Từ những chủ trương, chính sách trên cho thấy, công cuộc đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy ở nước ta hơn bao giờ hết dành được sự quan tâm đặc biệt và có sự vào cuộc của cả hệ thống chính
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VÕ THỊ NHÀN
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH SẮP XẾP TỔ CHỨC
BỘ MÁY TẠI VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC
XÃ HỘI VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VÕ THỊ NHÀN
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH SẮP XẾP TỔ CHỨC
BỘ MÁY TẠI VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC
XÃ HỘI VIỆT NAM HIỆN NAY
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Đề tài nghiên cứu “Thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy tại Viện
Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam hiện nay” của luận văn này là kết quả của sự
nỗ lực cố gắng, tìm tòi và sáng tạo của riêng bản thân tôi cùng với sự hướng dẫn tận tình của người hướng dẫn khoa học PGS.TS Trần Minh Tuấn Tôi xin cam đoan luận văn là công trình tổng hợp và nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong luận văn là trung thực, khách quan, khoa học và được trích nguồn rõ ràng Nếu không đúng sự thật tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, tháng 10 năm 2019
Học viên
Võ Thị Nhàn
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH SẮP XẾP TỔ CHỨC BỘ MÁY 7
1.1 Một số khái niệm về thực hiện chính sách công, thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy 7
1.2 Quan điểm, mục tiêu và giải pháp của Đảng, Nhà nước về sắp xếp tổ chức bộ máy 11
1.3 Nội dung tổ chức thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy 15
1.4 Yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy 21
Tiểu kết chương 24
Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH SẮP XẾP TỔ CHỨC BỘ MÁY TẠI VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM 26
2.1 Khái quát chung về Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam 26
2.2 Tổ chức thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam 33
2.3 Đánh giá chung về thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam 51
Tiểu kết chương 64
Chương 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH SẮP XẾP TỔ CHỨC BỘ MÁY TẠI VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM 65
3.1 Mục tiêu, phương hướng xây dựng và hoàn thiện tổ chức bộ máy của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam 65
3.2 Một số giải pháp hoàn thiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam 68
Tiểu kết chương 79
KẾT LUẬN 81 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Khoa học xã hội và nhân văn KHXH&NV
Đơn vị sự nghiệp công lập ĐVSNCL
Chính sách sắp xếp Tổ chức bộ máy Chính sách sắp xếp TCBM
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Đánh giá thực trạng xây dựng kế hoạch triển khai thực
Bảng 2.7 Số lượng ĐVSNCL trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học
Bảng 2.8 Số lượng tổ chức cấp phòng các đơn vị thuộc lĩnh vực
Bảng 2.9 Số lượng tổ chức cấp phòng các đơn vị thuộc lĩnh vực
DANH MỤC CÁC BIỂU
Biểu 2.1 Số lượng tổ chức cấp phòng các đơn vị thuộc lĩnh vực
Biểu 2.2 Số lượng tổ chức cấp phòng các đơn vị thuộc lĩnh vực
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cải cách, sắp xếp tổ chức bộ máy hành chính nhà nước là một chủ trương lớn được Đảng và Nhà nước quan tâm, được xác định là một trong những nội dung quan trọng trong chương trình tổng thể cải cách hành chính nhằm hướng tới xây dựng bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực hiệu quả, vận hành thông suốt từ trung ương tới cơ sở Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước đã ban hành và lãnh đạo, chỉ đạo toàn hệ thống chính trị tổ chức thực hiện nhiều chủ trương, chính sách về cải cách, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, trong đó phải kể đến Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 09/02/2007 của Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương (Khoá X)về đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy các cơ quan đảng, định hướng
về đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể chính trị - xã hội; Nghị quyết số 17-NQ/TW ngày 01/8/2007 của Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương (Khoá X) về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của tổ chức bộ máy hành chính nhà nước; Kết luận số 64-KL/TW ngày 28/5/2013 của Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa XI)
về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở; Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ công chức, viên chức; ngày 25/10/2017, Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa XII) đã thông qua Nghị quyết số 18-NQ/TW về một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và Nghị quyết số 19-NQ/TW về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập
Tiếp tục thể chế hóa chủ trương cải cách, sắp xếp tổ chức bộ máy hành chính, Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành các văn bản về cải cách tổ chức bộ máy: Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 -
Trang 82020; Chỉ thị số 07/CT-TTg ngày 22/5/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011
- 2020; Nghị quyết số 56/2017/QH14 của Quốc hội ngày 24/11/2017 về tiếp tục cải cách bộ máy hành chính nhà nước tinh gọn hoạt động hiệu lực, hiệu quả Các văn bản trên đã góp phần định hướng các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp để thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy hành chính nhà nước theo hướng tinh gọn, phân định và hạn chế sự chồng chéo trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ Từ những chủ trương, chính sách trên cho thấy, công cuộc đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy ở nước ta hơn bao giờ hết dành được sự quan tâm đặc biệt và có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị từ trung ương đến địa phương, trong đó Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam cũng không phải là một ngoại lệ nhằm thực hiện mục tiêu tinh gọn, đảm bảo hiệu lực, hiệu quả trong tổ chức và hoạt động
Để thực hiện mục tiêu phát triển Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam trở thành cơ quan nghiên cứu, đào tạo về khoa học xã hội và nhân văn của đất nước, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam xác định việc hoàn thiện hệ thống tổ chức
bộ máy là hoàn toàn cần thiết và phù hợp với thực tiễn đặt ra Do đó, trên cơ sở các quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về sắp xếp tổ chức bộ máy, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc các chủ trương, chính sách đảm bảo phù hợp với định hướng của Đảng và Nhà nước về sắp xếp tinh gọn tổ chức bộ máy Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về sắp xếp tổ chức bộ máy tại Viện Hàn lâm Khoa học
xã hội Việt Nam đã bộc lộ những khó khăn, hạn chế nhất định, nhất là trong khâu tổ chức thực hiện đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện mục tiêu của chính sách, từ đó cần phải nghiên cứu, đề xuất các giải pháp thích hợp để tiếp tục hoàn thiện việc thực hiện chính sách trong thời gian tới
Từ lý do trên tôi chọn chủ đề “Thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ
máy tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu
luận văn thạc sỹ
Trang 92 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong quá trình nghiên cứu đề tài “Thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức
bộ máy tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam hiện nay”, chúng tôi nhận
thấy, đây là một vấn đề còn khá mới mẻ và ít có các đề tài nghiên cứu về vấn đề này Trên thực tế đã có một số nhà khoa học quan tâm nghiên cứu vấn đề này theo nhiều góc độ khác nhau được thể hiện qua một số đề tài cụ thể:
ThS Đỗ Tuấn Thành (2011) với đề tài “Nghiên cứu luận cứ khoa học xây dựng mô hình chuẩn về cơ cấu tổ chức bộ máy của các đơn vị nghiên cứu khoa học trực thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam”; trên cơ sở luận cứ khoa học đề tài xác
định mô hình chuẩn về cơ cấu tổ chức và hoạt động của Viện Khoa học xã hội Việt Nam làm cơ sở thống nhất cho việc xây dựng và sắp xếp tổ chức bộ máy một cách
có hiệu quả; đồng thời đề ra mô hình mang tính phổ biến, đặc thù của từng đơn vị
ThS Lê Thị Thu Hằng (2012) với đề tài “Nghiên cứu luận cứ khoa học nhằm kiện toàn cơ cấu tổ chức bộ máy của Viện Khoa học xã hội Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”; trên cơ sở đánh giá thực trạng tổ chức bộ máy của Viện Khoa học
xã hội Việt Nam; căn cứ luận cứ khoa học về cải cách sắp xếp tổ chức bộ máy, đề tài đã xác định những nhiệm vụ, giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức bộ máy của Viện Khoa học xã hội Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo
GS.TS Phạm Văn Đức (2017) với đề tài “Nghiên cứu xây dựng Đề án sửa đổi, bổ sung, thay thế Nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam”; đề tài góp phần cụ thể
hóa tầm nhìn chiến lược và hoàn thiện định hướng tổ chức và hoạt động của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, đảm bảo kiện toàn tổ chức bộ máy, định hướng, nâng cao chất lượng hoạt động khoa học đúng chức năng, nhiệm vụ của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
PGS.TS Trần Thị Minh Tuyết (2016), có bài viết “Xây dựng bộ máy hành chính nhà nước tinh gọn, hiệu quả theo tư tưởng Hồ Chí Minh”, Tạp chí Cộng sản, số
Trang 10901, tr 15-23; bài viết đề cập đến việc vận dụng quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh để xây dựng bộ máy tinh gọn hoạt động hiệu lực, hiệu quả gắn với tinh giản biên chế.
PGS.TS Nguyễn Minh Tuấn (2017) có bài viết “Vận dụng khoa học tổ chức trong kiện toàn tổ chức bộ máy và tinh giản biên chế của hệ thống chính trị ở nước ta”, Tạp chí Lý luận Chính trị, tr11-14; bài viết đề cập một số vấn đề lý luận về tổ
chức bộ máy, con người trong tổ chức bộ máy, cơ sở vật chất và cơ chế hoạt động trong tổ chức cụ thể để từ đó đề xuất các biện pháp kiện toàn phù hợp
TS Đỗ Hồng Lâm (2017), có bài viết “Những vấn đề đặt ra trong đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị”Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số
405, tr12-19; bài viết đã chú trọng về những vấn đề trong tổ chức thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy của các cấp, ban ngành, đoàn thể; đề cập đến một số mô hình sáp nhập tổ chức bộ máy; đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị, tổ chức trong việc thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy, xác định các lộ trình thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy
Trên cơ sở các đề tài nghiên cứu khoa học và bài viết về sắp xếp tổ chức bộ máy của Đảng và Nhà nước, luận văn sẽ tiếp tục kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đó để tiếp tục hệ thống hóa các vấn đề lý luận để đánh giá kết quả và đề xuất giải pháp thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở đánh giá thực trạng thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá các vấn đề lý luận về thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy
- Đánh giá kết quả thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam hiện nay để chỉ rõ những ưu điểm, tồn tại hạn chế và
Trang 11nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế và đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy trong thời gian tới tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề trong tổ chức thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam dưới góc độ khoa học chính sách công
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu, đánh giá quá trình tổ chức thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy các đơn vị sự nghiệp công lập tại Viện Hàn lâm Khoa học
xã hội Việt Nam
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Luận văn được triển khai dựa trên quan điểm duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin trong phân tích, đánh giá tình hình; các quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về sắp xếp tổ chức bộ máy
- Để đạt được mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài sử dụng các phương pháp cụ thể sau: phương pháp thống kê các kết quả thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam; phương pháp thu thập thông tin: thu thập thông tin về tổ chức bộ máy thông qua hệ thống văn bản pháp luật của Đảng và Nhà nước về tổ chức bộ máy bao gồm các Nghị quyết, Quyết định, Chỉ thị; văn bản quy phạm pháp luật về sắp xếp tổ chức bộ máy; trên mạng internet; qua các báo cáo tổng kết; phương pháp phân tích, tổng hợp và phương pháp khảo sát, điều tra đánh giá kết quả tổ chức thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy các đơn vị sự nghiệp công lập tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Trang 126 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Về lý luận: các kết quả của luận văn góp phần bổ sung và hoàn thiện những vấn đề lý luận về tổ chức thực hiện chính sách công nói chung và chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy nói riêng
- Về thực tiễn: đề xuất hệ thống các giải pháp có tính khả thi trong luận văn nhằm giải quyết những vấn đề trong thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam; đồng thời luận văn có thể có giá trị tham khảo trong nghiên cứu về chính sách công
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 03 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH SẮP XẾP TỔ CHỨC BỘ MÁY 1.1 Một số khái niệm về thực hiện chính sách công, thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy
1.1.1 Khái niệm về chính sách công và thực hiện chính sách công
1.1.1.1 Khái niệm Chính sách công
Nghiên cứu về khoa học chính sách công, trên thế giới, cũng như ở Việt Nam
đã có nhiều tác giả đưa ra các định nghĩa khác nhau về khái niệm này như sau:
Thomas Dye (1972) đưa ra định nghĩa khá súc tích về chính sách công
“Chính sách công là những gì Chính phủ lựa chọn làm hoặc không làm” [27, tr.16]
William Jenkins (1978) định nghĩa “Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan đến nhau được ban hành bởi một hoặc một nhóm các nhà hoạt động chính trị liên quan đến lựa chọn các mục tiêu và các phương tiện để đạt mục tiêu trong một tình huống xác định thuộc phạm vi thẩm quyền” [27, tr.17]
Jame Anderson (1984) đưa ra định nghĩa khái quát về chính sách công
“Chính sách công là đường lối hành động có mục đích được ban hành bởi một hoặc một tập hợp các nhà hoạt động chính trị để giải quyết một vấn đề phát sinh hoặc vấn
đề cần quan tâm” [27, tr.18]
B Guy Peter (1990) định nghĩa “Chính sách công là toàn bộ các hoạt động của nhà nước có ảnh hưởng một cách trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi người dân” [27, tr.19] Định nghĩa này khẳng định nhà nước là chủ thể ban hành và thực hiện chính sách, đồng thời nhấn mạnh chính sách của nhà nước nó có tác động mạnh đến đời sống của người dân với tư cách là cộng đồng trong xã hội
PGS.TS Đỗ Phú Hải (2012) cho rằng “Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu cụ
Trang 14thể với giải pháp và công cụ thực hiện các quyết định các vấn đề xã hội theo mục tiêu đã xác định của đảng chính trị cầm quyền”
Từ những định nghĩa trên của các tác giả về chính sách công thì bản thân tác
giả đưa ra một cách khái quát về khái niệm chính sách công như sau: “Chính sách công là sự lựa chọn hành động của Nhà nước được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định liên quan với nhau do Nhà nước ban hành tác động lên đối tượng để giải quyết một vấn đề công nhằm đạt được các mục tiêu nhất định”
Chủ thể ban hành chính sách công là nhà nước; mục tiêu của chính sách công nhằm hướng tới giải quyết vấn đề công và việc giải quyết vấn đề này sẽ ảnh hưởng đến một hoặc nhiều nhóm dân số trong xã hội; hướng tới việc thay đổi hành vi của đối tượng và thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng; chính sách công bao gồm mục tiêu và giải pháp chính sách
1.1.1.2 Khái niệm Thực hiện chính sách công
Thực hiện chính sách công là một giai đoạn rất quan trọng trong chu trình chính sách, bởi sự thành công của một chính sách công phụ thuộc vào kết quả của thực hiện chính sách công Trong thực tế đã có nhiều học giả, nhà nghiên cứu trong nước và thế giới có các quan niệm khác nhau về thực hiện chính sách công; trên cơ
sở các quan niệm của các nhà nghiên cứu về thực hiện chính sách công thì bản thân tác giả đưa ra một cách hiểu khái quát về thực hiện chính sách công như sau:
Thực hiện chính sách công là quá trình triển khai các nhiệm vụ, giải pháp chính sách vào thực tiễn đời sống xã hội thông qua việc ban hành các văn bản, chương trình, dự án thực hiện chính sách công và tổ chức thực hiện chính sách công nhằm hiện thực hóa mục tiêu chính sách công; chủ thể thực hiện chính sách công là các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội, cơ quan lập pháp, tư pháp và người dân
Hay nói một cách khác, thực hiện chính sách công được hiểu là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu nhất định Thực hiện chính sách công là khâu đặc
Trang 15biệt quan trọng trong chu trình chính sách có nhiệm vụ hiện thực hóa chính sách, đưa chính sách vào đời sống và nếu thiếu vắng giai đoạn này thì quy trình chính sách sẽ không tồn tại
1.1.2 Khái niệm Thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy
Để làm rõ khái niệm tổ chức bộ máy thì trước hết chúng ta cần hiểu về khái niệm về tổ chức, tổ chức bộ máy
1.1.2.1 Khái niệm Tổ chức, Tổ chức bộ máy
