Thứ nhất, các kết quả nghiên cứu của luận án góp phần bổ sung và phát triểnnhững vấn đề lý luận về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK và pháp luật vềCBTT của công ty đại chúng trên TTC
Trang 1VIỆN HÀM LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS LÊ THỊ THU THỦY
HÀ NỘI, 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi là Đỗ Thị Thu Hà, nghiên cứu sinh khóa (2015-2019) tại Học Viện Khoa
học xã hội Việt Nam, xin cam đoan luận án: “Pháp luật về công bố thông tin của công
ty đại chúng trên thị trường chứng khoán ở Việt Nam” là công trình nghiên cứu khoa
học độc lập của cá nhân tôi Kết quả nghiên cứu trong luận án là do tác giả thực hiện Các tài liệu, số liệu, kết quả nghiên cứu của các tổ chức, cá nhân khác được tham khảo,
sử dụng, trích dẫn trong luận án đều đã ghi rõ nguồn gốc một cách trung thực
Tôi xin chịu trách nhiệm về những nội dung đã cam đoan ở trên.
Tác giả luận án
Đỗ Thị Thu Hà
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 9 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án 9 1.2 Cơ sở lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu 28CHƯƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CBTT CỦA CÔNG TY ĐẠI CHÚNG TRÊN TTCK VÀ PHÁP LUẬT CBTT CỦA CÔNG TY ĐẠI CHÚNG TRÊN TTCK 362.1 Những vấn đề lý luận về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK 362.2 Những vấn đề lý luận về pháp luật CBTT của công ty đại chúng trên TTCK 60CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CBTT CỦA CÔNG TY ĐẠI CHÚNG TRÊN TTCK Ở VIỆT NAM 733.1 Đối tượng, thời hạn hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK 733.2 Quyền và nghĩa vụ của công ty đại chúng trong hoạt động CBTT trên TTCK 873.3 Phương thức CBTT của công ty đại chúng trên TTCK 963.4 Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trong hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK 1013.5 Xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK 110CHƯƠNG 4 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VỀ CBTT CỦA CÔNG TY ĐẠI CHÚNG TRÊN TTCK Ở VIỆT NAM 1244.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK 1244.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK ở Việt Nam 1294.3 Nhóm giải pháp hỗ trợ khác 141KẾT LUẬN 147NHỮNG CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 151
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
5 FIEA Financial Instruments and Exchange Act (Đạo luật các
công cụ tài chính và sàn giao dịch Nhật Bản)
7 IDS Information Disclosure System (Hệ thống phát hiện
xâm nhập)
8 IOSCO International Organization of Securities Commissions
(Tổ chức quốc tế các Ủy ban chứng khoán)
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong 10 năm qua, quy mô huy động vốn qua TTCK đã đáp ứng khoảng23% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và tỷ lệ đã tương đương gần 60% so với cung tíndụng qua thị trường tiền tệ - tín dụng Quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt hơn3,9 triệu tỷ đồng, tăng 12,7% so với năm 2017, tương đương 79% GDP năm 2017
và 71,6% GDP năm 2018, vượt chỉ tiêu 70% GDP đề ra tại Chiến lược phát triểnTTCK Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 Giá trị giao dịch cổ phiếu bình quân đạt6.500 tỷ đồng/phiên, tăng 29% so với năm 2017 Trên thị trường trái phiếu chínhphủ, giá trị niêm yết đạt 1.122 ngàn tỷ đồng, tăng so với năm 2017, đạt 22,4% GDPnăm 2017 và tương đương 20,3% GDP năm 2018 Giao dịch trái phiếu về cơ bảnvẫn giữ được mức sôi động với giá trị giao dịch đạt 8.834 tỷ đồng/phiên TTCKphái sinh mặc dù mới ra đời hơn một năm với một sản phẩm đầu tiên là hợp đồngtương lai trên chỉ số VN30 nhưng đã khẳng định được vai trò với khối lượng bìnhquân đạt 78.800 hợp đồng/phiên, tăng gần 7 lần so với năm 2017 và vị thế mở cuốinăm đạt gần 21.653 hợp đồng, tăng 2,7 lần so với cuối năm 2017 Đặc biệt, vốn đầu
tư gián tiếp của nước ngoài vẫn vào ròng đạt 2,8 tỷ USD, cơ bản bằng mức kỷ lục2,9 tỷ USD của năm 2017 Giá trị danh mục của nhà đầu tư nước ngoài ước đạt trên32,8 tỷ USD [113] Điều này cho thấy, TTCK ngày càng có vai trò quan trọng vàgóp phần định hình cấu trúc hệ thống tài chính hiện đại theo thông lệ các thị trườngphát triển, qua đó bảo đảm sự ổn định, bền vững của hệ thống tài chính Cùng với
đó, tính minh bạch của các công ty đại chúng đã được cải thiện đáng kể, trong đódoanh nghiệp đã quan tâm nhiều đến quản trị công ty, phát triển bền vững TTCKcũng đã thể hiện được vai trò rất tốt trong việc thúc đẩy quá trình cổ phần hóa hiệuquả hơn Bên cạnh các thành tựu đạt được, TTCK hiện nay vẫn còn nhiều vấn đềnan giải liên quan đến thông tin và CBTT của công ty đại chúng dẫn tới chủ thể
Trang 7chịu ảnh hưởng nhiều nhất đó chính là các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tưkhông chuyên nghiệp – chủ thể quan trọng nhất tham gia giao dịch của thị trường,
sự bất ổn của thị trường bị chi phối rất lớn và nghiêm trọng do thông tin khôngminh bạch, kịp thời Chính vì vậy, pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trênTTCK được xác định là một bộ phận cấu thành quan trọng trong pháp luật chứngkhoán Mục tiêu cao nhất của hoạt động CBTT là tạo sự minh bạch của TTCK, tạođiều kiện cho các nhà đầu tư đưa ra các quyết định kịp thời, đúng đắn thực hiện cácgiao dịch trên thị trường Đây cũng là khuyến nghị được thể hiện trong các văn kiệncủa Tổ chức quốc tế các Ủy ban chứng khoán – International Organization ofSecurities Commissions (IOSCO) cũng như trong luật chứng khoán của nhiều nước.Tại Việt Nam, sự cần thiết phải điều chỉnh hoạt động CBTT trên TTCK đã được cácnhà làm luật chú trọng với các quy định tại Luật Chứng khoán năm 2006, LuậtChứng khoán đã được sửa đổi, bổ sung năm 2010, năm 2018 Đặc biệt, Bộ Tàichính có riêng Thông tư 155/2015/TT – BTC ngày 06 tháng 10 năm 2015 về hướngdẫn CBTT trên TTCK (Thông tư 155/2015) là một minh chứng Tuy nhiên, các quyđịnh tại Luật Chứng khoán, Luật Chứng khoán sửa đổi, cũng như Thông tư155/2015 chưa chỉ rõ các loại thông tin phải công bố, các chuẩn mực CBTT củacông ty đại chúng trên TTCK, các nguyên tắc CBTT đối với chứng khoán vốn,chứng khoán nợ, chứng khoán phái sinh Do đó, ngay sau khi ra đời và sau mộtthời gian áp dụng các quy định tại Luật Chứng khoán, Thông tư 155/2015/TT-BTC
đã thể hiện những bất cập nhất định đối với hoạt động CBTT của công ty đại chúngtrên TTCK, dẫn tới tình trạng nhiều công ty đại chúng sẵn sàng và thường xuyênchấp nhận vi phạm hoạt động CBTT Điều đó, tác động rất lớn tới tính minh bạchcủa thị trường, ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững của thị trường và niềm tin củanhà đầu tư, nhất là khi Việt Nam đã và đang trong quá trình hoàn thiện pháp luật về
Trang 8CBTT của công ty đại chúng trên TTCK, gắn liền với yêu cầu hội nhập quốc
tế và xu hướng quốc tế hóa TTCK hiện nay.
Thực trạng trên cho thấy cần tiếp tục và đẩy mạnh hoàn thiện pháp luật và cơchế thực thi pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK để hướng tới mộtTTCK minh bạch thông tin để có thể thu hút vốn và duy trì lòng tin của các nhà đầu
tư trên thị trường Đặc biệt thông tin không đầy đủ, không kịp thời, thiếu minh bạch
có thể cản trở khả năng hoạt động của thị trường, làm tăng chi phí vốn, phân bổnguồn lực không hiệu quả, kéo theo một loạt các vấn đề như giao dịch nội gián, thaotúng giá chứng khoán, gây thiệt hại nghiêm trọng cho các nhà đầu tư, đặc biệt là cácnhà đầu tư không chuyên nghiệp Để có được một thị trường minh bạch hóa thôngtin cần có cách tiếp cận mới về hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK.Tuy nhiên, hiện nay liên quan đến hoạt động CBTT của công ty đại chúng trênTTCK là một nghiên cứu mới, khá đa chiều, vừa mang tính pháp lý vừa mang tínhkinh tế, các nghiên cứu về vấn đề này mới chủ yếu tồn tại ở dạng bài báo, bài viếtcác công trình nghiên cứu trên khía cạnh kinh tế nhiều hơn là khía cạnh pháp lý
Nhận thức được các vấn đề nêu trên, nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài: “Pháp
luật về công bố thông tin của công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán ở Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu luận án của mình.
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Luận án có mục đích nghiên cứu là làm rõ những vấn đề lý luận về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK và pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK, qua đó hình thành cơ sở lý luận và phát triển các luận
cứ khoa học để đánh giá thực trạng pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK, từ đó tìm ra các giải pháp, phương hướng hoàn thiện pháp luật về hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK ở Việt Nam.
Trang 92.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, luận án thu thập, hệ thống hóa một số công trình khoa học về
CBTT của công ty đại chúng trên TTCK tiêu biểu trong và ngoài nước;
Thứ hai, luận giải những vấn đề lý luận về CBTT của công ty đại chúng
trên TTCK và pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK.
Thứ ba, luận án đưa ra những đánh giá về thực trạng pháp luật về
CBTT của công ty đại chúng trên TTCK ở Việt Nam.
