Do đó, việc nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định của pháp luật về đất đai, thẩm quyền GQTCĐĐ của các cơ quan có thẩm quyền qua thực tiễn tại huyện Vân Đồn trong những năm gần đây
Trang 1NGUYỄN THỊ PHƯƠNG CHI
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI THEO PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI Ở VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN HUYỆN VÂN ĐỒN,
TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
HÀ NỘI, 2019
Trang 2NGUYỄN THỊ PHƯƠNG CHI
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI THEO PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI Ở VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN HUYỆN VÂN ĐỒN,
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa sử dụng để bảo vệ bất cứ luận văn của một học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan trên
Hà Nội, ngày tháng 6 năm 2019
Tác giả
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH
CHẤP ĐẤT ĐAI VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI 7
1.1 Lý luận về tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai 7 1.2 Lý luận về pháp luật giải quyết tranh chấp đất đai 16
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH
CHẤP ĐẤT ĐAI VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI HUYỆN VÂN ĐỒN, TỈNH QUẢNG NINH 28
2.1 Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai 28 2.2 Thực tiễn giải quyết tranh chấp đất đai tại huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh 35
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TỪ THỰC TIỄN HUYỆN VÂN ĐỒN, TỈNH QUẢNG NINH 60
3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai và nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp đất đai tại huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh 60 3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai và nâng cao hiệu quả thi hành tại huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh 63
KẾT LUẬN 76 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Công tác GQTCĐĐ của UBND huyện và UBND các xã thị trấn
trên địa bàn huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh 37 Bảng 2.2 Công tác GQTCĐĐ thông qua TAND huyện Vân Đồn,
Quảng Ninh 41
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
GCNQSDĐ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất GQTCĐĐ Giải quyết tranh chấp đất đai
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tranh chấp đất đai (TCĐĐ) là một hiện tượng phát sinh trong đời sống
xã hội, ở mọi quốc gia và mọi thời kỳ, không phụ thuộc vào chế độ sở hữu đất đai Ở Việt Nam, sự kiện Bộ Tài nguyên - Môi trường từng đề xuất thành lập một cơ quan tài phán chuyên trách để giải quyết các tranh chấp, khiếu kiện về đất đai đã phần nào cho thấy tính chất nghiêm trọng của vấn đề Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, mà một trong số đó chính là do quy định của pháp luật về vấn đề TCĐĐ trong thời gian qua còn nhiều bất cập, hạn chế
Trong thời gian vừa qua, Nhà nước ta đã cố gắng trong việc giải quyết các TCĐĐ nhằm ổn định tình hình chính trị - xã hội Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật đất đai ngày càng được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện, trong đó có quy định thẩm quyền GQTCĐĐ thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân (UBND) và Tòa án nhân dân (TAND) Tuy nhiên, các quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai (GQTCĐĐ) mới chỉ dừng lại ở mức
độ chung chung, nên thực tiễn dẫn đến sự chồng chéo, đùn đẩy giữa UBND
và TAND Do đó tình hình GQTCĐĐ của các cơ quan hành chính và TAND trong những năm qua vừa chậm trễ, vừa không thống nhất
Qua nghiên cứu thực tiễn giải quyết các tranh chấp dân sự hiện nay, việc GQTCĐĐ được các chủ thể liên quan đánh giá là dạng tranh chấp khó khăn, phức tạp nhất, có liên quan đến nhiều vấn đề nhất Do đó, việc nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định của pháp luật về đất đai, thẩm quyền GQTCĐĐ của các cơ quan có thẩm quyền (qua thực tiễn tại huyện Vân Đồn) trong những năm gần đây, trên cơ sở đó nhằm đề xuất những kiến nghị, bổ sung chính sách, pháp luật về đất đai và đưa ra hướng giải quyết các TCĐĐ một cách hợp lý, có hiệu quả, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho công dân là việc làm có ý nghĩa quan trọng về mặt lý luận và thực tiễn hiện nay
Trang 8Với nhận thức như vậy, tôi đã lựa chọn đềtài:“Giải quyết tranh chấp đất đai
theo pháp luật đất đai ở Việt Nam từ thực tiễn huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh” làm đề tài Luận văn Thạc sĩ Luật học của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Xoay quanh chủ đề giải quyết tranh chấp đất đai theo pháp luật Việt
Nam,trong quá trình nghiên cứu tác giả đã tìm thấy nhiều công trình nghiên
cứu, bài viết có liên quan, với nhiều cách viết và tiếp cận khác nhau, trong đó
có các công trình sau đây:
Luận văn Tiến sĩ Luật học, “TCĐĐ và GQTCĐĐ bằng tòa án ở nước
ta” của tác giả Mai Thị Tú Oanh, được thực hiện tại Học viện Khoa học xã
hội Việt Nam năm 2013 đã làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về TCĐĐ và GQTCĐĐ thông qua tòa án, trên cơ sở phân tích và làm rõ những vấn đề nghiên cứu của thực trạng, đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật về GQTCĐĐ ở Việt Nam trong giai đoạn
05 năm tiếp theo [25]
Luận văn Thạc sĩ Luật học, “GQTCĐĐ theo thủ tục hành chính trong
vùng đồng bào dân tộc trên địa bàn tỉnh An Giang” của tác giảNguyễn Thành
Đoàn, được thực hiện tại Trường Đại học Luật TP.HCM năm 2009, tác giả đã trình bày được Cơ sở lí luận và pháp lí GQTCĐĐ theo thủ tục hành chính Thực trạng giải quyết ranh chấp đất đai theo thủ tục hành chính đối với đồng bào dân tộc trên địa bàn tỉnh An Giang và một số giải pháp nâng cao hiệu quả Đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả việc giải quyết tranh chấp đối với đồng bào dân tộc, góp phần đảm bảo an ninh chính trị và phục vụ yêu cấu phát triển kinh tế xã hội [9]
Ngoài ra tác giả còn tìm thấy một số bài viết đăng trên tạp chí khoa học
có liên quan đến đề tài như:
Trang 9Đỗ Thị Hằng, Những bất cập về hòa giải cơ sở trong GQTCĐĐ theo
Luật đất đai 2013, Thanh tra, Thanh tra chính phủ số 05/2016, tr 20-236
Nguyễn Vinh Diện, Một số điểm mới về GQTCĐĐ theo Luật đất đai
năm 2013, Dân chủ & Pháp luật, Bộ Tư pháp, số 11(272), tr 37-398
Đặng Thị Phượng, Thẩm quyền GQTCĐĐ của Tòa án theo Luật Đất
năm 2013, TAND, TAND tối cao, số 6/2014 trang 11-1611
Qua nghiên cứu các công trình đã thực hiện trước đây liên quan đến GQTCĐĐ, học viên nhận thấy, những kết quả nghiên cứu của các công trình này đã giúp cho tác giả thu thập có được thông tin đa dạng với nhiều góc độ tiếp cận khác nhau về GQTCĐĐ của các cấp có thẩm quyền Đây là những tài liệu bổ ích để học viên tham khảo để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về GQTCĐĐ, đánh giá thực trạng GQTCĐĐ tại huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh, qua đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất đai và cơ chế
áp dụng pháp luật để giải quyết có hiệu quả hơn các vụ TCĐĐ
