1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu đa dạng sinh học và đặc điểm nhóm dinh dưỡng chức năng của côn trùng nước tại suối chảy qua rừng tự nhiên thuộc xã ngọc thanh, thành phố phúc yên, tỉnh vĩnh phúc

59 80 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 8,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA SINH – KTNN ===  ===BÙI THỊ HUỆ NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ ĐẶC ĐIỂM NHÓM DINH DƯỠNG CHỨC NĂNG CỦA CÔN TRÙNG NƯỚC TẠI SUỐI CHẢY QUA RỪNG TỰ NHI

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA SINH – KTNN ===  ===

BÙI THỊ HUỆ

NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ ĐẶC ĐIỂM NHÓM DINH DƯỠNG CHỨC NĂNG CỦA CÔN TRÙNG NƯỚC TẠI SUỐI CHẢY QUA RỪNG TỰ NHIÊN THUỘC

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA SINH – KTNN ===  ===

BÙI THỊ HUỆ

NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ ĐẶC ĐIỂM NHÓM DINH DƯỠNG CHỨC NĂNG CỦA CÔN TRÙNG NƯỚC TẠI SUỐI CHẢY QUA RỪNG TỰ NHIÊN THUỘC

XÃ NGỌC THANH, THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH

VĨNH PHÚC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Chuyên ngành: Động vật học

Người hướng dẫn khoa học

TS Nguyễn Văn Hiếu

HÀ NỘI - 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Văn Hiếu - cán bộ giảngdạy Tổ Động vật, Khoa Sinh - Kỹ thuật nông nghiệp, Trường Đại học Sư phạm HàNội 2, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứukhoa học và hoàn thiện khóa luận tốt nghiệp của mình

Đồng thời, qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các thầy giáo, cô giáo,các anh chị và các bạn đồng môn trong Tổ Động vật, Khoa Sinh – Kỹ thuật nôngnghiệp, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, những người đã truyền đạt kiến thức vàtạo điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện khóa luận

Cuối cùng, tôi xin được gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã động viên

và là chỗ dựa vững chắc cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 17 tháng 5 năm 2019

Sinh viên

Bùi Thị Huệ

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quảnghiên cứu, các số liệu trình bày trong khóa luận là do nghiên cứu, thực tiễn đảmbảo tính trung thực và chưa được công bố trong bất cứ công trình khoa học, trongcác tạp chí chuyên ngành và các hội thảo khoa học, sách chuyên khảo, … nào khác

Hà Nội, ngày 17 tháng 5 năm 2019

Sinh viên

Bùi Thị Huệ

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích của nghiên cứu 2

3 Nội dung nghiên cứu 2

4 Ý nghĩa 2

4.1 Ý nghĩa khoa học 2

4.2 Ý nghĩa thực tiễn 2

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Tình hình nghiên cứu côn trùng nước trên thế giới và ở Việt Nam 3

1.1.1 Trên thế giới 3

1.1.2 Ở Việt Nam 8

1.2 Tình hình nghiên cứu về nhóm dinh dưỡng chức năng trên thế giới và ở Việt Nam 12

1.2.1 Trên thế giới 12

1.2.2 Ở Việt Nam 13

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14

1 Đối tượng nghiên cứu 14

2 Phạm vi, thời gian và địa điểm nghiên cứu 14

3 Phương pháp nghiên cứu 16

3.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài tự nhiên 16

3.2 Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm 16

3.3 Phương pháp đánh giá đa dạng sinh học 17

3.4 Phương pháp xử lý số liệu 18

4. Khái quát điều kiện tự nhiên ở trạm Đa dạng sinh học Mê Linh, xã Ngọc Thanh, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc 18

4.1 Vị trí địa lý 18

4.2 Địa hình 19

Trang 6

4.3 Địa chất – thổ nhưỡng 19

4.4 Khí hậu – thủy văn 20

CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 21

3.1 Thành phần loài côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu 21

3.1.1 Thành phần loài Phù du (Ephemeroptera) 31

3.1.2 Thành phần loài Chuồn chuồn (Odonata) 32

3.1.3 Thành phần loài Cánh úp (Plecoptera) 32

3.1.4 Thành phần loài Cánh nửa (Hemiptera) 32

3.1.5 Thành phần loài Cánh cứng (Coleoptera) 32

3.1.6 Thành phần loài Cánh rộng (Megaloptera) 33

3.1.7 Thành phần loài Hai cánh (Diptera) 33

3.1.8 Thành phần loài Cánh vảy (Lepidoptera) 33

3.1.9 Thành phần loài Cánh lông (Trichoptera) 33

3.2 Phân bố của côn trùng nước theo các đợt thu mẫu tại khu vực nghiên cứu 34

3.2.1 Số loài và thành phần loài côn trùng nước theo các đợt thu mẫu 34

3.2.2 Một số đặc điểm quần xã côn trùng nước theo đợt thu mẫu ở khu vực nghiên cứu 35

3.3 Cấu trúc nhóm dinh dưỡng chức năng của côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu 38

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 41

TÀI LIỆU THAM KHẢO 43

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Số lượng và tỷ lệ (%) các taxon thuộc các bậc phân loại của côn

trùng nước tại khu vực nghiên cứu21

Bảng 3.2 Thành phần các loài côn trùng nước ở khu vực nghiên cứu 23

Bảng 3.3 Số lượng loài côn trùng nước theo các đợt thu mẫu 34

Bảng 3.4 Số lượng cá thể của các bộ côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu ở

đợt 1 và đợt 2 trên đơn vị thu mẫu là 2,5m 2 36

Bảng 3.5 Loài ưu thế và chỉ số đa dạng sinh học Shannon – Weiner (H’) tại

khu vực nghiên cứ theo đợt thu mẫu 38

Bảng 3.6 Cấu trúc các nhóm chức năng dinh dưỡng ở khu vực nghiên cứu 39

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 3.1 Tỷ lệ (%) số loài theo từng bộ côn trùng nước tại khu vực nghiên

cứu 22

Hình 3.2 Tỷ lệ (%) về số lượng cá thể theo nhóm dinh dưỡng chức năng tại

khu vực nghiên cứu 39

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Côn trùng nước giữ vai trò hết sức quan trọng trong hệ sinh thái các thủy vựcnội địa Mỗi một môi trường thủy vực, nhóm sinh vật này đều có những đặc tínhthích nghi phù hợp, nổi trội bởi số lượng loài cũng như số lượng cá thể lớn… đặcbiệt chúng là mắt xích không thể thiếu trong chuỗi và lưới thức ăn [27] Bên cạnhviệc đóng vai trò cân bằng mối quan hệ dinh dưỡng ở hệ sinh thái thủy vực và là cầunối mật thiết với con người, một số loài côn trùng nước lại là tác nhân truyền bệnh,tác nhân gây bệnh, tác nhân phá hoại sản phẩm công nghiệp, nông nghiệp… Khácvới nhóm côn trùng trên cạn, các loài thuộc côn trùng nước tồn tại cả trong môitrường nước và trong môi trường cạn Do vậy, chúng là đối tượng lý tưởng dùngtrong các nghiên cứu về sinh thái học và sinh học tiến hóa Trên thế giới đã có rấtnhiều thành tựu to lớn khi nghiên cứu trên đối tượng côn trùng nước, từ việc phânloại cho đến những nghiên cứu về tập tính, sinh thái, sinh sản, di truyền, tiến hóa…

Ở Việt Nam, trong những năm gần đây côn trùng nước cũng đã được quan tâmnghiên cứu Đặc biệt ở các Vườn quốc gia và các Khu bảo tồn thiên nhiên, nhữngnơi có hệ thống sông, suối phong phú, tiềm ẩn tính đa dạng côn trùng nước cao

Xã Ngọc Thanh là xã vùng núi duy nhất của thành phố Phúc Yên, tỉnh VĩnhPhúc với tổng diện tích hơn 7.732,68 ha Địa hình chủ yếu của xã là đồi núi thấp với

độ cao so với mặt nước biển dao động từ 25m đến 300m Khu vực nghiên cứu cónhiều dạng thủy vực khác nhau, trong đó thủy vực dạng suối tương đối đa dạng vàphong phú Các suối này là điều kiện rất tốt cho sự phát triển của các loài thủy sinhvật nói chung và các loài côn trùng nước nói riêng Tuy nhiên, cho đến nay cácnghiên cứu về nhóm côn trùng nước ở khu vực này mới chỉ tập trung nghiên cứu đadạng sinh học về loài ở các suối thuộc Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh [30] hoặc

đa dạng sinh học về loài Phù du [4], đặc biệt những nghiên cứu về cấu trúc nhómdinh dưỡng chức năng của chúng ở khu vực nghiên cứu vẫn chưa được quan tâm

Để góp phần tìm hiểu nhóm sinh vật có ý nghĩa này, chúng tôi tiến hành thực hiện

đề tài:

“Nghiên cứu đa dạng sinh học và đặc điểm nhóm dinh dưỡng chức năng của côn trùng nước tại suối chảy qua rừng tự nhiên thuộc xã Ngọc Thanh, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc”.

Trang 10

2 Mục đích của nghiên cứu

Nghiên cứu đa dạng sinh học về loài và đặc điểm nhóm dinh dưỡng chứcnăng của côn trùng nước tại suối chảy qua rừng tự nhiên thuộc thuộc xã NgọcThanh, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc

3 Nội dung nghiên cứu

+ Xác định thành phần loài côn trùng nước tại suối chảy qua rừng tự nhiên thuộc xã Ngọc Thanh, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc

+ Nghiên cứu một số đặc điểm của quần xã côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu như: mật độ, phân bố, các chỉ số đa dạng

+ Xác định cấu trúc nhóm dinh dưỡng chức năng của côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu

4 Ý nghĩa

4.1 Ý nghĩa khoa học

Đề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu đa dạng sinh học về loài và đặc điểm cácnhóm dinh dưỡng chức năng của côn trùng nước tại suối chảy qua rừng tự nhiênthuộc xã Ngọc Thanh, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc

4.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả của đề tài góp phần cung cấp những tư liệu phục vụ cho việc nghiêncứu về côn trùng nước sau này tại suối chảy qua rừng tự nhiên thuộc xã NgọcThanh, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc

Kết quả nghiên cứu đề tài là cơ sở đưa ra các giải pháp nhằm bảo tồn, xây dựquy hoạch, khai thác hợp lý, sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên tại khu vựcnghiên cứu

Trang 11

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình hình nghiên cứu côn trùng nước trên thế giới và ở Việt Nam

1.1.1 Trên thế giới

Côn trùng nước bao gồm những loài côn trùng mà có một phần hoặc cả vòngđời sống trong môi trường nước Chính vì sự đa dạng về thành phần loài, hình tháicấu tạo và các đặc điểm thích nghi cùng với vai trò quan trọng của chúng đối với hệsinh thái và đời sống con người Do đó phạm vi nghiên cứu côn trùng nước ngàycàng được mở rộng, các hướng nghiên cứu không chỉ dừng lại ở việc mô tả, phânloại mà còn đi sâu vào các cơ chế bên trong như: biến động quần thể côn trùng, cácmối quan hệ dinh dưỡng, đáp ứng yêu cầu của sinh thái học (Resh và Rosenberg,1984; Cummins, 1994) [27] Đến cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, nhiều nhàkhoa học đã công bố hàng loạt các công trình nghiên cứu về côn trùng nước như:McCafferty, 1983; Kawai, 1985; John, Yang và Tian, 1994; Yoon, 1995; Merritt vàCummins, 1996; … Các nghiên cứu này đã bổ sung và cung cấp nhiều kiến thức vềcôn trùng nước bao gồm cả phân loại học, sinh thái học, tiến hóa, ứng dụng…

Qua các công trình nghiên cứu, đến nay có thể xác định 9 bộ thuộc nhómCôn trùng ở nước: Phù du (Ephemeroptera), Chuồn chuồn (Odonata), Cánh lông(Tricoptera), Cánh úp (Plecoptera), Cánh nửa (Hemiptera), Cánh cứng (Coleoptera),Hai cánh (Diptera), Cánh rộng (Megaloptera), Cánh vảy (Lepidoptera)

Nghiên cứu về bộ Phù du (Ephemeroptera)

Bộ Phù du là côn trùng có cánh cổ sinh tương đối nguyên thủy, thậm chí cònđược xem như một trong những tổ tiên của côn trùng Dựa vào những bằng chứnghóa thạch, chúng có thể đã phát sinh vào giai đoạn cuối của kỷ Cacbon và đầu kỷPecmơ trong đại Cổ sinh, cách đây khoảng 290 triệu năm [15] Các loài thuộc bộPhù du được mô tả từ rất sớm Công trình nghiên cứu đầu tiên về phân loại học Phù

du là của nhà tự nhiên học nổi tiếng Lineaus (1758) Ông đã mô tả 6 loài Phù du tìmthấy ở châu Âu và xếp chúng vào một nhóm là Ephemera [31]

Nghiên cứu về Phù du thực sự phát triển mạnh mẽ vào thế kỷ XX, điển hình

là các công trình nghiên cứu của Ulmer (1920, 1924, 1925, 1932, 1933), Navás(1920, 1930), Lestage (1921, 1924, 1927, 1930), Needham et al (1935) [12]

Cho đến nay trên toàn thế giới đã có hơn 3000 loài được mô tả thuộc 42 họ

và hơn 400 giống của bộ Phù du Các nghiên cứu về Phù du, đặc biệt là phân loại

Trang 12

học vẫn đang phát triển, vẫn còn nhiều loài chưa được mô tả, nhất là ở các khu vựcnhiệt đới [18].

Đối với khu vực châu Á, những nghiên cứu đầu tiên về Phù du được thựchiện bởi các nhà côn trùng học đến từ châu Âu như: Navás (1922, 1925), Lestage(1921, 1924) [33]

Gần đây, các công trình nghiên cứu đề cập đến khả năng sử dụng Phù du làsinh vật chỉ thị chất lượng môi trường nước vì nhiều loài thuộc bộ Phù du rất nhạycảm với sự biến đổi của môi trường như một số công trình của Landa và Soldan(1991), Bufagni (1997) [34]

Nghiên cứu về bộ Chuồn chuồn (Odonata)

Chuồn chuồn thuộc nhóm côn trùng ăn thịt ngay từ giai đoạn thiếu trùngsống trong nước cho đến giai đoạn trưởng thành Vòng đời của chúng trải qua 3 giaiđoạn: trứng, thiếu trùng, con trưởng thành Thiếu trùng thường sống trong nước, chủyếu ở vùng nhiệt đới hoặc vùng khí hậu ấm, con trưởng thành sống trên cạn BộChuồn chuồn được chia thành 3 phân bộ là: phân bộ Anisozygoptera, phân bộZygoptera (Chuồn chuồn kim) và phân bộ Anisoptera (Chuồn chuồn ngô) Phân bộAnisozygoptera chỉ có 1 giống là Epiophlebia, giống này có một số loài chỉ phân bố

ở độ cao khoảng 2.000m ở những con suối thuộc Nhật Bản và vùng núi cao

Himalaya (Tani & Miyatake, 1979; Kumar & Khanna, 1983) Hai phân bộ còn lạiphân bố rộng cả ở nơi nước đứng cũng như nước chảy với số lượng loài vô cùngphong phú [28]

Ngoài các công trình nghiên cứu về phân loại học còn có những công trìnhnghiên cứu về Sinh học, Sinh thái học và Tập tính sinh học của Corbet (1999),Silsby (2001) [7] Các công trình nghiên cứu này chủ yếu dựa vào giai đoạn trưởngthành Đối với giai đoạn thiếu trùng, Ishida & Ishida (1985) đã xây dựng khóa địnhloại có kèm theo hình vẽ rõ ràng tới giống ở vùng châu Á [1]

Nghiên cứu về bộ Cánh úp (Plecoptera)

Hiện nay, trên thế giới bộ Cánh úp được biết khoảng 2.000 loài và là mộttrong những nhóm côn trùng có các đặc điểm nguyên thủy với nhóm có cánh hiệnnay Hóa thạch của chúng được tìm thấy đầu tiên thuộc kỷ Pecmi, nó có những đặcđiểm khác biệt với Cánh úp hiện đại về số đốt bàn và cánh ở phần ngực (Hynes,1976) [19]

Trang 13

Để nhận dạng bộ Cánh úp, người ta dựa vào một số đặc điểm: chúng có 3 đốtbàn nhưng chân sau không biến đổi để thích hợp theo kiểu nhảy như một số loàithuộc bộ Cánh thẳng (như dế và châu chấu) Chúng có ăng ten dài dạng chỉ, tơ đuôikhá dài đặc biệt là các thiếu trùng ở nước Hầu hết, cánh của các loài thuộc bộ Cánh

úp rất phát triển nhưng đôi khi lại ngắn Các đặc điểm đó dùng để phân biệt chúngvới bộ Cánh màng Ấu trùng bộ Cánh úp trải qua thời gian dài sống ở nước Cácthiếu trùng Cánh úp giống con trưởng thành ở nhiều đặc điểm Thiếu trùng luôn có

tơ đuôi dài và không bao giờ có tơ đuôi ở giữa Mang nếu có, chỉ tìm thấy ở phầnngực và phần bụng được tạo thành giữa các tơ đuôi Thiếu trùng sống chủ yếu ởnước, có một vài loài sống trong đất ẩm (Harpers và Stewart, 1996) [19]

Morse J C., Yang Lianfang & Tian Lixin (1994); Merritt & Cummins (1996)khi nghiên cứu khu hệ Cánh úp ở Trung Quốc và Bắc Mỹ, các tác giả đã xây dựngkhóa định loại tới giống thiếu trùng của bộ này, đó là cơ sở cho việc định loại cácloài thuộc bộ Cánh úp ở Trung Quốc và Bắc Mỹ sau này [28]

Nghiên cứu về bộ Cánh lông (Trichoptera)

Cánh lông là một trong những bộ có số lượng loài phong phú Những nghiêncứu về hệ thống phân loại bậc cao của bộ Cánh lông được thực hiện bởi Ross (1956,1967) và sau đó tiếp tục được bổ sung và hoàn thiện bởi Morse (1997) [22]

Bộ Cánh lông được nghiên cứu ở Đông Nam Á từ rất sớm bởi Ulmer (1911,

1915, 1925, 1927, 1930, 1932) và Navás (1913, 1917, 1922, 1930, 1932) Cánh lông

ở Borneo đã được nghiên cứu khá tỷ mỉ lần đầu bởi Kimmins (1955) Ở Philippin,Banks (1937) là người đầu tiên nghiên cứu khu hệ Cánh lông ở khu vực này Tiếpđến là Ulmer (1955, 1957) nghiên cứu dựa vào giai đoạn ấu trùng Trong khi đó cáchướng nghiên cứu khác lại dựa vào giai đoạn trưởng thành Đặc biệt trong giai đoạngần đây việc nghiên cứu dựa vào giai đoạn trưởng thành lại càng được quan tâmnhư: Kimmis (1953), Banard (1980, 1984), Oláh (1987-1989), Chantaramongkol(1986, 1989, 1995), Malicky (1970, 1979, 1987, 1989, 1992 - 1998, 2002-2004),Malicky và Chantaramongkol (1989, 1991 - 1994, 1996 - 2000), Mey (1989, 1990,

1995 - 1999, 2001 - 2003), Weavers (1985, 1987, 1989, 1992, 1994), Ismail (1993,1996), Scheffer (2001), Armitage và Arefina (2003), Klaithong (2003) [22] Ismail(1993, 1996, 1997) cũng tiến hành nghiên cứu trên ấu trùng Cánh lông tại một sốnước ở khu vực Đông Nam Á [28]

Trang 14

Ngoài các công trình nghiên cứu ở các nước Đông Nam Á, khu hệ Cánh lôngcũng được quan tâm nghiên cứu ở các quốc gia khác như: Ấn Độ, Srilanka đượcnghiên cứu bởi Martynov (1935, 1936), Trung Quốc (Martynov, 1931; Wang,1963), Nhật Bản (Iwata, 1927; Tanida, 1987) Trong giai đoạn hiện nay, hướngnghiên cứu đánh giá chất lượng nước dựa trên đối tượng là các loài thuộc nhóm côntrùng này được nhiều nhà khoa học quan tâm tìm hiểu Do đó, các công trình liênquan đến giai đoạn ấu trùng xuất hiện ngày càng đồ sộ như nghiên cứu của Wiggins(1996) [22] Ở khu vực Bắc Mỹ, Merritt & Cummins (1996), đã xây dựng khóa địnhloại tới giống của bộ Cánh lông ở cả giai đoạn ấu trùng và trưởng thành [27].

Nghiên cứu về bộ Cánh rộng (Megaloptera)

Bộ Cánh rộng được xem là nhóm côn trùng nguyên thủy trong nhóm côntrùng biến thái hoàn toàn Hiện nay, bộ Cánh rộng có khoảng 300 loài được biết trênthế giới và chia thành hai họ là: Corydalidae và Sialidae Giai đoạn trưởng thành ởcạn và ăn thịt, thường hoạt động vào ban đêm Tuy nhiên, giai đoạn ấu trùng lạisống dưới nước và ăn thịt các loài động vật [28]

Số lượng loài thuộc họ Sialidae rất phong phú ở các thủy vực nước ngọt như:sông, suối, hồ nơi có nhiều mùn, các mảnh vụn, cát hoặc sỏi nhỏ Chúng trải qua 5lần lột xác và sống được khoảng 1 năm trong vòng đời của mình Ấu trùng rời khỏicác thủy vực nước ngọt và hóa nhộng Các loài thuộc họ này lại phân bố rất hẹp Ởchâu Á, họ này mới chỉ phân bố ở vùng ôn đới thuộc Hàn Quốc, Nhật Bản và một

số nơi ở Trung Quốc (Bank, 1940) [28]

Nghiên cứu về bộ Cánh cứng (Coleoptera)

Bộ Cánh cứng là bộ lớn nhất trong giới Động vật Hiện nay, số loài thuộc bộcôn trùng này vào khoảng 277.000 đến 350.000 loài và khoảng 10.000 thuộc nhómcôn trùng nước [28] Theo các kết quả nghiên cứu nhóm sống dưới nước được xem

là đa dạng nhất ở khu hệ suối vùng nhiệt đới Hiện nay, các công trình nghiên cứu

về bộ Cánh cứng tập trung vào phân loại học, sinh thái học, tiến hóa như: cácnghiên cứu của Feng (1932, 1933), Gschwendtner (1932), Fernando (1962, 1969),Nertrand (1973), Jach (1984) Heinrich & Balke (1997), Gentuli (1995), Jach & Ji(1995, 1998, 2003) [29] đã cung cấp khá đầy đủ những dẫn liệu về phân loại họccủa bộ Cánh cứng ở châu Á

Wu và cộng sự đã xác định ở Trung Quốc có 601 loài, Sato (1988) đã địnhloại được 311 loài ở Nhật Bản, Britton (1970) xác định ở Úc có khoảng 510 loài

Trang 15

và White (1984) đã phân loại được 1.143 loài ở khu vực Bắc Mỹ thuộc bộ Cánh cứng [30].

Nghiên cứu về bộ Hai cánh (Diptera)

Các nghiên cứu về bộ Hai cánh đã được rất nhiều các nhà khoa học công bố, đặc biệt là các công trình nghiên cứu của Alexander (1931), Mayer (1934), Zwich

& Hortle (1989) [27] Đối với khu vực châu Á, Delfinado & Hardy (1973, 1975,1977) đã tổng hợp một danh lục khá đầy đủ về thành phần loài của bộ Hai cánh ởmiền Ấn Độ - Mã Lai Khóa định loại tới họ và giống hiện nay chủ yếu thực hiệntheo khóa định loại được xây dựng bởi Harris (1990) [28]

Nghiên cứu về bộ Cánh nửa (Hemiptera)

Hiện nay, trên thế giới đã xác định được trên 4.000 loài thuộc bộ Cánh nửasống ở nước (Dudgeon, 1999) Trong đó, khu vực châu Á có số lượng loài chiếm ưuthế, đặc biệt có rất nhiều giống đặc hữu, thậm chí có cả những phân họ đặc hữu ởkhu vực này (Andersen, 1982; Spence & Andersen, 1994) [29]

Các công trình nghiên cứu về bộ Cánh nửa ở châu Á được bắt đầu khá sớmbằng các nghiên cứu của Lundblad (1933), La Rivers (1970), Lansbury (1972,1973) [28] Các họ trong bộ này cũng được nghiên cứu khá tỷ mỷ như: Nepidaeđược nghiên cứu bởi Keffer (1990), Naucoridae là họ rất đa dạng ở vùng nhiệt đớichâu Á đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu như Nieser & Chen (1991,1992), Sites và cộng sự (1997) [29] Merritt & Cummins (1996), Morse et al (1994)

đã xây dựng khóa định loại tới giống của các họ thuộc bộ Cánh nửa ở khu vực Bắc

Mỹ và Trung Quốc [27] [28]

Bộ Cánh nửa bao gồm 3 phân bộ: Gerromorpha, Nepomorpha vàLeptopodomorpha Phân bộ Gerromorpha gồm hầu hết những cơ thể côn trùng sốngtrên bề mặt của nước Trong phân bộ này, có hai họ lớn là Velliidae (trên thế giới cókhoảng 850 loài) và họ Gerridae (khoảng 700 loài) (Chen et al, 2005) Theo Bendell(1988), Damgaard & Andersen (1996) các loài trong họ Gerridae được xem nhưnhững sinh vật chỉ thị cho chất lượng môi trường nước [27]

Nghiên cứu về bộ Cánh vảy (Lepidoptera)

Trong bộ Cánh vảy chỉ có một số loài thuộc họ Pyralidae, Pyraustidae vàCrambidae sống ở nước Ở châu Á, các nghiên cứu về Lepidoptera chủ yếu là vềphân loại học trong đó có các nghiên cứu của Rose & Pajni (1987), Habeck & Solis

Trang 16

(1994) và Munroe (1995) [27] Trong các nghiên cứu này, các tác giả cũng đã thànhlập khóa định loại cụ thể tới loài.

1.1.2 Ở Việt Nam

Ở Việt Nam vấn đề nghiên cứu côn trùng nước đã được một số tác giả đề cậpđến, những nghiên cứu tập trung vào lĩnh vực phân loại học đối với các bộ phổ biếncủa côn trùng nước cũng như những nghiên cứu ảnh hưởng của côn trùng nước tớingười, gia súc các lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, y tế, chăn nuôi, môi trường sửdụng côn trùng nước làm sinh vật chỉ thị Dưới đây là một số kết quả nghiên cứuchính về côn trùng nước ở Việt Nam cho đến giai đoạn hiện nay

Nghiên cứu về bộ Phù du (Ephemeroptera)

Nguyễn Xuân Quýnh và cs (2001), khi xây dựng khoá định loại các nhómđộng vật không xương sống nước ngọt thường gặp ở Việt Nam đã đưa ra khoá địnhloại tới họ ấu trùng Phù du [8]

Nguyen Van Vinh and Yeon Jae Bae (2001, 2003, 2004, 2005, 2006, 2007,2008) ở một số Vườn Quốc gia của Việt Nam Những nghiên cứu này, đã công bốhàng loạt các kết quả về các loài Ephemeroptera ở Việt Nam, và đã bổ sung danhsách thành phần loài, mô tả các loài mới, cũng như xây dựng các khóa định loại tớiloài [31] [32] [34] [35] [36] [37] [38]

Nguyễn Văn Vịnh (2004), khi nghiên cứu về Phù du ở Vườn Quốc gia TamĐảo đã xác định được 32 loài thuộc 24 giống và 8 họ Trong đó, có 10 loài lần đầu

tiên ghi nhận cho Vườn Quốc gia Tam Đảo, Vĩnh Phúc, đó là: Platybaetis edmundsi Muller - Liebenau, 1980; Baetiella trispinata Tong and Dudgeon, 2000; Serratella albostriata Tong and Dudgeon, 2000; Torleya arenosa Tong and Dudgeon, 2000; Cincticostella boja Allen, 1975; Ephemera serica Eaton, 1871; Choroterpes trifrucata Ulmer, 1939; Habrophlebiodes prominens Ulmer, 1939; Caenis cornigera Kang and Yang, 1994; Isonychia formosana Ulmer, 1912 [13].

Nguyễn Văn Vịnh (2005), khi nghiên cứu về Phù du ở Vườn Quốc gia Ba Vì,

Hà Tây đã thu được 27 loài thuộc 22 giống và 9 họ Trong đó có một loài ghi nhận

lần đầu tiên cho khu vực là Teloganodes tristis (Hagen, 1858) [15] Trong khoảng

thời gian này, tác giả cũng tiến hành điều tra thành phần loài Phù du ở một số VườnQuốc gia khác ở Việt Nam [166] [17]

Ở VQG Hoàng Liên được tiến hành với nhiều nghiên cứu khác nhau,Nguyễn Văn Vịnh (2005b) đã xác định được 53 loài thuộc 31 giống và 11 họ Kết

Trang 17

quả đã công bố được 4 loài mới cho khoa học dựa vào các mẫu chuẩn thu được tạiSapa, đó là: Isca fasica Nguyen and Bae, 2003; Rhoenanthus sapa Nguyen and Bae,2004; Afronurus meo, Nguyen and Bae, 2003; Iron longintibius, Nguyen and Bae,2004 Đồng thời, xác định được 10 loài lần đầu tiên ghi nhận cho khu hệ động vậtcủa Việt Nam [14] Jung et al (2008) đã xác định được 53 loài, 30 giống, 9 họ Sovới nghiên cứu trước đó của Nguyễn Văn Vịnh, nghiên cứu này không thu được 02

họ (Prosopistomatidae và Neoephemeridae) và 01 giống [23]

Tuy nhiên, các nghiên cứu trên chỉ được tiến hành ở hệ thống suối MườngHoa mà chưa tiến hành ở các khu vực suối khác Cho đến nghiên cứu của củaNguyễn Văn Hiếu (2016) đã xác định được 78 loài, 43 giống, 13 họ thuộc bộ Phù

du của hệ thống suối thuộc VQG Hoàng Liên, trong đó đã ghi nhận mới cho khu hệ

động vật Việt Nam 20 loài (họ Baetidae: Acentrella lata, Baetis clivisus, Baetis gracilentus, Baetis inornatus, Baetis morrus, Baetis pseudofrequentus, Baetis pseudothermicus, Baetis tatuensis, Baetis terminus, Labiobaetis operosus, Labiobaetis borneoensis, Neobaetiella macani, Nigrobaetis gracientus, Nigrobaetis mundus, họ Ephemerellidae: Drunella ishiyamana và Teloganopsis oriens, họ Heptageniidae: Epeorus nguyenbaeorum, họ Leptophlebiidae: Thraulus macilentus,

họ Siphluriscidae: Siphluriscus chinensis và họ Prosopitomatidae: Prosopistoma sinensis) và 24 loài ghi nhận mới cho VQG Hoàng Liên [3].

Nghiên cứu về bộ Chuồn chuồn (Odonata)

Nghiên cứu về khu hệ thiếu trùng Chuồn chuồn ở Việt Nam còn tản mạn vàchưa thành hệ thống Chủ yếu các nghiên cứu tập trung vào giai đoạn trưởng thành

Bộ Chuồn chuồn ở Việt Nam được nghiên cứu lần đầu tiên vào những năm đầu thậpniên 90 của thế kỷ XX dưới thời Pháp thuộc bởi một số nhà nghiên cứu người Pháp:Martin trong báo cáo được công bố năm 1902 khi điều tra khu hệ động vật ĐôngDương Trong báo cáo này, ông công bố 139 loài thuộc 3 họ: Libellulidae,Aeshnidae và Agrionidae Trong 139 loài, Martin đã mô tả 9 loài mới và một giống

mới là Merogomphus [1].

Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự (2001), khi xây dựng khóa định loại cácnhóm động vật không xương sống nước ngọt thường gặp ở Việt Nam đã xây dựngkhóa định loại tới họ của bộ Chuồn chuồn [8]

Nguyễn Văn Vịnh và cộng sự (2001), trong nghiên cứu khu hệ côn trùngnước ở Vườn Quốc gia Tam Đảo đã xác định được 26 loài thuộc 12 họ của bộ

Trang 18

Chuồn chuồn ở khu vực này Tuy nhiên, do những nghiên cứu về phân loại thiếutrùng chuồn chuồn ở Việt Nam còn ít Do đó, những mẫu vật thu được mới chỉ phânloại đến bậc giống [2].

Nguyễn Thị Minh Huệ (2009) trong nghiên cứu khu hệ côn trùng nước VQGBạch Mã tỉnh Thừa Thiên Huế xác định được 15 loài thuộc 11 họ Cũng trong năm

đó, Nguyễn Văn Hiếu và cộng sự khi nghiên cứu đa dạng côn trùng nước tại VQGTam Đảo đã xác định được 32 loài thuộc 12 họ tại khu vực này [2][6]

Bên cạnh các công trình nghiên cứu về phân loại học nghiên cứu về ứngdụng của bộ Chuồn chuồn đã được đề cập đến trong nghiên cứu của Đặng NgọcThanh và nhóm nghiên cứu (2002), nghiên cứu đã đưa ra những dữ liệu về ấu trùngChuồn chuồn dùng để dánh giá chất lượng môi trường nước

Nghiên cứu về bộ Cánh úp (Plecoptera)

Ở Việt Nam, những nghiên cứu về bộ Cánh úp đã được quan tâm nghiên cứutrong thơi gian gần đây Một vài loài đã được mô tả bởi Kawai (1968, 1969), Zwick(1988), Stark và cộng sự (1999) [19], nhưng tất cả các mẫu vật đều ở giai đoạntrưởng thành Mục đích của những nghiên cứu là nhằm xác định lại và mô tả một sốloài mới thuộc bộ Cánh úp dựa trên những nghiên cứu trước đó và những điều tra vềsau của cả giai đoạn trưởng thành và ấu trùng được thu thập ở Việt Nam Thêm vào

đó là việc xác định khóa định loại tới loài của bộ Cánh úp ở cả giai đoạn trưởngthành và ấu trùng ở Việt Nam cũng như sinh thái, nơi ở của chúng Cao Thị KimThu (2002), đã xây dựng khóa định loại tới loài Cánh úp ở Việt Nam Công trình là

cơ sở khoa học cho các nghiên cứu về bộ Cánh úp ở nước ta [19]

Nguyễn Văn Vịnh và cộng sự (2001), khi nghiên cứu về nhóm côn trùngnước ở Vườn Quốc gia Tam Đảo đã tiến định loại các loài thuộc bộ Cánh úp Kếtquả cho thấy số loài Cánh úp ở Vườn Quốc gia Tam Đảo là 12 loài thuộc 3 họ [13]

Cao Thị Kim Thu (2007) công bố hai loài mới thuộc họ Cánh úp lớn

(Perlidae) cho khu hệ Cánh úp Việt Nam là Agnetina den Cao & Bae, 2007 và Chinoperla rhododendroma Cao & Bae, 2007 [20] Đến 2009, tác giả trong nghiên

cứu thành phần loài họ Perlidae thuộc bộ Cánh úp ở khu vực miền Trung Việt Nam

đã xác định được 22 loài thuộc 10 giống, trong đó có 4 loài mới là Neoperla tamdao, Tyloperla trui, Acroneuria bachma, Chinoperla rhododendrona và 4 loài

lần đầu ghi nhận cho khu hệ Việt Nam Cũng trong năm này đã mô tả thêm hai loài

nữa thuộc giống Acroneuria (Perlidae) và 1 loài thuộc giống Phanoperla [10].

Trang 19

Cao Thị Kim Thu (2011) từ các mẫu vật thu thập được và tham khảo các tàiliệu đã công bố, đã tổng hợp được danh lục gồm 70 loài Cánh úp lớn thuộc 13 giống

ở Việt Nam Do đó, hiện nay đã có 48 loài mới cho khoa học được mô tả từ mẫu vật

và có 55 loài mới chỉ thấy ở Việt Nam mà chưa ghi nhận ở một nơi nào trên thế giới[11]

Nguyễn Văn Hiếu và cs (2015) đã công bố thành phần loài và phân bố của

bộ Cánh úp ở VQG Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai dựa trên mẫu vật thu thập từ năm

2012 đến năm 2013, kết hợp với các mẫu vật đã thu thập từ trước đến nay đangđược lưu giữ tại Phòng Sinh thái môi trường nước, Viện Sinh thái và Tài nguyênsinh vật và tại Bộ môn Động vật Không xương sống, Khoa Sinh học, Trường Đạihọc Khoa học Tự nhiên Ngoài ra, tác giả còn kết hợp với các tài liệu có liên quanđến khu vực nghiên cứu để đưa ra dẫn liệu về thành phần loài Cánh úp Kết quả đãghi nhận được 58 loài, 21 giống, 5 họ thuộc bộ Cánh úp Đây có thể coi là dẫn liệuđầy đủ và cập nhật nhất về thành phần loài bộ Cánh úp tại VQG Hoàng Liên [5].Năm 2016, tác giả cũng đã công bố về thành phần loài Cánh úp tại VQG HoàngLiên, đã có 27 loài thuộc 14 giống và 4 họ được ghi nhận [3]

Nghiên cứu về bộ Cánh lông (Trichoptera)

Ở Việt Nam, bộ Cánh lông được nghiên cứu từ rất sớm Những tài liệu vềCánh lông đã được xuất bản bởi các nhà phân loại học đến từ các nước châu Âunhư: Đức (Ulmer, 1907), Tây Ban Nha (Navás, 1913)

Nguyễn Xuân Quýnh, Clive Pinder, Steve Tilling (2001), đã xây dựng khóađịnh loại tới họ của bộ Cánh lông thường gặp ở nước ta Hoàng Đức Huy (2005) mô

tả đặc điểm hình dạng, cấu tạo ngoài của các loài Cánh lông ở Việt Nam dựa vàogiai đoạn ấu trùng [8]

Năm 2016, Nguyễn Văn Hiếu và cs đã ghi nhận được 36 loài, 35 giống, 17

họ thuộc bộ Cánh lông, trong đó có 1 loài ghi nhận mới cho VQG Hoàng Liên, tỉnhLào Cai [3]

Nghiên cứu về các bộ Cánh cứng, bộ Hai cánh, bộ Cánh nửa, bộ Cánh vảy và bộ Cánh rộng

Ở nước ta, các công trình nghiên cứu về bộ Cánh cứng (Coleoptera), Haicánh (Diptera), bộ Cánh vảy (Lepidoptera) và bộ Cánh rộng (Megaloptera) còn tảnmạn Các nghiên cứu thường không tập trung vào một bộ cụ thể mà thường đi cùngvới các công trình nghiên cứu về khu hệ côn trùng nước nói chung như: Nguyễn

Trang 20

Văn Vịnh (2001) nghiên cứu ở Vườn Quốc gia Tam Đảo [31]; Cao Thị Kim Thu,Nguyễn Văn Vịnh và Yeon Jae Bae (2008) nghiên cứu ở Vườn Quốc gia Bạch Mã[21], Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự (2001) khi định loại các nhóm động vậtkhông xương sống nước ngọt thường gặp ở Việt Nam [8].

Những nghiên cứu đầu tiên về khu hệ Cánh nửa ở Việt Nam được bắt đầuvào những năm đầu của thế kỷ XX Loài đầu tiên thuộc họ Gerridae (Hemiptera)

được mô tả ở Việt Nam là Ptilomera hylactor Breddin, 1903 thuộc Bắc Việt Nam.

Tiếp theo, khu hệ Gerridae ở Việt Nam tiếp tục được mô tả bởi Andersen (1975,

1980, 1993); Andersen & Cheng (2004); Polhemus (2001); Chen & Zettel (1999),Polhemus & Andersen (1994); Polhemus & Karunaratne (1993) [40]

Trần Anh Đức (2008), mô tả khá đầy đủ và chi tiết hình dạng ngoài của cácloài thuộc họ Gerridae ở Việt Nam Đây là cơ sở khoa học cho các nghiên cứu về bộCánh nửa ở nước ta [40]

1.2 Tình hình nghiên cứu về nhóm dinh dưỡng chức năng trên thế giới và ở Việt Nam

1.2.1 Trên thế giới

Phương pháp phân nhóm chức năng dinh dưỡng (Functional Feeding Groups

- FFGs) được Merrit & Cummins (1996) phát triển dựa trên đặc điểm sinh cảnhsống, cấu tạo phần phụ miệng, cách thu nhận thức ăn và loại thức ăn của nhóm côntrùng thủy sinh, đây là nhóm sinh vật chiếm ưu thế trong các quần xã sinh vật thủyvực suối đầu nguồn [24]

Trước đó, các nghiên cứu về nhóm dinh dưỡng chức năng của Cummins et

al (1979, 1989) [24, 25] đã công bố những kết quả bước đầu về các nhóm dinh

dưỡng chức năng của côn trùng nước Sau đó, Cummins et al (2005) đã công bố

các nghiên cứu về lĩnh vực này ở Brazil [26]

Các nhóm côn trùng được chia thành các nhóm chức năng cơ bản: nhóm cắt

xé (shredders: shr) sẽ lấy thức ăn từ các vật chất thô, vật chất rơi rụng (lá, mảnhthân thực vật); nhóm cào nạo (scrappers: scr) lấy thức ăn là nhóm tảo bảm đá; nhómthu lọc (collector - filterer: c-f) lấy thức ăn là các hạt vật chất mịn, lơ lửng trong môitrường nước; nhóm thu gom (collector - gatherers: c-g) thu thập các vật chất ở nềnđáy; nhóm ăn thịt (predators -p) ăn các sinh vật khác như các nhóm côn trùng thủysinh [39]

Trang 21

Hướng tiếp cận côn trùng thuỷ sinh theo nhóm chức năng dinh dưỡng (FFGs)cung cấp nhiều thông tin về quá trình chuyển hoá vật chất hữu cơ, mối quan hệ dinhdưỡng, các dòng năng lượng có trong dòng chảy.

1.2.2 Ở Việt Nam

Tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu về nhóm chức năng dinh dưỡng củacôn trùng thủy sinh đã được một số nhà nghiên cứu tiến hành Tuy nhiên các nghiêncứu mới chỉ được thực hiện tại các dòng chảy đầu nguồn và hầu hết đều tập trungkhảo sát sự đa của côn trùng thủy sinh và khái quát về đánh giá chất lượng nướcsạch [9]

Tại khu vực nghiên cứu có nhiều dạng thủy vực khác nhau, trong đó thủyvực dạng suối tương đối đa dạng và phong phú Các suối này là điều kiện rất tốt cho

sự phát triển của các loài thủy sinh vật nói chung và các loài côn trùng nước nóiriêng Tuy nhiên, cho đến nay các nghiên cứu về nhóm côn trùng nước ở khu vựcnày mới chỉ tập trung nghiên cứu đa dạng sinh học về loài ở các suối thuộc Trạm Đadạng sinh học Mê Linh [30] hoặc đa dạng sinh học về loài Phù du [4] mà chưanghiên cứu về nhóm côn trùng nước trong toàn bộ khu vực, đặc biệt các nghiên cứu

về phân bố và cấu trúc nhóm dinh dưỡng chức năng của chúng ở khu vực này còn ít

và tản mạn

Trang 22

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu

Trong nghiên cứu này, sử dụng mẫu côn trùng nước thu được tại suối chảyqua rừng tự nhiên thuộc xã Ngọc Thanh, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc; mẫunày được bảo quản và lưu trữ tại phòng thí nghiệm Động vật, Khoa Sinh - Kỹ thuậtnông nghiệp, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

2 Phạm vi, thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Phạm vi nghiên cứu:

Đa dạng sinh học và đặc điểm nhóm dinh dưỡng chức năng của côn trùngnước tại suối chảy qua rừng tự nhiên thuộc Trạm đa dạng Sinh học Mê Linh, xãNgọc Thanh, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc

- Thời gian nghiên cứu:

Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 9/2017 đến tháng 5/2019 Mẫu vật sửdụng trong nghiên cứu được thu ngoài thực địa: đợt 1 từ ngày 09/09/2017 đến ngày23/09/2017; đợt 2 ngày 19/03/2018 đến ngày 24/03/2018 Các điểm nghiên cứuthuộc suối chảy qua rừng tự nhiên thuộc Trạm đa dạng Sinh học Mê Linh, xã NgọcThanh, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc

Toàn bộ mẫu vật thu ngoài tự nhiên được bảo quản và lưu trữ tại Phòng thínghiệm Động vật, Khoa Sinh - kỹ thuật nông nghiệp, Trường Đại học Sư phạm HàNội 2

- Địa điểm nghiên cứu:

Mười điểm nghiên cứu được ký hiệu từ R1 đến R10 thuộc suối khác nhau ởTrạm Đa dạng sinh học Mê Linh, xã Ngọc Thanh, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnhphúc Trước khi tiến hành thu mẫu, ghi lại một số đặc điểm sinh cảnh, hình ảnhchính của khu vực nghiên cứu

Điểm 1 (Ký hiêu R1): Độ cao: 136 m, Tọa độ: N: 21023’- 40,7”,E:105042’59,9” Độ rộng của suối từ 2 - 3m Hai bên suối có nhiều cây cỏ, cây bụi

và cây gỗ lớn nhỏ Nền đáy của suối chủ yếu là đá lớn và sỏi Suối nhiều bã mùnthực vật Độ che phủ 60% - 80%

Điểm 2 (Ký hiệu R2): Độ cao: 128 m, tọa độ: N: 21023’49,7”,E:105042’56,6” Độ rộng dòng nước từ 2,5-3m Hai bên suối có rừng cây bui, rừng

Trang 23

tre, nứa và cây gỗ nhỏ và trung bình Nền đáy chủ yếu là đá nhỏ, ít đá tảng lớn Suốinhiều mùn bã thực vật Độ che phủ 80 - 90%.

Điểm 3 (Ký hiệu R3): Độ cao: 117m, tọa độ: N: 21023’57, 3”,E:105042’52, 6” Độ rộng dòng nước từ 3-5m Hai bên suối có rừng cây bụi, rừng tre,nứa và cây gỗ nhỏ và trung bình Nền đáy chủ yếu là đá nhỏ, đá tảng lớn Suối nhiềumùn bã thực vật Độ che phủ 90 - 95%

Điểm 4 (Ký hiệu R4): Độ cao: 104m, tọa độ: N: 21023’37,0”, E:105042’52,3”

Độ rộng của suối từ 2- 4m; hai bên suối có rừng cây gỗ nhỏ, cây bụi và dây leo Nềnđáy chủ yếu là đá tảng, đá nhỏ Suối nhiều mùn bã thực vật Độ che phủ 80-90%

Điểm 5 (Ký hiệu R5): Độ cao: 90m, tọa độ: N: 21023,601’; E: 105042,871’

Độ rộng của suối khoảng 7 – 8 m; hai bên suối là rừng nguyên sinh, độ sâu của suốikhoảng 0,2 – 0,5 m vào mùa khô và 0,4 – 0,7 m vào mùa mưa Nền đáy chủ yếu là

đá tảng, đá cuội xen lẫn sỏi nhỏ và cát Độ che phủ 70 – 80%

Điểm 6 (Ký hiệu R6): Độ cao: 85m, tọa độ N: 21023,438’; E: 105042,778’

Độ rộng của suối khoảng 2 – 3,5 m Hai bên suối là rừng nguyên sinh, độ sâu củasuối khoảng 0,3 – 0,6m nền đáy của suối chủ yếu là đá tảng xen lẫn có sỏi nhỏ vàcát, lượng bùn đất khá nhiều, nước suối tương đối đục Độ che phủ khoảng 10 –20%

Điểm 7 (Ký hiệu R7): Độ cao: 83m, tọa độ N: 21023,377’; E: 105042,767’

Độ rộng của suối khoảng 5.5 – 7,5m Hai bên suối là rừng nguyên sinh, độ sâu củasuối khoảng 0,2 – 0,5 m Nền đáy của suối chủ yếu là đá tảng xen lẫn có sỏi nhỏ vàcát Độ che phủ khoảng 60 – 70%

Điểm 8 (Ký hiệu R8): Độ cao: 82m, tọa độ N: 21023,318’; E: 105042,756’

Độ rộng của suối khoảng 4 – 4,5m Một bên suối là đường mòn, một bên là rừngnguyên sinh, độ sâu khoảng 0,4 – 0,6 m Nền đáy của suối chủ yếu là đá tảng, đácuội xen lẫn có sỏi nhỏ và cát Trong suối có nhiều cây bụi thủy sinh, cao khoảng0,5 – 0,8 m Độ che phủ là 40 – 50%

Điểm 9 (Ký hiệu R9): Độ cao: 77m, tọa độ N: 21023,242’; E: 105042,772’

Độ rộng của suối khoảng 4 – 5m Suối chảy qua cổng Trạm, độ sâu khoảng 0,2 –0,5m Nền đáy của suối chủ yếu là đá cuội, đá tảng và sỏi nhỏ Độ che phủ 30 –50%

Trang 24

Điểm 10 (Ký hiệu R10): Độ cao: 59m, tọa độ: N: 21023’10,3”,E:105042’45,0” Độ rộng của suối từ 3 - 4m Hai bên suối có rừng cây gỗ nhỏ và gỗlớn Nền đáy chủ yếu là đá tảng, đá nhỏ Suối nhiều mùn bã thực vật Độ che phủ 70

- 90%

3 Phương pháp nghiên cứu

3.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài tự nhiên

Thu mẫu ngoài tự nhiên được tiến hành theo phương pháp của MerrittCummins (1996) [27], Morse et al [28] (1994), Nguyen (2003) [33]

Trước khi thu mẫu, tiến hành xác định tọa độ và độ cao của điểm thu mẫubằng thiết bị GPS MAP 78 của Đức

Quá trình thu mẫu định tính bằng vợt ao (Pond net) và vợt cầm tay (Handnet) Thu mẫu định lượng bằng cách sử dụng lưới Surber Sample (diện tích thu mẫu

là 0,1 m2; kích thước mắt lưới 250µm)

Tiến hành thu mẫu bằng cách: đặt miệng vợt ngược dòng nước, dùng chânđạp phía trước vợt trong vòng vài phút (thu mẫu đạp nước) Ở nơi có nhiều bụi câydùng vợt tay để thu mẫu Ở những nơi đáy có đá lớn không thu mẫu đạp nước đượcthì nhấc đá và thu mẫu bám ở dưới bằng panh mềm để tránh làm nát mẫu

Mẫu định tính được thu ở các điểm bất kì, ở nhiều nơi có cây bụi thủy sinhdùng vợt sục vào các cây bụi đó và các rễ cây ven bờ suối, ở những vùng nước nhỏhoặc dòng chảy hẹp việc thu mẫu được tiến hành bằng vợt cầm tay

Đối với mẫu định lượng, sử dụng lưới Surber lấy 5 mẫu Diện tích thu mẫu là0,1m2 Như vậy, tổng diện tích thu mẫu cho mẫu định lượng tại mỗi điểm là 0,5m2

Mẫu sau khi thu được loại bỏ rác, làm sạch bùn đất Do các cá thể côn trùngnước có cơ thể mềm, dễ nát nên thu mẫu phải nhẹ nhàng và nhặt qua mẫu ngay tạithực địa Mẫu thu ngoài thực địa được bảo quản trong cồn 800, ghi etiket đầy đủ vàđem về lưu trữ, bảo quản, phân tích và định loại tại phòng thí nghiệm Động vật,Khoa Sinh - Kỹ Thuật nông nghiệp, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

3.2 Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm

Phương pháp nhặt mẫu: mẫu được rửa sạch cho ra khay thêm ít nước Dùngpanh nhặt hết các ấu trùng và thiếu trùng côn trùng nước cần nghiên cứu cho vào lọ

và bảo quản trong cồn 800

Trang 25

Phương pháp phân tích: Dụng cụ phân tích gồm: kính hiển vi, kính lúp, đĩaPetri, lam kính, lamen, kim nhọn, panh…

Phân loại mẫu vật: mẫu vật được phân loại theo các khóa định loại đượccông bố trong và ngoài nước của Nguyễn Văn Vịnh (2003) [33], Cao Thị Kim Thu(2002) [19], Hoàng Đức Huy (2005) [22], Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự (2001)[8], Meritt và Cummins (1996) [27], Morse et al (1994) [28]

3.3 Phương pháp đánh giá đa dạng sinh học

Chỉ số Shannon – Weiner (chỉ số H’) nhằm xác định lượng thông tin hay

tổng lượng trật tự (hay bất trật tự) có trong một hệ thống Chỉ số Shannon – Weinerđược tính bằng cách lấy số lượng cá thể của một đơn vị phân loại chia cho tổng số

cá thể trong mẫu, sau đó nhân với logarit cơ số e của tỷ số đó Tổng các đơn vị phânloại cho chỉ số đa dạng Công thức để tính chỉ số này là:

=1

Với H’: chỉ số đa dạng loài

s: số lượng loàiN: số lượng cá thể trong toàn bộ mẫu

ni: số lượng cá thể của loài iHai thành phần của sự đa dạng được kết hợp trong hàm Shannon – Weiner là

số lượng loài và tính bình quân của sự phân bố các cá thể giữa các loài Do vậy, sốlượng loài càng cao thì chỉ số H’ càng lớn và sự phân bố các cá thể giữa các loàicàng ngang bằng nhau thì cũng gia tăng chỉ số đa dạng loài được xác định thông quahàm số Shannon – Weiner

Từ kết quả tính toán, có thể nhận xét về mức độ đa dạng theo các cấp sauđây:

Trang 26

Chỉ số loài ưu thế 1 + 2

Trong đó: n1: số lượng cá thể của loài ưu thế thứ nhất

n2: số lượng cá thể của loài ưu thế thứ hai

N: tổng số cá thể trong điểm thu mẫu

3.4 Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu thu thập được xử lý qua bảng biểu, sơ đồ, đồ thị biểu diễn số lượng

và biến động số lượng Các số liệu được xử lý bằng phần mềm Microsoft office exel

km về phía Bắc Với diện tích 170,3 ha trong đó chiều dài khoảng 3.000 m, chiềurộng trung bình khoảng 550m (chỗ rộng nhất khoảng 800m, chỗ hẹp nhất khoảng300m)

Khu vực Trạm có tọa độ:

21o23’57’’ - 21o23’35’’ vĩ độ Bắc

105o42’40’’ – 105o42’40’’ kinh độ Đông

+ Phía Bắc giáp huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên

+ Phía Đông và phía Nam giáp hợp tác xã Đồng Trầm, xã Ngọc Thanh, thành phốPhúc Yên

+ Phía Tây giáp vùng ngoại vi Vườn Quốc gia Tam Đảo, huyện Tam Đảo, tỉnh VĩnhPhúc

Trang 27

4.2 Địa hình

Đây thuộc vùng bán sơn địa phía Bắc huyện Mê Linh, là phần kéo dài vềphía Đông Nam của dãy Tam Đảo, có địa hình đồi và núi thấp với xu hướng thấpdần từ Bắc xuống Nam

Địa hình khu vực nghiên cứu phần lớn là đất dốc, độ chia cắt sâu với nhiềudốc phụ gần như vuông góc với dốc chính, độ dốc trung bình từ 15 - 30o, nhiều nơidốc đến 30 - 35o, điểm cao nhất là 520 m (điểm cực đông thuộc đỉnh núi Đá trắng)

Ở khu vực Trạm các bãi bằng rất ít nằm rải rác dọc theo ven suối phía Tây

4.3.2 Thổ nhưỡng

Nhìn chung các loại đá mẹ khá cứng, thành phần khoáng có nhiều Thạchanh, Muscovit, khó phong hóa, hình thành nên các loại đất có thành phần cơ giớinhẹ, cấp hạt thô, dễ bị rửa trôi và xói mòn, nhất là những nới dốc cao bị xói mònmạnh để trở lại phần đá rất cứng (điển hình là khu vực từ độ cao 300 – 400 m)

Theo nguồn gốc phát sinh trong vùng có hai loại đất chính sau:

- Ở độ cao trên 300 m là đất Feralit mùn vàng Đất có màu vàng ưu thế do độ

ẩm cao, hàm lượng sắt di động và nhôm tích lũy cao Do đất phát triển trên đáMacma axit kết tinh chua kết tinh chua nên tầng đất, thành phần cơ giới nhẹ, tầngmùn, không có tầng thảm mục, đá lộ đầu nhiều trên 75%

- Ở độ cao dưới 300 m là đất Feralit mùn đỏ vàng phát triển trên nhiều loại

đá khác nhau, đất có khả năng hấp thụ không cao do có nhiều khoáng sét phổ biến

là Kaolimit

Trang 28

Ngoài ra còn có đất dốc tụ phù sa ven suối ở độ cao dưới 100 m Thành phần

cơ giới của loại đất là trung bình, tầng đất dày, độ ẩm cao, màu mỡ, đã được khaiphá để trồng lúa và hoa màu Đất thuộc loại chua với độ pH 3,5 – 5,5 độ dày tầngđất trung bình 30 – 40 cm

4.4 Khí hậu – thủy văn

Đây là vùng nhiệt đới gió mùa, nằm trong vùng khí hậu chung của đồng bằngBắc Bộ, nhiệt độ trung bình hang năm là 22 – 230C, tập trung không đều, tháng cónhiệt độ cao là tháng 6, tháng 7 và tháng 8 Còn mùa lạnh vào các tháng 12, tháng 1

và tháng 2 Nhiệt độ cao điểm trong các tháng nóng nực lên đến 400C, nhiệt độ lạnhnhất tới 40C Nhìn chung nhiệt dộ trung bình vào mùa hè từ 27 – 290C, trung bìnhvào mùa đông là 16 – 170C

Lượng mưa từ 1.100 – 1.600 mm/năm, phân bố không đều, tập trung vàomùa hè từ tháng 6 - 8 hàng năm, ở đây có 2 mùa gió thổi rõ rệt là giá mùa Đông Bắc(từ tháng 10 đến 3 năm sau) và gió mùa Đông Nam (từ tháng 4 đến tháng 9)

Trang 29

CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Thành phần loài côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu

Kết quả phân tích mẫu thu được tại các điểm nghiên cứu thuộc suối chảy quarừng tự nhiên thuộc Trạm đa dạng Sinh học Mê Linh, xã Ngọc Thanh, thành phốPhúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đã xác định được 144 loài thuộc 124 giống, 58 họ của 9

bộ côn trùng nước Số lượng loài, giống và họ cụ thể của từng bộ phận được trìnhbày trong bảng 3.1

Bảng 3.1 Số lượng và tỷ lệ (%) các taxon thuộc các bậc phân loại

của côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu

Ngày đăng: 05/12/2019, 20:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Huy Chiến (2007), Nghiên cứu đa dạng sinh học Động vât không xương sống cửa sông Cả và một số đầm nuôi tôm phụ cận ven biển Nghệ An – Hà Tĩnh, Luận án Tiến sỹ Sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Huy Chiến (2007), "Nghiên cứu đa dạng sinh học Động vâtkhông xương sống cửa sông Cả và một số đầm nuôi tôm phụ cận ven biển Nghệ An– Hà Tĩnh
Tác giả: Nguyễn Huy Chiến
Năm: 2007
2. Nguyễn Văn Hiếu (2009), Nghiên cứu đa dạng sinh học côn trùng nước ở Vườn Quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc, Luận văn Thạc sỹ Sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Văn Hiếu (2009), "Nghiên cứu đa dạng sinh học côn trùng nướcở Vườn Quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc
Tác giả: Nguyễn Văn Hiếu
Năm: 2009
3. Nguyễn Văn Hiếu (2016), Nghiên cứu đa dạng sinh học ba bộ côn trùng nước: Phù du (Ephemeroptera), Cánh úp (Plecoptera) và Cánh lông (Trichoptera) ở Vườn Quốc gia Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai, Luận án Tiến sĩ sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Văn Hiếu (2016), "Nghiên cứu đa dạng sinh học ba bộ côntrùng nước: Phù du (Ephemeroptera), Cánh úp (Plecoptera) và Cánh lông(Trichoptera) ở Vườn Quốc gia Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai
Tác giả: Nguyễn Văn Hiếu
Năm: 2016
4. Nguyễn Văn Hiếu (2017), “Thành phần loài và ảnh hưởng bởi tác động của con người đến Phù du (Ephemeroptera: Insecta) ở xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc”, Hội nghị Côn trùng học Quốc gia lần thứ 9, Nhà xuất bản Nông nghiệp: 73-80 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Văn Hiếu (2017), “Thành phần loài và ảnh hưởng bởi tác độngcủa con người đến Phù du (Ephemeroptera: Insecta) ở xã Ngọc Thanh, thị xã PhúcYên, tỉnh Vĩnh Phúc"”, Hội nghị Côn trùng học Quốc gia lần thứ 9
Tác giả: Nguyễn Văn Hiếu
Nhà XB: Nhà xuất bảnNông nghiệp: 73-80
Năm: 2017
5. Nguyễn Văn Hiếu, Cao Thị Kim Thu, Nguyễn Văn Vịnh (2015),“Thành phần loài và phân bố của bộ Cánh úp (Insecta: Plecoptera) ở Vườn quốc gia Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai”, Báo cáo Khoa học về Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Hội nghị Khoa học toàn quốc lần thứ VI, Nhà xuất bản Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, tr: 137-142 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Văn Hiếu, Cao Thị Kim Thu, Nguyễn Văn Vịnh (2015),“Thành phần loài và phân bố của bộ Cánh úp (Insecta: Plecoptera) ở Vườn quốc giaHoàng Liên, tỉnh Lào Cai”, "Báo cáo Khoa học về Sinh thái và Tài nguyên sinh vật,Hội nghị Khoa học toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Nguyễn Văn Hiếu, Cao Thị Kim Thu, Nguyễn Văn Vịnh
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học Tự nhiên và Côngnghệ
Năm: 2015
6. Nguyễn Thị Minh Huệ (2009), Nghiên cứu đa dạng sinh học côn trùng nước ở Vườn quốc gia Bạch Mã, tỉnh Thừa Thiên Huế, Luận văn thạc sĩ khoa học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thị Minh Huệ (2009), "Nghiên cứu đa dạng sinh học côn trùngnước ở Vườn quốc gia Bạch Mã, tỉnh Thừa Thiên Huế
Tác giả: Nguyễn Thị Minh Huệ
Năm: 2009
7. Đặng Quốc Quân (2008), Đa dạng về bộ Chuồn chuồn (Odonata – Insecta) tại Vườn Quốc gia Tràm Chim, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp, Luận văn Thạc sỹ Sinh học, Trường Đại học Khoa học tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặng Quốc Quân (2008), "Đa dạng về bộ Chuồn chuồn (Odonata –Insecta) tại Vườn Quốc gia Tràm Chim, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp
Tác giả: Đặng Quốc Quân
Năm: 2008
8. Nguyễn Xuân Quýnh, Clive Pinder, Steve Tilling (2001), Định loại các nhóm động vật không xương sống nước ngọt thường gặp ở Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Xuân Quýnh, Clive Pinder, Steve Tilling (2001), "Định loại cácnhóm động vật không xương sống nước ngọt thường gặp ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Xuân Quýnh, Clive Pinder, Steve Tilling
Nhà XB: Nhà xuất bảnĐại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
9. Bùi Ngọc Minh Thông, Hoàng Trọng Khiêm, Hoàng Đức Huy (2015),“Cấu trúc nhóm dinh dưỡng chức năng của côn trùng thủy sinh tại thượng nguồn sông Đa Nhim, tỉnh Lâm Đồng”, Tạp chí phát triển Khoa học & Công nghệ, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh 18 (3), tr. 25-35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc nhóm dinh dưỡng chức năng của côn trùng thủy sinh tại thượng nguồnsông Đa Nhim, tỉnh Lâm Đồng”, "Tạp chí phát triển Khoa học & Công nghệ, Đạihọc Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh 18 (3)
Tác giả: Bùi Ngọc Minh Thông, Hoàng Trọng Khiêm, Hoàng Đức Huy
Năm: 2015
10. Cao Thị Kim Thu (2009), “Dẫn liệu bước đầu về thành phần loài họ Cánh úp lớn (Perlidae, Plecoptera) ở các tỉnh miền Trung Việt Nam”, Báo cáo khoa học về sinh thái và tài nguyên sinh vật, Hội nghị Khoa học toàn quốc lần thứ 3, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr . 370-374 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn liệu bước đầu về thành phần loài họCánh úp lớn (Perlidae, Plecoptera) ở các tỉnh miền Trung Việt Nam”, "Báo cáo khoahọc về sinh thái và tài nguyên sinh vật, Hội nghị Khoa học toàn quốc lần thứ 3
Tác giả: Cao Thị Kim Thu
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2009
11. Cao Thị Kim Thu (2011), “Danh lục các loài thuộc họ Cánh úp lớn (Perlidae, Plecoptera, Insecta) ở Việt Nam”, Báo cáo Khoa học về Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Hội nghị Khoa học toàn quốc lần thứ 4, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 380-389 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh lục các loài thuộc họ Cánh úp lớn(Perlidae, Plecoptera, Insecta) ở Việt Nam”, "Báo cáo Khoa học về Sinh thái và Tàinguyên sinh vật, Hội nghị Khoa học toàn quốc lần thứ 4
Tác giả: Cao Thị Kim Thu
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2011
12. Hoàng Đình Trung (2012), Nghiên cứu thành phần loài, phân bố và vai trò chỉ thị môi trường của ba bộ côn trùng ở nước (Bộ Phù du, Bộ Cánh úp và Bộ Cánh lông) vùng Bạch Mã – Hải Vân, Luận án Tiến sỹ Sinh học, Trường Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thành phần loài, phân bố và vaitrò chỉ thị môi trường của ba bộ côn trùng ở nước (Bộ Phù du, Bộ Cánh úp và BộCánh lông) vùng Bạch Mã – Hải Vân
Tác giả: Hoàng Đình Trung
Năm: 2012
13. Nguyễn Văn Vịnh (2004), “Dẫn liệu về Phù du (Ephemeroptera:Insecta) ở suối Thác Bạc, Vườn Quốc gia Tam Đảo, Vĩnh Phúc”, Tạp chí khoa học, Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 71 – 75 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn liệu về Phù du (Ephemeroptera:Insecta) ở suối Thác Bạc, Vườn Quốc gia Tam Đảo, Vĩnh Phúc”, "Tạp chí khoa học
Tác giả: Nguyễn Văn Vịnh
Năm: 2004
14. Nguyễn Văn Vịnh (2005), “Kết quả điều tra thành phần Phù du (Insecta: Ephemeroptera) tại Sa Pa, Lào Cai”, Báo cáo khoa học Hội nghị Côn trùng học toàn quốc lần thứ 5, Nhà xuất bản Nông nghiệp, tr. 261-265 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả điều tra thành phần Phù du(Insecta: Ephemeroptera) tại Sa Pa, Lào Cai”, "Báo cáo khoa học Hội nghị Côntrùng học toàn quốc lần thứ 5
Tác giả: Nguyễn Văn Vịnh
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2005
15. Nguyễn Văn Vịnh (2005), “Dẫn liệu về Phù du (Ephemeroptera, Insecta) ở Vườn Quốc gia Ba Vì, Hà Tây”, Báo cáo khoa học về Sinh thái và tài nguyên sinh vật, Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội, tr. 266 – 268 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn liệu về Phù du (Ephemeroptera,Insecta) ở Vườn Quốc gia Ba Vì, Hà Tây”, "Báo cáo khoa học về Sinh thái và tàinguyên sinh vật
Tác giả: Nguyễn Văn Vịnh
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2005
16. Nguyễn Văn Vịnh (2007), “Kết quả bước đầu nghiên cứu thành phần loài Phù du (Insecta: Ephemeroptera) tại Vườn Quốc gia Bi Doup – Núi Bà, tỉnh Lâm Đồng”, Những vấn đề nghiên cứu cơ bản trong Khoa học sự sống, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, tr. 210 – 212 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả bước đầu nghiên cứu thành phầnloài Phù du (Insecta: Ephemeroptera) tại Vườn Quốc gia Bi Doup – Núi Bà, tỉnhLâm Đồng”, "Những vấn đề nghiên cứu cơ bản trong Khoa học sự sống
Tác giả: Nguyễn Văn Vịnh
Nhà XB: Nhà xuấtbản Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2007
17. Nguyễn Văn Vịnh (2008), “Thành phần loài và phân bố theo độ cao của bộ Phù du (Insecta: Ephemeroptera) tại Vườn Quốc gia Bạch Mã, Thừa Thiên – Huế”, Báo cáo khoa học Hội nghị Côn trùng học toàn quốc lần thứ 6, Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội, tr. 399 – 406 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phần loài và phân bố theo độ cao củabộ Phù du (Insecta: Ephemeroptera) tại Vườn Quốc gia Bạch Mã, Thừa Thiên –Huế”, "Báo cáo khoa học Hội nghị Côn trùng học toàn quốc lần thứ 6
Tác giả: Nguyễn Văn Vịnh
Nhà XB: Nhà xuất bảnNông nghiệp Hà Nội
Năm: 2008
19. Cao T.K.T. (2002), Systematics of the Plecoptera (Insecta) in Vietnam, Thesis for the Master’s degree, Department of Biology, The Graduate School of Seoul Women’s University, Korea Sách, tạp chí
Tiêu đề: Systematics of the Plecoptera (Insecta) in Vietnam
Tác giả: Cao T.K.T
Năm: 2002
20. Cao T. K. T. and Bae Y. J. (2007d), “Chinoperlar hododendrona, a new species of Perlidae (Insecta: Plecoptera) from Vietnam”, Intergrative Biosciences, 11(2), pp. 125 – 128 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chinoperlar hododendrona, a newspecies of Perlidae (Insecta: Plecoptera) from Vietnam”, "Intergrative Biosciences
21. Cao T.K.T., Nguyen V.V. and Bae Y.J. (2008), “Aquatic Insect Fauna of Bach Ma National Park in Thua Thien – Hue Province, Vietnam”, Proceedings of the 3nd International Symposium on Aquatic Entomology in East Asia (AESEA), 3, pp. 3 – 20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Aquatic Insect Fauna ofBach Ma National Park in Thua Thien – Hue Province, Vietnam”, "Proceedings ofthe 3nd International Symposium on Aquatic Entomology in East Asia (AESEA)
Tác giả: Cao T.K.T., Nguyen V.V. and Bae Y.J
Năm: 2008

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w