Thứ tư, luận án đề xuất định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về
CBTT của công ty đại chúng trên TTCK ở Việt Nam.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK và pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK, thực trạng pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK ở Việt Nam.
cả TTCK chính thức và TTCK phi chính thức, TTCK tập trung và TTCK phi tập trung Tuy nhiên, trong phạm vi luận án, tác giả chỉ đi sâu nghiên cứu các quy định về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK tập trung.
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp luận nghiên cứu
Trang 10Luận án nghiên cứu hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK theo cách tiếp cận liên ngành luật học kết hợp các tri thức lý luận kinh tế học.
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống bao gồm: phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp hệ thống, phương pháp luật học so sánh, phương pháp thống kê.
Phân tích hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK là một nghiêncứu có phạm vi nghiên cứu hẹp, tương đối phức tạp, vừa mang tính kinh tế, vừamang tính pháp lý, hơn vậy việc thu thập thông tin rất đa chiều và chủ yếu tồn tạidưới dạng các bài báo, bài viết khoa học, bình luận, nguồn tài liệu tham khảo hạnhẹp, riêng lẻ Nghiên cứu sinh đã sử dụng các phương pháp cụ thể như sau:
- Phương pháp tổng hợp, thống kê: được sử dụng chủ yếu để làm rõ khái niệm,đặc điểm nguyên tắc, phân loại, nội dung, hình thức, phương tiện CBTT của công ty đạichúng trên TTCK ở Việt Nam.
- Phương pháp nghiên cứu luật so sánh: được nghiên cứu sinh chủ yếu sử dụng trong việc làm rõ nội dung pháp luật ở Việt Nam về hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK có so sánh, dẫn chiếu với pháp luật của một số nước trên thế giới để tìm ra các điểm tương đồng và khác biệt.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, tiếp cận liên ngành luật học, kinh tế học được
sử dụng nhằm phân tích các yếu tố chi phối đến hoạt động CBTT của công ty đại chúngtrên TTCK và đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật về CBTT của công ty đại chúngtrên TTCK.
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Là công trình nghiên cứu công phu, nghiêm túc của nghiên cứu sinh, luận án có những đóng góp mới, cụ thể như sau:
Trang 11Thứ nhất, các kết quả nghiên cứu của luận án góp phần bổ sung và phát triển
những vấn đề lý luận về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK và pháp luật vềCBTT của công ty đại chúng trên TTCK ở Việt Nam, làm rõ cơ sở khoa học giúpcân bằng lợi ích của công ty đại chúng với lợi ích của nhà đầu tư, đảm bảo tính minhbạch của thị trường cũng như bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư, hướng tớithông tin của công ty đại chúng trên TTCK là minh bạch, rõ ràng và kịp thời, đạt tớicác chuẩn mực chung và thông lệ của TTCK phát triển trong khu vực và trên thếgiới Luận án là công trình nghiên cứu có tính hệ thống liên quan đến pháp luật vềCBTT của công ty đại chúng trên TTCK ở Việt Nam Đây là hoạt động đặc thù củaTTCK, có tác động đến tất cả các chủ thể tham gia TTCK, ảnh hưởng trực tiếp tớikênh huy động vốn được coi là lớn nhất của nền kinh tế thị trường
Thứ hai, tác giả đánh giá thực trạng pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK ở Việt Nam Theo đó, cơ bản có thể nhận thấy nội dung quy
định của pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK ở Việt Nam đã giải quyết cơ bản các vấn đề đặt ra liên quan đến đối tượng, thời hạn, nghĩa vụ, phương thức, cơ chế bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư cũng như cơ chế xử
lý vi phạm trong hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK Các quy định này đã có sự tương thích nhất định đối với các quy định của pháp luật liên quan cũng như những khuyến nghị chung của IOSCO và phù hợp với quy định chung của các nước trong khu vực và trên thế giới Do đó, tạo điều kiện thuận lợi cho công ty đại chúng trong vấn đề tiếp cận việc huy động vốn trên TTCK đối với nhà đầu tư nước ngoài và tiến tới huy động vốn trên TTCK nước ngoài Tuy nhiên, bên cạnh đó pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK còn có những hạn chế cần phải khắc phục và hoàn thiện trong thời gian tới Cụ thể:
Một là, pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK ở Việt Nam mới
chỉ dừng lại ở việc nỗ lực điều chỉnh và trật tự hóa hoạt động CBTT của công ty đại
Trang 12chúng trên TTCK nhưng chưa đảm bảo khung pháp lý ổn định, chưa có tính định hướng thị trường và chưa bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư.
Hai là, pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK ở Việt
Nam mới chỉ tiếp cận hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK trên
góc độ nghĩa vụ hơn là quyền CBTT của công ty đại chúng trên TTCK.
Ba là, pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK ở Việt Nam thiếu nhiều chế tài với những biện pháp đủ mạnh, đặc biệt đối với cá nhân có
nghĩa vụ và được thực hiện quyền CBTT của công ty đại chúng trên TTCK
Bốn là, pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK ở Việt
Nam cần có các quy định hướng tới những chuẩn mực và thông lệ chung về
CBTT của công ty đại chúng trên TTCK phát triển nhằm bảo vệ tối đa quyền
và lợi ích của nhà đầu tư, của bản thân công ty đại chúng, xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm trong hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK tạo ra một TTCK phát triển lớn mạnh, bền vững, tạo niềm tin của nhà đầu tư đối với thị trường và là kênh huy động vốn lớn nhất của nền kinh tế.
Thứ ba, Luận án xác định định hướng và các giải pháp hoàn thiện các quy định
của pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK cũng như nâng cao hiệu quả
áp dụng các quy phạm pháp luật trong thực tiễn Theo đó luận án đã tập trung xác định,định hướng hoàn thiện pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK và đưa racác giải pháp hoàn thiện pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK như:Hoàn thiện pháp luật liên quan đến đối tượng, thời hạn CBTT của công ty đại chúngtrên TTCK; Quyền và nghĩa vụ của công ty đại chúng trong hoạt động CBTT trênTTCK; Phương thức CBTT của công ty đại chúng trên TTCK; Bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp của nhà đầu tư trong hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK; Xửphạt vi phạm hành chính trong hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK;
Trang 13Nhóm giải pháp hỗ trợ khác (xây dựng bộ chỉ số minh bạch thông tin đối với công ty đại chúng và hoàn thiện phương tiện CBTT).
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Về lý luận: Luận án đã nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề lý luận
về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK và đánh giá thực tiễn thực thi quy định củapháp luật về vấn đề này Luận án khẳng định vai trò của hoạt động CBTT của công tyđại chúng trên TTCK đối với sự phát triển của TTCK, luận án cũng chỉ ra các nhân tốtác động đến hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK, qua đó đưa ra nhữngnhận xét, đánh giá về thực trạng pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK,chỉ ra nguyên nhân của một số hạn chế còn gặp phải trong thực tiễn
Về thực tiễn: Luận án đưa ra những yêu cầu cần thiết, những định hướng
cơ bản để xây dựng và hoàn thiện pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK ở Việt Nam, tiếp đến luận án đưa ra các nhóm giải pháp quan trọng hàng đầu để hoàn thiện pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK.
Ngoài ra, luận án còn là nguồn tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy khoa học pháp lý liên quan đến TTCK ở Việt Nam.
7 Cơ cấu của luận án
Ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án được kết cấu 4 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và giả thuyết
nghiên cứu Chương 2: Những vấn đề lý luận về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK và pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK
Chương 3: Thực trạng pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK ở
Việt Nam
Chương 4: Định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về CBTT của công ty
đại chúng trên TTCK ở Việt Nam
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án
1.1.1 Tình hình nghiên cứu những vấn đề lý luận về CBTT và pháp luật CBTT của công ty đại chúng trên TTCK
Tình hình nghiên cứu lý luận về khái niệm, đặc điểm của công ty đại chúng và hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK
Trên thế giới, khái niệm công ty đại chúng (public limited company- plc) được
tiếp cận dưới hai khía cạnh chủ yếu là: vốn điều lệ và số lượng cổ đông Tại Mỹ hay
Úc, công ty đại chúng và công ty nội bộ được phân biệt chủ yếu trên số lượng cổ
đông:“Công ty đại chúng là những công ty thực hiện huy động vốn rộng rãi từ công chúng thông qua phát hành chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu) niêm yết tại các trung tâm giao dịch chứng khoán hoặc chứng khoán không niêm yết nhưng được giao dịch thông qua các thể chế môi giới chứng khoán”[153, tr 25] Và “nét đặc trưng của các công ty đại chúng là có sự tham gia của nguồn vốn từ bên ngoài với nhiều nhà đầu tư”
là nhận định của tác giả Hà Thị Thu Hằng trong luận văn Thạc sĩ Luật học
“Pháp luật về quản trị Công ty đại chúng, thực tiễn áp dụng tại Công ty cổ phần VINAFCO” [44, tr 14] Trong khi đó, tác giả Lương Đình Thi trong Luận văn Thạc sĩ luật học “Pháp luật về quản trị công ty đại chúng ở Việt Nam” có nêu ra một số đặc điểm của công ty đại chúng bao gồm: Là công ty cổ phần hoạt động
theo Luật Doanh nghiệp, là tổ chức kinh tế quản lý tập trung cao, có số lượng cổ đông lớn, có mối liên hệ chặt chẽ với TTCK [87, tr11].
CBTT là khái niệm trên thực tế được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau TrênTTCK, thông tin được coi là yếu tố quan trọng nhất đảm bảo thị trường công khai,minh bạch và hiệu quả Những chủ thể sở hữu thông tin chính xác và phân tích được
Trang 15các thông tin này sẽ đưa ra được quyết định đầu tư kịp thời, hiệu quả, ngược lại thông tin không chính xác, thiếu minh bạch cũng có thể mang lại rất nhiều rủi ro, thiệt hại, tác động tiêu cực không chỉ đối với doanh nghiệp, mất lòng tin đối với nhà đầu tư, khó khăn trong công tác quản lý của các nhà quản lý, ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển của nền kinh tế.