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu luận văn là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn (thông qua nghiên cứu tình hình tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đất đai tại huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh), từ đó, đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật về GQTCĐĐ và nâng cao hiệu quả GQTCĐĐ
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, đề tài luận văn đưa ra những nhiệm vụ nghiên cứu cần thực hiện cụ thể sau đây:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về pháp luật GQTCĐĐ tham chiếu với hoạt động GQTCĐĐ của các cơ quan hành chính và hoạt động xét xử của TAND thông qua việc giải quyết những vấn đề cụ thể sau: Phân tích khái
Trang 10niệm và đặc điểm của TCĐĐ; các dạng TCĐĐ; nguyên nhân của TCĐĐ.Phân tích khái niệm GQTCĐĐ và pháp luật GQTCĐĐ; ý nghĩa của quan hệ pháp luật vềGQTCĐĐ; các nguyên tắc GQTCĐĐ; cơ cấunội dung pháp luật về GQTCĐĐ, các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật GQTCĐĐ
- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về GQTCĐĐ và thực tiễn thực hiện của cơ quan quản lý hành chính và tại TAND huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh
- Đề xuất và nghiên cứu định hướng và giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật về GQTCĐĐ và nâng cao hiệu quả thi hành từ thực tiễn huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định của pháp luật Việt Nam về GQTCĐĐ và kết quả thực hiện pháp luật về GQTCĐĐ thông qua cơ quan hành chính và TAND huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh
Việc GQTCĐĐ ở huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh hiện nay, tùy theo loại vụ việc, thuộc thẩm quyền giải quyết tại cơ quan hành chính và cơ quan
tư pháp giải quyết
Khi khảo sát thực tiễn tổ chức thực hiện và thực tiễn vụ việc, luận văn chỉ phân tích thực tiễn và các vụ việc TCĐĐ được giải quyết tại huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh
Các thông tin, số liệu thu thập trong luận văn là những thông tin, số liệu
từ khi Luật Đất đai 2013 có hiệu lực (năm 2014) đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:
Để đạt được mục đích nghiên cứu của đề tài, trong quá trình nghiên cứu, phân tích và làm rõ các nhiệm vụ, luận văn đã vận dụng hợp lýcơ sở lý luận của các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:
Trang 11- Phương pháp luận nghiên cứu khoa học của Chủ nghĩa Mác - Lê nin với phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử là cơ sở để tiến hành nghiên cứu lý luận, phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp phù hợp
- Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu
iii) Phương pháp bình luận, phương pháp đánh giá, phương pháp so sánh, phương pháp nghiên cứu hệ thống… được sử dụng khi đánh giá thực trạng thi hành pháp luật về GQTCĐĐ tại huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh
iv) Phương pháp tổng hợp, phương pháp quy nạp… được sử dụng khi
đề cập định hướng hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về GQTCĐĐ tại huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh
v) Phương pháp lập luận logic các luận điểm, luận cứ được sử dụng khi nghiên cứu đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả
áp dụng pháp luật về GQTCĐĐ tại huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh…
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Đề tài nghiên cứu này được thực hiện dựa trên cơ sở phân tích đánh giá thực trạng về GQTCĐĐ ở huyện Vân Đồn Trên cơ sở đó chỉ ra những bất cập, tồn tại của pháp luật đất đai hiện hành về thẩm quyền và thủ tục GQTCĐĐ; đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về GQTCĐĐ nhằm đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của Việt Nam
Trang 12Các kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn cũng như các giải pháp được đề xuất của đề tài này có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cơ
sở đào tạo và nghiên cứu luật học tại Việt Nam Một số kiến nghị được tác giả
đề xuất khi làm rõ các nguyên nhân của hạn chế đề tài có giá trị tham khảo đối với cơ quan xây dựng và thực thi pháp luật về đất đai nói chung, pháp luật
về GQTCĐĐ nói riêng ở nước ta
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về GQTCĐĐ và về pháp luật GQTCĐĐ;
Chương 2: Thực trạng pháp luật về GQTCĐĐ và thực tiễn thực hiện tại huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh;
Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về GQTCĐĐ từ thực tiễn tại huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh
Trang 13Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI 1.1 Lý luận về tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, nguyên nhân và phân loại các tranh chấp đất đai
1.1.1.1 Khái niệm tranh chấp đất đai
Đất đai là một loại tài sản quý giá, một tài nguyên do thiên nhiên ban tặng cho con người Vì lẽ đó, có thể nói việc hưởng lợi từ đất đai trao cho, đất đai có vị trí là một đối tượng quan trọng trọng bậc nhất của quyền sở hữu Cũng vì thế mà TCĐĐ đã trở thành một trong những hiện tượng xảy ra trong bất kỳ một quốc gia và ở bất kỳ một thể chế chính trị nào [49, tr.8]
Trong ngôn ngữ thông thường của cuộc sống hàng ngày, tranh chấp được hiểu là sự giành nhau một cách giằng co cái không rõ thuộc về bên nào TCĐĐ là tranh chấp có đối tượng tranh chấp là đất đai Nếu coi đối tượng của tranh chấp là đất đai thì TCĐĐ cũng có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau [63, tr.512]
Nếu hiểu theo nghĩa rộng, TCĐĐ là sự mâu thuẫn, bất đồng trong việc xác định quyền sở hữu, quản lý hoặc quyền sử dụng đất đai Tranh chấp này
có thể được phát sinh trực tiếp hoặc phát sinh một cách gián tiếp trong quá trình các bên tranh chấp quản lý và sử dụng đất đai [23, tr.17]
Nghiên cứu dưới góc độ hẹp hơn thì TCĐĐ được hiểu là tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật đất đai về quyền và nghĩa vụ trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai [23, tr.18]
Trong xã hội tồn tại lợi ích giai cấp đối kháng thì TCĐĐ mang màu sắc chính trị, đất đai luôn là đối tượng tranh chấp giữa giai cấp bóc lột và giai cấp
Trang 14bị bóc lột, việc giải quyết triệt để các TCĐĐ ở các xã hội được thực hiện bằng một cuộc cách mạng xã hội
Theo quy định mới nhất tại Điều 3, Luật Đất đai năm 2013, khái niệm TCĐĐ đã được kế thừa và phát triển và được hiểu là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan
hệ đất đai [32]
Từ nội dung khái niệm và các quan điểm về TCĐĐ, chúng ta có thể nhận định rằng khi các bên xảy ra tranh chấp mà không thể cùng nhau tự giải quyết các tranh chấp đó mà phải yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phán xử nhằm bảo đảm quyền lợi hợp pháp của các bên trong tranh chấp Trong phạm
vi luận văn, tác giả sử dụng khái niệm TCĐĐ của Luật Đất đai năm 2013 [6]
1.1.1.2 Đặc điểm tranh chấp đất đai
Là một dạng đặc biệt và phổ biến của tranh chấp dân sự, TCĐĐ vừa chứa đựng những đặc điểm chung của một tranh chấp dân sự, đồng thời lại vừa có những đặc điểm đặc trưng riêng khác với các tranh chấp dân sự, tranh chấp lao động, tranh chấp kinh doanh, thương mại khác mà những đặc điểm này sẽ giúp các nhà làm luật, nhà nghiên cứu và những người quan tâm có thể
dễ dàng hơn trong tiếp cận và tiềm hiểu về TCĐĐ có thể chỉ ra những điểm khác biệt chủ yếu sau đây:
Một là, xét về chủ thể tranh chấp, TCĐĐ chỉ xuất hiện giữa các chủ thể