Xét theo nghĩa danh từ thì khái niệm “Tổ chức được hiểu là một tập hợp các
cá nhân riêng lẻ, tương tác lẫn nhau, cùng làm việc hướng tới mục tiêu chung và mối quan hệ của họ được xác định theo cơ cấu nhất định” [22, tr.5] Theo định nghĩa này, tổ chức là một tập hợp của ít nhất hai cá nhân trở lên và đều hướng đến mục tiêu chung; yếu tố liên kết, gắn bó các cá nhân lại với nhau chính là mục tiêu chung; khi tham gia vào tổ chức các cá nhân có thể theo đuổi những mục tiêu khác nhau nhưng họ có điểm chung là cùng hướng đến mục tiêu chung; tổ chức được coi
là một loại công cụ, phương tiện đặc biệt để đạt được mục tiêu, không có tổ chức sẽ không đạt được mục tiêu
Xét theo nghĩa động từ, khái niệm “Tổ chức được tiếp cận như một hoạt động của một thực thể, bao gồm các hoạt động liên quan đến công tác tổ chức cán
bộ, bố trí sắp xếp nhân lực, công tác điều hành các hoạt động trong một cơ quan, tổ chức…” [22, tr.5]; Tổ chức là do con người đặt ra nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm
vụ, đáp ứng lợi ích thiết thực cho con người Đó là yếu tố liên kết các thành viên của tổ chức và là lý do ra đời, tồn tại của mỗi tổ chức
Chức năng tổ chức là hoạt động của chủ thể quản lý nhằm thiết lập một cơ cấu, hệ thống các vị trí cho mỗi cá nhân và các bộ phận sao cho các cá nhân và bộ phận có thể phối hợp với nhau một cách tốt nhất để thực hiện mục tiêu của tổ chức
Có thể nói về bản chất tổ chức là việc phân công lao động một cách khoa học
Khái niệm “Tổ chức bộ máy” được hiểu là một tập hợp các cơ quan, bộ phận dựa trên các chức năng, nhiệm vụ đã được xác định và tổ chức theo những nguyên
Trang 16tắc chung thống nhất để sắp xếp về lực lượng, bố trí về cơ cấu, xây dựng về mô hình và giúp cho toàn bộ hệ thống hoạt động như một chỉnh thể có hiệu quả nhất, đảm bảo hệ thống được vận hành thông suốt và sự phân chia hệ thống thành các bộ phận và được xác định các mối quan hệ giữa chúng với nhau
1.1.2.2 Khái niệm Thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy
Chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy là một hợp phần của chính sách công, là tập hợp các quy định của Đảng và Nhà nước nhằm đưa ra công cụ chính sách và cách thức giải quyết các vấn đề liên quan đến công tác tổ chức bộ máy Các cơ quan trong hệ thống hành pháp và mọi cá nhân, tổ chức có nhiệm vụ chấp hành quy định này và thực hiện các hoạt động theo đúng quy định của pháp luật
Thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy là khâu cấu thành chu trình chính sách công, là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu nhất định Tổ chức thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy là trung tâm kết nối các khâu (các bước) trong chu trình chính sách thành một hệ thống Hoạch định được chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy đúng, có chất lượng là rất quan trọng, nhưng thực hiện đúng chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy còn quan trọng hơn Nếu xây dựng được chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy đúng, có chất lượng nhưng nếu không được thực hiện sẽ trở thành khẩu hiệu suông, không những không có ý nghĩa, mà còn ảnh hưởng đến uy tín của chủ thể hoạch định và ban hành chính sách (uy tín của nhà nước) Nếu chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy không được thực hiện đúng sẽ dẫn đến sự thiếu tin tưởng và
sự phản ứng của người dân đối với nhà nước
1.1.3 Thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy các đơn vị sự nghiệp công lập
Để hiểu rõ khái niệm thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy các đơn
vị sự nghiệp công lập, cần phải hiểu khái niệm Đơn vị sự nghiệp công lập như sau:
Dẫn chiếu theo quy định tại Khoản 1 Điều 9 Luật Viên chức năm 2010 thì
đơn vị sự nghiệp công lập được hiểu là “tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà
Trang 17nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước”