Theo khuyến nghị thứ 16 của IOSCO ghi nhận việc CBTT của công ty đại
chúng:“Cần công bố đầy đủ, chính xác và kịp thời các kết quả tài chính, rủi ro và các
thông tin quan trọng khác đối với quyết định của nhà đầu tư”[146, tr.38] Do đó, mục
đích cao nhất của hoạt động CBTT nói chung và CBTT của công ty đại chúng trênTTCK phải hướng tới sự đầy đủ, tính chính xác và kịp thời về kết quả hoạt động kinhdoanh, các sự kiện pháp lý tốt hoặc không tốt cũng như các thông tin khác của công tyđại chúng có thể ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của cổ đông, nhà đầu tư.Những cổ đông, dù là cổ đông nhỏ lẻ, không chuyên cũng cần được tiếp cận thông tinnhanh nhất để có quyết định phù hợp và chính xác Trong công trình nghiên cứu“Hoàn thiện hệ thống CBTT của công ty đại chúng” của Tiến sĩ Tạ Thanh Bình đã khẳng định
công khai thông tin là một nguyên tắc cơ bản trong hoạt động của TTCK Theo đó:
“CBTT là việc thông báo đến công chúng đầu tư mọi thông tin liên quan đến tính hình hoạt động của các tổ chức phát hành chứng khoán, tổ chức niêm yết, công ty đại chúng các thông tin về thị trường” [5, tr.8] Tác giả cho rằng thông tin trên TTCK được ví như “mạch máu trong cơ thể người” hỗ trợ thị trường vận hành liên tục, thông
suốt giúp cung cấp đầy đủ thông tin cho nhà đầu tư, cơ quan quản lý điều hành, nhànghiên cứu Trong TTCK thông tin dù được tiếp cận ở các góc độ nào, nhằm phục vụcác mục đích như thế nào, nhưng đều hướng tới một mục tiêu cao nhất là công khai hóacác thông tin của thị trường, đặc biệt là thông tin của công ty đại chúng nhằm đảm bảothị trường được minh bạch, công khai, hiệu quả Vì thế, chúng ta có thể tiếp cận CBTTvới các cách tiếp cận dưới các khía cạnh khác nhau nhằm làm rõ hơn nữa sự
Trang 16ảnh hưởng của hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK như: (i) góc độ kinh tế, (ii) góc độ xã hội, (iii) góc độ pháp lý.
Dưới góc độ kinh tế, thông tin của TTCK phản ánh tình hình kinh doanh, tài sản
sở hữu, tài chính của công ty đại chúng ở các giai đoạn, thời kỳ nhất định thông qua cácbảng kê chi tiết tài khoản, cân đối tài khoản, BCTC, báo cáo kết quả hoạt động kinhdoanh của công ty đại chúng, các kế hoạch, chiến lược phát triển kinh doanh của mỗicông ty đại chúng Qua các tài liệu và thông tin này chúng ta nhận định, đánh giá được
“sức khỏe tài chính” của mỗi doanh nghiệp nói chung và công ty đại chúng nói riêng,
từ đó phân tích được khả năng phát triển của doanh nghiệp đó tại thời điểm hiện tại vàtrong tương lai Thông tin trên TTCK của công ty đại chúng phải được công bố bởi chủthể có thẩm quyền của công ty thực hiện, tác giả đã nhìn nhận nghiêng về vấn đề thựchiện nghĩa vụ của doanh nghiệp hơn là thực hiện quyền của doanh nghiệp Pháp luậtcác nước đều có quy định rất rõ về các nguyên tắc CBTT trên TTCK nhằm đảm bảoviệc CBTT không thuần túy là nghĩa vụ của công ty đại chúng mà còn là quyền lợi thiếtthực, trực tiếp của công ty đại chúng
Theo các học giả Mỹ, ngoài việc phải chấp hành các nguyên tắc CBTT chungcác công ty đại chúng phải có sự kiểm soát của nhà đầu tư Đối với các công ty chứngkhoán cung cấp dịch vụ tư vấn đầu tư cũng rất cẩn trọng, họ không những phải tuântheo quy định về Đạo luật tư vấn đầu tư, mà còn bị “tẩy chay” ngay nếu có bất kỳ một
sự vi phạm nào, ngay lập tức sẽ có ngay chủ thể khác thay thế họ trên thị trường Chính
vì vậy, TTCK Mỹ được đánh giá là một TTCK đáng tin cậy vào bậc nhất của thế giới
Nó cũng chính là kênh lớn nhất và chủ yếu huy động vốn của các chủ thể kinh doanh.Ngoài ra, Mỹ còn có các công ty bảo vệ nhà đầu tư, do vậy các hoạt động CBTT khôngtrung thực, sai sự thật, trái quy định ảnh hướng tới nhà đầu tư, tới thị trường cũngkhông thể tồn tại là vì thế Mặt khác, cũng tại Mỹ hoạt động của các công ty dịch vụCBTT cũng rất hiệu quả vì thế nhà đầu tư rất dễ dàng trong việc tiếp cận các thông
Trang 17tin công bố của công ty đại chúng trên TTCK Đây cũng là đánh giá của Tiến
sĩ Tạ Thanh Bình trong đề tài nghiên cứu cấp Ủy ban Chứng khoán “Hoàn
thiện hệ thống CBTT của công ty đại chúng” [5, tr.26].
Dưới góc độ xã hội, chúng ta đều nhận thấy tầm quan trọng của thông tin trên
TTCK bởi nó là bộ phận không thể thiếu của TTCK vì thiếu nó thì TTCK không còn
tồn tại Theo tác giả Phạm Thị Hằng Nga “CBTT của công ty đại chúng trên TTCK theo pháp luật Việt Nam” [58, tr.17] thì: Thông qua kênh tin, nhà đầu tư có cái nhìn
tổng thể, dễ dàng tiếp cận về TTCK cũng như đối với các công ty đại chúng Các thôngtin tổng thể về tổ chức phát hành, diễn biến giao dịch thị trường, chỉ số chứng khoán,quy mô vốn hóa thị trường, một bức tranh toàn cảnh của thị trường Mặt khác, từthông tin trên TTCK giúp nhà quản lý đánh giá được mức độ phát triển của TTCK, xácđịnh được chính xác vai trò của TTCK đối với sự phát triển chung của nền kinh tế xãhội của đất nước trong từng giai đoạn, hoàn cảnh cụ thể Thông tin trên TTCK có tácđộng sâu rộng đến mọi mặt của đời sống xã hội, nó không thuần túy ảnh hưởng trựctiếp đến từng cá thể nhà đầu tư hay một công ty đại chúng hoặc đến một số cơ quanquản lý chuyên ngành mà nó có tác động đến quan hệ xã hội nói chung
Dưới góc độ pháp lý, CBTT của công ty đại chúng là việc công ty tuân thủ các
quy định pháp luật được áp dụng đối với các chủ thể tham gia thị trường, phản ảnhhàng loạt các quan hệ như quan hệ trong nội bộ công ty, việc tuân thủ chế độ báo cáocông khai thông tin công ty ra công chúng theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định
Điều này được tác giả Đinh Văn Sơn nhận định “CBTT TTCK được hiểu là cách thức
để truyền tải thông tin đến công chúng, đến các thành viên tham gia thị trường và những người có nhu cầu tiếp nhận thông tin” [67, tr.21] Như vậy, dưới góc độ pháp lý
với các thông tin của công ty đại chúng công khai liên quan đến doanh nghiệp là cơ sở
để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét hoạt động hợp pháp của công ty đạichúng trên TTCK Đảm bảo các công ty đại chúng khi thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của
Trang 18mình có thể được thực hiện các quyền tương ứng theo quy định của pháp luật hiện hành.
Tình hình nghiên cứu lý luận về vai trò của CBTT của công ty đại chúng trên
có sự điều chỉnh đầy đủ của pháp luật là khách quan.
Trong bài báo của tác giả Phạm Thị Giang Thu: “Pháp luật CBTT của công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam thực tiễn pháp lý và phương hướng hoàn thiện” [88, tr 44] có đề cập: “Bằng các quy định của pháp luật Nhà nước thể hiện sự can thiệp cần thiết để bảo vệ các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư nhỏ lẻ, cá thể, khả năng phân tích thông tin và tìm hiểu thị trường còn hạn chế Sự điều chỉnh của pháp luật đối với hoạt động CBTT của chủ thể niêm yết được quy định ngay ở những khâu đầu tiên như việc đặt ra những điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng với chế độ CBTT rất chặt chẽ, nhằm bảo đảm chứng khoán giao dịch tại thị trường phải là hàng hoá có chất lượng, tạo niềm tin cho công chúng đầu tư” [88, tr 46] Quan điểm của tác giả đưa ra là
hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng
của nhà đầu tư Theo tác giả Đinh Văn Sơn “Để phát triển TTCK – niềm tin vào thị trường là yếu tố tạo lửa và duy trì lòng nhiệt tình của các chủ thể tham gia thị trường, đặc biệt là nhà đầu tư Do đó, thông tin về chứng khoán và giao dịch chứng khoán trở thành một yếu tố hết sức nhạy cảm và quan trọng” [67, tr 13] Quan điểm chung của
các tác giả về sự cần thiết của hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK liênquan chặt chẽ tới quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư trên TTCK
Trang 19Không thể phủ nhận vai trò của CBTT của công ty đại chúng trên TTCK là rấtlớn, nó có tác động đến tất cả các chủ thể tham gia thị trường Nhìn nhận vấn đề liên
quan đến vai trò của CBTT tác giả Đinh Văn Sơn có ghi nhận: “Với vai trò của mình, thông tin là nhân tố tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của TTCK” [67, tr.14] CBTT
và thông tin của các chủ thể trên TTCK nói chung và CBTT của công ty đại chúng nói
riêng có vai trò và tác động cả về mặt tích cực và tiêu cực đối với TTCK “Ở phần lớn các nước nghĩa vụ công khai thông tin được quy định trong luật chứng khoán và có xu hướng nhích lại luật chứng khoán của Mỹ Tổ chức quốc tế các Ủy ban chứng khoán (IOSCO); Ủy ban quốc tế về tiêu chuẩn hóa hạch toán (LASS) cũng ban hành các biểu mẫu và danh mục thông tin đối với các công ty” [56, tr 290] Dưới góc độ nhìn nhận
gián tiếp về vai trò CBTT của công ty trên TTCK tác giả Lê Hoàng Nga cho thấy hoạtđộng CBTT được các nước phát triển và các tổ chức quốc tế liên quan đến chứng khoánđánh giá rất cao Vai trò của CBTT của công ty đại chúng trên TTCK được các nghiêncứu tiếp cận dưới góc độ đánh giá cao tầm quan trọng đối với các thông tin của công tyđại chúng giúp các chủ thể có liên quan trên thị trường dễ dàng đánh giá giá trị củacông ty và đầu tư vào TTCK theo đánh giá cũng như trách nhiệm của họ Do đó, hoạtđộng CBTT của công ty đại chúng trên TTCK chính là công khai thông tin của công tyđại chúng nhằm bảo vệ nhà đầu tư, những người ít tham gia vào quản lý doanh nghiệp
và có sự tiếp cận rất hạn chế tới các thông tin về công ty Bởi vậy, vai trò của hoạt độngCBTT của công ty đại chúng trên TTCK là trách nhiệm của công ty đối với các cổ đôngcông ty cũng như các nhà đầu tư trên TTCK Đồng thời đó cũng chính là cách công tyđại chúng tự bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình trên TTCK
Tình hình nghiên cứu lý luận về nguyên tắc CBTT của công ty đại chúng trên
TTCK
Theo đó, các thông tin của công ty đại chúng phải được công bố theo các
nguyên tắc: Thông tin phải đầy đủ và chính xác, thông tin phải được công bố kịp thời
Trang 20và liên tục, thông tin công bố cần được lập và công bố phù hợp với chuẩn mực kế toán,đảm bảo công bằng đối với các đối tượng nhận thông tin công bố, đối tượng CBTT phải
có trách nhiệm với thông tin công bố Theo tác giả Bạch Đức Hiển có ghi nhận “Để đảm bảo cho TTCK hoạt động hiệu quả và công bằng thì các tin tức có tác động đến sự thay đổi giá cả của chứng khoán cần phải công khai cung cấp cho các nhà đầu tư nhằm tạo cho họ có cơ hội đầu tư như nhau, đồng thời là biện pháp quan trọng để ngăn chặn các hành vi gian lận trong kinh doanh chứng khoán, lũng loạn thị trường”
[45, tr 19] Cũng đồng quan điểm với tác giả Bạch Đức Hiển, tác giả Bùi Kim Yến đãtiếp cận về nguyên tắc CBTT của công ty đại chúng trên TTCK nói riêng và CBTT trên
TTCK nói chung: “TTCK phải được xây dựng trên cơ sở hệ thống CBTT tốt Nguyên tắc công khai chính là nhằm đảo bảo lợi ích cho tất cả những người tham gia thị trường, thể hiện tính công bằng có nghĩa là mọi người tham gia thị trường đều phải tuân thủ những quy định chung, được bình đẳng trong việc chia sẻ thông tin và việc gánh chịu các hình thức xử phạt nếu vi phạm vào những quy định đó Nguyên tắc này bảo vệ nhà đầu tư, đồng thời cũng hàm nghĩa rằng, một khi nhà đã được cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời và chính xác thì người đầu tư phải chịu trách nhiệm về các quyết định đầu tư của mình” [108, tr.8] Nhằm phát triển một TTCK bền vững thực sự
là một kênh huy động vốn lớn nhất cho nền kinh tế, “thu gom” mọi nguồn vốn tiết kiệmlớn nhỏ của mỗi gia đình, mỗi người dân hay các nguồn vốn nhàn rỗi tạm thời tạothành nguồn vốn khổng lồ cho nền kinh tế mà các phương thức huy động vốn kháckhông có được đòi hỏi nguyên tắc CBTT của công ty đại chúng phải hướng tới đượctính công khai, minh bạch và kịp thời
Tình hình nghiên cứu lý luận về phân loại thông tin phải công bố của công ty đại chúng trên TTCK
Hầu hết các nghiên cứu đã đề cập đến các loại thông tin của công ty đại chúngphải công bố trên TTCK bao gồm các thông tin về tài chính, thông về tình hình hoạt
Trang 21động kinh doanh, kết quả kinh doanh, thông tin về nhân sự Cụ thể, công bố cácthông tin tài chính của công ty đại chúng bao gồm: CBTT BCTC năm, CBTTBCTC bán niên, CBTT định kỳ BCTC quý, công bố bất thường các thông tin khácliên quan đến BCTC Tiếp đến là CBTT về tình hình hoạt động và kết quả sản xuất,kinh doanh của công ty đại chúng như: CBTT bất thường khi phát sinh các sự kiện
có ảnh hưởng lớn đến quá trình hoạt động, sản xuất kinh doanh của công ty đạichúng Một trong các thông tin của công ty đại chúng cần công bố là các thông tinliên quan đến nhân sự quản lý, bao gồm: công bố các thông tin liên quan đến hoạtđộng của HĐQT, công bố các thông tin liên quan đến hoạt động của Ban Kiểm soát,CBTT về chính sách thù lao cho các nhân sự quản lý, CBTT về cổ đông lớn vàquyền biểu quyết của cổ đông công ty đại chúng Ngoài ra, một số thông tin củacông ty đại chúng cần công bố như: Thông tin về giao dịch giữa công ty đại chúng
và người liên quan, thông tin về các rủi ro và hệ thống giám sát, quản lý rủi ro củacông ty đại chúng, công bố các thông tin khác của công ty đại chúng Trong nghiêncứu của tác giả Tạ Thanh Bình [5, tr.25] đã thể hiện rất rõ các quan điểm này
Tình hình nghiên cứu lý luận về khái niệm, đặc điểm, nội dung pháp luật công ty đại chúng trên trên TTCK
TTCK duy trì, tồn tại và phát triển trên cơ sở niềm tin, do đó các quy định đảmbảo tính minh bạch thông tin của các bên tham gia được coi là yêu cầu quan trọng bậcnhất nhằm đảm bảo cho sự phát triển lành mạnh, hấp dẫn của thị trường Kể từ khiTTCK được đưa vào vận hành đến nay, các quy định pháp luật về CBTT đã được điềuchỉnh liên tục để phù hợp với thực tiễn phát triển của thị trường Bởi lẽ pháp luật điềuchỉnh hoạt động CBTT trên TTCK là một bộ phận cấu thành và thiết yếu của pháp luật
về chứng khoán và TTCK, là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệphát sinh trong hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK Pháp luật CBTTtrên TTCK quy định các nguyên tắc, các loại thông tin, nội dung, hình thức, phương
Trang 22tiện CBTT của tất cả các chủ thể tham gia thị trường Theo đó: “Pháp luật điều chỉnh hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK là một bộ phận cấu thành và quan trọng của pháp luật điều chỉnh hoạt động công bố thông trên TTCK Đó là tổng hợp những nguyên tắc, định hướng cơ bản về hoạt động CBTT của công ty đại chúng, là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động công khai thông tin của các công ty đại chúng, bao gồm các nhóm quy phạm pháp luật về CBTT định kỳ của công
ty đại chúng, nhóm quy phạm pháp luật về CBTT bất thường của công ty đại chúng, nhóm quy phạm về CBTT theo yêu cầu của công ty đại chúng Các nhóm quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động CBTT của công ty đại chúng như trên tương ứng với các nghĩa vụ CBTT mà công ty đại chúng phải tuân thủ” Theo đó, công ty đại chúng
phải công bố các thông tin mang tính chất tài chính hoặc phi tài chính liên quan đếntình hình hoạt động của công ty như các BCTC, các thông tin về quản trị công ty, thôngtin về rủi ro và chính sách quản lý rủi ro… Việc CBTT của công ty đại chúng có thểdiễn ra định kỳ, bất thường hay theo yêu cầu của UBCKNN (UBCKNN), SGDCK
(SGDCK) Quan điểm này được thể hiện trong công trình nghiên cứu “Minh bạch thông tin trên TTCK” của tác giả Phạm Thị Hằng Nga [57, tr.25].
Thông tin của công ty đại chúng có vai trò đặc biệt trong sự phát triển củaTTCK, nó là mạch máu giúp thị trường thông suốt, tràn đầy năng lượng và là tiền đề đểphát triển một thị trường minh bạch, công khai và phát triển Chính vì vậy, trên thế giới
đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu liên quan đến các yếu tố tác động đến hoạtđộng CBTT của công ty đại chúng trên TTCK Nghiên cứu đầu tiên có thể kể đến là củacác tác giả Jonas and Blanchet [142, tr.153], trong nghiên cứu của mình tác giả xâydựng các thuộc tính để tạo nên mười một đặc tính của chất lượng thông tin BCTC theoHội đồng chuẩn mực kế toán tài chính Hoa Kỳ (Financial Accounting Standards Board
- FASB) Từ nghiên cứu của các tác giả Jonas and Blanchet, Ferdy van Beest, GeertBraam [140, tr.103] phát triển nghiên cứu của mình để đo lường chất lượng BCTC của
Trang 23Anh và Mỹ bằng phương pháp “hoạt động hóa” (operationalize) các đặc tính chấtlượng để đánh giá những thông tin tài chính và phi tài chính nhằm xác định tính hữuích của chúng Ngược lại, nghiên cứu của tiến sĩ Frank Heflin và cộng sự [136,tr.53] chủ yếu đánh giá thông qua hình thức và thời hạn CBTT của công ty đạichúng, trên cơ sở đó tác giả cho rằng chất lượng của thông tin kế toán phụ thuộc cơbản vào các thông tin mà doanh nghiệp sẽ công bố rộng rãi ra công chúng qua hìnhthức BCTC năm hay quý, hơn là những phân tích chuyên sâu của chính các nhàquản lý doanh nghiệp Tương tự như các tác giả Ferdy van Beest, Geert Braam, tác
giả Francis W K Sui [138, tr.17] nhận định rằng:“Hệ thống hạch toán và các
nguyên tắc kế toán hiện hành sẽ tác động rất lớn đến các đặc tính của thông tin kế toán” Ngoài ra, tác giả còn cho rằng, vai trò của các doanh nghiệp kiểm toán đối
với chất lượng CBTT thể hiện ở hai khía cạnh:“Thứ nhất, cần xác nhận tính trung
thực và hợp lý của thông tin kế toán, đánh giá sự tuân thủ theo các chuẩn mực và quy định về kế toán hiện hành; Thứ hai, tác giả đã đưa ra các đánh giá nghề nghiệp
về tính đầy đủ của thông tin của các báo cáo của công ty đại chúng”.