có quyền quản lý và quyền sử dụng đất chứ không phải là các chủ thể của của quyền sở hữu đất đai Bởi lẽ, ở Việt Nam, quyền sở hữu đất thuộc về toàn dân
do Nhà nước làm đại diện chủ sở hữu Các chủ thể được Nhà nước giao cho quyền sử dụng đất được xác lập trên cơ sở được nhà nước trao quyền sử dụng đất (thông qua quyết định giao đất, hợp đồng cho thuê đất của Nhà nước hoặc được Nhà nước thừa nhận quyền sử dụng đất hợp pháp đối với diện tích đất đang sử dụng) hoặc được Nhà nước cho phép nhận chuyển nhượng từ các chủ
Trang 15thể khác theo quy định của pháp luật về đất đai hiện hành Vì thế, chủ thể của TCĐĐ là người sử dụng đất (các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân) tham gia vào tranh chấp đó với tư cách là những người được trao quyền quản lý hoặc trao quyền sử dụng đất [6]
Hai là, so với các loại tranh chấp khác, TCĐĐ có nội dung rất đa dạng
và phức tạp Điều này xuất phát từ việc trong nền kinh tế thị trường, các hoạt động quản lý và sử dụng đất ngày càng trở nên rất đa dạng, phong phú do đất đai được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau, với diện tích, nhu cầu sử dụng khác nhau [23]
Ba là, khi xảy ra TCĐĐ thì sẽ ảnh hưởng đến các biên liên quan và có
thể làm phát sinh những hậu quả xấu về nhiều mặt trong mối quan hệ này như: làm mất đoàn kết trong nội bộ nhân dân, phá vỡ trật tự quản lý đất đai, gây đình trệ sản xuất, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích không những của bản thân các bên tranh chấp mà còn gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước và xã hội Hơn thế nữa, khi nghiên cứu thực tiễn các vụ án về TCĐĐ, có thể thấy các vấn đề này còn có thể gây mất ổn định về chính trị, phá vỡ mối quan hệ
xã hội của địa phương, đất nước [23]
Bốn là, TCĐĐ có đối tượng là quyền quản lý và quyền sử dụng đất đất
đai là loại tài sản đặc biệt không thuộc quyền sở hữu của các bên tranh chấp
mà thuộc quyền sở hữu của Nhà nước
1.1.1.3 Nguyên nhân của tranh chấp đất đai
(1) Nguyên nhân khách quan
Từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường với sự thay đổi cơ chế quản lý làm cho đất đai ngày càng trở nên có giá trị đã tác động đến tâm
lý của nhiều người dẫn đến tình trạng tranh chấp, đòi lại nhà, đất mà trước đó
đã bán, cho thuê, cho mượn, đã bị tịch thu hoặc giao cho người khác sử dụng hoặc khi thực hiện một số chính sách về đất đai ở các giai đoạn trước đây mà
Trang 16không có các văn bản xác định việc sử dụng đất ổn định của họ Những tổ chức
đó bao chiếm quá nhiều diện tích đất nhưng sử dụng lại kém hiệu quả [49]
Đất nước ta trải qua thời gian chiến tranh kéo dài, gây xáo trộn lớn về nơi cư trú cùng với những chính sách đất đai khác nhau áp dụng của từng thời
kỳ, đã dẫn đến những biến động lớn về chủ sử dụng đất Mặc dù Luật Đất đai năm 1993 và 2003 đã quy định, Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất Nhà nước đã quản lý và giao cho người khác sử dụng nhưng nhiều trường hợp vẫn tranh chấp, khiếu nại đòi lại đất cũ
(2) Nguyên nhân chủ quan
Trang 17Thứ hai, về công tác cán bộ thực hiện công vụ liên quan đến đất đai
Đất đai là vấn đề phức tạp, đã và đang phát sinh nhiều khiếu kiện, giải quyết một vụ việc cần phải có một khoảng thời gian nhất định, phải có các bước cụ thể Vì vậy, cần phải có đội ngũ những người am hiểu pháp luật, có nghiệp vụ chuyên sâu và làm việc chuyên trách Nhưng, lực lượng làm công tác giải quyết khiếu nại, tranh chấp đất đai ở địa phương hiện nay phần lớn là kiêm nhiệm Khiếu nại về đất đai chủ yếu xảy ra ở cấp huyện nhưng bộ máy làm công tác ở cấp này lại không tương xứng Đây là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng giải quyết khiếu nại, tranh chấp về đất đai chậm chạp, thiếu chất lượng, tái khiếu nhiều, công dân phát sinh đơn vượt cấp
Thứ ba, về đường lối chính sách đất đai: Chính sách đất đai và các
chính sách khác có liên quan đến đất đai hiện nay của nước ta chưa đồng bộ,
có mặt không rõ ràng và đang còn biến động và phức tạp Thực tế áp dụng các chính sách đất đai còn tùy tiện dẫn đến tình trạng: Người có khả năng sản xuất nông nghiệp thì thiếu ruộng đất, ngược lại, người có ruộng lại không có khả năng hoặc nhu cầu sản xuất, để đất đai hoang hóa hoặc sử dụng đất kém hiệu quả Tình trạng người nông dân phải ra các đô thị bán sức lao động, gây mất ổn định cơ cấu lao động sản xuất cũng có nguyên nhân từ việc thiếu đất
để sản xuất Thực tiễn đã chứng minh những sai lầm trong phong trào hợp tác hóa nông nghiệp như nóng vội, gò ép, đưa quy mô hợp tác xã nhỏ lên quy mô lớn không phù hợp với trình độ năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ, đặc biệt
là đội ngũ cán bộ cơ sở đã dẫn đến hậu quả là đất đai sử dụng bừa bãi, lãng phí và kém hiệu quả Cùng với việc đổi mới cơ chế quản lý trong nông nghiệp được đổi mới, người sử dụng đất có nhu cầu sử dụng đất ngày càng cao, đòi hỏi phải có một diện tích đất nhất định để sản xuất Do đó đã xuất hiện tư tưởng đòi lại đất để sản xuất Chính sách đất đai chưa phù hợp, chậm đổi mới
đã tạo cơ sở cho việc lấn chiếm đất đai diễn ra khá phổ biến, song chưa được
Trang 18giải quyết và xử lý kịp thời Sự không đồng nhất về cơ chế chính sách, về bồi thường hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở từng thời điểm khác nhau trên cùng địa bàn, không chấp hành đúng hoặc chưa đầy đủ qui định về trình tự, thủ tục thu hồi đất, bồi thường, tái định cư Bên cạnh đó, một số bộ phận làm công tác bồi thường, cán bộ địa chính không nắm vững chính sách, pháp luật đất đai nên quá trình thực hiện các bước trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng người dân chưa thỏa mãn, còn nghi ngờ dẫn đến phát đơn khiếu kiện [49]
Thứ tư, về công tác tuyên truyền, giáo dục và phổ biến pháp luật về đất
đai: Công tác tuyên truyền, giáo dục và phổ biến pháp luật đất đai hiện nay mặc dù đã được triển khai nhưng chưa được coi trọng, làm cho nhiều văn bản pháp luật đất đai của Nhà nước chưa được phổ biến sâu rộng trong nhân dân
để giúp cán bộ, nhân dân nhanh chóng cập nhật kiến thức về pháp luật liên quan
1.1.1.4 Phân loại tranh chấp đất đai
Theo Khoản 24, Điều 3, Luật Đất đai 2013 thì TCĐĐ là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai Trong khái niệm này chúng ta cần lưu ý: đối tượng của TCĐĐ không phải là quyền sở hữu đất, các chủ thể tham gia tranh chấp không phải là các chủ thể có quyền sở hữu đối với đất Đây là điều không phải bàn cãi vì Điều 53, Hiến pháp 2013 hay điều 4, Luật đất đai 2013 quy định rất rõ đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý [32]
Trên thực tế, TCĐĐ không chỉ là hiện tượng phổ biến mà trong đó còn hết sức đa dạng về chủ thể cũng như nội dung tranh chấp Tuy nhiên, về cơ bản TCĐĐ được chia thành ba dạng như sau:
Tranh chấp về quyền sử dụng đất: là những tranh chấp giữa các bên với
nhau về việc ai có quyền sử dụng hợp pháp đối với một mảnh đất nào đó
Trang 19Tranh chấp về quyền, nghĩa vụ phát sinh trong quá trình sử dụng đất:
dạng tranh chấp này thường xảy ra khi các chủ thể có những giao dịch dân sự
về quyền sử dụng đất hoặc các tranh chấp liên quan đến việc bồi thường giải phóng mặt bằng, tái định cư…
Tranh chấp xác định chủ thể có quyền sử dụng đất: Đây là tranh chấp
phát sinh trong quá trình sử dụng đất không liên quan đến các giao dịch về đất đai và tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất Về bản chất khi giaỉ quyết tranh chấp này tòa án phải xác định quyền sử dụng đất thuộc về ai Theo điển a, khoản 3 Điều 159 Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi và bổ sung năm
2011, có hiệu lực kể từ ngày 1/01/2012 thì dạng tranh chấp này không áp dụng thời hiệu khởi kiện
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm và yêu cầu của giải quyết tranh chấp đất đai
1.1.2.1 Khái niệm giải quyết tranh chấp đất đai
Trên cơ sở khái niệm tranh chấp đất đai chúng ta có khái niệm giải quyết tranh chấp đất đai như sau: “giải quyết tranh chấp đất đai là hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhằm giải quyết các bất đồng, mâu thuẫn giữa các bên để tìm ra các giải pháp đúng đắn trên cơ sở pháp luật nhằm xác định rõ quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ đất đai”
Việc giải quyết tranh chấp đất đai hiện nay phải đảm bảo ba nguyên tắc dưới đây:
- Thứ nhất, luôn đảm bảo nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân và Nhà nước là đại diện chủ sở hữu
- Thứ hai, bảo đảm lợi ích của người sử dụng đất, nhất là lợi ích kinh
tế, khuyến khích tự hòa giải trong nội bộ nhân dân
- Thứ ba, việc giải quyết nhằm mục đích ổn định kinh tế, xã hội, gắn với phát triển sản xuất, mở mang ngành nghề, tạo điều kiện cho lao động có việc làm, phù hợp với đặc điểm và quy hoạch của từng địa phương
Trang 201.1.2.2 Đặc điểm của giải quyết tranh chấp đất đai
Hoạt động giải quyết tranh chấp đất đai có những đặc điểm sau:
- Giải quyết tranh chấp đất đai là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Để giải quyết một tranh chấp, các chủ thể có thể sử dụng nhiều biện pháp như tự thương lượng, thỏa thuận với nhau Pháp luật đất đai không quan tâm cách thức họ thỏa thuận thế nào, thương lượng ra sao mà chỉ đưa ra các quy định điều chỉnh hoạt động giải quyết tranh chấp khi có sự tham gia của cơ quan nhà nước vào việc giải quyết đó mà thôi Điều này nhằm thể hiện
sự tôn trọng của Nhà nước với tự do ý chí, tự do định đoạt của các chủ thể và Nhà nước sẽ cung cấp một công cụ giải quyết tranh chấp cho họ nếu như họ không có được sự thống nhất Một khi đã có sự tham gia của cơ quan nhà nước thì các quy phạm pháp luật về giải quyết tranh chấp là cần thiết, bởi lẽ
có những quy phạm pháp luật này thì người dân cũng như chính cơ quan nhà nước mới biết chủ thể nào có thẩm quyền giải quyết tranh chấp và giải quyết theo trình tự, thủ tục gì
- Đối tượng của hoạt động giải quyết tranh chấp là tranh chấp đất đai, trong đó các đương sự yêu cầu cơ quan nhà nước xác định rõ những quyền và nghĩa vụ của các bên đối với khu đất đang bị tranh chấp
- Hệ quả pháp lý của việc giải quyết tranh chấp là quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ đất đai sẽ được làm rõ bằng bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật
- Đề cao hòa giải, huy động đoàn thể địa phương tham gia
- Liên quan đến nhiều lĩnh vực khác, như: nhà, xây dựng
- Cần phải hiểu phong tục, tập quán địa phương để có cách giải quyết thỏa đáng
Trang 211.1.2.3 Mục đích và yêu cầu của giải quyết tranh chấp đất đai
Giải quyết tranh chấp kịp thời và hiệu quả các tranh chấp cho phép hạn chế đến mức tối thiểu sự gián đoạn của sản xuất kinh doanh cũng như đặt ở mức chi phí thấp nhất Song, quan trọng đó là phải bảo vệ một cách có hiệu quả lợi ích hợp pháp và chính đáng của các bên khi tham gia vào kinh tế thương mại
Giải quyết tốt tranh chấp là động lực thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế Muốn có một nền kinh tế phát triển thì các quan hệ xã hội nói chung
và quan hệ kinh tế thương mại nói riêng phải được điều chỉnh bằng pháp luật, phải đảm bảo bằng pháp luật Việc đầu tiên là hạn chế các tranh chấp có thể xảy ra bằng cách đặt ra các chế định và chế tài tạo thành một “sân chơi” lành mạnh và công bằng Khi tranh chấp xảy ra phải có các thủ tục, biện pháp để giải quyết, nếu không giải quyết kịp thời thì hậu quả sẽ dây dưa kéo dài và thiệt hại rất lớn Điều đó không những làm thiệt hại, kìm hãm phát triển nền kinh tế mà còn gây nên một khuyết điểm lớn của môi trường kinh doanh, các chủ thể sau tranh chấp có thể “quay lưng” lại với nhau đố kỵ và không tin tưởng lẫn nhau Một tâm lý yên tâm làm ăn kinh tế, mạnh dạn đầu tư sẽ góp phần cải thiện nền kinh tế
Giải quyết hậu quả kịp thời tranh chấp còn có ý nghĩa cực kỳ quan trong việc quản lý xã hội bằng pháp luật, vừa tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiập, vừa góp phần tạo môi trường pháp lý có kỷ cương Trong sản xuất kinh doanh tạo niềm tin, thực hiện công bằng và bình đẳng cho các doanh nghiệp trong nước và ngoài nước Thực hiện sản xuất kinh doanh có hiệu quả
Tính hiệu quả được xét ở hai góc độ hiệu quả chuyên môn và hiệu quả kinh tế Muốn vậy trong khi tiến hành một hình thức giải quyết tranh chấp nào cũng phải tuân thủ một số nguyên tắc
Trang 221.2 Lý luận về pháp luật giải quyết tranh chấp đất đai
1.2.1 Sự cần thiết của pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai
Quan hệ pháp luật đất đai là quan hệ giữa người với người, được các quy phạm pháp luật đất đai điều chỉnh, biểu hiện thành quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể của các bên, được đảm bảo bằng cưỡng chế Nhà nước
Trên cơ sở quan niệm như vậy, quan hệ pháp luật đất đai có các đặc điểm sau:
- Quan pháp luật đất đai là quan hệ giữa người với người (các quan hệ
xã hội) Quan hệ này có thể là quan hệ phát sinh giữa các cơ quan quản lý nhà nước với người sử dụng đất, quan hệ giữa những người sử dụng đất với nhau, quan hệ giữa các cơ quan nhà nước khi thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu và quản lý nhà nước về đất đai;
- Quan hệ pháp luật đất đai phải là loại quan hệ được các quy phạm pháp luật đất đai điều chỉnh, quy định cho các bên trong quan hệ có những quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định;
- Quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên được đảm bảo thực hiện bằng cưỡng chế Nhà nước
Sự cần thiết điều chỉnh quan hệ GQTCĐĐ bằng pháp luật
Nhà nước thực hiện chức năng quản lý của mình trên tất cả các phương diện của đời sống xã hội, các vấn đề trong quá trình phát triển kinh tế đất nước sẽ không thể tránh được những mâu thuẫn, bất đồng phát sinh giữa chủ thể quản lý nhà nước và đối tượng quản lý và trong lĩnh vực đất đai cũng không ngoại lệ Quá trình quản lý và sử dụng đất đai cũng sẽ không thể tránh khỏi việc phát sinh mâu thuẫn, bất đồng giữa cá nhân, tổ chức với tư cách là những người quản lý, sử dụng đất đai với cơ quan thực hiện chức năng quản
lý nhà nước về đất đai, tranh chấp giữa cá nhân và tổ chức về đất đai Đó chính là tranh chấp trong lĩnh vực đất đai Đã từ lâu ở nước ta, để giải quyết
Trang 23loại tranh chấp này, Nhà nước đã thiết lập con đường giải quyết hành chính, tòa án, theo đó, cá nhân, cơ quan, tổ chức thực hiện khiếu nại đến các cơ quan quản lý nhà nước về đất đai để được giải quyết theo thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật đất đai và pháp luật khiếu nại [6] Sau khi Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 1995 và Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 ra đời và có hiệu lực thi hành, việc giải quyết các tranh chấp hành chính về đất đai còn được Toà án nhân dân thực hiện theo thủ tục tố tụng hành chính Kể từ đó tới nay, pháp luật điều chỉnh giải quyết tranh chấp hành chính trong lĩnh vực đất đai liên tục được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện Sự tồn tại song song hai phương thức giải quyết trong gần 20 năm qua mang lại hiệu quả tích cực, đã góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các các chủ thể sử dụng đất, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và bảo đảm pháp chế trong hoạt động của các cơ quan nhà nước hữu quan Tuy nhiên, sau khi Luật đất đai 2013 có hiệu lực thi hành ngày đến nay, tranh chấp hành chính trong lĩnh vực đất đai có xu hướng gia tăng cả về số lượng, tính chất phức tạp và phản ứng bức xúc của người dân, trong khi đó, việc giải quyết loại tranh chấp này cũng bộc lộ nhiều bất cập [41]
1.2.2 Các nguyên tắc của pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai
Muốn đáp ứng được các yêu cầu đó, thì việc GQTCĐĐ phải tuân thủ các nguyên tắc sau đây:
(1) Nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ
sở hữu và thống nhất quản lý trên toàn quốc
Hiến pháp 2013, Luật Đất đai hiện hành khẳng định toàn bộ đất đai trên lãnh thổ Việt Nam đều thuộc quyền sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ
sở hữu và thống nhất quản lý Trong thực tế vừa qua có mâu thuẫn về quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu, nhưng quyền của đại diện chủ sở hữu, nhất là quyền định đoạt và quyền hưởng lợi từ đất đai
Trang 24chưa được định rõ; trong khi đó, người được Nhà nước giao đất (người sử dụng) tự coi như người chủ sở hữu, tùy tiện mua bán, chuyển nhượng Trên thực tế, Nhà nước phải mặc cả với người sử dụng đất khi thu hồi đất sử dụng vào các mục đích công cộng và phát triển kinh tế - xã hội Việc thu hồi đất gặp rất nhiều khó khăn, phức tạp, dẫn đến nhiều vụ khiếu kiện liên quan đến việc thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư [41]
(2) Nguyên tắc bảo đảm lợi ích của người sử dụng đất, nhất là lợi ích kinh tế, khuyến khích việc tự thương lượng, tự hòa giải trong nội bộ nhân dân
Để bảo vệ một cách tốt nhất những lợi ích thiết thân đó, trước hết các bên tranh chấp phải gặp nhau để bàn bạc, thảo luận và thương lượng Đó cũng là
cơ sở quan trọng đảm bảo quyền tự do định đoạt cho các đương sự Cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai chỉ thụ lý đơn khi các bên đã tiến hành qua thủ tục này mà không đạt được sự nhất trí cần thiết [41]
(3) Việc GQTCĐĐ phải nhằm mục đích ổn định tình hình kinh tế - xã hội của đất nước, địa phương, gắn việc GQTCĐĐ với việc tổ chức lại sản xuất, kinh doanh, tạo điều kiện cho người bị thu hồi đất có việc làm phù hợp với quá trình chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng trong quá trình triển khai các chính sách
về nông nghiệp, nông thôn Do ảnh hưởng tiêu cực của TCĐĐ đến mọi mặt của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội nên việc giải quyết các TCĐĐ phải nhằm vào mục đích bình ổn các quan hệ xã hội [41]
(4) Nguyên tắc đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa
Mọi hoạt động trong đời sống kinh tế, xã hội đều hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, việc giải quyết các tranh chấp dân sự nối chung và giải quyết tranh chấp đất đai nói riêng cũng phải chú ý và tuân thủ các nguyên tắc, trình tự, thủ tục, thẩm quyền mà hiến pháp, pháp luật của Nhà nước đã quy định nói chung và phát luật về tố tụng, pháp luật về đất đai nói riêng Đồng
Trang 25thời, việc giải quyết các tranh chấp đất đai phải được các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền phát hiện và giải quyết kịp thời các vụ tranh chấp theo đúng quy trình nhằm giảm thiểu các vi phạm pháp luật về đất đai, tránh tình trạng để các TCĐĐ kéo dài, làm ảnh hưởng tới tâm lý và lợi ích của người dân cũng như trật tự, an toàn tại địa phương
1.2.3 Cơ cấu về nội dung của pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai
Một quan hệ pháp luật đất đai được cấu thành bởi các yếu tố: chủ thể, nội dung và khách thể của quan hệ pháp luật đất đai
Chủ thể của quan hệ pháp luật đất đai: Chủ thể của quan hệ pháp luật đất đai là các chủ thể dựa trên cơ sở các quy phạm pháp luật mà tham gia vào một quan hệ pháp luật đất đai để hưởng quyền và làm nghĩa vụ trong quan hệ đó Chủ thể của quan hệ pháp luật đất đai gồm có Nhà nước và người sử dụng đất
Nhà nước tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai với tư cách là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và thống nhất quản lý nhà nước về đất đai Nhà nước tham gia vào các quan hệ pháp luật thông qua các cơ quan nhà nước
Chủ thể sử dụng đất là người đang thực tế chiếm hữu đất đai do Nhà nước giao, cho thuê, cho phép nhận quyền sử dụng đất hoặc được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất Các chủ thể sử dụng đất này gồm các tổ chức trong nước; cá nhân, hộ gia đình trong nước; cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo; tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao; Người Việt Nam định cư ở nước ngoài; tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam (Điều 5 Luật Đất đai năm 2013) [32]
Chủ thể đang thực tế chiếm hữu đất đai được phân chia thành: chủ thể
đã có giấy tờ hợp pháp về quyền sử dụng đất (đã có giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất); chủ thể có giấy tờ hợp lệ về quyền sử dụng đất (chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, những đủ điều kiện để được cấp giấy chứng
Trang 26nhận); và chủ thể không đủ giấy tờ theo quy định nhưng được công nhận quyền sử dụng đất
Nội dung của quan hệ pháp luật đất đai: Nội dung của quan hệ pháp luật đất đai là tổng thể quyền hạn và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ pháp luật đất đai Các quyền hạn, nghĩa vụ này được pháp luật quy định và bảo vệ
Khách thể của quan hệ pháp luật đất đai: Khách thể của quan hệ pháp luật đất đai là cái mà các chủ thể nhằm hướng tới, đạt được khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai
Cơ cấu về nội dung của pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai bao gồm:
Thứ nhất, nhóm các quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật hiện hành
Căn cứ để GQTCĐĐ là một nội dung không thể thiếu của pháp luật
về giải quyết tranh chấp đất đai Đây chính là vấn đề xác định cơ quan, tổ chức nào có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp đất đai giữa các chủ thể tranh chấp
Thứ hai, nhóm các quy định về trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật
Đây chính là các quy định về các bước cần phải thực hiện trong quá
trình giải quyết tranh chấp đất đai Đó là các quy định về hòa giải, về trình tự,
thủ tục giải quyết các tranh chấp đất đai tại cơ quan hành chính nhà nước và tại tòa án nhân dân
Thứ ba, pháp luật nội dung về giải quyết tranh chấp đất đai Đây chính
là các quy định của pháp luật đất đai về quản lý, sử dụng đất, về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất; là các quy định của pháp luật dân sự, pháp
Trang 27luật đất đai, pháp luật về kinh doanh bất động sản về các giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất…