Đơn vị sự nghiệp công lập (gọi tắt là ĐVSNCL) có đặc điểm:
+ Là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật
+ Được thành lập bởi cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định
+ Là bộ phận cấu thành trong tổ chức bộ máy của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội
+ Có tư cách pháp nhân
+ Cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước
+ Lực lượng lao động chủ yếu trong ĐVSNCL là viên chức góp phần bảo đảm cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của đơn vị
Thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy các đơn vị sự nghiệp công lập
là quá trình đưa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước liên quan đến công tác sắp xếp tổ chức bộ máy vào thực tiễn các ĐVSNCL thông qua ban hành các kế hoạch, chương trình hành động thực hiện chủ trương, chính sách về sắp xếp
tổ chức bộ máy vào trong các ĐVSNCL; đây là hoạt động có tổ chức nhằm huy động mọi nguồn lực (con người, tài chính, cơ sở vật chất) và tổ chức thực hiện chúng nhằm hiện thực hóa mục tiêu
1.2 Quan điểm, mục tiêu và giải pháp của Đảng, Nhà nước về sắp xếp tổ chức bộ máy
1.2.1 Quan điểm
Tại Hội nghị Trung ương 7 (Khóa XI) Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Kết luận số 64-KL/TW ngày 27/5/2013 một số vấn đề tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ trung ương đến cơ sở đã chỉ đạo: “Đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy phải gắn với hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; xác định rõ quan hệ giữa tập thể lãnh
Trang 18đạo với cá nhân phụ trách; quyền hạn đi đôi với trách nhiệm và đề cao trách nhiệm người đứng đầu; đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở nhằm xây dựng tổ chức bộ máy đồng bộ, tinh gọn, có tính ổn định, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ”
Triển khai thực hiện chủ trương tinh giản biên chế theo Kết luận số KL/TW, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015 về tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ công chức, viên chức, đã chỉ đạo: “Tổ chức kiện toàn hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở, bảo đảm bộ máy đồng bộ, tinh gọn, ổn định, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ; trước mắt, giữ ổn định tổ chức như hiện nay Không thành lập các tổ chức trung gian; chỉ thành lập tổ chức mới trong trường hợp cá biệt thật sự cần thiết do yêu cầu của thực tiễn Rà soát để sửa đổi quy định về tổ chức bộ máy và biên chế trong các văn bản pháp luật hiện hành không thuộc chuyên ngành Luật Tổ chức Nhà nước; kiện toàn tổ chức bộ máy phải gắn với hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ”
64-Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 6 (Khóa XII), đã thông qua Nghị quyết
số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 về một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức
bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả (gọi tắt là Nghị quyết số 18-NQ/TW) và Nghị quyết 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 về tiếp tục đổi mới, sắp xếp hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của ĐVSNCL (gọi tắt là Nghị Quyết số 19-NQ/TW), trong đó:
- Nghị quyết số 18-NQ/TW đã chỉ đạo “Tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước và chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội; phát huy quyền làm chủ của nhân dân Tinh giản biên chế gắn với cơ cấu lại, nâng cao chất lượng, sử dụng hiệu quả đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; giảm chi thường xuyên và góp phần cải cách chính sách tiền lương”
Trang 19- Nghị quyết số 19-NQ/TW chỉ đạo:“Đổi mới căn bản, toàn diện và đồng bộ
