Trong số đó có một số chạy vào Nghệ An để n ơng thân ở vùng Nam Đàn phải đổi họ Hồ thành họ Nguyễn.. Mùa xuân năm 1901, sau tết ông Nguyễn Sinh Sắc và con trai từ Thanh Hóa về Huế, bàng
Trang 1Vì sao trái đất nặng ân tình
Trang 2Tìm hiểu cơ sở hình thành Tấm g ơng đạo đức
Hồ Chí Minh
A Lịch sử dân tộc Việt Nam thế kỉ XV
Ngày 28/02 năm Canh Thìn (1400), Hồ Quý Ly lật đổ nhà Trần dựng
ra n ớc Đại Ngu (Tr ớc là Đại Việt) và tiến
hành hàng loạt các chính sách cải cách
kinh tế xã hội
Lấy cớ phù Trần diệt Hồ, giặc Minh sang xâm l ợc n ớc ta Nhà Hồ
chống cự không nỗi, đất n ớc rơi vào tay
giặc Minh Các quan quân triều Hồ kẻ bị
giết, kẻ bị bắt đ a về Trung Quốc, kẻ chạy
thoát thân, mai danh ẩn tích Trong số đó
có một số chạy vào Nghệ An để n ơng
thân ở vùng Nam Đàn phải đổi họ Hồ
thành họ Nguyễn
(Thành nhà Hồ)
Trang 3B Dòng họ Nguyễn ở Làng Sen
Làng Sen: Vùng này nhiều sen:
Đồng Sen, Cồn Sen, Đầm Sen, Giếng Sen
Mỹ Liên sau đổi thành Kim Liên Làng Sen
có 5 Ph ờng: Ph ờng giữa – Xóm Đông Lĩnh;
Ph ờng Phú Đầm – Xóm Nam Lĩnh; Ph ờng Cơn Trôi – Xóm Tây Lĩnh; Ph ờng Th ợng – Xóm Th ợng Thọ; Ph ờng Ngoài – Xóm Trung Ca
Lai lịch Họ Nguyễn: Trong gia
phả Họ Nguyễn còn ghi lại: Hoàng sơ tổ khảo Họ Nguyễn là cụ Nguyễn Bá Phụ, tiếp
đến Nguyễn Bá Bạc, tiếp đến Nguyễn Bá Ban rồi đến Nguyễn Văn Dân (4 vị tổ họ Nguyễn, khoảng 200 năm, từ TK XV – TK XVII)
Trang 4Đến đời cụ Nguyễn Vật, bắt đầu lót chữ “Sinh” (bởi ông là Giám sinh triều
Lê Thánh Đức – Năm thứ 3)
Ông tổ thứ 6 là Nguyễn Sinh Trí, tiếp đến Nguyễn Sinh Nhậm là đời thứ 10
sinh đ ợc 1 con trai là Nguyễn Sinh Trợ
(đầu TK XIX)
Vợ mất, ông Nguyễn Sinh Nhậm
lấy vợ kế là bà Hà Thị Hy (Một cô gái tài
hoa nhan sắc nổi tiếng trong vùng Nhiều
ng ời hỏi mà không ng lấy) sinh ra Nguyễn
Sinh Sắc (1863 – Quý Hợi)
(Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc)
Trang 5Khi cha mÊt, NguyÔn Sinh S¾c ® îc anh Trî cho ®i häc, häc giái vµ kÕt b¹n víi Phan V¨n San, V ¬ng Thóc Quý (lµ nh÷ng danh nh©n næi tiÕng ë Nam §µn).
Cô tó Hoµng Xu©n § êng th©n sinh ra Hoµng ThÞ Loan vµ Hoµng ThÞ An ThÊy cËu S¾c th«ng minh, nhµ nghÌo nªn ® a vÒ nhµ d¹y ch÷
Khi O Loan (13 tuæi), cô tó § êng cho
O Loan kÕt duyªn víi cËu nho S¾c (18 tuæi)
Trang 6N¨m 16 tuæi O Loan sinh con g¸i ®Çu
(Vâng gai vµ khung dÖt v¶i trong nhµ B¸c)
(Bµ NguyÔn ThÞ Thanh) (¤ng NguyÔn Sinh Khiªm) NguyÔn ¸i Quèc –
(1911)
Trang 7Năm 1894 (Giáp Ngọ), anh nho Sắc dự khoa thi H ơng ở Vinh và thi đỗ.
sức vào Huế làm quan,
vừa dạy học cho 2 con và
Trang 8Quan th ợng th bộ binh Đào Tấn (tr ớc là
trấn thủ An-Tĩnh), một ông quan yêu n
ớc
Quan Ngự sử Phan Đình Phùng (thủ lĩnh
khởi nghĩa H ơng Khê) đã từ trần trên núi
Quạt (49 tuổi)
Năm 1898, cử Sắc lại không đỗ khoa thi
hội Mậu Tuất (36 tuổi) Đến dạy học ở
nhà ông Nguyễn Viết Chuyên, ông
Nguyễn Độ trong thành Huế
(Cụ Phan Đình Phùng)
Trang 9Mùa hè năm 1900, Bà Hoàng Thị Loan (32 tuổi) sinh con trai út là Nguyễn Sinh Nhuận (Nhuận
nghĩa là thêm) Tự là Tất Danh Nguyễn Sinh Sắc đ a
Nguyễn Sinh Khiêm đi coi thi h ơng ở Thanh Hóa Bà
con gọi bé Nhuận là em Xin, do mẹ bị hậu sản không
có sữa cho em
Ngày 22/12 năm Canh Tý (10/02/1901) giáp tết Bà Hoàng Thị Loan mất (thọ 33 tuổi) Bà sinh năm
Mậu Thìn (1868)
Mùa xuân năm 1901, sau tết ông Nguyễn Sinh Sắc và con trai từ Thanh Hóa
về Huế, bàng hoàng đau đớn tr ớc cảnh vợ
mất và con trai út đang hấp hối trên tay Côn
Chôn cất xong bé Xin, Nguyễn Sinh Sắc xin nghỉ việc quan, cả 3 cha con
lẻo đẻo, buồn bả trở về quê nhà Cả nhà
bàng hoàng, đau đớn xót xa tr ớc cái chết
của hai mẹ con bà Hoàng Thị Loan ở trong
Huế!
(Bà Hoàng Thị Loan)
(Mộ bà Hoàng Thị Loan ở Nam Đàn)
Trang 10Cử Sắc lại quyết chí trở vào Huế chờ thi hội,
Côn ở nhà học rất giỏi
Nguyễn Sinh Sắc thi hội đã đậu Phó Bảng (Hội
thí – t ơng đ ơng phó tiến sĩ
bây giờ) Cả huyện Nam Đàn
đi r ớc quan Phó Bảng
Cùng đậu khoa này
có Phan Chu Trinh – Một trí
sĩ yêu n ớc đ ơng thời
Ông Nguyễn Sinh Sắc không vào Huế làm quan, mặc cho triều đình sức gọi Ông ở nhà dạy học và bàn luận thời cuộc với Phan Bội Châu, V ơng Thúc Quý tìm đ ờng cứu n ớc Chị Thanh (Bạch Liên đã 18 tuổi)
Trang 11Côn băn khoăn hỏi cha về sự tích đền Thục Phán (Đền An D ơng V ơng - Đền Cuông), núi cụt đầu
(Lèn hai vai), núi trống thủng, cờ rách Qua Hà Tĩnh,
thăm quê Nguyễn Du, thăm dinh thự Quận Công Hoàng
Cao Khải
“Kìa ba ông lão bé con con,
Biết có tình gì với n ớc non.
Tr ơng mắt làm chi ngồi mãi đó,
Hỏi xem non n ớc mất hay còn?”
