Quyết toán đối với các dự án xây dựng cơ bản có sử dụng nguồn vốn Ngân sách Nhà nước theo pháp luật Việt Nam tỉnh Quảng Ninh luôn được quan tâm và đã phát huy được những hiệu quả nhất đ
Trang 1NGUYỄN HỮU LONG
QUYẾT TOÁN ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN
CÓ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC THEO PHÁP
LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
HÀ NỘI, NĂM 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN HỮU LONG
QUYẾT TOÁN ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN
CÓ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC THEO PHÁP
LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NINH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện dưới
sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trần Đình Hảo Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này hoàn toàn trung thực Tôi xin hoàn
toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Học viên
Nguyễn Hữu Long
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUYẾT TOÁN ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN CÓ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 8
1.1 Khái luận về quyết toán đối với các dự án đầu tư xây dựng cơ bản
có sử dụng nguồn vốn Ngân sách Nhà nước 8 1.2 Nội dung, trình tự, thủ tục quyết toán dự án đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng nguồn vốn Ngân sách Nhà nước đã hoàn thành theo pháp luật Việt Nam 12 1.3 Quyết toán các dự án xây dựng cơ bản hoàn thành trong mối quan
hệ với công tác quản lý chi phí đầu tư xây dựng cơ bản 24
Chương 2: QUYẾT TOÁN ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN CÓ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI TỈNH QUẢNG NINH 34
2.1 Giới thiệu chung về tỉnh Quảng Ninh 34 2.2 Tổng quan về tình hình đầu tư phát triển và tình hình đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng Nguồn vốn Ngân sách Nhà nước của tỉnh Quảng Ninh 36 2.3 Thực trạng quyết toán các dự án đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng nguồn Ngân sách Nhà nước của tỉnh Quảng Ninh 38 2.4 Đánh giá chung thực trạng quyết toán các dự án XDCB có sử dụng nguồn ngân sách nhà nước hoàn thành tại cơ quan tài chính tỉnh Quảng Ninh 57 2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quyết toán đối với dự án đầu
tư xây dựng cơ bản có sử dụng nguồn vốn Ngân sách Nhà nước 59
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUYẾT TOÁN ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ
Trang 5BẢN CÓ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TẠI TỈNH QUẢNG NINH 63
3.1 Định hướng, mục tiêu phát triển công tác quyết toán các dự án đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng nguồn ngân sách nhà nước tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020 63 3.2 Giải pháp hoàn thiện công tác quyết toán các dự án đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng ngân sách nhà nước tại tỉnh Quảng Ninh 66
KẾT LUẬN 77 TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Tình hình thu chi ngân sách của tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2015-2018 38 Bảng 2.2 Định mức chi phí thẩm tra phê duyệt quyết toán và định mức chi phí kiểm toán độc lập 45 Bảng 2.3 Thời hạn nộp hồ sơ quyết toán và thẩm tra phê duyệt quyết toán 45 Bảng 2.4 Trình tự tiến hành thẩm tra quyết toán tại Sở tài chính Quảng Ninh 46 Bảng 2.5 Tổng hợp các dự án đầu tư XDCB bằng nguồn NSNN đã hoàn thành giai đoạn 2015 - 2018 49 Bảng 2.6 Tổng hợp quyết toán vốn đầu tư XDCB các dự án hoàn thành tại Sở Tài Chính tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2015 - 2018 50 Bảng 2.7 Tổng hợp các dự án hoàn thành đã được phê duyệt quyết toán tại các huyện thị trong tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2015 -2018 51 Bảng 2.8 Tổng hợp chi tiết các dự án hoàn thành đã được phê duyệt quyết toán tại các huyện thị tỉnh Quảng Ninh năm 2018 52 Bảng 2.9 Tổng hợp các dự án hoàn thành đã nộp hồ sơ quyết toán trong năm 2018 tỉnh Quảng Ninh 54 Bảng 2.10 Tổng hợp các dự án hoàn thành chưa nộp hồ sơ quyết toán trong năm 2018 tỉnh Quảng Ninh 55
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hàng năm, tỉnh Quảng Ninh dành vốn ngân sách lớn cho đầu tư xây dựng để phát triển kinh tế xã hội những năm gần đây chiếm khoảng 35% tổng nguồn chi Điều này cho thấy rõ cơ cấu ưu tiên dành nguồn lực chi đầu tư phát triển của tỉnh nhằm xây dựng một Quảng Ninh ngày càng hiện đại, văn minh Nhiều dự án đầu tư đưa vào khai thác sử dụng đã phát huy hiệu quả góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, thúc đẩy sản xuất phát triển, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân trong tỉnh Các dự án này sẽ góp phần quan trọng kết nối Quảng Ninh với các tỉnh trong nước và thế giới
Tuy nhiên cũng có nhiều dự án đầu tư xây dựng cơ bản còn xảy ra tình trạng lãng phí, thất thoát nguồn Ngân sách của Nhà nước Thất thoát, lãng phí tại nhiều công trình đầu tư xây dựng cơ bản thời gian qua đang trở thành vấn đề bức xúc trong dư luận Mặc dù Ngân sách Nhà nước còn nhiều khó khăn, nhưng Chính phủ
và các địa phương đã ưu tiên dành nguồn vốn rất lớn hàng năm để đầu tư xây dựng các dự án, công trình, góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, việc quản lý và triển khai thực hiện các
dự án trong thời gian qua còn nhiều hạn chế và bất cập, dẫn đến gây thất thoát, lãng phí vốn, tình trạng đội vốn, không minh bạch trong sử dụng nguồn vốn…Do đó quyết toán đối với các dự án đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng nguồn vốn Ngân sách Nhà nước là một trong những yếu tố giúp giảm thất thoát, lãng phí vốn
Quyết toán đối với các dự án xây dựng cơ bản có sử dụng nguồn vốn Ngân
sách Nhà nước theo pháp luật Việt Nam tỉnh Quảng Ninh luôn được quan tâm và đã
phát huy được những hiệu quả nhất định, hàng năm tiết kiệm cho ngân sách tỉnh trung bình gần 5 tỷ đồng, góp phần ngăn chặn những biểu hiện tiêu cực trong quản
lý vốn đầu tư XDCB Tuy nhiên, đối với công tác quyết toán vốn đầu tư XDCB tỉnh vẫn còn những hạn chế Những năm trước đây, công tác quyết toán vốn đầu tư XDCB chưa được quan tâm đúng mức, chậm quyết toán kéo dài dẫn đến tình trạng
hồ sơ thất lạc Việc thay đổi chủ đầu tư, hay nhà thầu mất khả năng tài chính đã bỏ trốn, phá sản, hoặc một số chủ đầu tư thiếu trách nhiệm trong việc đôn đốc lập báo cáo quyết toán vốn đầu tư XDCB… khiến công tác này bị ảnh hưởng Việc bố trí chi phí cho công tác thẩm tra, kiểm toán quyết toán dự án hoàn thành chưa đầy đủ
Trang 8cũng làm chậm quyết toán vốn đầu tư dự án Vẫn chưa có giải pháp hữu hiệu buộc nhà thầu có trách nhiệm trong việc lập hồ sơ quyết toán công trình khi gặp sự cố, nhà thầu mất khả năng tài chính bỏ trốn, phá sản Vấn đề phối hợp giữa các đơn vị chức năng có liên quan cũng cần được phát huy Bởi một số số liệu báo cáo về các
dự án, công trình hoàn thành của một số đơn vị chưa trùng khớp so với số liệu báo cáo của Kho bạc Nhà nước Rõ ràng, công tác quyết toán vốn đầu tư XDCB cần phải được chú trọng hơn nữa
Vì thế việc nghiên cứu tìm ra các giải pháp để hoàn thiện công tác quyết toán đối với các dự án xây dựng cơ bản có sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước theo
pháp luật Việt Nam là một vấn đề cấp thiết
Xuất phát từ yêu cầu thực tế đó, cùng với những kinh nghiệm công tác trong lĩnh vực thanh tra quản lý dự án đầu tư XDCB ở Quảng Ninh, tôi chọn đề tài:
“Quyết toán đối với các dự án đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng nguồn vốn Ngân sách Nhà nước theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ninh”
để làm đề tài Luận Văn thạc sỹ cho mình Kết quả của việc nghiên cứu này ngoài ý nghĩa về mặt lý luận còn có ý nghĩa trong thực tiễn sẽ góp phần hoàn thiện quản lý tài chính về đầu tư XDCB trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Quyết toán đối với các dự án đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng nguồn vốn Ngân sách Nhà nước đang được cả xã hội quan tâm trong tình hình đất nước ngày càng phát triển Chính vì thế việc nghiên cứu các giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng quyết toán đối với các dự án đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng nguồn vốn Ngân sách Nhà nước được các cấp, các ngành, địa phương và các nhà đầu tư quan tâm Trong phạm vi của luận văn tôi chỉ tập trung giới thiệu một số công trình tiêu biểu liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng nguồn vốn Ngân sách Nhà nước:
Luận văn thạc sĩ Quản lý hành chính công của tác giả Nguyễn Huy Chí, năm 2011: “Tăng cường quản lý Nhà nước đối với dự án đầu tư XDCB bằng vốn NSNN” Luận văn đã tổng hợp hệ thống hóa, bổ sung và hoàn thiện khung lý thuyết
về đầu tư xây dựng cơ bản bằng vốn NSNN và quản lý Nhà nước đối với đầu tư xây dựng cơ bản bằng vốn NSNN
Trang 9Luận văn thạc sĩ ngành Quản lý công: ”Quản lý chi đầu tư XDCB từ NSNN tại huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi”, năm 2017 của tác giả Nguyễn Việt Toàn Luận văn đã đưa ra tổng quan về chi đầu tư XDCB từ NSNN, trên cơ sở thực trạng quản lý chi đầu tư XDCB từ NSNN tại huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi từ đó đưa
ra định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chi đầu tư XDCB từ NSNN Luận văn thạc sĩ ngành Quản lý kinh tế: “Hoàn thiện quản lý vốn đầu tư XDCB thuộc nguồn vốn Ngân sách xã, phường tại thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình”, năm 2017 của tác giả Đoàn Phan Anh, luận văn đã trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý vốn đầu tư XDCB thuộc nguồn vốn Ngân sách xã, phường, phân tích thực trạng quản lý vốn đầu tư XDCB thuộc ngân sách xã, phường ở thị xã
Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư XDCB thuộc nguồn vốn Ngân sách xã, phường tại thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình
Luận văn thạc sĩ ngành Quản lý kinh tế: “Quản lý các dự án đầu tư XDCB bằng nguồn vốn NSNN tại huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang”, năm 2015 của tác giả
Lê Hà Thái, luận văn đã nêu lên tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về quản lý các dự án đầu tư XDCB bằng nguồn vốn NSNN, phân tích thực trạng quản
lý các dự án đầu tư XDCB bằng nguồn vốn NSNN tại huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý các dự án đầu tư XDCB bằng nguồn vốn NSNN
Luận văn thạc sĩ ngành Tài chính – Ngân hàng của tác giả Nguyễn Thị Thoa, năm 2015: “Quản lý vốn đầu tư XDCB từ Ngân sách Nhà nước trên địa bàn thị xã Sơn Tây”, luận văn thể hiện cơ sở lý luận về vốn đầu tư XDCB từ NSNN, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN trên địa bàn thị xã Sơn Tây, qua đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản lý đầu tư XDCB từ NSNN trên địa bàn thị xã Sơn Tây
Luận văn thạc sĩ Quản lý kinh tế của tác giả Đặng Thị Thảo, năm 2015: “Quản
lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN tại Kho bạc Nhà nước Nghệ An” Luận văn đã trình bày được tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về quản lý vốn đầu tư XDCB từ Ngân sách Nhà nước tại Kho bạc Nhà nước
Luận văn thạc sĩ Tài chính ngân hàng của tác giả Đoàn Ngọc Lâm, năm 2014:
“Nâng cao hiệu quả quản lý nguồn vốn đầu tư XDCB từ NSNN tại địa bàn tỉnh
Trang 10Quảng Trị” Luận văn đã trình bày được cơ sở lý luận về quản lý nguồn vốn đầu tư XDCB từ Ngân sách Nhà nước trong đó cụ thể là quản lý chi đầu tư XDCB từ nguồn Ngân sách Nhà nước, phân tích thực trạng giải ngân thanh toán, quyết toán vốn đầu tư XDCB từ Ngân sách Nhà nước, những bất cập trong quá trình thực hiện triển khai dự án đầu tư, thực trạng công tác giám sát, đánh giá đầu tư, tình hình thực hiện chế độ báo cáo từ đó đưa ra các giải pháp, kiến nghị như: tăng cường cải cách hành chính, chống tiêu cực, phiền hà ở các cơ quan Nhà nước liên quan đến quá trình đầu tư xây dựng cơ bản, thực hiện cơ chế dân chủ, công khai minh bạch trong đầu tư XDCB, nâng cao chất lượng giải phóng mặt bằng, tái định cư nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nguồn vốn đầu tư XDCB từ Ngân sách Nhà nước
Do đó có thể nói các tác giả chủ yếu nghiên cứu quản lý hiệu quả đầu tư công hay quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản, lĩnh vực nghiên cứu về quyết toán đối với các dự án xây dựng cơ bản có sử dụng nguồn vốn Ngân sách Nhà nước theo pháp luật Việt Nam là khâu cuối cùng trong chuỗi quản lý hiệu quả đầu tư công hay quản
lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản ít được nghiên cứu và có thể dẫn đến tình trạng vi phạm Luật đầu tư công về phát sinh nợ đọng XDCB dẫn đến chưa quản lý hiệu quả vốn đầu tư Luận văn “Quyết toán đối với các dự án xây dựng cơ bản có sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ninh” mà học viên thực hiện có kế thừa một số cơ sở lý luận về vốn đầu tư XDCB, đồng thời bổ sung làm rõ thêm cơ sở lý luận và pháp luật về quyết toán đối với các
dự án XDCB có sử dụng nguồn vốn NSNN nói riêng và phân tích, đánh giá thực trạng quyết toán đối với các dự án XDCB có sử dụng nguồn vốn NSNN của Quảng Ninh từ năm 2015-2018 thông qua các báo cáo, số liệu của cơ quan nhà nước, cơ quan thanh tra, kiểm toán và điều tra khảo sát, phỏng vấn các cán bộ lãnh đạo, chuyên viên đang công tác trong lĩnh vực quyết toán đối với các dự án XDCB của tỉnh, đưa ra các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả thực hiện chính sách, nêu lên các nguyên nhân, nhân tố ảnh hưởng và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quyết toán đối với các dự án XDCB có sử dụng nguồn vốn NSNN
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ hơn những vấn đề lý luận về quyết toán đối với các dự án xây dựng cơ bản có sử dụng nguồn vốn Ngân sách Nhà
Trang 11nước theo pháp luật Việt Nam thông qua việc nghiên cứu các cơ sở pháp lý, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực thi pháp luật về quyết toán đối với các dự
án xây dựng cơ bản có sử dụng nguồn vốn Ngân sách Nhà nước tại tỉnh Quảng Ninh, chỉ ra những vướng mắc của việc thực thi các quy định pháp luật, các nguyên nhân ảnh hưởng tiêu cực đến quyết toán để trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp cho việc hoàn thiện công tác quyết toán đối với các dự án xây dựng cơ bản có sử dụng nguồn vốn Ngân sách Nhà nước theo pháp luật Việt Nam tại tỉnh Quảng Ninh
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, Luận văn tập trung giải quyết 3 nội dung cơ bản như sau:
- Làm rõ hơn những vấn đề lý luận về quyết toán đối với các dự án đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng nguồn vốn Ngân sách Nhà nước theo pháp luật Việt Nam;
- Đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực thi pháp luật về quyết toán đối với các dự án đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng nguồn vốn Ngân sách Nhà nước từ thực tiễn tại tỉnh Quảng Ninh;
- Đề xuất một số giải pháp cho việc hoàn thiện công tác quyết toán đối với các
dự án đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng nguồn vốn Ngân sách Nhà nước theo pháp luật Việt Nam tại tỉnh Quảng Ninh
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề về lý luận và thực tiễn trong việc quyết toán đối với các dự án xây dựng cơ bản có sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước theo pháp luật Việt Nam trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh qua Sở Tài chính
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: Nghiên cứu được thực hiện đối với các dự án đầu tư XDCB hoàn thành có sử dụng nguồn vốn NSNN tại tỉnh Quảng Ninh
- Phạm vi về thời gian: Thời gian từ tháng 03/2019 đến tháng 05/2019
Số liệu thứ cấp: thu thập từ các tài liệu như sách báo, tạp chí, internet, các Thông tư, Nghị định, văn bản qui phạm pháp luật do cơ quan nhà nước ban hành, các tài liệu do UBND, Sở Tài Chính và Cục Thống Kê tỉnh Quảng Ninh cung cấp giai đoạn 2015-2018
- Phạm vi về nội dung:
Trong phạm vi đề tài, tác giả chủ yếu đánh giá quá trình thực hiện và những kết quả đạt được trong quyết toán đối với các dự án xây dựng cơ bản có sử dụng
Trang 12nguồn vốn ngân sách nhà nước theo pháp luật Việt Nam thông qua việc quyết toán các dự án, công trình hoàn thành, chủ yếu như hạ tầng dự án giao thông trọng điểm như cao tốc Hạ Long – Hải Phòng, cao tốc Hạ Long – Vân Đồn, sân bay, hạ tầng du lịch tại tỉnh Quảng Ninh.
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn vận dụng phương pháp nghiên cứu quy định về quyết toán dự án hoàn thành thuộc nguồn vốn Nhà nước và phương pháp duy vật biện chứng, tập trung vào trình tự, thời hạn quyết toán Phương pháp nghiên cứu quy định về quyết toán dự án hoàn thành thuộc nguồn vốn Nhà nước sẽ làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc quyết toán đối với các dự án hoàn thành có sử dụng nguồn vốn Ngân sách Nhà nước cũng như việc đánh giá và hoàn thiện chính sách hiện nay
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu
cụ thể sau:
- Phương pháp phân tích: được tác giả sử dụng khi đánh giá, bình luận các
quan điểm, các quy định của pháp luật về quyết toán đối với các dự án xây dựng cơ bản có sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước Phương pháp này được tác giả sử dụng trong tất cả các chương của luận văn
- Phương pháp tổng hợp: được tác giả sử dụng khi đánh giá nhằm rút ra
những kết luận tổng quan, những quan điểm, đề xuất và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về quyết toán đối với các dự án xây dựng cơ bản có sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước Phương pháp này được tác giả sử dụng chủ yếu trong Chương 3 của luận văn
- Phương pháp thống kê và quan sát: được tác giả vận dụng nhằm thu thập
các văn bản quy định pháp luật mới nhất về quyết toán dự án hoàn thành thuộc nguồn vốn Nhà nước Phương pháp này được tác giả sử dụng chủ yếu tại Chương 1
và Chương 2 của luận văn
- Phương pháp phân tích logic quy phạm: được tác giả sử dụng từ khi nêu
nội dung điều chỉnh của pháp luật về quyết toán đối với các dự án xây dựng cơ bản
Trang 13có sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước, đánh giá thực trạng pháp luật về quyết toán đối với các dự án xây dựng cơ bản có sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà nước
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Về mặt lý luận, luận văn đã làm rõ thêm về mặt lý luận, thực tiễn và pháp lý
về quyết toán đối với các dự án xây dựng cơ bản có sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước ở Việt Nam hiện nay Thông qua việc phân tích, luận bàn về pháp luật về quyết toán đối với các dự án xây dựng cơ bản có sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước, trên cơ sở đánh giá thực trạng các quy định pháp luật này và đưa ra các quan điểm, yêu cầu và giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về pháp luật về quyết toán đối với các dự án xây dựng cơ bản có sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước tại tỉnh Quảng Ninh và ở Việt Nam trong thời gian tới
- Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của đề tài luận văn có thẻ làm tài liệu
tham khảo cho các cơ quan xây dựng và thực hiện pháp luật về quyết toán đối với các dự án xây dựng cơ bản có sử dụng nguồn vốn Ngân sách Nhà nước cũng như cho việc giảng dạy, nghiên cứu và đào tạo chuyên ngành luật
7 Kết cấu của luận văn
Cơ cấu của luận văn gồm: phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quyết toán đối với các dự án xây dựng
cơ bản có sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước
Chương 2: Quyết toán đối với các dự án xây dựng cơ bản có sử dụng nguồn
vốn ngân sách nhà nước tại tỉnh Quảng Ninh
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quyết toán đối với các dự án xây dựng cơ bản có sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước theo pháp luật Việt Nam
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUYẾT TOÁN ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN CÓ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1.1 Khái luận về quyết toán đối với các dự án đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng nguồn vốn Ngân sách Nhà nước
(Trích dẫn Thư viện học liệu mở Việt Nam):
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản thuộc Ngân sách Nhà nước là vốn của Ngân sách Nhà nước được cân đối trong dự toán Ngân sách Nhà nước hàng năm từ các nguồn thu trong nước, nước ngoài (bao gồm vay nước ngoài của Chính phủ và vốn viện trợ của nước ngoài cho chính phủ, các cấp chính quyền và các cơ quan Nhà nước) để cấp phát và cho vay ưu đãi về đầu tư xây dựng cơ bản.Vốn đầu tư xây dựng cơ bản của ngân sách Nhà nước được hình thành từ các nguồn sau:
- Một phần tích luỹ trong nước từ thuế, phí, lệ phí
- Vốn viện trợ theo dự án của chính phủ, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức liên hợp quốc và các tổ chức Quốc tế khác
- Vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) của tổ chức Quốc tế và các Chính phủ
hỗ trợ cho Chính phủ Việt Nam
- Vốn thu hồi nợ của ngân sách đã cho vay ưu đãi các năm trước
- Vốn vay của Chính phủ dưới các hình thức trái phiếu kho bạc nhà nước phát hành theo quyết định của Chính phủ
- Vốn thu từ tiền giao quyền sử dụng đất theo quy định của Chính phủ
- Vốn thu từ tiền bán, cho thuê tài sản thuộc sở hữu Nhà nước
Từ khái niệm vốn đầu tư xây dựng cơ bản nêu trên, Dự án xây dựng cơ bản có sử dụng vốn ngân sách nhà nước bao gồm: i) Các Dự án xây dựng cơ bản có sử dụng vốn ngân sách nhà nước, vốn từ quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước, vốn tín dụng do Chính phủ bảo lãnh, vốn vay được bảo đảm bằng tài sản của nhà nước, vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước; ii) Các dự án đầu tư thuộc chương trình mục tiêu quốc gia iii) Các dự án sử dụng vốn nhà nước và vốn huy động khác và iv) Các dự án đầu tư sử dụng nguồn
hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và nguồn vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ
Trang 15Khi các dự án này hoàn thành, việc thực hiện quyết toán sẽ phải tuân theo các quy định của pháp luật về Ngân sách Nhà nước, theo đó, quyết toán NSNN là khâu cuối cùng trong một chu trình ngân sách nhằm tổng kết, đánh giá việc thực hiện ngân sách cũng như các chính sách ngân sách của năm ngân sách đã qua Với hàm nghĩa đó, quyết toán NSNN trở thành một khâu quan trọng, là nhiệm vụ của nhiều
cơ quan, đơn vị từ đơn vị sử dụng Ngân sách, các cấp Ngân sách đến các cơ quan quản lý ngân sách, cơ quan kiểm tra kiểm soát ngân sách cho đến cơ quan quyền lực tối cao của quốc gia là Quốc hội
(Trích dẫn Tạp chí Công thương)
Quyết toán ngân sách nhà nước phải đảm bảo đầy đủ các nội dung:
- Phản ánh được đầy đủ số liệu thu, chi ngân sách
- Chủ thể có quyết toán ngân sách nhà nước phải giải trình được việc quản lý thu, chi ngân sách nhà nước trong năm tài chính đó có tuân thủ luật định hay không
- Thể hiện được tính hiệu quả nhất có thể trong việc chấp hành ngân sách nhà nước
- Quyết toán ngân sách nhà nước được xác định trong 1 năm (năm tài chính)
- Quyết toán ngân sách nhà nước phải được trình báo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê chuẩn
Quyết toán vốn đầu tư XDCB đối với dự án xây dựng cơ bản có sử dụng vốn Ngân sách Nhà nước được hiểu là việc lập, kiểm tra và quyết định báo cáo tài chính về toàn bộ tình hình quản lý và sử dụng vốn đầu tư để xây dựng dự án, công trình, hạng mục công trình kể từ khi bắt đầu đến khi kết thúc, bàn giao đưa dự án, công trình hoặc hạng mục công trình đó vào sử dụng Đầu tư nói chung là việc sử dụng các nguồn lực (có thể là tiền vốn, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động
và trí tuệ) ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra Kết quả thu được từ hoạt động đầu tư có thể là tiền vốn, là tài sản vật chất (nhà máy, đường giao thông, bệnh viện, trường học…) hay là tài sản trí tuệ (trình độ văn hoá, chuyên môn, quản lý, khoa học kỹ thuật…)
Đầu tư phát triển là loại hình đầu tư có liên quan đến sự tăng trưởng quy mô vốn của nhà đầu tư và quy mô vốn trên phạm vi toàn xã hội Thông qua đầu tư phát triển, cơ sở vật chất kỹ thuật và năng lực sản xuất phục vụ của nền kinh tế được
Trang 16tăng cường, đổi mới, hoàn thiện, hiện đại hoá góp phần qua trọng trong việc hình thành và điều chỉnh cơ cấu của nền kinh tế, thực hiện mục tiêu ổn định và tăng trưởng cao bền vững của nền kinh tế.Vốn đầu tư là tiền hoặc các tài sản hợp pháp khác để thực hiện các hoạt động đầu tư này
Vốn đầu tư phát triển của nhà nước là phần vốn lấy từ quỹ NSNN dành cho hoạt động đầu tư phát triển; vốn đầu tư XDCB bằng nguồn NSNN là vốn thuộc nguồn NSNN dành cho đầu tư phát triển để đầu tư xây dựng các công trình thuộc kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không có khả năng thu hồi vốn, các dự án quy hoạch vùng và lãnh thổ…
Vốn đầu tư XDCB hoàn thành là toàn bộ vốn đầu tư được sử dụng để đầu tư
dự án hay xây dựng công trình hoặc hạng mục công trình từ giai đoạn chuẩn bị đầu
tư cho đến khi kết thúc, bàn giao đưa vào sử dụng dự án, công trình hoặc hạng mục công trình đó vào sử dụng
Quyết toán vốn đầu tư XDCB bằng nguồn NSNN liên quan đến nhiều cơ quan: Chủ đầu tư là người lập báo cáo quyết toán vốn đầu tư XDCB các dự án hoàn thành và đề nghị cấp có thẩm quyền quyết định phê duyệt quyết toán, trước khi được phê duyệt thì cần có một cơ quan thẩm tra báo cáo của chủ đầu tư, đây chính
là nhiệm vụ của cơ quan tài chính
(Trích dẫn theo bài đăng của Ban biên tập Trang tin điện tử Sở Tài chính đăng tải bài tham luận của Lãnh đạo Sở Tài chính tại Hội thảo Tài chính - Ngân sách năm
2019, Sở Tài chính 07 tỉnh, thành phố liên kết tại Quảng Ninh.)
Quyết toán vốn đầu tư XDCB là khâu cuối truớc khi đưa dự án vào khai thác
sử dụng Kết quả của quyết toán vốn đầu tư XDCB là cơ sở để Nhà nước đánh giá kết quả đầu tư, xác định giá trị tài sản mới tăng thêm do đầu tư mang lại để làm căn
cứ giao vốn, quản lý vốn và tài sản của Nhà nước cho đơn vị sử dụng… Vì vậy nó
có vai trò vô cùng quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư XDCB, giúp nguồn vốn đầu tư từ Ngân sách Nhà nước được minh bạch, quản lý chặt chẽ, sử dụng hiệu quả hơn
Mục tiêu của quyết toán đối với các dự án xây dựng cơ bản có sử dụng nguồn vốn
Ngân sách Nhà nước
- Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư từ nguồn vốn Ngân sách Nhà nước
- Nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước
Trang 17- Đảm bảo công khai, minh bạch trong phân bổ vốn và quản lý đầu tư xây dựng
Về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết toán đối với các dự án xây dựng cơ bản có sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước có thể được xem xét trên hai phương diện: khách quan và chủ quan Về phương diện khách quan gồm có:
- Hệ thống cơ chế chính sách:
Nhiệm vụ của quyết toán là xác định toàn bộ các chi phí hợp pháp đã thực hiện trong quá trình đầu tư, từ khi chuẩn bị đầu tư đến khi dự án hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng Để xác định các chi phí hợp pháp này, cơ quan có chức năng thẩm tra quyết toán vốn đầu tư các dự án hoàn thành phải căn cứ vào hệ thống chính sách, chế độ liên quan đến đầu tư xây dựng dự án và quyết toán như: hệ thống định mức, đơn giá, tiêu chuẩn quy phạm trong XDCB và các chính sách quản lý tài chính
về đầu tư và xây dựng… Hệ thống chính sách đầy đủ, đồng bộ là nhân tố quan trọng
để nâng cao chất lượng quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản; ngược lại nếu hệ thống chính sách không đầy đủ, không đồng bộ sẽ tạo ra những khe hở gây thất thoát lãng phí trong đầu tư XDCB nói chung và trong quyết toán nói riêng
- Trình độ của các cơ quan, tổ chức liên quan đến quyết toán đầu tư và xây dựng (cơ quan thẩm tra phê duyệt dự án đầu tư, thiết kế dự toán, cơ quan cấp trên của chủ đầu tư, các đơn vị tư vấn, đơn vị thi công…):
Quyết toán vốn đầu tư XDCB là bước cuối trong trình tự đầu tư XDCB, do đó chất lượng của quyết toán này chịu ảnh hưởng nhiều của chất lượng các bước khác trước đó Chẳng hạn, nếu chất lượng công tác lập và thẩm định dự toán xây dựng công trình tốt; chủ đầu tư, các đơn vị tư vấn đấu thầu, tư vấn giám sát và các nhà thầu thực hiện theo đúng quy định sẽ là những cơ sở thuận lợi cho công tác quyết toán vốn đầu tư XDCB xác định chính xác giá trị của dự án Ngược lại nếu một hoặc một vài đơn vị liên quan không thực hiện hết chức năng, nhiệm vụ của mình sẽ gây rất nhiều khó khăn cho quyết toán, có thể làm cho giá trị quyết toán không phản ánh đúng các chi phí thực tế Đây là những hạn chế rất khó loại bỏ vì nó liên quan đến nhiều tổ chức, đơn vị liên quan Để hạn chế vấn đề này, Nhà nước đã ban hành các quy định về chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan chức năng, các tiêu chuẩn đối với các đơn vị tư vấn, chế độ thưởng, phạt… Trong thực tế vẫn còn bất cập tình trạng lập, phê duyệt tổng dự toán, dự toán không theo sát các định mức kinh tế kỹ thuật của Nhà nước đã ban hành, thoát ly giá cả thực tế trên thị trường dẫn đến
Trang 18nhiều tổng mức đầu tư, tổng dự toán được duyệt không sát với thực tế Ngoài ra, tình trạng chủ đầu tư, đơn vị tư vấn, đơn vị thi công không thực hiện đúng theo hồ
sơ thiết kế được duyệt không những ảnh hưởng tới chất lượng quyết toán mà còn gây thất thoát, lãng phí trong đầu tư XDCB
Về phương diện chủ quan gồm có:
- Chủ đầu tư: Là người trực tiếp quản lý dự án, có nhiệm vụ lập báo cáo quyết toán trình cấp có thẩm quyền thẩm định và phê duyệt Do đó chủ đầu tư có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng quyết toán Chủ đầu tư thiếu tinh thần trách nhiệm, không làm hết chức năng nhiệm vụ của mình, cố tình cùng với các bên liên quan lập quyết toán khống các khối lượng công việc hoặc đưa vào quyết toán những khối lượng công việc không đạt chất lượng, không đúng yêu cầu về tiêu chuẩn và quy phạm sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quyết toán, gây khó khăn trong việc xác định chi phí hợp lý của dự án, ảnh hưởng đến tính chính xác của giá trị quyết toán Điều này cũng có thể xảy ra đối với trường hợp các chủ đầu tư không đủ năng lực, không thực hiện được chức năng nhiệm vụ của mình