Tình hình nghiên cứu lý luận về các yếu tố tác động đến pháp luật điều chỉnh hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK
Tác giả Paul M Healy và cộng sự [134, tr.405] đã nghiên cứu các tác động đếnhoạt động CBTT của doanh nghiệp dựa trên mối quan hệ tương quan giữa việc giám sáthoạt động CBTT của công ty, giữa sự tác động của các chủ thể trung gian và vấn đềquản trị của công ty trong hoạt động CBTT của công ty đại chúng và đưa ra kết luận:
“Để nâng cao chất lượng CBTT, không thể trông chờ vào vai trò duy nhất của cơ quan quản lý mà còn phụ thuộc nhiều đối tượng khác tham gia hoạt động CBTT của doanh nghiệp như sự giám sát đánh giá chất lượng thông tin của kiểm toán, truyền thông hay sự chủ động của lãnh đạo doanh nghiệp”.
Trang 24Trong khi đó, các tác giả Zhang Yuemei và Li Yanxi An [135, tr.18] cho rằnghoạt động CBTT bị ảnh hưởng tác động bởi chính trong hoạt động nội bộ của công
ty trong đó đặc biệt quan tâm đến yếu tố tác động của nhân sự quản lý trong doanhnghiệp, trong mối quan hệ giữa quản trị doanh nghiệp và chất lượng thông tin công
bố của các công ty đại chúng Trên cơ sở đó, tác giả đánh giá mối quan hệ chặt chẽgiữa chất lượng thông tin công bố song song với số lượng các nhà lãnh đạo độc lậptrong bộ máy lãnh đạo của doanh nghiệp và được đặt trong mối quan hệ tương quan,khách quan và chủ quan với hệ thống quản trị doanh nghiệp cùng với chế độ đãi ngộcủa doanh nghiệp dành cho các nhà lãnh đạo của doanh nghiệp
Ngoài ra, để đánh giá chất lượng thông tin BCTC, nghiên cứu của tác giả Lyle.N[143, tr.28] đánh giá chất lượng thông tin BCTC thông qua chuỗi cung ứng BCTC.Theo tác giả, chuỗi cung ứng BCTC bị chi phối bởi nhiều chủ thể, nhiều công đoạn,quy trình thông qua quá trình lập, xác nhận, kiểm tra và sử dụng BCTC Tất cả chuỗiquá trình đạt được chất lượng cao sẽ tạo ra BCTC có chất lượng cao Nghiên cứu của
tác giả xem xét 4 yếu tố: “Quản trị công ty, quy trình lập BCTC, Báo cáo kiểm toán của kiểm toán viên độc lập và tính hữu ích của BCTC” Nghiên cứu được thực hiện
trong giai đoạn từ tháng 6 đến tháng 7 năm 2007 Đối tượng nghiên cứu là 341 người
có liên quan đến chuỗi cung ứng BCTC trên khắp thế giới như: người lập BCTC, kiểmtoán viên độc lập, người sử dụng, các nhà lập pháp, xây dựng chuẩn mực Phương phápchủ yếu của nghiên cứu dựa vào bảng câu hỏi gồm 22 câu (cho 341 người) và phỏng
vấn sâu 25 chuyên gia Kết quả các đặc tính chất lượng BCTC cho thấy: “(a) Thông tin tài chính tốt hơn nhờ sự cải thiện của chuẩn mực kế toán, quy định luật pháp và giám sát; (b) BCTC công bố có khả năng so sánh tốt hơn; (c) Thông tin kế toán về khả năng đáng tin cậy được cải thiện; (d) Gia tăng tầm quan trọng của các báo cáo diễn giải và (e) tiếp cận thông tin BCTC dễ dàng hơn”.
Trang 251.1.2 Tình hình nghiên cứu về thực trạng pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK
Thực trạng pháp luật CBTT của công ty đại chúng trên TTCK ở Việt Nam đượcbàn luận, phân tích trong các công trình nghiên cứu như sau: Trước tiên, phải kể đến:
Đề tài nghiên cứu cấp Bộ của Tiến sĩ Tạ Thanh Bình (2011) Hoàn thiện hệ thống CBTT của công ty đại chúng [5, tr.15], Luận văn Thạc sĩ luật học (2014) CBTT của công ty đại chúng trên TTCK theo pháp luật Việt Nam của Phạm Thị Hằng Nga [58, tr.78]; Bài viết: Chế độ CBTT theo luật chứng khoán năm 2006 của Nguyễn Thị Ánh Vân trên Tạp chí Luật học số 08/2006 tr.60; Bài viết: Chất lượng CBTT của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam thực trạng và giải pháp của Nguyễn Thị Hải Hà trên Tạp chí Khoa học Tập 30, số 3/2014 [42, tr.37] Với tác giả Lê Hoàng Nga có đưa ra quan điểm “Để tránh tình trạng bảo mật quá đáng và bảo vệ nhà đầu tư, pháp luật đã can thiệp vào việc tiết lộ thông tin Ở phần lớn các nước nghĩa vụ công khai thông tin được quy định trong luật chứng khoán và có xu hướng nhích lại luật chứng khoán của Mỹ Tổ chức quốc tế các Ủy ban chứng khoán (IOSCO); Ủy ban quốc tế về tiêu chuẩn hóa hạch toán (LASS) cũng ban hành mẫu biểu và danh mục thông tin đối với các công ty”[59, tr.289] Theo tác giả Phạm Thị Giang Thu tiếp cận về tính trung thực và đồng nhất của
hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK nói chung và công bố BCTC của
các công ty đại chúng trên TTCK: “Thực trạng, cho thấy đa số các công ty đại chúng khi công bố các BCTC trước và sau kiểm toán thường có sự không khớp với nhau, các thông tin trong các báo cáo còn sơ sài, đơn điệu, mang tính một chiều, hầu như chỉ phản ánh thông tin tốt của công ty đại chúng, các công ty đại chúng chưa có thói quen cung cấp và sử dụng thông tin đa chiều Rất nhiều công ty đại chúng đã công bố BCTC trước và sau kiểm toán có sự “vênh” nhau về con số” [88, tr.54] Theo tác giả Hoàng Thị Quỳnh Chi phân tích “Theo đánh giá của UBCKNN tại “Báo cáo hoạt động TTCK năm 2007, giải pháp phát triển TTCK năm 2008” thì trong thời gian
Trang 26vừa qua, tính công khai, minh bạch của TTCK thông qua CBTT của các chủ thể đã từng bước được nâng lên, tuy nhiên nội dung, chất lượng và thời hạn CBTT chưa đáp ứng đƣợc yêu cầu cho công tác quản lý và thông tin cung cấp cho thị trường Thực trạng trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ quan là các TCNY chưa thấy hết được tầm quan trọng của việc CBTT đầy đủ, chỉ chú trọng việc công bố những thông tin tốt, có lợi cho mình, còn những thông tin gây bất lợi thì không muốn công bố ra thị trường Hơn nữa, do sợ bị rò rỉ thông tin, phải cạnh tranh với các đối thủ, nên các TCNY thường ngại công bố các thông tin về sản xuất, kinh doanh và các dự án đầu tư của mình Mặt khác, sự hiểu biết về quyền lợi của các NĐT còn hạn chế, NĐT thiếu sự chủ động trong việc bảo vệ quyền lợi của chính mình Phần lớn các NĐT chỉ trông chờ vào việc chủ động CBTT của các công ty niêm yết hoặc yêu cầu sự giám sát của UBCKNN trong khi chưa chủ động yêu cầu TCNY giải đáp thắc mắc của mình về những thay đổi trong quá trình hoạt động của công ty (theo quy định của Điều lệ mẫu áp dụng cho các công ty niêm yết thì cổ đông có quyền đựợc cung cấp thông tin và tham dự ĐHĐCĐ” [31, tr.94].