(Hoàng Cao Khải)
(Cảnh sông Lam núi Hồng)Côn chê thơ của các quan nỏ hay và làm thơ họa lại:
Trang 12Côn hỏi bà ngoại về tích vua Đỗ Vũ (n ớc Thục, hiệu là Vọng Đế) bị mất n ớc mà hóa ra chim quốc kêu
suốt đêm , đến mức nhỏ máu ra miệng Bà ngoại mất, Côn
vô cùng đau khổ! Vì cái chết hay ám ảnh Côn: Ông, mẹ,
em, bà
Phan Bội Châu lập Duy Tân Hội tháng 5/1904,
do C ờng Để làm Hội tr ởng, Côn 14 tuổi Ông Sắc ít tán
thành đ ờng lối cứu n ớc của PBC PBC ra đi, nói với Côn “
Chú hy vọng sẽ gặp cháu trên con đ ờng vì nghĩa lớn”
V ơng Thúc Quý và PBC làm thơ tặng quan Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc tr ớc lúc chia tay:
D ới s ờn núi Độc Lôi, Mé tây cầu Hữu biệt Gió hiu hiu
thổi, Bịn rịn cầm tay áo anh M a bay lất phất, Cùng anh
Trang 13Thời niên thiếu
Côn sửa soạn chuẩn bị cho chuyến đi theo cha lần thứ 2 vào Huế Chị Thanh đã 20
tuổi, ch a lấy chồng làm cho ông Sắc rất băn
khoăn, ông nghĩ: “ Nó là con gái dám chết nơi
biển cả chứ không chịu sống nơi đĩa đèn ”
Ba cha con lên đ ờng giữa mùa h ơng sen thơm ngào ngạt Vào Huế với tên gọi mới: Quan
Phó Bảng Nguyễn Sinh Huy và hai con là Nguyễn
Tất Đạt và Nguyễn Tất Thành Hai anh em đến
viếng mộ Mẹ và em Xin trên nghĩa địa Nam Giao
bên bờ sông H ơng Huế có nhiều thay đổi: Tây,
gái điếm nhiều hơn tr ớc
Nguyễn Sinh Huy nhận chức Thừa Biện
Bộ Lễ, gặp Phan Chu Trinh cáo quan đang về ở
ẩn PCT diễn thuyết tr ớc học sinh tr ờng Quốc học
Huế đòi dân sinh, dân quyền Từ Nhật PBC gửi “L
u cầu huyết lệ tân th ” về làm chấn động cả n ớc
(Cụ Phan Châu Trinh)
(Tr ờng Quốc học Huế)
Trang 14NguyÔn TÊt Thµnh lµ mét trong 5 häc sinh häc giái nhÊt tr êng, ® îc thÇy hiÖu tr ëng ngîi
n÷ HuÖ Minh vµ Lª ThÞ H¹nh th× häc ë tr êng Tam
Tßa – Mét tr êng n÷ sinh lín nhÊt Trung Kú
(Bµ NguyÔn ThÞ Thanh)
(NguyÔn ¸i Quèc – ë Ph¸p)
Phong th viÕt véi, chÞ göi hai em.
GiÊy tr¾ng mùc ®en, th¾m t×nh cña chÞ.
NiÒm th ¬ng nh bÓ, nçi nhí nh non.
Tr¨ng khuyÕt tr¨ng mßn, lóc m a lóc n¾ng.
Trang 15Lòng chị nỏ vắng, một phút hình em.
Th ơng cha ngày đêm, một mình một bóng Khác chi gà trống, nhặt thóc nuôi con Sầu n ớc héo hon, thờ vua khô dạ
Em ơi có rõ, chị sống một thân.
Giữ nếp thanh bần, mà không dốt nát.
Chị đã học đ ợc, chữ mới nh em.
Nghe lời Giải San, chị vô Hội Kín
Hai em đã lớn, nhiều chữ gần cha.
ắt là nhìn ra, con đ ờng cứu n ớc.
Trang 16Đọc th chị, Thành khóc Thầy Lê Văn Miến thấy hai anh em học giỏi, nên nhận cả hai vào học tr ờng Quốc học
Huế Thành đọc cuốn “Không gia đình” của Ecto-ma-lô, anh
suy nghĩ nhiều về cái tr ờng Quốc học này, về đất n ớc đang bị
nô lệ, anh rất buồn
Ông Đặng Thái Thân từ Nhật về gặp Thành, trao
đổi ý muốn đ a anh sang Nhật nh ng Thành không đồng ý
Anh đang tìm hiểu xã hội Pháp qua sách báo, anh đọc sách
của Môngtetxkiơ và Rút-xô Anh chia tay Đặng Thái Thân
nh ng chung một lý t ởng cứu n ớc
Đức vua Thành Thái m u đánh đổ Pháp bị lộ, bị bắt hạ ngục (do tên việt gian Tr ơng Nh L ơng tố cáo với Pháp)
Thành Thái hoạt động trong Duy tân Hội, định trốn sang
Nhật Ba cha con Thành rất đau buồn!
Sáng ngày 21 tháng 6 Đinh Mùi (tức 30-07-1907)
Đức vua Thành Thái phải đi đày biệt giam tại Trại Ô Cấp ,
Vũng Tàu Nhân dân ta khắp nơi nghe tin vô cùng đau xót
Đến năm 1915 chúng bí mật đ a sang đảo Rê-uy-ni-ông
Ngày 03-05-1916 chúng lại đày vua Duy Tân, con vua
Thành Thái sang một chỗ với cha
(Vua Thành Thái)
(Vua Duy Tân)
Trang 17Nguyễn Sinh Huy bị buộc thôi giữ chức Thừa Biện Bộ Lễ, bổ nhiệm tri huyện Bình Khê -
Bình Định
Thầy V ơng Thúc Quý xuất d ơng bị mất ngày 10-06 năm Đinh Mùi (tức là ngày 19 tháng 7 năm
1907) Nguyễn Tất Thành định về quê viếng thầy và
thăm chị Thanh trong dịp hè nh ng bố lại cho anh Đạt
đi Thành đọc cuốn “Những ng ời khốn nạn” của Victo
Huygô Anh tiễn cha vào nhận chức ở Bình Khê
vào Sài Gòn còn Tôn Nữ Huệ Minh đã lấy chồng Hai
anh em đến trọ tại quán Ao Hồ (đ ờng Mạc Đỉnh Chi)
Trang 18Thầy Lê Văn Miến th ơng tâm, cho hai anh em về nhà thầy ở nh ng Thành muốn tự lập cho quen.
Trên đ ờng vào phía nam , Thành làm quen với cánh lái buôn
kẹo mạch nha ở Quãng Ngãi Vào
Bình Định thăm cha, xin dạy học ở tr
ờng Dục Thanh – Phan Thiết do ông
Hồ Tá Bang(bạn của ông Nguyến
Sinh Huy) là giám đốc công ty n ớc
mắm Phan Thiết sáng lập
Một sáng tháng 4 năm 1908, Thành và các bạn học sinh Quốc học Huế cùng nhân dân Thừa Thiên Huế biểu tình ở tòa khâm xứ đòi quyền lợi Bọn Pháp thấy anh đi đầu trong đoàn biểu tình tìm cách để bắt Sau 4 ngày (từ 9 đến 13-04-1908) cuộc biểu tình bị dập tắt, học sinh Quốc học Huế bị truy nã, thầy Miến phản
đối, nhờ có Huệ Minh xin cho Thành trở lại tr ờng học Thành quyết định bỏ tr ờng ra
đi để tìm đ ờng cứu n ớc chứ không chịu sống nô lệ
(Cuộc biểu tình của học sinh Tr ờng Quốc
học Huế – 1908)
Trang 19Ông Nguyễn Sinh Huy gửi th vào cho Thành có
ý bỏ việc quan ở Bình Khê
Từ biệt tr ờng Dục Thanh, thầy Thành để lại hai phong th cho nhà tr ờng để vào Sài Gòn( tháng 10/1910)
Thành gặp bạn cũ là Phạm Văn Cần, gửi th về cho chị Thanh và anh Khiêm Thầy Thành rất mực yêu th
ơng học sinh, cho em Lê Trung Liệt tiền để mua thuốc cho
mẹ ốm, học sinh rất mến thầy
(T ợng Bác Hồ ở Tr ờng Dục Thanh)
(Tr ờng Dục Thanh – Phan Thiết)
Thành gặp T Lê tr ớc là học sinh cùng tham gia biểu tình ở Huế – 1908 đang làm phu khuân vác d ới
thuyền Thành kết bạn với T Lê để cùng tính đ ờng vào Sài
Gòn T Lê gọi thầy Thành là anh Ba
Trang 20Tuổi hai m ơi
Anh Ba vào Sài Gòn, T Lê
dẫn vào ở nhà ông già Đờn, làm
phu khuân vác ở cảng Nhà Rồng
út Huệ là con gái già Đờn rất
quý mến anh Ba Anh bắt đầu
tìm hiểu XH Thực dân ở Sài
Gòn, đi tìm cha Gặp Diệp Văn
Kỳ đã có vợ là Nguyễn Thị
Hạnh Gặp cha Huy đang bốc
thuốc chữa bệnh cho dân ở Sài
Gòn, cha nói: “ N ớc mất, con lo
tìm đ ờng cứu n ớc chứ tìm gặp
cha lúc này có nghĩa lí gì? ”
Anh Ba chuẩn bị ra n ớc ngoài, tết đến anh mua cho út Huệ một chiếc khăn rằn đội đầu và hai khăn mùi xoa cột tóc, mua cho ông già Đờn hộp dây đàn, mua cho Sáu Đen và Chín Mập (bạn làm phu) một chai r ợu Cô nhắc
(Sài Gòn năm 1911)
Trang 21Tháng 6/1911: Sài gòn mùa hoa điệp đỏ Ông chủ sự cảng nhà
Rồng hẹn với anh Ba: Ngày 2/6 tàu đô
đốc La- tu-sơ Tơ-rê-vin từ Tua – ran
sẽ cập bến Nhà Rồng Có thể tuyển
thêm bồi tàu, tôi sẽ giới thiệu anh với
ông thuyền tr ởng Lu-i Ê-đu-ra
Mai-sen Rất tiếc khi anh Ba đến, chủ tàu đã
Đờn, anh em đến học rất đông Anh
Ba cầm tay từng ng ời dạy cho từng
nét chữ Lần đầu tiên cầm tay út
Huệ, út Huệ vô cùng cảm động nói:
“Chữ anh Ba đã thắp sáng lên trong
trái tim những ng ời thợ !”
(Cảng Nhà Rồng)
Trang 22Tàu đô đốc La-tu-sơ
Tơ-rê-vin thuộc hãng tàu Sác-giơ
Rê-uy-ni thuộc loại lớn nhất của
hãng ở đầu thế kỉ XX này Dài
120m, rộng 15m20 trọng tải
5.572 tấn Máy hơi n ớc 2800 sức
ngựa Chạy một mạch 12000 hải
lý không nghĩ bến Trên tàu có
đủ tiện nghi, đáy chứa 900 tấn n
ớc ngọt, hầm than 150 tấn
Anh Ba báo tin cho út Huệ biết: “Tôi đi xa, xa lắm, đi khỏi n ớc mình Mà
ngày trở về của tôi xa mù mịt, không liệu tr ớc đ ợc ”
(Con tàu Đô Đốc La-tu-sơ Tơ-rê-vin )
Trang 23Sáng ngày 05/6/1911, anh Ba cùng
ông già Đờn, T Lê, Sáu Đen, Chín
Mập và út Huệ tiễn anh Ba xuống
tàu Bốn ng ời quay lại, để út Huệ
tiễn anh Ba đoạn đ ờng cuối, trên tay
ôm một gói nhỏ, cô nghẹn ngào nói:
Em muốn nói với anh, chỉ sợ anh c
“
ời em Anh nói đi anh ! Em muốn
đ ợc nghe anh nói với em một tiếng
giữa phút giây này anh Ba ạ!”
út Huệ vá áo cho anh Ba mà buồn đến run ng ời, nghẹn ngào muốn khóc, trao chiếc áo
cho anh Ba cô nói: Những đ ờng kim về sau vì vội nên không đ ợc đều, anh vui lòng“
nghe ” Cả nhà liên hoan cho anh Ba đi, thâu đêm tới sáng út Huệ lo hành lý cho anh
Ba mà giàn giụa n ớc mắt
(Con tàu rời cảng Nhà Rồng ra đi)
Trang 24Sông ơi! Đừng mọc đá ngầm,
Biển ơi! Đừng dung sóng dữ.
Anh đi thuận gió xuôi buồm,
Hỡi những ph ơng trời xa lạ.
Hãy đón lấy anh,
Một chàng trai n ớc Việt.
Anh là của n ớc của dân,
Tất cả đợi anh về!
Anh Ba không nói gì chỉ nhìn cô trìu mến, cái nhìn biệt ly rồi dảo b
ớc lên cầu tàu, vì tàu đang đổ còi giục Anh Ba đứng trên boong tàu quay lại vẫy tay từ biệt mọi ng ời, út Huệ quỳ xuống mép n ớc, chắp hai tay tr ớc ngực, cô khấn:
(Nguyễn ái Quốc -1920)
Trang 25(C¶ng Nhµ Rång - 1911)