1.2.4 Lịch sử hình thành và phát triển về giải quyết tranh chấp đất đai
1.2.4.1 Thời kỳ trước khi ban hành Hiến pháp 1980
Từ năm 1976 đến trước khi Hiến pháp năm 1980 được thông qua Nhà nước ta đã ban hành trên 800 văn bản pháp luật, trong đó có một luật, 3 pháp lệnh 532 văn bản của Chính phủ, 241 văn bản của các Bộ và các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ Như vậy, giai đoạn này thẩm quyền GQTCĐĐ của ủy ban hành chính các cấp chưa được quy định rõ ràng Thực tế, việc giải quyết các TCĐĐ chủ yếu do ủy ban hành chính cấp xã thực hiện với vai trò của tổ chức nông hội địa phương (tham gia nhiều vào công việc chính quyền),
cơ quan tư pháp chỉ xuất hiện khi giải quyết tranh chấp hoa màu trên đất bãi
sa bồi [52]
1.2.4.2 Thời kỳ sau khi ban hành Hiến pháp 1980
- Giai đoạn từ khi Hiến pháp 1980 có hiệu lực đến trước khi Luật Đất
đai 1987 ra đời
Hiến pháp 1980 ra đời đã khép lại một chặng đường dài phấn đấu không ngừngcủa Nhà nước ta nhằm mục tiêu xã hội hóa toàn bộ vốn đất đai trong phạm vi cả nước Điều 19 và Điều 20 Hiến pháp 1980 quy định:
“Những tập thể và cá nhân đang sử dụng đất đai được tiếp tục sử dụng” Do
đó, một số hợp tác xã, tổ chức và các tập đoàn sản xuất nông nghiệp thời kỳ bấy giờ đi đến tan rã, đất đai lại có sự chia cấp lại theo quy định mới Tuy vậy, việc GQTCĐĐ còn quan liêu, mang nặng tính mệnh lệnh hành chính
- Giai đoạn từ khi Luật Đất đai 1987 được ban hành đến trước khi Luật Đất đai 1993 ra đời
Trang 28Hiến pháp 1980 cũng như khi Luật Đất đai 1987 được ban hành và có hiệu lực đều khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý Song các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành đã không xác định rõ ràng quyền lợi của người sử dụng đất đã làm hạn chế hiệu quả sử dụng đất Trong giai đoạn này, nổi trội nhất phải kể đến chủ trương thực hiện cơ chế quản
lý kinh tế mới trong nông nghiệp theo Nghị quyết 10-NQ/TW ngày 5/4/1988 của
Bộ Chính trị [52]…
Đối với nhà ở, các tranh chấp phát sinh trong giai đoạn này thường liên quan đến nhà cải tạo, nhà vắng chủ, đòi lại nhà cho thuê trước ngày 1/7/1991 (Pháp lệnh về nhà ở có hiệu lực) Ngoài ra, còn xuất hiện các tranh chấp về nhà ở khi vợ chồng ly hôn Để tạo cơ sở pháp lý giải quyết tình hình TCĐĐ
kể trên Nghị định 30-HĐBT ngày 23/3/1989 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về việc thi hành Luật Đất đai (Điều 15, 16).Chỉ thị số 364-CT ngày 06/11/1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) về việc GQTCĐĐ liên quan đến địa giới hành chính Các văn bản pháp luật được Nhà nước ban hành trong thời kỳ này đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thực hiện các nội dung GQTCĐĐ, góp phần vào việc giải quyết mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, ổn định sản xuất, kinh doanh và phát triển kinh tế [49] [52]
- Giai đoạn từ khi Luật Đất đai 1993 ban hành đến trước khi có Luật Đất đai 2003 ra đời
Luật Đất đai 1993 dựa trên cơ sở của Hiến pháp 1992, đã khắc phục được nhiều nhược điểm của Luật Đất đai 1987, đã sửa đổi, bổ sung một số quy định không còn phù hợp để giải quyết những vấn đề quan trọng trong việc quản lý và sử dụng đất đai Sau hai lần sửa đổi, bổ sung, Luật Đất đai
1993 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 2 tháng 12 năm 1998 và ngày 29 tháng 6 năm 2001, cùng hệ thống các
Trang 29văn bản dưới luật, đã hình thành một ngành luật đất đai, góp phần tích cực vào công cuộc đổi mới nền kinh tế - xã hội của đất nước
Luật Đất đai 1993 đã chế định cơ sở pháp lý cơ bản để quan hệ đất đai
ở nước ta chuyển sang cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa Luật này đã đề cập đến.nhiều nội dung quan trọng song có thể nêu lên bốn nội dung cơ bản nhất sau đây [49]
Thông tư liên tịch số 02/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-TCĐC của TAND tối cao (TANDTC), Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC) và Tổng cục Địa chính ngày 28/7/1997 hướng dẫn về thẩm quyền của TAND trong việc giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 3 Điều 38 Luật Đất đai Thông tư liên tịch số 01/2002/TTLT-TAND-VKSNDTC-TCĐC ngày03/1/2002 của TANDTC, VKSNDTC và Tổng cục Địa chính “Hướng dẫn về thẩm quyền của TAND trong việc giải quyết tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất”
- Giai đoạn từ khi Luật Đất đai 2003 ban hành đến trước khi có Luật Đất đai 2013 ra đời
Kế thừa các quy định của Luật Đất đai năm 1993, ngày 26/11/2003, Quốc hội khóa XI kỳ họp thứ 4 đã thông qua Luật Đất đai mới - Luật Đất đai năm 2003, có hiệu lực thi hành vào ngày 1/7/2004 (trong đó quy định thẩm quyền GQTCĐĐ từ Điều 135 đến Điều 137) Kế thừa những nội dung còn phù hợp của Luật đất đai hiện hành, luật hoá một số quy định tại các văn bản hướng dẫn thi hành Luật đất đai đã được cuộc sống chấp nhận, đồng thời đưa vào Luật đất đai những nội dung mới cần sửa đổi, bổ sung nhằm tạo lập một
hệ thống pháp luật, đáp ứng cho thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Luật Đất đai 2003 tăng cường vai trò giải quyết tranh chấp của Toà án nhân dân Cụ thể, Luật này quy định: Tranh chấp đất đai mà đương sự có giấy
Trang 30chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất, tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Toà án nhân dân giải quyết Việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện ở 2 cấp, trong đó cấp thứ 2 là cấp giải quyết cuối cùng Như vậy, một mặt đảm bảo quyền của công dân, mặt khác xác định rõ phạm vi, chức năng, thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai giữa Toà án nhân dân và cơ quan hành chính các cấp [52]
Như vậy, Luật đất đai năm 2003 quy định về thẩm quyền GQTCĐĐ của TAND có những điểm mới cơ bản như sau:
Thứ nhất, pháp luật đất đai ngày càng đề cao vị trí và vai trò của TAND trong việc giải quyết các TCĐĐ Điều này phù hợp với thông lệ và tập quán pháp luật của nhiều nước trên thế giới Hơn nữa thẩm quyền GQTCĐĐ của TAND ngày càng đươc mở rộng và được quy định rất cụ thể
Thứ hai, so với quy định của luật Đất đai năm 1993 thì Luật đất đai năm 2003 đã mở rộng phạm vi GQTCĐĐ của TAND Theo đó, TAND không chỉ có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về tài sản gắn liền với đất và các TCĐĐ mà người sử dụng đất đã có GCNQSDĐ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp, mà còn giải quyết các TCĐĐ tuy người sử dụng đất chưa được Nhà nước cấp GCNQSDĐ, nhưng có một trong các loại giấy tờ về SDĐ quy định tại khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Từ những phân tích ở trên cho thấy, việc mở rộng thẩm quyền GQTCĐĐ của TAND các cấp theo Luật Đất đai năm 2003 đã kế thừa các quy định của Luật Đất đai năm 1993 và đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn quản lý và sử dụng đất đai ở nước ta tại thời điểm này Bởi lẽ, nếu chỉ quy định cho TAND có thẩm quyền giải quyết các TCĐĐ
mà người sử dụng đất đã có GCNQSDĐ do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định của Luật đất đai năm 1993 thì sẽ nảy sinh những rắc rối là người sử dụng đất được các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp nhiều loại GCNQSDĐ [49] [52]
Trang 31Ngày 29/11/2013, tại kỳ họp lần thứ 6, Quốc hội khóa 13 đã chính thức thông qua Luật đất đai 2013 Luật này có hiệu lực từ ngày 1/7/2014 đã có những thay đổi các quy định về GQTCĐĐ ở Việt Nam [52]
1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai
1.2.5.1 Các yếu tố về điều kiện kinh tế - xã hội
Pháp luật và kinh tế có mối quan hệ biện chứng với nhau, đặc biệt là phát luật về đất đai có sự thay đổi rất nhiều, gắn với thực tiễn của thị trường bất động sản và thực tiễn chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong việc phát triển sản xuất kinh doanh Nếu hệ thống văn bản pháp luật về đất đai phản ánh chính xác, kịp thời và phù hợp với những vấn đề đặt ra từ thực tiễn thị trường chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chứa đựng nội dung phù hợp với các điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, địa phương và yêu cầu các quản
lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai và kinh tế - xã hội sẽ tạo những “đòn bẩy” tăng trưởng kinh tế - xã hội nói chung và thị trường về chuyển nhượng quyền
sử dụng đất nói riêng, góp phần thúc đẩy, tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế phát triển, xã hội được ổn định Ngược lại, sự phát triển của kinh tế - xã hội với những diễn biến khác nhau với nhiều mâu thuẫn, tranh chấp có thể xảy ra,
để ổn định kinh tế và xã hội thì việc ban hành văn bản pháp luật quản lý cũng như giải quyết các tranh chấp về đất đai là hết sức cần thiết
1.2.5.2 Đường lối chính sách của Đảng, và lợi ích của các bên có liên quan Với tư cách là phương tiện cơ bản của Nhà nước trong quản lý, các văn bản pháp luật đất đai phải có nội dung phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình thể chế hóa thành pháp luật hoặc trong việc tổ chức thực hiện trên thực tế các đường lối, chính sách đó, có như vậy mới bảo đảm thực hiện có hiệu quả và mới bảo vệ hữu hiệu lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân, nông dân và các tầng lớp lao động khác
Trang 32hệ mật thiết, có sự tác động qua lại rất sâu sắc
1.2.5.4 Yếu tố hội nhập kinh tế quốc tế
Trong điều kiện hội nhập kinh tế và mở rộng giao lưu hợp tác nhiều mặt với các nước, các tổ chức quốc tế như hiện nay, sự phù hợp này là cần thiết, đặc biệt là đối với các quy định về quản lý kinh tế, tuy nhiên cũng cần xác định rõ những vấn đề nào có thể tiếp thu có chọn lọc để nội luật hóa, những vấn đề nào mang tính nguyên tắc bất di bất dịch, không thể tiếp thu
“nội hóa”, có như vậy mới có thể vừa tạo điều kiện thuận lợi cho những hoạt động hội nhập kinh tế với các nước trong khu vực và trên thế giới mở rộng quan hệ nhiều mặt Vừa giữa vững lập trường, không bị chệch hướng phát triển đã lựa chọn và không làm mất đi bản sắc dân tộc trong quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 33Tiểu kết chương 1
TCĐĐ là một vấn đề khá phức tạp và rất tế nhị Chương 1 của luận văn
đã trình bày những vấn đề lý luận chung về TCĐĐ và pháp luật về GQTCĐĐ Nội dung chương đã trình bày các quan điểm khác nhau về khái niệm TCĐĐ
và giới hạn khái niệm này trong khuôn khổ luận văn là TCĐĐ là tranh chấp
về quyền sử dụng đất, trên cơ sở đó đã làm rõ những đặc điểm, các dạng TCĐĐ, những nguyên nhân dẫn đến TCĐĐ, những nội dung này là cơ sở quan trọng để thực hiện GQTCĐĐ Phần thứ hai của chương này đã làm rõ khái niệm, sự cần thiết của pháp luật GQTCĐĐ và các nguyên tắc thực hiện pháp luật GQTCĐĐ Một khi đã nhận diện rõ những tác động kinh tế, xã hội của việc GQTCĐĐ sẽ giúp cho việc thực hiện và phát hiện những bất cập trong hệ thống pháp luật liên quan đến GQTCĐĐ, để từ đó có những kiến nghị phù hợp được trình bày trong các chương tiếp theo của Luận văn
Trang 34Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI HUYỆN VÂN ĐỒN,
TỈNH QUẢNG NINH 2.1 Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai
2.1.1 Quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai
Căn cứ để GQTCĐĐ là một nội dung cực kỳ quan trọng, là cơ sở để việc
ra quyết định tranh chấp Vì lẽ đó, Luật Đất đai 2013 đã có những sửa đổi, bổ sung quy định căn cứ để GQTCĐĐ trong trường hợp các bên tranh chấp không
có giấy tờ về quyền sử dụng đất Luật Đất đai năm 2013 được ban hành trong bổi cảnh thị trường chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã hình thành qua đó
đã khắc phục và giải quyết được một số hạn chế phát hiện được trong quá trình thi hành Luật Đất đai năm 2003 trong giai đoạn trước đó Đây là một đạo luận quan trọng có tác động sâu rộng đến đời sống chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước Luật đất đai năm 2013 quy định các chủ thể có thẩm quyền GQTCĐĐ rõ ràng, bao gồm: TAND, UBND và Bộ Tài nguyên & Môi trường Các nội dung sửa đổi, bổ sung của Luật này nhằm đáp ứng yêu cầu của quá trình đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới tạo nền tảng để đến năm
2020, nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp phát triển theo hướng hiện đại [52]
Thẩm quyền GQTCĐĐ được quy định tại Luật Đất đai số 45/2013/QH13 ngày 29/11/2013 Hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND cấp xã, phường, thị trấn được qui định tại Điều 202 Luật đất đai năm 2013 và hướng dẫn cụ thể tại Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ
Theo đó, tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải Chủ tịch UBND cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa
Trang 35phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai
Khi nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai, UBND cấp
xã có trách nhiệm thẩm tra, xác minh tìm hiểu nguyên nhân phát sinh tranh chấp, thu thập giấy tờ, tài liệu có liên quan do các bên cung cấp về nguồn gốc đất, quá trình sử dụng đất và hiện trạng sử dụng đất; thành lập Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai để thực hiện hòa giải Thành phần Hội đồng gồm: Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch UBND là Chủ tịch Hội đồng; đại diện Ủy ban Mặt trận
Tổ quốc xã, phường, thị trấn; tổ trưởng tổ dân phố đối với khu vực đô thị; trưởng thôn, ấp đối với khu vực nông thôn; đại diện của một số hộ dân sinh sống lâu đời tại xã, phường, thị trấn biết rõ về nguồn gốc và quá trình sử dụng đối với thửa đất đó; cán bộ địa chính, cán bộ tư pháp xã, phường, thị trấn Tùy từng trường hợp cụ thể, có thể mời đại diện Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
2.1.2 Các quy định về trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai
2.1.2.1 Quy định của pháp luật về thủ tục hòa giải TCĐĐ
Pháp luật về thủ tục hòa giải TCĐĐ tại Điều 202 Luật Đất đai 2013 [32] Như vậy, việc hòa giải trong GQTCĐĐ theo pháp luật Việt Nam hiện hành được quy định như sau:
Thứ nhất, tự hòa giải hoặc hòa giải tại cơ sở
TCĐĐ được nhà nước khuyến khích việc sử dụng biện pháp tự hòa giải hoặc hòa giải tại cơ sở Điều này có nghĩa là tự hòa giải hoặc hòa giải tại cơ
sở không phải là một thủ tục bắt buộc trong GQTCĐĐ Một TCĐĐ nếu chưa qua hòa giải tại cơ sở hoặc chưa thực hiện tự hòa giải giữa các bên tranh chấp
Trang 36thì vẫn có thể được chuyển sang bước giải quyết kế tiếp Tự hòa giải là việc các bên tranh chấp tự tiếp xúc với nhau, một cách trực tiếp hoặc gián tiếp để đàm phán, trao đổi và đi đến giải quyết tranh chấp, kết quả giải quyết tranh nếu đạt được thành công thì đó là kết qủa của sự thống nhất ý chí giữa các bên tranh chấp Hòa giải tại cơ sở là việc hòa giải được tiến hành tại thôn, xóm,