Đánh giá về thực trạng khung pháp lý điều chỉnh hoạt động CBTT tác giả Đinh
Văn Sơn có ghi nhận “Mặc dù khung pháp lý về chứng khoán và TTCK đã từng bước được hoàn thiện hơn, nhưng về cơ bản chất lượng các văn bản pháp lí về CBTT vẫn còn được đánh giá là thiếu ổn định, không rõ ràng, hệ thống quy định pháp lý còn thiếu nhiều chế tài xử lý, hiệu lực pháp lý của các văn bản điều chỉnh hoạt động CBTT trên thị trường chưa cao” [67, tr.152] Nhìn nhận ở góc độ áp dụng chuẩn mực BCTC
quốc tế đối với công ty niêm yết, tác giả Nguyễn Tuấn Anh có ghi nhận theo hướng tích
cực hơn: “Đánh giá về thực trạng minh bạch thông tin của DNNY trên TTCK Việt nam những năm gần đây cho thấy, chất lượng CBTT trên TTCK được cải thiện rõ rệt so với trước kia Các DN khi phát hành cổ phiếu, muốn thu hút quan tâm của các nhà đầu tư trong và ngoài nước đều phải nỗ lực đạt được các điều kiện chào bán Khi các
Trang 27DN thực hiện việc niêm yết chứng khoán hoặc đăng ký giao dịch cổ phiếu, cơ quan quản lý cũng như thị trường có điều kiện để kiểm soát tính công khai, minh bạch, hoạt động kinh doanh cũng như chất lượng quản trị công ty của DN” [1, tr.98] Với tác giả
Nguyễn Thị Hải Hà về tăng cường tính minh bạch thông tin của doanh nghiệp nhà
nước, trong đó có các doanh nghiệp nhà nước niêm yết như sau: “Mặt khác, các chi phí liên quan đến việc xử phạt các trường hợp vi phạm pháp luật về minh bạch thông tin lại không lớn hơn chi phí liên quan đến việc tuân thủ quy định về CBTT nên nhiều DN chấp nhận nộp phạt để không phải thực hiện minh bạch hóa thông tin theo quy định” [42, tr.44] Các công trình nghiên cứu trên đều phân tích các quy định của pháp luật
hiện hành về hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK và chỉ ra các tồn tại,bất cập cần được sửa đổi, bổ sung xoay quanh các nghĩa vụ của công ty đại chúng theoquy định của pháp luật Chứng khoán và pháp luật về CBTT của công ty đại chúng.Ngoài ra, tác giả Phạm Thị Giang Thu còn chỉ ra vấn đề quyền tiếp cận thông tin củanhà đầu tư mới chỉ được đề cập dưới góc độ những quy định chung trong luật Doanhnghiệp mà chưa được cụ thể hoá trong pháp luật chứng khoán và CBTT của công ty đạichúng trên TTCK Vì thế, khi nhà đầu tư muốn tiếp cận, tìm hiểu thông tin của công tyđại chúng sẽ không có cơ sở pháp lý yêu cầu công ty đại chúng cung cấp các thông tinliên quan nên hiện tượng bất cân xứng thông tin ngày càng trở lên phổ biến, điều nàyảnh hưởng trực tiếp tới quyền lợi của nhà đầu tư Do vậy, nhà đầu tư luôn trong trạngthái là người được tiếp cận thông tin của công ty đại chúng trên TTCK ở giai đoạn sau
so với các cổ đông nội bộ khác
Các nghiên cứu chỉ ra các quy định của pháp luật CBTT chưa đáp ứng được nhucầu phát triển của TTCK và hội nhập quốc tế cũng như chưa tạo ra cơ chế thực thi hiệuquả để đảm bảo quyền lợi của các nhà đầu tư trên thị trường Từ đó chỉ ra các nguyênnhân dẫn tới bất cập trong hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK
Trang 28vẫn là xoay quanh khung pháp lý, trách nhiệm cơ quan quản lý, nguyên nhân từ nội tạiphía công ty đại chúng.
1.1.3 Tình hình nghiên cứu về định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp
luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK
Tình hình nghiên cứu về định hướng hoàn thiện pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK
Trong bài viết: “Chất lượng CBTT của các công ty niêm yết trên TTCK ViệtNam thực trạng và giải pháp” [42, tr.43] trên Tạp chí Khoa học, tác giả Nguyễn Thị Hải
Hà đưa ra hướng cần sớm ban hành Luật Chứng khoán mới thay cho Luật Chứng khoán
hiện hành: “Với phạm vi điều chỉnh rộng hơn, tiếp cận gần hơn với các thông lệ và chuẩn mực quốc tế, điều chỉnh đồng bộ hoạt động chứng khoán trong mối liên kết với các khu vực dịch vụ của thị trường tài chính Bổ sung điều khoản bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư trước những thiệt hại do vi phạm CBTT của công ty đại chúng Nhà đầu tư có quyền khởi kiện lên các cơ quan chức năng theo đúng quy trình và thủ tục được hướng dẫn” Nghiên cứu về định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về CBTT của công ty
đại chúng trên TTCK theo hướng nới rộng quyền khiếu nại và khởi kiện của chủ thể bịtác động lớn nhất bởi hoạt động CBTT của công ty đại chúng như nhà đầu tư, cơ quan
quản lý nhà nước về chứng khoán Đồng thời đưa ra giải pháp: “Chỉnh sửa, bổ sung một số nội dung thuộc chuẩn mực kế toán Việt Nam và chế độ kế toán hiện hành và các quy định của chế độ kế toán Việt Nam hiện nay đang bộc lộ một số tồn tại” Các giải pháp về hoàn thiện chế tài xử phạt nghiêm khắc đối với các vi phạm về CBTT định kỳ
về BCTC của công ty đại chúng Theo quan điểm tác giả của Nguyễn Thị Hải Hà ghi
nhận trong bài viết “Chất lượng CBTT của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam thực trạng và giải pháp” [42, tr.43] để đảm bảo kỷ luật thị trường, đòi hỏi sự nỗ lực lớn
trong việc tuân thủ của phía cơ quan quản lý cũng như các
Trang 29công ty đại chúng trên thị trường Trong các nghiên cứu nêu trên đã chỉ ra định hướng
và giải pháp hoàn thiện pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK
Các nghiên cứu nêu trên thực sự có tính gợi mở rất cao cho Nghiên cứu sinh trong việc xây dựng khái niệm CBTT của công ty đại chúng trên TTCK ở Việt Nam
Tình hình nghiên cứu về giải pháp hoàn thiện pháp luật về CBTT của công
ty đại chúng trên TTCK
Đối với tác giả Nguyễn Thị Hải Hà [42, tr.43] tại bài viết “Chất lượng CBTT
của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam thực trạng và giải pháp”đề cập đến
việc “xác lập cơ chế tương tác hợp lý giữa nhà đầu tư, cơ quan quản lý và doanh
nghiệp” Ngoài ra, tác giả còn đề xuất áp dụng công nghệ thông tin hiện đại trong
quản lý và giám sát TTCK trong đó liên quan đến hoạt động CBTT của công ty đạichúng Quan điểm này cũng tương đồng với tác giả Phạm Thanh Thủy trong chuyên
đề nghiên cứu khoa học “Thực trạng minh bạch hóa thông tin trên TTCK Việt Nam
[93, tr.41], hay quan điểm trong bài viết “Đẩy mạnh hoạt động CBTT trên TTCK” của tác giả Tạ Thanh Bình và Phạm Thị Hằng Nga [6, tr.11] đã nêu:“Cơ quan quản
lý và công ty đại chúng phải đồng thời phát triển một hệ thống CBTT số hóa dựa trên nền Web Hiện nay, UBCKNN đã có hệ thống IDS (Information Disclosure System) và SGDCK Hà Nội đã có hệ thống CBTT CIMS, song SGDCK thành phố
Hồ Chí Minh chưa triển khai CBTT điện tử Ngoài ra, hệ thống công nghệ giữa các SGDCK và UBCKNN chưa liên thông để có thể chiết xuất được số liệu” Bên cạnh
đó, đa số các tác giả đều chung quan điểm về việc xây dựng các chỉ số minh bạch
thông tin đối với công ty đại chúng như tác giả Trịnh Hồng Hà khẳng định trong đề
tài nghiên cứu khoa học “Hoàn thiện hệ thống CBTT trên TTCK Việt Nam” [43, tr.102], và cũng là quan điểm của tác giả Trần Văn Long đưa ra trong Luận văn Thạc
sĩ luật học “Khung pháp lý điều chỉnh hoạt động CBTT trên TTCK Việt Nam: Thực
trạng và giải pháp hoàn thiện” [53, tr.95].
Trang 30 Tình hình nghiên cứu về nhóm giải pháp hỗ trợ khác
Để nâng cao hiệu quả hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK, bên cạnh các giải pháp như đã phân tích, các nghiên cứu đã có còn chỉ
ra một số giải pháp như sau:
- Đa dạng cơ cấu sở hữu, đặc biệt việc góp mặt của các nhà đầu tư nước ngoài vàviệc tăng quy mô doanh nghiệp gián tiếp tăng hiệu quả minh bạch hóa thông tin theo tác
giả Phạm Thanh Thủy trong chuyên đề nghiên cứu khoa học “Thực trạng minh bạch
hóa thông tin trên TTCK Việt Nam” [93, tr.42].
- Bổ sung các chế tài xử lý vi phạm nghĩa vụ CBTT của công ty đại chúng trên
TTCK quan điểm của tác giả Nguyễn Thị Hải Hà trong bài viết “Chất lượng CBTT
của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam thực trạng và giải pháp” [42, tr.42].
- Nâng cao vai trò của các Hiệp hội kinh doanh chứng khoán trong việc đảm bảo
tính minh bạch của thị trường theo Luận văn Thạc sỹ: “Pháp luật về CBTT trên TTCK
Việt Nam” của tác giả Viên Thế Giang [39, tr.68]
Qua khảo cứu các tài liệu về định hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệuquả hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK chúng ta thấy đặc điểmchung của các quan điểm, định hướng hoàn thiện pháp luật về CBTT của công tyđại chúng trên TTCK bao gồm xây dựng các nguyên tắc, chuẩn mực của thông tincông bố, quy định về tính định lượng của thông tin được công bố, ứng dụng côngnghệ trong hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK gắn liền với việchoàn thiện các quy định pháp luật về quản trị công ty đại chúng Các giải pháp đưa
ra tương đối đầy đủ, đa dạng, đa chiều nhưng các giải pháp này có mang lại hiệuquả trên thực tế cho hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK hay không
và thực hiện như thế nào là vấn đề luận án nghiên cứu sinh cần làm rõ
1.1.4 Đánh giá chung tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Những kết quả nghiên cứu đã đạt được
Trang 31 Về khía cạnh lý luận pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK:
Các nghiên cứu đã chỉ ra khá rõ các nguyên tắc, phân loại, nội dung, hình thức, phương tiện CBTT của công ty đại chúng trên TTCK Nghiên cứu sinh sẽ
kế thừa những kết quả nghiên cứu này trong luận án của mình cụ thể như:
- Những nghiên cứu lý luận về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK như:khái niệm, đặc điểm, công ty đại chúng và hoạt động CBTT của công ty đại chúngtrên TTCK; Sự cần thiết của hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK; Vaitrò của hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK; Phân loại thông tin phảicông bố trên TTCK; Nguyên tắc CBTT của công ty đại chúng trên TTCK;
- Những nghiên cứu lý luận về pháp luật điều chỉnh hoạt động CBTT của công tyđại chúng trên TTCK Cụ thể là: Khái niệm, đặc điểm pháp luật về CBTT của công tyđại chúng trên TTCK, cấu trúc pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK vàcác yếu tố tác động đến pháp luật điều chỉnh hoạt động CBTT của công ty đại chúngtrên TTCK.
Về khía cạnh thực trạng pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên
TTCK:
Các công trình nghiên cứu đã công bố cho thấy các tác giả đã phân tích, đánh giá, nhận định hiện trạng các quy định về pháp luật CBTT của công ty đại chúng trên TTCK, chủ yếu tập trung nghĩa cụ CBTT của công ty đại chung theo quy định của Luật chứng khoán và pháp luật CBTT Đại đa số các công trình nghiên cứu có đề cập đến kinh nghiệm của các nước có TTCK phát triển về một số khía cạnh như: hệ thống CBTT, quản trị dữ liệu, quản trị công
ty đại chúng, và gợi mở các kinh nghiệm cho Việt Nam.
Có nhiều bài viết, đề tài đưa ra các số liệu cụ thể trên thực tế về sự vi phạm chế
độ CBTT của công ty đại chúng theo hướng chỉ mang tính đối phó, hệ thống thông tinhình thức chưa phản ánh được bản chất nội tại của hoạt động thực tế của công ty đại
Trang 32chúng Đặc biệt có nhiều kết quả điều tra xã hội học, bảng phân tích số liệu về hoạt động CBTT cũng như vi phạm CBTT của công ty đại chúng Hơn nữa, hàng năm UBCKNN có báo cáo, thống kê về hoạt động CBTT của công ty đại chúng Những con số ấy sẽ là minh chứng cho việc đánh giá tính hiệu quả trong hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK ở Việt Nam.
Về khía cạnh định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK
Trong các công trình nghiên cứu đều đã đưa ra các quan điểm, nhận định tương đối đồng nhất về định hướng hoàn thiện pháp luật liên quan đến hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK ở Việt Nam.
Có nhiều bài viết, đề tài đưa ra quan điểm về khái niệm CBTT, CBTT của công
ty đại chúng trên TTCK Đồng thời có các kiến nghị hoàn thiện khung pháp lý và hệthống văn bản hướng dẫn về hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK; Giảipháp hoàn thiện hệ thống CBTT của UBCKNN, của công ty đại chúng trên TTCK; Giảipháp tăng khả năng thực thi pháp luật của cơ quan quản lý như UBCKNN, SGDCK;Giải pháp tăng cường hoạt động quản trị của công ty đại chúng; Giải pháp nâng caotrình độ, trách nhiệm của nhà đầu tư trong tiếp nhận và sử dụng thông tin
Những vấn đề nghiên cứu còn bỏ ngỏ hoặc đã nghiên cứu nhưng chưa sâu, chưa toàn diện
- Các nghiên cứu chưa đi tới cùng giải quyết mối quan hệ CBTT của công ty đạichúng trên TTCK với các chủ thể khác trên TTCK Do đó, luận án sẽ làm rõ hoạt độngCBTT của công ty đại chúng trên TTCK so với hoạt động CBTT của các chủ thể kháctrên TTCK.
- Làm sáng tỏ các yếu tố tác động đến pháp luật CBTT của công ty đại chúngtrên TTCK.
Trang 33- Hiện nay, trong tất cả các quy định của pháp luật về chứng khoán và CBTT chưa có khái niệm liên quan đến CBTT của công ty đại chúng trên TTCK.
- Cần làm rõ hơn nữa khái niệm, đặc điểm, nội dung của pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên thị trường khoán, bản chất, vai trò và sự ảnh hưởng của CBTT của công ty đại chúng trên TTCK hiện nay.
- Chức năng bảo vệ pháp luật chưa được thể hiện trong hoạt động CBTT của công ty đại chúng, chưa có chế tài xử lý triệt để Làm rõ các chế tài đối với hành vi vi phạm về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK.
- Nghiên cứu các tiêu chí CBTT của công ty đại chúng trên TTCK.
- Làm rõ nguyên tắc CBTT của công ty đại chúng trên TTCK trong mối tươngquan nguyên tắc hoạt động của TTCK.
- Mục tiêu, vai trò của hoạt động CBTT của công ty đại chúng đối với việc bảo vệ nhà đầu tư trên TTCK.
- Các nghiên cứu chủ yếu đề cập liên quan đến nghĩa vụ pháp lý của hoạt độngCBTT, chưa có nghiên cứu về hoạt động CBTT dưới góc độ là quyền của công ty đạichúng Chưa xác định quyền CBTT là quan trọng, cấp thiết, tự nguyện của công tyđại chúng Cần có quy định cơ chế khuyến khích CBTT đối với công ty đại chúnggiúp công ty đại chúng thấy được lợi ích của việc CBTT và giá trị của doanh nghiệpgắn liền với lợi ích này Phân tích tầm quan trọng của hoạt động CBTT của công tyđại chúng trên TTCK, xác định CBTT không thuần túy là nghĩa vụ mà đó còn là mộtquyền quan trọng giúp doanh nghiệp tăng giá trị, uy tín trên TTCK
- Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp liên quan nhằm hoàn thiện pháp luật
về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK và nâng cao hiệu quả của hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK ở Việt Nam.
1.2 Cơ sở lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu
1.2.1 Cơ sở lý thuyết
Trang 34- Luận án thực hiện trên cơ sở vận dụng phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước
và pháp luật, các quan điểm của Đảng về pháp luật, về công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, trên cơ sở phát triển kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa và Lý thuyết về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Lý thuyết thông tin bất cân xứng: Lý thuyết thông tin bất cân xứng (AsymmetricInformation) là trạng thái bất cân bằng trong cơ cấu thông tin giữa các chủ thể giao dịch
có mức độ nắm giữ thông tin không ngang nhau Một người sẽ có thông tin nhiều hơn sovới người khác về đối tượng được giao dịch Điều này dẫn tới nhiều vấn đề trong kinh tếhọc, hợp đồng và tài chính, luật học Lý thuyết thông tin bất cân
xứng lần đầu tiên xuất hiện vào những năm 1970 và đã khẳng định được vị trí của mìnhtrong nền kinh tế học hiện đại bằng sự kiện năm 2001, các nhà khoa học nghiên cứu lýthuyết này là George Akerlof, Michael Spence và Joseph Stiglitz cùng vinh dự nhận giảiNobel kinh tế Trải qua gần nửa thế kỷ, lý thuyết về thị trường có thông tin bất cân xứngngày càng trở nên vô cùng quan trọng và là trọng tâm nghiên cứu của kinh tế học hiệnđại và cả luật học Thông tin bất cân xứng càng trở nên phổ biến và trầm trọng khi tínhminh bạch của thông tin, khả năng tiếp cận thông tin và cơ sở hạ tầng thông tin yếukém Đối với các nền kinh tế mới nổi, thông tin không đối xứng có những ảnh hưởng rấtlớn Tại TTCK Việt Nam hiện tượng thông tin không đối xứng như: ngoài các thông tinbắt buộc theo luật định phải công bố thì các doanh nghiệp không chủ động cung cấpthông tin đầy đủ, kịp thời Hiện tượng rò rỉ thông tin chưa hoặc không được phép côngkhai Doanh nghiệp cung cấp thông tin không công bằng đối với các nhà đầu tư: ưu tiêncung cấp thông tin cho các nhà đầu tư chiến lược, các nhà đầu tư tổ chức mà khôngcông bố rộng rãi Thậm chí còn có hiện tượng lừa đảo, tung tin đồn thất thiệt, đơn vịtruyền thông cung cấp thông tin sai lệch, không đầy đủ Bởi lẽ, thông tin được coi là mộtloại tài sản có giá trị rất lớn đối với tất cả các nhà đầu tư trên TTCK Sở hữu thông
Trang 35tin nhanh, chính xác là một lợi thế rất lớn khi tham gia đầu tư trên TTCK Tuy vậy,không phải nhà đầu tư nào tham gia TTCK cũng có cơ hội được sở hữu một lượngthông tin như nhau cả về số lượng hay chất lượng Điều này xuất phát chủ yếu từviệc các công ty đại chúng không minh bạch trong CBTT, dẫn đến một nhóm nhàđầu tư được tiếp cận thông tin nhanh hơn, chính xác hơn và tất yếu sẽ có cơ hội thuđược nhiều lợi ích hơn so với những nhà đầu tư thông thường trong giao dịch chứngkhoán Bất cân xứng thông tin tạo ra nhiều rủi ro tiềm ẩn, gây thiệt hại cho một sốnhóm nhà đầu tư tham gia giao dịch, các chủ thể được coi là nhân tố quan trọng nhấtcủa thị trường nhưng cũng là chủ thế có vị thế yếu nhất của thị trường.
- Lý thuyết về hành vi: lý thuyết hành vi rất phát triển ở Mỹ Giải Nobel kinh tếnăm 2017 được trao cho GS Richard H Thaler, đến từ Đại học Chicago, Hoa Kỳ chonhững đóng góp của ông trong nghiên cứu về kinh tế học hành vi nhằm lý giải yếu tốtâm lý chi phối như thế nào tới các quyết định kinh tế Theo đó, hành vi của con ngườichỉ là những phản ứng (máy móc) quan sát được sau các tác nhân và nếu không quan sátđược những phản ứng thì có thể nói rằng không có hành vi Sở dĩ lý thuyết về hành vilại được áp dụng trong nghiên cứu luật học và đặc biệt là nghiên cứu pháp luật về chứngkhoán vì bởi lẽ mỗi hành vi được thực hiện thường gắn liền với những mục đích nhấtđịnh Thông thường hành vi sẽ được thực hiện khi có lợi cho chủ thể thực hiện vàthường chủ thể có xu hướng không thực hiện các hành vi bất lợi cho mình Trong hoạtđộng CBTT của công ty đại chúng trên TTCK, nhất là đối với chủ thể đại diện của công
ty đại chúng khi thực hiện hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK thườngcân nhắc tới việc thông tin công bố có ảnh hưởng bất lợi đối với công ty mình haykhông thậm chí là ảnh hưởng tới cá nhân người đại diện hay không? Nó có làm lộ thôngtin, bí mật kinh doanh của công ty mình hay không? Dẫn tới tình trạng thông tin đượccông bố sẽ bị sai lệch so với thông tin thực tế của công ty đại chúng nhằm bảo vệ những
Trang 36lợi ích riêng, lợi ích nhóm gây bất lợi đối với nhà đầu tư, thậm chí ảnh hưởng xấu đến thị trường.
- Lý thuyết về đảm bảo an toàn trong kinh doanh đầu tư chứng khoán: Sự an toàntrong kinh doanh đầu tư chứng khoán bị tác động rất lớn từ hoạt động CBTT của công
ty đại chúng trên TTCK Khi công ty đại chúng không minh bạch, không kịp thời tronghoạt động CBTT sẽ là nguyên nhân trực tiếp ảnh hưởng đến sự an toàn trong kinh doanhđầu tư chứng khoán của các nhà đầu tư Ngoài ra, an toàn trong kinh doanh đầu tưchứng khoán cũng phụ thuộc rất lớn vào chính sự đánh giá, khả năng phân tích, nhậnđịnh của chính nhà đầu tư khi quyết định đầu tư vào mỗi cổ phiếu trên TTCK
1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
Về khía cạnh lý luận hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK vàpháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK
Câu hỏi nghiên cứu: Hoạt động CBTT của công ty đại chúng có những đặc
thù gì so với hoạt động CBTT của các chủ thể khác trên TTCK? Các nội dung,
nguyên tắc, loại thông tin nào cần CBTT của công ty đại chúng trên TTCK?
Giả thuyết nghiên cứu: Hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK là
một hoạt động đặc thù có liên quan, tác động đến quyền và lợi ích hợp pháp của nhiềuchủ thể trên TTCK Hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK khác với hoạtđộng CBTT của các chủ thể khác trên TTCK thông qua việc xây dựng khái niệm, đặcđiểm, vai trò, vai trò của hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK; Kháiniệm, đặc điểm của công ty đại chúng trên TTCK Mặt khác, xây dựng các tiêu chí, yêucầu, nguyên tắc đối với thông tin phải công bố, loại thông tin cần công bố Vì thế, cầnxây dựng các tiêu chí CBTT cụ thể bởi không phải thông tin nào của công ty đại chúngcũng cần công bố trên TTCK Thậm chí, những thông tin công bố có thể mang đến cáctin đồn hoặc không cần thiết sẽ gây hậu quả xấu trên TTCK cũng như tâm lý nhà đầu
tư Đồng thời, việc xác định các tiêu chí, yêu cầu cụ thể đối với thông tin của
Trang 37công ty đại chúng phải công bố trên TTCK sẽ hạn chế được được sự vi phạm của chủ thể này trong hoạt động CBTT
Câu hỏi nghiên cứu: Pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên
TTCK được hiểu là gì? Có đặc điểm và có nội dung như thế nào? Các yếu tố
nào tác động đối với quan hệ pháp luật này?
Giả thuyết nghiên cứu: Pháp luật CBTT của công ty đại chúng trên TTCK là
một bộ phận của pháp luật TTCK Vì vậy, hoạt động CBTT của công ty đại chúngtrên TTCK có tác động rất lớn đến tính minh bạch, công khai, hiệu quả của TTCKnói chung Các công trình nghiên cứu đã chỉ ra được các ưu điểm, nhược điểm củacác quy định pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK Tuy nhiên, hầuhết các công trình nghiên cứu chưa chỉ ra được các nguyên nhân tác động đến hoạtđộng CBTT của công ty đại chúng trên TTCK như: các quy định chủ yếu tập trungliệt kê nghĩa vụ của công ty đại chúng trong hoạt động CBTT, chưa phân tích đặcđiểm, nội dung pháp luật và các yếu tố tác động đến pháp luật về CBTT của công tyđại chúng trên TTCK dưới góc độ là quyền, lợi ích hợp pháp của công ty đại chúng Do đó, thực tế các viphạm về nghĩa vụ CBTT của công ty đại chúng trên TTCK diễn ra ở mức công khai và báo động Hầu như các nghĩa vụ CBTT đều xảy ra sự vi phạm do mức độ xử lý tương đối nhẹ, chưa có tính răn đe các chủ thể vi phạm.
Thực trạng pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK ở Việt Nam
Câu hỏi nghiên cứu: Thực trạng pháp luật về CBTT của công ty đại
chúng trên TTCK ở Việt Nam hiện nay như thế nào? Những mặt đạt được và
những bất cập, tồn tại của hoạt động CBTT và pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK hiện nay là gì?
Giả thuyết nghiên cứu: Tìm hiểu pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên
TTCK ở Việt Nam còn nhiều bất cập, cần thiết phải có những phân tích đánh giá, bình
Trang 38luận cụ thể về quy định của pháp luật và thực tiễn thực thi pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK ở Việt Nam, trên cơ sở đó tìm ra các nguyên nhân của bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật.
Định hướng, giải pháp tăng cường hoàn thiện pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK
Câu hỏi nghiên cứu: Định hướng, giải pháp nào để hoàn thiện pháp luật
về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK và tăng cường, nâng cao hiệu quả
hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK ở Việt Nam?
Giả thuyết nghiên cứu:Các định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về CBTT
của công ty đại chúng trên TTCK đã có nhiều công trình nghiên cứu nhưng chưa đầy
đủ, toàn diện, cụ thể Do đó, để hoàn thiện các quy định pháp luật về CBTT của công tyđại chúng trên TTCK cần đưa ra những phương hướng, tiêu chí, giải pháp cụ thể đểđảm bảo hài hòa lợi ích của công ty đại chúng với lợi ích các nhà đầu tư, đặc biệt là nhàđầu tư không chuyên nghiệp, nhằm nâng cao tính minh bạch, công khai, hiệu quả củathị trường Việc rà soát, phân loại, đánh giá các quy định của pháp luật liên quan đếnhoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK là hết sức quan trọng nhằm có cácgiải pháp hữu hiệu đối với các khiếm khuyết của pháp luật
Kết luận chương 1
Thông qua việc nghiên cứu tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước liênquan đến hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK, nghiên cứu sinh nhậnthấy hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK đóng vai trò đặc biệt quantrọng trên TTCK CBTT của công ty đại chúng trên TTCK ảnh hưởng trực tiếp đếncung cầu chứng khoán, là cơ sở và động lực cho quyết định mua vào hay bán ra của nhàđầu tư trên thị trường sau khi tiếp nhận và phân tích các thông tin này Đồng thời, xéttrên phương diện vĩ mô nền kinh tế những thông tin công bố của công ty đại chúngcũng phần nào nói lên tình hình chung của toàn nền kinh tế của đất nước Mặt khác,
Trang 39trên TTCK của Việt Nam hiện tượng bất cân xứng thông tin trong việc tiếp nhậnthông tin thường xuyên xảy ra, thông tin công bố trên thị trường còn nhiều bất cập,chưa phù hợp với xu hướng chung của nền kinh tế Trong phạm vi của luận án,nghiên cứu sinh mong muốn giải quyết thêm một số vấn đề lý luận và thực tiễn liênquan đến hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK ở Việt Nam.
Thứ nhất, về lý luận hiện nay chưa có khái niệm cụ thể liên quan đến hoạt
động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK Các văn bản quy phạm pháp luật
cũng chưa ghi nhận khái niệm cụ thể về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK
Thứ hai, những công trình nghiên cứu đã có cũng đưa ra những bất cập của pháp
luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK Tuy nhiên, hầu hết các công trình mớichỉ tiếp cận ở một số nội dung liên quan đến CBTT của công ty đại chúng trên TTCK,pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK Các công trình nghiên cứu mớitiếp cận, đánh giá, phân tích các khía cạnh đơn lẻ liên quan đến CBTT của công ty đạichúng trên TTCK Các công trình chưa đánh giá một cách toàn diện sự tác động củahoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK tới chính công ty đại chúng, nhàđầu tư và các chủ thể khác trên thị trường và nền kinh tế
Thứ ba, đã có rất nhiều các giải pháp về CBTT của công ty đại chúng
trên TTCK, hoàn thiện pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK
nhưng hiệu quả áp dụng còn chưa cao Vì hầu hết các tác giả đang tiếp cận ở một số khía cạnh của CBTT của công ty đại chúng trên TTCK mà chưa tiếp cận một cách toàn diện về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK và pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK cũng như sự tác động đặc biệt quan trọng của hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK tới hoạt động của TTCK nói chung - kênh huy động vốn hữu hiệu của nền kinh tế.Tại chương 1 về tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đế đề tài luận án chotác giả tiếp cận một cách tổng thể liên quan đến pháp luật về CBTT của công ty đại
Trang 40chúng trên TTCK từ góc độ lý luận, thực trạng và giải pháp Nghiên cứu sinh
đã hệ thống và nêu ra những kết quả nghiên cứu đã đạt được, những kết quả nghiên cứu còn chưa cụ thể hoặc những nội dung còn bỏ ngỏ để từ đó lựa chọn những nội dung cần làm rõ và phát triển trong luận án của mình.
Cụ thể tại chương 1 của luận án, trên cơ sở phân tích và đánh giá tình hìnhnghiên cứu liên quan đến đề tài, nghiên cứu sinh đưa ra định hướng nghiên cứu trên
cơ sở đặt ra các câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu để làm rõ các nội dungliên quan đến các vấn đề lý luận, thực trạng, định hướng và giải pháp tăng cườnghoàn thiện pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK ở Việt Nam