- Trình độ cán bộ thẩm tra quyết toán: Đây là nhân tố ảnh huởng lớn nhất đến chất lượng quyết toán vốn đầu tư XDCB Có thể nhận thấy thẩm tra quyết toán vốn đầu tư của các dự án là một công tác hết sức phức tạp, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực: Tài chính, xây dựng, giao thông, nông nghiệp thuỷ lợi, công nghiệp,… Chất lượng, kết quả của quyết toán phụ thuộc vào bản thân của các cán
bộ trực tiếp thẩm tra quyết toán Do đó, đòi hỏi cán bộ thẩm tra quyết toán phải là người thực sự có năng lực, nắm vững nghiệp vụ tài chính nhưng cũng phải am hiểu
về kỹ thuật xây dựng nếu không sẽ bỏ sót những sai phạm trong các khâu trước của quá trình đầu tư gây thất thoát lãng phí trong đầu tư XDCB
Cán bộ làm thẩm tra quyết toán còn phải có đạo đức nghề nghiệp vì công tác quyết toán vốn đầu tư XDCB có liên quan trực tiếp đến lợi ích của các bên liên quan nên dễ dẫn đến tình trạng thông đồng móc ngoặc giữa đơn vị thi công, chủ đầu tư và cán bộ thẩm tra bỏ qua những sai sót làm sai lệch chi phí đầu tư hợp lý gây thất thoát lãng phí vốn trong hoạt động đầu tư XDCB
1.2 Nội dung, trình tự, thủ tục quyết toán dự án đầu tư xây dựng cơ bản có
sử dụng nguồn vốn Ngân sách Nhà nước đã hoàn thành theo pháp luật Việt Nam
Theo Điều 2 của Thông tư 09/2016/TT-BTC, mục tiêu của công tác quyết toán các dự án xây dựng cơ bản hoàn thành có sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước là
Trang 19nhằm đánh giá kết quả quá trình đầu tư, xác định năng lực sản xuất, giá trị tài sản mới tăng thêm do đầu tư mang lại; nhằm đánh giá việc thực hiện các quy định của Nhà nước trong quá trình đầu tư thực hiện dự án, xác định rõ trách nhiệm của chủ đầu tư, các nhà thầu, cơ quan cấp vốn, cho vay, kiểm soát thanh toán, các cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan; thông qua công tác quyết toán dự án hoàn thành, các cơ quan quản lý nhà nước rút kinh nghiệm, hoàn thiện cơ chế chính sách của Nhà nước, nâng cao hiệu quả công tác quản lý vốn đầu tư trong cả nước
Chính vì vậy, việc quyết toán dự án xây dựng cơ bản có sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước đã hoàn thành theo pháp luật Việt Nam phải được tiến hành theo các bước chính sau đây: Lập báo cáo quyết toán, thẩm tra, phê duyệt quyết
toán, trong đó có việc phân định rõ trách nhiệm của các chủ thể trong quyết toán đối
với các dự án xây dựng cơ bản có sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước
a Lập báo cáo quyết toán
Về lập báo cáo quyết toán dự án xây dựng cơ bản có sử dụng nguồn vốn Ngân sách Nhà nước đã hoàn thành theo quy định pháp luật hiện hành, chủ thể có trách nhiệm lập báo cáo quyết toán, trước hết là chủ đầu tư dự án xây dựng cơ bản có sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước
(Trích dẫn Báo cáo quyết toán dự án hoàn thành được hướng dẫn tại điều
7, Thông tư 09/2016/TT-BTC)
Về nội dung báo cáo quyết toán dự án xây dựng cơ bản có sử dụng nguồn vốn Ngân sách Nhà nước đã hoàn thành, thể theo quy định của pháp luật hiện hành, Báo cáo quyết toán dự án hoàn thành phải xác định đầy đủ, chính xác:
- Nguồn vốn đầu tư thực hiện dự án, chi tiết theo từng nguồn vốn đầu tư;
- Tổng chi phí đầu tư đề nghị quyết toán, chi tiết theo cơ cấu (bồi thường hỗ trợ và tái định cư, xây dựng, thiết bị, quản lý dự án, tư vấn và các khoản chi phí khác);
- Chi phí thiệt hại trong quá trình đầu tư;
- Chi phí được phép không tính vào giá trị tài sản;
- Giá trị tài sản hình thành sau đầu tư
Các Biểu mẫu báo cáo quyết toán cũng phải tuân thủ theo quy tắc, chuẩn mực sau đây:
Trang 20Biểu mẫu báo cáo quyết toán được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 64/2018/TT-BTC
- Đối với dự án hoàn thành, hạng mục công trình độc lập hoàn thành, dự án dừng thực hiện vĩnh viễn có khối lượng thi công xây dựng, lắp đặt thiết bị được nghiệm thu gồm các Mẫu số: 01, 02, 03, 04, 05, 06, 06A, 07/QTDA kèm theo Thông tư số 64/2018/TT-BTC của Bộ Tài chính ban hành ngày 30/07/2018
- Đối với dự án quy hoạch sử dụng nguồn vốn đầu tư phát triển (nếu có), dự án dừng thực hiện vĩnh viễn không có khối lượng thi công xây dựng, lắp đặt thiết bị được nghiệm thu gồm các Mẫu số: 03, 07, 08/QTDA kèm theo Thông tư số 09/2016/TT-BTC của Bộ Tài chính ban hành ngày 18/01/2016
(Trích dẫn theo Điều 8 Thông tư 09/2016/TT-BTC có sửa đổi bổ sung theo Thông tư 64/2018/TT-BTC)
Về Hồ sơ trình duyệt quyết toán, chủ đầu tư gửi 01 bộ hồ sơ đến cơ quan thẩm tra phê duyệt quyết toán Hồ sơ bao gồm các tài liệu sau:
Đối với dự án hoàn thành, hạng mục công trình hoàn thành; dự án dừng thực hiện vĩnh viễn có khối lượng thi công xây dựng, lắp đặt thiết bị sẽ phải bao gồm:
- Tờ trình đề nghị phê duyệt quyết toán của chủ đầu tư (bản chính) Trường hợp thuê kiểm toán độc lập thực hiện kiểm toán, tờ trình phải nêu rõ những nội dung thống nhất, nội dung không thống nhất và lý do không thống nhất giữa chủ đầu tư và đơn vị kiểm toán độc lập;
- Biểu mẫu báo cáo quyết toán theo quy định tại Điều 7 Thông tư số 09/2016/TT-BTC (bản chính)
- Toàn bộ các văn bản pháp lý có liên quan theo Mẫu số 02/QTDA (bản chính hoặc bản do chủ đầu tư sao y bản chính);
- Hồ sơ quyết toán của từng hợp đồng gồm các tài liệu (bản chính hoặc do chủ đầu tư sao y bản chính): hợp đồng xây dựng và các phụ lục hợp đồng (nếu có); các biên bản nghiệm thu khối lượng hoàn thành theo giai đoạn thanh toán; biên bản nghiệm thu khối lượng hoàn thành toàn bộ hợp đồng; bảng tính giá trị quyết toán hợp đồng (quyết toán A-B); biên bản thanh lý hợp đồng đối với trường hợp đã đủ điều kiện thanh lý hợp đồng theo quy định của pháp luật về hợp đồng; các tài liệu khác theo thỏa thuận trong hợp đồng liên quan đến nội dung thẩm tra, phê duyệt quyết toán dự án hoàn thành”
Trang 21- Biên bản nghiệm thu công trình hoặc hạng mục công trình độc lập hoàn thành đưa vào sử dụng, văn bản chấp thuận kết quả nghiệm thu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (bản chính);
- Báo cáo kiểm toán quyết toán dự án hoàn thành của đơn vị kiểm toán độc lập trong trường hợp thuê kiểm toán độc lập thực hiện kiểm toán (bản chính);
- Kết luận thanh tra, biên bản kiểm tra, báo cáo kiểm toán của các cơ quan thanh tra, kiểm tra, Kiểm toán Nhà nước trong trường hợp các cơ quan thanh tra, kiểm tra, Kiểm toán Nhà nước thực hiện thanh tra, kiểm tra, kiểm toán dự án; kết quả điều tra của các cơ quan pháp luật trong trường hợp chủ đầu tư vi phạm pháp luật bị cơ quan pháp luật điều tra; báo cáo tình hình chấp hành các báo cáo trên của chủ đầu tư
b Thẩm tra, phê duyệt quyết toán
Trong quá trình thẩm tra, khi cơ quan thẩm tra quyết toán có văn bản yêu cầu, chủ đầu tư có trách nhiệm xuất trình các tài liệu khác có liên quan để phục vụ công tác thẩm tra quyết toán
Trường hợp nhà thầu không thực hiện quyết toán hợp đồng theo quy định hoặc
cá nhân, tổ chức không thực hiện các nội dung công việc để hoàn thành quyết toán
dự án, chủ đầu tư có văn bản yêu cầu nhà thầu, cá nhân, tổ chức thực hiện quyết toán hợp đồng hoặc bổ sung hoàn thiện hồ sơ, tài liệu quyết toán hợp đồng hoặc hoàn thành các nội dung công việc để quyết toán dự án kèm theo thời hạn thực hiện (theo Mẫu số 14/QTDA) Sau khi chủ đầu tư đã gửi văn bản lần thứ 03 (mỗi văn bản cách nhau 10 ngày) đến nhà thầu, cá nhân, tổ chức, nhưng nhà thầu, cá nhân, tổ chức vẫn không thực hiện các nội dung theo yêu cầu; chủ đầu tư được căn cứ những
hồ sơ thực tế đã thực hiện để lập hồ sơ quyết toán (không cần bao gồm quyết toán A-B), thuê kiểm toán độc lập thực hiện kiểm toán (nếu có), xác định giá trị đề nghị quyết toán trình cấp có thẩm quyền phê duyệt và ghi rõ nội dung về việc nhà thầu,
cá nhân, tổ chức không hợp tác để quyết toán dự án hoặc thực hiện các nội dung công việc để hoàn thành quyết toán dự án trong Tờ trình đề nghị phê duyệt quyết toán của chủ đầu tư Nhà thầu, cá nhân, tổ chức tham gia thực hiện dự án chịu hoàn toàn các tổn thất, thiệt hại (nếu có) và có trách nhiệm chấp hành quyết định phê duyệt quyết toán dự án của cấp có thẩm quyền
Trang 22Theo quy định của pháp luật hiện hành thì thẩm quyền phê duyệt quyết toán được xác định như sau:
* Đối với dự án quan trọng quốc gia và các dự án quan trọng khác do Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư: (Trích dẫn theo Điều 9 Thông tư 09/2016/TT-BTC)
- Đối với dự án hoặc dự án thành phần sử dụng vốn ngân sách nhà nước: Người đứng đầu Bộ, ngành trung ương phê duyệt quyết toán đối với dự án hoặc dự
án thành phần thuộc Bộ, ngành trung ương quản lý; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt quyết toán đối với dự án hoặc dự án thành phần thuộc cấp tỉnh quản lý; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt quyết toán đối với dự án hoặc dự
án thành phần thuộc cấp huyện quản lý
- Chủ đầu tư phê duyệt quyết toán các dự án, dự án thành phần không sử dụng vốn ngân sách nhà nước
- Sau khi quyết toán xong toàn bộ dự án, Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được giao quản lý dự án thành phần chính hoặc được giao làm đầu mối tổng hợp dự
án thành phần chính chịu trách nhiệm tổng hợp báo cáo kết quả quyết toán toàn bộ
dự án báo cáo Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư
* Đối với các dự án còn lại, người quyết định đầu tư là người phê duyệt quyết toán dự án hoàn thành Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan trung ương của các đoàn thể, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được ủy quyền hoặc phân cấp phê duyệt quyết toán đối với các dự án nhóm B, C cho cơ quan cấp dưới trực tiếp
Trong trường hợp người phê duyệt quyết toán yêu cầu kiểm toán báo cáo quyết toán dự án hoàn thành trước khi thẩm tra, phê duyệt quyết toán dự án; chủ đầu tư tổ chức lựa chọn nhà thầu kiểm toán theo quy định của pháp luật về đấu thầu,
ký kết hợp đồng kiểm toán quyết toán dự án hoàn thành theo quy định của pháp luật
về hợp đồng Chủ đầu tư, nhà thầu kiểm toán độc lập và các đơn vị có liên quan thực hiện theo quy định tại các khoản 2, 3 Điều 10 Thông tư số 09/2016/TT-BTC của Bộ Tài chính ban hành ngày 18/01/2016 Nhà thầu kiểm toán quyết toán dự án hoàn thành phải là các doanh nghiệp kiểm toán được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật về thành lập và hoạt động doanh nghiệp tại Việt Nam Khi thực hiện kiểm toán phải tuân thủ các quy định của pháp luật về kiểm toán độc lập
Trang 23cũng như các Chuẩn mực kiểm toán hiện hành Khi kết thúc cuộc kiểm toán phải lập báo cáo kiểm toán quyết toán dự án hoàn thành với đầy đủ nội dung quy định của Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam về Kiểm toán báo cáo quyết toán dự án hoàn thành
Trường hợp Kiểm toán Nhà nước thực hiện kiểm toán và phát hành báo cáo kiểm toán đảm bảo đủ nội dung quy định tại Điều 12 Thông tư số 09/2016/TT-BTC của Bộ Tài chính ban hành ngày 18/01/2016 thì cơ quan chủ trì thẩm tra quyết toán
dự án sử dụng kết quả báo cáo kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước làm căn cứ để thẩm tra, không thuê kiểm toán độc lập để kiểm toán quyết toán dự án Trường hợp Kiểm toán Nhà nước thực hiện kiểm toán chưa đủ các nội dung quy định tại Điều
12 Thông tư này, chủ đầu tư lựa chọn nhà thầu kiểm toán độc lập để kiểm toán bổ sung theo yêu cầu của người phê duyệt quyết toán Chi phí kiểm toán bổ sung được xác định tương tự như xác định chi phí kiểm toán đối với hạng mục công trình, gói thầu trong dự án quy định tại điểm c khoản 1 Điều 21 Thông tư này Cơ quan chủ trì thẩm tra sử dụng kết quả báo cáo kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước và kết quả báo cáo kiểm toán của kiểm toán độc lập làm căn cứ để thẩm tra quyết toán dự án Trường hợp Kiểm toán Nhà nước có quyết định kiểm toán dự án khi chủ đầu tư và nhà thầu kiểm toán độc lập đang thực hiện hợp đồng kiểm toán báo cáo quyết toán
dự án hoàn thành thì nhà thầu kiểm toán độc lập vẫn tiếp tục thực hiện hợp đồng kiểm toán theo đúng quy định của Chuẩn mực kiểm toán báo cáo quyết toán dự án hoàn thành và hợp đồng đã ký kết
Trong trường hợp nhà thầu kiểm toán độc lập thực hiện kiểm toán báo cáo quyết toán dự án hoàn thành, cơ quan thẩm tra thực hiện thẩm tra theo các nội dung sau:
- Kiểm tra tính pháp lý của hợp đồng kiểm toán, phạm vi kiểm toán, thời gian
và thể thức thực hiện kiểm toán đối với dự án
- Đối chiếu nội dung báo cáo kết quả kiểm toán của dự án với nội dung kiểm toán theo quy định và Chuẩn mực kiểm toán về Kiểm toán báo cáo quyết toán dự án hoàn thành (hiện nay là Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 1000 - Kiểm toán báo cáo quyết toán dự án hoàn thành ban hành kèm theo Thông tư số 67/2015/TT-BTC ngày 08/5/2015 của Bộ Tài chính) Trong quá trình thẩm tra, trường hợp cơ quan thẩm tra quyết toán phát hiện kết quả kiểm toán có sai sót, không đảm bảo yêu cầu,
Trang 24không đủ nội dung theo quy định, cơ quan thẩm tra thông báo cho chủ đầu tư để yêu cầu nhà thầu kiểm toán thực hiện kiểm toán lại hoặc kiểm toán bổ sung
- Kiểm tra việc chấp hành các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, những căn cứ pháp lý mà kiểm toán viên sử dụng để kiểm toán dự án
- Xem xét những kiến nghị, những nội dung mà chủ đầu tư không thống nhất với đơn vị kiểm toán độc lập
- Kiểm tra việc chấp hành của chủ đầu tư và các đơn vị có liên quan đối với ý kiến kết luận của các cơ quan thanh tra, kiểm tra, Kiểm toán Nhà nước; kết quả điều tra của các cơ quan pháp luật trong trường hợp các cơ quan thanh tra, kiểm tra, Kiểm toán Nhà nước, cơ quan điều tra thực hiện thanh tra, kiểm tra, điều tra dự án Trường hợp cần thiết, cơ quan chủ trì thẩm tra báo cáo người phê duyệt quyết toán
có văn bản xin ý kiến của các cơ quan liên quan để thống nhất hướng xử lý trước khi trình người có thẩm quyền quyết định
Trong trường hợp cơ quan Kiểm toán Nhà nước thực hiện kiểm toán đủ các nội dung theo quy định tại Điều 12 Thông tư số 09/2016/TT-BTC của Bộ Tài chính ban hành ngày 18/01/2016 gồm:
- Đối chiếu nội dung báo cáo kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước với báo cáo quyết toán dự án hoàn thành của chủ đầu tư để xác định việc tuân thủ các quy định pháp luật của chủ đầu tư và các đơn vị có liên quan; số liệu đề nghị quyết toán của chủ đầu tư với kết quả kiểm toán, làm cơ sở để trình cấp có thẩm quyền xem xét khi phê duyệt quyết toán
- Kiểm tra việc chấp hành của chủ đầu tư và các đơn vị có liên quan đối với ý kiến kết luận của các cơ quan thanh tra, kiểm tra, Kiểm toán Nhà nước; kết quả điều tra của các cơ quan pháp luật trong trường hợp các cơ quan thanh tra, kiểm tra, Kiểm toán Nhà nước, cơ quan điều tra thực hiện thanh tra, kiểm tra, điều tra dự án Trường hợp cần thiết, cơ quan chủ trì thẩm tra báo cáo người phê duyệt quyết toán
có văn bản xin ý kiến của các cơ quan liên quan để thống nhất hướng xử lý trước khi trình người có thẩm quyền quyết định
(Trích dẫn theo quy định tại Khoản 5, Điều 1 Thông tư 64/2018/TT-BTC sửa đổi bổ sung Điều 9 Thông tư 09/2016/TT-BTC)
Về cơ quan thẩm tra quyết toán dự án hoàn thành, được xác định như sau:
Trang 25- Đối với các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước thuộc cấp tỉnh quản lý:
- Trường hợp cần thiết, người có thẩm quyền phê duyệt quyết toán quyết định thành lập tổ công tác thẩm tra để thực hiện thẩm tra trước khi phê duyệt quyết toán; thành phần của tổ công tác thẩm tra quyết toán gồm đại diện của các đơn vị, cơ quan có liên quan
(Trích dẫn Điều 12 Thông tư 09/2016/TT-BTC)
Trong trường hợp thẩm tra quyết toán đối với dự án, hạng mục công trình hoàn thành không kiểm toán báo cáo quyết toán thì Cơ quan thẩm tra thực hiện thẩm tra theo quy định tại các Điều 13, 14, 15, 16, 17, 18 Thông tư số 09/2016/TT-BTC của Bộ Tài chính ban hành ngày 18/01/2016 và lập báo cáo kết quả thẩm tra quyết toán dự án hoàn thành gồm những nội dung như sau:
+ Thẩm tra hồ sơ pháp lý;
+ Thẩm tra nguồn vốn đầu tư của dự án;
+ Thẩm tra chi phí đầu tư;
+ Thẩm tra chi phí đầu tư không tính vào giá trị tài sản;
+ Thẩm tra giá trị tài sản hình thành qua đầu tư;
+ Thẩm tra tình hình công nợ, vật tư, thiết bị tồn đọng;
+ Xem xét việc chấp hành của chủ đầu tư và các đơn vị có liên quan đối với ý kiến kết luận của các cơ quan thanh tra, kiểm tra, Kiểm toán Nhà nước; kết quả điều tra của các cơ quan pháp luật trong trường hợp các cơ quan thanh tra, kiểm tra, Kiểm toán Nhà nước, cơ quan điều tra thực hiện thanh tra, kiểm tra, điều tra dự án;
+ Nhận xét, đánh giá, kiến nghị
Nhận xét đánh giá việc chấp hành các quy định của Nhà nước về quản lý đầu tư, xây dựng và đấu thầu; công tác quản lý chi phí đầu tư, quản lý tài sản đầu tư của chủ đầu tư; trách nhiệm của từng cấp đối với công tác quản lý vốn đầu tư dự án; Kiến nghị về giá trị quyết toán và xử lý các vấn đề có liên quan
Trang 26(Trích dẫn Điều 20 Thông tư 09/2016/TT-BTC)
Sau khi thẩm tra quyết toán, cơ quan thẩm tra quyết toán lập hồ sơ trình duyệt quyết toán dự án hoàn thành để trình người có thẩm quyền phê duyệt
Hồ sơ quyết toán dự án đầu tư xây dựng công trình hoàn thành gồm các mẫu báo cáo quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành kèm theo các văn bản pháp lý liên quan theo Mẫu số 15/QTDA và 16/QTDA (cách lập mẫu báo cáo quyết toán theo hướng dẫn tại Phụ lục số I ban hành kèm theo Thông tư số 64/2018/TT-BTC)
Hồ sơ trình phê duyệt quyết toán gồm có:
- Báo cáo kết quả thẩm tra quyết toán
- Dự thảo quyết định phê duyệt quyết toán dự án hoàn thành và các tài liệu do chủ đầu tư trình (kèm theo)
- Trường hợp thành lập Tổ công tác thẩm tra quyết toán, người thẩm tra báo cáo Tổ thẩm tra quyết toán kết quả thẩm tra; Tổ thẩm tra quyết toán tham gia hoàn chỉnh, thông qua báo cáo thẩm tra quyết toán của người thẩm tra để trình cấp có thẩm quyền phê duyệt
- Các tài liệu do chủ đầu tư trình (kèm theo):
+ Tờ trình đề nghị phê duyệt quyết toán của chủ đầu tư;
+ Báo cáo quyết toán dự án hoàn thành của dự án;
+ Báo cáo kiểm toán (nếu có);
+ Kết luận thanh tra, biên bản kiểm tra, báo cáo kiểm toán của các cơ quan thanh tra, kiểm tra, Kiểm toán Nhà nước trong trường hợp các cơ quan thanh tra, kiểm tra, Kiểm toán Nhà nước thực hiện thanh tra, kiểm tra, kiểm toán dự án; kết quả điều tra của các cơ quan pháp luật trong trường hợp chủ đầu tư vi phạm pháp luật bị cơ quan pháp luật điều tra; văn bản báo cáo tình hình chấp hành của chủ đầu
tư và các tổ chức, cá nhân có liên quan đối với các kết luận trên
(Trích dẫn Khoản 2, Điều 20 Thông tư 09/2016/TT-BTC)
Báo cáo kết quả thẩm tra quyết toán gồm các nội dung chính:
- Khái quát toàn bộ dự án, những vấn đề đã được cấp có thẩm quyền quyết định trong quá trình đầu tư thực hiện dự án
- Tóm tắt kết quả các nội dung theo đúng trình tự thẩm tra quy định tại Thông
tư 09/2016/TT-BTC
- Kiến nghị giá trị phê duyệt quyết toán
Trang 27- Kiến nghị giải quyết các tồn tại về nguồn vốn đầu tư, tài sản và công nợ sau khi quyết toán dự án
Dự thảo quyết định phê duyệt quyết toán dự án hoàn thành theo Mẫu số 10/QTDA kèm theo Thông tư số 09/2016/TT-BTC của Bộ Tài chính
Quyết định phê duyệt quyết toán dự án hoàn thành được gửi cho các cơ quan, đơn vị: chủ đầu tư; cơ quan nhận tài sản; cơ quan quản lý cấp trên của chủ đầu tư;
cơ quan cấp vốn, cho vay, thanh toán; Bộ Tài chính (đối với dự án quan trọng quốc gia, dự án quan trọng khác do Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư và dự án nhóm A sử dụng vốn ngân sách nhà nước); cơ quan quyết định đầu tư dự án
Về hồ sơ quyết toán và thẩm tra quyết toán hoàn thành thuộc nguồn vốn ngân sách xã, phường, thị trấn phải tuân thủ theo Thông tư số 64/2018/TT-BTC của Bộ Tài chính:
- Trường hợp, đơn vị chức năng thuộc quyền quản lý của người quyết định đầu tư không đủ năng lực thẩm tra báo cáo quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành; người quyết định đầu tư lựa chọn một trong các hình thức sau:
+ Đề nghị Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện thẩm tra báo cáo quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành
+ Yêu cầu chủ đầu tư thuê tổ chức kiểm toán độc lập, kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành
- Trường hợp cần thiết, người có thẩm quyền phê duyệt quyết toán quyết định thành lập Tổ thẩm tra quyết toán để thực hiện thẩm tra trước khi phê duyệt quyết toán; thành phần của Tổ công tác thẩm tra quyết toán gồm thành viên của các đơn vị
có liên quan
c Trách nhiệm của các chủ thể trong quyết toán đối với các dự án đầu tư xây
dựng cơ bản có sử dụng nguồn vốn Ngân sách Nhà nước
- Đôn đốc, yêu cầu nhà thầu thực hiện quyết toán hợp đồng theo quy định
- Lập và quản lý hồ sơ quyết toán dự án hoàn thành đúng quy định, trình cấp
có thẩm quyền phê duyệt quyết toán đúng thời gian quy định tại Điều 22 Thông tư 09/2016/TT-BTC ngày 18 tháng 01 năm 2016 của Bộ Tài chính quy định về quyết toán dự án hoàn thành thuộc nguồn vốn nhà nước; cung cấp đầy đủ tài liệu liên quan đến quyết toán dự án hoàn thành theo yêu cầu của kiểm toán viên khi kiểm toán báo cáo quyết toán và cơ quan thẩm tra quyết toán
Trang 28- Chịu trách nhiệm trước pháp luật, cơ quan thẩm tra quyết toán về tính pháp
lý của hồ sơ quyết toán và tính đúng đắn của số liệu đề nghị quyết toán; tính chính xác của khối lượng do chủ đầu tư và nhà thầu nghiệm thu đưa vào báo cáo quyết toán; tính phù hợp của đơn giá do chủ đầu tư và nhà thầu đã thống nhất ghi trong hợp đồng
- Khi dự án hoàn thành được phê duyệt quyết toán, trường hợp số vốn được quyết toán thấp hơn số vốn đã thanh toán cho dự án, chủ đầu tư có trách nhiệm thu hồi của nhà thầu hoặc nhà cung cấp để nộp về ngân sách nhà nước số vốn đã thanh toán thừa; trường hợp số vốn được quyết toán cao hơn số vốn đã thanh toán cho dự
án, chủ đầu tư có trách nhiệm thanh toán tiếp cho nhà thầu hoặc nhà cung cấp theo giá trị quyết toán được phê duyệt khi có kế hoạch vốn
- Chịu trách nhiệm thu hồi hết số vốn đã tạm ứng theo quy định
Một chủ thể tiếp theo cũng có trách nhiệm trong việc lập báo cáo quyết toán
dự án xây dựng cơ bản có sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước, đó là các nhà thầu dự án xây dựng cơ bản Theo quy định của pháp luật hiện hành (Thông tư 09/2016/TT-BTC ngày 18 tháng 01 năm 2016 của Bộ Tài chính quy định về quyết toán dự án hoàn thành thuộc nguồn vốn nhà nước), các nhà thầu dự án xây dựng cơ bản có trách nhiệm:
- Thực hiện lập hồ sơ quyết toán hợp đồng, quyết toán giá trị thực hiện hợp đồng đã ký kết với chủ đầu tư theo quy định của pháp luật về hợp đồng xây dựng ngay sau khi hoàn thành nội dung công việc trong hợp đồng; chịu trách nhiệm về tính chính xác đối với số liệu và tính pháp lý đối với các tài liệu có liên quan trong
hồ sơ quyết toán hợp đồng theo quy định;
- Cùng với chủ đầu tư xử lý dứt điểm các vấn đề còn tồn tại theo hợp đồng đã ký kết; hoàn trả đầy đủ, kịp thời số vốn mà chủ đầu tư đã chi trả sai chế độ quy định
- Chịu trách nhiệm chấp hành quyết định phê duyệt quyết toán dự án của cấp
có thẩm quyền
Về thời hạn quyết toán vốn đầu tư theo quy định pháp luật hiện hành được xác định như sau: (Thời hạn quyết toán được hướng dẫn tại điều 22, Thông tư 09/2016/TT-BTC q uy định quyết toán dự án hoàn thành)
- Thời hạn lập báo cáo quyết toán vốn đầu tư XDCB các dự án hoàn thành được tính từ ngày ký biên bản bàn giao đưa dự án vào sử dụng không quá: 12 tháng
Trang 29đối với các dự án Quan trọng quốc gia và dự án nhóm A; 9 tháng đối với dự án nhóm B; 6 tháng đối với dự án nhóm C và 3 tháng đối với những công trình chỉ yêu cầu lập báo cáo kinh tế kỹ thuật xây dựng
- Thời gian kiểm toán tính từ ngày hợp đồng kiểm toán có hiệu lực không quá: 10 tháng đối với các dự án Quan trọng quốc gia; 8 tháng đối với dự án nhóm A; 6 tháng đối với dự án nhóm B; 4 tháng đối với dự án nhóm C
- Thời gian thẩm tra, phê duyệt quyết toán tính từ ngày nhận đủ hồ sơ quyết toán theo quy định không quá:7 tháng đối với các dự án Quan trọng quốc gia; 4 tháng đối với dự án nhóm A; 2 tháng đối với dự án nhóm B; 1 tháng đối với dự án nhóm C
Theo Thông tư số 09/2016/TT-BTC thời hạn nộp hồ sơ quyết toán dự án hoàn thành để trình người có thẩm quyền phê duyệt quyết toán được tính từ ngày ký biên bản bàn giao đưa công trình của dự án vào sử dụng Thời gian thẩm tra, phê duyệt quyết toán tính từ ngày nhận đủ hồ sơ quyết toán theo quy định tại Điều 8 Thông tư này Thời gian tối đa quy định cụ thể như sau:
Dự án QTQG Nhóm A Nhóm B Nhóm C Thời hạn nộp HSQT trình phê
duyệt quyết toán
09 tháng 09 tháng 06 tháng 03 tháng
Thời gian thẩm tra, phê duyệt
quyết toán
07 tháng 04 tháng 02 tháng 01 tháng
(Trích dẫn Điều 26 Thông tư 09/2016/TT-BTC)
Trách nhiệm của cơ quan Tài chính trong quyết toán đối với các dự án xây dựng cơ bản có sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước được xác định và phân cấp như sau:
- Bộ Tài chính chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về quyết toán vốn đầu tư; hướng dẫn quyết toán dự án hoàn thành; thanh tra, kiểm tra công tác quyết toán vốn đầu tư và quyết toán dự án hoàn thành trong cả nước; Trường hợp phát hiện có sai sót trong công tác thẩm tra, phê duyệt quyết toán, có quyền yêu cầu cấp phê duyệt quyết toán điều chỉnh lại cho đúng; đồng thời
xử lý hoặc đề nghị xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật
- Cơ quan tài chính các cấp hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra công tác quyết toán vốn đầu tư, quyết toán dự án hoàn thành thuộc phạm vi quản lý Trường hợp phát
Trang 30hiện vi phạm quy định trong công tác quyết toán vốn đầu tư, quyết toán dự án hoàn thành được xử lý hoặc đề nghị xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật
1.3 Quyết toán các dự án xây dựng cơ bản hoàn thành trong mối quan hệ với công tác quản lý chi phí đầu tư xây dựng cơ bản
1.3.1 Quyết toán các dự án XDCB là một khâu trong công tác quản lý chi phí đầu tư xây dựng cơ bản
Công tác quản lý chi phí đầu tư XDCB bao gồm: tổng mức đầu tư; dự toán xây dựng công trình; định mức và giá xây dựng; Giá gói thầu, giá dự thầu, giá đề nghị trúng thầu và giá trúng thầu; Giá hợp đồng xây dựng; Thanh toán vốn đầu tư XDCB; Quyết toán vốn đầu tư XDCB hoàn thành
(Trích dẫn Điều 4, Nghị định 32/2015/NĐ-CP)
Tổng mức đầu tư xây dựng là toàn bộ chi phí đầu tư xây dựng của dự án được xác định phù hợp với thiết kế cơ sở và các nội dung khác của Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng Nội dung tổng mức đầu tư xây dựng gồm chi phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư (nếu có); chi phí xây dựng; chi phí thiết bị; chi phí quản lý dự án; chi phí tư vấn đầu tư xây dựng; chi phí khác và chi phí dự phòng cho khối lượng phát sinh và trượt giá
Đối với dự án sử dụng nguồn NSNN thì tổng mức đầu tư là chi phí tối đa mà chủ đầu tư được phép sử dụng để đầu tư xây dựng công trình, tổng mức đầu tư chỉ được điều chỉnh trong các trường hợp theo các quy định cụ thể
Nội dung dự toán xây dựng công trình gồm chi phí xây dựng, chi phí thiết bị, chi phí quản lý dự án, chi phí tư vấn đầu tư xây dựng, chi phí khác và chi phí dự phòng
Trang 31+ Chi phí xây dựng gồm chi phí trực tiếp, chi phí chung, thu nhập chịu thuế tính trước, thuế giá trị gia tăng;
+ Chi phí thiết bị gồm chi phí mua sắm thiết bị công trình và thiết bị công nghệ, chi phí đào tạo, chuyển giao công nghệ, chi phí lắp đặt, thí nghiệm, hiệu chỉnh
và các chi phí khác có liên quan;
+ Chi phí quản lý dự án gồm các chi phí quy định tại Khoản 2 Điều 23 Nghi định 32/2015/NĐ-CP quy định về quản lý chi phí đầu tư xây dựng để tổ chức thực hiện quản lý dự án đối với công trình kể từ giai đoạn chuẩn bị dự án, thực hiện dự
án và kết thúc xây dựng đưa công trình vào khai thác sử dụng;
+ Chi phí tư vấn đầu tư xây dựng của công trình gồm chi phí khảo sát, thiết kế, giám sát xây dựng và các chi phí tư vấn khác liên quan;
+ Chi phí khác của công trình gồm chi phí hạng mục chung và các chi phí không thuộc các nội dung quy định trên Chi phí hạng mục chung gồm chi phí xây dựng nhà tạm để ở và điều hành thi công tại hiện trường, chi phí di chuyển thiết bị thi công và lực lượng lao động đến và ra khỏi công trường, chi phí an toàn lao động, chi phí bảo đảm an toàn giao thông phục vụ thi công (nếu có), chi phí bảo vệ môi trường cho người lao động trên công trường và môi trường xung quanh, chi phí hoàn trả mặt bằng và hạ tầng kỹ thuật do bị ảnh hưởng khi thi công công trình (nếu có), chi phí thí nghiệm vật liệu của nhà thầu và một số chi phí có liên quan khác liên quan đến công trình;
+ Chi phí dự phòng của công trình gồm chi phí dự phòng cho khối lượng công việc phát sinh và chi phí dự phòng cho yếu tố trượt giá trong thời gian xây dựng công trình
Đối với công trình quy mô nhỏ chỉ lập báo cáo kinh tế- kỹ thuật thì tổng mức đầu tư đồng thời là dự toán công trình
Đối với dự án có nhiều công trình xây dựng, chủ đầu tư có thể xác định tổng
dự toán xây dựng công trình để quản lý chi phí Tổng dự toán xây dựng công trình được xác định bằng cách cộng các dự toán xây dựng công trình và các chi phí khác
có liên quan của dự án
Định mức, giá xây dựng công trình và chỉ số giá xây dựng được pháp luật quy định tại Điều 136 Luật Xây dựng 2014 Cụ thể như sau:
Trích dẫn theo Mục 1, Chương IV, Điều 17-18, Nghị định 32/2015/NĐ-CP)
Trang 32Định mức xây dựng bao gồm định mức kinh tế - kỹ thuật và định mức chi phí
Định mức kinh tế - kỹ thuật là cơ sở để quản lý chi phí đầu tư xây dựng
Định mức chi phí là cơ sở để xác định giá xây dựng, dự toán chi phí của một
số loại công việc, chi phí trong đầu tư xây dựng gồm chi phí quản lý dự án, chi phí
tư vấn đầu tư xây dựng, chi phí chung, thu nhập chịu thuế tính trước, chi phí hạng mục chung và một số công việc, chi phí khác
Hệ thống giá xây dựng công trình bao gồm đơn giá xây dựng công trình và giá xây dựng tổng hợp Đơn giá xây dựng công trình được lập cho công trình xây dựng cụ thể Giá xây dựng tổng hợp được tổng hợp từ các đơn giá xây dựng công trình
Hệ thống giá xây dựng công trình dùng để xác định chi phí xây dựng trong tổng mức đầu tư và dự toán công trình
(Trích dẫn Khoản 1-2, Điều 22, Nghị định 32/2015/NĐ-CP)
Chỉ số giá xây dựng là chỉ tiêu phản ánh mức độ biến động của giá xây dựng công trình theo thời gian, làm cơ sở xác định, điều chỉnh tổng mức đầu tư xây dựng, giá xây dựng công trình, dự toán xây dựng công trình, dự toán gói thầu xây dựng, giá hợp đồng xây dựng, quy đổi vốn đầu tư xây dựng công trình và quản lý chi phí đầu tư xây dựng
Chỉ số giá xây dựng gồm chỉ số giá xây dựng theo loại công trình, theo cơ cấu chi phí (gồm chỉ số giá phần xây dựng, chỉ số giá phần thiết bị, chỉ số giá phần chi phí khác), yếu tố chi phí (gồm chỉ số giá vật liệu xây dựng công trình, chỉ số giá nhân công xây dựng, chỉ số giá máy và thiết bị thi công xây dựng)
Giá xây dựng công trình gồm đơn giá xây dựng chi tiết và giá xây dựng tổng hợp cho nhóm, loại công tác xây dựng, đơn vị kết cấu, bộ phận công trình hoặc công trình
- Đơn giá xây dựng công trình được xác định trên cơ sở giá thị trường hoặc định mức xây dựng và giá vật liệu, nhân công, máy thi công, các yếu tố chi phí cần thiết khác phù hợp với mặt bằng giá thị trường tại khu vực xây dựng
- Hệ thống định mức và giá xây dựng quy định tại khoản 1 Điều 136 Luật Xây dựng 2014 do cơ quan nhà nước có thẩm quyền công bố là cơ sở để chủ đầu tư sử dụng, tham khảo trong xác định và quản lý chi phí đầu tư xây dựng
Trang 33Bộ Xây dựng công bố chỉ số giá xây dựng quốc gia, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh công
bố chỉ số giá xây dựng tại địa phương
Giá gói thầu, giá dự thầu, giá đề nghị trúng thầu và giá trúng thầu
– Đấu thầu: Theo quy định tại khoản 12 Điều 4 Luật Đấu thầu 2013, đấu thầu được xác định là một quá trình lựa chọn nhà thầu để tiến hành việc ký kết và thực hiện hợp đồng cung cấp một trong các dịch vụ tư vấn, phi tư vấn, xây lắp, mua sắm hàng hóa hoặc lựa chọn nhà đầu tư để tiến hành việc ký kết và thực hiện hợp đồng
dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư, dự án đầu tư có sử dụng đất dựa trên cơ
sở bảo đảm sự cạnh tranh, minh bạch, công bằng và hiệu quả kinh tế
– Gói thầu được quy định là toàn bộ hoặc một phần của dự án, dự toán mua sắm Tróng đó gói thầu có thể bao gồm những nội dung mua sắm giống nhau thuộc nhiều dự án hoặc bao gồm khối lượng mua sắm 01 lần, khối lượng mua sắm cho 01 thời kỳ áp dụng đối với mua sắm thường xuyên và mua sắm tập trung
– Giá gói thầu được xác định là giá trị của gói thầu đã được phê duyệt trong kế hoạch lựa chọn nhà thầu của chủ đầu tư theo quy định tại khoản 16 Điều 1 Luật Đấu thầu 2013
Theo quy định tại khoản 2 Điều 35 Luật Đấu thầu 2013 và khoản 2 Điều
5 Thông tư 10/2015/TT-BKHĐT thì giá gói thầu được xác định dựa trên các tiêu chí chính sau đây:
– Một là, được xác định dựa trên căn cứ về tổng mức đầu tư;
– Hai là, giá gói thầu được xác định dựa trên tổng mức dự toán đối với các dự
án đã được phê duyệt trước khi lập kế hoạch lựa chọn nhà thầu;
– Ba là, dựa trên các dự toán mua sắm thường xuyên
– Bốn là, dựa trên các thông tin được cung cấp về giá trung bình áp dụng theo thống kê của các dự án đã được thực hiện trong khoảng thời gian xác định nào đó; theo ước tính của tổng mức đầu tư dựa trên định mức suất đầu tư hoặc sơ bộ tổng mức đầu tư Phương pháp xác định giá gói thầu này chỉ áp dụng đối với các gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn việc lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, khả thi và giá gói thầu
Giá chỉ định thầu: Là giá được chỉ định ngay cho nhà thầu thi công trên cơ sở tổng dự toán hoặc dự toán được duyệt áp dụng trong các trường hợp: cần khắc phục ngay những sự cố bất khả kháng do thiên tai địch hoạ; Những gói thầu do yêu cầu
Trang 34của nhà tài trợ nước ngoài; Những gói thầu thuộc các dự án đặc biệt liên quan đến
bí mật, cấp bách vì lợi ích quốc gia; những gói thầu có giá trị nhỏ và các gói thầu đặc thù khác
Trích dẫn Khoản 17, Điều 4 Luật Đấu thầu quy định giá dự thầu là giá do nhà thầu ghi trong đơn dự thầu, báo giá, bao gồm toàn bộ các chi phí để thực hiện gói thầu theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu Giá dự thầu của nhà thầu phải bao gồm toàn bộ các khoản thuế, phí, lệ phí (nếu có) áp theo thuế suất, mức phí, lệ phí tại thời điểm 28 ngày trước ngày có thời điểm đóng thầu theo quy định
(Trích dẫn trang https://nganhangphapluat.thukyluat.vn và Điều 4 Luật đấu thầu 2013)
Giá đề nghị trúng thầu là giá dự thầu của nhà thầu được đề nghị trúng thầu sau khi đã được sửa lỗi, hiệu chỉnh sai lệch theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu, trừ đi giá trị giảm giá (nếu có)
Giá trúng thầu: là giá được phê duyệt trong kết quả lựa chọn nhà thầu làm cơ
sở để thương thảo, hoàn thiện và ký hợp đồng
Tại Điểm a và d khoản 1 Điều 62 Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 quy định về hợp đồng trọn gói như sau:
“a) Hợp đồng trọn gói là hợp đồng có giá cố định trong suốt thời gian thực hiện đối với toàn bộ nội dung công việc trong hợp đồng Việc thanh toán đối với hợp đồng trọn gói được thực hiện nhiều lần trong quá trình thực hiện hoặc thanh toán một lần khi hoàn thành hợp đồng Tổng số tiền mà nhà thầu được thanh toán cho đến khi hoàn thành các nghĩa vụ theo hợp đồng bằng đúng giá ghi trong hợp đồng;”
Theo Nghị định số 37/2015/NĐ-CP ngày 22/4/2015 của Chính phủ quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng:
- Tại điểm a, khoản 3, Điều 6 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP đã quy định “hợp đồng xây dựng có hiệu lực là cơ sở pháp lý cao nhất mà bên giao thầu, bên nhận thầu và các bên liên quan có nghĩa vụ thực hiện”
- Tại điểm a khoản 3 Điều 15 quy định: “Giá hợp đồng trọn gói là giá hợp đồng không thay đổi trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng đối với khối lượng các công việc thuộc phạm vi hợp đồng đã ký kết, trừ trường hợp bất khả kháng và thay đổi phạm vi công việc phải thực hiện.”
Trang 35Giá hợp đồng xây dựng: là khoản kinh phí Bên giao thầu trả cho Bên nhận thầu để thực hiện khối lượng công việc theo yêu cầu về tiến độ, chất lượng và các yêu cầu khác quy định trong hợp đồng xây dựng Tuỳ theo đặc điểm, tính chất của công trình xây dựng các bên tham gia ký kết hợp đồng phải thoả thuận giá hợp đồng xây dựng theo một trong các hình thức sau đây:
Giá hợp đồng trọn gói áp dụng cho các trường hợp sau:
+ Công trình hoặc gói thầu đã xác định rõ về khối lượng, chất lượng, thời gian thực hiện hoặc trong một số trường hợp không thể xác định được khối lượng và bên nhận thầu có đủ năng lực, kinh nghiệm, tài liệu để tính toán, xác định giá trọn gói và chấp nhận các rủi ro liên quan đến việc xác định giá trọn gói
+ Gói thầu hoặc phần việc tư vấn thông thường, đơn giản mà giá hợp đồng được xác định theo phần trăm giá trị công trình hoặc khối lượng công việc
Giá hợp đồng theo đơn giá cố định:
Giá hợp đồng theo đơn giá cố định là giá hợp đồng được xác định trên cơ sở khối lượng công việc tạm tính và đơn giá từng công việc trong hợp đồng là cố định
và không thay đổi trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng, trừ các trường hợp được phép điều chỉnh quy định tại hợp đồng (nếu có)
Giá hợp đồng theo đơn giá cố định áp dụng cho các công trình hoặc gói thầu không đủ điều kiện xác định chính xác về khối lượng nhưn g đủ điều kiện xác định
về các đơn giá thực hiện công việc và Bên nhận thầu có đủ năng lực, kinh nghiệm, tài liệu để tính toán, xác định đơn giá xây dựng công trình cố định và các rủi ro liên quan đến việc xác định đơn giá;
Đơn giá cố định không thay đổi trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng trừ các trường hợp được phép điều chỉnh đã ghi rõ trong hợp đồng xây dựng;
Giá hợp đồng theo giá điều chỉnh:
Giá hợp đồng theo giá điều chỉnh là giá hợp đồng mà khối lượng công việc và đơn giá cho công việc trong hợp đồng được phép điều chỉnh trong các trường hợp quy định tại hợp đồng
Giá hợp đồng theo giá điều chỉnh áp dụng cho các công trình hoặc gói thầu mà
ở thời điểm ký kết hợp đồng không đủ điều kiện xác định chính xác về khối lượng công việc cần thực hiện hoặc các yếu tố chi phí để xác định đơn giá thực hiện các công việc
Trang 36Giá điều chỉnh sẽ được điều chỉnh khi có đủ điều kiện xác định khối lượng, đơn giá thực hiện theo quy định trong hợp đồng
Giá hợp đồng kết hợp là giá hợp đồng được xác định kết hợp các hình thức giá hợp đồng trên Giá hợp đồng kết hợp áp dụng cho các công trình hoặc gói thầu
có quy mô lớn, kỹ thuật phức tạp và thời gian thực hiện kéo dài
Bên giao thầu và Bên nhận thầu căn cứ vào các loại công việc trong hợp đồng
để thoả thuận, xác định các loại công việc xác định theo giá hợp đồng trọn gói (khoán gọn), giá hợp đồng theo đơn giá cố định hay giá hợp đồng theo giá điều chỉnh
Thanh toán vốn đầu tư xây dựng công trình được quy định tại Điều 28 Nghị định 32/2015/NĐ-CP về Quản lý chi phí đầu tư xây dựng như sau:
- Trong thời hạn 7 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ thanh toán theo quy định, cơ quan thanh toán vốn đầu tư có trách nhiệm thanh toán vốn đầu tư theo
đề nghị thanh toán của chủ đầu tư hoặc đại diện hợp pháp của chủ đầu tư trên cơ sở
kế hoạch vốn được giao
(Trích dẫn Điều 12, Thông tư 52/2018/TT-BTC)
Trên cơ sở hồ sơ đề nghị thanh toán của chủ đầu tư, Kho bạc nhà nước căn cứ vào các điều khoản thanh toán được quy định trong hợp đồng (số lần thanh toán, giai đoạn thanh toán, thời điểm thanh toán và các điều kiện thanh toán) và giá trị từng lần thanh toán để thanh toán cho chủ đầu tư Chủ đầu tư tự chịu trách nhiệm về tính chính xác, hợp pháp của khối lượng thực hiện, định mức, đơn giá, dự toán các loại công việc, chất lượng công trình; Kho bạc nhà nước không chịu trách nhiệm về các vấn đề này Kho bạc nhà nước căn cứ vào hồ sơ thanh toán và thực hiện thanh toán theo hợp đồng
Trong thời hạn 07 ngày làm việc đối với trường hợp “kiểm soát trước, thanh toán sau” và trong 03 ngày làm việc đối với trường hợp “thanh toán trước, kiểm soát sau” kể từ khi nhận đủ hồ sơ thanh toán theo quy định của chủ đầu tư, căn cứ vào hợp đồng (hoặc dự toán được duyệt đối với các công việc được thực hiện không thông qua hợp đồng) và số tiền chủ đầu tư đề nghị thanh toán, Kho bạc nhà nước kiểm soát, cấp vốn thanh toán cho dự án và thu hồi vốn tạm ứng theo quy định
- Nghiêm cấm các cơ quan thanh toán vốn đầu tư và chủ đầu tư tự đặt ra các quy định trái pháp luật trong việc thanh toán vốn đầu tư xây dựng
Trang 37Nội dung quyết toán vốn đầu tư xây dựng công trình được quy định cụ thể tại Nghi định 32/2015/NĐ-CP quy định về quản lý chi phí đầu tư xây dựng như sau: – Chi phí đầu tư được quyết toán là toàn bộ chi phí hợp pháp thực hiện trong quá trình đầu tư xây dựng để đưa công trình của dự án vào khai thác, sử dụng Chi phí hợp pháp là toàn bộ các khoản chi phí thực hiện trong phạm vi dự án, thiết kế, dự toán được phê duyệt; hợp đồng đã ký kết; kể cả phần điều chỉnh, bổ sung được duyệt theo quy định và đúng thẩm quyền Đối với các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước, chi phí đầu tư được quyết toán phải nằm trong giới hạn tổng mức đầu tư được duyệt hoặc được điều chỉnh theo quy định của pháp luật
– Chủ đầu tư có trách nhiệm lập Hồ sơ quyết toán vốn đầu tư xây dựng công trình
và quy đổi vốn đầu tư công trình xây dựng sau khi hoàn thành được nghiệm thu bàn giao đưa vào sử dụng để trình người quyết định đầu tư phê duyệt chậm nhất là 9 tháng đối với các dự án quan trọng quốc gia và dự án nhóm A, 6 tháng đối với dự
án nhóm B và 3 tháng đối với dự án nhóm C kể từ ngày công trình hoàn thành, đưa vào khai thác, sử dụng Sau 6 tháng kể từ khi có quyết định phê duyệt quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành, chủ đầu tư có trách nhiệm giải quyết công nợ, tất toán tài khoản dự án tại cơ quan thanh toán vốn đầu tư
Đối với công trình, hạng mục công trình độc lập hoàn thành đưa vào sử dụng thuộc
dự án đầu tư xây dựng, trường hợp cần thiết phải quyết toán ngay thì chủ đầu tư báo cáo người quyết định đầu tư xem xét, quyết định
– Đối với các dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn Ngân sách Nhà nước, sau khi kết thúc niên độ ngân sách, chủ đầu tư thực hiện việc quyết toán, sử dụng vốn đầu tư theo niên độ theo quy định của Bộ Tài chính
– Chủ đầu tư chậm thực hiện quyết toán theo quy định tại Khoản 3 Điều 29 Nghị định 32/2015/NĐ-CP quy định về quản lý chi phí đầu tư xây dựng bị xử lý theo quy định tại Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng; kinh doanh bất động sản; sản xuất, khai khác, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; quản lý phát triển nhà và công sở
– Thẩm quyền phê duyệt quyết toán vốn đầu tư:
+ Đối với các dự án quan trọng quốc gia và các dự án quan trọng khác do Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư:
Trang 38Giao cơ quan quản lý cấp trên của Chủ đầu tư phê duyệt quyết toán các dự án thành phần sử dụng vốn Ngân sách Nhà nước;
Chủ đầu tư phê duyệt quyết toán các dự án thành phần không sử dụng vốn Ngân sách Nhà nước
+ Đối với các dự án còn lại, người quyết định đầu tư là người có thẩm quyền phê duyệt quyết toán vốn đầu tư
1.3.2 Tác động của các khâu còn lại trong công tác quản lý chi phí đầu tư XDCB đối với chất lượng quyết toán các dự án XDCB hoàn thành
Quyết toán vốn đầu tư XDCB hoàn thành thực chất là xác định mức chi phí cuối cùng trong quá trình quản lý chi phí đầu tư xây dựng Để xác định được chi phí đầu tư được quyết toán, công việc của cơ quan tài chính chủ yếu là thẩm tra lại
hồ sơ pháp lý, nguồn vốn đầu tư, thẩm tra chi phí đầu tư… việc thẩm tra này hoàn toàn dựa trên tài liệu của các giai đoạn quản lý trước trong trình tự quản lý đầu tư
và xây dựng Vì vậy nếu công tác quản lý chi phí đầu tư XDCB được thực hiện chặt chẽ, khoa học, chính xác từ giai đoạn đầu thì chắc chắn quyết toán vốn đầu tư XDCB hoàn thành sẽ giảm được khối lượng công việc, rút ngắn được thời gian thẩm tra, phê duyệt và kết luận được chính xác hơn Căn cứ vào các quy định của Luật đầu tư công, Luật Đấu thầu, Luật Xây dựng, các Nghị định, Thông tư hướng dẫn và trách nhiệm của chủ đầu tư, nhà thầu, cơ quan thẩm tra phê duyệt thì bản chất của công tác quyết toán là hoạt động chuyên môn nhưng có nhiều chủ thể tham gia như chủ đầu tư, nhà thầu, cơ quan thẩm tra, phê duyệt
Tại điểm c khoản 1 Điều 26 quy định trách nhiệm của chủ đầu tư: “Chịu trách nhiệm trước pháp luật, cơ quan thẩm tra quyết toán về tính pháp lý của hồ sơ quyết toán và tính đúng đắn của số liệu đề nghị quyết toán; tính chính xác của khối lượng
do chủ đầu tư và nhà thầu nghiệm thu đưa vào báo cáo quyết toán; tính phù hợp của đơn giá do chủ đầu tư và nhà thầu đã thống nhất ghi trong hợp đồng.”
Tại điểm b khoản 5 Điều 26 quy định trách nhiệm của cơ quan thẩm tra, phê
duyệt quyết toán: “Tổ chức thẩm tra báo cáo quyết toán dự án hoàn thành đầy đủ nội dung, yêu cầu theo quy định; hướng dẫn chủ đầu tư giải quyết các vướng mắc phát sinh trong quá trình quyết toán dự án hoàn thành; chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả trực tiếp thẩm tra trên cơ sở hồ sơ quyết toán do chủ đầu tư cung cấp.”
Trang 39Tiểu kết chương 1
Xây dựng cơ bản có sử dụng vốn Ngân sách Nhà nước là nhu cầu tất yếu tại bất kỳ quốc gia nào trên Thế giới, với mục đích xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho phát triển kinh tế cũng như cải thiện điều kiện sống và sinh hoạt của người dân Việt Nam là một quốc gia chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, đang trên đà phát triển, nhu cầu xây dựng cơ bản có sử dụng vốn Ngân sách Nhà nước càng lớn Xây dựng luôn
là vấn đề phức tạp, xây dựng cơ bản có sử dụng vốn Ngân sách Nhà nước còn phức tạp hơn nữa vì nó liên quan đến công trình phục vụ đại chúng và sử dụng tiền thuế của dân đóng góp Công trình phục vụ đại chúng khác với công trình phục vụ cá nhân hay một tổ chức cụ thể, vì vậy sự ràng buộc trách nhiệm, quyền lợi cá nhân của người thụ hưởng không hề đơn giản Việc xác định quyền và trách nhiệm của những người có quyền quyết định việc xây dựng công trình phục đại chúng càng không đơn giản, cộng với việc sử dụng tiền của chung, khả năng vô chủ đối với các công trình phục vụ đại chúng càng lớn là vì vậy
Thực tế chứng minh rất rõ trong cuộc chiến chống tham nhũng của Trung Quốc và Việt Nam Việt Nam đi theo con đường định hướng xã hội chủ nghĩa do vậy đầu tư XDCB của Nhà nước chiếm tỷ trọng lớn và giữ vai trò quan trọng trong
toàn bộ hoạt động đầu tư XDCB của nền kinh tế ở Việt Nam Quảng Ninh là một
trong những địa phương dẫn đầu trong cả nước về phát triển, hàng năm Quảng Ninh dành vốn Ngân sách rất lớn cho đầu tư , xây dựng, nhiều dự án đầu tư được triển khai thực hiện do đó vấn đề đặt ra là làm thế nào để ngăn chặn tình trạng thất thoát, lãng phí nguồn vốn Ngân sách Nhà nước Do đó công tác quyết toán đối với các dự
án đòi hỏi phải được tiến hành theo một thủ tục chặt chẽ, nhằm minh bạch hóa và đảm bảo trách nhiệm giải trình đối với tất cả các chi phí diễn ra trong quá trình thực hiện, đảm bảo đồng vốn NSNN được sử dụng hiệu quả nhất Có nhiều biện pháp để hạn chế thất thoát, thiệt hại, quyết toán là một trong các công cụ quan trọng Chính
vì vậy nghiên cứu đề tài có ý nghĩa về lý luận cũng như thực tiễn
Trang 40Chương 2 QUYẾT TOÁN ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN
CÓ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI
TỈNH QUẢNG NINH
2.1 Giới thiệu chung về tỉnh Quảng Ninh
(Trích dẫn theo trang https://vi.wikipedia.org/wiki/Quảng_Ninh và Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
Quảng Ninh là tỉnh ven biển, biên giới thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam Trong quy hoạch phát triển kinh tế, Quảng Ninh vừa thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía bắc vừa thuộc vùng duyên hải Bắc Bộ và thuộc đặc khu Vân Đồn trong tương lai Đây là tỉnh khai thác than đá chính của Việt Nam và có vịnh Hạ Long là di sản, kỳ quan thiên nhiên thế giới
Tỉnh Quảng Ninh có 4 thành phố (Móng Cái, Cẩm Phả, Uông Bí, Hạ Long), 1 thị xã Đông Triều và 9 huyện (Vân Đồn, Tiên Yên, Hải Hà, Đầm Hà, Cô Tô, Bình Liêu, Ba Chẽ, Hoành Bồ, Quảng Yên)
Quảng Ninh là tỉnh miền núi, trung du nằm ở vùng duyên hải, với hơn 80% đất đai là đồi núi Trong đó, có hơn hai nghìn hòn đảo núi đá vôi nổi trên mặt biển, phần lớn chưa được đặt tên Địa hình của tỉnh đa dạng có thể chia thành 3 vùng gồm
có Vùng núi, Vùng trung du và đồng bằng ven biển, và Vùng biển và hải đảo
Vùng núi chia làm hai miền: Vùng núi miền Đông từ Tiên Yên qua Bình Liêu, Hải Hà, Đầm Hà đến Móng Cái Đây là vùng nối tiếp của vùng núi Thập Vạn Đại Sơn từ Trung Quốc, hướng chủ đạo là đông bắc - tây nam Có hai dãy núi chính: dãy Quảng Nam Châu (1.507 m) và Cao Xiêm (1.330 m) chiếm phần lớn diện tích
tự nhiên các huyện Bình Liêu, Hải Hà, Đầm Hà, dãy Ngàn Chi (1.166 m) ở phía bắc huyện Tiên Yên Vùng núi miền tây từ Tiên Yên qua Ba Chẽ, Hoành Bồ, phía bắc thị xã Uông Bí và thấp dần xuống ở phía bắc huyện Đông Triều Vùng núi này là những dãy nối tiếp hơi uốn cong nên thường được gọi là cánh cung núi Đông Triều với đỉnh Yên Tử (1.068 m) trên đất Uông Bí và đỉnh Am Váp (1.094 m) trên đất Hoành Bồ
Vùng trung du và đồng bằng ven biển gồm những dải đồi thấp bị phong hoá và xâm thực tạo nên những cánh đồng từ các chân núi thấp dần xuống các triền sông