ấp, bản, khu phố do ban hòa giải cơ sở tiến hành theo pháp luật hòa giải tại cơ
sở năm 2013 Việc giải quyết tranh chấp bằng tự hòa giải hoặc hòa giải ở cơ
sở giúp giữ gìn mối quan hệ tốt đẹp trong nội bộ người dân, không những thế
nó còn làm giảm bớt áp lực giải quyết tranh chấp lên cơ quan nhà nước có thẩm quyền Mặt khác, việc giải quyết tranh chấp này có tính khả thi cao trong việc thi hành các nội dung tranh chấp được giải quyết Vì lý do đó mà pháp luật khuyến khích các bên tranh chấp sử dụng biện pháp này để giải quyết trước khi yêu cầu đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền [52]
Thứ hai, hòa giải tại UBND cấp xã
Khi các bên đã giải quyết qua biện pháp tự hòa giải, hòa giải tại cơ sở
mà không thành công hoặc không sử dụng hai biện pháp này thì các bên có đơn yêu cầu UBND cấp xã nơi có đất giải quyết theo khoản 2, điều 202 Luật Đất đai năm 2013: “TCĐĐ mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải” Như vậy, hòa giải tại UBND cấp xã là một thủ tục mang tính bắt buộc tính bắt buộc này thể hiện ở cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ chấp nhận đơn yêu cầu GQTCĐĐ của các bên đương sự khi vụ việc đã trải qua giai đoạn hòa giải tại UBND cấp
xã nơi có tranh chấp (điều 203 Luật Đất đai năm 2013)
2.1.2.2 Quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân
Theo quy định tại Điều 203 của Luật đất đai 2013 thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện tiếp theo sau khi hòa giải không thành công
Trang 37tại cơ sở: TCĐĐ đã được hòa giải tại UBND cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau: “1 TCĐĐ mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do TAND giải quyết; 2 TCĐĐ mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều
100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức GQTCĐĐ theo quy định sau đây: a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại UBND cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này; b) Khởi kiện tại TAND có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;” [32]
Về cơ bản, các loại giấy tờ được quy định tại Điều 100 Luật Đất đai
2013 hiện nay vẫn giữ nguyên nội dung các quy định tại khoản 1,2 và khoản 5 Điều 50 Luật Đất đai 2003 và có sự bổ sung thêm một số trường hợp cụ thể
Như vậy căn cứ theo khoản 2 Điều 203 Luật đất đai 2013 thì thẩm quyền giải quyết tranh chấp của tòa án đã được mở rộng hơn, TAND có thẩm quyền giải quyết những TCĐĐ bao gồm [52]:
- TCĐĐ mà đương sự có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật Đất đai
- Tranh chấp về tài sản gắn liền với đất
- TCĐĐ mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật Đất đai
TCĐĐ mà đương sự không có giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai thì đương sự được lựa chọn một trong hai hình thức: Khởi kiện tại TAND có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự hoặc nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại UBND cấp có thẩm quyền theo quy định của Luật Đất đai [32] [52]
Thủ tục khởi kiện tại Tòa án nhân dân
Trang 38Bước 1 Chuẩn bị đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ
Chuẩn bị 01 bộ hồ sơ khởi kiện, gồm: Đơn khởi kiện theo mẫu; Giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất như: Sổ đỏ hoặc một trong các loại giấy tờ theo quy định tại Điều 100; Biên bản hòa giải có chứng nhận của UBND xã
và có chữ ký của các bên tranh chấp; Giấy tờ của người khởi kiện: Sổ hộ khẩu; chứng minh thư nhân dân hoặc thẻ căn cước nhân dân; Các giấy tờ chứng minh khác (Tùy theo yêu cầu khởi kiện của bên khởi kiện - vì theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, ai khởi kiện vấn đề gì thì phải có tài liệu, chứng cứ, chứng minh cho chính yêu cầu khởi kiện đó của mình)
Ví dụ: Tranh chấp ranh giới về thửa đất giữa các hộ gia đình, cá nhân thì phải có:
+ Văn bản đo đạc, xác minh về việc thửa đất bị lấn chiếm;
+ Trích lục hồ sơ địa chính đối với thửa đất có tranh chấp…
Bước 2 Nộp đơn khởi kiện
- Nơi nộp: Tòa án nhân dân cấp huyện có đất đang tranh chấp
- Hình thức nộp: Nộp bằng 1 trong 3 hình thức sau (khoản 1 Điều 90
Bộ luật Tố tụng dân sự 2015): Nộp trực tiếp tại Tòa án; Gửi đến Tòa án theo đường dịch vụ bưu chính; Gửi trực tuyến bằng hình thức điện tử qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có)
Bước 3 Tòa thụ lý và giải quyết
- Nếu hồ sơ chưa đủ mà đúng thẩm quyền của Tòa án thì Tòa án yêu cầu bổ sung
- Nếu hồ sơ đủ: Tòa thông báo nộp tạm ứng án phí; Người khởi kiện nộp tạm ứng án phí tại cơ quan thuế theo giấy báo tạm ứng án phí và mang biên lai nộp cho Tòa; Sau đó Tòa sẽ thụ lý
Lưu ý:
Trang 39- Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được giấy báo, người khởi kiện phải nộp tạm ứng án phí và nộp lại biên lai cho Tòa án
- Trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí thì Thẩm phán sẽ thụ lý vụ án khi nhận được đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo
2.1.2.3 Quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan hành chính
Trình tự GQTCĐĐ tại cơ quan hành chính được áp dụng đối với những tranh chấp thỏa mãn đủ hai điều kiện sau đây:
Thứ nhất, các đương sự không có giấy tờ chứng minh quyền sử dụng
đất theo quy định
Thứ hai,đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại UBND
Cơ quan hành chính có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lần đầu được quy định tùy thuộc loại chủ thể tranh chấp
Một trong những điểm mới của Luật Đất đai 2013 so với luật đất đai
2003 là luật đã bổ sung quy định người có thẩm quyền GQTCĐĐ phải ra quyết định giải quyết tranh chấp Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế (khoản 4 điều 203 Luật Đất đai 2013) [52]
Trang 40Ngoài ra, Luật đất đai 2013 còn bổ sung quy định thủ tục GQTCĐĐ thuộc thẩm quyền của Chủ tịch UBND cấp huyện, cấp tỉnh, bao gồm các bước sau đây:
Bước 1: Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp: Người có đơn yêu cầu GQTCĐĐ nộp đơn tại UBND cấp có thẩm quyền;
Bước 2: Tham mưu và giải quyết tranh chấp Chủ tịch UBND cấp có thẩm quyền thực hiện việc giao trách nhiệm cho cơ quan tham mưu giải quyết các vấn đề về tranh chấp đất đai; cơ quan tham mưu có nhiệm vụ thẩm tra, kiểm tra, xác minh vụ việc, tổ chức hòa giải giữa các bên tranh chấp, tổ chức cuộc họp các ban, ngành có liên quan để tư vấn GQTCĐĐ (nếu cần thiết) và hoàn chỉnh hồ sơ trình Chủ tịch UBND cùng cấp ban hành quyết định GQTCĐĐ [52]
Luật còn quy định chi tiết về hồ sơ GQTCĐĐ bao gồm:
1 Đơn yêu cầu GQTCĐĐ;
2 Biên bản hòa giải tại UBND cấp xã;
3 Biên bản làm việc với các bên tranh chấp và người có liên quan;
4 Biên bản kiểm tra hiện trạng đất tranh chấp;
5 Biên bản cuộc họp các ban, ngành có liên quan để tư vấn GQTCĐĐ đối với trường hợp hòa giải không thành;
6 Biên bản hòa giải trong quá trình giải quyết tranh chấp; trích lục bản
đồ, hồ sơ địa chính qua các thời kỳ liên quan đến diện tích đất tranh chấp và các tài liệu làm chứng cứ, chứng minh trong quá trình giải quyết tranh chấp;
7 Báo cáo đề xuất và dự thảo quyết định giải quyết tranh chấp hoặc dự thảo quyết định công nhận hòa giải thành;
Đối với việc GQTCĐĐ thuộc thẩm quyền của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Luật Đất đai 2013 bổ sung quy định thủ tục GQTCĐĐ thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường