại kháng sinh hiện đang sử dụng Trực khuẩn mủ
xanh (Pseudomonas aeruginosa) thuộc dạng vi khuẩn Gram (-), hiếu khí, có
thể gây bệnh cơ hội cho người, đặc biệt là những người có vấn đề về hệ thống
miễn dịch Đây là loài điển hình nhất của chi Pseudomonas và cũng là loài vi
khuẩn được xác định là nguyên nhân chủ yếu (khoảng 10%) gây lên các cabệnh nhiễm trùng được ghi nhận trong các bệnh viện (hầu hết các ca nhiễmtrùng khi bị bỏng là do vi khuẩn này) Chúng nhiễm vào những người bị suygiảm miễn dịch hay bị bỏng, bị thương và những người phải sử dụng ống
thông hay máy hô hấp nhân tạo Nhiễm khuẩn Pseudomonas có thể dẫn tới
nhiễm trùng đường tiết niệu, nhiễm trùng máu, viêm phổi, viêm họng và
nhiều bệnh khác Tụ cầu khuẩn - Staphylococcus aureus có tỉ lệ gây bệnh rất
cao, có khả năng gây nhiều bệnh nặng cũng như kháng kháng sinh rất mạnh[42] Trên phương diện gây bệnh, tụ cầu khuẩn được chia thành hai nhóm
chính: tụ cầu có men coagulase (gồm S aureus và S intermedius) và tụ cầu
không có men coagulase Tụ cầu có men coagulase gây nên nhiều bệnh lýkhác nhau như các bệnh nhiễm trùng khu trú tại da và niêm mạc, nhiễm trùngcác cơ quan sâu, viêm da bọng nước, hội chứng sốc nhiễm độc, hội chứngThukydides, ngộ độc thực phẩm
Khoảng vài thập niên trở lại đây, các thành tựu khoa học đã chứng tỏ rằngôxi vào cơ thể tham gia nhiều quá trình sinh hóa học Trong các quá trình đó,ôxi tạo ra những tiểu phần trung gian gọi là gốc tự do Tên chung các gốc làcác dạng ôxi hoạt động Trong cơ thể luôn tồn tại sự cân bằng giữa các dạngôxi hoạt động và các dạng chống ôxi hóa Do ảnh hưởng của nhiều yếu tố tác
Trang 30động từ bên ngoài hay bên trong cơ thể, làm cho cân bằng này di chuyển theohướng gia tăng các dạng ôxi hoạt động Trạng thái sinh lý này được gọi làstress ôxi hóa Stress ôxi hoá là nguyên nhân khởi điểm phát sinh ra nhiềubệnh như: ung thư, đục thuỷ tinh thể, teo cơ, gia tăng lão hoá…Do đó, việctìm kiếm các hợp chất tự nhiên có khả năng thu dọn các gốc tự do có ý nghĩarất lớn trong việc nghiên cứu các dược liệu có tác dụng ngăn ngừa và điều trịstress ôxi hóa và các bệnh lý liên quan [44].
Trang 31CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Nội dung nghiên cứu
Nội dung 1: Điều tra, khảo sát, xác định thành phần loài cây thuốc và cây có độc của cộng đồng các dân tộc tại vùng núi Tam Đảo.
a Tổng hợp các tài liệu, dữ liệu liên quan đến đa dạng cây thuốc và cây
có độc của cộng đồng các dân tộc tại vùng núi Tam Đảo
b Điều tra, khảo sát thực địa thu mẫu vật Xử lý mẫu trong phòng thí nghiệm
c Xác định tên khoa học của các mẫu thu được Tìm hiểu thông tin thực vật và giá trị làm thuốc của các loài
d Đánh giá đa dạng cây thuốc và cây có độc của cộng đồng các dân tộc tại vùng núi Tam Đảo
Nội dung 2: Thử hoạt tính sinh học (kháng VSVKĐ, chống oxy hóa ) cho một
số loài thực vật có tiềm năng và đặc trưng.
a Điều tra, thu mẫu cho việc thử hoạt tính sinh học
b Xử lý mẫu, thử hoạt tích sinh học của dịch chiết và các chất sạch từ các mẫu nghiên cứu
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp kế thừa:
Kế thừa các kết quả nghiên cứu có liên quan đến nội dung thực hiện của
đề tài
Phương pháp điều tra thực vật học dân tộc theo Gary J Martin, 2002, Thực
vật học dân tộc, NXB Nông nghiệp ( Bản dịch của Trần Văn Ơn và cộng sự)
Trang 32Điều tra thành phần các loài cây thuốc và cây có độc
Thực hiện phương pháp điều tra theo tuyến và ô tiêu chuẩn được lựachọn để thực hiện điều tra thành phần loài cũng như trạng thái các kiểu thảmthực vật nơi có các loài cây thuốc sinh sống Các tuyến điều tra được thựchiện, vị trí cũng như kích thước tuyến phụ thuộc vào địa điểm và địa hình.Tuyến đảm bảo đi qua nhiều kiểu địa hình và kiểu thảm thực vật khác nhau(các cơ sở trồng và chế biến dược liệu, quanh làng bản, ven suối, trảng cỏ,rừng trồng, rừng tái sinh, rừng ẩm thường xanh, rừng ẩm thường xanh, rừng ánhiệt đới rừng tre nứa ) Các ô tiêu chuẩn có kích thước phụ thuộc vào kiểuđịa hình cũng như đặc điểm phân bố của và đặc trưng của thảm thực vật(20x20 m2, 50x50 m2, 100x100 m2 )
Phương pháp điều tra đánh giá nhanh nông thôn (RRA) và phươngphương pháp đánh giá có sự tham gia của người dân (PRA) Đây là phươngpháp phổ biến và truyền thống trong nghiên cứu, điều tra tri thức bản địa.Phương pháp này chủ yếu dựa trên kỹ thuật phỏng vấn, gồm:
Phỏng vấn: gồm các kỹ thuật cụ thể, được sử dụng tùy theo mục tiêu và
Tên, tuổi, địa chỉ, dân tộc, giới tính của người cung cấp thông tin
Tên đối tượng nghiên cứu (cây/con): tên phổ thông, tên latin, tên dântộc (phiên âm)
Mục đích và bộ phận sử dụng, dùng đơn lẻ hay phối hợp với loài khác.Chế biến và cách sử dụng: phương pháp chế biến và sử dụng
Trang 33Mục đích thu hái và chế biến: để dùng cá nhân và gia đình, để bán, Nơi thu hái và tình trạng nguyên liệu trong tự nhiên.
Ý kiến của người cung cấp thông tin về khai thác thông tin (đồng ý haykhông cho công bố, phổ biến, ứng dụng )
Ngày tháng và họ tên chữ ký của người thu thập, cung cấp thông tin
Phỏng vấn bán cấu trúc: phỏng vấn thực hiện trên phiếu chỉ cókhung câu hỏi chính, cán bộ phỏng vấn có thể đặt thêm câu hỏi tùy theo tìnhhình thực tế
Phỏng vấn mở: Người chủ trì chương trình chỉ đặt mục tiêu củacác phỏng vấn, cán bộ phỏng vấn có thể tùy ý đặt câu hỏi để đạt được mụctiêu
Phỏng vấn chéo: cùng một câu hỏi được phỏng vấn nhiều người
ở các thời gian và địa điểm khác nhau (dùng để kiểm tra độ chính xác của thông tin)
Phỏng vấn chuyên sâu: phỏng vấn về một nội dung và các câuhỏi dùng để hiểu biết mọi chi tiết và nguồn gốc vấn đề Phỏng vấn chuyên sâuchỉ dùng với các chuyên gia có kinh nghiệm
Trao đổi nhóm: Vì là điều tra cây thuốc và cây độc, không nên có 2
người địa phương có mặt trong quá trình phỏng vấn
Phiếu điều tra áp dụng theo Qui trình điều tra dược liệu (Bộ Y tế,
1973), Nghiên cứu thuốc từ thảo dược (Viện Dược liệu, 2006).
Các nhóm bệnh được phân chia theo Danh mục bệnh y học cổ truyền(Ban hành kèm theo Quyết định số 1122/QĐ-BYT ngày 31/3/2016 của Bộ Ytế)
Trang 34Các mẫu thực vật được thu thập, xử lý và bảo quản theo phương phápcủa Mary Susan Taylor (1990), The Herb Society of America (2005) vàNguyễn Nghĩa Thìn (2007).
Các loài được định loại theo phương pháp hình thái so sánh Danh pháp
và sắp xếp các taxon được xử lý theo www.theplantlist.org vàwww.tropicos.org Danh lục các loài sắp xếp theo Danh lục thực vật ViệtNam
Hiện trạng của các loài đánh giá theo tiêu chí của Sách đỏ Việt Nam
(2007), The criteria for Critically Endangered, Endangered and Vulnerable (IUCN); Nghị định số 32/2006-CP của Chính phủ về Quản lý Thực vật rừng,
Động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm; Thông tư số 04/2017/TT-BNNPTNT: Thông tư Ban hành danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã quy định trong các phụ lục của công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES).
Thử hoạt tính sinh học
Hoạt tính kháng vi sinh vật của các mẫu chiết được tiến hành trên cácphiến vi lượng 96 giếng (96-well microtiter plate) theo phương pháp phaloãng liên tục của Vanden Bergher và Vlietlinck Các chủng vi sinh vật kiểmđịnh dự kiến sử dụng nghiên cứu bao gồm:
+ Vi khuẩn Gr ( ):Escherichia coli, Pseudomonas aeruginosa.
+ Vi khuẩn Gr (+):Bacillus subtillis, Staphylococcus aureus.
+ Nấm sợi:Aspergillus niger, Fusarium oxysporum.
+ Nấm men:Candida albicans, Saccharomyces cerevisiae.
Hoạt tính chống oxy hoá được đánh giá thông qua khả năng quét gốc tự
do 2,2-diphenyl-1-picrylhydrazyl (DPPH) Theo đó, 10 µl mẫu pha trongDMSO (dimethyl sulfoxid) được cho vào các giếng của phiến 96 giếng chứa