Trong khi đó, sáu kiểu HST rừng trên núi cao là: HST rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới, HST rừng kín nửa rụng lá ẩm nhiệt đới, HST rừng lá kim tự nhiên, HST rừng lá rộng thường xanh
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội –2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Trương Ngọc Kiểm
Hà Nội - 2019
Trang 3Tôi xin chân thành cảm ơn đến các thầy cô của Bộ môn Sinh thái học đã luôn nhiệt tình giảng dạy cũng như hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành đề tài của mình
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Trương Ngọc Kiểm, GS Mai Đình Yên, GS Phan Kế Lộc đã nhiệt tình hướng dẫn, góp ý, sửa chữa và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Sau cùng, tôi xin gửi lời biết ơn chân thành đến gia đình, bạn bè đã luôn động viên, khích lệ và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Hà Nội, ngày 30 tháng 01 năm 2019
Học viên
Đồng Thị Xuân Nhân
Trang 4MỤC LỤC MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
DANH MỤC VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Tổng quan về BĐKH 3
1.1.1 Khái niệm 3
1.1.2 Nguyên nhân 3
1.1.3 Các biểu hiện của biến đổi khí hậu 5
1.1.4 Ảnh hưởng của BĐKH đến đa dạng sinh học và hệ sinh thái 6
1.1.5 Tình hình nghiên cứu về tác động của BĐKH 6
1.2 Tổng quan về thảm thực vật rừng 13
1.2.1 Thảm thực vật chủ yếu ở Việt Nam 13
1.2.2 Đặc điểm phân bố một số HST rừng điển hình ở Việt Nam 16
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Đối tượng và khu vực nghiên cứu 24
2.1.1 Vị trí địa lý 25
2.1.2 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 25
2.1.3 Điều kiện kinh tế xã hội 26
2.2 Nội dung nghiên cứu 27
2.3 Thời gian nghiên cứu 27
Trang 52.4 Phương pháp nghiên cứu 27
2.4.1 Phương pháp kế thừa, phân tích và tổng hợp 27
2.4.2 Phương pháp đánh giá tác động của BĐKH đến thảm thực vật rừng 28
2.4.3 Phương pháp điều tra thực địa tại khu vực nghiên cứu 31
2.4.4 Phương pháp đánh giá tiếp cận dựa vào hệ sinh thái để đề xuất giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu 31
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33
3.1 Đặc điểm thảm thực vật VQG Ba Vì 33
3.1.1 Đặc điểm khu hệ thực vật 33
3.1.2 Đặc điểm thảm thực vật tự nhiên 36
3.2 Biểu hiện BĐKH tại khu vực nghiên cứu 39
3.2.1 Nhiệt độ: 39
3.2.2 Lượng mưa: 40
3.2.3 Các yếu tố cực đoan 41
3.2.4 Xu hướng biến đổi của điều kiện khí hậu tại VQG Ba Vì 42
3.3 Đánh giá tác động của BĐKH 44
3.3.1 Tác động của BĐKH lên các kiểu thảm thực vật rừng 44
3.3.2 Tác động của BĐKH lên một số loài điển hình tại VQG Ba Vì 47
3.3.3 Đánh giá tác động của BĐKH lên thảm thực vật rừng khu vực VQG Ba Vì thông qua tác động đến 5 loài điển hình 58
3.3.4 Đề xuất giải pháp thích ứng với BĐKH 61
KẾT LUẬN 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
PHỤ LỤC 71
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 Một số khía cạnh được dự đoán về BĐKH và những tác động mà chúng
có thể có trên các loài 30
Bảng 2 Thành phần các loài thực vật có mạch ở VQG Ba Vì 33
Bảng 3 Nhiệt độ trung bình của tháng I, VII, Năm các thập kỷ tại VQG Ba Vì 39
Bảng 4 Lượng mưa trung bình các nửa thập kỷ mùa khô, mùa mưa, mưa năm (mm) 41
Bảng 5 Mức độ thay đổi trung bình (%) nhiệt độ trung bình năm và lượng mưa năm so với giai đoạn thời kỳ cơ sở 43
Bảng 6 Bảng đánh giá ảnh hưởng của BĐKH đến loài Bách Xanh 50
Bảng 7 Bảng đánh giá ảnh hưởng của BĐKH đến loài Thông tre 52
Bảng 8 Bảng đánh giá ảnh hưởng của BĐKH đến loài Sam bông 53
Bảng 9 Bảng đánh giá ảnh hưởng của BĐKH đến loài Sến mật 55
Bảng 10 Bảng đánh giá ảnh hưởng của BĐKH đến loài Phỉ ba mũi 57
Bảng 11 Tổng hợp đánh giá tác động của BĐKH dựa trên loài 58
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 1 Bản đồ hành chính VQG Ba Vì 24 Hình 2 Xu thế biến đổi nhiệt độ tối cao và nhiệt độ tối thấp 40
Trang 8DANH MỤC VIẾT TẮT
BĐKH Biến đổi khí hậu
IPCC Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu
IUCN Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên
Thiên nhiên
Trang 9MỞ ĐẦU
Biến đổi khí hậu (BĐKH) là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong thế kỷ 21 Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) và các nhà khoa học trên thế giới đã công bố hàng loạt báo cáo kết quả nghiên cứu về việc nhiệt
độ không khí bề mặt Trái đất đang nóng dần lên Cùng với sức ép tăng dân số, công nghiệp hóa và thương mại toàn cầu ngày càng lớn đã làm cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên và ô nhiễm môi trường Đặc biệt, hoạt động phát triển kinh tế với nhịp độ ngày một cao trong nhiều lĩnh vực đã làm tăng nồng độ các khí gây hiệu ứng nhà kính (N2O, CH4, H2S và nhất là CO2), làm thay đổi khí tượng khí hậu và ảnh hưởng lớn tới các hệ sinh thái (HST) tự nhiên và sự phát triển bền vững của tất cả các quốc gia
Ở Việt Nam cũng như trên thế giới, rừng không chỉ là nguồn tài nguyên quý giá
để phát triển kinh tế - xã hội mà còn giữ các chức năng sinh thái cực kỳ quan trọng trong việc bảo vệ môi trường sống: điều hoà khí hậu, đảm bảo chu trình ôxy và các nguyên tố cơ bản trên Trái Đất, duy trì tính ổn định và độ màu mỡ của đất, hạn chế lũ lụt, hạn hán, ngăn chặn xói mòn đất, làm giảm nhẹ sức tàn phá của thiên tai, bảo tồn nguồn nước mặt, nước ngầm và làm giảm mức ô nhiễm không khí và nước
Do vị trí địa lý ba mặt giáp biển, Việt Nam là quốc gia rất dễ bị tổn thương trước những tác động của biến đổi khí hậu cả về hình thái khí hậu lẫn diện tích đất canh tác sẽ bị thu hẹp khi mực nước biển dâng Trong điều kiện biến đổi khí hậu, các HST nói chung và HST rừng nói riêng có nhiều thay đổi mạnh mẽ như: thay đổi số lượng và thành phần loài, sự phân bố của các loài nhạy cảm ở Việt Nam, v.v Tuy nhiên, ở Việt Nam, các nghiên cứu về sự biến đổi của các HST tự nhiên dưới tác động của BĐKH thường tập trung vào các HST ven biển, đặc biệt là HST rừng ngập mặn Trong khi đó, sáu kiểu HST rừng trên núi cao là: HST rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới, HST rừng kín nửa rụng lá ẩm nhiệt đới, HST rừng lá kim tự nhiên, HST rừng lá rộng thường xanh trên núi đá vôi, HST rừng khộp, HST rừng tre nứa chưa được chú ý, quan tâm đúng mức hoặc chưa có nhiều nghiên cứu mới để có được cái nhìn toàn cảnh về tác động của biến đổi khí hậu đến HST rừng tại Việt Nam
Trang 10Từ những luận điểm trên, đề tài “Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến thảm thực vật rừng tại vườn quốc gia Ba Vì, Thành phố Hà Nội” được thực hiện nhằm mục tiêu:
- Ghi nhận và phân tích những biểu hiện của BĐKH tại khu vực Ba Vì - là dãy núi cao nhất tại Hà Nội, nơi còn lưu giữ một số HST rừng tự nhiên quan trọng
- Đánh giá ảnh hưởng của BĐKH đến thảm thực vật tại VQG Ba Vì, TP Hà Nội thông qua tác động đến một số loài điển hình
- Bước đầu đề xuất một số phương án giảm thiểu nhằm bảo tồn và phát triển bền vững HST rừng tại VQG Ba Vì
Trang 11CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về BĐKH
1.1.1 Khái niệm
Biểu hiện của BĐKH là sự nóng lên toàn cầu và nước biển dâng đã và đang tác động đến mọi lĩnh vực trên toàn thế giới bao gồm: tài nguyên thiên nhiên, môi trường, kinh tế-xã hội; Những ảnh hưởng tiêu cực từ thời tiết cực đoan gây ra những thiệt hại
từ nhỏ đến lớn ở khắp nơi trên thế giới Những tác động có thể mang tính tiềm tàng hoặc mạnh mẽ trực tiếp của BĐKH đều mang đến những thiệt hại cho hiện tại và tương lai trong quá trình phát triển của loài người Và đây cũng chính là thách thức lớn cho sự phát triển bền vững trong tương lai
Theo IPCC (2007), BĐKH là sự biến đổi về trạng thái của hệ thống khí hậu, có thể được nhận biết qua sự biến đổi về giá trị trung bình và sự biến động các thuộc tính của nó, được duy trì trong thời gian dài, có thể là hàng thập kỷ hoặc dài hơn BĐKH
có thể do các quá trình tự nhiên bên trong hệ thống khí hậu hoặc do tác động thường xuyên của con người, đặc biệt tăng hiệu ứng nhà kính làm thay đổi thành phần cấu tạo của khí quyển [47]
1.1.2 Nguyên nhân
BĐKH có thể xảy ra qua các quá trình tự nhiên hoặc cũng có thể do tác động của con người Trong lịch sự biến đổi trên Trái Đất đã từng diễn ra nhiều lần tình trạng BĐKH với các mức độ khác nhau cùng với các nguyên nhân chủ yếu là do tự nhiên thông qua các hoạt động về địa chất hay các yếu tố ngẫu nhiên làm thay đổi điều kiện
ổn định trên Trái Đất Tuy nhiên, quá trình BĐKH hiện nay được xét đến là do chính tác động của con người [7]
Nguyên nhân của BĐKH chủ yếu được cho là do công nghiệp hóa, khi con người bắt đầu sử dụng càng ngày càng nhiều năng lượng từ nguyên liệu hóa thạch như than đá, dầu mỏ, qua đó thải vào khí quyển một lượng lớn khí nhà kính
Những số liệu về hàm lượng khí CO2 trong khí quyển được xác định từ các lõi băng được khoan ở Greenland và Nam cực cho thấy, trong suốt chu kỳ băng hà và tan
Trang 12băng (khoảng 18.000 năm trước), hàm lượng khí CO2 trong khí quyển chỉ khoảng 180 -200 ppm (phần triệu), nghĩa là chỉ bằng khoảng 70% so với thời kỳ tiền công nghiệp (280 ppm) Từ khoảng năm 1800, hàm lượng khí CO2 bắt đầu tăng lên, vượt con số 300ppm và đạt 379ppm vào năm 2005, nghĩa là tăng khoảng 31% so với thời kỳ tiền công nghiệp, vượt xa mức khí CO2 tự nhiên trong khoảng 650 nghìn năm qua [20]
Hàm lượng các khí nhà kính khác như khí CH4, N2O cũng tăng lần lượt từ 715 ppb (phần tỷ) và 270 ppb trong thời kỳ tiền công nghiệp lên 1774 ppb (151%) và 319 ppb (17%) vào năm 2005 Riêng các chất khí CFCs vừa là khí nhà kính với tiềm năng làm nóng lên toàn cầu lớn gấp nhiều lần khí CO2, vừa là chất phá hủy tầng ôzôn bình lưu, chỉ mới có trong khí quyển do con người sản xuất ra kể từ khi công nghiệp làm lạnh, hóa mỹ phẩm phát triển [19]
Đánh giá khoa học của Ban liên chính phủ về BĐKH (IPCC) cho thấy, việc tiêu thụ năng lượng do đốt nhiên liệu hóa thạch trong các ngành sản xuất năng lượng, công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng đóng góp gần một nửa (46%) vào sự phát thải khí nhà kính, phá rừng nhiệt đới đóng góp khoảng 18%, sản xuất nông nghiệp khoảng 9%, các ngành sản xuất hóa chất (CFC, HCFC) khoảng 24%, còn lại (3%) là từ các hoạt động khác [19]
Gần đây các nhà khoa học trên thế giới đã thống nhất đưa ra quan điểm rằng các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội với quy mô lớn ở nhiều lĩnh vực như năng lượng, công nghiệp năng, giao thông, nông – lâm nghiệp đã làm tăng nồng độ khí nhà kính gây hiệu ứng nhà kính như N2O, CH4, H2S và CO2, v.v trong khí quyển, làm thay đổi nhiệt độ Trái Đất, biến đổi hệ thống khí hậu và ảnh hưởng tới môi trường toàn cầu [46]
Điều đó chứng tỏ rằng nguyên nhân chủ yếu của BĐKH là do sự gia tăng hoạt động tạo ra khí nhà kính và khai thác quá mức bề mặt hấp thụ khí nhà kính như sinh khối, rừng và các HST khác Do đó, các Quốc gia đã ký kết nghị định thư Kyoto về hạn chế và ổn định khí nhà kính (United Nations Environment Programme ngày 11/12/1997), theo đó, các Quốc gia cam kết cắt giảm khí thải trên 5.2% so với năm
1990 (lưu ý rằng mức độ cắt giảm theo đó đến năm 2010 phải đạt được thì chỉ tiêu này
là khoảng 29%) Mục tiêu hướng đến việc giảm thiểu các loại khí carbon dioxit,
Trang 13methane, nitơ ôxít, lưu huỳnh hexafluorua, clorofluorocarbon và perflourocarbon trong khoảng thời gian 2008-2021 Trong đó:
- Khí CO2 phát sinh thông qua quá trình đốt cháy nhiên liệu hóa thạch như than, dầu mỏ hoặc từ các hoạt động công nghiệp;
-Khí N2O phát sinh từ phân bón và các hoạt động công nghiệp;
-Khí CH4 phát sinh từ những khu tập kết rác thải, hoặc từ hoạt động khai thác than đá, dầu mỏ, khí đốt;
-Khí HCFs là khí có tiềm năng tác động lớn đến sự nóng lên toàn cầu do nó có khả năng phá hủy mạnh mẽ tầng ozon, đây là loại khí do con người sản xuất khi ngành công nghiệp làm lạnh và hóa mỹ phẩm phát triển;
-Khí PFCs phát sinh từ quá trình sản xuất nhôm;
-Khí SF6 phát sinh khi sản xuất vật liệu cách điện và sản xuất magie [7]
1.1.3 Các biểu hiện của biến đổi khí hậu
Biểu hiện của BĐKH rất phức tạp, bao gồm các dấu hiệu chính sau:
- Sự nóng lên của khí quyển và Trái đất nói chung
- Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển theo hướng có hại cho môi trường sống của con người và các sinh vật trên Trái đất Các khí nhà kính tăng: CO2,
- Lượng mưa tăng hoặc giảm, lũ lụt, hạn hán, bão tuyết, băng giá và cực đoan
về thời tiết diễn ra thường xuyên và bất thường
- Xói mòn, trầm tích tăng, sử dụng đất đai và quan hệ của đất đai thay đổi
Trang 14- Sự thay đổi năng suất sinh học của các HST, chất lượng và thành phần của thuỷ quyển, sinh quyển, địa quyển [36]
1.1.4 Ảnh hưởng của BĐKH đến đa dạng sinh học và hệ sinh thái
Ở phạm vi thế giới, dưới sự chủ trì của Ban thư ký Công ước Đa dạng sinh học, nhiều Hội thảo khoa học thế giới đã thảo luận, phân tích các tác động của BĐKH đến ĐDSH và HST Ở phạm vi trong nước, dưới sự chủ trì của Bộ Tài nguyên và Môi trường, các Viện và các Trung tâm nghiên cứu về Tài nguyên và Môi trường, và đặc biệt là có sự tài trợ của các tổ chức quốc tế, nhiều Hội thảo khoa học cũng đã được tổ chức với chủ đề này Có thể nêu các nhận định chính sau đây:
- BĐKH sẽ gia tăng sức ép mạnh lên HST và ĐDSH nếu như các HST này bị các sức ép khác như: chia cắt các nơi ở, mất hoặc chuyển đổi nơi ở, khai thác quá mức, các loài ngoại lai xâm hại, ô nhiễm môi trường v.v
- BĐKH và nồng độ CO2 trong không khí đã được xác nhận rõ tác động của chúng lên các HST tự nhiên và các loài Một số loài và HST đã chứng tỏ có một số khả năng thích nghi tự nhiên, nhưng nhiều loài khác thì chứng tỏ chúng bị tác động âm tính
- Tổ chức IPCC (AR4) đã cho biết có khoảng 10% số các loài bị tuyệt chủng ở mức rủi ro cao, mỗi khi nhiệt độ trung bình trên Trái Đất tăng 1,5oC Hậu quả này chỉ
có giá trị khi mức tăng nhiệt độ ở dưới mức 5oC
BĐKH như hiện nay, nếu cứ tiếp tục thì tác động nguy hại sẽ gia tăng và không đảo ngược đối với nhiều HST và các dịch vụ của chúng và do đó sẽ kéo theo tác động
âm tính lên các khía cạnh văn hóa, xã hội và kinh tế Tuy nhiên, vẫn còn chưa rõ về mức độ biến đổi cũng như tốc độ biến đổi của BĐKH và ngưỡng thích ứng của các HST [37]
1.1.5 Tình hình nghiên cứu về tác động của BĐKH
Nghiên cứu về BĐKH có nhiều phương pháp và cách thức thực hiện khác nhau
để chứng minh về mức độ BĐKH nhất định trên các HST Chủ yếu tập trung vào mối tương quan của điều kiện khí hậu thay đổi với những biến động trong hệ sinh thái, quần thể hoặc đến từng cá thể trong một nhóm loài với mức độ biến đổi nhất định
Trang 15Các nghiên cứu đều phải thông qua các số liệu được ghi lại qua nhiều năm về các BĐKH và sinh vật học Để hiểu được khí hậu hiện tại và dự đoán sự thay đổi khí hậu trong tương lai, cần phải có cả lý thuyết và quan sát thực nghiệm Bất kỳ nghiên cứu về biến đổi khí hậu nào cũng liên quan đến việc xây dựng chuỗi thời gian của dữ liệu khí hậu Để dữ liệu khí hậu thay đổi theo thời gian cung cấp sự định lượng hoặc định tính của biến đổi khí hậu Các loại dữ liệu khí hậu bao gồm nhiệt độ, lượng mưa, gió, độ ẩm, bốc hơi, áp suất và bức xạ mặt trời [53]
Đối với HST rừng, nghiên cứu sinh lý thực vật có vai trò rất quan trọng để nhận biết những thay đổi khí hậu Cây cối và rừng cũng có thể được sử dụng làm kho lưu trữ các sự kiện trong quá khứ BĐKH sẽ ảnh hưởng mạnh đến tài nguyên nước, cộng đồng thực vật và động vật hoang dã ở các vùng khô cằn và bán khô cằn Nước, môi trường độ ẩm và nhiệt độ là yếu tố chính của tăng trưởng thực vật Phần lớn các hệ sinh thái rừng và thực vật trên trái đất được hình thành theo hai yếu tố chính này Khi lượng nước và độ ẩm cần thiết cũng cấp đủ và nhiệt độ thuận lợi cho sự phát triển của thực vật thì quần thể thực vật sẽ tăng trưởng và các hệ sinh thái rừng sẽ phát triển Trên thực tế, thực vật là các chỉ số khí hậu quan trọng Thực vật, đặc biệt nhạy cảm với những thay đổi môi trường Biến đổi khí hậu và môi trường ảnh hưởng đến hệ sinh thái tự nhiên cũng như rừng trồng Điều tra về số lượng và chất lượng của sự phát triển cây có thể giúp đánh giá điều kiện khí hậu trong quá khứ [51]
1.1.5.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Tác động của BĐKH do con người gây ra trên hệ thống sinh học được ghi nhận, phân tích thông qua lý thuyết khoa học, mô hình hóa, thí nghiệm và quan sát Điều đó giúp chúng ta có thể theo dõi phản ứng của sinh quyển đối với biến đổi khí hậu Hiểu được mức độ ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với hệ sinh thái và tương tác của chúng với các tác nhân khác là một yêu cầu quan trọng để đưa ra chính sách về biến đổi khí hậu và đưa ra quản lý thích nghi [41]
Các phương pháp nghiên cứu về đánh giá tác động của BĐKH đến ĐDSH
Như bài báo công bố bởi IUCN năm 2008, về sự mẫn cảm của loài đối với tác động của BĐKH, nghiên cứu chỉ ra rằng những đánh giá về sự tuyệt chủng của loài trong điều kiện BĐKH dựa trên nghiên cứu trường hợp độc lập hoặc mô hình phân bố
Trang 16của loài Nhưng những phương pháp này thường phụ thuộc vào quy mô và các giả thuyết có thể không chính xác, và thường không xác định sự khác biệt sinh học giữa các loài, từ đó thì thông tin có ý nghĩa bị hạn chế Vì vậy IUCN đã và đang phát triển các công cụ đánh giá xác định tác động tiềm tàng của BĐKH đối với loài Phương pháp này có hiệu quả trong việc xác định sự sụt giảm phạm vi hoặc quy mô quần thể loài Ngoài ra còn có thể đánh giá loài có nguy cơ cao dưới tác động của BĐKH Phương pháp này dựa trên sự phản ứng khác nhau của mỗi loài Tính nhạy cảm với BĐKH phụ thuộc vào sự đa dạng các đặc điểm sinh học, bao gồm lịch sử sống, hành
vi, sinh lý học và đặc điểm di truyền Loài có tính mẫn cảm lớn với tác động của BĐKH mà tiếp xúc với thay đổi lớn thì sẽ đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng lớn nhất IUCN đã đánh giá các loài dễ bị tổn thương và so sánh với đánh giá trong sách đỏ Dựa trên nghiên cứu cho chim (9.856 loài), động vật lưỡng cư (6.222 loài) và san hô nước ấm (799 loài), kết quả cho thấy 70-80% chim, lưỡng cư và san hô đã bị đe dọa và cũng “dễ bị tổn thương trước biến đổi khí hậu” Khi tiếp xúc với những thay đổi khí hậu lớn, những loài này cũng ít có khả năng phục hồi hơn, phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng lớn nhất Trong số các loài không được coi là bị đe dọa, 28-71% là “nhạy cảm với biến đổi khí hậu” Từ đó xác định các nhóm phân loại và khu vực địa lý có sự tập trung lớn nhất của các loài trên và khuyến cáo rằng chúng được ưu tiên bảo tồn cao [48]
Trong bài báo về đánh giá tính dễ bị tổn thương của loài đối với biến đổi khí hậu, dựa trên 97 nghiên cứu được công bố giữa năm 1996 đến 2004 để lập ra mô hình tính dễ tổn thương thông qua các cách tiệm cần về mối tương quan, cơ chế, dựa trên các đặc điểm và cách tiếp cận kết hợp Trong đó, mô hình tương quan liên quan đến sự phân bố địa lý của loài với điều kiện khí hậu hiện tại, dữ liệu được sử dụng để suy ra các khu vực có khí hậu tiềm năng cho loài trong tương lai Mô hình cơ chế yêu cầu về taxon và thực địa để đáp ứng các dữ liệu về số lượng, khả năng sinh lý, và các thông tin khác để đưa ra mô hình cân bằng năng lượng trong việc đối phó với BĐKH Phương pháp đánh giá dựa trên đặc điểm sinh học thường sử dụng độ nhạy cảm và khả năng thích ứng kết hợp với mức độ tiếp xúc với BĐKH để đưa ra chỉ số tổn thương Phương pháp kết hợp mới là phương pháp có tính ứng dụng cao và phù hợp với nhiều loài trên Thế giới Tuy nhiên sự khó khăn trong việc xác thực thông tin cũng là một sự trở ngại lớn trong việc đánh giá sử dụng các phương pháp trên [58]
Trang 17Theo Glob Chang Biol năm 2011, bài báo về phương pháp định lượng trong sinh thái học biến đổi khí hậu chỉ ra rằng, các phương pháp thống kê thích hợp là quan trọng trong việc đảm bảo cơ sở dữ liệu cho các suy luận trong điều kiện BĐKH Trong nghiên cứu chủ yếu quan sát những phản ứng với biến đổi khí hậu của HST biển, trong
đó xem xét mối tương quan theo thời gian, tính không đồng nhất về không gian và ghi nhận tỷ lệ thay đổi Từ đó đưa ra đề xuất về các phương pháp thống kê đáng tin cậy xem xét những hạn chế của dữ liệu có sẵn và nêu bật những nghiên cứu riêng lẻ, khi
mà phân tích trở nên đáng tin cậy Áp dụng các phương pháp thống kê có thể bảo vệ sẽ cung cấp một nền tảng vững chắc hơn cho sinh thái biến đổi khí hậu, cải thiện năng lượng dự báo và phân phối tốc độ khoa học cho các nhà hoạch định chính sách và các nhà quản lý Tổng quan cho thấy số lượng nghiên cứu nhanh chóng với dữ liệu chuỗi thời gian được công bố trong biến đổi khí hậu theo thời gian, phù hợp với sự gia tăng tổng thể trong các nghiên cứu tác động biến đổi khí hậu được công bố theo thời gian
Tỷ lệ nghiên cứu sử dụng số liệu thống kê để kiểm tra mối quan hệ giữa biến đổi khí hậu và sinh thái đã tăng lên gấp đôi kể từ trước năm 2000 Xu hướng sử dụng số liệu thống kê và báo cáo cho thấy các nhà sinh thái học biến đổi khí hậu dần dần tăng cường sử dụng các phương pháp thống kê đáng tin cậy hơn Về yêu cầu dữ liệu, những suy luận mạnh nhất về tác động của biến đổi khí hậu đòi hỏi dữ liệu quan sát bao gồm các khoảng thời gian dài và quy mô không gian lớn Tuy nhiên, các hạn chế về tài chính trong phạm vi thu thập dữ liệu đã hạn chế độ dài của chuỗi thời gian và phạm vi không gian của chúng Kết quả đưa ra để xuất khi lập kế hoạch và tiến hành các phân tích trong sinh thái biến đổi khí hậu: Xem xét cách phân giải không gian và thời gian của dữ liệu sẽ ảnh hưởng đến sức mạnh của suy luận về các trình điều khiển thay đổi; Xây dựng các giả thuyết thay thế cho các mối quan hệ nhân quả giữa các biến sinh thái
và khí hậu; Xác định biến phản ứng; Xây dựng các quy trình là mô hình thống kê hoặc một loạt mô hình; Tương quan thời gian và không gian nên được xem xét trong phân tích nếu sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian hoặc không gian; số liệu tóm tắt tỷ lệ thay đổi cho tất cả các loài được nghiên cứu nên được báo cáo.[41]
Theo Bruno Locatelli et al., các phương pháp và công cụ để đánh giá tính dễ bị tổn thương của rừng và con người đối với biến đổi khí hậu đã đưa ra tổng quan về các phương pháp và công cụ phù hợp để đánh giá tính dễ bị tổn thương của rừng, các dịch
vụ hệ sinh thái rừng và người hoặc phụ thuộc vào rừng đối với biến đổi khí hậu Các
Trang 18phương pháp và công cụ chung có thể được áp dụng cho hệ thống đa dạng để phân tích tương tác dễ bị tổn thương với thành phần liên quan và xây dựng mô hình thực nghiệm
từ các quan sát Các chỉ số, hệ thống bất định và phân tích độ không chắc chắn có thể được áp dụng cho các mục đích khác nhau Nhiều mô hình hệ sinh thái có thể được sử dụng để nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu đối với rừng Một số mô hình bị hạn chế đối với các quy trình hệ sinh thái cụ thể Các mô hình sinh khí hậu đơn giản có thể đại diện cho sự phân bố của các hệ sinh thái và giúp đánh giá tính dễ bị tổn thương của
hệ sinh thái đối với biến đổi khí hậu Các mô hình hệ sinh thái đơn giản khác đối phó với các động lực cộng đồng và cảnh quan, với sự nhấn mạnh vào sự tương tác giữa các loài hoặc các bản vá của các hệ sinh thái Các mô hình hệ sinh thái đơn giản khác hoạt động trên các chu trình sinh hóa trong các hệ sinh thái Mô hình hệ sinh thái tích hợp, tĩnh hoặc động, xem xét nhiều quá trình hệ sinh thái và thường phức tạp [40]
Những kết quả nghiên cứu về hệ sinh thái rừng
Blasco F (1975) nghiên cứu về khí hậu và vi khí hậu rừng có nhận xét về rừng ngập mặt, đây là loại rừng có vai trò trong việc chống lại tác động của BĐKH, các quần xã rừng ngập mặn giúp giảm nhiệt độ tối đa và biên độ nhiệt cùng với đó lòa giảm thiểu khí nhà kính, cân bằng khí quyển [39]
Snedaker Samuel C (1995) với nghiên cứu “Kịch bản và giả thuyết: Rừng ngập mặn với BĐKH ở Florida và khu vực Caribe” đã đưa ra các kịch bản và 07 giả thuyết khái quát về phản ứng của HST rừng ngập mặn với BĐKH mà trong đó có tác động của mực nước biển dâng [60]
Lasco.R.D and nnk (2008) với các nghiên cứu thuộc chương trình Hodridge Life Zone đã thực hiện đánh giá mức độ tổn thương và thích ứng với BĐKH trong lĩnh vực lâm nghiệp (HST rừng) tại Philipine Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng trước ảnh hưởng của BĐKH, kiểu rừng khô sẽ chịu nhiều tác động tiêu cực nhất, thậm chí sẽ biến mất trong điều kiện lượng mưa tăng lên 50% Dựa trên đánh giá của phần mềm Hodridge Life Zone trên 3 yếu tố sinh thái, các kịch bản về sự biến động về rừng được đưa ra nếu thay đổi các tham số dự báo Tuy nhiên, các kịch bản khí hậu đó nếu xảy ra cũng sẽ có những tác động tích cực nhất định đến các kiểu rừng ngập mặn hay rừng mưa [56]
Trang 19Kliejunas J.T, (2011) trong nghiên cứu về đánh giá rủi ro về BDKH, tác động của loài gây bệnh đối với HST rừng tự nhiên tại miền Tây Hoa Kỳ và Canada cho rằng nhiệt độ trái đất đã tăng lên đáng kể trong thời gian qua làm giảm số lượng cây con, đồng thời tạo môi trường thích hợp cho các loại bệnh trên các loài thực vật phát triển mạnh Ngoài ra, kết quả nghiên cứu còn chỉ ra sự xuất hiện của một số loại bênh mới [54]
Wang.X.Y(2013) trong nghiên cứu “Tác động của BĐKH với HST rừng tự nhiên tại khu vực Đông Bắc Trung Quốc, nhận định rằng, nhiệt độ trái đất tăng lên, sự thay đổi về lượng mưa làm suy giảm số lượng loài thực vật lá kim tại các khu rừng ở Hắc Long Giang, giáp biên giới với Liên Bang Nga Các yếu tố khí hậu thay đổi khiến cho vùng phân bố của các loài thực vật thay đổi, cộng thêm sự xuất hiện của các loài ngoại lai đang đe dọa sinh tồn của các loài thực vật đặc hữu của khu vực này [62]
1.1.5.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, trong khoảng 50 năm qua, nhiệt độ trung bình năm đã tăng khoảng 0,7oC, mực nước biển đã dâng khoảng 20 cm Hiện tượng El-Nino, La-Nina ngày càng tác động mạnh mẽ đến Việt Nam BĐKH thực sự đã làm cho các thiên tai, đặc biệt là bão, lũ, hạn hán ngày càng ác liệt [6]
Hậu quả của BĐKH đối với Việt Nam là nghiêm trọng và là một nguy cơ hiện hữu cho mục tiêu xoá đói giảm nghèo, cho việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ
và sự phát triển bền vững của đất nước Nhận thức rõ ảnh hưởng của BĐKH, Chính phủ Việt Nam đã sớm tham gia và phê chuẩn Công ước Khung của Liên Hiệp Quốc về BĐKH và Nghị định thư Kyoto vào ngày 03/12/1998 [5]
Dựa trên cơ sở các nghiên cứu trong và ngoài nước, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã hoàn thành việc xây dựng Kịch bản BĐKH và nước biển dâng cho Việt Nam năm 2009 để kịp thời phục vụ các Bộ, ngành và các địa phương trong đánh giá tác động của BĐKH đến các lĩnh vực, khu vực kèm theo mức độ chi tiết của các kịch bản chỉ giới hạn trong 7 vùng khí hậu và dải ven biển của Việt Nam
Dựa trên mục tiêu được ưu tiên của Chiến lược quốc gia và BĐKH năm 2011,
Bộ Tài nguyên và Môi trường tiếp tục xây dựng Kịch bản BĐKH và nước biển dâng đến phiên bản năm 2016 nhằm cập nhập những thông tin mới nhất và diễn biến, xu thế
Trang 20biến đổi của khí hậu và nước biển dâng trong thời gian qua và kịch bản BĐKH, nước biển dâng trong thế kỷ 21 tại Việt Nam [8]
Với mục tiêu nâng cao khả năng ứng phó với BĐKH của Việt Nam trong từng giai đoạn cụ thể, đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước, đã có nhiều hoạt động nghiên cứu, ứng dụng được các cơ quan, tổ chức cũng như cá nhân triển khai [8] Trong đó, có một số nghiên cứu tiêu biểu về đánh giá ảnh hưởng của BĐKH tới các HST rừng như sau:
Theo Phan Mạnh Cường và Phạm Minh Thoa, trong báo cáo về tác động của BĐKH tới tài nguyên rừng của Việt Nam, BĐKH gây ra các tác động trực tiếp và gián tiếp đối với hệ sinh thái rừng Đối với tác động trực tiếp, nhiệt độ và lượng bốc hơi tăng làm tăng nguy cơ cháy rừng, gây ra hạn hán, từ đó ảnh hưởng đến tăng trưởng và sản lượng rừng, đặc biệt là rừng trồng; làm tăng tần suất và cường độ của bão, lũ gây
ra phá hoại HST rừng; là thay đổi và dịch chuyển vị trí, phân bố, thay đổi cấu trúc và
tổ thành loài của các HST rừng Giảm diện tích rừng á nhiệt đới, xuất hiện các loại ngoại lai, tạo điều kiện sâu bệnh hại rừng phát triển; gây ra nguy cơ tuyệt chủng của hàng triệu loài thực vật rừng trên thế giới vào năm 2050, làm giảm đa dạng sinh học Tác động gián tiếp trong đó có đe dọa sinh kế của nhiều tỷ người chủ yếu sống dựa vào sản xuất nông nghiệp, khai thác gỗ và lâm sản; sức ép lên rừng ngày càng tăng, gia tăng mất rừng và suy thoái rừng do việc mở rộng đất canh tác nông nghiệp và tăng cường khai thác gỗ và các lâm sản khác Đây là kết quả do Mực nước biển dâng làm tăng tần suất và cường độ bão lụt, mất đất sx nông nghiệp; Hạn hán và các hiện tượng khí hậu cực hạn khác làm giảm năng suất đất và cây trồng thất thu; Tăng sâu bệnh hại cây trồng và vật nuôi [12]
Theo đề tài Nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu đến hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi tại Vườn Quốc gia Cát Bà và đề xuất giải pháp thích ứng của Hoàng Văn Thập, nghiên cứu dựa trên đánh giá hiện trạng hệ sinh thái rừng, dự báo các diễn biến thời tiết tại Cát Bà theo các kịch bản biến đổi khí hậu, nhóm nghiên cứu tập trung phân tích tác động của biến đổi khí hậu đến hệ sinh thái rừng tại khu vực này Theo đó, 3 yếu tố được đề cập đến trong báo cáo của đề tài, tác động trực tiếp đến hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi tại Vườn Quốc gia Cát Bà gồm: nhiệt độ, lượng mưa và bão Báo cáo chỉ ra rằng, sự tăng - giảm của nhiệt độ ảnh hưởng rõ rệt đến sự sinh trưởng, phát
Trang 21triển cũng như chất lượng hệ sinh thái rừng Sự gia tăng của cường độ và tần suất bão khiến nhiều loài động, thực vật trong hệ sinh thái rừng bị ảnh hưởng về nguồn thức ăn
và nơi cư trú; số lượng động, thực vật quý hiếm giảm; gia tăng nguy cơ tuyệt chủng; ranh giới giữa các vùng tiểu khí hậu với nền nhiệt độ thay đổi, ảnh hưởng đến sinh khối rừng Ngoài ra, khi lượng mưa cao sẽ tạo thuận lợi cho sự phát triển của thực vật, gia tăng độ che phủ và ngược lại [23]
1.2 Tổng quan về thảm thực vật rừng
1.2.1 Thảm thực vật chủ yếu ở Việt Nam
Thái Văn Trừng (1978, 1999) đã căn cứ vào quan điểm sinh thái phát sinh quần thể thực vật để phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam Theo đó, trong một môi trường sinh thái cụ thể chỉ có thể xuất hiện một kiểu thảm thực vật nguyên sinh nhất định Trong đó phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam thành 14 kiểu thảm thực vật có trên đất lâm nghiệp như sau [26]:
Các kiểu rừng, rừng kín vùng thấp:
I Kiểu rừng kín thường xanh, mưa ẩm nhiệt đới
II Kiểu rừng kín nửa rụng lá, ẩm nhiệt đới
III Kiểu rừng kín rụng lá, hơi ẩm nhiệt đới
IV Kiểu rừng kín lá cứng, hơi khô nhiệt đới
Các kiểu rừng thưa:
V Kiểu rừng thưa cây lá rộng, hơi khô nhiệt đới
VI Kiểu rừng thưa cây lá kim, hơi khô nhiệt đới
VII Kiểu rừng thưa cây lá kim, hơi khô á nhiệt đới núi thấp
Các kiểu trảng truông:
VIII Kiểu trảng cây to, cây bụi, cỏ cao khô nhiệt đới
IX Kiểu truông bụi gai, hạn nhiệt đới
Các kiểu rừng kín vùng cao:
X Kiểu rừng kín thường xanh, mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp
Trang 22XI Kiểu rừng kín hỗn hợp cây lá rộng lá kim, ẩm á nhiệt đới núi thấp
XII Kiểu rừng kín cây lá kim, ẩm ôn đới ấm núi vừa
Các kiểu quần hệ khô lạnh vùng cao:
XIII Kiểu quần hệ khô vùng cao
XIV Kiểu quần hệ lạnh vùng cao
Trong mỗi kiểu thảm thực vật lại chia thành các kiểu phụ miền (phụ thuộc vào
tổ thành thực vật), kiểu phụ thổ nhưỡng (phụ thuộc vào điều kiện đất), kiểu phụ nhân tác (phụ thuộc vào tác động của con người) và trong mỗi kiểu phụ đó tuỳ theo độ ưu thế của loài cây mà hình thành nên những phức hợp, ưu hợp và quần hợp tự nhiên khác nhau [25]
Năm 1970, Trần Ngũ Phương cũng đề xuất bảng phân loại rừng miền bắc Việt Nam Trong đó bao gồm 3 đai rừng:
A Đai rừng nhiệt đới mưa mùa:
1 Kiểu rừng nhiệt đới lá rộng thường xanh ngập mặn
2 Kiểu rừng nhiệt đới mưa mùa lá rộng thường xanh
3 Kiểu rừng nhiệt đới ẩm lá rộng thường xanh
4 Kiểu rừng nhiệt đới lá rộng thung lũng
5 Kiểu rừng nhiệt đới lá rộng thường xanh núi đá vôi 7
B Đai rừng á nhiệt đới mưa mùa:
1 Kiểu rừng á nhiệt đới lá rộng thường xanh
2 Kiểu rừng á nhiệt đới lá kim trên núi đá vôi
3 Kiểu rừng á nhiệt đới lá kim trên núi đất
C Đai rừng á nhiệt đới mưa mùa núi cao
Đai này có 3 loại hình: Pơ mu (Fokienia hodginsii), Sa mộc (Cunninghamia lanceolata), Đỗ quyên (Rhododendron simsii) [21]
Theo thang phân loại của UNESCO (1973), thảm thực vật nước ta có 4 lớp quần hệ, trong đó có 2 lớp quần hệ có liên quan đến rừng là: rừng rậm và rừng thưa
Trang 23Mỗi lớp quần hệ lại chia thành các phân lớp, mỗi phân lớp lại chia thành các nhóm quần hệ và sau đó mới đến các quần hệ Mỗi quần hệ lại được chia thành các phân quần hệ và dưới đó là quần hợp [17] Căn cứ vào nguyên tắc phân loại như trên, thảm thực vật rừng Việt Nam được phân loại như sau:
I Lớp quần hệ 1: Rừng rậm
Lớp quần hệ này gồm 3 phân lớp quần hệ chính là: rừng thường xanh, rừng rụng lá và rừng khô
1 Phân lớp quần hệ rừng thường xanh nhiệt đới:
a) Nhóm quần hệ rừng mưa thường xanh
b) Nhóm quần hệ rừng mưa mùa thường xanh gồm 12 quần hệ là: Rừng đất thấp; Rừng núi thấp; Rừng núi vừa; Rừng núi cao; Rừng núi đá vôi thấp; Rừng núi đá vôi trung bình; Rừng bãi cát ven biển; Rừng trên đất phù sa; Rừng ngập nước; Rừng sú vẹt; Rừng thông trên núi thấp; Rừng tre nứa trên núi thấp
c) Nhóm quần hệ rừng nửa rụng lá nhiệt đới gồm 4 quần hệ: Rừng nửa rụng lá nhiệt đới trên đất thấp; Rừng nửa rụng lá nhiệt đới trên núi thấp; Rừng nửa rụng lá nhiệt đới trên núi đá vôi; Rừng nửa rụng lá nhiệt đới trên núi cao trung bình
2 Phân lớp quần hệ rừng rụng lá nhiệt đới
3 Phân lớp quần hệ rừng khô nhiệt đới
a) Nhóm quần hệ rừng lá cứng khô
b) Nhóm quần hệ rừng gai gồm 2 quần hệ: Rừng gai nửa rụng lá và rừng gai rụng lá
II Lớp quần hệ 2: Rừng thưa
Lớp quần hệ này có 3 phân lớp quần hệ:
1 Phân lớp quần hệ rừng thưa thường xanh:
a) Nhóm quần hệ rừng thưa lá rộng:
- Rừng trên đất thấp
- Rừng trên núi thấp
Trang 24b) Nhóm quần hệ rừng lá kim
2 Phân lớp quần hệ lá rộng rụng lá vùng núi và vùng đất thấp
3 Phân lớp quần hệ rừng thưa khô:
a) Nhóm quần hệ rừng thưa lá cứng khô
b) Nhóm quần hệ rừng thưa có gai:
- Rừng gai nửa rụng lá
- Rừng gai thường xanh
Những đơn vị phân loại này chưa phải là đơn vị phân loại cơ bản Trong mỗi kiểu thảm thực vật lại có nhiều kiểu phụ với nhiều phức hợp, ưu hợp, quần hợp khác nhau Do vậy sẽ có nhiều hệ sinh thái cụ thể khác nhau [17]
1.2.2 Đặc điểm phân bố một số HST rừng điển hình ở Việt Nam
Theo Cẩm nang ngành Lâm Nghiệp trong Chương: Hệ sinh thái rừng Việt Nam, các HST rừng ở Việt Nam [3] được mô tả sơ bộ như sau:
1.2.2.1 Hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới:
Những hệ sinh thái rừng thuộc kiểu thảm thực vật này rất phong phú và đa dạng, phân bố ở các tỉnh: Quảng Ninh, Cao Bằng, Lạng Sơn, Phú Thọ, Yên Bái, Tuyên Quang, Lào Cai, Ninh Bình (Cúc Phương), Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Tây Nguyên v.v
Phân bố theo độ cao so với mực nước biển: Ở miền Bắc là dưới 700 m; Ở miền Nam là dưới 1.000 m
- Điều kiện sinh thái
Khí hậu: Nhiệt độ không khí trung bình hàng năm từ 20 - 25 oC, nhiệt độ không khí trung bình tháng lạnh nhất từ 15 - 20oC Lượng mưa trung bình hàng năm từ 2.000
mm - 2.500 mm, nhiều vùng có lượng mưa rất cao từ 3.000 mm - 4.000 mm Chỉ số khô hạn chung: 3 - 0 - 0 Hàng năm không có tháng hạn, tháng kiệt, chỉ có 3 tháng khô Độ ẩm không khí tương đối trung bình trên 85% Lượng bốc hơi thường thấp
Trang 25Thổ nhưỡng: Đá mẹ: đá nai (gneiss), phiến thạch mica (micaschiste), phiến sa thạch (gres schisteux), vi hoa cương (microgranit), lưu vân (rioolit), hoa cương (granit), huyền vũ (bazan) v.v.; Đất địa đới của vành đai nhiệt đới ẩm vùng thấp; Đất
đỏ vàng Feralit hoàn toàn thành thục, sâu, dày, không có tầng đá ong; Đất đỏ hung (terra rossa) nhiệt đới phong hoá trên đá vôi và trên đất bồi tụ trong thung lũng dưới chân các núi đá vôi Theo Friedland, đây là loại đất đen macgalit
1.2.2.2 Hệ sinh thái rừng kín nửa rụng lá ẩm nhiệt đới
Hệ sinh thái rừng này phân bố ở Quảng Ninh, Bắc Giang, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Phú Thọ, Yên Bái, Sơn La, Lai Châu, Thanh Hoá, Nghệ An, Tây Nguyên, miền đông Nam Bộ v.v…
Phân bố theo độ cao so với mực nước biển: Ở miền Bắc: dưới 700 m; Ở miền Nam: dưới 1.000 m
Khí hậu: Nhiệt độ không khí trung bình hàng năm 20o - 25oC; Nhiệt độ không khí trung bình tháng lạnh nhất 15o - 20oC; Lượng mưa trung bình hàng năm 1.200 - 2.500 m; Chỉ số khô hạn (1-3) - (0-1) - (0); Mùa hạn kéo dài từ 1 - 3 tháng với lượng mưa dưới 50 mm và một tháng có lượng mưa dưới 25 mm; Độ ẩm trung bình thấp nhất trên 85%
Thổ nhưỡng: Đá mẹ: phiến thạch, sa thạch, sa diệp thạch, badan, phù sa cổ, kể
cả đất đá vôi hung đỏ, đất nâu đen v.v.; Đất đỏ vàng Feralit, tầng đất dày
1.2.2.3 Hệ sinh thái rừng lá rộng thường xanh trên núi đá vôi
Diện tích rừng núi đá (chủ yếu là núi đá vôi) ở Việt Nam có 1.152.200 ha, trong
đó diện tích rừng che phủ 396.200 ha (34,45%) theo Viện Điều tra Quy hoạch rừng,
Trang 26với lượng mưa trung bình năm từ 1200 -2500mm, độ ẩm không khí trung bình 85% Hiện nay chưa có số liệu khí hậu ở vành đai núi cao
Thổ nhưỡng: ở đai thấp, đá mẹ là đá vôi mà thành phần cơ giới nặng là đất đỏ hung nhiệt đới Địa chất đai cao của khu vực núi đá vôi cũng giống như ở đai thấp đó
là đá đỏ hung nhiệt đới nhưng phong hóa trên đá vôi và đôlômít Ở những nơi có hiện tượng xói mòn xảy ra, thành phần thổ nhưỡng là đất đen xương xẩu trên núi đá vôi
1.2.2.4 Hệ sinh thái rừng lá kim tự nhiên
Hệ sinh thái rừng lá kim tự nhiên có hai loại:
- Hệ sinh thái rừng lá kim á nhiệt đới núi thấp phân bố chủ yếu ở vùng núi như Yên Châu, Mộc Châu (Sơn La), Nghệ An, Hà Giang, Đà Lạt (Lâm Đồng) v.v
- Hệ sinh thái rừng lá kim ôn đới núi cao trung bình phân bố chủ yếu ở Sa Pa (Lào Cai), Tuần Giáo (Lai Châu) Hà Giang, Tây Côn Lĩnh (Cao Bằng), Chư Yang Sinh (Nam Trung Bộ), Lâm Đồng v.v
Phân bố theo độ cao so với mực nước biển:
- Phân bố rừng lá kim á nhiệt đới:
Ở miền Nam, phân bố thông nhựa (Pinus merkusii) ở độ cao từ 600 - 1.000 m Phân bố thông ba lá (Pinus kesiya) ở độ cao trên 1.000 m, ở một số địa phương có thể
xuống thấp hơn Ở miền Bắc, thông nhựa phân bố xuống vùng thấp gần biển như Nghệ
An, Quảng Ninh Thông ba lá xuất hiện ở Hoàng Su Phì (Hà Giang) ở độ cao khoảng trên 1.000 m
- Phân bố rừng lá kim ôn đới: ở miền Bắc trên 1.600 m và ở miền Nam trên 1.800 m so với mực nước biển
Khí hậu:
Vành đai khí hậu á nhiệt đới núi thấp: ở miền Bắc từ 700 - 1.600 m và ở miền Nam từ 1.000 - 1.800 m so với mực nước biển Nhiệt độ không khí trung bình hàng năm 15o - 20oC Nhiệt độ không khí trung bình tháng lạnh nhất dưới 15oC ở miền Bắc
và dưới 20oC ở miền Nam Nhiệt độ không khí trung bình tháng trong năm giao động
Trang 27từ 5o - 20oC Lượng mưa trung bình hàng năm: 600 - 1.200 mm Chỉ số khô hạn : (4 - 6) (1 - 2) (1) Mùa khô từ 4 - 6 tháng, mùa hạn từ 1 - 2 tháng và có 1 tháng kiệt
Vành đai khí hậu ôn đới núi cao trung bình: ở miền bắc từ 1.600 - 2.400 m và ở miền nam từ 1.800 - 2.600 m so với mực nước biển
Thổ nhưỡng: Đá mẹ bao gồm sa thạch diệp thạch, cuội kết, badan v.v Đất của
hệ sinh thái lá kim vùng núi, cho đến nay, chưa được nghiên cứu nhiều
1.2.2.5 Hệ sinh thái rừng thưa cây họ dầu (rừng khộp, dry dipterocarp forest)
Rừng khộp phân bố tập trung ở tỉnh Đắc Lắc, Gia Lai Ngoài ra còn có ở Di Linh (Lâm Đồng) và những đám rừng khộp nhỏ phân bố ở Ninh Thuận, Bình Thuận, Tây Ninh v.v
Về độ cao so với mực nước biển: rừng khộp phân bố tập trung ở độ cao từ 400 -
800 m
Khí hậu nhiệt đới gió mùa không có mùa đông lạnh nhưng có một mùa khô điển hình Tổng tích nhiệt hàng năm từ 7.500 - 9.000oC Nhiệt độ không khí trung bình hàng năm từ 21o - 27oC Nhiệt độ không khí tối cao dưới 40oC Nhiệt độ không khí tối thấp không dưới 10oC Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.200 - 1.800 mm Chế độ mưa ẩm rất khắc nghiệt Khí hậu có hai mùa rõ rệt Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa chiếm đến 90% tổng lượng mưa cả năm Mùa khô khắc nghiệt kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Hàng năm có 4 - 6 tháng khô, 1 - 2 tháng hạn, 1 tháng kiệt
Điều kiện thuỷ văn cũng gây ảnh hưởng đến chế độ nước của rừng khộp Trong mùa khô, nước mặt và nước ngầm ở rừng khộp rất cạn kiệt Hệ thống sông suối ở cao nguyên không nhiều như đồng bằng Nước là vấn đề quan trọng đối với Tây Nguyên, nhất là trong mùa khô Mùa mưa lại mưa tập trung gây úng ngập hình thành nên những nhóm kiểu lập địa rừng khộp khác nhau
Độ ẩm không khí trung bình năm 80 - 85%, trong mùa khô độ ẩm không khí chỉ
có 72 - 73%
Đất rừng khộp thuộc loại xấu, chủ yếu là các loại đất xám đỏ phát triển trên đá bazan, granit có tầng đất mỏng, kết vón mạnh, có nơi đang xuất hiện đá ong Do xói
Trang 28mòn tầng đất mặt, nhiều nơi có đá lộ trên mặt đất Cháy rừng hàng năm tiêu huỷ lớp phủ thực bì Do vậy, tầng đất mặt mỏng và khô cứng, thậm chí có nơi không có tầng
A, có nơi không có tầng B, tầng C lộ gần mặt đất Cấu tượng đất bị phá vỡ Mùa mưa đất kết dính gây úng nước, mùa khô lượng bốc hơi mặt đất nhanh, không có khả năng giữ độ ẩm, dễ gây hạn hán
1.2.2.6 Hệ sinh thái rừng ngập mặn
Hệ sinh thái rừng ngập mặn phân bố dọc bờ biển Việt Nam thuộc 28 tỉnh và thành phố Phan Nguyên Hồng (1999) đã chia vùng phân bố rừng ngập mặn Việt Nam thành 4 khu vực với 12 tiểu khu và xác định điều kiện sinh thái cho từng tiểu khu :
Khu vực I: ven biển Đông Bắc
Khu vực II: ven biển đồng bằng Bắc Bộ
Khu vực III: ven biển Trung Bộ từ mũi Lạch Trường đến mũi Vũng Tầu
Khu vực IV: ven biển Nam Bộ
Điều kiện sinh thái
a) Khu vực I: Ven biển Đông Bắc
Đây là vùng có đặc điểm khí hậu, thuỷ văn, địa hình phức tạp
Khí hậu: là vùng khí hậu nhiệt đới có mùa đông lạnh Nhiệt độ không khí trung bình các tháng trong năm biến động lớn (15 - 30oC) Nhiệt độ trung bình thấp nhất vào tháng16oC, nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối xuống đến 1oC Lượng mưa trung bình hàng năm : 1.800 - 2.500 mm Mùa mưa từ tháng 4-5 đến tháng 10-11
Thuỷ văn: Thuỷ triều mang tính chất nhật triều đều Mực nước thuỷ triều đạt đến 4 - 4,5 m Độ mặn trung bình năm của nước biển tương đối cao (26 - 27,5%) và ít biến động Độ mặn giảm trong tháng 8 nhưng vẫn đạt đến 20,8 - 21,5%
Thổ nhưỡng: Đất trầm tích bãi biển nghèo, lớp bồi tụ mỏng, chủ yếu là cát nhỏ
và cát bột, tỉ lệ Fe2O3 /FeO = 1, cao hơn nhiều so với rừng ngập mặn Nam Bộ, pH = 4
- 6 đất nghèo phốt pho, nhiều H2S, bãi triều bị xâm thực v.v…nên phân bố rừng ngập mặn bị thu hẹp
b) Khu vực II: Ven biển đồng bằng Bắc Bộ
Trang 29Khí hậu: Tuy là vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh nhưng nền nhiệt độ ở đây cao hơn khu vực I ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc yếu hơn khu vực
I Hàng năm có khoảng 2 tháng nhiệt độ không khí trung bình dưới 20oC Nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất trong năm thường trên 10oC Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.300 - 1.900 mm
Thuỷ văn: Đây là vùng bồi tụ của hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình thuộc vùng bờ biển đồng bằng Bắc Bộ Vùng ven biển này có cả quá trình bồi tụ và xói lở (Đồng Châu, Thái Bình)
Thổ nhưỡng: Trầm tích chủ yếu là bùn sét có hàm lượng phốt pho rất cao c) Khu vực III : Ven biển Trung Bộ
Vùng ven biển Trung Bộ tiếp giáp liền với dãy núi Trường Sơn Trừ hai con sông lớn là sông Mã và sông Lam, còn các con sông khác đều ngắn Lượng phù sa ít không đủ để hình thành nên những bãi lầy ven biển, thậm chí có nơi núi tiếp cận ngay với bờ biển Dốc Trường Sơn phía đông có độ dốc cao và ngắn nên dòng nước chảy mạnh lôi cuốn phù sa, dù là ít, theo sóng trôi ra biển cả Bờ biển không được bồi tụ mở rộng, thậm chí có nơi đất liền còn bị biển lấn như Bình Thuận Trầm tích bãi triều có hàm lượng phốt pho cao nhưng hàm lượng N lại thấp Khu vực này cũng chịu ảnh hưởng của bão, gây ra mưa rất lớn, lũ lụt và nước biển dâng cao
d) Khu vực IV: Ven biển Nam Bộ
Khí hậu: đặc trưng là nhiệt đới ẩm không có mùa đông Chế độ nhiệt đã bắt đầu chịu ảnh hưởng của cận xích đạo Tổng tích nhiệt hàng năm cao Lượng mưa hàng năm trong khu vực phân bố không đều qua các địa phương Tuy nhiên, lượng mưa phân bố tương đối đều qua các tháng trong năm
Thủy văn: vùng ven biển Nam Bộ tiếp cận ngay với hệ thống sông lớn là sông Cửu Long và sông Đồng Nai với nhiều phụ lưu tạo ra nhiều cửa sông bồi đắp một lượng phù sa rất lớn và một lượng lớn nước ngọt từ đất liền ra biển cả
Thổ nhưỡng: Sản phẩm bồi tụ phong hoá nhiệt đới, cát, sét hình thành nên đất rừng ngập mặn phèn tiềm tàng, giầu chất hữu cơ
Trang 301.2.2.7 Hệ sinh thái rừng tràm
Hệ sinh thái này phân bố tập trung ở 7 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, hình
thành nên ba vùng sau đây:
- Vùng Đồng Tháp Mười thuộc ba tỉnh Long An, Tiền Giang và Đồng Tháp
- Vùng Tứ Giác Long Xuyên thuộc hai tỉnh An Giang và Kiên Giang
- Vùng U Minh Thượng và U Minh Hạ thuộc tỉnh Cà Mau và Hậu Giang
Điều kiện sinh thái
Độ cao so với mực nước biển: dưới 2 m Ở nơi đất trũng, độ cao phân bố so với mực nước biển 0,46 m
Khí hậu: là vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa không có mùa đông, cận xích đạo Tổng tích nhiệt cả năm từ 9.000 - 10.000oC Nhiệt độ không khí trung bình năm: 27oC Nhiệt độ tối cao tuyệt đối 38oC (tháng 4 năm 1991) Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối 15oC Lượng mưa trung bình năm: 1.500 - 2.400 mm Số ngày mưa trong năm từ 110 – 165 ngày Lượng mưa phân bố theo mùa Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, lượng mưa trong mùa này chiếm đến 90% lượng mưa cả năm Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, trong đó ba tháng 1, 2 và 3 là những tháng hạn Lượng bốc hơi cả năm từ 1.000 - 1.200 mm, đặc biệt trong mùa khô lượng bốc hơi gần gấp ba lần lượng mưa Tháng 3 và tháng 4 có độ ẩm không khí thấp nhất từ 75 - 77% Mùa này tiềm ẩn nhiều khả năng cháy rừng
Về thuỷ văn: Chế độ thuỷ văn ở đây bị chi phối bởi chế độ mưa, chế độ nước nguồn và nước lũ của hệ thống sông Cửu Long và chế độ thuỷ triều mang nước mặn từ biển vào lục địa Chế độ ngập nước của rừng tràm như sau:
Ngập nước nông dưới 50 cm Thời gian ngập nước hàng năm từ 5 - 6 tháng (tháng 6 đến tháng 12) Vùng này có thể không chịu ảnh hưởng hệ thống sông Cửu Long hoặc nếu bị ảnh hưởng thì thời gian không quá ba tháng
Ngập nước trung bình từ 50 - 150 cm Thời gian ngập nước hàng năm từ 8 - 9 tháng (từ tháng 5 đến tháng 1 năm sau) Vùng này chịu ảnh hưởng của hệ thống sông Cửu Long từ 3 – 4 tháng
Trang 31Ngập nước sâu trên 150 cm Thời gian ngập nước hàng năm kéo dài hơn 9 tháng Vùng này chịu ảnh hưởng mạnh của hệ thống sông Cửu Long
Độ mặn của nước biến động từ 5 - 20 %
Thổ nhưỡng: hình thành trên đất phèn Trong nhóm đất này có tầng sinh phèn xuất phát từ trầm tích đầm lầy biển (phèn nặng), trầm tích đầm lầy đồng bằng và trầm tích đầm lầy sông (phèn trung bình và phèn nhẹ) Đất hệ sinh thái rừng phèn có hai nhóm chính :
- Nhóm đất phèn
- Nhóm đất than bùn
1.2.2.8 Hệ sinh thái rừng tre nứa
Phân bố: Tre nứa phân bố rộng từ vùng nhiệt đới, á nhiệt đới đến ôn đới, từ 51o
vĩ độ bắc đến 47o vĩ độ nam
Điều kiện sinh thái: Hầu hết các loài tre nứa đều yêu cầu nhiệt độ ấm và ẩm nên chúng thường phân bố ở vùng thấp và đai cao trung bình và tập trung chủ yếu ở 2 bên xích đạo Trên thế giới có khoảng 1.300 loài thuộc hơn 70 chi, phân bố ở 3 vùng chính: Châu á Thái Bình Dương, Châu Mỹ và Châu Phi, trong đó vùng Châu Á Thái Bình Dương là trung tâm phân bố tre nứa chiếm khoảng 80% tổng số loài và diện tích toàn thế giới [3]
Trang 32CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và khu vực nghiên cứu
- Một số trạng thái thảm thực vật và loài thực vật rừng tại VQG Ba Vì
Khu vực nghiên cứu tại VQG Ba Vì, huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội
(Nguồn: Trần Minh Tuấn, 2014)
Hình 1 Bản đồ hành chính VQG Ba Vì
Trang 332.1.1 Vị trí địa lý
VQG Ba Vì với tổng diện tích là 7.082,00 ha, nằm trong phạm vi các xã: Ba Vì, Vân Hòa, Khánh Thượng, Minh Quang, Yên Bài, Ba Trại, Tản Lĩnh huyện Ba Vì và một phần nhỏ các xã Yên Trung, Yên Bình, Tiến Xuân, Đông Xuân huyện Thạch Thất
Tọa độ địa lý Vườn Quốc gia Ba Vì: Từ 200 55′ đến 210 07′ vĩ độ bắc Từ
105016′ đến 105025′ kinh độ đông
VQG Ba Vì bao gồm 3 phân khu: phân khu bảo vệ nghiêm ngặt trên cốt 400 và phân khu phục hồi sinh thái dưới cốt 400, phân khu dịch vụ hành chính Vùng đệm: Vùng đệm VQG Ba Vì thuộc địa phận 16 xã miền núi thuộc huyện Ba Vì, Thạch Thất, Quốc Oai của TP Hà Nội và Lương Sơn, Kỳ Sơn của tỉnh Hòa Bình
2.1.2 Đặc điểm điều kiện tự nhiên
VQG Ba Vì nằm ở phía tây của thành phố Hà Nội ở độ cao 100 - 1.295m Các sườn gần đỉnh tương đối dốc và thẳng Độ dốc các sườn gần đỉnh thường đạt 15-20oxuống các chân sườn thì các vạt gấu đá phát triển Tuy nhiên do sườn dốc không dài, không có lưu vực thu nước lớn nên các vạt này không lớn Trên vành đai trên 600m là vành đai cảnh quan á nhiệt đới với đất mùn Feralit, tuy chưa thật điển hình
Đất thường có màu nâu, chứa nhiều mùn, phân hóa thành các tầng rõ rệt Tầng
Ao thường nhẹ, thô, chứa mùn thô lẫn nhiều đá lẫn Hàm lượng mùn thường đạt trên 2%, đất có phản ứng chua, ẩm Ở đây tuy mặt đất ẩm, dễ có rêu phủ trên đá và mặt đất nhưng không có dòng chảy thường xuyên [1]
Khí hậu về cơ bản là khí hậu nhiệt đới ẩm Nhiệt độ trung bình năm ở vành đai này khoảng 20oC, tổng nhiệt độ năm <7500oC, lượng mưa năm 2000-2500 mm, thuộc loại mưa nhiều Mùa lạnh kéo dài 5-6 tháng, mùa khô 3 tháng; 0-1 tháng hạn Tuy nhiên mức độ khô hạn không gay gắt do về mùa vẫn có mưa phùn và độ ẩm không khí cao, lượng bốc hơi nước nhỏ Các cây có bộ rễ sâu vẫn đủ nước Tại vành đai này chỉ
có dòng chảy tạm thời và chấm dứt nhanh sau cơn mưa [2]
Nhiệt độ số ngày có nhiệt độ dưới 20oC chỉ còn 120 - 150 ngày Nhiệt độ tháng
1 xuống dưới 15oC, về tháng 7, 8 nhiệt độ không thấp hơn nhiều so với vùng thấp
Trang 34Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, chiếm tới 75 – 80% lượng mưa năm Lượng bốc hơi ở biên giới trên chỉ chiếm khoảng ½ lượng mưa Dòng chảy mặt ở trên 300m chủ yếu vẫn là dòng chảy tạm thời [1]
2.1.3 Điều kiện kinh tế xã hội
Dân cư trong VQG Ba Vì chủ yếu tập trung ở vùng đề xuất mở rộng gồm 3 dân tộc: Kinh, Mường, Dao trong đó dân tộc Kinh chiếm đa số Sự phân bố dân cư và dân tộc không đồng đều trong vùng, người Kinh, người Mường ở hầu hết các xã, trong khi
đó người Dao tập trung chủ yếu ở xã Ba Vì Dân tộc Dao ở vùng này chiếm khoảng tỷ
lệ (4%) dân số, nhưng có tác động rất lớn đến tài nguyên VQG Ba Vì do tập quán du canh du cư của họ
Kinh tế trong vùng chủ yếu vẫn là nông nghiệp, thu nhập bình quân đầu người thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao, diện tích đất canh tác thấp Công trình thủy lợi được triển khai theo hệ thống tự chảy, nhiều nơi gieo cấy không đúng với thời vụ vì phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên như các xã: Ba Vì, Minh Quang, Khánh Thượng v.v Sản xuất tiểu thủ công nghiệp, chế biến chưa tập trung, quy mô sản xuất, chế biến trong các làng nghề còn manh mún, chưa có giải pháp xử lý chất thải chế biến gây ô nhiễm môi trường
Thương mại, dịch vụ, du lịch đang trên đà phát triển Tuy nhiên, các hoạt động dịch vụ thương mại còn đơn điệu, nhỏ lẻ Về dịch vụ du lịch ở Ba Vì có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển do Vườn quốc gia Ba Vì là nơi có khí hậu trong lành, mát
mẻ, có nhiều cảnh quan thiên nhiên ngoạn mục với nhiều con suối bắt nguồn từ núi rừng Ba Vì quanh năm nước chảy như Thiên sơn – Suối ngà, Ao Vua, Khoang Xanh,
Hồ Tiên Sa Là nơi có nhiều di tích lịch sử, văn hóa như: đền Thượng, đền Trung, đền
Hạ đền thờ Bác Hồ, tháp Báo Thiên, động Ngọc Hoa Chính những điều kiện trên đã tạo nên cho Vườn quốc gia Ba Vì từ lâu đã thành một nơi nghỉ mát vùng núi cao lý tưởng của cả nước
VQG Ba Vì có một hệ thống đường giao thông thủy bộ rất thuận lợi nối liền các tỉnh Tây Bắc [1]
Trang 352.2 Nội dung nghiên cứu
- Phân tích tổng quan về các kiểu thảm thực vật rừng tại VQG Ba Vì
- Phân tích các biểu hiện của BĐKH tại VQG Ba Vì
- Đánh giá tác động của BĐKH đến thảm thực vật rừng tại VQG Ba Vì thông qua đánh giá tác động đến một số loài đặc trưng được lựa chọn dựa theo phương pháp đánh giá tác động của BĐKH lên HST thông qua loài
- Bước đầu đề xuất các phương án giảm thiểu tác động của BĐKH đến thảm thực vật rừng tại VQG Ba Vì nhằm bảo tồn và phát triển bền vững các hệ sinh thái rừng tự nhiên tại đây
2.3 Thời gian nghiên cứu
Quá trình làm đề tài được tiến hành từ tháng 9/2017 đến tháng 12/2018
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp kế thừa, phân tích và tổng hợp
Tham khảo những tài liệu và hỏi ý kiến chuyên gia về phân loại, phân tích đặc điểm của các thảm thực vật rừng
Thu thập, kế thừa những tài liệu, tư liệu, số liệu về các nghiên cứu đa dạng sinh học, danh lục các loài thực vật, các hình ảnh mẫu tiêu bản tham khảo của hệ thực vật VQG Ba Vì Chủ yếu danh lục thực vật được kế thừa từ nghiên cứu của Lê Trần Chấn (2003, 2004) [10,11] và Trần Minh Tuấn (2014) [28], đây là hai nghiên cứu mới nhất
và được đánh giá là tương đối đầy đủ về số lượng và thành phần loài và có độ tin cậy cao
Thu thập các số liệu thứ cấp bao gồm: những tài liệu đã công bố, các tài liệu, dữ liệu cơ bản về diễn biến của BĐKH, các chính sách và chương trình của nhà nước liên quan đến BĐKH như Chương trình mục tiêu quốc gia về ứng phó với BĐKH, Chiến lược quốc gia về phòng tránh thiên tai, các hiện tượng thời tiết cực đoan được dự báo đến năm 2020 và Kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH, đặc biệt là sử dụng kịch bản BĐKH ở Việt Nam năm 2016 để chiết xuất dữ liệu Ngoài ra, còn tham khảo những bài báo và báo cáo Hội nghị khoa học liên quan đến vấn đề BĐKH
Trang 36Cùng với đó là dữ liệu về điều kiện tự nhiên, số liệu thủy văn của khu vực nghiên cứu được thu thập thông qua các báo cáo hàng năm của chính quyền các cấp và các trạm quan trắc tại địa phương Một số dựa vào các nghiên cứu trước đó về điều kiện tự nhiên của địa phương
Bước này đem lại hiệu quả cao trong quá trình nghiên cứu phân tích xu hướng BĐKH tại khu vực nghiên cứu Tất cả các số liệu liên quan đến nội dung này của đề tài sau khi được thu thập, thống kê và tổng hợp sẽ chỉ rõ ra diễn biến quá trình BĐKH tại khu vực nghiên cứu Cụ thể phương pháp này được sử dụng để tiến hành thu thập, phân tích và tổng hợp các tài liệu, số liệu, thông tin về BĐKH; các báo cáo, chuyền đề
về BĐKH và các biểu hiện cùng biện pháp ứng phó nói chung cũng như báo cáo, số liệu quan trắc về điều kiện tự nhiên của huyện Ba Vì và chủ yếu là VQG Ba Vì
2.4.2 Phương pháp đánh giá tác động của BĐKH đến thảm thực vật rừng
Đánh giá tác động có thể gây ra đối với thảm thực vật và biến động về cấu trúc thực vật trong đó có thành phần loài đặc trưng của thảm thực vật được thực hiện dựa theo “phương pháp đánh giá độ nhạy cảm dưới tác động của BĐKH đến loài” [57] và
“phương pháp đánh giá tính tổn thương của loài đối với BĐKH theo hướng sinh thái học” [47] đã được ghi nhận trong phần tổng quan tài liệu Nguyên tắc thực hiện các phương pháp nêu trên dựa theo đối tượng nghiên cứu là thảm thực vật rừng được thực hiện dựa trên khu hệ thực vật của tất cả các thảm thực vật và một số loài thuộc thảm thực vật
Trước hết, đưa ra những đánh giá tổng quan về tác động của BĐKH đến thảm thực vật của VQG Ba Vì Đánh giá chủ yếu dựa vào những nguyên lý về mối quan hệ của BĐKH với đa dạng sinh học và các nguyên lý về tác động “tiềm tàng” của BĐKH đến đa dạng sinh học, cùng với đó là đặc điểm của thảm thực vật tại VQG Ba Vì đã được phân tích, đánh giá trong phương pháp đã đề cập Ngoài ra, việc đánh giá trên cũng sử dụng kết quả về xu hướng biến đổi về điều kiện khí hậu tại khu vực nghiên cứu để đưa ra kết luận phù hợp Ngoài ra, để củng cố thêm kết quả đánh giá, các loài thuộc thảm thực vật tại VQG Ba Vì được đánh giá thêm dựa trên yếu tố địa lý thực vật
và phân tích khu hệ để thấy sự biến đổi hoặc dự báo biến đổi trong tương lai dưới sự tác động của BĐKH
Trang 37Bước tiếp theo là đánh giá đến một số loài thực vật được lựa chọn phù hợp để đánh giá tác động của BĐKH Trong đó tiêu chí chủ yếu để lựa chọn các loài để đánh giá thứ nhất là loài thực vật thuộc các loài mọc tự nhiên, nhóm cây trồng là thành phần không được lựa chọn, tiêu chí thứ hai là những cây được lựa chọn nằm trong danh sách các loài cây đặc hữu hoặc có giá trị cần bảo tồn, thứ ba là những loài này phải còn tồn tại ít nhất một quần thể tại khu vực nghiên cứu Các tiêu chí về chọn cây sẽ được giải thích dựa trên các nghiên cứu đã thu thập về hệ sinh thái rừng tại địa phương cùng với những kế hoạch, báo cáo, dự án bảo vệ, bảo tồn loài và các danh sách các loài thực vật đặc biệt như các loài trong sách Đỏ Việt Nam
Từ phương pháp nghiên cứu đã nêu, các số liệu nghiên cứu về đặc điểm của loài được thu thập thông qua các tài liệu nghiên cứu đã có như là các báo cáo về thực vật, đặc điểm được nêu trong sách Đỏ hoặc nghiên cứu về loài, cùng với quan sát thực
tế ngoài tự nhiên để phân tích các đặc điểm sinh thái học và đưa ra kết luận về ảnh hưởng của BĐKH đến loài đối chiếu với các tác động gây ra bởi BĐKH được liệt kê trong bảng 1 sau đây sau khi lược bỏ một số yếu tố tác động mà không có tác động đến loài thực vật thuộc đối tượng nghiên cứu:
Trang 38Bảng 1 Một số khía cạnh được dự đoán về BĐKH và những tác động mà chúng
(3) Tương tác với vật gây bệnh hoặc loài ngoại lai mới
(4) Thay đổi vùng phân bố (5) Mất nơi sống
(6) Tăng áp lực sinh lý gây tử vong trực tiếp hoặc dễ bị mắc bệnh
(7) Thay đổi về sức sinh sản dẫn đến thay đổi cấu trúc quần thể
(8) Thay đổi tỷ lệ giới tính (9) Thay đổi khả năng cạnh tranh
(Figure.1, Species susceptibility to climate change impacts, IUCN 2008)
Các giá trị hiển thị được lựa chọn chung là 0: không có tác động; -: có tác động tiêu cực; +: có tác động tích cực dựa trên các thông tin về sinh thái của một số loài đã lựa chọn
Dựa vào dữ liệu đánh giá trên sẽ đưa ra những xu hướng biến đổi của danh mục loài nghiên cứu và đánh giá sự thay đổi của loài trước BĐKH Trong đó, sau khi tổng hợp các bảng phân tích dựa trên mỗi loài, tổng hợp mức độ đã được đánh giá trên cùng một tác động, sự gấp bội các cấp độ biểu thị thể hiện sự có nhiều tác động thông qua tổng hợp nhiều tác động trên một yếu tố tác động Phương pháp biểu thị bằng ký hiệu này dựa trên phương pháp thang đo đánh giá đồ họa [44] Từ đó, kết quả đưa ra đánh giá tổng quan về tác động của BĐKH đến thảm thực vật đến cấp độ loài
Trang 392.4.3 Phương pháp điều tra thực địa tại khu vực nghiên cứu
Khảo sát thảm thực vật tại VQG Ba Vì tại khu vực có hai thảm thực vật tự nhiên Ghi nhận các quần thể thực vật thuộc các loài được lựa chọn từ phương pháp trước đó
Khảo sát này sẽ giúp đánh giá hiện trạng thực tế của thảm thực vật Chủ yếu là đánh giá trực quan một cách tổng quan về hiện trạng của sự đa dạng loài thực vật tại khu vực nghiên cứu cùng với sự ưu thế hoặc vị trí, kích thước quần thể của các loài Ghi nhận lại đặc điểm sinh thái và đặc điểm địa hình của vùng thảm thực vật để củng
cố thêm kết luận về ảnh hưởng của BĐKH đến thảm thực vật và các loài thực vật trong thảm
Ngoài ra, phương pháp còn thực hiện phỏng vấn kiểm lâm và các điều tra viên tại VQG Ba Vì để thu thập thông tin về thảm thực vật và các loài cùng với đó là tình hình quản lý, bảo vệ và bảo tồn loài để đối chiếu số liệu và phân tích với hiện trạng thực tế tại khu vực nghiên cứu [15]
2.4.4 Phương pháp đánh giá tiếp cận dựa vào hệ sinh thái để đề xuất giải pháp
thích ứng với biến đổi khí hậu
Cách tiếp cận HST/dựa trên HST (Ecosystem/Ecosystem Based Approach – EBA) là chiến lược do Công ước Đa dạng sinh học (CBD) đề xuất, đầu tiên là để quản
lý tài nguyên đất, nước và sinh vật, nhằm tăng cường bảo vệ và sử dụng bền vững các dạng tài nguyên này một cách công bằng
Dựa vào tính tương tác của ĐDSH/HST và BĐKH Một mặt, các HST trên cạn, đất ngập nước và biển là bể hấp thụ và bể chứa cacbon khổng lồ, lưu trữ tới trên 50% lượng cacbon trên Trái đất Mặt khác, các HST lại là hệ thống hỗ trợ cho sự sống Hơn thế nữa, mức độ và tính chất của những tương tác này lại thay đổi theo không gian và thời gian BĐKH là nguyên nhân quan trọng dẫn tới suy giảm ĐDSH Sự suy giảm ĐDSH, sự xuống cấp của các sinh cảnh tự nhiên/HST cũng góp phần làm gia tăng BĐKH và tạo ra các rủi ro cho đời sống con người
Trang 40Các phân tích chi tiết về mối tương tác giữa ĐDSH và BĐKH sẽ là cơ sở khoa học và thực tiễn để đề xuất các giải pháp thích ứng với BĐKH nói chung và đối với ĐDSH nói riêng [14]
Để thích ứng với BĐKH về nguyên tắc cũng là các giải pháp phục hồi, duy trì tính cân bằng của HST Theo đó, cách tiếp cận dựa trên HST (EBA) được lựa chọn như cách tiếp cận chủ đạo trong ứng phó với BĐKH, theo nguyên tắc ứng phó với BĐKH là duy trì và tăng cường tính chống chịu, khả năng thích ứng, giảm nhẹ tính dễ
bị tổn thương/rủi ro khí hậu, nhằm hạn chế thiệt hại do BĐKH gây ra cho các hệ sinh thái-xã hội [16]