1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả công tác Giáo dục Thể chất cho Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội tt

25 177 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 536,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, công tác GDTC trong Trường ĐHBK Hà Nội nói chung và tại Khoa GDTC nói riêng trong nhiều năm qua kết quả đạt được còn rất khiêm tốn, chưa tương xứng với quy mô cũng như tiềm nă

Trang 1

A GIỚI THIỆU LUẬN ÁN PHẦN MỞ ĐẦU

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội (ĐHBK) được thành lập theo Nghị định số 147/NĐ ngày 6-3-1956 Đây là trường đại học kỹ thuật đầu tiên của nước ta có nhiệm vụ đào tạo kỹ sư công nghiệp cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam Trường ĐHBK Hà Nội hiện đang đào tạo trên 40.000 SV, học viên cao học và nghiên cứu sinh với 67 chuyên ngành đại học và 33 chuyên ngành cao học,

57 chuyên ngành tiến sĩ

Khoa Giáo dục Thể chất tiền thân là Bộ môn TDTT được thành lập từ năm 1956 Cùng với sự phát triển của nhà trường, các thế hệ cán bộ, giáo viên đã cống hiến và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đào tạo lớp người cán

bộ khoa học kỹ thuật phát triển toàn diện, giỏi về chuyên môn, có đạo đức trong sáng, có kỷ luật và sức khoẻ Trong những năm qua, bên cạnh các thành tích đã đạt được trong đào tạo, Khoa đã đóng góp đáng kể vào việc

xây dựng và phát triển phong trào TDTT của trường

Tuy nhiên, công tác GDTC trong Trường ĐHBK Hà Nội nói chung và tại Khoa GDTC nói riêng trong nhiều năm qua kết quả đạt được còn rất khiêm tốn, chưa tương xứng với quy mô cũng như tiềm năng của nhà trường và cũng nhiều năm qua Khoa GDTC của nhà trường cũng chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào về công tácGDTC, xuất phát từ yêu cầu thực tiễn và tính bức thiết của vấn đề, tôi triển khai nghiên cứu đề tài:

“Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả công tác Giáo dục Thể chất cho Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội”

Mục đích nghiên cứu:

Trên cơ sở khảo sát thực trạng về tổ chức quản lý Khoa GDTC, nội dung chương trình môn học, những điều kiện đảm bảo đồng bộ cho công tác GDTC, cũng như các hoạt động ngoại khóa củasinh viên, đề tài xác định và kiểm nghiệm các giải pháp phù hợp với điều kiện thực tế là nhằm góp phần nâng cao hiệu quả của công tác GDTC trong Trường ĐHBK Hà Nội

Mục tiêu nghiên cứu:

Mục tiêu 1 Đánh giá thực trạng công tác Giáo dục Thể chất Trường

Đại học Bách Khoa Hà Nội

Trang 2

Mục tiêu 2 Lựa chọn và ứng dụng các giải pháp nâng cao hiệu quả

Giáo dục Thể chất cho sinh viên Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

Giả thuyết khoa học:

Công tác GDTC tại Trường ĐHBK Hà Nội đang còn những hạn chế bất cập trên nhiều mặt có liên quan Vì vậy, nếu lựa chọn được một số giải pháp phù hợp điều kiện thực tế, tổ chức ứng dụng một cách khoa học, chặt chẽ sẽ khắc phục được những tồn tại yếu kém và phát huy được thế mạnh của nhà trường, nâng cao chất lượng công tác GDTC, góp phần hoàn thành

sứ mạng của Trường ĐHBK Hà Nội

NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

Luận án đã đánh giá được thực trạng công tác GDTC Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội với các nội dung như đánh giá bộ máy, đánh giá các điều kiện đảm bảo cho hoạt động TDTT, thực trạng việc dạy và học; thực trạng hoạt động GDTC trong trường học cũng như đánh giá kết quả hoạt động TDTT tại Trường

Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu thực trạng, luận án đã lựa chọn được

6 giải pháp nâng cao công tác GDTC tại Trường Bước đàu ứng dụng các giải pháp trong thực tế đã cho thấy hiệu quả cao trên cả kết quả học tập môn GDTC cũng như kết quả xếp loại thể lực sinh viên

CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN

Luận án gồm 144 trang A4: Gồm các phần: Mở đầu (04 trang); Chương

1 - Tổng quan vấn đề nghiên cứu (30 trang); Chương 2 - Phương pháp tổ chức nghiên cứu (12 trang); Chương 3 - Kết quả nghiên cứu và bàn luận (91 trang); Kết luận và kiến nghị (02 trang) Luận án sử dụng 83 tài liệu, trong

đó có 80 tài liệu bằng tiếng Việt, 03 tài liệu bằng tiếng Anh, ngoài ra còn có

44 bảng số liệu, 2 biểu đồ và 6 phụ lục

B NỘI DUNG LUẬN ÁN CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về thể thao trường học

Giáo dục và Đào tạo là một vấn đề hết sức quan trọng trong đời sống kinh tế - chính trị của mỗi nước, là biểu hiện trình độ phát triển của mỗi quốc gia Có thể thấy điều này trong các dữ liệu chủ yếu về GDTC và thể thao trường học được Đảng và nhà nước ta hết sức quan tâm như Hiến

Trang 3

pháp và các bộ luật và pháp lệnh của Quốc hội

Trường ĐHBK Hà Nội trong những năm gần đây luôn quan tâm đến vấn đề đổi mới sự nghiệp giáo dục, đào tạo theo đúng quan điểm của Đảng

và Nhà nước, nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng đào tạo của nhà trường

Quan tâm đầu tư công tác GDTC cho SV nhà trường, đầu tư về cơ sở vật chất, tài liệu học tập, kinh phí, nâng cao trình độ đội ngũ giảng viên, cải tiến chương trình nhằm nâng cao chất lượng công tác GDTC của SV đáp ứng được chất lượng đào tạo trong thời kỳ mới

1.2 Một số khái niệm có liên quan

Trong mục này, tác giả đề cập tới các khái niệm sau: GDTC, chất lượng giáo dục, chất lượng GDTC, giải pháp, phát triển thể chất, hoàn thiện thể chất

1.3 Đặc điểm tâm lý và tố chất thể lực sinh viên (lứa tuổi 18-22)

Mỗi một lứa tuổi khác nhau đều có những đặc điểm tâm lý nổi bật, chịu

sự chi phối của hoạt động chủ đạo Tuy nhiên ở lứa tuổi SV có những nét tâm lý điển hình, đây là thế mạnh của họ so với các lứa tuổi khác như: tự ý thức cao, có tình cảm nghề nghiệp, có năng lực và tình cảm trí tuệ phát triển (khao khát đi tìm cái mới, thích tìm tòi, khám phá), có nhu cầu, khát vọng thành đạt, nhiều mơ ước và thích trải nghiệm, dám đối mặt với thử thách Song, do hạn chế của kinh nghiệm sống, sinh viên cũng có hạn chế trong việc chọn lọc, tiếp thu cái mới Những yếu tố tâm lý này có tác động chi phối hoạt động học tập, rèn luyện và phấn đấu của SV

Sự phát triển hài hòa các tố chất thể lực của cơ thể là một trong những nhiệm vụ vô cùng quan trọng trong công tác GDTC cho HSSV Thể lực tốt

sẽ tạo điều kiện để cơ thể phát triển dễ dàng và kích thích hoạt động của hệ

hô hấp, tuần hoàn, giúp quá trình tiêu hóa được tốt hơn Đây là một trong những điều kiện chính để giúp cho cơ thể có sức khoẻ ổn định, bởi, việc lưu thông tuần hoàn máu tốt sẽ giúp cơ thể có đủ dưỡng chất và dưỡng khí, đồng thời loại bỏ các chất độc ra ngoài cơ thể Đông y nói : “Thông tức bất thống, thống tức bất thông” có nghĩa là khí huyết lưu thông tốt thì không đau, mà đau có nghĩa là khí huyết lưu thông không tốt Khi có sức khoẻ tốt con người sẽ tham gia học tập và hoạt động tốt hơn

1.4 Các công trình nghiên cứu có liên quan: được trình bày cụ thể từ

Trang 4

trang 29-33 trong luận án

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu: Là các giải pháp nâng cao hiệu quả công

tác GDTC Trường ĐHBK Hà Nội

2.1.2 Khách thể nghiên cứu

Mẫu nghiên cứu dùng để phỏng vấn:

Mẫu phỏng vấn nhà quản lý, cán bộ, giảng viên 100 người

Mẫu phỏng vấn giảng viên Khoa GDTC Trường ĐHBK 19 người

Mẫu phỏng vấn sinh viên: SV khóa 2015-2020, 2000 sinh viên

Mẫu nghiên cứu dùng để kiểm tra sư phạm:

Mẫu đo lường phản ảnh thực trạng thể chất của sinh viên: 4000 SV của

4 khóa Trường ĐHBK Hà Nội, mỗi khóa 2000 SV (1000 nam và 1000 nữ) được lựa chọn như sau: Khóa 2012-2017 (năm thứ 4-lứa tuổi 22), khóa 2013-2018 (năm thứ 3-lứa tuổi 21), khóa 2014-2019 (năm thứ 2-lứa tuổi 20), khóa 2015-2020 (năm thứ nhất-lứa tuổi 19)

Mẫu thực nghiệm tự đối chiếu: 2000 SV khóa 2015-2020 (1000 nam và

1000 nữ)

2.2 phương pháp nghiên cứu

Quá trình nghiên cứu luận án sử dụng 7 phương pháp khoa học thường quy trong nghiên cứu khoa học TDTT gồm: Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu; Phương pháp quan sát sư phạm; Phương pháp phỏng vấn – điều tra xã hội học; Phương pháp kiểm tra y học, Phương pháp thực nghiệm

sư phạm và Phương pháp toán học thống kê

2.3 Tổ chức nghiên cứu

2.3.1 Thời gian nghiên cứu

Luận án tiến hành từ tháng 12 năm 2014 đến tháng 01 năm 2018, được chia thành 3 giai đoạn

2.3.2 Địa điểm nghiên cứu

Luận án được nghiên cứu tại Viện Khoa học TDTT, Trường ĐHBK Hà Nội

Trang 5

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 3.1 Đánh giá thực trạng công tác Giáo dục Thể chất Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

3.1.1 Đánh giá bộ máy tổ chứccủa Khoa Giáo dục Thể chấtvà Trung tâm Thể thao – Văn hóa Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

Đảm bảo thực hiện công tác TDTT của Trường ĐHBK do 2 đơn vị, đó

là Khoa GDTC và Trung tâm TT – Văn hóa

Bộ máy tổ chức của Khoa GDTC

Khoa GDTC là đơn vị trực thuộc quản lý của Ban Giám Hiệu Trường ĐHBK Hà Nội Cơ cấu tổ chức của Khoa như sau:

Ban chủ nhiệm

Bộ môn

Lý luận và GDTC cơ bản

Bộ mônThể thao tự chọn

Công đoàn Khoa

Đoàn thanh niên Khoa

Về bộ máy tổ chức của Khoa GDTC đảm bảo về cơ cấu tổ chức hoạt động của 1 đơn vị trực thuộc Trường ĐHBK hoạt động theo từng mảng công việc chuyên môn

Bộ máy tổ chức của Trung tâm Thể thao – Văn hóa

Ban Giám đốc

Tổ hành chính tổng hợp

Tổ Thể dục - Thể thao

Tổ Văn hóa

Tổ Thông tin tuyên truyền

Về bộ máy tổ chức của Trung tâm Thể thao – Văn hóa đảm bảo về cơ cấu tổ chức hoạt động của 1 đơn vị trực thuộc Trường ĐHBK hoạt động theo từng mảng công việc chuyên môn

Như vậy, với 2 đơn vị Khoa GDTC và Trung tâm Thể thao – Văn hóa được Hiệu Trưởng Trường ĐHBK Hà Nội giao nhiệm vụ giảng dạy, tổ chức và khai thác các dịch vụ thể thao có cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm

vụ rõ ràng đảm bảo về công tác quản lý, không có sự chồng chéo nhau trong công việc

Trang 6

3.1.2 Thực trạng các điều kiện đảm bảo cho hoạt động TDTT của Trường ĐHBK Hà Nội

3.1.2.1 Thực trạng đội ngũ giảng viên TDTT: Số lượng đội ngũ giảng

viên TDTT của Khoa GDTC từ năm 2012 đến đến nay luôn duy trì lượng giáo viên cơ hữu là 19 giảng viên, trình độ giảng viên ngày càng tăng lên và ngày càng được chuẩn hóa về trình độ, từ năm 2016 đến nay 100% giáo viên có trình độ thạc sỹ, trong đó có 4 giảng viên đang nghiên cứu sinh trong nước Điều này góp phần nâng cao chất lượng công tác GDTC trong Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

3.1.2.2 Thực trạng về cơ sở vật chất phục vụ công tác Giáo dục Thể chất

So với các Trường đại học không chuyên về thể thao trên địa bàn Hà Nội, Trường ĐHBK Hà Nội có điều kiện cơ sở vật chất tốt nhất phục vụ công tác GDTC Tuy nhiên, để phục vụ giảng dạy cho SV toàn trường (gần

44000 SV) thì vẫn chưa đáp ứng nhu cầu sử dụng, nên việc giảng dạy và phát triển các phong trào ở những môn này còn gặp nhiều khó khăn

3.1.2.3 Thực trạng kinh phí dành cho hoạt động GDTC tại Trường ĐHBK Hà Nội giai đoạn 2011-2015

Thống kê thực trạng kinh phí dành cho GDTC của Trường ĐHBK Hà Nội được trình bày trên bảng 3.3

Bảng 3.3 Thực trạng kinh phí dành cho GDTC giai đoạn 2011– 2015

của Trường ĐHBK Hà Nội

Kinh phí thường xuyên tổ chức TDTT

Trang 7

3.1.2.4 Thực trạng nhận thức và thái độ của SV đối với môn GDTC

Thực trạng nhận thức của SV đối với môn GDTC

Nhằm mục đích tìm hiểu về thực trạng nhận thức của SV về môn GDTC, Luận án tiến hành phỏng vấn SVTrường ĐHBK Hà Nội Kết quả cho thấy: Đa số sinh viên đều nhận thức đúng về tầm quan trọng của GDTC

và hài lòng đối với môn học Tuy nhiên, đa số sinh viên không tham gia tập luyện ngoại khóa ngoài giờ lên lớp Về các yếu tố chính làm hạn chế SV tập luyện thêm ngoài giờ lên lớp, thì thiếu cơ sở vật chất và dụng cụ tập luyện

và không thời gian Các yếu tố khác chiếm tỷ lệ ít hơn

Thực trạng về thái độ tích cực của SV khi học môn GDTC

Để giải quyết vấn đề này, Luận án tiến hành phỏng vấn giảng viên trực tiếp giảng dạy và SV Trường ĐHBK Hà Nội Kết quả cho thấy: thực trạng nhận thức của SV về ý nghĩa và tầm quan trọng của môn GDTC chưa cao, cho nên thái độ tích cực trong tập luyện TDTT để rèn luyện thân thể của SV còn hạn chế, SV chưa tham gia nhiệt tình vào các hoạt động TDTT ngoại khóa Cho nên việc cần thành lập CLB TDTT để hướng SV có nhận thức cao về ý nghĩa tầm quan trọng của môn GDTC và có những phương pháp tác động nâng cao ý thức cũng như thái độ tích cực tập luyện TDTT là vấn

đề cần thiết và cấp bách

3.1.3 Thực trạng dạy học TDTT của Trường ĐHBK Hà Nội

3.1.3.1 Thực trạng chương trình và thực hiện chương trình GDTC

Trường ĐHBK Hà Nội luôn thực hiện đúng chương trình GDTC với thời lượng 150 tiết, đến năm 2010 Trường ĐHBK Hà Nội đã chính thức chuyển đổi đào tạo theo hệ thống tín chỉ dựa trên Quyết định số 43/2007/QĐ- BGD&ĐT, trong đó thời lượng chương trình GDTC đã được Ban Giám hiệu phê duyệt là 150 tiết tương đương 5 tín chỉ (mỗi tín chỉ 30 tiết) SV Trường ĐHBK Hà Nội học môn GDTC theo hình thức tín chỉ với tổng số giờ là 150 và được học 02 môn thể thao (với môn lý thuyết GDTC

và Bơi lội là bắt buộc), với thời gian học như vậy mới chỉ dừng lại việc học

và hoàn thiện kỹ thuật các môn thể thao Do đó, cần có hình thức ngoại khóa để nâng cao thể chất cho SV

Thực trạng việc thực hiện chương trình giảng dạy GDTC ở Trường ĐHBK Hà Nội được trình bày trên bảng 3.7

Trang 8

Bảng 3.7 Thực trạng nội dung giảng dạy GDTC tạiTrường ĐHBK Hà Nội

Qua thực tiễn giảng dạy và khảo sát thực tế, có thể nhận thấy phương pháp dạy học và hình thức tổ chức lớp học tại Trường ĐHBK Hà Nội hiện nay còn mang nhiều tính ghi nhớ thụ động, có sự dập khuôn cứng nhắc, tính thụ động chờ đợi chỉ dẫn … chưa giúp cho người học hình thành được tư duy sáng tạo Kết quả thăm dò ý kiến về thực trạng sử dụng phương pháp

và hình thức tổ chức lên lớp cho thấy, phương pháp giảng giải, phương pháp trực quan thị phạm động tác trực tiếp, phương pháp tập luyện phân chia và hoàn chỉnh được sử dụng nhiều

3.1.4 Thực trạng hoạt động ngoại khóa của sinh viên Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

Để đánh giá thực trạng tập TDTT ngoại khóa của SVTrường ĐHBK

Hà Nội, Luận án tiến hành phỏng vấn 2 lần, mỗi lần cách nhau 2 tuần gồm

100 cán bộ giảng viên và 2000 SV Trường với các nội dung: Thực trạng tập luyện TDTT ngoại khóa Cơ sở vật chất sân bãi phục vụ tập luyện, đội ngũ giáo viên, hình thức, nội dung tập luyện TDTT ngoại khóa

Trang 9

Việc đánh giá được tiến hành trên toàn thể sinh viên và theo đặc điểm giới tính(nam và nữ), của SV Trường ĐHBK Hà Nội

3.1.4.1 Thực trạng về tính chuyên cần tập luyện TDTT ngoại khóa của SV Trường ĐHBK Hà Nội

Nhằm đánh giá thực trạng về tập luyện TDTT ngoại khóa của SV Trường ĐHBK Hà Nội, Luận án tiến hành phỏng vấn tổng thể 2000 SV của nhà trường và phỏng vấn theo đặc điểm giới tính về tính chuyên cần tập luyện trong đó đối với tập luyện (thường xuyên) phải tập luyện ≥ 2 buổi/tuần nào cũng tập, còn tập luyện (không thường xuyên) là tập luyện <

2 buổi/tuần và tháng nào cũng phải tập, còn mức độ (không tập) là trong tuần không tham gia tập luyện, kết quả cho thấy, đối tượng nữ sinh còn tập luyện ít thường xuyên hơn nam, điều này cũng tương tự như kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đức Thành

Những kết quả trên cho thấy, dù xét ở bất cứ góc độ nào, về tổng thể

SV hay theo giới tính đều cho thấy, một thực trạng đáng lo ngại về mức độ tập luyện TDTT ngoại khóa của SV không thường xuyên là chiếm ưu thế

3.1.4.2 Thực trạng hình thức tập luyện TDTT ngoại khóa của sinh viên Trường ĐHBK Hà Nội

Với mục đích đánh giá thực trạng hình thức tập luyện TDTT ngoại khóa của sinh viên Trường ĐHBK Hà Nội, Luận án tiến hành phỏng vấn

2000 SV và theo đặc điểm giới tính, về sự lựa chọn các hình thức tập luyện Kết quả cho thấy: SV Trường ĐHBK Hà Nội đang tập luyện TDTT ngoại khóa tản mát ở nhiều hình thức khác nhau, tuy nhiên tập trung chủ yếu vào

03 hình thức đó là: Tập theo hình thức nhóm, tự tập và thể dục sáng Từ kết quả trên cho thấy đây là 03 hình thức dễ thực hiện không bị gò bó về các quy định, tuy nhiên đây cũng là hình thức dễ xảyra chấn thương, không đem lại hiệu quả cho người tập do thiếu người hướng dẫn chỉ đạo

3.1.4.3 Thực trạng tổ chức tập luyện TDTT ngoại khóa của sinh viên Trường ĐHBK Hà Nội

Thực trạng về hình thức tổ chức tập luyện TDTT ngoại khóa của SV Trường ĐHBK Hà Nội: Để đánh giá thực trạng về tổ chức tập luyện ngoại khóa của SV Trường ĐHBK Hà Nội, Luận án tiến hành phỏng vấn tổng thể

Trang 10

2000 SV và phỏng vấn theo đặc điểm giới tính nam, nữ Kết quả được trình bày tại bảng 3.11

Bảng 3.11 Thực trạng công tác tổ chức tập luyện ngoại khóa

của SV Trường ĐHBK Hà Nội (n=2000)

Không có người hướng dẫn 1613 80.65

Qua bảng 3.11 cho thấy: SV đang tập luyện theo hình thức tổ chức không có người hướng dẫn là đa số Khi so sánh tỷ lệ phần trăm giữa 2 hình thức thường xuyên có người hướng dẫn và có người hướng dẫn nhưng không thường xuyên với hình thức không có người hướng dẫn cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở ngưỡng xác xuất p<0.001, điều này cho thấy, thiếu sự quan tâm của nhà trường, giáo viên và đặc biệt là vai trò của

tổ chức Đoàn Thanh niên đối với công tác này

3.1.4.4 Thực trạng về thời lượng tập luyện TDTT ngoại khóa của sinh viên Trường ĐHBK Hà Nội: Để đánh giá thực trạng về thời lượng tập luyện

TDTT ngoại khóa trong một ngày của SV Trường ĐHBK Hà Nội, Luận án tiến hành phỏng vấn tổng thể 2000 SV của nhà trường và phỏng vấn theo đặc điểm giới tính, kết quả được trình bày tại bảng 3.12

Bảng 3.12 Thực trạng thời lượng tập luyện TDTT ngoại khóa của

sinh viên Trường ĐHBK Hà Nội

Mức độ

Tổng SV (n=2000) Giới tính

Nam (n=1000)

Nữ (n=1000)

2 Thời điểm tập luyện

5h00-6h30 574 28.7 286 28.6 288 28.8 17h30-19h30 1426 71.3 714 71.4 712 71.2

3 Số buổi tập luyện

trong tuần

1 buổi 1549 77.45 698 69.8 851 85.1

≥2 buổi 451 22.55 302 30.2 149 14.9

Trang 11

Qua bảng 3.12 cho thấy: về thực trạng số buổi tập luyện TDTT ngoại khóa trong tuần của sinh viên xét theo tổng thể và giới tính đều cho thấy, đại đa số các em đều tập luyện 1 buổi trong tuần và chủ yếu tập với thời lượng 30-45 phút/buổi

Kết quả nghiên cứu trên cũng tương đồng với kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đức Thành với số buổi tập luyện ngoại khóa của sinh viên các Trường ĐH ở TP HCM là khá thấp 1 buổi/ tuần

Rõ ràng khi tham gia bất cứ hoạt động nào, sinh viên ít nhiều cũng đắn đo, cân nhắc với quỹ thời gian của mình Do đó, để thu hút được đông đảo sinh viên tập luyện TDTT ngoại khóa, cần phải có nhiều giải pháp để đem lại sự đam mê, hấp dẫn đối với SV trong các hoạt động

3.1.4.5 Thực trạng nội dung tập luyện TDTT ngoại khóa của sinh viên Trường ĐHBK Hà Nội

Để đánh giá thực trạng nội dung tập luyện ngoại khóa của SV Trường ĐHBK Hà Nội, chúng tôi tiến hành phỏng vấn tổng thể 2000 sinh viên và phỏng vấn theo đặc điểm giới tính nam, nữ Kết quả cho thấy: Xét về tổng thể SV hay theo đặc điểm giới tính thì nội dung tập luyện các môn thể thao

là khá đa dạng, rải ra nhiều môn thể thao, với các tỷ lệ nhiều ít rất khác nhau được thể hiện qua chỉ số χ2 (p<0.001)

3.1.4.6 Thực trạng nhận thức của sinh viên Trường ĐHBK Hà Nội về vai trò của tập luyện Thể dục thể thao ngoại khóa Nhận thức về vai trò của Thể dục thể thao ngoại khóa theo tổng thể

Đánh giá thực trạng về nhận thức của sinh viên về vai trò của hoạt động TDTT ngoại khóa, thông qua việc phỏng vấn tổng thể sinh viên 2000

SV và theo đặc điểm giới tính, từ đó để có cái nhìn tổng quát về vấn đề nhận thức của SV, làm cơ sở điều chỉnh cũng như định hướng cho SV hiểu được ý nghĩa, vai trò của tập luyện TDTT ngoại khóa Kết quả cho thấy:

Có 1855 ý kiến chiếm 94.25% nhận thức được về mặt tích cực của luyện tập TDTT ngoại khóa trong đó : Có 31.7% cho rằng TDTT ngoại khóa góp phần nâng cao kết quả học tập, ngoài ra còn có 9.9% cho rằng TDTT giúp giải trí và thư giãn, bên cạnh đó còn có 6.75% SV cho rằng,

Trang 12

giúp rèn luyện ý chí Mặt khác, còn có 27.6% cho rằng, TDTT ngoại khóa giúp rèn luyện sức khỏe và có 14.05% cho rằng, tránh xa tệ nạn xã hội

Khi so sánh với kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đức Thành, nhận thức đúng đắn của SV Trường ĐHBK Hà Nội cao hơn các Trường ĐH ở TP HCM (92.4% so với 89.92%) Đây là điều kiện cơ bản và cũng là điều kiện thuận lợi để đề tài tiến hành tổ chức các hoạt động TDTT

ngoại khóa

Cùng với những kết quả trên, Luận án còn thu được 115 ý kiến chiếm 5.75% về nhận thức tiêu cực của hoạt động TDTT ngoại khóa như: không cần thiết, mất thời gian, tốn kém và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và học tập

So sánh giữa 2 loại ý kiến tích cực và tiêu cực của SV thì ý kiến tích cực hoàn toàn chiếm ưu thế (P < 0,001)

Nhận thức về vai trò của Thể dục thể thao ngoại khóa theo đặc điểm giới tính

Để đánh giá thực trạng về nhận thức của sinh viên theo đặc điểm giới tính Luận án tiến hành phỏng vấn 1000 sinh viên nam và 1000 sinh viên nữ, kết quả ở bảng 3.15 cho thấy: Trong cùng một giới tính nam và nữ đại đa số

SV đều có nhận thức tích cực về vai trò của hoạt động TDTT ngoại khóa chiếm tỷ lệ từ 92.9% của nam và 92.6% của nữ, còn lại chiếm số ít về nhận thức tiêu cực trong đó 7.1% của nam và 7.4% của nữ, sự khác biệt về nhận thức tích cực so với tiêu cực có ý nghĩa thống ở ngưỡng xác xuất p<0.001 Khi so sánh ngang giữa nam và nữ cho thấy, tỷ lệ giữa nhận thức tích cực của nam và nữ là đương đồng nhau, ngoài ra còn cho thấy, tỷ lệ nhận thức tiêu cực giữa nam và nữ cũng có kết quả tương tự, hay nói cách khác là không có sự cách biệt rõ ràng về nhận thức tập luyện TDTT ngoại khóa (P>0,05)

3.1.5 Thực trạng kết quả hoạt động TDTT

3.1.5.1.Thực trạng kết quả học tập môn GDTC

Kết quả học tập môn GDTC của sinh viên các khóa 2011-2016, khóa 2012-2017, khóa 2013-2018, khóa 2014-2019, được lưu ở phần mềm ở hệ thống quản lý của Khoa GDTC Trường ĐHBK Hà Nội Việc phân loại kết quả học tập được thể hiện qua phân loại A, B+, B, C+, C, D+, D và F Điểm

Ngày đăng: 05/12/2019, 14:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w