1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Xử lý chất thải rắn thông thường theo pháp luật bảo vệ môi trường việt nam hiện nay từ thực tiễn huyện vân đồn, tỉnh quảng ninh

82 88 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 845,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, các hoạt động về xử lý chất thải rắn thông thường của huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh còn nhiều bất cập, các quy định của pháp luật về xử lý chất thải rắn thông thường còn nhiều

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HOÀNG ANH TUẤN

XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN THÔNG THƯỜNG THEO PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VIỆT NAM HIỆN NAY, TỪ THỰC TIỄN

HUYỆN VÂN ĐỒN, TỈNH QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ

HÀ NỘI, 2019

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HOÀNG ANH TUẤN

XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN THÔNG THƯỜNG THEO PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VIỆT NAM HIỆN NAY, TỪ THỰC TIỄN

HUYỆN VÂN ĐỒN, TỈNH QUẢNG NINH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài “Xử lý chất thải rắn thông thường theo pháp luật bảo vệ môi trường Việt Nam hiện nay từ thực tiễn huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh” là nghiên cứu của riêng tôi Các nội dung kết quả nhiên cứu trong đề tài này là trung thực và chưa công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Các số liệu, ví dụ trích dẫn phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau, đảm bảo tính chính xác, trung thực và tin cậy

Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã hoàn thành việc thanh toán các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Học viện Khoa học Xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam

Vậy tôi viết lời cam đoan này đề nghị Học viện Khoa học Xã hội xem xét để tôi có thể được bảo vệ Luận văn

Hà Nội, ngày tháng 6 năm 2019

Học viên thực hiện

Hoàng Anh Tuấn

Trang 4

Cuối cùng, tác giả nhận thấy đề tài nghiên cứu đã chọn lựa mặc dù không phải là đề tài mới, nhưng trên thực tế rất ít công trình nghiên cứu về đề tài cũng như liên quan đến đề tài và cũng không có nhiều văn bản quy phạm pháp luật quy định về lĩnh vực xử lý chất thải rắn thông thường Tác giả đã cố gắng hoàn thiện luận văn cả về nội dung cũng như hình thức nhưng vẫn không tránh khỏi những thiếu sót Do vậy, tác giả kính mong nhận được sự quan tâm, nhận xét của các Thầy, Cô trong Hội đồng bảo vệ về công trình nghiên cứu Thông qua đó, tác giả sẽ rút ra được những bài học kinh nghiệm, khắc phục thiếu sót để hoàn thiện luận văn cũng như các công trình nghiên cứu sau này

Xin trân trọng cảm ơn! Tác giả

Hoàng Anh Tuấn

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN THÔNG THƯỜNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN THÔNG THƯỜNG 7

1.1.Một số vấn đề cơ bản về chất thải rắn thông thường và xử lý chất thải rắn thông thường 7

1.2 Một số vấn đề lý luận về pháp luật xử lý chất thải rắn thông thường 17

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật về xử lý chất thải rắn thông thường 27

Kết luận chương 1 28

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN THÔNG THƯỜNG, TỪ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI HUYỆN VÂN ĐỒN, TỈNH QUẢNG NINH 30

2.1 Thực trạng pháp luật xử lý chất thải rắn thông thường 30

2.2 Thực trạng thực hiện pháp luật về xử lý chất thải rắn thông thường tại huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh 45

Kết luận chương 2 54

CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN THÔNG THƯỜNG TẠI HUYỆN VÂN ĐỒN, TỈNH QUẢNG NINH 55

3.1 Định hướng hoàn pháp luật về xử lý chất thải rắn thông thường 55

3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về xử lý chất thải rắn thông thường tại huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh 58

Kết luận chương 3 67

KẾT LUẬN 70

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 73

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CNH,HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Tình hình thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện

năm 2017: 50

Bảng 2.2 Thực trạng chi phí cho công tác thu gom, vận chuyển, xử lý CTR

sinh hoạt tại các đô thị trên địa bàn: 51

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Như chúng ta đã biết, môi trường sống là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, sức khỏe của con người, vấn đề ô nhiễm môi trường đang là chủ đề nóng trên các mặt báo và nhận được rất nhiều sự quan tâm của người dân Trong đó, đặc biệt là vấn đề gây ô nhiễm môi trường do chất thải rắn thông thường ở Việt Nam đã và đang ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn Thông qua các phương tiện truyền thông, chúng ta có thể dễ dàng thấy được các hình ảnh, cũng như các bài báo phản ánh về thực trạng môi trường hiện nay Mặc dù các cơ quan có thẩm quyền, các ban ngành, đoàn thể ra sức kêu gọi bảo vệ môi trường nhưng chưa đủ để cải thiện tình trạng ô nhiễm môi trường, khiến ô nhiễm môi trường ngày càng trở nên báo động và trầm trọng hơn

Tình trạng quy hoạch các khu đô thị chưa gắn liền với vấn đề xử lý chất thải, xử lý nước thải, vẫn còn tồn đọng nên tại các thành phố lớn, các khu công nghiệp, khu đô thị, ô nhiễm môi trường đang ở mức báo động Theo ước tính, trong tổng số 183 khu công nghiệp trong cả nước thì có trên 60% khu công nghiệp chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung Tại các đô thị, chỉ có khoảng 60% - 70% chất thải rắn được thu gom, cơ sở hạ tầng thoát nước và xử lý nước thải, chất thải nên chưa thể đáp ứng được các yêu cầu về bảo vệ môi trường Hầu hết lượng nước thải bị nhiễm dầu mỡ, hóa chất tẩy rửa, hóa phẩm nhuộm, chưa được xử lý đều đổ thẳng ra các sông, hồ tự nhiên Một ví dụ đã từng được dư luận quan tâm thì trường hợp sông Thị Vải

Trang 9

bị ô nhiễm bởi hóa chất thải ra từ nhà máy của công ty bột ngọt Vedan suốt 14 năm liền1

Năm 2009 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định phê duyệt quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020

và tầm nhìn đến năm 2030 và Vân Đồn được làm nơi thử nghiệm mô hình phát triển mới Khu hành chính - Kinh tế đặc biệt xuất phát từ chính ưu thế về

vị trí địa kinh tế - chính trị của Vân Đồn Với xứ mệnh to lớn, một tương lai

về sự phát triển kinh tế - xã hội nhanh của Vân Đồn trong thời gian qua và sắp tới sẽ tác động mạnh đến tài nguyên và đặt ra nhiều vấn đề môi trường, nổi cộm nhất là việc quản lý và xử lý chất thải rắn, đặc biệt là chất thải rắn thông thường phát sinh từ các hoạt động sản xuất, đô thị, du lịch sẽ ngày càng nhiều

và việc thu gom, xử lý nó đang ngày càng trở nên cấp bách

Hiện nay, các hoạt động về xử lý chất thải rắn thông thường của huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh còn nhiều bất cập, các quy định của pháp luật về

xử lý chất thải rắn thông thường còn nhiều hạn chế, chưa đầy đủ gây ra rất nhiều khó khăn cho các chủ thể trong quá trình xử lý Vì thế việc hoàn thiện pháp luật về xử lý chất thải rắn thông thường là một nhu cầu cấp thiết trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam Chính vì những lý do trên, tác giả quyết định lựa chọn đề tài “Xử lý chất thải rắn thông thường theo pháp luật Bảo vệ môi trường Việt Nam hiện nay từ thực tiễn huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh” làm luận văn thạc sĩ

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề xử lý chất thải rắn nói chung và chất thải rắn thông thường nói riêng đang được Nhà nước và các cơ quan tổ chức quan tâm điều này được

1 trang-o-nhiem-moi-truong-o-viet-nam-va-cac-giai-phap-khac-phuc-60.html

Trang 10

http://socongthuong.tuyenquang.gov.vn/tin-tuc-su-kien/nang-luong-moi-truong/thuc-thể hiện thông qua việc rất nhiều tác giả đã thực hiện các công trình nghiên cứu khoa học vấn đề này, cụ thể như:

- Nguyễn Văn Phước , “Nghiên cứu, đánh giá thực trạng chất thải rắn

Đề xuất các giải pháp quản lý phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương đến năm 2010” luận văn thạc sĩ ( năm 2006)

- Lưu Việt Hùng, “ Pháp luật về quản lý chất thải rắn thông thường tại việt nam” luận văn thạc sĩ ( năm 2010)

- Phan Thị Ngân “ Pháp luật về quản lý chất thải qua thực tiễn thực hiện tại thàn phố đà nẵng” luận văn thạc sĩ ( năm 2019)

Bên cạnh đó còn có khoá luận tốt nghiệp của các sinh viên Trường Đại

học Luật Hà Nội: Phạm Thị Liễu, Đánh giá các quy định của pháp luật về

quản lý chất thải năm 2008 Ngoài ra các nhà khoa học đã có những bài viết

đăng trên các tạp chí chuyên ngành Có thể kể đến một số bài viết như: Lê

Kim Nguyệt, Một cơ chế phù hợp cho quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam

đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp tháng 11 năm 2002; Tuy nhiên, hầu hết những bài viết này mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu, đánh giá công tác quản lý chất thải, mà không đi sâu phân tích vào công việc xử lý chất thải Mặc dù giai đoạn xử lý chất thải thuộc công việc quản lý chất thải, nhưng xét

về yếu tố tác động đến môi trường thì giai đoạn xử lý chất thải trực tiếp ảnh hưởng đến môi trường như tác động trực tiếp Bởi, chỉ khi xử lý chất thải tốt, đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật thì sẽ đảm bảo được chất lượng chất thải được

xử lý và đảm bảo môi trường sống tốt nhất có thể Vì vậy với đề tài “Pháp luật về quản lý chất thải rắn thông thường tại Việt Nam” tôi mong muốn đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình vào việc hoàn thiện pháp luật về quản lý chất thải

Trang 11

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu:

Mục đích nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật xử lý chất thải rắn thông thường tại huyện Vân Đồn, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về xử lý chất thải rắn thông thường nhằm mục tiêu phát triển bền vững

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nhiệm vụ nghiên cứu luận văn có nhiệm vụ làm sáng tỏ các khái niệm

cơ bản về chất thải rắn thông thường, xử lý chất thải rắn thông thường; nghiên cứu khái niệm pháp luật, nguyên tắc và nội dung pháp luật về xử lý chất thải rắn thông thường, phân tích các yếu tố tác động đến pháp luật về xử lý chất thải rắn thông thường; phân tích, đánh giá thực trạng và thực trạng thực hiện pháp luật về xử lý chất thải rắn thông thường; đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về xử lý chất thải rắn thông thường và nêu các giải pháp hoàn thiện nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về xử lý chất thải rắn thông thường

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quan điểm , luận điểm, các văn bản pháp luật, các số liệu, báo cáo thực tiễn về xử lý chất thải rắn thông thường theo pháp luật bảo vệ môi trường Việt Nam hiện nay từ thực tiễn huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh

4.1.2 Phạm vi nghiên cứu

Chất thải rắn thông thường là loại chất thải được phát sinh từ rất nhiều nguồn khác nhau Song, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu về xử lý hai loại chất thải rắn hiện phát sinh nhiều nhất là: chất thải rắn công nghiệp thông thường và chất thải rắn sinh hoạt thông thường theo pháp luật bảo vệ môi trường Việt Nam hiện nay, đề cập đến các vấn đề pháp lý liên quan đến xử lý

Trang 12

chất thải rắn thông thường từ thực tiễn áp dụng tại địa bàn huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh

Thời gian: Số liệu nghiên cứu từ năm 2016-2018, giải pháp tới 2030

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Luận văn dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp luật, các quan điểm của Đảng, Nhà nước về bảo

vệ môi trường, về pháp luật về xử lý chất thải rắn thông thường

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết các vấn đề do đề tài đặt ra, người viết luận văn sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, phương pháp khảo sát thực tiễn và đánh giá, phương pháp phân tích…

- Phương pháp tổng hợp, qui nạp được sử dụng chủ yếu trong việc đưa

ra những kết luận của từng chương và kết luận chung của luận văn

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Luận văn là công trình khoa học có ý nghĩa nhất định trong việc làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn về xử lý chất thải rắn thông thường tại huyện Vân Đồn hiện nay

Trang 13

Các kết quả nghiên cứu của Luận văn này có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cơ sở đào tạo và nghiên cứu về Luật học Một số kiến nghị của đề tài có giá trị tham khảo đối với các cơ quan xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường, pháp luật về xử lý chất thải nói chung và pháp luật về xử lý chất thải rắn thông thường nói riêng

7 Cơ cấu của Luận văn

Ngoài mục lục, danh mục các từ viết tắt, lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo luận văn được kết cấu 3 chương như sau:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về xử lý chất thải rắn thông thường và pháp luật xử lý chất thải rắn thông thường

Chương 2: Thực trạng pháp luật xử lý chất thải rắn thông thường và thực tiễn thực hiện tại huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh

Chương 3: Định hướng hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về xử lý chất thải rắn thông thường tại huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh

Trang 14

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN THÔNG THƯỜNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN

THÔNG THƯỜNG 1.1.Những vấn đề lý luận về chất thải rắn thông thường và xử lý chất thải rắn thông thường

1.1.1 Khái niệm chất thải rắn thông thường

- Khái niệm chất thải:

Theo cách hiểu thông thường thì Chất thải là những vật và chất mà người dùng không còn muốn sử dụng và thải ra, tuy nhiên trong một số ngữ cảnh nó có thể là không có ý nghĩa với người này nhưng lại là lợi ích của người khác.Trong cuộc sống, chất thải được hình dung là những chất không còn được sử dụng cùng với những chất độc được xuất ra từ chúng

Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học định nghĩa “Chất thải là rác

và những đồ vật bị bỏ đi nói chung” Khái niệm này đưa ra hai tiêu chí để

phân biệt chất thải với vật chất tồn tại dưới dạng khác, đó là Thứ nhất, chất

thải tồn tại dưới dạng vật chất; Thứ hai, các vật chất (đồ vật không có giá trị,

không có tác dụng và không bị chiếm hữu, sử dụng nữa.Từ điển môi trường Anh - Việt và Việt Anh định nghĩa “chất thải (watste) là bất kỳ chất gì, rắn, lỏng hoặc khí mà cơ thể hoặc hệ thống sinh ra nó không còn sử dụng được nữa và cần có biện pháp thải bỏ” Theo khái niệm này các yếu tố để phân biệt

chất thải, đó là: Thứ nhất, chất thải là vật chất tồn tại dưới dạng rắn, lỏng, khí; Thứ hai, vật chất đó không còn giá trị sử dụng đối với cơ thể hoặc hệ thống sinh ra nó; Thứ ba, phải có biện pháp thải bỏ đối với vật chất đó

Khái niệm chất thải cũng được sử dụng trong pháp luật quốc tế về môi trường, được đề cập tại Công ước Basel Điều 2 khoản 1 Công ước Basel Khái niệm chất thải còn được đề cập trong pháp luật của khối liên kết chính

Trang 15

trị - kinh tế Liên minh Châu Âu (EU) Điều 1 Nghị định 259/93 của EU về vận chuyển chất thải ngày 1/2/1993 có hiệu lực từ ngày 6/5/1994 và Điều 3 khoản 1 Luật khuyến khích kinh tế tuần hoàn và đảm bảo xử lý các chất thải phù hợp với môi trường ngày 27/9/1994 được sửa đổi bổ sung ngày 25/8/1998 của CHLB Đức Cả hai định nghĩa trên đều có một điểm chung là “vật chất được xác định là chất thải khi nó nằm trong Phụ lục I của Luật” Như vậy, cả hai luật này đều quan tâm đến việc đưa vật chất nào và không đưa vật chất nào vào trong Phụ lục của mình Giả sử có những vật chất chưa được đưa vào Phụ lục nhưng nó lại có nguy cơ gây ảnh hưởng đến môi trường khi chủ sở hữu thải bỏ thì sẽ được xác định như thế nào, đây là hạn chế mà các nhà làm luật cần phải bổ sung Hơn nữa, điều này sẽ khó khi áp dụng vào Việt Nam bởi chung ta chưa đảm bảo được yếu tố về mặt kỹ thuật, công nghệ khi xác định các dạng vật chất nằm trong danh mục chất thải thuộc sở hữu của các chủ thể khác nhau Pháp luật Việt Nam có quy định khác so với hai văn bản pháp luật trên, pháp luật Việt Nam đã liệt kê cụ thể các dạng vật chất phát sinh trong các hoạt động của con người và tồn tại dưới các dang khác nhau: Khí, lỏng, rắn… khoản 2 Điều 2 Luật bảo vệ môi trường (BVMT) 1993, khoản 10 Điều 3 Luật BVMT 20052, khoản 12 Điều 3 Luật BVMT 2014 đều đưa ra định nghĩa về chất thải rắn

Khoản 12 Điều 3 Luật BVMT năm 2015 thì chất thải được định nghĩa như sau: Chất thải là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác.Từ những định nghĩa nêu trên, các chất được coi là chất thải khi thoả mãn các điều kiện sau:

- Chất thải là vật chất, các yếu tố phi vật chất không thuộc phạm trù chất thải, ví dụ: các mối quan hệ xã hội, yếu tố tinh thần;

2 Lưu Việt Hùng , Pháp luật về quản lý chất thải rắn thông thường tại Việt Nam ( Luận văn thạc sĩ năm

Trang 16

- Chất thải được hiểu là các vật chất mà con người thải ra từ nhà sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác3

Từ các định nghĩa và dựa vào các tiêu chí khác nhau ta có thể phân loại chất thải thành các nhóm loại khác nhau:

Dựa vào dạng tồn tại của chất thải, chất thải tồn tại dưới dạng rắn (chất thải rắn), lỏng (chất thải lỏng), khí (khí thải), nhiệt lượng, tiếng ồn…

Phụ thuộc vào sự độc hại của chất thải, chất thải bao gồm chất thải độc hại nguy hiểm và chất thải thông thường

Phụ thuộc vào nguồn sản sinh chất thải, chất thải được chia thành chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp, chất thải y tế…

Phụ thuộc vào chu trình sản sinh ra chất thải, chất thải bao gồm nguyên liệu thứ phẩm, phế liệu, vật liệu thứ phẩm, sản phẩm, đồ vật hư hỏng hoặc quá hạn sử dụng

Tùy thuộc vào mức độ nguy hại của chất thải, chất thải được phân laoị thành chất thải thông thường và chất thải nguy hại

- Khái niệm chất thải rắn

Theo cách tiếp cận chung nhất, chất thải rắn được hiểu là tất cả các chất thải phát sinh do các hoạt động của con người và động vật tồn tại ở dạng rắn, được thải bỏ khi không còn hữu dụng hay khi không muốn dùng nữa

Dưới góc độ pháp lý, Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn hoặc sệt (còn gọi là bùn thải) được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác (Theo quy định tại Điều 3 Khoản 1 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu)

Ví dụ: giấy báo, rác sân vườn, đồ đạc đã sử dụng, bì nhựa, rác sinh hoạt

và bất cứ những gì mà con người loại ra môi trường

3

http://khpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/hoi-dap-phap-luat-bao-ve-moi-truong.aspx?ItemID=174

Trang 17

Có nhiều cách phân loại chất thải rắn, ví dụ như phân loại theo nguồn gốc phát sinh, phân loại theo thành phần hóa học, theo tính chất độc hại, theo khả năng công nghệ xử lý và tái chế…

Phân loại theo nguồn gốc phát sinh: Chất thải rắn đô thị: chất thải từ hộ gia đình, chợ, trường học, cơ quan; Chất thải rắn nông nghiệp: rơm rạ, trấu, lõi ngô, bao bì thuốc bảo vệ thực vật; …

Phân loại theo thành phần hóa học: Chất thải rắn hữu cơ: chất thải thực phẩm, rau củ quả, phế thải nông nghiệp, chất thải chế biến thức ăn; …

Phân loại theo tính chất độc hại: Chất thải rắn thông thường: giấy, vải, thủy tinh; Chất thải rắn nguy hại: chất thải công nghiệp nguy hại, chất thải nông nghiệp nguy hại, chất thải y tế nguy hại…

Phân loại theo công nghệ xử lý hoặc khả năng tái chế: Chất phải phân hủy sinh học, phân thải khó phân hủy sinh học; Chất thải cháy được, chất thải không cháy được; Chất thải tái chế được: kim loại, cao su, giấy, gỗ…

Khi tính toán các yếu tố công nghệ cho quá trình xử lý chất thải rắn người ta thường nói đến một số tính chất của nó như tỷ trọng,độ ẩm, độ xốp, kích thước trung bình… Trong trường hợp công nghệ nhiệt phân được lựa chọn người ta còn quan tâm đến các tính chất khác của chất thải như nhiệt trị, nhiệt dung riêng, độ cháy, độ tro, thàn phần cháy4 Mỗi loại chất thải rắn sẽ có khối lượng, nhiệt ẩm, chất trơ, độ trị và thành phần cháy khác nhau Khi thu gom chất thải rắn, các công ty môi trường sẽ phân loại dựa vào tính chất để dễ dàng xử lý hơn

- Khái niệm chất thải rắn thông thường

Như đã trình bày ở trên, nếu phân loại chất thải theo tính chất độc hại của chúng, chất thải gồm chất thải thông thường và chất thải nguy hại Dưới

Trang 18

góc độ pháp lý, tại Khoản 2 Điều 3 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu có giải thích: Chất thải thông thường là chất thải không thuộc danh mục chất thải nguy hại hoặc thuộc danh mục chất thải nguy hại nhưng có yếu tố nguy hại dưới ngưỡng chất thải nguy hại Như vậy, để hiểu được rõ hơn về chất thải rắn thông thường thì trước hết tác giả xin được đề cập khái niệm chất thải nguy hại

Thứ nhất, khái niệm chất thải nguy hại:

Trên thế giới thì thuật ngữ chất thải nguy hại đã được đề cập đến từ rất lâu Tuy nhiên, tại các quốc gia khác nhau thì đều có quan điểm khác nhau về

thuật ngữ này, chẳng hạn như: Tại Philiphin: Chất thải nguy hại là những chất

có độc tính, ăn mòn, gây kích thích, họat tính,có thể cháy, nổ mà gây nguy hiểm cho con người, và động vật

Ở Canada: Chất thải nguy hại là những chất mà do bản chất và tính

chất của chúng có khảnăng gây nguy hại đến sức khỏe con người và/hoặc môi trường Và những chất này yêu cầu các kỹ thuật xử lý đặc biệt để lọai bỏ hoặc giảm đặc tính nguy hại của nó

Tác giả cho rằng việc quy định chất thải nguy hại phụ thuộc vào trình

độ phát triển kinh tế, các lĩnh vực kinh tế và ý chí của nhà làm luật của từng quốc gia Tại Việt Nam đứng trước phát triển của các ngành công nghiệp hiện nay, kéo theo đó là sự sản sinh ra nhiều chất thải nguy hại cả về số lượng lẫn chất lượng đòi hỏi nhà nước ta phải đưa ra khái niệm cụ thể của chất thải nguy hại phù hợp với hoàn cảnh đất nước để có những biện pháp xử lý hợp lý

Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2014 quy định: Chất thải nguy hại là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, lây nhiễm, dễ cháy, dễ nổ, gây ăn mòn, gây ngộ độc hoặc có đặc tính nguy hại khác Biểu hiện cụ thể các đặc tính của chất thải nguy hại gồm:

Trang 19

Một là, có độc tính: Đầu tiên là độc tính cấp, các chất thải có thể gây tử

vong, tổn thương nghiêm trọng hoặc có hại cho sức khỏe qua đường ăn uống,

hô hấp hoặc qua da Độc tính từ từ hoặc mạn tính, các chất thải có thể gây ra các ảnh hưởng từ từ hoặc mạn tính, kể cả gây ung thư, do ăn phải, hít thở phải hoặc ngấm qua da Sinh khí độc, các chất thải chứa các thành phần mà khi tiếp xúc với không khí hoặc với nước sẽ giải phóng ra khí độc, gây nguy hiểm đến con người và sinh vật Đặc biệt là ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng

Hai là, có độc tính sinh thái: Các chất thải có thể gây ra các tác hại

nhanh chóng hoặc từ từ đối với môi trường thông qua tích lũy sinh học gây tác hại đến các hệ sinh vật

Ba là, tính dễ lây nhiễm: Chất thải nếu không được quản lý chặt chẽ,

không đảm bảo an toàn trong thu gom, lưu giữ, vận chuyển, xử lý thì các rủi

ro, sự cố sẽ gây hậu quả rất nghiêm trọng, ảnh hưởng đến môi trường sống và sức khỏe cộng đồng Tùy thuộc vào đặc tính và bản chất của chất thải mà khi thải vào môi trường sẽ gây nên các tác động khác nhau, lan truyền bệnh

Bốn là, tính ôxy hóa: Chất thải có khả năng nhanh chóng thực hiện phản ứng ôxy hóa tỏa nhiệt mạnh khi tiếp xúc với các chất khác, có thể gây ra hoặc góp phần đốt cháy các chất đó, sẽ gây ra cháy nổ, gây nhiễm độc nguồn nước và không khí

Năm là, tính ăn mòn: Các chất hoặc hỗn hợp các chất có tính axít mạnh

(pH bằng 2 hoặc nhỏ hơn 2), hoặc kiềm mạnh (pH bằng 12,5 hoặc lớn hơn 12,5) Việc ăn mòn có thể gây cháy da, ảnh hưởng đến phổi và mắt, gây hư hại vật liệu công trình

Sáu là, tính dễ nổ: Các chất thải ở thể rắn hoặc lỏng có thể nổ do kết

quả của phản ứng hóa học khi tiếp xúc với lửa hoặc do bị va đập, ma sát sẽ tạo ra các loại khí ở nhiệt độ, áp suất và tốc độ gây thiệt hại cho môi trường

Trang 20

xung quanh Chính vì dễ nổ nên chúng có thể gây tổn thương da, bỏng và thậm chí là tử vong; phá hủy công trình và thậm chí chết người

Bảy là, tính dễ cháy: Chất thải lỏng có nhiệt độ bắt cháy thấp hơn 60 độ

C, chất rắn có khả năng tự bốc cháy hoặc phát lửa do bị ma sát, hấp thu độ

ẩm, do thay đổi hóa học tự phát trong các điều kiện bình thường, khí nén có thể cháy Đặc tính dễ cháy sẽ gây ra hỏa hoạn, bỏng, làm ô nhiễm không khí

và nguồn nước

Với những đặc tính này của chất thải nguy hại đã thấy rõ sự khác biệt với chất thải thông thường Trong khi chất thải nguy hại gây nguy hiểm cho sức khỏe con người và động vật thì chất thải không thuộc danh mục chất thải nguy hại hoặc thuộc danh mục chất thải nguy hại nhưng có yếu tố nguy hại dưới ngưỡng chất thải nguy hại

Thứ hai, khái niệm chất thải rắn thông thường

Thuật ngữ CTRTT được sử dụng nhiều trên thực tế và tại một số văn bản quy phạm pháp luật Tại Việt Nam, như đã đề cập ở trên, thuật ngữ này được giải thích tại Nghị định số 38/2015/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu Theo đó: Chất thải thông thường là chất thải không thuộc danh mục chất thải nguy hại hoặc thuộc danh mục chất thải nguy hại nhưng có yếu tố nguy hại dưới ngưỡng chất thải nguy hại

Như vậy, có thể hiểu chất thải rắn thông thường trước hết phải là chất thải rắn; CTRTT không phải là chất thải nguy hại đặc điểm này để phân biệt với chất thải rắn nguy hại Từ các phân tích trên, CTRTT được định nghĩa như sau: Chất thải rắn thông thường là một dạng vật chất ở thể rắn, không phải là thể lỏng, thể khí, không có chứa các hợp chất đến chưa đến mức có thể gây nguy hại môi trường và sức khỏe con người ví dụ: chất thải xây dựng - vôi vữa, gạch ngói vỡ, bê tông, ống dẫn nước bằng sành sứ, tấm lợp, thạch

Trang 21

cao; Chất thải rắn như sắt thép kim loại bị gỉ cũ kĩ gây ít hoặc không nguy hại nhưng chúng cần phải được xử lý dọn dẹp hay tái chế cẩn thận

Đứng trước thực trạng về tốc độ phát triển kinh tế và ngành nghề kinh

tế hiện nay, lượng chất thải rắn trong đó có chất thải rắn thông thường ngày càng nhiều điều này buộc chúng ta phải có giải pháp và được thải ra từ các hoạt động khác nhau của con người

Theo Luật BVMT 2014, CTRTT được phân thành hai nhóm chính: + Chất thải có thể dùng để tái chế, tái sử dụng;

+ Chất thải phải tiêu huỷ hoặc chôn lấp

1.1.2 Khái niệm xử lý chất thải rắn thông thường

Xử lý chất thải rắn thông thường, hiểu ở góc độ kỹ thuật, là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật để làm giảm, loại bỏ, cô lập, cách ly, thiêu đốt, tiêu hủy, chôn lấp chất thải rắn thông thường và các yếu tố có hại trong chất thải

Quá trình xử lý chất thải rắn thông thường là một giai đoạn thuộc công việc quản lý chất thải Chất thải rắn thông thường cũng như các loại chất thải

là nguyên nhân chính gây ra ô nhiễm môi trường, gây hiệu ứng nhà kính Cho nên việc xử lý nó bằng nhiều phương pháp khác nhau sẽ làm giảm chất độc đó

và giảm ảnh hưởng đến môi trường xung quanh Chẳng hạn, xử lý bằng phương pháp thiêu đốt sẽ chuyển chất thải thành dạng khí có thể kiểm soát được nên cũng giảm thiểu nguy cơ ô nhiễm Đây là phương pháp mang lại hiệu quả xử lý nhanh nhất Hay sử dụng phương pháp chôn lấp vệ sinh, nghĩa

là các chất thải được chôn sâu xuống lòng đất và được phủ lấp bên trên Phương pháp này cũng có khả năng kiểm soát được sự phân hủy của chất thải nên cũng giảm thiểu nguy cơ ô nhiễm môi Việc áp dụng các biện pháp xử lý chất thải rắn thông thường phụ thuộc vào loại chất thải rắn, nhu cầu, mức độ đầu tư, điều kiện kinh tế của từng địa phương

Trang 22

Đây là cách hiểu xử lý chất thải rắn thông thường ở góc độ kỹ thuật Trong luận văn, tác giả tiếp cận xử lý chất thải nói chung, xử lý chất thải rắn thông thường nói riêng như là một khâu không thể thiếu của quá trình quản lý chất thải và được tiếp cận dưới góc độ pháp lý

Nghị định số 38/2015/ NĐ-CP có giải thích khái niệm xử lý chất thải như sau: Xử lý chất thải là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật (khác với sơ chế) để làm giảm, loại bỏ, cô lập, cách ly, thiêu đốt, tiêu hủy, chôn lấp chất thải và các yếu tố có hại trong chất thải Do vậy, tôi cho

rằng, xử lý chất thải rắn thông thường là quá trình sử dụng các giải pháp

công nghệ, kỹ thuật để làm giảm, loại bỏ, cô lập, cách ly, thiêu đốt, tiêu hủy, chôn lấp chất thải rắn thông thường và các yếu tố có hại trong chất thải rắn thông thường nhằm phòng ngừa ô nhiễm môi trường, bảo vệ sức khỏe cộng đồng Khái niệm này có thể được hiểu cụ thể như sau:

* Chủ thể thực hiện xử lý chất thải rắn thông thường: là chủ nguồn thải, các cơ quan nhà nước, chủ thể có thẩm quyền Cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong xử lý chất thải rắn thông thường gồm các cơ quan trung ương như: Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Tổng cục Môi trường, các Bộ ngành liên quan Ví dụ Bộ Y tế quản lý nhà nước về chất thải trong lĩnh vực y tế… Các cơ quan địa phương, như: Ủy ban nhân dân các cấp, Sở, Phòng, Ban giúp việc cho Ủy ban nhân dân các cấp trong quản lý nhà nước về môi trường Còn các chủ thể có thẩm quyền, như Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, Lãnh đạo các Sở, phòng,… Bên cạnh đó, để xử lý có hiệu quả chất thải rắn thông thường cần nhấn mạnh đến vai trò của các chủ thể khác, như: tổ chức xã hội, cộng đồng dân cư, truyền thông báo chí;

Trang 23

* Mục đích của xử lý chất thải rắn thông thường: nhằm bảo vệ, ngăn

ngừa ô nhiễm môi trường và bảo vệ sức khỏe cộng đồng, bảo đảm quyền

được sống trong môi trường trong lành;

* Công cụ phương tiện quản lý là: công cụ pháp lý, như: quy chuẩn kỹ

thuật đối với xử lý chất thải rắn thông thường, báo cáo đánh giá ĐTM, công

cụ quan trắc môi trường, công cụ kinh tế, như hạn ngạch phát thải, sức chịu

tải của môi trường, các yếu tố thị trường xã hội

* Nội dung của xử lý chất thải rắn thông thường, bao gồm các hoạt

động làm giảm, loại bỏ, cô lập, cách ly, thiêu đốt, tiêu hủy, chôn lấp chất thải

rắn thông thường và các yếu tố có hại trong chất thải rắn thông thường

1.1.3 Mục đích của việc xử lý chất thải rắn thông thường

Thứ nhất, việc xử lý chất thải làm giảm nguy cơ ô nhiễm môi trường

Các chất thải là nguyên nhân chính gây ra ô nhiễm môi trường như hiện nay

Cho nên việc xử lý nó bằng nhiều phương pháp khác nhau sẽ làm giảm nguy

cơ gây ô nhiễm môi trường và giảm ảnh hưởng đến môi trường xung quanh

Với viêc xử lý bằng phương pháp thiêu đốt sẽ chuyển chất thải nguy

hại thành dạng khí có thể kiểm soát được nên cũng giảm thiểu nguy cơ ô

nhiễm Đây là phương pháp mang lại hiệu quả xử lý nhanh nhất

Hay sử dụng phương pháp chôn lấp vệ sinh, nghĩa là các chất thải được

chôn sâu xuống lòng đất và được phủ lấp bên trên Phương pháp này cũng có

khả năng kiểm soát được sự phân hủy của chất thải nên cũng giảm thiểu nguy

cơ ô nhiễm môi trường

Thứ hai, tận dụng việc xử lý chất thải phục vụ đời sống con người Trong quá trình xử lý chất thải người ta phân chia thành 2 loại, một loại chất

thải có thể tái chế lại và một loại không thể tái chế Đối với những loại có thể

dùng tái chế lại thì sẽ được chuyển đến các khu tái chế hợp vệ sinh để tiến

hành xử lý và tạo ra những sản phẩm khác phục vụ đời sống của con người

Trang 24

Còn đối với các chất thải không thể tái chế thì sẽ tiến hành xử lý để giảm nguy cơ ảnh hưởng đến cuộc sống con người Tuy nhiên trong quá trình

xử lý những chất thải đó con người cũng vẫn có thể tận dụng được những lợi ích của nó mang lại Ví dụ như trong khi sử dụng các chất thải nguy hại bằng phương pháp thiêu đốt sẽ tận dụng được nguồn năng lượng trong quá trình đốt

để phục vụ cho các lò sưởi, các ngành công nghiệp cần nhiều nhiệt…Hay như việc xử lý chất thải trong chăn nuôi bằng việc xây dựng hầm BIOGAS sẽ tạo

ra chất đốt dùng để nấu nướng cũng rất hiệu quả, giúp con người tiết kiệm chi phí trả tiền khí đốt hàng tháng nếu như dùng gas

1.2 Những vấn đề lý luận về pháp luật xử lý chất thải rắn thông thường

1.2.1 Khái niệm, nội dung điều chỉnh của pháp luật về xử lý chất thải rắn thông thường

Trên cơ sở nội hàm của xử lý chất thải rắn thông thường như đã trình

bày trên, tôi cho rằng: Pháp luật về xử lý chất thải rắn thông thường là một hệ

thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình xử lý chất thải rắn thông thường nhằm phòng ngừa ô nhiễm môi trường, bảo vệ sức khỏe cộng đồng

Nội dung điều chỉnh của pháp luật về xử lý chất thải rắn thông thường bao gồm các quy định về trách nhiệm, về nghĩa vụ của các cơ quan nhà nước, chủ nguồn thải và vai trò của các chủ thể khác trong xử lý chất thải rắn thông thường Trong đó cần xác lập rõ quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân chủ nguồn thải trong suốt quá trình phòng ngừa (từ giai đoạn đầu tư, đánh giá tác động môi trường) đến giai đoạn vận hành sản xuất kinh doanh thì chủ nguồn thải phải phân loại, tập trung, lưu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, xử lý chất thải rắn thông thường Bên cạnh đó, cũng cần có các quy định về tổ chức

và hoạt động của các cơ quan nhà nước, chủ thể có thẩm quyền trong ban hành quy chuẩn về chất thải rắn thông thường, đánh giá tác động môi trường

Trang 25

đối với chất thải, cấp, thu hồi giấy phép xả thải, giám sát, thanh tra, kiểm tra các hoạt động của các chủ nguồn thải, khoanh vùng ngăn chặn kịp thời các ô nhiễm môi trường, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về xả chất thải rắn

thông thường Ngoài ra, pháp luật điều chỉnh hoạt động của các chủ thể khác

tham gia vào quá trình xử lý chất thải rắn thông thường (như các tổ chức chính trị, tổ chức xã hội, cộng đồng dân cư, truyền thông, ) trong giám sát hoạt động đầu tư, hoạt động xả thải của các doanh nghiệp

Như vậy, các mối quan hệ được điều chỉnh trong xử lý CTRTT bao gồm:

Một là: Quan hệ giữa chủ xử lý CTRTT với Nhà nước Với tư cách là

chủ thể quản lý mang tính quyền lực và đại diện cho lợi chung của cộng đồng, Nhà nước cần kiểm soát các điều kiện đảm bảo an toàn cho môi trường và cộng đồng trong quá trình tiến hành các hoạt động xử lý CTRTT Sự kiểm soát này được thực hiện thông qua hoạt động thẩm định các điều kiện xử lý CTRTT, hay giám sát việc đảm bảo các điều kiện đó trong suốt quá trình hoạt động tại các cơ sở xử lý CTRTT Mối quan hệ giữa chủ xử lý CTRTT với các

cơ quan quản lý nhà nước về CTRTT phát sinh từ yêu cầu đó Điều chỉnh mối quan hệ này, pháp luật quản lý CTRTT thường bao gồm các quy phạm pháp luật về về các hoạt động kiểm tra, giám sát của Nhà nước đối với các cơ sở xử

lý CTRTT thông qua chế độ báo cáo định kỳ…

Hai là: Quan hệ giữa chủ xử lý CTRTT với chủ vận chuyển CTRTT và

chủ nguồn thải CTRTT Mối quan hệ này phát sinh trong quá trình chủ xử lý CTRTT tiếp nhận CTRTT từ chủ vận chuyển CTRTT và hoàn tất hợp đồng

xử lý CTRTT với chủ nguồn thải CTRTT Các mối quan hệ này được điều chỉnh chủ yếu thông qua quy định về trách nhiệm chuyển giao CTRTT giữa chủ vận chuyển CTRTT và chủ xử lý CTRTT

Trang 26

Cũng giống như Việt Nam, điều chỉnh các mối quan hệ trên và đảm bảo phù hợp với các yêu cầu về kỹ thuật của xử lý, tiêu hủy CTRTT, pháp luật về

xử lý, tiêu hủy CTRTT của nhiều quốc gia trên thế giới cũng đã có những quy định cụ thể Chẳng hạn như:

Từ năm 1990, Cộng hòa Liên bang Đức đã coi giảm thiểu, tái chế và tái

sử dụng chất thải (3R: Reduce – Recycle – Reuse) là khái niệm quản lý chất thải tổng hợp Khái niệm này sau đó đã trở thành nguyên tắc cơ bản trong chính sách và pháp luật của quốc gia này về quản lý chất thải Đạo luật quản

lý và khép kín vòng tuần hoàn chất thải năm 1996 đã quy định các hoạt động quản lý, tái chế chất thải một cách an toàn, có chất lượng cao Bên cạnh đó, việc áp dụng các biện pháp nhằm tránh phát sinh chất thải như thu hồi sản phẩm hết hạn sử dụng của các nhà sản xuất, tiền cược bao bì… cũng đã được

áp dụng Đạo luật xe cộ thải loại của Đức ban hành năm 2002 còn quy định rõ trách nhiệm thu hồi xe cũ trong cả nước của các hãng sản xuất ô tô Theo ước tính, tỷ lệ tái chế và tái sử dụng các vật liệu từ xe cũ ở quốc gia này đạt tới 80% (năm 2006) Mục tiêu mà người Đức đặt ra là con số này sẽ được nâng lên là 95% vào năm 2015

Tại Nhật Bản, Luật tái chế các thiết bị gia đình đã quy định nghĩa vụ bắt buộc đối với các nhà sản xuất là phải thu hồi và tái chế các sản phẩm của mình Chi phí này do người tiêu dùng chi trả Năm 2005, Luật tái chế các bộ phận của xe cộ cũng bắt đầu có hiệu lực ở quốc gia này Các hãng chế tạo ô tô

có trách nhiệm thu hồi, tái chế những bộ phận có thể tái chế của ô tô sau khi thải loại Bên cạnh đó, Luật tái chế bao bì và đồ đựng (1995); Luật tái chế chất thải xây dựng (2000); Luật tái chế thức ăn thừa (2000) cũng là những văn bản pháp luật giữ vai trò quan trọng trong tái chế và tái sử dụng chất thải ở Nhật Bản hiện nay

Trang 27

Tại Hàn Quốc, để khuyến khích ngành công nghiệp tái chế phát triển,

từ năm 1994, Bộ Môi trường Hàn Quốc đã cung cấp các khoản vay dài hạn với lãi suất thấp cho các cơ sở tái chế và đầu tư công nghệ tái chế Cho đến năm 2004, các khoản vay hỗ trợ ngành công nghiệp tái chế ở Hàn Quốc đã lên tới 435 triệu USD Năm 2005, Bộ Môi trường Hàn Quốc đầu tư bổ sung 67 triệu USD cho ngành công nghiệp này

Tại Thụy Sỹ, trong Nghị định về chất thải được ban hành ngày 10 tháng 12 năm 1990, trình tự, thủ tục vận hành bãi chôn lấp chất thải và hình thức xử lý chất thải phù hợp với tính chất của nó đã được quy định tại Điều

21 Điều 38 của Nghị định này cũng quy định cụ thể về điều kiện kỹ thuật của

cơ sở xử lý chất thải bằng phương pháp đốt

Tại Áo, Luật về kinh tế chất thải năm 1990, sửa đổi năm 1994 cũng có những quy định liên quan đến trình tự, thủ tục xây dựng bãi chôn lấp chất thải rắn tại Điều 29 Ngoài ra, việc xây dựng hệ thống bãi chôn lấp chất thải phải được thực hiện phù hợp với Quy hoạch không gian đối với bãi chôn lấp chất thải theo quy định tại Điều 26 đạo luật này và phải được phép của Bộ trưởng

Bộ Môi trường liên bang

1.2.2 Nguyên tắc của pháp luật xử lý chất thải rắn thông thường

- Nguyên tắc bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành

Quyền được sống trong môi trường trong lành là một quyền con người cơ bản

đã được ghi nhận trong Tuyên bố về môi trường con người năm 1972 tại Stockhom, Thụy Điển và được củng cố trong Tuyên bố về môi trường và phát triển năm 1992 tại Rio de Janeiro, Braxin Ở Việt Nam, quyền được sống trong môi trường trong lành được nhắc đến trong Lời nói đầu của Luật Bảo vệ Môi trường năm 1993 và lần đầu tiên được hiến định trong Hiến pháp năm

2013 và chính thức trở thành nguyên tắc của Luật bảo vệ Môi trường năm

2014 Thực tế cho thấy ở Việt Nam quyền được sống trong môi trường trong

Trang 28

lành bị đe dọa chủ yếu bởi ô nhiễm môi trường, trong đó có ô nhiễm môi trường nước Do vậy, ghi nhận quyền được sống trong môi trường trong lành vừa là nguyên tắc, vừa là mục tiêu, vừa là động lực, vừa là trung tâm của quá trình quản lý nước thải ở Việt Nam hiện nay là cấp thiết và hợp lý Nguyên tắc này thể hiện ở chỗ:

- Nhà nước phải ban hành và tổ chức thực hiện các quy định pháp luật

về xử lý chất thải rắn thông thường;

- Các tổ chức, cá nhân chủ nguồn thải phải thực hiện phòng ngừa, phát hiện ngăn chặn các nguồn thải gây ô nhiễm môi trường;

- Các hành vi xả nước thải gây ô nhiễm môi trường xâm phạm đến quyền được sống trong môi trường trong lành phải bị xử lý theo Hiến pháp và theo pháp luật;

- Khi các chủ thể bị xâm phạm quyền này thì có thể khởi kiện ra Tòa hoặc

cơ quan quản lý nhà nước để yêu cầu bảo vệ quyền lợi của mình theo trình tự, thủ tục luật định

- Nguyên tắc bảo đảm phát triển bền vững

Phát triển bền vững là sự phát triển của thế hệ hiện tại mà không làm ảnh hưởng đến sự phát triển của thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa phát triển kinh tế đi đôi với phát triển xã hội và bảo vệ môi trường

Do vậy, chỉ có thể có phát triển bền vững khi xử lý chất thải rắn thông thường được hiệu quả đồng thời từ đó sẽ thúc đẩy phát triển xã hội Bởi để phát triển bền vững cần phải đưa yếu tố môi trường vào trong quá trình phát triển để đảm bảo quá trình phát triển kinh tế sẽ không gây ô nhiễm, suy thoái môi trường, trong đó có môi trường nước Ngược lại phát triển bền vững cũng góp phần vào quá trình bảo vệ môi trường trong đó có quản lý nước thải Phát triển bền vững bên cạnh việc quan tâm đến bảo vệ môi trường chủ động thì nó còn tạo ra các

Trang 29

nguồn lực để thúc đẩy phát triển môi trường bền vững Do vậy kiểm soát ô nhiễm môi trường cần dựa trên nguyên tắc bảo đảm phát triển bền vững

- Nguyên tắc xã hội hóa các hoạt động xử lý chất thải rắn thông

thường Chất thải rắn thông thường liên quan đến nhiều tổ chức, cá nhân Do vậy để kiểm soát được thiệt hại do ô nhiễm môi trường thì không chỉ có sự tham gia của Nhà nước mà còn có sự tham gia của mọi tổ chức, cá nhân Nguyên tắc này cũng đòi hỏi sự tham gia của cả cộng đồng hoặc đại diện cộng đồng, các tổ chức đoàn thể xã hội vào quá trình xử lý chất thải rắn thông thường

- Nguyên tắc xử lý chất thải rắn thông thường thải tại nguồn Cách hiệu

quả nhất để hạn chế ô nhiễm môi trường là kiểm soát ngay tại nguồn thải Do vậy, để nâng cao hiệu quả trong quản lý nước thải, việc xây dựng pháp luật về vấn đề này cần phải dựa trên nguyên tắc đặc thù nhưng rất quan trọng đó là quản lý chất thải rắn thông thường ngay tại nguồn thải

- Nguyên tắc điều chỉnh pháp luật về xử lý chất thải rắn thông thường

theo hướng tác động tới chi phí và lợi ích để các chủ thể tự nguyện lựa chọn

tuân thủ pháp luật Việt Nam thuộc nhóm nước cong yếu kém về thực thi

pháp luật Sở dĩ việc thực thi pháp luật và tuân thủ pháp luật ở Việt Nam kém

có nhiều nguyên nhân, ngoài những nguyên nhân nằm ở khâu tổ chức thực hiện thì có nguyên nhân về xây dựng pháp luật Đặc biệt là tư duy về xây dựng chính sách pháp luật của Việt Nam có vấn đề gần như thông suốt đó là

tư duy cái gì không quản lý được thì cấm Với tư duy đó việc xây dựng pháp luật của ở Việt Nam, đa phần các lĩnh vực dựa trên các quy định cấm để quản

lý, nhưng vẫn bị vi phạm, pháp luật môi trường cũng vậy Do vậy, tác giả cho rằng đã đến lúc xây dựng pháp luật về xử lý chất thải rắn thông thường cần phải tính đến yếu tố chi phí và lợi ích khi xây dựng pháp luật, theo đó quy

Trang 30

định theo hướng chủ thể lựa chọn tuân thủ pháp luật sẽ đạt được lợi ích cao hơn so với việc không tuân thủ/vi phạm pháp luật

- Nguyên tắc người gây ô nhiễm môi trường phải chịu trách nhiệm pháp lý Người gây ô nhiễm môi trường không chỉ phải bồi thường thiệt hại

môi trường mà còn phải chịu trách nhiệm pháp lý liên quan, như trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự, trách nhiệm kỷ luật

- Nguyên tắc hợp tác quốc tế và khu vực trong bảo vệ môt trường nước

Môi trường mang tính bao trùm toàn cầu, nó không có ranh giới Do vậy, một quốc gia không thể đơn phương mà kiểm soát được ô nhiễm môi trường Hơn nữa, ô nhiễm môi trường nước thường rất phức tạp, khó xác định thiệt hại Do vậy, đẩy mạnh hợp tác quốc tế sẽ giúp các quốc gia có thể hỗ trợ cho nhau về vốn, về công nghệ, về kinh nghiệm tạo nên tính đồng bộ, tính hệ thống góp phần xử lý chất thải rắn thông thường được hiệu quả

1.2.3 Các yêu cầu đặt ra đối với pháp luật về xử lý chất thải rắn thông thường

Thứ nhất, pháp luật về xử lý chất thải rắn thông thường phải đảm bảo

tính hoàn thiện Tiêu chí này quan trọng hàng đầu bởi xử lý chất thải rắn thông thường là một chu trình bao gồm từ phòng ngừa, giảm thiểu, thu gom, phân loại, vận chuyển, lưu giữ, tái chế, tái sử dụng và xử lý xử lý chất thải rắn thông thường và hệ thống thiết chế và các cơ sở vật chất kèm theo Do vậy, để bảo đảm quản lý chất thải được hiệu quả thì không thể thiếu một trong các quy định của quá trình này

Thứ hai, pháp luật về xử lý chất thải rắn thông thường phải đảm bảo dễ

hiểu, dễ tiếp cận Xử lý chất thải rắn thông thường là một loại chất thải phổ biến và ảnh hưởng lớn đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật Chất thải rắn thông thường được thải ra từ quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các hoạt động khác của con người Nên các quy

Trang 31

định pháp luật về vấn đề này cần phải thể hiện rõ trách nhiệm của từng chủ thể trong xử lý chất thải rắn thông thường theo hướng dễ hiểu để mọi người

có thể thực hiện được hiệu quả

Thứ ba, pháp luật về xử lý chất thải rắn thông thường phải đảm bảo

tính nhanh chóng, kịp thời Chất thải rắn thông thường có chứa chất có thể gây ô nhiễm là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật Do vậy, các quy định về xử lý chất thải rắn thông thường cần nhấn mạnh tính phòng ngừa khi ô nhiễm chưa xảy ra Còn khi ô nhiễm đã xảy ra thì các chủ thể có trách nhiệm phải nhanh chóng phát hiện và có biện pháp ngăn chặn không cho ô nhiễm lan rộng, khắc phục ô nhiễm phục hồi hiện trạng môi trường được kịp thời Để làm được điều này cac quy định pháp luật về xử lý chất thải rắn thông thường thải bên cạnh việc xác định rõ trách nhiệm của các chủ thể, cần quy định rõ trình tự, thủ tục, thời hạn tối đa phải thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường, các biện pháp tự động bảo vệ môi trường,…

Thứ tư, pháp luật về xử lý chất thải rắn thông thường phải đảm bảo tính

ngăn ngừa rủi ro phát sinh Thực tiễn cho thấy thiệt hại do nước thải gây ra với môi trường và con người thường rất lớn

Thứ năm, pháp luật về xử lý chất thải rắn thông thường phải nhấn mạnh

đến trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, chủ thể có thẩm quyền, các chủ nguồn thải và các chủ thể có liên quan trong quản lý chất thải Bởi đối với các

cơ quan nhà nước có thẩm quyền được nhà nước đầu tư trang thiết bị, nhân lực chuyên trách thực hiện vấn đề này Còn đối với các chủ nguồn thải thì đó

là nguồn thải của họ do vậy trách nhiệm đặt ra họ phải quản lý theo quy định pháp luật và không gây thiệt hại cho chủ thể khác

Trang 32

Thứ sáu, pháp luật về xử lý chất thải rắn thông thường cần phải cụ thể

hóa nguyên tắc coi trọng phòng ngừa trong bảo vệ môi trường, nguyên tắc xã hội hóa các hoạt đông bảo vệ môi trường

1.2.4 Vai trò của pháp luật về xử lý chất thải rắn thông thường

Có thể thấy pháp luật về xử lý chất thải rắn thông thường có vai trò quan trọng:

Một là, đặt ra những quy định cho các chủ thể phát thải chất thải rắn

thông thường, quy định các loại phí giúp cho các chủ thể có quyền dễ thực hiện trong việc thu lệ phí đối với các chủ thể thải chất thải rắn thông thường; quy định rõ cách thức thu gom, phân loại, giảm thiểu, dẫn chuyển, xử lý, tái

sử dụng xử lý chất thải rắn thông thường

Hai là, góp phần không nhỏ trong việc làm trong sạch môi trường,

phòng ngừa, khắc phục ô nhiễm cũng như sự cố môi trường pháp luật xử

lý chất thải rắn thông thường là công cụ phòng ngừa, khắc phục ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường, góp phần đảm bảo quyền được sống trong một môi trường trong lành của con người

Ô nhiễm môi trường được kiểm soát ngay từ khâu pháp luật lên các quy hoạch xử lý CTRTT Theo cách hiểu đó, quy hoạch xử lý CTRTT là công cụ định hướng cho các hoạt động thu gom, xử lý, chôn lấp CTRTT được thực hiện thống nhất theo mục tiêu định trước nhằm kiểm soát những tác động đến môi trường của chúng trong tương lai Thực hiện được điều đó cũng có nghĩa

là khả năng gây ô nhiễm môi trường của các loại CTRTT đã được dự tính và phòng ngừa trước

Pháp luật xử lý CTRTT bao gồm nhiều quy tắc xử sự chung, định hướng cho các hoạt động xử lý, tiêu huỷ CTRTT Các tổ chức, cá nhân phải tuyệt đối tuân thủ theo định hướng xử sự trong các quy phạm pháp luật để phòng ngừa ô nhiễm, sự cố môi trường cũng như các biện pháp khắc phục,

Trang 33

ứng phó với những tình trạng xấu đó, đảm bảo an toàn sức khoẻ con người Bên cạnh đó, pháp luật xử lý CTRTT còn quy định các chế tài hình sự, dân

sự, hành chính, buộc các tổ chức, cá nhân phải thực hiện đầy đủ các đòi hỏi của pháp luật trong phòng ngừa ô nhiễm môi trường do CTRTT Bằng các chế tài này, pháp luật tác động tới các chủ thể thực hiện hành vi vi phạm, không chỉ để trừng phạt họ mà còn có thể ngăn chặn các hành vi không thực hiện phòng ngừa, khắc phục ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường khi tiến hành các hoạt động có liên quan đến CTRTT, thông qua đó đảm bảo sự trong lành cần thiết cho chất lượng môi trường sống của con người

Trong hệ thống pháp luật xử lý CTRTT, chức năng nhiệm vụ của từng

cơ quan xử lý cũng được xác lập đầy đủ, việc này giúp cho hoạt động xử lý được diễn ra có định hướng hệ thống, hiệu quả Việc kiểm soát ô nhiễm môi trường cũng vì thế được tốt hơn

Ba là, góp phần nâng cao ý thức của mọi người trong xử lý chất thải

rắn thông thường của người dân để đảm bảo quyền sống trong môi trường không ô nhiễm

Bốn là, góp phần vào quá trình sử dụng hiệu quả tài nguyên rác thải,

thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước

Năm là, Pháp luật xử lý chất thải rắn thông thường góp phần thúc đẩy nghiên cứu và ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến để bảo vệ môi trường, giảm thiểu ảnh hưởng xấu của CTRTT

Trong bảo vệ môi trường nói chung và xử lý chất thải nói riêng, kỹ thuật công nghệ là một trong những yếu tố hết sức quan trọng Trong số các biện pháp bảo vệ môi trường đang được áp dụng trên thế giới hiện nay, biện pháp công nghệ được coi là biện pháp hữu hiệu giải quyết tận gốc vấn đề ô nhiễm môi trường Thông qua việc ứng dụng các quy trình công nghệ tiên tiến, quy trình công nghệ sạch, quy trình công nghệ ít chất thải, con người có

Trang 34

thể loại bỏ được chất gây ô nhiễm, nguyên nhân cơ bản nhất gây ô nhiễm môi trường

Cũng nhờ quy chế pháp lý tạo điều kiện khuyến khích cho các cơ sở nghiên cứu ra các công nghệ, ứng dụng mới nhằm đem lại hiệu quả cao trong hoạt động cũng như góp phần làm giảm thiếu lượng chất thải, đồng thời giúp cho quy trình xử lý được hiệu quả, nhanh chóng

Như vậy, pháp luật xử lý CTRTT giữ vai trò hết sức quan trọng trong đời sống xã hội và sự phát triển bền vững ở nước ta hiện nay Nó không chỉ là công cụ quan trọng để điều hòa lợi ích của từng tổ chức, cá nhân với lợi ích chung về môi trường của cộng đồng, đảm bảo chất lượng môi trường sống cho con người, đảm bảo phát triển bền vững mà còn là một yếu tố không thể thiếu góp phần làm thay đổi nhận thức chung của cộng đồng theo hướng có lợi và ngày càng thân thiện hơn với môi trường

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật về xử lý chất thải rắn thông thường

Thứ nhất, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Theo Điều 4

Hiến pháp năm 2013 thì Đảng cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội, sự lãnh đạo của Đảng được thể hiện quản lý đội ngũ cán bộ, công chức, qua đường lối chính sách của Đảng Là Đảng cầm quyền nên đường lối, quan điểm là cơ sở cho việc xây dựng hoàn thiện pháp luật Liên quan đến lĩnh vực môi trường, Đảng ta luôn quan tâm đến vấn đề này cụ thể được thể hiện qua các Văn kiện Đại hội Đảng VIII, IX, X, XI, không chỉ vậy Đảng ta còn thông qua những nghị quyết, những chỉ thị riêng để thể hiện quan điểm của mình về bảo vệ môi trường, trong đó có quản lý chất thải, như: Chỉ thị số 36/CT-TW của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Nghị quyết số 41/NQ-TW năm 2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường; Nghị quyết số 24/NQ-TW

về bảo vệ tài nguyên môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu

Trang 35

Đây là các quan điểm cơ bản để Nhà nước ban hành các quy định pháp luật về

xử lý chất thải rắn thông thường

Thứ hai, ý thức của người dân Bên cạnh ý thức của người lãnh đạo,

người quản lý Ý thức của người dân sẽ ảnh hưởng đến tính hiệu quả trong thực hiện pháp luật về xử lý chất thải rắn thông thường Nếu người dân có ý thức tuân thủ pháp luật tốt thì sẽ góp phần quan trọng thực hiện có hiệu quả pháp luật môi trường, còn nếu nếu không có ý thức thì sẽ ảnh hưởng đến viêc thực hiện pháp luật môi trường

Thứ ba, lợi ích kinh tế của doanh nghiệp Theo số liệu báo cáo hiện

nay, có nhiều nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường, đặc biệt là nước thải từ các nhà máy, xí nghiệp là một trong các nguyên nhân chính gây ra vấn đề này

Sở dĩ như vậy bởi rất nhiều doanh nghiệp hiện nay cho rằng việc không tập trung cho xử lý chất thải bảo vệ môi trường sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí và thu được nhiều lợi nhuận hơn Với quan niệm như vậy sẽ dẫn tới các doanh nghiệp sẽ tìm cách không tuân thủ nghiêm túc các quy định pháp luật về quản lý nước thải và ảnh hưởng tới việc thực hiện các quy định pháp luật về vấn đề này Do vậy, việc xây dựng và thực hiện các quy định pháp luật về xử lý chất thải rắn thông thường phải hướng tới coi chất thải rắn thông thường là một loại tài nguyên, áp dụng nhiều hơn nữa công cụ kinh tế trong quản lý chất thải rắn thông thường bên cạnh các công cụ pháp lý

Thứ tư, trình độ khoa học kỹ thuật công nghệ Vấn đề này có ảnh

hưởng quyết định tới việc điều chỉnh pháp luật về xử lý chất thải rắn thông thường, bởi khoa học công nghệ giúp thúc đẩy phòng ngừa ô nhiễm môi trường do xử lý chất thải gây ra; giúp phát hiện, ngăn chặn và đặc biệt là xử lý

ô nhiễm môi trường được hiệu quả Xây dựng các quy định pháp luật, đặc biệt pháp luật về quản lý chất thải cần phải phù hợp với trình độ phát triển khoa học công nghệ nhằm đảm bảo các quy định này có thể khả thi trên thực tiễn

Trang 36

Kết luận chương 1

Cùng với sự gia tăng dân số mạnh mẽ và sự hình thành, phát triển vượt bậc của các ngành nghề sản xuất trong thời gian qua, chất thải rắn tăng nhanh chóng về số lượng, với thành phần ngày càng phức tạp đã và đang gây khó khăn cho công tác quản lý, xử lý Tuy nhiên, công tác quản lý, xử lý chất thải rắn thông thường ở nước ta thời gian qua chưa được áp dụng theo phương thức quản lý tổng hợp, chưa chú trọng đến các giải pháp giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế và thu hồi năng lượng từ chất thải dẫn đến khối lượng chất thải rắn phải chôn lấp cao, không tiết kiệm quỹ đất, tại nhiều khu vực chất thải chôn lấp ở các bãi chôn lấp tạm, lộ thiên, hiện đã và đang là nguồn gây ô nhiễm môi trường Ngoài ra, công tác triển khai các quy hoạch xử lý chất thải rắn tại các địa phương còn chậm; việc huy động các nguồn lực đầu tư xây dựng khu xử lý, nhà máy xử lý chất thải rắn còn gặp nhiều khó khăn; đầu tư cho quản lý, xử lý chất thải rắn còn chưa tương xứng; nhiều công trình xử lý chất thải rắn đã được xây dựng và vận hành, nhưng cơ sở vật chất, năng lực

và hiệu suất xử lý thải rắn chưa đạt yêu cầu Áp lực giữa yêu cầu bảo vệ môi trường với tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững đất nước đặt ra cho các

cơ quan quản lý cần đánh giá thực tế tình hình xử lý chất thải rắn tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp tăng cường hiệu quả công tác xử lý chất thải rắn thông thường Để hoạt động và việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về xử lý chất thải rắn thông thường là một nhu cầu cấp thiết góp phần xây dựng các quy phạm pháp luật làm cơ sở pháp lý cho việc điều chỉnh các quan hệ xã hội trong việc xử lý chất thải rắn thông thường

Trang 37

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN THÔNG THƯỜNG, TỪ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI HUYỆN VÂN ĐỒN,

TỈNH QUẢNG NINH 2.1 Thực trạng pháp luật xử lý chất thải rắn thông thường

Xử lý chất thải rắn là một bài toán hóc búa đối với các chủ thể bởi đây

là giai đoạn cuối của quá trình quản lý chất thải, là giai đoạn đảm bảo cho chất thải được đưa vào môi trường mà không gây ảnh hưởng đến môi trường

và sức khoẻ của con người Xử lý chất thải, bao gồm các hoạt động tái sử dụng, tái chế, tiêu huỷ Xử lý, tiêu huỷ chất thải là khâu rất quan trọng có tính quyết định đối với việc tạo lập một hệ thống quản lý chất thải hiệu quả, để giảm thiểu các rủi ro đối với môi trường và sức khoẻ con người Tại Khoản 16 Điều 3 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP đưa ra định nghĩa về xử lý chất thải rắn như sau: “Xử lý chất thải là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật (khác với sơ chế) để làm giảm, loại bỏ, cô lập, cách ly, thiêu đốt, tiêu hủy, chôn lấp chất thải và các yếu tố có hại trong chất thải” Điều 97 Luật BVMT 2014 quy định: “Chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân có phát sinh chất thải rắn thông thường có trách nhiệm tái

sử dụng, tái chế, thu hồi năng lượng và xử lý chất thải rắn thông thường Trường hợp không có khả năng tái sử dụng, tái chế, thu hồi năng lượng và xử

lý chất thải rắn thông thường phải chuyển giao cho cơ sở có chức năng phù hợp để tái sử dụng, tái chế, thu hồi năng lượng và xử lý.”

Các chủ thể xử lý CTRTT phải có trách nhiệm lựa chọn công nghệ và chu trình xử lý sao cho phù hợp với từng loại chất thải đã được phân loại Khi thực hiện việc xử lý CTRTT cần tuân thủ các giai đoạn quá trình xử lý Xử lý chất thải hiện nay thường được áp dụng các công nghệ: Phân loại và xử lý cơ

Trang 38

học; công nghệ thiêu đốt; công nghệ xử lý hoá lý; trích ly; chưng cất; kết tủa- trung hoà; ô xy hoá khử; công nghệ chôn lấp hợp vệ sinh

Chất thải rắn thông thường hay là chất thải rắn không nguy hại gồm: loại chất thải rắn đô thị, chất thải rắn công nghiệp không chứa hoặc có chứa lượng rất nhỏ các chất hoặc hợp chất chưa đến mức có thể gây nguy hại tới môi trường và sức khỏe con người Như vậy, các vấn đề về xử lý chất thải rắn thông thường là các vấn đề về xử lý chất thải rắn đô thị và chất thải rắn công nghiệp

Pháp luật về xử lý chất thải rắn thông thường hiện quy định bốn nhóm nội dung cơ bản: (i) Các quy định về trách nhiệm của nhà nước trong xử lý CTRTT; (ii) Các quy định về trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong xử lý CTRTT; (iii) Chi phí xử lý CTRTT; ( iv) Các quy định xử lý vi phạm pháp luật về xử lý CTRTT Cụ thể như sau:

2.1.1 Trách nhiệm của Nhà nước trong xử lý chất thải rắn thông thường

Thứ nhất, trách nhiệm của Nhà nước trong xử lý chất thải rắn sinh hoạt:

Một là, trách nhiệm của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường trong

xư lý chất thải rắn sinh hoạt: Đây là cơ quan có thẩm quyền cao nhất trong hệ thống cơ quan trung ương trong việc xử lý chất thải rắn thông thường Theo

đó Bộ có trách nhiệm hướng dẫn trình tự, thủ tục, hồ sơ đề nghị xác nhận, điều chỉnh xác nhận bảo đảm yêu cầu bảo vệ môi trường đối với cơ sở xử lý chất thải rắn sinh hoạt; Hướng dẫn kỹ thuật, quy trình quản lý trong việc xử

lý và thu hồi năng lượng từ chất thải rắn sinh hoạt;

Đồng thời chủ trì và phối hợp với Bộ trưởng Bộ Xây dựng tổ chức xây dựng cơ sở dữ liệu về chất thải rắn sinh hoạt, quản lý, khai thác, trao đổi, cung cấp thông tin có liên quan đến quản lý chất thải rắn sinh hoạt

Tại công văn số 2429/BTNMT-TCMT ngày 28 tháng 5 năm 2019 về việc rà soát, đánh giá công tác quản lý nhà nước về chất thải rắn và kiểm tra,

Trang 39

đánh giá các cơ sở xử lý chất thải rắn sinh hoạt (thực hiện Nghị quyết

số 09/NQ-CP ngày 03 tháng 02 năm 2019 của Chính phủ về Phiên họp thường kỳ Chính phủ tháng 01 năm 2019) Bộ Tài nguyên và Môi trường đã

đã yêu cầu UBND cấp tỉnh chỉ đạo Sở Tài nguyên và Môi trường cử lãnh đạo

và cán bộ, công chức tham gia Đoàn kiểm tra, đánh giá của Bộ Tài nguyên và Môi trường đối với hoạt động kiểm tra, đánh giá các cơ sở xử lý chất thải rắn sinh hoạt; tổ chức điều tra, đánh giá đối với các bãi chôn lấp, các cơ sở xử lý còn lại và gửi báo cáo về Bộ Tài nguyên và Môi trường để tổng hợp

Hai là, trách nhiệm của Bộ trưởng Bộ Xây dựng: Hướng dẫn quản lý đầu

tư xây dựng cơ sở xử lý chất thải rắn sinh hoạt theo quy hoạch được phê duyệt; phương pháp lập, quản lý chi phí và phương pháp định giá dịch vụ xử

lý chất thải rắn sinh hoạt; Công bố định mức kinh tế, kỹ thuật về thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt; suất vốn đầu tư xây dựng cơ sở xử lý chất thải rắn sinh hoạt; Phối hợp với Bộ trưởng Bộ Tài nguyên Môi trường xây dựng cơ sở dữ liệu về chất thải rắn sinh hoạt, quản lý, khai thác, trao đổi, cung cấp thông tin có liên quan đến quản lý chất thải rắn sinh hoạt

Ba là, trách nhiệm của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Xây dựng và Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường thẩm định công nghệ xử lý chất thải rắn sinh hoạt mới được nghiên cứu và áp dụng lần đầu ở Việt Nam

Bốn là, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong quản lý chất thải rắn sinh hoạt: Tổ chức quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn tỉnh, phân công, phân cấp trách nhiệm cho các cơ quan chuyên môn và phân cấp quản lý cho Ủy ban nhân dân các cấp về quản lý chất thải rắn sinh hoạt theo quy định; Ban hành các quy định cụ thể về quản lý chất thải rắn sinh hoạt; các cơ chế chính sách ưu đãi, hỗ trợ để khuyến khích việc thu gom, vận chuyển và đầu tư

cơ sở xử lý chất thải rắn sinh hoạt phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế -

Trang 40

xã hội của địa phương; Tổ chức chỉ đạo lập, thẩm định, phê duyệt và tổ chức triển khai thực hiện quy hoạch xử lý chất thải rắn, quy hoạch bảo vệ môi trường theo thẩm quyền; lập kế hoạch hàng năm cho công tác thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt và bố trí kinh phí thực hiện phù hợp với chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương; Định kỳ hàng năm báo cáo Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Xây dựng về tình hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn, thời điểm báo cáo trước ngày 31 tháng 3 của năm tiếp theo; Tổ chức tuyên truyền, giáo dục pháp luật về quản

lý chất thải rắn sinh hoạt; chỉ đạo công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về quản lý chất thải rắn trên địa bàn

Thứ hai, trách nhiệm của Nhà nước trong việc xử lý chất thải rắn công nghiệp:

Một là, trách nhiệm của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường trong

quản lý chất thải rắn công nghiệp thông thường: Thống nhất thực hiện chức

năng quản lý nhà nước về chất thải rắn công nghiệp thông thường và ban hành quy định về: Yêu cầu kỹ thuật, quy trình quản lý trong việc phân loại… xử lý

và thu hồi năng lượng từ chất thải rắn công nghiệp thông thường; yêu cầu kỹ thuật, quy trình quản lý liên quan đến các yêu cầu bảo vệ môi trường đối với

cơ sở xử lý chất thải rắn công nghiệp thông thường và việc thực hiện trách nhiệm trong giai đoạn hoạt động của chủ nguồn thải, chủ xử lý chất thải rắn công nghiệp thông thường; Trình tự, thủ tục xác nhận, điều chỉnh xác nhận bảo đảm yêu cầu bảo vệ môi trường đối với cơ sở xử lý chất thải rắn công nghiệp thông thường; Tổ chức quản lý, kiểm tra hoạt động và các hồ sơ, hợp đồng, báo cáo liên quan đến chủ xử lý chất thải rắn công nghiệp thông thường theo thẩm quyền; Tổ chức xây dựng và vận hành cơ sở dữ liệu quốc gia về chất thải rắn công nghiệp thông thường; tăng cường sử dụng hệ thống thông tin hoặc thư điện tử để thông báo, hướng dẫn, trao đổi với tổ chức, cá nhân

Ngày đăng: 05/12/2019, 16:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm