ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN NGUYỄN QUANG ĐÔNG NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO CẤU TRÚC NANO KIM LOẠI BẰNG KĨ THUẬT ĂN MÒN LASER DÙNG CHO QUANG PHỔ TÁN XẠ RAMAN TĂNG CƯỜ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
NGUYỄN QUANG ĐÔNG
NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO CẤU TRÚC NANO KIM LOẠI BẰNG KĨ THUẬT ĂN MÒN LASER DÙNG CHO QUANG PHỔ TÁN XẠ RAMAN TĂNG CƯỜNG BỀ MẶT
VÀ KHẢO SÁT MỘT SỐ ỨNG DỤNG TRONG Y SINH
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VẬT LÝ
HÀ NỘI - 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
NGUYỄN QUANG ĐÔNG
NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO CẤU TRÚC NANO KIM LOẠI BẰNG KĨ THUẬT ĂN MÒN LASER DÙNG CHO QUANG PHỔ TÁN XẠ RAMAN TĂNG CƯỜNG BỀ MẶT
VÀ KHẢO SÁT MỘT SỐ ỨNG DỤNG TRONG Y SINH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thế Bình và PGS.TS Phạm Văn Bền cùng với sự cộng tác của các đồng nghiệp Các số liệu, kết quả nêu trong luận án được trích dẫn lại từ các bài báo đã được xuất bản của tôi và các cộng sự Các số liệu, kết quả này
là trung thực và chưa từng được sử dụng trong bất cứ luận án tiến sĩ nào khác
Hà Nội, tháng 01 năm 2019
Tác giả luận án
Nguyễn Quang Đông
Trang 4Tôi xin được cảm ơn sự cộng tác và giúp đỡ quý báu của PGS TS Lê Văn
Vũ và các cán bộ trong Trung tâm Khoa học Vật liệu - Khoa Vật lý, PGS TS Nguyễn Xuân Nghĩa - Viện Khoa học Vật liệu, Viện Hàn lâm KHCN Việt Nam đã giúp tôi thực hiện các phép đo của luận án
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi của cơ sở đào tạo là Trường Đại học Khoa học Tự Nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội và của Trường Đại học Y Dược – Đại học Thái Nguyên - cơ quan mà tôi công tác, trong quá trình thực hiện luận án
Luận án được thực hiện tại Phòng thí nghiệm Bộ môn Quang lượng tử và trung tâm Khoa học Vật liệu và được hỗ trợ kinh phí của đề tài đề tài nghiên cứu khoa học cấp Đại học Thái Nguyên, mã số: ĐH 2013-TN07-01
Sau cùng, tôi muốn gửi tới tất cả những người thân trong gia đình và bạn bè lời cảm ơn chân thành nhất Chính sự tin yêu mong đợi của gia đình và bạn bè đã tạo động lực cho tôi thực hiện thành công luận án này
Hà Nội, tháng 01 năm 2019
Tác giả luận án
Nguyễn Quang Đông
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN 2
MỤC LỤC 3
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT 6
DANH MỤC CÁC BẢNG 7
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ 8
MỞ ĐẦU 16
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TÁN XẠ RAMAN TĂNG CƯỜNG BỀ MẶT (SERS) 22
1.1 Tán xạ Raman 22
1.2 Tán xạ Raman tăng cường bề mặt 28
1.2.1 Plasmon và cộng hưởng plasmon bề mặt 29
1.2.2 Cơ chế của hiệu ứng Tán xạ Raman tăng cường bề mặt (SERS) 36
1.2.3 Hệ số tăng cường (Enhancement factor - EF) 44
1.2.4 Các cấu trúc nano plasmonic cho hiệu ứng SERS 46
1.2.5 Một số ứng dụng của SERS 55
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 60
Chương 2: CÁC PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN 61
2.1 Phương pháp chế tạo hạt nano kim loại bằng ăn mòn laser 61
2.1.1 Một số phương pháp chế tạo cấu trúc nano kim loại trong chất lỏng 61
2.1.2 Khái niệm về ăn mòn laser xung (pulsed laser ablation- PLA) 64
2.1.3 Cơ chế tạo thành hạt nano kim loại trong chất lỏng bằng phương pháp PLA 65
2.1.4 Một số sơ đồ chế tạo hạt nano bằng phương pháp PLA 67
2.1.5 Các phương pháp xác định cấu trúc, hình thái, kích thước hạt nano kim loại 67
2.2 Các thiết bị sử dụng để nghiên cứu SERS 74
2.2.1 Thiết bị chính: Laser Nd:YAG Quanta Ray Pro 230 74
2.2.2 Kính hiển vi điện tử quét (SEM) 75
2.2.3 Hệ thu phổ tán xạ Raman tăng cường bề mặt 77
2.3 Các vật liệu, hóa chất sử dụng trong nghiên cứu của luận án 79
Trang 6KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 80
Chương 3: NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO HẠT NANO KIM LOẠI BẰNG PHƯƠNG PHÁP ĂN MÒN LASER (PLA) 81
3.1 Nghiên cứu thiết kế và xây dựng hệ thiết bị chế tạo hạt nano kim loại bằng phương pháp PLA 81
3.1.1 Thiết kế và lắp đặt hệ thiết bị chế tạo hạt nano kim loại sử dụng laser Nd:YAG 82
3.1.2 Xây dựng quy trình chế tạo hạt nano kim loại bằng phương pháp PLA 82
3.2 Nghiên cứu chế tạo hạt nano vàng bằng phương pháp PLA 85
3.2.1 Chế tạo hạt nano vàng trong nước 85
3.2.2 Chế tạo hạt nano vàng trong ethanol 90
3.3 Nghiên cứu chế tạo hạt nano bạc bằng phương pháp PLA 94
3.3.1 Chế tạo hạt nano bạc trong nước khử ion 94
3.3.2 Chế tạo hạt nano bạc trong nước cất 97
3.3.3 Chế tạo hạt nano bạc trong ethanol 98
3.3.4 So sánh và kết luận 100
3.4 Nghiên cứu chế tạo hạt nano đồng bằng phương pháp PLA 101
3.4.1 Chế tạo hạt nano đồng trong nước khử ion 101
3.4.2 Chế tạo hạt nano đồng trong nước cất 105
3.4.3 Chế tạo hạt nano đồng trong ethanol 106
3.5 Nghiên cứu chế tạo hạt nano Platin bằng phương pháp PLA 107
3.5.1 Chế tạo hạt Platin trong nước khử ion 108
3.5.2 Chế tạo hạt Platin trong ethanol 110
3.6 Nghiên cứu chế tạo hạt nano hợp kim Au/Ag trong nước bằng kỹ thuật laser 111
3.6.1 Quy trình chế tạo hạt nano hợp kim bằng kỹ thuật laser 111
3.6.2 Nghiên cứu chế tạo hạt nano hợp kim Au/Ag trong nước bằng kỹ thuật cảm ứng laser 113
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 118
Chương 4: NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO MỘT SỐ CẤU TRÚC NANO KIM LOẠI CHO HIỆU ỨNG SERS VÀ KHẢO SÁT KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG TRONG Y SINH 119
Trang 74.1 Nghiên cứu chế tạo đế SERS trên bề mặt silic 120
4.1.1 Quy trình chế tạo đế SERS bằng phương pháp ngưng đọng trực tiếp keo hạt nano kim loại 120
4.1.2 Nghiên cứu chế tạo các đế SERS phủ hạt nano Au, Ag, Cu, Pt trên bề mặt silic 121
4.1.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ hạt nano Au trên đế silic và đánh giá hệ số tăng cường SERS 126
4.2 Nghiên cứu chế tạo đế SERS trên bề mặt thủy tinh 127
4.2.1 Nghiên cứu chế tạo đế SERS bằng phương pháp coffee-ring 128
4.2.2 Khảo sát ảnh hưởng của số lần phủ lớp hạt Au và xác định hệ số tăng cường SERS 131
4.3 Nghiên cứu chế tạo đế SERS trên bề mặt kim loại đồng 133
4.3.1 Nghiên cứu chế tạo đế SERS phủ hạt nano Au trên bề mặt đồng 133
4.3.2 Nghiên cứu chế tạo đế SERS phủ hạt nano hợp kim Au/Ag trên bề mặt đồng 138
4.4 Nghiên cứu chế tạo đế SERS trên bề mặt DVD 141
4.4.1 Xử lý và khảo sát bề mặt đĩa DVD 141
4.4.2 Nghiên cứu chế tạo đế SERS trên đĩa DVD 143
4.4.3 Khảo sát hiệu quả tăng cường SERS của đế Au/DVD 144
4.5 Nghiên cứu chế tạo đế SERS trên bề mặt đồng cấu trúc nano nhờ ăn mòn laser 147
4.5.1 Nghiên cứu chế tạo bề mặt đồng cấu trúc nano nhờ ăn mòn laser 147
4.5.2 Nghiên cứu chế tạo đế SERS trên bề mặt đồng cấu trúc nano nhờ ăn mòn laser 148
4.5.3 Khảo sát hiệu ứng SERS trên đế Au/CuK5 149
4.5 Khảo sát một số khả năng ứng dụng của SERS trong y sinh 152
4.5.1 Khảo sát phổ SERS của Glucose 152
4.5.3 Khảo sát phổ SERS của Amoxicillin Trihydrate 155
4.5.4 Khảo sát phổ SERS của Tetracyline 156
4.5.5 Khảo sát phổ SERS của Malachite Green 160
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 164
KẾT LUẬN 165
CÁC KẾT QUẢ CÔNG BỐ CHÍNH CỦA LUẬN ÁN 167
TÀI LIỆU THAM KHẢO 169
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
Scattering
Tán xạ Hyper Raman tăng cường bề mặt
Raman Spectroscopy
Quang phổ học Raman cộng hưởng tăng cường bề mặt
Spectroscopy
Quang phổ học Raman tăng cường bề mặt
LSPR
Transmission Localized Surface
Plasmon Resonance Spectroscopy
Quang phổ học cộng hưởng plasmon bề mặt truyền qua cục bộ
TEM Transmission electron microscope Kính hiển vi điện tử truyền qua
mũi nhọn
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1 Số liệu so sánh dịch chuyển SERS với dịch chuyển Raman thường 125
Bảng 4.2 Bản đối chiếu phổ Raman và phổ SERS thực nghiệm của Rhodamine 6G 138
Bảng 4.3: Đỉnh Raman và các liên kết tương ứng của Rhodamine 6G 146
Bảng 4.4 Đỉnh Raman và các liên kết tương ứng của Malachite Green 150
Bảng 4.5 So sánh phổ Raman và phổ SERS của Glucose 154
Bảng 4.6 So sánh giữa các dịch chuyển Raman và dịch chuyển SERS của Amoxicillin Trihydrate 156
Bảng 4.7 Dịch chuyển Raman và dao động phân tử tương ứng 158
Bảng 4.8 Dịch chuyển Raman và các dao động phân tử tương ứng của Malachite Green 162
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ
Hình 1.1 Vạch tán xạ Rayleigh ( )a và các vạch tán xạ Stokes ( )b , đối Stokes (c)
trong phổ tán xạ Raman 23
Hình 1.2 Sơ đồ thu phổ tán xạ Raman kích thích bằng laser 24
Hình 1.3 Sơ đồ giải thích tán xạ Raman theo quan điểm lượng tử 27
Hình 1.4 a Plasmon khối; b Plasmon bề mặt; c Plasmon bề mặt định xứ 29
Hình 1.5 Cộng hưởng plasmon trên hạt nano kim loại 31
Hình 1.6 (a) ảnh SEM của một tinh thể nano trong thủy tinh; (b) phổ hấp thụ lý thuyết của một màng mỏng Au (chấm xanh) và của hạt nano Au kích thước 30nm trong nước(chấm đỏ) và phổ hấp thụ thực nghiệm của dung dịch hạt Au (chấm đen) 32
Hình 1.7 Sơ đồ nguyên lý của SERS 37
Hình 1.8 Cộng hưởng plasmon lưỡng cực của hạt nano hình cầu 38
Hình 1.9 Sơ đồ mức năng lượng đặc trưng của một phân tử hấp thụ trên bề mặt kim loại 43
Hình 1.10 a) ảnh TEM của hạt keo Ag citrate, b) ảnh TEM của hạt keo Au borohydride 47
Hình 1.11 a- Ảnh TEM của hạt nano lõi/ vỏ Au/SiO2, lớp vỏ SiO2 dày trung bình 6 ± 2 nm 49
Hình 1.11b - Phổ Raman của bột methyl parathion(a), của vỏ quả cam sạch (b), của vỏ quả cam có methyl parathion(c), của vỏ quả cam có hạt nano Ag/SiO2 (d), của vỏ quả cam có methyl parathion và hạt nano Ag/SiO2 (e) 49
Hình 1.12 Kiểm tra tại chỗ dư lượng thuốc trừ sâu tại chỗ bằng phổ Raman trên bề mặt quả quýt tươi: I- vỏ quả quýt sạch, II- vỏ quả quýt có parathion, III - vỏ quả quýt có parathion và các hạt nano Au/SiO2, IV- phổ Raman của bột methyl parathion 49
Hình 1.13 a -Ảnh SEM bề mặt đế SERS đơn lớp của các thanh nano vàng 50
Trang 11Hình 1.13b - Nhận biết tới Femtomol của BBP và DEHP có trong nước cam 50
Hình 1.14a - Ảnh SEM của các hạt và đảo nano vàng 51
Hình 1.14b - Ảnh SEM của các cấu trúc nano hình sao và lá nano vàng 51
Hình 1.15 Sơ đồ mô tả quá trình tạo ra đế SERS bằng E-beam Lithography[9] 51
Hình 1.16a Ảnh SEM các cột SiO2 có các hạt nano Ag ở trên đỉnh cột 52
Hình 1.16b - Phổ SERS và phổ Raman thường của benzenethion 52
Hình 1.17 Phương pháp electrohydrodynamic lithography tạo ra các cấu trúc dạng cột tuần hoàn có kích thước micro 53
Hình 1.18 Đế SERS chế tạo bằng cách phân tán hạt nano kim loại trên cấu trúc tuần hoàn 53
Hình 1.19 Kỹ thuật chế tạo cấu trúc tuần hoàn 2D của các hạt nano kim loại hình tháp tam giác 54
Hình 1.20a- Ảnh SEM các hạt nano Ag phủ trên các thanh nano ZnO 54
Hình 1.20b- Phổ SERS của nước hồ có nồng độ methyl parathion khác nhau 54
Hình 1.21a: Cấu trúc hoa và lá bạc (Ag) 55
Hình 1.21b: Sợi giấy lọc phủ hạt nano vàng 55
Hình 2.1 Sơ đồ nguyên lí quá trình khử hóa học 61
Hình 2.2 Thí nghiệm chế tạo hạt AgNP bằng phương pháp khử vật lý 62
Hình 2.3 Thí nghiệm chế tạo hạt AgNP bằng phương pháp khử hoá lý 63
Hình 2.4 Thí nghiệm chế tạo hạt AgNP bằng phương pháp khử sinh học 63
Hình 2.5 Mô hình quá trình ăn mòn bề mặt kim loại bằng laser 64
Hình 2.6 Mô hình cơ chế ăn mòn laser trong môi trường chất lỏng 65
Hình 2.7 Sơ đồ chế tạo hạt nano kim loại bằng phương pháp ăn mòn laser 67
Hình 2.8 Ảnh chụp hệ đo phổ hấp thụ UV-2450 Shimadzu 68
Hình 2.9 Máy nhiễu xạ tia X D5005 tại Trung tâm Khoa học Vật liệu 70
Hình 2.10 Sơ đồ nguyên lý của hệ ghi nhận tín hiệu phổ EDX trong TEM 73
Hình 2.11 Đầu laser 75
Hình 2.12 Nguồn nuôi 75
Hình 2.13 Bộ điều khiển 75
Trang 12Hình 2.14 Sơ đồ khối của kính hiển vi điện tử quét 76
Hình 2.16 Hệ thu phổ tán xạ Raman LabRAM HR 800 78
Hình 2.17 Sơ đồ thu phổ tán xạ Raman LabRAM HR 800 79
Hình 3.1 Sơ đồ và ảnh chụp hệ thiết bị chế tạo hạt nano kim loại bằng laser 82
Hình 3.2 Sơ đồ tóm tắt quy trình chế tạo hạt nano kim loại bằng ăn mòn laser 84
Hình 3.3 Ảnh TEM và phân bố kích thước của các hạt nano vàng trong nước khử ion 85
Hình 3.4 Phổ hấp thụ UV-Vis của dung dịch keo nano vàng trong nước khử ion công suất laser trung bình 400 mW, thời gian chiếu 15 phút 86
Hình 3.5 Phổ nhiễu xạ tia X của hạt nano vàng được chế tạo trong nước khử ion, công suất laser 400 mW, thời gian chiếu 15 phút 86
Hình 3.6 Phổ hấp thụ UV-Vis của dung dịch keo nano vàng trong nước khử ion thời gian chiếu 7 phút, công suất laser trung bình 250mW (a) 400 mW (b) và 550mW(c) 87
Hình 3.7 Phổ hấp thụ UV-Vis của dung dịch keo nano vàng trong nước khử ion thời gian chiếu 7 phút (a), 15 phút (b) và 23 phút, công suất laser trung bình 400 mW 88
Hình 3.8 Ảnh TEM và phân bố kích thước của các hạt nano vàng trong nước cất 89
Hình 3.9 Phổ hấp thụ (a) và phổ nhiễu xạ tia X (b) của các hạt nano vàng trong nước cất 89
Hình 3.10 Phổ hấp thụ của các hạt nano vàng trong nước khử (a), nước cất (b), theo thời gian 90
Hình 3.11 Phổ hấp thụ UV-Vis của keo hạt nano Au trong ethanol ăn mòn với công suất trung bình 400mW (a) , 500mW (b) , 550mW(c) và 650mW (d) 91
Hình 3.12 Ảnh TEM hạt nano vàng trong ethanol, thời gian t = 15 phút 92
Hình 3.13 Phân bố kích thước hạt nano vàng trong ethanol 92
Hình 3.14 Phổ nhiễu xạ tia X của hạt nano vàng trong ethanol tinh khiết, công suất laser 500 mW, thời gian chiếu 15 phút 93
Trang 13Hình 3.15 Phổ hấp thụ của keo hạt nano Ag chế tạo được trong nước khử ion
bước sóng 1064nm, công suất laser trung bình 400mW với các thời gian khác nhau 94 Hình 3.16 Phổ hấp thụ của các mẫu keo hạt nano Ag trong nước khử ion
bước sóng 1064 nm, thời gian chiếu laser 7 phút với các công suất khác nhau 95 Hình 3.17 Ảnh TEM và phân bố kích thước của các hạt nano bạc trong
nước khử ion công suất trung bình 400mW, thời gian chiếu sáng laser 7 phút 96 Hình 3.18 (a) Phổ hấp thụ của các hạt nano Ag trong nước khử ion (b) Phổ đo
nhiễu xạ tia X 96 Hình 3.19 Phổ hấp thụ của các hạt nano Ag trong nước cất sử dụng bước
sóng 1064nm, công suất laser trung bình 400mW, thời gian chiếu sáng 7 phút 97 Hình 3.20 Ảnh TEM chế tạo trong nước cất 98 Hình 3.21 Phổ hấp thụ của keo hạt nano Ag trong ethanol công suất trung
bình 400mW và thời gian chiếu sáng 7 phút 98 Hình 3.22 Ảnh TEM và phân bố kích thước của các hạt nano bạc trong ethanol 99 Hình 3.23 Giản đồ nhiễu xạ tia X của hạt nano Ag chế tạo trong ethanol 99 Hình 3.24 So sánh phổ hấp thụ UV-Vis của kéo hạt nanoAg chế tạo trong
nước khử ion (a), nước cất (b) và ethanol (c) 100 Hình 3.25 Phổ hấp thụ của keo hạt nano chế tạo trong nước khử ion (a) trong
nước cất (b) và trong ethanol (c) sau 22 ngày 101 Hình 3.26 Phổ hấp thụ UV-Vis của keo hạt nano Cu chế tạo trong nước khử
ion với công suất laser trung bình khác nhau 300mW (a), 400mW(b), 500mW(c) và 600mW(d) 102 Hình 3.27 Phổ UV-Vis của keo hạt nano Cu trong nước khử ion chế tạo với
thời gian chiếu sáng laser lần lượt là 15 phút(a), 25 phút (b) và 35 phút (c) 103
Trang 14Hình 3.28 Ảnh TEM và phân bố kích thước hạt nano Cu trong nước khử ion,
sử dụng bước sóng 1064 nm, với công suất 500 mW, thời gian chiếu sáng 15 phút 103 Hình 3.29 Giản đồ nhiễu xạ tia X của hạt nano Cu chế tạo trong nước khử ion 104 Hình 3.30 Phổ hấp thụ UV-Vis của keo hạt nano Cu trong nước theo thời gian 105 Hình 3.31 Phổ hấp thụ UV-Vis của hạt nano Cu trong nước cất 106 Hình 3.32 Ảnh TEM và phân bố kích thước hạt nano Cu chế tạo trong nước
cất, sử dụng bước sóng 1064 nm, với công suất 500 mW, 15 phút 106 Hình 3.33 Phổ hấp thụ của các hạt nano đồng chế tạo trong ethanol với công
suất laser trung bình 500 mW, thời gian ăn mòn 15 phút 106 Hình 3.34 Ảnh TEM và phân bố kích thước hạt nano đồng trong ethanol với
thời gian ăn mòn 15 phút, công suất trung bình 500mW 107 Hình 3.35 Phổ hấp thụ của keo hạt nano Pt chế tạo trong nước khử ion với
công suất laser trung bình khác nhau 250mW(a), 350mW(b) và 450mW(c) 108 Hình 3.36 Ảnh TEM hạt nano Pt trong nước khử ion 109 Hình 3.37 Giản đồ nhiễu xạ tia X của hạt nano platin trong nước khử ion 109 Hình 3.38 Phổ hấp thụ của hạt nano platin trong ethanol bước sóng 1064nm
và thời gian chiếu laser là 15 phút 110 Hình 3.39 Ảnh TEM và phân bố kích thước của hạt nano platin trong ethanol,
công suất laser 500mW, thời gian chiếu laser 15 phút 111 Hình 3.40 Mô hình quy trình thí nghiệm chế tạo hạt nano lưỡng kim bằng
phương pháp cảm ứng laser 112 Hình 3.41 Sơ đồ chiếu sáng tạo hạt nano lưỡng kim 112 Hình 3.42 Phổ hấp thụ hỗn hợp Au-Ag tỉ lệ thể tích 1:1, thời gian chiếu
sáng 0 phút 113 Hình 3.43 Phổ hấp thụ hỗn hợp Au-Ag tỉ lệ thể tích 1:1, thời gian chiếu
sáng 5 phút 114 Hình 3.44 Phổ hấp thụ hỗn hợp Au-Ag tỉ lệ thể tích 1:1, thời gian chiếu sáng 10 phút 114
Trang 15Hình 3.45 Phổ hấp thụ hỗn hợp Au-Ag tỉ lệ thể tích 1:1, thời gian chiếu sáng
15 phút (a) và 30 phút(b) 115
Hình 3.46 Phổ hấp thụ hỗn hợp Au-Ag tỉ lệ thể tích 1:1, thời gian chiếu sáng 45 phút 115
Hình 3.47 Ảnh TEM và phân bố kích thước của hạt nano lưỡng kim Au-Ag trong nước sau khi chiếu sáng 45 phút 116
Hình 3.49 Phổ hấp thụ hỗn hợp Au -Ag với cùng thời gian chiếu sáng, các tỉ lệ thể tích khác nhau 117
Hình 3.50 Đỉnh phổ hấp thụ của hỗn hợp được chiếu sáng phụ thuộc theo tỉ lệ thể tích Au/Ag 117
Hình 4.1 Phổ tán xạ Raman của R6G trên đế Silic ở ba vị trí đo khác nhau 121
Hình 4.2 Phổ Raman của đế 3AuNPs/Si khi chưa có chất phân tích 122
Hình 4.3 Phổ Raman của Rh6G trên đế 3Au/Si tại 3 vị trí khác nhau trên mẫu 122
Hình 4.4 Phổ tán xạ Raman của Rh6G trên đế 3AgNPs/Si 123
Hình 4.5 Phổ tán xạ Raman của Rh6G trên đế 3Cu/Si 123
Hình 4.6 Phổ tán xạ Raman của Rh6G trên đế 3Pt /Si 124
Hình 4.7 Ảnh SEM của mẫu có hạt vàng trên đế Si 126
Hình 4.8 Phổ Raman của R6G trên đế Si khi có 1 lớp hạt nano Au và 7 lớp hạt nano Au 127
Hình 4.9 Cấu trúc coffee-ring của giọt cà phê trên thủy tinh 128
Hình 4.10 Ảnh chụp mẫu Rh6G/Au/thủy tinh (a) và cấu trúc vị trí biên của mẫu chụp trên kính hiển vi của LabRAM HR 800, HORIBA (b) 129
Hình 4.11 Phổ tán xạ Raman của mẫu Rh6G/3Au/thủy tinh đo ở tâm (a), giữa tâm - biên (b) và ở biên (c) của mẫu 130
Hình 4.12 Phổ tán xạ Raman của mẫu Rh6G/7Au/thủy tinh đo ở tâm (a), giữa tâm - biên (b) và ở biên (c) của mẫu 130
Hình 4.13 Phổ tán xạ Raman của mẫu Rh6G/ 1 Au/ thủy tinh 131
Hình 4.14 Phổ tán xạ Raman của mẫu Rh6G/3 Au/ thủy tinh 132
Hình 4.15 Phổ tán xạ Raman của mẫu Rh6G/ 5 Au/ thủy tinh 132
Trang 16Hình 4.16 Bề mặt tấm đồng sau khi làm sạch 134
Hình 4.17 Ảnh SEM của đế 6Au/Cu 134
Hình 4.18 Phổ Raman của mẫu Rh6G/Cu 135
Hình 4.19 Phổ SERS của mẫu Rh6G/2Au/Cu 136
Hình 4.20 Phổ SERS của mẫu Rh6G/4Au/Cu 136
Hình 4.21 Phổ SERS của mẫu 1Rh6G/6Au/Cu 137
Hình 4.22 Phổ tán xạ Raman của Rh6G trên các đế Cu (a), hạt đơn kim Au+Ag/Cu (b) và hạt hợp kim Au-Ag /Cu(c) 140
Hình 4.23 Mặt cắt dọc của đĩa 142
Hình 4.24 Kích thước đường dữ liệu của đĩa CD 142
Hình 4.25 Ảnh SEM bề mặt nhôm của các đĩa DVD Maxell (a), DVD Verbatim (b) and DVD Kachi (c) 143
Hình 4.26 Ảnh SEM của bề mặt đế 4Au/ DVD 144
Hình 4.27 Phổ tán xạ Raman của mẫu nhỏ RhG (10-1M) trên lớp nhôm cấu trúc tuần hoàn của đế DVD 144
Hình 4.28 a Phổ tán xạ Raman của Rh 6G trên đế 2Au/DVD 145
Hình 4.28 b Phổ tán xạ Raman của Rh 6G trên đế 4Au/DVD 145
Hình 4.28 Phổ tán xạ Raman của Rh 6G trên đế 8Au/DVD 146
Hình 4.29 Ảnh SEM bề mặt vết ăn mòn laser trên Cu với thời gian 1phút (a), 5phút (b) và12 phút (c) 148
Hình 4.30 Ảnh đế 6Au/CuK5 và ảnh SEM bề mặt hoạt động SERS của đế Au/CuK5 149
Hình 4.31 Phổ SERS của MG nồng độ 100ppm đo tại hai vị trí khác nhau trên vùng hoạt động của đế SERS 6Au/CuK5 149
Hình 4.32 Phổ của MG nồng độ 100ppm tại hai vị trí trên đế 6Au/Cu phẳng 150
Hình 4.33 Phổ SERS của MG nồng độ 1ppm trên đế Au/CuK5 151
Hình 4.34 Phổ Raman của lớp bột mỏng MG trên đế Cu phẳng 152
Hình 4.35 Phổ Raman của Glucose /silic không phủ hạt nano kim loại 153
Hình 4.36 Phổ SERS của Glucose trên đế Au/Silic 153
Trang 17Hình 4.37 Phổ SERS của Amoxicillin trihydrate nồng độ 10ppm và 1ppm
trên đế 4Au/DVD 155 Hình 4.38 Phổ SERS Tetracycline hydrochloride nồng độ100ppm trên đế
SERS Au/thủy tinh 157 Hình 4.39 Phổ SERS của Tetracycline hydrochloride nồng độ 10ppm và 1ppm 159 Hình 4.40 Phổ SERS của Tetracycline hydrochloride với các nồng độ thay
đổi 10ppm (a), 1 ppm (b) và 0.1ppm(c) 159 Hình 4.41 Phổ SERS của nồng độ khác nhau 100ppm (a), 10ppm (b) and
1ppm (c) trên đế 6AuNPs/DVD 161 Hình 4.42 Phổ SERS của Malachite Green nồng độ 1ppm trong nước cất thu
được trên đế 6AuNPs/DVD 163
Trang 18có thể có những thông tin về cấu trúc phổ năng lượng dao động đặc trưng của phân
tử hay mạng tinh thể Quang phổ học Raman đã trở thành một công cụ quan trọng trong các phòng thí nghiệm phân tích hóa học, khoa học vật liệu, y - dược, sinh học, môi trường… Tính ứng dụng của phổ Raman là rất lớn [1, 2, 4, 5, 7,49]
Tuy nhiên, do tán xạ Raman là quá trình va chạm không đàn hồi nên xác suất xảy ra tán xạ Raman là rất nhỏ dẫn đến cường độ tín hiệu phổ Raman yếu Điều này làm hạn chế những ứng dụng của phương pháp quang phổ học Raman [7,46]
Phương pháp quang phổ học Raman tăng cường bề mặt SERS (Surface Enhanced Raman Spectroscopy) là một phương pháp mới được phát triển cho phép
có thể tăng cường độ tín hiệu phổ Raman lên hàng triệu lần [3, 4]
Phương pháp này đã được phát hiện vào năm 1974 [44 - 46] và đến nay đã được phát triển nhanh chóng, làm thay đổi cách nhìn nhận về ứng dụng của quang phổ học Raman Hiệu ứng SERS được phát hiện trên bề mặt kim loại nhám có kích thước nano Công nghệ vật liệu nano đã góp phần thúc đẩy hiệu ứng SERS phát triển thành một phương pháp quang phổ học SERS Người ta đã sử dụng hạt nano kim loại, hoặc tạo ra cấu trúc bề mặt kim loại cấu trúc nano khác nhau phục vụ cho hiệu ứng SERS [10,123,126,129,132]
Từ khi ra đời, SERS đã được ứng dụng rộng rãi trong rất nhiều lĩnh vực Các nhà khoa học cho rằng SERS sẽ trở thành một công cụ không thể thiếu trong nghiên cứu cấu trúc bề mặt và các quá trình bề mặt khác nhau SERS nằm trong số những công nghệ tinh vi nhất của khoa học nghiên cứu bề mặt, sự ăn mòn, sự xúc tác, các vật liệu cao cấp, các cảm biến sinh học [11, 12, 14, 19, 75]
Các cấu trúc nano kim loại có khả năng tăng cường tín hiệu phổ Raman còn được gọi đế SERS Các đế SERS có hệ số tăng cường cao (106
- 108) cho phép xây
Trang 19dựng các phép đo quang phổ học Raman phục vụ phân tích định tính và định lượng các nồng độ vết rất có ý nghĩa trong y dược, sinh học phân tử, môi trường, an toàn thực phẩm [60, 62, 80, 82, 94, 106,112, 116, 119,129]
Hiện nay ở Việt Nam, quang phổ học Raman tăng cường bề mặt vẫn là một phương pháp chưa có nhiều nghiên cứu sâu về lý thuyết và thực nghiệm
Năm 2010, sau khi bảo vệ thành công luận văn Thạc sĩ với đề tài “Nghiên cứu phương pháp quang phổ học tán xạ Raman tăng cường bề mặt” ở Bộ môn Quang lượng tử, Khoa vật lý, Trường ĐHKHTN Hà Nội tôi đã có mong muốn được tiếp tục nghiên cứu đề tài này và đăng ký làm nghiên cứu sinh Dựa trên các tài liệu tham khảo, đánh giá khả năng thực hiện nghiên cứu, cũng như xu hướng phát triển
nghiên cứu chúng tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu của luận án là: “Nghiên
cứu chế tạo cấu trúc nano kim loại bằng kỹ thuật ăn mòn laser dùng cho quang phổ tán xạ Raman tăng cường bề mặt và khảo sát một số ứng dụng trong y sinh”
Cho đến nay đã có một số nhóm nghiên cứu hiệu ứng tán xạ Raman tăng cường bề mặt và ứng dụng ở Việt nam
Nhóm nghiên cứu của GS.TS Nguyễn Quang Liêm (Viện Khoa học Vật liệu)
đã nghiên cứu chế tạo các đế SERS trên cơ sở các mạng 2D hạt nano bạc hoặc các mạng 2D đĩa nano vàng [122] Nhóm nghiên cứu của GS.TS Đào Trần Cao (Viện Khoa học Vật liệu) kết hợp với PGS Lê Văn Vũ (Đại học Khoa học Tự nhiên - ĐHQG Hà Nội) cũng đã nghiên chế tạo thành công một số loại cấu trúc nano bạc bao gồm các hạt nano bạc phủ lên các dây nano silic và các cấu trúc nano bạc dạng
lá hình kim và hoa dùng cho nghiên cứu phổ SERS [81] Năm 2016, NCS Lương Trúc Quỳnh Ngân (Viện Khoa học Vật liệu) đã thực hiện đề tài luận án “Chế tạo, nghiên cứu tính chất quang của các hệ dây nanô silic xếp thẳng hàng, định hướng ứng dụng trong tán xạ Raman tăng cường bề mặt” Nhóm nghiên cứu của PGS.TS Trần Hồng Nhung (Viện Vật lý) đã có công bố phát hiện Melanine ở nồng độ thấp bằng kỹ thuật SERS sử dụng cấu trúc nano bạc [100] v.v… Mỗi nhóm đều sử dụng những phương pháp riêng để chế tạo đế SERS với đối tượng phân tích khác nhau Điều này thể hiện phương pháp quang phổ SERS đang được rất quan tâm ở Việt nam nhờ khả năng ứng dụng cao trong thực tiễn
Trang 20Cho đến nay, để tạo ra các cấu trúc nano plasmonic cho hiệu ứng SERS người ta vẫn chủ yếu sử dụng hạt nano kim loại [39] Có nhiều phương pháp khác nhau để chế tạo hạt nano kim loại, trong đó phương pháp hóa học tạo ra hạt có độ đồng đều cao Tuy nhiên nhược điểm của phương pháp này là khó loại bỏ sạch các tiền chất hóa học và thường phải có các chất hoạt hóa bề mặt bao bọc các hạt nano kim loại, không phù hợp với hiệu ứng tăng cường phổ SERS và các ứng dụng trong
y sinh Phương pháp ăn mòn laser có đặc điểm tạo ra được hạt nhanh từ kim loại tinh khiết trong chất lỏng tinh khiết, thích hợp cho hiệu ứng SERS và các ứng dụng trong y sinh [23,57,120] Xuất phát từ điều kiện phòng thí nghiệm nghiên cứu Laser
và ứng dụng sẵn có của Bộ môn Quang lượng tử, Khoa Vật lý, ĐHKHTN chúng tôi
đã lựa chọn phương pháp ăn mòn laser để chế tạo hạt nano kim loại trong chất lỏng tinh khiết (nước cất, ethanol) từ đó tạo ra các cấu trúc nano plasmonic cho hiệu ứng SERS Kỹ thuật này là hoàn toàn mới ở Việt nam, cho đến nay chưa có nhóm nghiên cứu nào thực hiện
Các đế SERS chế tạo băng phương pháp này có định hướng ứng dụng trong
y sinh, dược học và an toàn thực phẩm ở Việt Nam
* Mục tiêu nghiên cứu
Chế tạo cấu trúc nano kim loại bằng kĩ thuật ăn mòn laser dùng cho quang phổ tán xạ Raman tăng cường bề mặt (SERS) và khảo sát khả năng ứng dụng của
SERS trong y sinh và dược học
* Nội dung nghiên cứu
1 Nghiên cứu khảo sát lý thuyết và thực nghiệm về hiệu ứng tán xạ Raman tăng cường bề mặt (SERS), các cơ chế tăng cường tán xạ Raman của hiệu ứng SERS, các cấu trúc nano kim loại khác nhau dùng cho hiệu ứng SERS, phân tích và đánh giá để xác định các cấu trúc nano kim loại thích hợp cho hiệu ứng SERS
2 Nghiên cứu chế tạo hạt nano kim loại quý (vàng, bạc, đồng, platin…) bằng
kỹ thuật ăn mòn laser Thiết kế xây dựng một hệ thiết bị chế tạo hạt nano kim loại quý bằng laser trong một số chất lỏng tinh khiết, thích hợp với cấu trúc nano kim loại cho hiệu ứng SERS
Trang 213 Nghiên cứu sử dụng keo hạt nano kim loại quý đã được chế tạo bằng phương pháp ăn mòn laser để chế tạo một số cấu trúc nano kim loại có khả năng cho hiệu ứng tán xạ Raman tăng cường bề mặt (gọi tắt là đế SERS)
4 Khảo sát một số khả năng ứng dụng của các đế SERS chế tạo được trong việc phân tích, xác định một số chất kháng sinh, thuốc bảo vệ thực vật ở nồng độ vết đang được quan tâm trong y sinh, dược học và an toàn thực phẩm
* Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận án này là thực nghiệm + Sử dụng phương pháp ăn mòn laser, dùng laser xung Nd:YAG chế tạo các hạt nano kim loại như Au, Ag, Cu, Pt…trong một số chất lỏng tinh khiết khác nhau, thích hợp cho hiệu ứng SERS
+ Sử dụng các keo hạt nano kim loại chế tạo được phủ lên các bề mặt chất rắn khác nhau (thủy tinh, silic, kim loại…) để tạo ra các cấu trúc nano kim loại cho hiệu ứng SERS (đế SERS)
+ Sử dụng các kỹ thuật đo đạc: quang phổ học hấp thụ, nhiễu xạ tia X, kính hiển vi điện tử quét (SEM), kính hiển vi điện tử truyền qua (TEM), hệ thu phổ Raman LABRAM-HR800 … để nghiên cứu đo đạc các thuộc tính của các cấu trúc nano kim loại chế tạo được
- Nghiên cứu thực nghiệm được tập trung tiến hành tại phòng thí nghiệm, bộ môn Quang lượng tử, Khoa Vật lý, Trường ĐH Khoa học tự nhiên, đồng thời có hợp tác chặt chẽ với Trung tâm Khoa học Vật liệu, khoa Vật lý, Viện khoa học vật liệu - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam và một số Phòng thí nghiệm
về sinh học và công nghệ vật liệu như các Phòng thí nghiệm của Khoa hóa học, Khoa Địa chất, Phòng thí nghiệm trọng điểm sinh học trường ĐHKHTN, Viện công nghệ sinh học và vi sinh vật ĐHQGHN, Viện vệ sinh dịch tễ trung ương, Viện Hóa học - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
* Tính mới của luận án
1 Xây dựng và phát triển một hệ thiết bị chế tạo hạt nano kim loại bằng kỹ thuật ăn mòn laser và thực hiện chế tạo thành công các hạt nano kim loại bằng phương pháp ăn mòn laser lần đầu tiên tại Việt nam
Trang 222 Đề xuất, xây dựng và phát triển một số phương pháp đơn giản, nhanh cho phép chế tạo đế SERS có độ nhạy đủ cao để phát hiện nồng độ vết của một số hóa chất quan tâm trong y sinh, bằng cách sử dụng keo hạt nano kim loại chế tạo bằng
ăn mòn laser lắng đọng trên một số bề mặt vật liệu khác nhau
3 Chế tạo và ứng dụng thành công các đế SERS phát hiện được phổ SERS ở nồng độ vết (cỡ 1ppm) của một số chất quan tâm trong y sinh như Glucose, Amoxicilline, Tetracycline, Malachite Green
Kết quả thu được phổ SERS của Tetracycline ở nồng độ vết (0,1 – 1 ppm) là chưa có công bố ở Việt Nam
* Ý nghĩa khoa học, tính thực tiễn của luận án
1 Xây dựng, phát triển và làm chủ phương pháp chế tạo hạt nano kim loại bằng kĩ thuật laser Đóng góp thêm một phương pháp đơn giản, chế tạo nhanh các hạt nano kim loại trong chất lỏng sạch từ miếng kim loại tinh khiết, thích hợp cho việc chế tạo ra các cấu trúc nano kim loại cho phép tăng cường tán xạ Raman (đế SERS) có độ nhạy cao
2 Góp phần phát triển và làm chủ một số kỹ thuật chế tạo cấu trúc nano kim loại ứng dụng trong Quang phổ học Raman tăng cường bề mặt Đây là một công nghệ cao, dựa trên các thành tựu mới của khoa học vật liệu nano và quang phổ học laser
Cụ thể là xây dựng và đưa ra một số quy trình mới để chế tạo đế SERS sử dụng keo hạt nano kim loại chế tạo bằng ăn mòn laser phủ lên một số bề mặt vật liệu khác nhau
3 Góp phần phát triển các ứng dụng của kỹ thuật SERS để giám định các nồng độ vết trong y sinh, an toàn thực phẩm
* Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận
án được trình bày trong 4 chương
Chương 1: Tổng quan về tán xạ Raman tăng cường bề mặt (SERS)
Chương này trình bày tổng quan các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm đã
có về hiệu ứng SERS, cơ chế của hiệu ứng SERS, các cấu trúc nano plasmonic khác nhau cho hiệu ứng SERS và một số khả năng ứng dụng của SERS
Trang 23Chương 2: Các phương pháp thực nghiệm sử dụng trong luận án
Chương này trình bày về phương pháp chế tạo hạt nano kim loại bằng kỹ thuật laser, các phương pháp và thiết bị sử dụng để xác định hình dạng, kích thước, phân bố hạt nano để nghiên cứu chế tạo đế SERS và khảo sát phổ SERS
Chương 3: Nghiên cứu chế tạo hạt nano kim loại bằng kỹ thuật laser
Chương này trình bày các kết quả nghiên cứu thiết kế, xây dựng hệ thiết bị chế tạo hạt nano kim loại bằng phương pháp PLA và sử dụng phương pháp này chế tạo hạt nano kim loại (vàng, bạc, đồng, platin ) và hạt nano hợp kim Au/Ag phục
vụ cho mục đích tạo ra các cấu trúc nano plasmonic thích hợp cho hiệu ứng SERS
Chương 4: Nghiên cứu chế tạo một số cấu trúc nano kim loại cho hiệu ứng SERS và khảo sát một số khả năng ứng dụng của SERS trong y sinh
Các kết quả nghiên cứu chế tạo một số cấu trúc nano plasmonic sử dụng hạt nano kim loại chế tạo trong chương 3 sẽ được trình bày trong chương 4 Quy trình chế tạo và khả năng tăng cường tán xạ Raman của các cấu trúc này (đế SERS) được xác định thông qua việc khảo sát phổ Raman của dung dịch Rhodamine 6G ở các nồng độ khác nhau Sử dụng cấu trúc nano kim loại đã chế tạo, chúng tôi đã tìm hiểu khả năng ứng dụng SERS trong phân tích một số dược liệu, hóa chất đang được quan tâm trong y sinh Kết quả khảo sát sẽ được trình bày trong chương này
Kết luận
Tổng kết, đánh giá tóm tắt các kết quả đạt được
Các kết quả và nội dung nghiên cứu của luận án được thể hiện ở 12 công trình đã được công bố trong các Tạp chí khoa học, kỷ yếu Hội nghị khoa học chuyên ngành ở trong nước và quốc tế
Trang 24Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÁN XẠ RAMAN TĂNG CƯỜNG BỀ MẶT (SERS)
Trong chương này chúng tôi nghiên cứu tổng quan về tán xạ Raman, tán xạ Raman tăng cường bề mặt (SERS), đặc biệt tập trung vào cơ chế hiệu ứng SERS, cách tính hệ số tăng cường SERS và các cấu trúc nano kim loại khác nhau cho hiệu ứng SERS cũng như một số ứng dụng của SERS trong thực tiễn Đây là cơ sở để phân tích, định hướng nội dung nghiên cứu, lựa chọn phương pháp nghiên cứu và giải thích kết quả nghiên cứu của luận án
1.1 Tán xạ Raman
Từ đầu thế kỷ 20 nhiều nhà vật lý đã tiên đoán rằng bức xạ bị tán xạ bởi phân
tử không chỉ chứa photon với tần số ánh sáng tới mà còn gồm photon với tần số bị thay đổi Và sự tiên đoán này đã được khẳng định vào 1928 với thí nghiệm tán xạ ánh sáng trên chất lỏng Benzen do Chandresekhara Venkata Raman (Ấn Độ) thực hiện Raman đã được giải Nobel và từ đó hiện tượng tán xạ này được mang tên tán
xạ Raman [2,4,7,73]
Quan sát phổ ánh sáng tán xạ từ Benzen, Raman quan sát thấy xuất hiện một vạch phổ rất mạnh tương ứng với tần số của ánh sáng tới gọi là vạch tán xạ Rayleigh 0, ngoài ra còn có những vạch yếu hay rất yếu được phân bố đối xứng ở
cả hai phía của vạch Rayleigh (Hình 1.1) Những vạch có tần số nhỏ hơn tần số ánh sáng tới (i < 0) gọi là vạch tán xạ Stokes, những vạch có tần số lớn hơn tần số ánh sáng tới (i > 0) gọi là vạch tán xạ đối Stokes Dịch chuyển tần số của các vạch này
so với vạch Rayleigh =0-i là đặc trưng cho mỗi vật chất và không phụ thuộc vào tần số của ánh sáng tới [2,46,79]
Trang 25Hình 1.1 Vạch tán xạ Rayleigh ( )a và các vạch tán xạ Stokes ( )b ,
Quy luật của tán xạ Raman là:
+ Trong ánh sáng tán xạ, ngoài tần số của ánh sáng tới (bức xạ Rayleigh) còn có các tần số khác bị dịch đi so với tần số ánh sáng tới (bức xạ Stokes và đối Stokes)
+ Độ dịch chuyển giữa các vạch tán xạ Raman và vạch tán xạ Rayleigh
+ Cường độ ánh sáng của thành phần Stokes lớn hơn thành phần đối Stokes Khi nhiệt độ tăng thì cường độ thành phần đối Stokes tăng nhanh
Người ta đã phát hiện ra hiện tượng tán xạ này còn xảy ra trên nhiều chất lỏng, dung dịch và cả các chất ở thể khí và rắn (dạng bột hoặc tinh thể) Hiện tượng tán xạ này đã được dùng để phân tích thành phần của nhiều chất cũng như nghiên cứu cấu trúc phân tử của chúng Để có hiệu ứng tán xạ Raman cần có một bức xạ có
độ đơn sắc cao Với sự xuất hiện của Laser, nguồn bức xạ đơn sắc lý tưởng cho hiệu ứng tán xạ Raman, quang phổ học Raman đã có bước phát triển vượt bậc và trở thành một phương pháp không thể thiếu cho phép cung cấp những thông tin quan trọng về phân tử và các quá trình biến đổi hoá học của chúng Phổ tán xạ Raman khi
Các vạch tán xạ Stokes Các vạch tán xạ đối Stokes
Trang 26kích thích bằng Laser cho phép ghi được phổ của những lượng mẫu rất nhỏ khoảng vài miligram hoặc cỡ vài trăm microliter, với dải rộng của nhiệt độ và áp suất Chất lỏng, dung dịch, bột tinh thể và đơn tinh thể đều có thể thu được phổ tán xạ Raman Thậm chí người ta có thể nghiên cứu được các mẫu màng và tán xạ Raman được ghi
từ bề mặt mẫu Trên Hình 1.2 là một ví dụ về sơ đồ thu phổ Raman kích thích bằng laser
Hình 1.2 Sơ đồ thu phổ tán xạ Raman kích thích bằng laser [73]
Tán xạ Raman là hiện tượng bức xạ điện từ tương tác với các phân tử vật chất Chúng ta sẽ xem xét vấn đề trên cả hai quan điểm cổ điển và lượng tử
Theo quan điểm cổ điển về tán xạ Raman hệ phân tử được xem như những
mômen lưỡng cực dao động điều hoà, hệ các lưỡng cực này sẽ phát ra bức xạ khi tương tác với một trường điện từ Sóng ánh sáng với tần số 0 được đặc trưng bằng cường độ điện trường E k:
0cos 2 0
k
trong đó E0 là biên độ của cường độ điện trường, 0 là tần số sóng tới
Khi sóng ánh sáng tương tác với phân tử sẽ xuất hiện mômen lưỡng cực điện cảm ứng i(i x y z , , ) có độ lớn tỷ lệ thuận với cường độ điện trường E k:
Trang 27trong đó được gọi là độ phân cực hay hệ số phân cực của phân tử, nó phụ thuộc vào cấu trúc, tính chất của phân tử và là hàm của các dao động chuẩn của phân tử
Đối với những phân tử không đối xứng cao tức là những phân tử có cấu trúc bất đẳng hướng, hệ số phân cực của phân tử theo các phương khác nhau của hệ toạ
độ linh động xyz gắn chặt với phân tử cũng khác nhau Vì thế, trong trường hợp tổng quát, biểu thức (1.2) được viết dưới dạng ma trận:
i ik E k
trong đó ik lần lượt bằng x, y, z
Trang 28Trong phân tử có ba dạng chuyển động dẫn đến hình thành phổ đó là: sự chuyển động của các điện tử trong trường lực của khung hạt nhân, sự dao động của các hạt nhân quanh vị trí cân bằng của chúng và chuyển động quay của toàn bộ phân tử trong không gian Nếu xem phân tử không dao động và quay thì hệ số phân cực của phân tử chỉ được xác định bởi khả năng biến dạng của lớp vỏ điện tử của phân tử dưới tác dụng điện trường của ánh sáng tới Khi đó hệ số phân cực của phân tử là không đổi và mômen lưỡng cực điện cảm ứng cũng biến thiên điều hòa với tần số bằng tần số 0 của ánh sáng tới Các phân tử trở thành những lưỡng cực điện cảm ứng bức xạ sóng điện từ với tần số 0 và gây ra tán xạ Rayleigh Tuy nhiên, khi phân tử dao động quanh vị trí cân bằng và quay trong không gian sẽ ảnh hưởng đến sự phân cực của nó, do đó thành phần bức xạ của ánh sáng tán xạ sẽ khác so với thành phần của ánh sáng tới Vì chu kỳ quay của phân tử lớn hơn nhiều
so với chu kỳ dao động của nó nên trong một khoảng thời gian nhỏ so với chu kỳ quay có thể khảo sát sự tán xạ ánh sáng trên phân tử dao động và có một sự định hướng nào đó trong không gian
Xét trường hợp đơn giản, phân tử nhiều nguyên tử có tính đối xứng cầu Khi
đó mômen lưỡng cực điện cảm ứng của phân tử được xác định bằng biểu thức (1.7) Đối với trường hợp này, thay (q i là toạ độ tự nhiên đặc trưng cho dao động thứ i của phân tử) và với dao động của phân tử ta có
Trang 29Vạch ứng với tần số 0 gọi là vạch tán xạ Rayleigh
Các vạch ứng với tần số i 0 v gọi là các vạch tán xạ Stokes
Các vạch ứng với tần số i' 0 v gọi là các vạch tán xạ đối Stokes
Hiệu giữa tần số hoặc số sóng của các vạch tán xạ Stokes, đối Stokes và vạch tán xạ Rayleigh được xác định bằng các biểu thức tương ứng:
Theo Quan điểm lượng tử tán xạ Raman là kết quả tương tác của chùm
photon với phân tử môi trường
Hình 1.3 Sơ đồ giải thích tán xạ Raman theo quan điểm lượng tử [2]
Theo quan điểm lượng tử, hiện tượng tán xạ Raman có thể được giải thích định tính như sau:
Photon ánh sáng tới với năng lượng = h.0, h = 6,625.10-34J.s là hằng số Plăng khi đi qua môi trường tán xạ sẽ xảy ra hiện tượng va chạm đàn hồi hoặc không đàn hồi với các phân tử của môi trường
Trang 30- Nếu va chạm là đàn hồi thì năng lượng của phân tử và photon được bảo toàn, ánh sáng tán xạ sẽ có tần số đúng bằng tần số 0 của ánh sáng tới, đó là vạch tán xạ Rayleigh
- Nếu va chạm là không đàn hồi có thể xảy xa hai khả năng:
+ Nếu photon của ánh sáng tới cung cấp năng lượng Ei cho phân tử của môi trường thì ánh sáng tán xạ có năng lượng bé hơn năng lượng photon tới Khi đó năng lượng photon tán xạ sẽ là:
i = h = h 0 - Ei =0 - i (1.12) Trong trường hợp này tần số của ánh sáng tán xạ i nhỏ hơn tần số ánh sáng tới Đó là vạch Stokes
+ Nếu photon của ánh sáng tới nhận từ phân tử của môi trường một năng lượng Ei nào đó thì ánh sáng tán xạ có năng lượng lớn hơn năng lượng photon tới Khi đó năng lượng photon tán xạ sẽ là:
1.2 Tán xạ Raman tăng cường bề mặt
Hiện tượng tán xạ Raman tăng cường bề mặt (SERS) được phát hiện vào năm 1974 [46,89,112] đã mang lại cho Quang phổ học Raman sức sống mới, thu hút sự quan tâm mạnh mẽ của nhiều lĩnh vực khoa học công nghệ Hai cơ chế chủ yếu dùng để giải thích Tán xạ Raman tăng cường bề mặt hiện nay là: Cơ chế tăng cường điện từ và cơ chế tăng cường hóa học, trong đó cơ chế đóng góp chủ yếu là
cơ chế tăng cường điện từ dựa trên hiện tượng cộng hưởng plasmon bề mặt
Để hiểu được cơ chế này, trước hết cần phải có khái niệm về plasmon và công hưởng plasmon bề mặt, đó là các khái niệm cơ bản để giải thích cơ chế tăng
cường SERS
Trang 311.2.1 Plasmon và cộng hưởng plasmon bề mặt
1.2.1.1 Plasmon bề mặt
Các thuộc tính quang học của một cấu trúc kim loại chủ yếu được xác định thông qua tương tác của các electron dẫn trong kim loại này Sự kích thích điện từ làm cho những electron dẫn trong cấu trúc kim loại dao động tập thể, tạo lên một hệ dao động được gọi là plasmon trong không gian của cấu trúc kim loại đó Tùy theo các điều kiện biên, các dao động plasmon có thể được phân loại thành 3 mode: plasmon khối (volume plasmons), plasmon bề mặt (surface plassmons) và plasmon
bề mặt định xứ (localized surface plassmons -LSP) Hình 1.4
(a) (b) (c) Hình 1.4 a Plasmon khối; b Plasmon bề mặt; c Plasmon bề mặt định xứ [111]
Plasmon khối là các dao động tập thể của các electron dẫn trong khối kim loại và năng lượng của các lượng tử khoảng 10eV (tương ứng với bước sóng chân không cỡ 120nm) trong các kim loại quý Plasmon khối có thể được kích thích trực tiếp bằng bức xạ điện từ
Plasmon bề mặt xảy ra ở giao diện điện môi - kim loại, tại đó các dao động điện tích theo chiều dọc được lan truyền trên giao diện gọi là “sóng phân cực” Theo
Hình 1.4b, nếu ta coi sóng lan truyền trên bề mặt theo trục x, thì có thể thu được 2
mode sóng truyền ngang là điện và từ TE và TM
Khi các dao động plasmon được giam cầm trong cả 3 chiều không gian, ví dụ trong trường hợp các hạt nano kim loại, mode dao động được gọi là Plasmon bề mặt định xứ (LSP) Trong mode này, các electron dẫn dao động trong hạt và tạo thành một hệ dao động với tính chất cộng hưởng Các Plasmon hạt có thể được kích thích bởi các sóng lan truyền trong không gian
Như vậy, có thể nói Plasmon bề mặt là những sóng điện từ được truyền dọc theo giao diện kim loại - điện môi Đơn giản hơn, ta có thể định nghĩa plasmon bề mặt là sự kích thích các electron bề mặt của kim loại bằng nguồn sáng tới
Trang 32Cường độ điện trường của plasmon bề mặt giảm theo hàm mũ khi xa dần giao diện kim loại - điện môi Tại vùng giao diện này có sự định xứ lớn của năng lượng và các điện tích Những tính chất của chúng phụ thuộc vào các tính chất của
cả kim loại (Hàm điện môi phức, cấu hình, độ nhám) và điện môi (chiết suất) Về cơ bản, đây là những sóng bị chặn lại trên bề mặt bởi sự tương tác của chúng đối với các electron tự do của chất dẫn điện [6, 10]
Năng lượng điện từ được định xứ mạnh dọc theo giao diện có thể được sử dụng để dẫn ánh sáng trong cấu trúc nhỏ Độ nhạy cao của plasmon bề mặt có thể cung cấp một công cụ để nghiên cứu bề mặt, độ nhạy với chiết suất của điện môi gần giao diện có thể sử dụng để dò liên kết hoá học bằng cách coi chất lỏng là điện môi Khi dung môi có mặt trong chất lỏng này liên kết với giao diện điện môi - kim loại chúng sẽ thay đổi chiết suất dẫn tới sự thay đổi plasmon bề mặt
1.2.1.2 Cộng hưởng Plasmon bề mặt
Hiện tượng cộng hưởng plasmon bề mặt (Surface plasmon resonance - SPR)
là sự kích thích các electron tự do trong vùng dẫn, dẫn tới sự hình thành các dao động đồng pha [75]
Những kim loại khác nhau thì quãng đường chuyển động tự do của các elactron khác nhau Quãng đường tự do của các electron trong vàng và bạc xấp xỉ 50nm, bởi vậy trong những hạt nhỏ hơn quãng đường tự do, không có sự tán xạ từ vật liệu khối Tất cả các tương tác đều là với bề mặt Khi bước sóng của ánh sáng lớn hơn nhiều so với kích thước của hạt nano nó có thể tạo ra những trạng thái cộng hưởng như được chỉ ra ở hình 1.5
Ánh sáng tới làm cho các electron tự do trong kim loại dao động Khi mặt đầu sóng của ánh sáng đi qua, mật độ electron trong hạt bị phân cực trên bề mặt và dao động cộng hưởng với tần số ánh sáng gây ra một dao động dừng - hiện tượng này được gọi là cộng hưởng plasmon bề mặt định xứ (Local Surface Plasmon Resonance - LSPR) Trạng thái cộng hưởng được xác định bởi phổ hấp thụ và tán xạ và phụ thuộc vào kích thước, hình dáng và hằng số điện môi của cả kim loại và chất bao
Trang 33Hình 1.5 Cộng hưởng plasmon trên hạt nano kim loại [41]
Đối với những hạt nano lớn, sự cộng hưởng mạnh hơn khi độ dài tán xạ tăng Hạt nano kim loại quí (vàng và bạc) có tần số cộng hưởng trong dải ánh sáng nhìn thấy được Khi hình dáng hay kích thước của hạt nano thay đổi, hình dạng bề mặt thay đổi dẫn đến sự dịch chuyển mật độ điện trường trên bề mặt Điều này gây ra một sự thay đổi tần số dao động của electron, sinh ra các tiết diện ngang khác nhau
và làm thay đổi các tính chất quang học bao gồm hấp thụ và tán xạ [15]
- Sự tán xạ và hấp thụ trên các hạt nano kim loại
Các hạt nano kim loại hấp thụ và tán xạ mạnh ánh sáng ở tần số cộng hưởng plasmon Tỉ số giữa tán xạ và hấp thụ phụ thuộc vào kích thước hạt Các hạt lớn tán
xạ mạnh ánh sáng trong khi màu sắc của các hạt nhỏ chủ yếu là do hấp thụ Bởi vì màu sắc của các chất màu mạnh nhất (ví dụ chất màu thuốc nhuộm) là do hấp thụ, tán xạ thường bỏ qua và sự thay đổi khi truyền qua (còn gọi lại tắt dần - extinction) đơn thuần là do hấp thụ Đối với hạt kim loại có kích thước lớn trên 30 nm thì quá trình tán xạ là rất quan trọng
Tán xạ, hấp thụ và tắt dần ánh sáng của hạt được mô tả bằng tiết diện ngang hấp thụ, tán xạ và tắt dần ζabs, ζsca và ζext, trong đó ζext= ζabs +ζsca Ánh sáng tán xạ được xác định bằng hệ thức [28]:
(1.14)Trong đó Io(ω)/A là cường độ ánh sáng chiếu vào hạt trên một đơn vị diện tích Thông thường các tiết diện tán xạ này được chuẩn hóa thành tiết diện tán xạ hình học của hạt (πr2
đối với hạt hình cầu bán kính r) gọi là các hiệu suất Qabs, Qsca
Trang 34(a) (b)
Hình 1.6 (a) ảnh SEM của một tinh thể nano trong thủy tinh; (b) phổ hấp thụ lý thuyết của một màng mỏng Au (chấm xanh) và của hạt nano Au kích thước 30 nm trong nước(chấm đỏ) và phổ hấp thụ thực nghiệm của dung dịch hạt Au (chấm đen) [118]
Hình 1.6b chứng tỏ rõ một sự khác biệt giữa tính chất quang của các hạt nano kim loại và màng mỏng Trong khi màng mỏng hấp thụ ánh sáng qua vùng khả kiến và vùng gần hồng ngoại do hấp thụ electron tự do thì đối với hạt nano, quá trình này bị dập tắt mạnh đối với các năng lượng thấp hơn 2 eV (tương ứng với bước sóng lớn hơn 620 nm) Thật vậy, tất cả cường độ của các dao động điện tử tự
do trong hấp thụ được đẩy vào đỉnh hấp thụ lưỡng cực khoảng 2,25 eV sự cộng hưởng hạt plasmon bề mặt lưỡng cực Tính chất quang này dẫn tới các màu sắc rõ nét của các hạt nano kim loại quý Đối với các năng lượng cao hơn cộng hưởng lưỡng cực, sự hấp thụ quang của các hạt và tấm phim là như nhau, do sự chiếm ưu
thế của dịch chuyển d-sp mà nổi bật là đối với Au và Cu trong vùng lân cận của
cộng hưởng plasmon lưỡng cực, còn đối với hạt Ag thì ít hơn
Thông thường, vị trí phổ, sự tắt dần và cường độ của các lưỡng cực cũng như cộng hưởng plasmon bậc cao của các đơn hạt nano kim loại phụ thuộc vào chất liệu, kích thước, cấu hình và hàm điện môi của vật liệu chủ xung quanh Chúng ta xét cụ thể đối với các hạt có kích thước nhỏ và lớn
Trang 35đáng kể vào tương tác hạt - ánh sáng Theo hệ thức Clausius-Mossotti, biểu thức về
độ phân cực α của một hạt hình cầu thể tích V là [28]:
Ở đây, εo là hằng số điện môi của chân không và εm là hằng số điện môi của môi trường xung quanh, εlà hàm điện môi của kim loại và ε là hàm phức phụ thuộc vào tần số, ε = ε(ω)= εr(ω)+i εi(ω).Ở đây, εr(ω) và εi(ω) là phần thực và ảo của hàm điện môi Phần ảo của ε mô tả sự mất mát năng lượng nhiệt trong hạt Những mất
mát này là do sự tạo thành các cặp electron-lỗ trống
Từ phương trình (1.15), độ phân cực sẽ lớn nhất khi mẫu số thỏa mãn:
Đối với các hạt nhỏ, các trường có thể coi là đồng nhất (không đổi) quanh hạt, và chỉ có các mode bậc thấp là đóng góp vào sự dập tắt Khi đó, có thể coi hạt được đặt trong một trường điện đàn hồi đồng nhất
- Hạt kim loại lớn
Tính chất quang của các hạt kim loại chịu ảnh hưởng của kích cỡ hạt Đối với các hạt kim loại lớn có kích thước lớn hơn 30 nm, đóng góp của tán xạ vào quá trình tắt dần (tổng của hấp thụ và tán xạ) tăng Với kích thước hạt tăng, các mode plasmon bậc cao sẽ xuất hiện trong phổ dập tắt Dải cộng hưởng plasmon của mode lưỡng cực dịch chuyển đỏ và độ rộng của nó tăng Các mode bậc cao có thể được quan sát trong phổ và trở nên vượt trội Điều này là do đối với các hạt lớn, ánh sáng không thể phân cực và các hiệu ứng trễ dẫn tới một gradient của trường điện từ, có
Trang 36thể kích thích các mode bậc cao hơn Đối với các hạt lớn hơn, tính chất phổ bị sửa đổi do các hiệu ứng trễ và sự kích thích của mode bậc cao (tứ cực và các bậc cao hơn), tín hiệu phổ có thể được tính toán bởi bậc hệ số cao hơn trong lí thuyết tán xạ Mie [9,28]
* Sự tăng cường trường định xứ quanh các cấu trúc nano kim loại
Sự cộng hưởng điện từ của các hạt nano kim loại quý là do sự giam cầm của các e dẫn trong thể tích hạt nhỏ Đối với các hạt bán kính a <<λ, tất cả các e dẫn trong hạt cùng pha với nhau nhờ sự kích thích của sóng phẳng bước sóng λ, tạo nên
sự phân cực điện tích trên bề mặt các hạt Những điện tích này tương tác như một lực phục hồi hiệu dụng, cho phép sự cộng hưởng xảy ra ở một tần số xác định - tần
số plasmon lưỡng cực Tại tần số này, các e chậm pha /2 so với trường ngoài Do
đó, sinh ra một trường được tăng cường bên trong hạt Trường này đồng nhất trong thể tích những hạt nhỏ, tạo ra một trường lưỡng cực điện bên ngoài hạt Điều này dẫn tới sự tăng cường tiết diện hấp thụ và tán xạ ngang đối với sóng điện từ, vì vậy trường gần bề mặt hạt được tăng cường mạnh
Sự tăng cường trường gần quanh các cấu trúc nano kim loại được cảm ứng bởi những tần số gần hồng ngoại và nhìn thấy cho chúng ta các ứng dụng lí thú Khi trường tăng cường được định xứ ở bề mặt của hạt nano, chúng sẽ như một máy dò điện môi trong một vài nm của bề mặt hạt Thực tế này đã được tìm hiểu trong một loạt nghiên cứu về chiết suất của ánh sáng trong các máy dò sinh học Cũng vậy, tính chất định xứ của nano kim loại có thể tăng cường trường tới và trường tạo thành cho các quá trình quang học phi tuyến, huỳnh quang tăng cường bề mặt, tán
xạ Raman tăng cường bề mặt
Với các ứng dụng phi tuyến và Raman tăng cường bề mặt, trường định xứ
bỏ qua sự hấp thụ - sự tắt dần của môi trường Hệ số tăng cường trường định xứ đối
với một hạt nano là L = Elocal/Eo, Eo là độ lớn của trường tới, có thể được viết dưới
dạng tích của 2 hệ số L=Lsp(ω).lLR, tương ứng với 2 quá trình tăng cường: cộng
hưởng plasmon bề mặt của toàn bộ hạt (Lsp) và hiệu ứng cột thu lôi (lightning rod)
(lLR) Đối với các hạt lớn, độ nhám bề mặt và các chỗ hở có thể dẫn tới sự cộng hưởng định xứ phụ tạo lên các „điểm nóng‟ (hot spots) trên bề mặt hạt [9,112]
Trang 37Đối với các hạt hoàn toàn hình cầu trong giới hạn Rayleigh, chỉ có cộng
hưởng plasmon bề mặt là đóng góp vào quá trình tăng cường, với Lsp~Q~T2 trong
vùng hấp thụ Ở đây T2 là thời gian lệch pha được tính từ sự phân rã của plasmon
hạt thành cặp lỗ trống -e và photon tới các quá trình tán xạ đàn hồi Q là hệ số phẩm
chất của cộng hưởng Đối với các hạt nano Au hình cầu nhỏ trong không khí và
trong các mạng chiết suất thấp hệ số Q thấp cỡ 10 trong khi sự tắt dần bức xạ chiếm
ưu thế đối với hạt hình cầu lớn bán kính cỡ 100nm Hệ số Q cao cỡ 20 đối với các
hạt Au tựa cầu, do dịch chuyển đỏ của cộng hưởng lưỡng cực trục dọc Đối với hạt nano Ag, sự tăng cường trường ở tần số khả kiến là lớn, một phần là do sự tách phổ của cộng hưởng plasmon là lớn hơn Các nanoshells sẽ hứa hẹn cho hệ số phẩm
chất lớn hơn, người ta đã được ước lượng Q lên tới 150 với Ag.[34]
Đối với hình dạng không phải hình cầu, chỉ có hiệu ứng “cột thu lôi” phụ
thuộc yếu vào tần số (LLR) của trường điện ở những chỗ nhọn bề mặt, dẫn tới sự gia tăng điện tích bề mặt Bằng cách này, các trường định xứ cao có thể được tạo ra ở các đỉnh của các hình cầu thon dài hoặc bề mặt xù xì Đối với rất nhiều chỗ ráp hoặc các hạt có tỉ lệ bề mặt cao, sự cộng hưởng plasmon định xứ phụ ở các phần đặc biệt trên bề mặt hạt có thể bị kích thích, tạo một sự tăng cường phụ Đối với các hạt tựa cầu với tỉ lệ bề mặt lớn hơn 10:1, sự cộng hưởng trên toàn bộ hạt có thể được giải thích như một ăng ten, tại đây trường được tăng cường mạnh hơn ở đỉnh do hiệu ứng “cột thu lôi” và sự cộng hưởng trường định xứ Hệ số tăng cường trường cao nhất ở Ag được dự đoán khoảng 100
Các trường quang học tăng cường quanh cấu trúc nano kim loại thể hiện qua sự tăng cường của họa ba bậc cao và một số hiệu ứng quang phi tuyến Ví dụ, sự tăng
cường tổng cộng của SHG trên các bề mặt bạc ráp tỉ lệ với L(ω)4
.L(2ω)2 Trong khi đó,
sự tăng cường trong thang quang phổ học Raman là L(ωexe)4.L(ωRS)2 Chú ý rằng do dịch chuyển Stocke nhỏ trong tán xạ Raman nên thông thường trường ở cả tần số kích thích và tần số Stocke đều được tăng cường Đối với SHG thì chỉ một trong 2 quá trình
tăng cường do sự tách biệt 2 phổ là lớn Cũng vậy, do giá trị tuyệt đối của ε(ω) ở tần số
khả kiến là đáng kể nên trường trong hạt (SHG) là nhỏ hơn trường ngoài (SERS) Do
đó, sự tăng cường SERS thường lớn hơn những SHG và họa ba bậc cao Chú ý rằng trong lí thuyết về sự tăng cường trường của các hạt nano kim loại, sự tăng cường trường thường không lấy tích phân trên toàn bộ đường cộng hưởng mà được tính đối với công suất đỉnh ở tần số Stocke hoặc tần số lối ra bậc cao
Trang 38Trong thực nghiệm, cả kĩ thuật quang phổ học trường gần và trường xa được
sử dụng để quan sát sự tăng cường SHG ở bề mặt kim loại Sự tăng cường đo được của SHG đối với màng mỏng Au và Ag có thể lên tới 1000 lần
Sự tăng cường cao nhất của một quá trình quang học trên bề mặt kim loại là tán xạ Raman Stocke Ở đây có sự bức xạ từ các đơn phân tử có hệ số tăng cường tiết diện tán xạ Raman lên tới 1014 Mặc dù vẫn còn sự tranh cãi về lời giải thích cho kết quả này, nhưng người ta tin rằng nguyên nhân là do cả sự tăng cường định xứ và các hiệu ứng hóa học Trường định xứ tăng lên 1000 trên bề mặt Ag được làm ráp dẫn tới tăng cường Raman lên 1012 Trong đó, các hiệu ứng hóa học đóng góp vào
sự tăng cường tổng cộng khoảng 100 lần Hệ số tăng cường trường lên tới 1000 là rất khó có được đối với các đơn hạt ngoại trừ các mode trống trên các kẽ hở bề mặt
Do đó, người ta cho rằng sự định xứ trường trong các khoảng trống nhỏ giữa các hạt kim loại là do đóng góp của các hiệu ứng hình học và tán xạ đa photon trên bề mặt ráp trong một thể tích nhỏ kích cỡ nm được gọi là các „điểm nóng‟ (hot spots) Tầm quan trọng của tán xạ đa photon đối với sự tạo thành các „hot spots‟ đã được nêu bật qua nhiều nghiên cứu về đặc tính của bề mặt bạc [58]
1.2.2 Cơ chế của hiệu ứng Tán xạ Raman tăng cường bề mặt (SERS)
Trong tán xạ Raman tăng cường bề mặt (SERS), cường độ tín hiệu phổ Raman của phân tử hấp thụ trên bề mặt thô nhám của kim loại được tăng lên nhiều lần SERS đã được quan sát đối với các phân tử bám trên bề mặt của một số kim loại khác nhau trong các môi trường vật lý và hình thái khác nhau bao gồm cả trong các keo hạt nano kim loại quý Bạc, đồng và vàng là những chất chiếm ưu thế cho SERS, tuy nhiên gần đây các nghiên cứu vẫn đang mở rộng với các kim loại kiềm
và một vài kim loại khác Sự cộng hưởng lớn nhất quan sát được trên các bề mặt mà
có độ nhám vào cỡ thang nano (10 -100 nm) và phụ thuộc vào hình dạng hạt Khi đi sâu nghiên cứu lý thuyết của SERS, các nhà khoa học tập trung vào hai cơ chế được cho là tạo ra sự tăng cường trong tín hiệu Raman đó là cơ chế tăng cường điện từ và hóa học [75]
1.2.2.1 Cơ chế tăng cường điện từ
Như đã trình bày trong mục 1.2.1, plasmon bề mặt có thể lan truyền, ví dụ trên
bề mặt của một cách tử, hoặc định vị, ví dụ trên bề mặt của một hạt kim loại hình cầu
Trang 39Sự kích thích plasmon bề mặt bằng ánh sáng đòi hỏi bề mặt nhám hoặc cong Trường điện từ của ánh sáng tại bề mặt có thể được tăng cường mạnh nhờ kích thích plasmon,
sự tăng cường cả trường ánh sáng laser tới và trường ánh sáng tán xạ Raman thông qua tương tác của chúng với bề mặt tạo thành cơ chế SERS điện từ (Hình 1.7)
Hình 1.7 Sơ đồ nguyên lý của SERS
Có nhiều lý thuyết điện từ được phát triển trong đó các hệ được xem xét bao gồm quả cầu riêng biệt, các elipsoit riêng biệt, những quả cầu tương tác, những elipsoit tương tác ngẫu nhiên xung quanh bề mặt hay các cách tử và bề mặt cấu trúc lặp lại tuần hoàn
Mô hình đơn giản nhất giải thích cơ chế SERS là cơ chế điện từ đồng thời được đề xuất năm 1980 bởi Gersten [88], Gersten và Nitzan [95] và McCall et al [61, 103], sau đó được phát triển mở rộng bởi Kerker và cộng sự Trong mô hình này, các tác giả xem xét trường điện từ bao quanh một hạt kim loại nhỏ được chiếu sáng Mặc dù chưa thấy có công bố về SERS từ một hạt nano kim loại đơn,
cô lập nhưng phân tích sơ bộ về trường bao quanh một hạt nano kim loại nhỏ, cô lập là hữu ích trong việc xác định một số tiêu chí cơ bản cần thiết để thấy được cường độ SERS
Một hạt kim loại hình cầu nhỏ, cô lập được chiếu sáng sẽ duy trì dao động plasmon bề mặt đa cực với bậc khác nhau gây ra bởi vecto điện trường biến thiên theo thời gian của ánh sáng Các plasmon bề mặt là các dao động tập thể của các điện tử dẫn quanh các lõi ion kim loại [55] Ngoài ra, ánh sáng có thể gây ra các kích thích khác trong hạt kim loại bao gồm các dịch chuyển vùng (interband transitions)
Đối với một hạt có kích thước nhỏ hơn bước sóng ánh sáng tới, có thể xem hạt chỉ thể hiện plasmon lưỡng cực, bỏ qua tất cả kích thích khác Các hệ với các
Ánh sáng
tới
Ánh sáng Raman
Phân tử trên
bề mặt vàng
Đế Tán xạ Raman
Chất phân tích
Trang 40điện tử tự do hoặc gần tự do sẽ duy trì kích thích như vậy và các điện tử càng tự do thì cường độ cộng hưởng plasmon lưỡng cực càng mạnh
Khi ánh sáng laser chiếu tới cộng hưởng với plasmon lưỡng cực, hạt nano kim loại sẽ phát ra ánh sáng đặc trưng cho bức xạ lưỡng cực [31] Bức xạ này là một quá trình kết hợp với trường kích thích và được đặc trưng bởi một phân bố không gian biên độ trường (phân bố này đạt được trạng thái ổn định một vài femto giây sau khi ánh sáng này sinh ra) trong đó cường độ ánh sáng từ một số phần của không gian xung quanh hạt bị suy giảm, trong khi cường độ tại một số phần gần hạt kim loại được tăng cường Trên Hình 1.8 minh họa viền điện trường bao quanh một hạt nano hình cầu đường kính 35 nm khi cộng hưởng plasmon lưỡng cực [104]
Hình 1.8 Cộng hưởng plasmon lưỡng cực của hạt nano hình cầu
Chúng ta gọi độ tăng cường trường trung bình trên bề mặt của hạt này là g
Độ lớn trung bình của trường phát ra bởi hạt kim loại là Es = gE0, ở đây E0 là cường
độ trường tới, Es là trường gần (near field), cục bộ trung bình trên bề mặt hạt Do
đó, các phân tử hấp phụ trên bề mặt của hạt kim loại sẽ bị kích thích bởi một trường
có độ lớn là Es, và ánh sáng tán xạ Raman được gây ra bởi phân tử này sẽ có một cường độ trường là ER ~ αREs ~ αRgE0, ở đây αR là tổ hợp của các thành phần tenxơ Raman tương ứng
Trường tán xạ Raman có thể được tăng cường hơn nữa bởi các hạt kim loại Nghĩa là, hạt kim loại có thể tán xạ ánh sáng tại bước sóng dịch chuyển Raman tăng