Điều này có nhiều nguyênnhân trong đó có nguyên nhân từ việc pháp luật về hợp đồng, hợp đồng muabán hàng hóa và nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hoa cònnhiều bất cập, chưa
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HOÀNG TÙNG
NGHĨA VỤ THANH TOÁN TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA THEO PHÁP
LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
HÀ NỘI - năm 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và có nguồn trích dẫn rõ ràng Kết quả nghiên cứu của luận văn không có sự trùng lặp với bất kỳ công trình nào đã công bố.
Hà Nội, tháng 06 năm 2019
Tác giả
Hoàng Tùng
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGHĨA VỤ THANH
TOÁN TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA 61.1.Khái quát chung về hợp đồng mua bán hàng hóa 61.2 Khái quát về nghĩa vụ hợp đồng 111.3 Khái niệm và đặc điểm của nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng muabán hàng hóa 151.4 Nội dung của nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hóa 191.5 Thực hiện nghĩa vụ thanh toán và bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thanhtoán trong hợp đồng mua bán hàng hóa 201.6 Vi phạm nghĩa vụ thanh toán và xử lý hành vi vi phạm nghĩa vụ
thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hóa 25
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC
HIỆN PHÁP LUẬT VỀ NGHĨA VỤ THANH TOÁN TRONG HỢP
ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 332.1 Thực trạng pháp luật về nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng mua bánhàng hóa 332.2 Thực trạng tranh chấp nghĩa vụ thanh toán và thực tiễn giải quyết tranhchấp về nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hóa 402.3 Đánh giá pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về nghĩa vụ thanhtoán trong hợp đồng mua bán hàng hóa
Chương 3: MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ NGHĨA VỤ THANH TOÁN TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 593.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện
pháp luật về nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hóa 593.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật 61
Trang 53.3 Giải pháp hạn chế tranh chấp và nâng cao hiệu quả của việc giải quyếttranh chấp nghĩa vụ thanh toán trong Hợp đồng mua bán hàng hóa 65
KẾT LUẬN 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Namhiện nay, các hoạt động thương mại đang diễn ra rất mạnh mẽ và sôi động.Đặc biệt, khi Việt Nam đã trở thành thành viên của Tổ chức Thương Mại ThếGiới WTO, ký kết và gia nhập hàng loạt các Điều ước quốc tế về thương mạithế hệ mới trong đó có Công ước Viên về mua bán hàng hóa quốc tế Trongcác hoạt động thương mại hoạt động mua bán hàng hóa diễn ra phổ biến nhất
và đóng vai trò quan trọng Có thể thấy, trải qua nhiều thế kỷ, trao đổi hànghóa là hoạt động chính trong hoạt động thương mại, là cầu nối giữa sản xuất
và tiêu dùng, không chỉ giới hạn ở phạm vi mỗi quốc gia mà còn mở rộng racác quốc gia khác nhau trên toàn thế giới Việc nắm vững, hiểu rõ các quyđịnh của pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa sẽ giúp các chủ thể kinhdoanh ký kết và thực hiện hợp đồng được thuận lợi và hiệu quả Tuy nhiên,một thực tế là còn khá nhiều thương nhân trong nước tỏ ra lúng túng khi thựchiện các hợp đồng mua bán hàng hoá, từ đó dẫn đến những tranh chấp đángtiếc xảy ra giữa các thương nhân với nhau trong quan hệ mua bán hàng hoá.Hoạt động mua bán hàng hóa trong thương mại được thực hiện dưới hình thứchợp đồng mua bán hàng hóa Trên cơ sở hợp đồng mua bán hàng hóa làm phátsinh các nghĩa vụ hợp đồng trong đó có nghĩa vụ thanh toán
Thực tiễn cho thấy, các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng mua bán hànghóa chủ yếu từ việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán Điều này có nhiều nguyênnhân trong đó có nguyên nhân từ việc pháp luật về hợp đồng, hợp đồng muabán hàng hóa và nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hoa cònnhiều bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu điều chỉnh kịp thời, toàn diện, đầy đủ cácquan hệ về mua bán hàng hóa đang diễn ra sôi động và phức tạp như hiện nay.Bên cạnh đó, nhận thức về vai trò, ý nghĩa của pháp luật về hợp đồng mua bánhàng hóa, nghĩa vụ thanh toán của các thương nhân chưa cao Chính vì
Trang 7vậy, làm cho pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa và nghĩa vụ thanh toántrong hợp đồng mua bán hàng hóa chưa đi vào cuộc sống, trong giao dịch muabán hàng hóa vẫn còn tiềm ẩn rủi ro cho các bên tham gia quan hệ, chưa thúcđẩy các giao dịch mua bán hàng hóa phát triển lành mạnh.
Từ thực tiễn đó đặt ra yêu cầu phải bổ sung hành lang pháp lý điềuchỉnh mới hoặc sửa đổi cách thức điều chỉnh tại Luật Thương mại nói chung,pháp luật về mua bán hàng hóa và nghĩa vụ thanh toán trong mua bán hànghóa nói riêng để phù hợp với sự phát triển của các hoạt động này cũng nhưmục tiêu quản lý trong giai đoạn mới Điều này vừa nhằm bảo đảm cơ sởpháp lý thực hiện các quy định của Hiến pháp về quyền tự do kinh doanh củacông dân trong các ngành, nghề mà luật không cấm, vừa nhằm đảm bảo cáchoạt động kinh doanh thương mại diễn ra lành mạnh, minh bạch, đảm bảocạnh tranh bình đẳng và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Để làm được điều
đó cần thiết có những nghiên cứu lý luận và thực tiễn nhằm góp phần hoànthiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về nghĩa vụ thanh toántrong hợp đồng mua bán hàng hóa ở Việt nam hiện nay Đây là lý do để học
viên lựa chọn đề tài cho Luận văn Thạc sĩ luật học: Nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hóa theo pháp luật Việt Nam hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Mua bán hàng hóa là một trong những chế định quan trọng của LuậtThương mại đã được nghiên cứu nhiều trong khoa học pháp lý Việt Nam Đểgiải quyết nhiệm vụ nghiên cứu, học viên tham khảo các công trình nghiêncứu liên quan đến đề tài ở các cấp độ và phạm vi khác nhau
Nhóm thứ nhất, các nghiên cứu về hợp đồng mua bán hàng hóa Các tài
liệu này giúp học viên tổng kết, khái quát lý luận làm nền tảng để giải quyếtvấn đề nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hóa Về nội dungnày có các công trình sau đây:
Trang 8Sách Tìm hiểu pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa và đại diện thương mại, TS Nguyễn Am Hiều- Ths Quản Thị Mai Hương, NXH Đà Nẵng năm 2000; PGS.TS Nguyễn Như Phát- ThS Ngô Huy Cương, Những khác biệt giữa Luật Thương mại Việt Nam và chế định pháp luật thương mại các nước; PGS TS Nguyễn Như Phát ( chủ biên), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật hợp đồng ở Việt Nam hiện nay”; Sách “ Chuyên khảo Luật Kinh tế” của PGS.TS Phạm Duy Nghĩa, “ Pháp luật thương mại về mua bán hàng hoá - Thực trạng và nhu cầu hoàn thiện” của Ths Đặng Quốc Tuấn, “ Các chế định cụ thể về các loại hành vi thương mại nên được xử lý như thế nào trong Luật Thương mại sửa đổi và phương pháp điều chỉnh” của PGS.
TS Mai Hồng Quỳ; Luận văn “Hợp đồng mua bán hàng hóa từ lý thuyết đến thực tiễn áp dụng tại công ty TNHH IPC” của tác giả Phạm Thị Lan Phương – Đại học Kinh tế Quốc dân; luận văn“Hợp đồng mua bán hàng hóa và thực tiễn áp dụng tại công ty cổ phần hóa dầu Petrolimex” của tác giả Vũ Phương Huyền; Luận văn “Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt đồng mua bán hàng hóa quốc tế” của tác giả Dương Bảo Trân – Đại học Cần Thơ Các
công trình trên đã góp phần quan trọng vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luậtViệt Nam về thực hiện HĐMBHH Tuy nhiên, cho đến nay các công trìnhnghiên cứu trên đều chưa tập trung đánh giá thực tiễn việc thực hiện hợp đồngnày cũng như chưa đưa ra được các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quảcủa việc ký kết cũng như thực thi HĐMBHH Đây là vấn đề cấp thiết đặt ratrong tiến trình hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung, hệ thống pháp luậtkinh tế nói riêng ở nước ta
Nhóm tài liệu thứ hai, bao gồm các công trình nghiên cứu về nghĩa vụ
dân sự Trong nhóm này kể đến các công trình tiêu biểu như: Bình luận khoa học Bộ luật dân sự 2015 do PGS.TS Nguyễn Văn cừ- PGS TS trần Thị Huệ chủ biên; Luật nghĩa vụ dân sự và bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự- Bản
án và Bình luận bản án của PGS.TS Đỗ Văn Đại, NXB Chính trị quốc gia
2012; Nghĩa vụ dân sự và quan niệm về nghĩa vụ dân sự ở Việt Nam của
Trang 9PGS.TS Ngô Huy Cương trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 5/2008; Nguồn gốc nghĩa vụ và phân loại nghĩa vụ của TS Ngô Huy Cương đăng trên Tạp chí
Nghiên cứu lập pháp, số 8/2008; Một số vấn đề cơ bản về nghĩa vụ dân sự,Luận văn thạc sĩ luật học của Nguyễn Thái Mai bảo vệ tại Đại học Luật HàNội năm 1998…
Liên quan nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng MBHH, ở Việt Nam córất ít các công trình nghiên cứu Các công trình nghiên cứu tập trung vàonghiên cứu thanh toán toán dưới góc độ kinh tế học Nghĩa vụ thanh toántrong hợp đồng MBHH chủ yếu được đề cập trong các công trình nghiên cứu
về hợp đồng MBHH như là một điều khoản chủ yếu của hợp đồng hoặc trongcác giáo trình, sách bình luận Bộ luật dân sự
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và thực hiện pháp luật
về nghĩa vụ thanh toán trong HĐMBHH
Để đạt được mục đích đó, luận văn giải quyết các nhiệm vụ sau đây:
- Làm rõ khái niệm nghĩa vụ thanh toán đặc điểm, nội dung và thực hiện nghĩa vụ thanh toán trong HĐMBHH
- Phân tích quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật để giải quyết các tranh chấp về nghĩa vụ trong HĐMBHH ở Việt Nam
- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và thực hiện pháp luật về nghĩa vụ thanh toán trong HĐMBHH
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các vấn đề lý luận và thực tiễn
thực hiện pháp luật về nghĩa vụ thanh toán trong HĐMBHH
Phạm vi nghiên cứu của luận văn chỉ tập trung vào các khía cạnh pháp
lý, cơ sở lý luận, thực tiễn và nội dung pháp luật về nghĩa vụ thanh toán trongHĐMBHH Trên cơ sở phạm vi nghiên cứu này, luận văn đưa ra những đềxuất cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả thựchiện pháp luật về nghĩa vụ thanh toán trong HĐMBHH ở Việt nam
Trang 105 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Được sử dụng Luận văn, sử dụng phép biện chứng duy vật của triết họcMác - Lênin làm cơ sở phương pháp luận cho việc nghiên cứu Ngoài ra,trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng một số phương pháp sau:
Trong quá trình tiếp cận và giải quyết những vấn đề mà luận văn đặt ra,luận văn sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu phổ dụng trong khoahọc xã hội như: phương pháp thống kê, khảo sát; phương pháp so sánh, đốichiếu pháp luật; phương pháp phân tích, tổng hợp… nhằm làm sáng tỏ nhữngvấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài
6 Đóng góp mới của Luận văn
Luận văn có đóng góp mới sau đây:
Thứ nhất, bổ sung lý luận về mua bán hàng hóa và hợp đồng mua bán
hàng hóa bằng việc làm rõ khái niệm, đặc điểm của mua bán hàng hóa và HĐMBHH
Thứ hai, đưa ra được khái niệm, đặc điểm, nội dung của nghĩa vụ thanh
toán trong HĐMBHH và thực hiện nghĩa vụ thanh toán
Thứ ba, đề xuất các giải pháp và luận giả tính khả thi của các giải pháp
nhằm hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ thanh toán và nâng cao hiệu quả thựchiện nghĩa vụ thanh toán trong HĐMBHH ở Việt Nam
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, luận văn có 3 chương được kết cấu như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hóa
Chương 2 : Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật
về nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hóa ở Việt Nam
Chương 3: Một số định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật
về nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hóa ở Việt Nam
Trang 11Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGHĨA VỤ THANH TOÁN
TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA
1.1 Khái quát chung về hợp đồng mua bán hàng hóa
Mua bán hàng hóa là một trong những hoạt động thương mại Xét dướigóc độ kinh tế, mua bán hàng hóa là hình thức luân chuyển hàng hóa trên thịtrường theo đó hàng hóa được chuyển từ người bán sang người mua theo cácquy luật của thị trường như quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnhtranh Dưới góc độ pháp luật mua bán hàng hóa là sự dịch chuyển tài sản,quyền sở hữu từ chủ thể này sang chủ thể khác Bản chất của mua bán hànghóa là việc người bán chuyển giao tài sản, quyền sở hữu tài sản cho ngườimua và nhận tiền còn người mua có nghĩa vụ thanh toán cho người bán, nhậntài sản và quyền sở hữu tài sản theo thỏa thuận Mua bán hàng hóa khác vớicác hình thức luân chuyển hàng hóa khác như cho thuê, giao nhận Trongquan hệ thuê tài sản cũng có sự chuyển giao hàng hóa nhưng việc thuê tài sảnchỉ là sự chuyển giao tài sản, quyền sử dụng, chiếm hữu tài sản từ bên chothuê sang bên thuê mà không chuyển giao toàn bộ quyền sở hữu tài sản Muabán hàng hóa khác với hoạt động giao nhận hàng hóa vì người làm dịch vụgiao nhận hàng hóa chỉ thực hiện chức năng trung gian, theo đó bên làm dịch
vụ giao nhận hàng hóa từ người gửi, tổ chức vận chuyển, lưu kho, lưu bãi vàcác hoạt động khác để giao hàng hóa cho bên nhận
Bên cạnh đó, cần phân biệt mua bán hàng hóa (sale of goods) với kháiniệm thương mại hàng hóa (trade in goods) Theo quy định tại Luật mẫu vềtrọng tài thương mại quốc tế (UNCITRAT), thương mại hàng hóa bao gồm:cung cấp trao đổi hàng hóa, dịch vụ, hợp đồng phân phối, đại diện hoặc đại lýthương mại, sản xuất, cho thuê, xây dựng công trình, tư vấn, thiết kế kỹ thuật,licence, đầu tư, cấp vốn, ngân hàng, bảo hiểm, vận chuyển hàng hóa… Như
Trang 12vậy, thương mại hàng hóa rộng hơn mua bán hàng hóa Theo hiệp địnhThương mại WTO và hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA) thìthương mại hàng hóa chia làm 4 nhóm chính: Thương mại hàng hóa, thươngmại dịch vụ, thương mại liên quan đến sở hữu trí tuệ và các hoạt động đầu tư
có tính chất thương mại Ngoài ra theo WTO và BTA còn có các hoạt độnggắn liền với thương mại hàng hóa
Phân loại mua bán hàng hóa căn cứ vào yếu tố địa lý: mua bán hànghóa quốc tế và trong nước Căn cứ vào phương thức mua bán, thực hiện hợpđồng: mua bán trực tiếp và mua bán thông qua các công cụ trung gian
Quan điểm của các nhà lập pháp Việt Nam về mua bán hàng hóa thểhiện trong Luật Thương mại 2005 là tiếp thu quan điểm của Luật mẫu về
trọng tài thương mại (UCITRAL) Theo đó, “mua bán hàng hóa được định nghĩa là “hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển hàng, chuyển quyền sở hữu và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận.”
Mua bán hàng hóa là một quan hệ dân sự phổ biến nhất trong các giaodịch dân sự Mua bán hàng hóa là một quan hệ pháp luật được xác lập vàthực hiện thông qua hình thức pháp lý là hợp đồng mua bán hàng hóa Chính
vì vậy, quan hệ này trước hết được điều chỉnh bởi luật gốc là luật dân sự, quyđịnh về hợp đồng dân sự Hợp đồng mua bán hàng hóa là hợp đồng dân sựnên nó phải đảm bảo các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự Cụ thể làhợp đồng mua bán tài sản ở các điều kiện về gia kết hợp đồng, điều kiện cóhiệu lực của hợp đồng, hợp đồng vô hiệu và xử lý hợp đồng vô hiệu….Tuynhiên, hợp đồng mua bán hàng hóa có đặc điểm khác với hợp đồng dân sự,hợp đồng mua bán tài sản Sự khác biệt này do xuất phát từ bản chất thươngmại của hành vi mua bán hàng hóa
Trang 13Thứ nhất, về chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa Hợp đồng mua
bán hàng hóa được thiết lập giữa các chủ thể chủ yếu là thương nhân hoặc ítnhất một bên tham gia quan hệ hợp đồng là thương nhân Mỗi quốc gia trênthế giới đều có những tiêu chí về thương nhân không giống nhau Bộ Luậtthương mại Pháp 1807 (Bộ luật thương mại đầu tiên trên thế giới) định nghĩa
thương nhân: Thương nhân là những người thực hiện các hành vi thương mại
và lấy chúng làm nghề nghiệp thường xuyên của mình” Theo đó, thương
nhân bao gồm cả thể nhân và pháp nhân Thương nhân là cá nhân được xácđịnh theo bản chất của hành vi, còn thương nhân pháp nhân được xác địnhbằng hình thức của chúng
Pháp luật Hoa Kỳ đặc tính của thương nhân là buôn bán hàng hóa, cókiến thức và kỹ năng đặc biệt cho việc hành nghề hoặc tiến hành các giaodịch mua bán hàng hóa; hoặc có kiến thức và kỹ năng sử dụng đại lý, môigiới, trung gian khác mà có kiến thức hoặc kỹ năng mua bán hàng hóa
Theo Khoản1, Điều 6, Luật Thương mại Việt Nam, Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh Thương nhân theo
pháp luật Việt Nam cần phải tồn tại dưới các hình thức: Cá nhân, pháp nhân(trước đây có thêm hộ gia đình tổ hợp tác và doanh nghiệp tư nhân) Để trởthành thương nhân có điều kiện thứ hai nếu các cá nhân, pháp nhân có tiếnhành các hoạt động thương mại Hoạt động thương mại là hoạt động nhằmmục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúctiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác Bên cạnh đó,thương nhân phải có hoạt động thương mại độc lập Tính độc lập của hoạtđộng thương mại thể hiện ở việc chủ thể tự chịu trách nhiệm trực tiếp cho cáchành vi của mình, có quyền tự quyết định nội dung hoạt động, thời gian hoạtđộng của mình Ngoài ra, thương nhân cần phải có hoạt động thương mạithường xuyên, có nghĩa là các chủ thể tiến hành các hoạt động thương mại
Trang 14trên cơ sở một kế hoạch lâu dài, mật độ nhiều lần , lấy hoạt động thương mại lànghề nghiệp chính Điều kiện cuối cùng được coi là điều kiện về hình thức hayđiều kiện đủ của thương nhân là họ phải có đăng ký kinh doanh bao gồm cả điềukiện để được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Thứ hai, đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa là hàng hóa Dưới
góc độ kinh tế, hàng hóa được hiểu là một sản phẩm mà nó có thể thỏa mãnnhu cầu nào đó của con người và nó được làm ra để bán chứ không phải đểtiêu dùng Hàng hóa theo nghĩa rộng được hiểu là sản phẩm lao động của conngười tạo ra nhằm mục đích trao đổi để thỏa mãn những nhu cầu của conngười Dưới góc độ pháp luật thương mại, hàng hóa là đối tượng của hợpđồng mua bán hàng hóa được hiểu là tài sản bao gồm hai thuộc tính cơ bản là
có thể đưa vào lưu thông và có tính chất thương mại Trong khi đó, Điều 2Công ước của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG)
1980 (công ước Viên) nhấn mạnh tính chất và mục đích thương mại của hợpđồng mua bán hàng hóa bằng việc loại trừ hàng hóa dùng cho cá nhân, giađình, hàng hóa bán đấu giá, tài sản thi hành án hoặc theo quyết định của cơquan nhà nước có thẩm quyên; các cổ phiếu, cổ phần, chứng chỉ đầu tư, cáccông cụ chuyển nhượng hoặc tiền; tàu bay, tàu thủy và các phương tiện chạytrên không khí; điện
Theo Bộ luật thương mại thống nhất Hoa Kỳ (UCC) thì hàng hóa làmọi vật là động sản bao gồm cả hàng hóa hiện có và hàng hóa trong tương lai
Không đưa ra định nghĩa hàng hóa mà chỉ dùng phương pháp loại trừbằng việc quy định:
Theo Khoản 2, Điều 3,Luật thương mại Việt Nam hiện hành, hàng hóa
là tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai; nhữngvật gắn liền với đất đai
Thứ ba, nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa là các quyền và
nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quan hệ mua bán.Theo đó, hợp đồng mua
Trang 15bán hàng hóa là hợp đồng song vụ, hợp đồng có đền bù theo cách phân loại hợpđồng dân sự Quyền của bên bán là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại Bên bán
có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua,; bên mua cónghĩa vụ nhận hàng hóa và thanh toán cho bên bán Hành vi mua bán hàng hóa
có tính chất thương mại với mục đích của các bên là tìm kiếm lợi nhuận Nộidung của hợp đồng mua bán hàng hóa được pháp luật điều chỉnh khác nhau Bộluật thương mại chung Hoa Kỳ (UCC) chỉ yêu cầu thỏa thuận bắt buộc trong hợpđồng đối tượng của hợp đồng, còn quyền, nghĩa vụ các bên mặc nhiên được việndẫn đến tập quán thương mại để giải quyết Trong khi đó các nước Civil law yêucầu thỏa thuận rõ quyền, nghĩa vụ của các bên và các nội dung khác của hợpđồng như giá cả, phương thức thanh toán
Thứ tư, về hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa có thể được thiết
lập bằng nhiều hình thức khác nhau Bộ nguyên tắc UNIDROIT không bắtbuộc hợp đồng, tuyên bố hay hành vi nào khác phải được giao kết hay chứngminh bằng một hình thức đặc biệt Chúng có thể được chứng minh bằng bất
kỳ cách thức nào, kể cả bằng nhân chứng Hợp đồng thương mại có thể xáclập bằng văn bản, bằng lời nói hoặc hành vi cụ thể Tuy nhiên, ở một số nướckhông sử dụng Bộ nguyên tắc UNIDROIT thì đối với những trường hợp bắtbuộc bằng văn bản thì hợp đồng thương mại phải được xác lập bằng văn bản.Thông thường các hợp đồng thương mại được xác lập bằng văn bản để đảmbảo sự an toàn và dễ giải quyết khi xảy ra tranh chấp, nhưng đối với nhữnghợp đồng đơn giản, việc mua bán cần diễn ra nhanh chóng thì các bên có thểxác lập hợp đồng bằng lời nói hoặc bằng một hành vi cụ thể Như vậy việcxác định hình thức của hợp đồng như thế nào là tùy thuộc vào sự thỏa thuậncủa các bên Tuy nhiên đối với một số hợp đồng mà pháp luật qui định phảibằng hình thức văn bản thì các bên phải xác lập hợp đồng bằng văn bản,chẳng hạn như: hợp đồng cung ứng dịch vụ (Điều 74 LTM 2005), hợp đồngnhượng quyền thương mại ( Điều 285 LTM 2005)
Trang 16Thứ năm, hợp đồng mua bán hàng hóa được điều chỉnh bởi pháp luật
dân sự với tư cách là luật gốc và các quy định của pháp luật thương mại trongnước và quốc tế
Từ các phân tích trên có thể đưa ra khái niệm hợp đồng mua bán hàng
hóa như sau: Hợp đồng mua bán hàng hóa là hình thức pháp lý của hoạt động mua bán hàng hóa mà trong đó người bán chuyển giao hàng hóa, quyền
sở hữu hàng hóa cho người mua và người mua có nghĩa vụ nhận hàng hóa, quyền sở hữu và thanh toán cho người bán dựa trên thỏa thuận của các bên.
1.2 Khái quát về nghĩa vụ hợp đồng
Nghĩa vụ “obligation” có nguồn gốc từ danh từ “obligatio” của tiếng
Latinh được giải thích về mặt tiền điển là trách nhiệm, bổn phận phải làm theođúng chuẩn mực của cộng đồng Nghĩa vụ tự nhiên thuộc phạm trù đạo đức vàlương tâm của người thực hiện nghĩa vụ đó Nghĩa vụ này không phát sinhhiệu lực pháp lý, không được đặt dưới sự bảo đảm của nhà nước bằng phápluật nhưng thể hiện ý thức của cá nhân trong cộng đồng Trong pháp luật,nghĩa vụ không được hiểu theo nghĩa tự nhiên mà được hiểu là một quan hệ
xã hội phát sinh giữa người với người khi các chủ thể tham gia vào quan hệ xã
hội, quan hệ pháp luật “Nghĩa vụ là một quan hệ pháp luật được xác lập giữa hai chủ thể theo đó một chủ thể (chủ thể quyền – người có quyền) có quyền yêu cầu chủ thể kia (chủ thể nghĩa vụ – người có nghĩa vụ) phải hoàn thành một yêu cầu nhất định” Luật dân sự điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh
trong lĩnh vực của đời sống dân sự trên cơ sở tự do, tự nguyện, bình đẳng giữacác chủ thể, trong các quan hệ đó có quan hệ pháp luật dân sự về nghĩa vụ còngọi là quan hệ nghĩa vụ Do đó, nghĩa vụ dân sự là một chế định quan trọng
của luật dân sự thuộc dòng họ civil law bên cạnh các chế định như tài sản,
quyền sở hữu, hợp đồng… Thậm chí, có quan điểm cho rằng: Nghĩa vụ
là một tiểu phân ngành quan trọng của luật dân sự Nếu phân biệt giữa luật
Trang 17dân sự và luật thương mại, thì luật nghĩa vụ là nền tảng đầy chất lý luận củaluật thương mại.
Nghĩa vụ dân sự là một quan hệ pháp luật dân sự có đầy đủ tính chấtcủa quan hệ pháp luật như có chủ thể, khách thể, đối tượng của quan hệ, đượcđiều chỉnh bởi quy phạm pháp luật và phát sinh khi có các sự kiện pháp lý Cơ
sở của nghĩa vụ dân sự mang tính khách quan Trước hết xuất phát từ quan hệtất yếu giữa người với người trong xã hội xuất phát từ luận điểm nổi tiếng của
Mác: “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội” Con người là thực thể tự nhiên- xã hội Để mang tính chất xã
hội con người phải tham gia vào các quan hệ xã hội hướng đến các lợi íchkhác nhau Để thỏa mãn lợi ích đó, con người phải không ngừng trao đổi, muabán, hợp tác, liên kết với nhau theo các quy luật khách quan và các quy định,luật lệ của cộng đồng Quan hệ giữa người và người trong xã hội đó chính lànguồn gốc khách quan của quan hệ nghĩa vụ Quan hệ nghĩa vụ còn có tínhchủ quan đó chính là vấn đề tự do ý chí của con người trong khi tham gia vàocác quan hệ xã hội Sự tự do ý chí làm tiền đề để con người cân nhắc, lữachọn cho mình cách xử sự có lợi cho mình và phù hợp với lợi ích chung của
xã hội Chính điều đó lý giải không có tự do ý chí thì không phát sinh hoặckhông ai phải gánh chịu nghĩa vụ Tính chất chủ quan của nghĩa vụ với tưcách là một quan hệ pháp luật thể hiện ở chỗ con người luôn đặt ra các quy tắcluật lệ về nghĩa vụ để các thành viên thực hiện trên cơ sở nguyên tắc tự do củangười này không ảnh hưởng tới tự do người khác
Cũng từ tính chất chủ quan nên quan niệm về nghĩa vụ dân sự khônggiống nhau giữa các trường phái pháp luật cũng như pháp luật thực định củamỗi quốc gia Nghĩa vụ dân sự xuất phát từ các luật gia La mã Họ quan niệm
rằng, nghĩa vụ là những ràng buộc về pháp lý, theo đó, chúng ta buộc phải thực hiện một việc gì đó phù hợp với pháp luật của nhà nước hoặc “bản chất của nghĩa vụ không phải để làm một cái gì đó, hoặc thực hiện một dịch vụ
Trang 18nào đó cho chúng ta mà để ràng buộc một ai đó đã đưa, phải làm, phải cấp cho chúng ta một cái gì đó” (Luật gia Pavel).
Tiếp thu di sản pháp lý của luật La Mã,, về sau các nước Civil Law chịuảnh hương sâu sắc của Luật la mã đã dựa vào đó, quy định nghĩa vụ dân sựtrong pháp luật thực định của mình Điều 201 Bộ luật dân sự Pháp định nghĩa:
“Nghĩa vụ là một mối quan hệ pháp lý theo đó một người, được gọi là trái chủ, có thể sử dụng phương cách cưỡng chế của quyền lực công theo sự lựa chọn của anh ta để buộc người khác, người thụ trái xác định, chuyển giao tài sản, làm hoặc không làm việc gì đó Điều 241, Bộ Luật Dân sự Đức nhấn mạnh bản chất của nghĩa vụ là quyền yêu cầu của trái chủ đối với bên kia : Hiệu lực của nghĩa vụ là việc trái chủ có quyền yêu cầu sự thực hiện từ người thụ trái Sự thực hiện này có thể bao gồm việc không hành động”.
Trong cuốn “Việt Nam dân luật lược khảo – Quyển II: Nghĩa vụ và khế ước”, Vũ Văn Mẫu định nghĩa: “Nghĩa vụ là mối liên hệ pháp lý giữa hai
người, nhờ đó một người là trái chủ (hay chủ nợ) có quyền đòi người kia làngười phụ trái (hay con nợ) phải thi hành một cung khoản có thể trị giá bằngtiền”
Điều 280 Bộ luật Dân sự 2015 của Việt Nam tiếp cận nghĩa vụ theohướng là quan hệ pháp luật (quan hệ nghĩa vụ) bằng định nghĩa Nghĩa vụ làviệc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩavụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thựchiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích củamột hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền) Qua địnhnghĩa này cho thấy các yếu tố cấu thành lên quan hệ pháp luật về nghĩa vụ baogồm:
- Về chủ thể, định nghĩa này đã nhắc tới các bên trong quan hệ nghĩa
vụ đó là bên có quyền và bên có nghĩa vụ luôn được xác định cụ thể trong đó bên có quyền, và bên có nghĩa vụ trái ngược nhau về mặt lợi ích: một bên có
Trang 19quyền yêu cầu và một bên khác (bên có nghĩa vụ) phải thực hiện yêu cầu củabên kia Chủ thể của quan hệ nghĩa vụ là cá nhân hoặc pháp nhân đủ điều kiệntham gia quan hệ pháp luật về nghĩa vụ Định nghĩa này cũng chỉ ra hành vicủa các chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ bao gồm hành vi hành động “phảilàm” và không hành động “không được làm” một công việc vì lợi ích củangười khác.
- Khách thể của quan hệ nghĩa vụ là những lợi ích vật chất hoặc tinh thần
mà các bên trong quan hệ nghĩa vụ hướng tới được xác định thông qua hành vithực hiện nghĩa vụ nhất định của bên mang nghĩa vụ đối với bên mang quyền
- Nội dung của quan hệ pháp luật nghĩa vụ là các quyền và nghĩa vụcủa các bên tham gia quan hệ nghĩa vụ Nội dung của nghĩa vụ là tổng hợpcác quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ Nội dungcủa nghĩa vụ do các bên thoả thuận không trái pháp luật, không trái đạo đức
xã hội được pháp luật bảo đảm thực hiện Nội dung của nghĩa vụ có thể thoảthuận: mang tính linh hoạt và phù hợp với các bên Khi thoả thuận nội dungcác bên chủ thể cần lưu ý: luôn phải xác định đối tượng, phạm vi cụ thể để cócăn cứ pháp lý xác định quyền và nghĩa vụ các bên đến mức độ nào (thực hiệnđến đâu, không thể thực hiện được hay không thể thực hiện được) Từ đó xétyêu tố lỗi vì lý do lỗi của một bên, lỗi của bên thứ ba hay sự kiện bất khảkháng và xác định trách nhiệm dân sự trong quan hệ nghĩa vụ cụ thể Quyền
và nghĩa vụ dân sự trong nội dung của quan hệ nghĩa vụ dân sự thể hiện:quyền yêu cầu và nghĩa vụ đáp ứng yêu cầu Bên có quyền yêu cầu bên cónghĩa vụ thực hiện, nếu đã yêu cầu trực tiếp mà không thực hiện thì bên cóquyền có thể yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền buộc bên có nghĩa vụphải thực hiện
Đặc điểm của nghĩa vụ dân sự:
- Nghĩa vụ dân sự là một loại quan hệ pháp luật bởi nó được pháp luậtcông nhận và có giá trị cưỡng chế Quan hệ này được phát sinh từ những sự
Trang 20kiện mà pháp luật đã dự liệu Có những sự kiện làm hình thành, quyền và nghĩa vụ của các bên được pháp luật thừa nhận và bảo đảm thực hiện.
- Là một quyền đối nhân bới nó chỉ được thi hành đối với người cónghĩa vụ Có nghĩa là quyền của chủ thể mang quyền được thực hiện bằnghành vi của bên kia Việc chuyển giao nghĩa vụ không được tự do như chuyểngiao quyền đối vật mà phải tuân theo điều kiện nhất định
- Quyền và nghĩa vụ của hai bên chủ thể đối lập nhau: Trong nghĩa vụdân sự: quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia Bên có quyền bao nhiêu thì bên có nghĩa vụ tương ứng
- Có tính chất tài sản: Bởi vì nghĩa vụ có thể trị giá bằng tiền Chuyểngiao tài sản, thực hiện một công việc hay không thực hiện một công việc đều
có giá trị nhất định Khi có giá trị có nghĩa là có tính chất tài sản Tính chấtnày có thể nhìn nhận rõ hơn khi đối chiếu vào việc bồi thường thiệt hai khikhông thực hiện đúng nghĩa vụ
Nghĩa vụ dân sự là một quan hệ pháp luật dân sự tương đối do vậy nócũng có những căn cứ phát sinh, căn cứ làm thay đổi và chấm dứt quan hệnghĩa vụ theo thỏa thuận hợp pháp hay theo quy định của pháp luật Việc xáclập quan hệ nghĩa vụ do ý chí chủ quan của các chủ thể, việc hình thành quan
hệ nghĩa vụ nghĩa vụ còn do pháp luật quy định căn cứ vào sự kiện pháp lýlàm phát sinh nghĩa vụ Có căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ, mới có quan hệnghĩa vụ dân sự Việc thực hiện nghĩa vụ đến đâu, nghĩa vụ được thực hiện ởmức độ nào, còn tuỳ thuộc vào hành vi pháp lý của các bên trong quan hệnghĩa vụ Đó cũng là căn cứ để xác định hành vi thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa
vụ dân sự hoặc hành vi xâm phạm quan hệ nghĩa vụ dân sự
1.3 Khái niệm và đặc điểm của nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hóa
Để làm rõ nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hóa cầnlàm rõ khái niệm thanh toán dưới góc độ kinh tế học Thanh toán là sự chuyển
Trang 21giao tài sản của một bên (người hoặc công ty, tổ chức) cho bên kia, thườngđược sử dụng khi trao đổi sản phẩm hoặc dịch vụ trong một giao dịch có ràngbuộc pháp lý Sự trao đổi hàng hóa giữa các chủ thể trong xã hội hình thànhnên các giao dịch mua bán, trao đổi hàng hóa Sau khi xác lập quan hệ muahàng hóa sẽ xuất hiện quan hệ việc nhận tiền hay thanh toán tiền hàng giữahai bên Thanh toán bằng phương thức nào, cách thức ra sao giữa các bênhình thành nên hoạt động thanh toán trong thương mại Như vậy, cơ sở củahoạt động thanh toán là quan hệ mua bán tài sản, hàng hóa giữa các bên.
Từ phân tích trên có thể đưa ra định nghĩa: thanh toán là việc thực hiện nghĩa vụ chi trả và quyền hưởng lợi về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức, cá nhân với nhau, thông qua các phương thức, hình thức nhất định Như vậy, thanh toán có hai loại thương mại và phi thương mại, thanh toán trong mua bán hàng hóa là loại thanh toán thương mại.
Quan hệ thanh toán trong mua bán hàng hóa dựa trên giá cả hàng hóa
mà hai bên thỏa thuận Giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá,nghĩa là số lượng tiền phải trả cho hàng hoá đó Về nghĩa rộng đó là số tiềnphải trả cho một hàng hoá, một dịch vụ, hay một tài sản nào đó Giá cả củahàng hoá nói chung là đại lượng thay đổi xoay quanh giá trị
Phương thức thanh toán là cách thức, phương pháp thực hiện nghĩa vụ
về tài sản Phương thức thanh toán có thể thực hiện bằng hình thức trả bằngtiền mặt, bằng séc, thư tín dụng, thanh toán bằng vật, có thể trả một lần hoặcthành nhiều lần, trả trực tiếp hoặc gián tiếp; hoặc theo sự thỏa thuận của cácbên, trừ trường hợp phải theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Thanh toán trong mua bán hàng hóa bao gồm thanh toán mua bán hànghóa trong nước và thanh toán mua bán hàng hóa quốc tế
Khi các bên xác lập hợp đồng mua bán hàng hóa sẽ làm xuất hiện quan
hệ về nghĩa vụ thanh toán Nếu như giao hàng hóa đối tượng của hợp đồng
Trang 22mua bán hàng hóa được xem là nghĩa vụ cơ bản và quan trọng nhất của bênbán thì nghĩa vụ thanh toán được xem là nghĩa vụ cơ bản của bên mua Chỉkhi nào các nghĩa vụ này của hai bên được thực hiện đúng và đầy đủ thì quyền
và lợi ích của các bên mới được đảm bảo
Về nguyên tắc, bên mua có nghĩa vụ thanh toán tiền theo thời hạn, địađiểm và mức tiền được quy định trong hợp đồng Thời điểm thanh toán tiền làthời điểm mà bên mua phải chuyển tiền sang cho bên bán Thời hạn trả tiềnđược xác định theo thoả thuận giữa các bên Các bên có thể thoả thuận bênmua thanh toán trước hoặc sau khi nhận tài sản Thời hạn thanh toán tiền cóthể được xác định theo một đơn vị thời gian cụ thể là ngày, tháng, năm hoặcxác định theo một sự kiện cụ thể
Địa điểm thanh toán là nơi diễn ra việc trả tiền giữa bên mua và bênbán Các bên có thể thoả thuận địa điểm thanh toán tiền là nơi cư trú hoặc trụ
sở của bên bán hay bất kỳ một nơi nào khác Phương thức thanh toán theotruyền thống là bên mua trực tiếp trả tiền cho bên bán tại một địa điểm cụ thể.Tuy nhiên, với sự phát triển của khoa học-công nghệ nên ngày càng có nhiềuphương thức thanh toán mới, hiện đại xuất hiện Một trong những phươngthức thanh toán được áp dụng phổ biến hiện nay là thông qua chuyển khoảnngân hàng Chính vì vậy, hiện nay gây ra vấn đề tranh cãi trong việc xác địnhđịa điểm thanh toán Có ý kiến cho rằng địa điểm trả tiền đối với phương thứcthanh toán thông qua chuyển khoản là nơi tiền được chuyển đi Tuy nhiên cónhiều quan điểm lại không đồng ý với ý kiến này và cho rằng nơi thực hiệnviệc trả tiền là địa điểm khoản tiền được chuyển đến
Mức tiền là số tiền mà bên mua phải thanh toán cho bên bán Mức tiềnphụ thuộc vào giá tiền mà các bên thoả thuận trong hợp đồng Nếu các bênkhông thoả thuận về mức tiền thì giá mua bán được xác định theo quy địnhcủa pháp luật
Trang 23Trước đây, Điều 438 bộ luật Dân sự năm 2005 quy định bên mua phảitrả đủ tiền vào thời điểm và tại địa điểm đã thoả thuận; nếu không có thoảthuận thì phải trả đủ tiền vào thời điểm và địa điểm giao tài sản Bên mua phảitrả lãi, kể từ ngày chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 305 của Bộ luậtnày, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác Nhưvậy, bộ luật Dân sự năm 2005 có quy định trường hợp nếu không có thoảthuận vào thời điểm và địa điểm trả tiền thì phải trả đủ tiền vào thời điểm vàtại địa điểm giao tài sản mà không có quy định về trường hợp các bên chỉ cóthoả thuận về thời hạn giao tài sản và thời hạn thanh toán tiền Bộ luật Dân sự
năm 2015 đã khắc phục được hạn chế này khi quy định “Trường hợp các bên chỉ có thỏa thuận về thời hạn giao tài sản thì thời hạn thanh toán tiền cũng được xác định tương ứng với thời hạn giao tài sản Nếu các bên không có thỏa thuận về thời hạn giao tài sản và thời hạn thanh toán tiền thì bên mua phải thanh toán tiền tại thời điểm nhận tài sản”.
Trường hợp bên mua không thực hiện đúng nghĩa vụ trả tiền thì phải trảlãi trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357 bộ luật Dân sự năm 2015.Theo đó, bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với khoảntiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả Như vậy, ngoài việc thanhtoán khoản tiền thuộc về nghĩa vụ chính là tiền mua hàng thì bên chậm thựchiện nghĩa vụ trả tiền còn phải trả một khoản lãi tính trên giá trị của khoảntiền chậm trả đó Khoản lãi này thực chất là trách nhiệm bồi thường nhữngtổn thất do việc chậm trả gây ra và được tính dựa trên mức lãi suất chậm trảtương ứng với thời gian chậm trả
Từ phân tích trên có thể đưa ra định nghĩa về nghĩa vụ thanh toán trong
hợp đồng mua bán hàng hóa như sau: Nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hóa là quan hệ pháp luật trong đó bên mua phải chuyển giao tiền, tài sản cho bên bán trên cơ sở giá cả hàng hóa mà hai bên thỏa thuận trong hợp đồng mua bán hàng hóa bằng các phương thức khác nhau.
Trang 24Ngoài những đặc điểm chung của nghĩa vụ dân sự, nghĩa vụ thanh toán
có các đặc điểm sau:
Thứ nhất, cơ sở để phát sinh nghĩa vụ thanh toán là hợp đồng mua bán
hàng hóa Trong hợp đồng mua bán hàng hóa, có điều khoản không thể thiếumang tính chất bắt buộc là giá cả hàng hóa và nghĩa vụ thanh toán Trong đó,các bên thỏa thuận về giá cả, đồng tiền thanh toán, thời hạn, địa điểm thanhtoán, phương thức thanh toán, thời hạn thanh toán…Bên mua phải thực hiệnđúng những nội dung này theo thỏa thuận Trương hợp các bên không thỏathuận cụ thể trong hợp đồng thì sẽ áp dụng các quy định của Luật Thươngmại
Thứ hai, Nghĩa vụ thanh toán là nghĩa vụ tương đối, quyền yêu cầu
thực hiện nghĩa vụ của bên bán trong quan hệ nghĩa vụ thanh toán là mộtquyền đối nhân bới nó chỉ được thi hành đối với người có nghĩa vụ Có nghĩa
là quyền của bên có quyền (bên bán) chỉ được thực hiện bằng hành vi của bênkia (bên mua) Việc chuyển giao nghĩa vụ thanh toán không được tự do nhưchuyển giao quyền đối vật mà phải tuân theo điều kiện nhất định
Thứ ba, nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng mua bán tài sản có liên
quan đến các nghĩa vụ khác của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóanhư nghĩa vụ giao hàng, nhận hàng Việc thực hiện đúng các nghĩa vụ này sẽ
là cơ sở cho việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán
Thứ tư, đi kèm với nghĩa vụ thanh toán là các chế tài đối với các trường
hợp không thực hiện và thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh toán
1.4 Nội dung của nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hóa
Về nghĩa vụ thanh toán của bên mua, Công ước Viên quy định: Nghĩa
vụ thanh toán tiền hàng của người mua bao gồm việc thực hiện các bước và tuân thủ các thủ tục mà hợp đồng hoặc pháp luật yêu cầu để thực hiện được việc thanh toán Xét dưới quan nghĩa vụ thì nội dung của nghĩa vụ thanh toán
Trang 25là tổng thể các quyền và nghĩa vụ mà các bên trong quan hệ nghĩa vụ thanhtoán Nội dung của nghĩa vụ do các bên thoả thuận không trái pháp luật,không trái đạo đức xã hội được pháp luật bảo đảm thực hiện Nội dung củanghĩa vụ có thể thoả thuận: mang tính linh hoạt và phù hợp với các bên Khithoả thuận nội dung các bên chủ thể cần lưu ý: luôn phải xác định đối tượng,phạm vi cụ thể để có căn cứ pháp lý xác định quyền và nghĩa vụ các bên đếnmức độ nào (thực hiện đến đâu, không thể thực hiện được hay không thể thựchiện được) Từ đó xét yêu tố lỗi vì lý do lỗi của một bên, lỗi của bên thứ bahay sự kiện bất khả kháng và xác định trách nhiệm dân sự trong quan hệ nghĩa
vụ cụ thể Quyền và nghĩa vụ dân sự trong nội dung của quan hệ nghĩa vụ dân
sự thể hiện: quyền yêu cầu và nghĩa vụ đáp ứng yêu cầu Bên có quyền yêucầu bên có nghĩa vụ thực hiện, nếu đã yêu cầu trực tiếp mà không thực hiệnthì bên có quyền có thể yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền buộc bên cónghĩa vụ phải thực hiện
Nội dung của nghĩa vụ thanh toán bao gồm: quyền yêu cầu bên mua vớibên thanh toán đúng giá cả; thanh toán đúng thời hạn, đúng địa điểm; phươngthức và thực hiện hiện trách nhiệm khi vi phạm nghĩa vụ Trong quan hệnghĩa vụ này, quyền yêu cầu của bên bán cũng là nghĩa vụ của bên mua
Bên mua có nghĩa vụ thanh toán tiền mua hàng và nhận hàng theo thỏathuận Bên mua phải tuân thủ các phương thức thanh toán, thực hiện việcthanh toán theo trình tự, thủ tục đã thỏa thuận và theo quy định của pháp luật.Bên mua vẫn phải thanh toán tiền mua hàng trong trường hợp hàng hoá mấtmát, hư hỏng sau thời điểm rủi ro được chuyển từ bên bán sang bên mua, trừtrường hợp mất mát, hư hỏng do lỗi của bên bán gây ra
1.5 Thực hiện nghĩa vụ thanh toán và bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hóa
Thực hiện nghĩa vụ thanh toán là việc bên mua hàng hóa chuyển giaotiền hoặc tài sản cho bên bán hàng hóa theo thỏa thuận về thanh toán trong
Trang 26hợp đồng mua bán hàng hóa Thông qua hành vi thực hiện nghĩa vụ thanhtoán của bên mua hàng hóa, quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền làbên bán sẽ được thỏa mãn Thực hiện nghĩa vụ thanh toán dựa trên cácnguyên tắc nhất định đó là nguyên tắc trung thực, theo tinh thần hợp tác, đúngcam kết, không trái pháp luật, đạo đức xã hội Theo nguyên tắc này, khi thựchiện nghĩa vụ dân sự, người có nghĩa vụ phải trung thực, không được lừa dốihoặc có những hành vi cản trở sự tiếp nhận nghĩa vụ đối với người có quyền.
Để đảm bảo lợi ích hợp pháp cho người có quyền, việc thực hiện nghĩa vụ củangười có nghĩa vụ phải theo tinh thần hợp tác, đúng cam kết Về nguyên tắc,pháp luật tôn trọng cam kết, thỏa thuận của các chủ thể trong quan hệ nghĩa
vụ nhưng trên nguyên tắc những cam kết, thỏa thuận đó không được vi phạmđiều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội
Để thực hiện nghĩa vụ thanh toán, bên mua hàng hóa phải thực hiệnnghĩa vụ này với những nội dung sau đây:
Thứ nhất, bên bán phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo đúng giá cả
mà các bên thỏa thuận: Để hướng đến đảm bảo lợi ích của các bên tham giahợp đồng mua bán hàng háo, giá cả và phương thức thanh toán là cơ sở củanghĩa vụ thanh toán Giá cả hàng hóa và phương thức thanh toán do các bên
tự thỏa thuận như đưa ra mức giá hàng hóa, phương pháp xác định giá hànghóa và hệ số trượt giá thị trường hoặc thông quá người thứ ba để xác định giánhư cơ quan nhà nước có thẩm quyền thẩm định giá Trong trường hợp giá cả
và phương thức thanh toán do pháp luật quy định, tuân theo quy định của nhànước thì sự thảo luận của các bên phải không trái với quy định này Trên thực
tế, giá cả của một số loại hàng hóa sẽ bị hạn chế trong một số trường hợp: Đốivới hàng hóa nhà nước đã ấn định khung giá thì các bên chỉ được thỏa thuậntrong khung giá đó (xăng dầu, than đá); một số loại hàng hóa sau khi muabán Điều này dựa trên tinh thần của Điều 54 Công ước Viện 1980 về Mua
bán hàng hóa quốc tế: Trong những trường hợp, nếu hợp đồng đã được ký kết
Trang 27một cách hợp pháp, nhưng trong hợp đồng không quy định giá cả một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, hoặc không quy định cách xác định giá thì được phép suy đoán rằng, các bên, trừ phi có quy định trái ngược, đã có ngụ ý dựa vào giá đã được ấn định cho loại hàng hóa như vậy khi hàng hóa này được đem bán trong những điều kiện tương tự của ngành buôn bán hữu quan.
Thứ hai, bên bán phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán đúng với thời hạn
thanh toán thỏa thuận trong hợp đồng: Thời hạn thực hiện hợp đồng mua bán
là một trong những nội dung cơ bản của hợp đồng này và do các bên thỏathuận xuất phát từ nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng nói chung Các bên cóthể thực hiện hợp đồng mua bán ngay sau khi giao kết hoặc một thời gian sau
đó Thời hạn phải được xác định một cách cụ thể bởi vì có liên quan đến vấn
đề thực hiện hợp đồng và trách nhiệm dân sự khi thực hiện hợp đồng khôngđúng thời hạn Thời hạn là một khoảng thời gian được xác định từ thời điểmnày đến thời điểm khác và có thể được xác định bằng giờ, ngày, tuần, tháng,năm hoặc bằng một sự kiện có thể xảy ra Cách tính thời hạn do các bên thỏathuận Nếu họ không thỏa thuận thì áp dụng cách tính thời hạn của bộ luậtDân sự Về nguyên tắc, các bên phải thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng đúngthời hạn đã thỏa thuận Tuy nhiên, họ cũng có thể thỏa thuận thay đổi thời hạnthực hiện hợp đồng Hợp đồng mua bán tài sản là hợp đồng song vụ cho nênviệc hoãn thực hiện nghĩa vụ thông thường phải có sự đồng ý của bên cóquyền Ngoài ra còn có một trường hợp ngoại lệ đó là các bên phải thực hiệnnghĩa vụ trước có quyền hoãn thực hiện nghĩa vụ, nếu tài sản của bên kia bịgiảm sút nghiêm trọng đến mức không thể thực hiện được nghĩa vụ như đãcam kết cho đến khi bên kia có khả năng thực hiện được nghĩa vụ hoặc cóbiện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ Trong trường hợp bên mua không còntiền để trả cho bên bán thì bên bán có quyền hoãn trao tài sản cho bên mua.Quyền hoãn trao tài sản của bên bán chỉ được kéo dài cho đến khi bên mua cótiền trả hoặc có biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
Trang 28Thứ ba, bên mua phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán đúng địa điểm Địa
điểm thanh toán do các bên thỏa thuận trường hợp không thỏa thuận thì bênmua phải thanh toán cho bên bán tại một trong các địa điểm sau đây: Địađiểm kinh doanh của bên bán được xác định vào thời điểm giao kết hợp đồng,nếu không có địa điểm kinh doanh thì thì tại nơi cứ trú của bên bán; địa điểmgiao hàng hoặc giao chứng từ thanh toán được tiến hành đồng thời với việcgiao hàng, goa chứng từ Người bán phải gánh chịu mọi sự gia tăng phí tổn đểthực hiện việc thanh toán do sự thay đổi địa điểm của trụ sở thương mại củamình sau khi hợp đồng được ký kết
Thứ tư, thực hiện đúng phương thức thanh toán Các bên có thể thỏa
thuận lựa chọn các phương thức thanh toán sau đây:
- Phương thức thanh toán trực tiếp: Sau khi nhận được hàng mua, bên
mua thanh toán ngay tiền cho người bán, có thể bằng tiền mặt, bằng chuyển khoản, có thể thanh toán bằng hàng (hàng đổi hàng)…
- Phương thức thanh toán chậm trả: Bên mua đã nhận hàng nhưng
chưa thanh toán tiền cho người bán Việc thanh toán chậm trả có thể thực hiệntheo điều kiện tín dụng ưu đãi theo thoả thuận Chẳng hạn, điều kiện “1/10, n/20” có nghĩa là trong 10 ngày đầu kể từ ngày chấp nhận nợ, nếu người muathanh toán công nợ sẽ được hưởng chiết khấu thanh toán là 1% Từ ngày thứ
11 đến hết ngày thứ 20, người mua phải thanh toán toàn bộ công nợ là “n”.Nếu hết 20 ngày mà người mua chưa thanh toán nợ thì họ sẽ phải chịu lãi suấttín dụng
Trong mua bán hàng hóa quốc tế các bên còn có thể áp dụng các
phương thức thanh toán sau đây
- Phương thức chuyển tiền (Remittance) Phương thức chuyển tiền là
phương thức mà trong đó bên bán yêu cầu ngân hàng của mình chuyển một sốtiền nhất định cho bên bán ở một địa điểm nhất định bằng phương tiện chuyểntiền do bên mua yêu cầu
Trang 29- Phương thức ghi sổ (Open account) Phương thức ghi sổ là một
phương thức thanh toán mà trong đó người bán mở một tài khoản (hoặc mộtquyển sổ ) để ghi nợ người mua sau khi người bán đã hoàn thành giao hànghay dịch vụ, đến từng định kỳ (tháng, quý, nửa năm) người mua trả tiền chongười bán
- Phương thức nhờ thu (Collection of payment) Phương thức nhờ thu là
một phương thức thanh toán trong đó người bán sau khi hoàn thành nghĩa vụgiao hàng hoặc cung ứng một dịch vụ cho khách hàng uỷ thác cho ngân hàng củamình thu hộ số tiền ở người mua trên cơ sở hối phiếu của người bán lập ra
- Phương thức tín dụng chứng từ (documentary credit) Phương thức
tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận, trong đó một ngân hàng (ngân hàng
mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng (người yêu cầu mở thư tíndụng) sẽ trả một số tiền nhất định cho một người khác (người hưởng lợi sốtiền của thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối phiếu do người này ký phát trongphạm vi số tiền đó khi người này xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từthanh toán phù hợp với những quy định đề ra trong thư tín dụng
Trong quá trình thực hiện nghĩa vụ thanh toán, bên mua chậm thực hiệnthanh toán tiền hàng và các chi phí khác thì bên bán có quyền yêu cầu bênmua trả lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thịtrường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trườnghợp có thỏa thuận khác Cũng trong quá trình thực hiện nghĩa vụ thanh toánBên mua có bằng chứng về việc bên bán lừa dối thì có quyền tạm ngừng việcthanh toán; Bên mua có bằng chứng về việc hàng hóa đang là đối tượng bịtranh chấp thì có quyền tạm ngừng thanh toán cho đến khi việc tranh chấp đãđược giải quyết; Bên mua có bằng chứng về việc bên bán đã giao hàng khôngphù hợp với hợp đồng thì có quyền tạm ngừng thanh toán cho đến khi bên bán
đã khắc phục sự không phù hợp đó
Trang 301.6 Vi phạm nghĩa vụ thanh toán và xử lý hành vi vi phạm nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hóa
1.6.1 Khái niệm, ý nghĩa của chế định trách nhiệm vi phạm nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hóa
Khi 1 hợp đồng mua bán hàng hoá được xác lập có hiệu lực pháp luật,các bên có nghĩa vụ phải thực hiện các nội dung đã thỏa thuận Việc vi phạmcác nghĩa vụ theo hợp đồng mua bán (không thực hiện, thực hiện không đúng,thực hiện không đầy đủ) sẽ dẫn đến bên vi phạm phải chịu những chế tài dopháp luật quy định Về bản chất, trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán làdạng cụ thể của trách nhiệm pháp lý phát sinh trong lĩnh vực mua bán hànghoá Trách nhiệm vi phạm nghĩa vụ thanh toán hợp đồng mua bán hàng hóa
có các đặc điểm sau đây: Được áp dụng trên cơ sở hành vi vi phạm nghĩa vụthanh toán trong hợp đồng mua bán có hiệu lực pháp luật; nội dung gắn liềnvới việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng hoặc trách nhiệm về tàisản; do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền áp dụng hoặc do bên bị vi phạm ápdụng trên cơ sở pháp luật
Chế định trách nhiệm hợp đồng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củacác bên trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hoá Khi tham gia quan hệ hợpđồng mua bán, các bên đều nhằm đạt được những lợi ích nhất định Trong đóbên lợi ích bên bán hướng nói là khoản tiền hoặc tài sản khi chuyển giao hànghóa cho bên mua Hành vi vi phạm nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng muabán hàng hóa luôn tiềm ẩn nguy cơ xâm hại lợi ích của bên bán Để bảo vệ lợiích của bên bán, chế định trách nhiệm hợp đồng cho phép bên bán tự mìnhhoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền áp dụng các chế tài đối với bên mua khi
vi phạm nghĩa vụ thanh toán
Chế định trách nhiệm hợp đồng cũng bảo vệ quyền lợi cho bên mua.Với việc quy định rõ ràng các căn cứ, thủ tục áp dụng trách nhiệm, các trườnghợp miễn trách nhiệm chế định trách nhiệm khi vi phạm nghĩa vụ thanh toán
Trang 31bảo đảm cho bên mua chỉ phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại do phápluật quy định, bảo vệ bên bán trước những hiện tượng tiêu cực trong xử lý viphạm hợp đồng mua bán hàng hóa
Chế định trách nhiệm khi vi phạm nghĩa vụ thanh toán ngăn ngừa vàhạn chế vi phạm hợp đồng mua bán hàng hoá, nâng cao ý thức trách nhiệmcủa các chủ thể hợp đồng trong việc thực hiện hợp đồng Chế định này quyđịnh về trách nhiệm khi vi phạm nghĩa vụ thanh toán có tác động mạnh mẽvào ý thức của các bên, nâng cao tinh thần trách nhiệm của các bên trong việcthực hiện nghĩa vụ hợp đồng, ngăn ngừa và hạn chế vi phạm hợp đồng xảy ra
1.6.2 Căn cứ áp dụng trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hoá
Thứ nhất, có hành vi vi phạm nghĩa vụ thanh toán hợp đồng: Hành vi vi
phạm nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng là căn cứ pháp lý để áp dụng đốivới tất cả các hình thức chế tài do vi phạm hợp đồng Hành vi vi phạm nghĩa
vụ thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hoá có biểu hiện cụ thể là việckhông thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các nghĩa vụ thanhtoán theo hợp đồng
Vi phạm nghĩa vụ thanh toán được thể hiện dưới các hành vi vi phạmsau đây:
- Vi phạm chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán Thời hạn thanh toán làmột trong những điều khoản chủ yếu của hợp đồng mua bán hàng hóa Theo
đó, các bên thỏa thuận bên mua sẽ thanh toán tiền cho bên bán trong thời hạnnhất định Hành vi vi phạm thời hạn thanh toán thể hiện ở việc bên muakhông thanh toán, thanh toán không đầy đủ tiền mua hàng hóa cho bên theothỏa thuận về thời hạn thanh toán trong hợp đồng Căn cứ để xác định viphạm thời hạn thanh toán là thỏa thuận về thời hạn thanh toán trong hợp đồngmua bán hàng hóa Nếu không có thỏa thuận về thời hạn thanh toán thì thờihạn này được xác định theo quy định của pháp luật: Bên mua phải thanh toán
Trang 32cho bên bán vào thời điểm bên bán giao hàng hoặc giao chứng từ liên quan đến hàng hóa.
- Vi phạm về thanh toán không đầy đủ: Căn cứ xác định vi phạm nghĩa
vụ về thanh toán không đầy đủ trong hợp đồng mua bán hàng hóa là mức tiền
và thời hạn thanh toán Mức tiền là số tiền mà bên mua phải thanh toán chobên bán Mức tiền phụ thuộc vào giá tiền mà các bên thoả thuận trong hợpđồng Nếu các bên không thoả thuận về mức tiền thì giá mua bán được xácđịnh theo quy định của pháp luật Trường hợp các bên chỉ có thỏa thuận vềthời hạn giao tài sản thì thời hạn thanh toán tiền cũng được xác định tươngứng với thời hạn giao tài sản Nếu các bên không có thỏa thuận về thời hạngiao tài sản và thời hạn thanh toán tiền thì bên mua phải thanh toán tiền tạithời điểm nhận tài sản Trường hợp bên mua không thực hiện đúng nghĩa vụtrả tiền thì phải trả lãi trên số tiền chậm trả theo quy định của luật dân sự.Theo đó, bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với khoảntiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả Như vậy, ngoài việc thanhtoán khoản tiền thuộc về nghĩa vụ chính là tiền mua hàng thì bên chậm thựchiện nghĩa vụ trả tiền còn phải trả một khoản lãi tính trên giá trị của khoảntiền chậm trả đó Khoản lãi này thực chất là trách nhiệm bồi thường nhữngtổn thất do việc chậm trả gây ra và được tính dựa trên mức lãi suất chậm trảtương ứng với thời gian chậm trả
Ngoài các vi phạm trên trong thực tế vi phạm nghĩa vụ thanh toán cònthể hiện dưới dạng vi phạm phương thức thanh toán, địa điểm thanh toán
Thứ hai, Để áp dụng chế tài vi phạm nghĩa vụ thanh toán trong một số
trường hợp cấn phải có thiệt hại vật chất thực tế xảy ra Đây là căn cứ bắtbuộc phải có khi áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại Thiệt hại thực tế lànhững thiệt hại cụ thể tính được thành tiền mà bên bị vi phạm hợp đồng phảigánh chịu Thiệt hại thực tế bao gồm thiệt hại trực tiếp và thiệt hại gián tiếp.Thiệt hại trực tiếp là những thiệt hại đã xảy ra trên thực tế, có thể tính toán 1
Trang 33cách dễ dàng và chính xác Thiệt hại gián tiếp là những thiệt hại phải dựa trên
sự suy đoán khoa học (trên cơ sở những chứng cứ, tài liệu) mới có thể xácđịnh được
Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hạithực tế: Mối quan hệ này được xác định khi hành vi vi phạm và thiệt hại thực
tế có mối liên hệ nội tại, tất yếu; hành vi vi phạm là nguyên nhân trực tiếp gây
ra thiệt hại Bên có hành vi vi phạm hợp đồng chỉ phải bồi thường thiệt hạikhi thiệt hại xảy ra là kết quả tất yếu của hành vi vi phạm hợp đồng
Có lỗi của bên vi phạm: Lỗi của bên vi phạm hợp đồng là căn cứ bắtbuộc phải có để áp dụng đối với tất cả các hình thức chế tài do vi phạm hợpđồng Trách nhiệm hợp đồng được áp dụng theo nguyên tắc lỗi suy đoán, theo
đó mọi hành vi không thực hiện, thực hiện không đúng hợp đồng đều bị suyđoán là có lỗi (trừ trường hợp bên vi phạm chứng minh được là mình không
có lỗi) Khi áp dụng chế tài đối với bên vi phạm, bên bị vi phạm cũng như cơquan tài phán, không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của bên vi phạm
1.6.3 Các quy định về trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hóa
- Buộc thực hiện đúng hợp đồng:
Buộc thực hiện đúng hợp đồng mua bán là hình thức chế tài, theo đóbên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng mua bán phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ theoyêu cầu của bên bị vi phạm Căn cứ để áp dụng chế tài là có hành vi vi phạmhợp đồng và có lỗi của bên vi phạm Biểu hiện cụ thể của việc áp dụng chế tàinày là bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng các nghĩa vụ theohợp đồng hoặc dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện và bên
vi phạm phải chịu phí tổn phát sinh
- Phạt hợp đồng:
Phạt hợp đồng là hình thức chế tài do vi phạm hợp đồng, theo đó bên viphạm hợp đồng phải trả cho bên bị vi phạm khoản tiền nhất định do pháp luật
Trang 34quy định hoặc do các bên thoả thuận trên cơ sở pháp luật Chế tài phạt hợpđồng có mục đích chủ yếu là trừng phạt, tác động vào ý thức của các chủ thểhợp đồng nhằm giáo dục ý thức tôn trọng hợp đồng, phòng ngừa vi phạm hợpđồng Với mục đích như vậy, phạt hợp đồng được áp dụng phổ biến đối vớicác vi phạm hợp đồng.
Chế tài phạt hợp đồng chỉ áp dụng nếu trong hợp đồng có thỏa thuận vềviệc áp dụng chế tài này, để áp dụng chế tài này cần có hai căn cứ là có hành
vi vi phạm hợp đồng và có lỗi của bên vi phạm Mức tiền phạt vi phạm hợpđồng bị giới hạn bởi pháp luật (các bên có quyền thỏa thuận về mức phạtnhưng không được vượt quá mức phạt do pháp luật quy định) Theo Luậtthương mại, mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng mua bán hàng hoáhoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thỏa thuận trong hợpđồng nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm
- Bồi thường thiệt hại:
Bồi thường thiệt hại là hình thức chế tài được áp dụng nhằm khôi phục, bùđắp những lợi ích vật chất bị mất của bên bị vi phạm hợp đồng mua bán Vớimục đích này, bồi thường thiệt hại chỉ được áp dụng khi có thiệt hại xảy ra
Về nguyên tắc, bên vi phạm phải bồi thường toàn bộ những thiệt hại vậtchất cho bên bị vi phạm Tuy nhiên các khoản thiệt hại đòi bồi thường phảinằm trong phạm vi được pháp luật ghi nhận Bên yêu cầu bồi thường thiệt hạiphải chứng minh tổn thất, mức độ tổn thất do hành vi vi phạm gây ra và khoảnlợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành
vi vi phạm hợp đồng
- Tạm ngừng, đình chỉ và hủy bỏ hợp đồng:
+ Tạm ngừng thực hiện hợp đồng mua bán là hình thức chế tài, theo đó
1 bên tạm thời không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng mua bán Khi hợp đồngmua bán bị tạm ngừng thực hiện thì hợp đồng vẫn còn hiệu lực
Trang 35+ Đình chỉ thực hiện hợp đồng mua bán: là hình thức chế tài, theo đó 1bên chấm dứt thực hiện nghĩa vụ hợp đồng mua bán Khi hợp đồng mua bán
bị đình chỉ thực hiện thì hợp đồng chấm dứt hiệu lực từ thời điểm 1 bên nhậnđược thông báo đình chỉ Các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ hợpđồng Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán hoặcthực hiện nghĩa vụ đối ứng
+ Hủy bỏ hợp đồng mua bán là hình thức chế tài, theo đó 1 bên chấmdứt thực hiện nghĩa vụ hợp đồng và làm cho hợp đồng không còn hiệu lực từthời điểm giao kết Hủy bỏ hợp đồng có thể hủy bỏ 1 phần hoặc toàn bộ hợpđồng Các bên không phải tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ theo hợp đồng, trừcác thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ sau khi hủy bỏ hợp đồng và về giải quyếttranh chấp Các bên có quyền đòi lại lợi ích do việc đã thực hiện phần nghĩa
vụ của mình theo hợp đồng; nếu các bên đều có nghĩa vụ hoàn trả thì nghĩa vụcủa họ phải được thực hiện đồng thời; trường hợp không thể hoàn trả bằngchính lợi ích đã nhận thì bên có nghĩa vụ phải hoàn trả bằng tiền
1.6.4 Các quy định về miễn trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thanh toán do vi phạm hợp đồng mua bán
Miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán là việc bên vi phạmnghĩa vụ theo hợp đồng mua bán không phải chịu các hình thức chế tài Cácbên trong hợp đồng mua bán có quyền thỏa thuận về giới hạn trách nhiệm vàmiễn trách nhiệm hợp đồng trong các trường hợp cụ thể do các bên dự liệukhi giao kết hợp đồng Ngoài ra việc miễn trách nhiệm hợp đồng còn được ápdụng theo các trường hợp khác do pháp luật quy định
Theo Luật thương mại 2005, ngoài các trường hợp miễn trách nhiệm
mà các bên đã thỏa thuận, bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng mua bán còn đượcmiễn trách nhiệm khi:
Trang 36- Xảy ra sự kiện bất khả kháng (là sự kiện xảy ra 1 cách khách quankhông thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụngmọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép).
- Hành vi vi phạm của 1 bên hoàn toàn do lỗi của bên kia
- Hành vi vi phạm của 1 bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản
lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểmgiao kết hợp đồng
Để được áp dụng miễn trách nhiệm khi vi phạm hợp đồng, bên vi phạm
có nghĩa vụ chứng minh, và phải thông báo ngay bằng văn bản cho bên kia vềtrường hợp được miễn trách nhiệm và những hậu quả có thể xảy ra trong thờigian hợp lý Khi trường hợp miễn trách nhiệm chất dứt, bên vi phạm hợpđồng phải thông báo ngay cho bên kia biết, nếu bên vi phạm không thông báohoặc thông báo không kịp thời cho bên kia thì phải bồi thường thiệt hại
Trang 37Tiểu kết chương 1
Mua bán hàng hóa là giao dịch phổ biến nhất trong các hoạt độngthương mại và được thực hiện dưới hình thức hợp đồng mua bán hàng hóađược điều chỉnh bới luật gốc là Luật dân sự và luật chuyên ngành là LuậtThương mại Trên cơ sở Hợp đồng MBHH, phát sinh nghĩa vụ quan trọng củabên mua là nghĩa vụ thanh toán Nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng MBHH,ngoài những đặc điểm chung của nghĩa vụ dân sự có những đặc điểm đặc thùgắn với hoạt động mua bán hàng hóa với tư cách là hoạt động thương mại nhưluôn gắn với hợp đồng MBHH, chủ thể là bên mua hàng hóa; cơ sở xác địnhnghĩa vụ thanh toán là giá cả, thời hạn, phương thức thanh toán Bên cạnh đónghĩa vụ thanh toán gắn với các nghĩa vụ khác như giao hàng, thời điểm chịurủi ro, chuyển quyền sở hữu….và yêu cầu bên mua hàng phải thực hiện nghĩa
vụ thanh toán đúng theo thỏa thuận trong điều khoản về nghĩa vụ thanh toánnhư đúng giá cả thỏa thuận, thời hạn thanh toán, phương thức thanh toán vàchịu trách nhiệm dân sự khi thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh toán Chếđịnh nghĩa vụ thanh toán có ý nghĩa quan trọng đảm bảo quyền lợi của cácbên trong hợp đồng MBHH đồng thời thúc đẩy các giao dịch MBHH pháttriển lành mạnh, an toàn
Trang 38Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ NGHĨA VỤ THANH TOÁN TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN
HÀNG HÓA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Thực trạng pháp luật về nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hóa
Quan hệ pháp luật về mua bán hàng hóa hiện nay được điều chỉnh bởi
hệ thống các quy phạm pháp luật khá đá dạng, phong phú, bao gồm các quyđịnh của luật dân sự với tư cách là luật gốc , tiếp theo là các quy định củaLuật thương mại theo nghĩa rộng bao gồm các quy định nằm trong Luậtthương mại 2005 và các luật chuyên ngành về mua bán hàng hóa trong cáctrường hợp cụ thể và hệ thống các quy phạm của các Điều ước quốc tế và cáctập quán thượng mại quốc tế
2.1.1 Quy định của pháp luật dân sự về hợp đồng trong luật dân sự
và hợp đồng mua bán hàng hóa trong Luật thương mai
Nghĩa vụ thanh toán có liên quan chặt chẽ đến các điều khoản khác củahợp đồng dân sự Bởi lẽ, về nguyên tắc, nếu bên bán vi phạm các thỏa thuậnchủ yếu của hợp đồng mua bán hàng hóa thì bên mua sẽ không có nghĩa vụthanh toán Ngược lại nếu bên bán thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình thì bênmua cũng phải thực hiện nghiêm chỉnh nghĩa vụ thanh toán Chính vì vậy chếđịnh nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hóa có liên quan đếncác quy định về hợp đồng dân sự của BLDS 2015, quy định của Luật thươngmại về hợp đồng mua bán hóa
BLDS 2015 quy định các điều khoản chung về hợp đồng, định hướngcho việc xây dựng và giải thích các quy định về hợp đồng trong các luật khác
có liên quan trong đó có quy định của Luật Thương mại về hợp đồng mua bánhàng hóa, bổ sung cho cho các trường hợp Luật Thương mại thiếu quy định