hệ thống các ĐVSNCL, bảo đảm tinh gọn, có cơ cấu hợp lý, có năng lực tự chủ, quản trị tiên tiến, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; giữ vai trò chủ đạo, then chốt trong thị trường dịch vụ sự nghiệp công; cung ứng dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu có chất lượng ngày càng cao Giảm mạnh đầu mối, khắc phục tình trạng manh mún, dàn trải và trùng lắp; tinh giản biên chế gắn với cơ cấu lại, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, viên chức Giảm mạnh tỉ trọng, nâng cao hiệu quả chi ngân sách nhà nước cho ĐVSNCL để cơ cấu lại ngân sách nhà nước, cải cách tiền lương
và nâng cao thu nhập cho công chức, viên chức trong ĐVSNCL”
1.2.2 Mục tiêu, giải pháp
1.2.2.1 Mục tiêu thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy
Đảm bảo cho tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, từng bước khắc phục được sự cồng kềnh, chồng chéo, hoạt động kém hiệu quả của tổ chức bộ máy, góp phần tạo bước chuyển biến về đổi mới phương thức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy hành chính phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việc thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy gắn liền với tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhằm xây dựng đội ngũ này
có số lượng phù hợp, có trình độ, năng lực đáp ứng được yêu cầu thực hiện nhiệm vụ; tạo động lực để đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức không ngừng trau dồi về chuyên môn, nghiệp vụ cũng như đạo đức nghề nghiệp, có trách nhiệm cao với công việc được giao
1.2.2.2 Giải pháp thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy
- Kết luận số 64-KL/TW đề ra giải pháp “Trước mắt giữ ổn định tổ chức của
Chính phủ, tổ chức bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực phù hợp với thực tiễn đất nước
Điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ của các bộ, ngành tập trung vào quản lý nhà nước trên các lĩnh vực, khắc phục những chồng chéo hoặc bỏ trống về chức năng, nhiệm vụ, phạm vi, đối tượng quản lý; làm rõ mối quan hệ phối hợp giữa các Bộ, cơ quan ngang Bộ; bảo đảm nguyên tắc một việc chỉ giao một cơ quan chủ
Trang 20trì thực hiện và chịu trách nhiệm chính Thực hiện điều chỉnh một số tổ chức không cần thiết, chưa phù hợp bên trong một số Bộ, việc thành lập một số tổng cục; khắc phục những hạn chế khi tổ chức bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực; nghiên cứu việc thành lập tổ chức thực hiện chức năng chủ sở hữu, quản lý, giám sát hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước”
- Nghị quyết số 18-NQ/TW đã đề ra các giải pháp đổi mới, sắp xếp tổ chức
bộ máy hoạt động tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả như sau:
Đối với toàn hệ thống chính trị: thực hiện rà soát, sắp xếp, kiện toàn, tinh gọn đầu mối bên trong các tổ chức cần gắn với tinh giản biên chế, cơ cấu lại và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức Kiên quyết giảm và không thành lập mới các tổ chức trung gian; giải thể hoặc sắp xếp lại các tổ chức hoạt động không hiệu quả; sắp xếp tổ chức bộ máy đảm bảo không tăng đầu mối và biên chế
Tiếp tục rà soát, bổ sung, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị, khắc phục tình trạng trùng lắp, chồng chéo để một tổ chức, một người có thể đảm nhiệm nhiều việc,
nhưng một việc chỉ do một tổ chức, một người chủ trì và chịu trách nhiệm chính
Trên cơ sở đặc điểm của từng cấp, từng ngành để quy định số lượng biên chế tối thiểu khi thành lập tổ chức, số lượng cấp phó tối đa của tổ chức
Đối với hệ thống tổ chức của Đảng: tiếp tục cụ thể hóa chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, mối quan hệ công tác của cấp ủy các cấp Tổ chức nghiên cứu, xây dựng quy định về tiêu chuẩn, cơ cấu, số lượng, điều kiện, quy trình hợp lý
để lựa chọn cấp ủy viên, ủy viên thường vụ các cấp; sắp xếp lại bộ máy, đổi mới cơ chế hoạt động của các ban Đảng, tổ chức đảng trong các doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập; thí điểm việc kiêm nhiệm chức danh người đứng đầu hoặc hợp nhất ở một số cơ quan có chức năng, nhiệm vụ tương đồng
Đối với hệ thống tổ chức Nhà nước: thực hiện đổi mới, kiện toàn, sắp xếp tổ chức bộ máy theo hướng tập trung vào quản lý vĩ mô, nâng cao năng lực chỉ đạo
Trang 21điều hành; hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, mối quan hệ công tác giữa các bộ, ngành; có sự phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, trên cơ sở phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của từng cấp, từng ngành; khắc phục triệt để
sự trùng lắp, chồng chéo chức năng, nhiệm vụ; từng bước sắp xếp thu gọn các đầu mối, tinh giản biên chế, bỏ cấp trung gian, giảm số lượng cấp phòng
Đối với chính quyền địa phương: tiếp tục sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện thể chế xây dựng chính quyền địa phương; rà soát, sắp xếp tổ chức bộ máy bên trong của các sở, ngành theo hướng tinh gọn đầu mối, cắt giảm số lượng, sắp xếp lại đơn
vị hành chính cho phù hợp; sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật có liên quan nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền các cấp
1.3 Nội dung tổ chức thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy
Tổ chức thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy (chính sách sắp xếp TCBM) là một quy trình tuần tự bao gồm có 7 bước; việc thực hiện tốt ở bước này
là cơ sở quan trọng để thực hiện các bước sau được thuận lợi và hiệu quả Thực hiện chính sách sắp xếp TCBM được thực hiện thông qua các bước sau:
Trang 22Nguồn: Tổng hợp của tác giả
1.3.1 Xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy
Xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách sắp xếp TCBM là khâu đầu tiên trong chu trình thực hiện chính sách công, được xem là khâu quan trọng và then chốt trong quá trình thực hiện chính sách nhằm hiện thực hóa chính sách vào thực tế cuộc sống Việc thực hiện chính sách sắp xếp TCBM là một quá trình phức tạp, diễn
ra trong một thời gian dài và cần nhiều thời gian thực hiện vì thế cần phải được lập kế hoạch, lên chương trình một cách cụ thể để có thể chủ động ứng phó mọi biến đổi
Trong kế hoạch triển khai thực hiện chính sách sắp xếp TCBM cần phải xác định đầy đủ, cụ thể những nội dung về: kế hoạch tổ chức, điều hành bao gồm các dự kiến về nhân sự, cơ quan chủ trì, tham gia chính sách, cơ chế để thực thi chính sách; kế hoạch dự kiến các nguồn lực như dự kiến về cơ sở vật chất, tài chính, văn phòng phẩm, trang thiết bị, kĩ thuật…; kế hoạch về thời gian triển khai thực hiện đó là những dự kiến về thời gian duy trì chính sách bao gồm thời gian bắt đầu, thời gian kết thúc, thời gian điều chỉnh chính sách, thời gian dự kiến; kế hoạch kiểm tra, đôn đốc thực hiện chính sách là những dự kiến về tiến độ, hình thức, phương thức kiểm tra giám sát tổ chức thực thi chính sách; dự kiến những nội quy, quy chế về tổ chức, điều hành hệ thống tham gia thực hiện chính sách; dự kiến về trách nhiệm, nhiệm vụ, và quyền hạn của công chức, viên chức (CCVC) và các cơ quan nhà nước tham gia tổ chức điều hành chính sách; dự kiến về các biện pháp khen thưởng, kỷ luật cá nhân, tập thể trong thực thi chính sách
Công tác xây dựng kế hoạch triển khai chính sách rất quan trọng, do đó để đảm bảo hiệu lực, hiệu quả của chính sách thì đòi hỏi mỗi cơ quan đơn vị cần xây dựng kế hoạch một cách chi tiết và cụ thể đảm bảo kế hoạch không phải điều chỉnh,
Trang 231.3.2 Phổ biến, tuyên truyền thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy
Sau khi bản kế hoạch triển khai thực hiện chính sách sắp xếp TCBM được thông qua, việc trước tiên cần làm là tuyên truyền vận động sự tham gia của mọi người trong thực hiện chính sách Phổ biến, tuyên truyền chính sách sắp xếp TCBM tốt sẽ giúp cho đối tượng chính sách và mọi người dân tham gia hiểu rõ mục đích, ý nghĩa, yêu cầu và tính đúng đắn của chính sách qua đó góp phần đảm bảo chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước được phổ biến kịp thời, đầy
đủ đến toàn thể CCVC góp phần tạo sự chuyển biến tích cực về nhận thức và ý thức tôn trọng, chấp hành pháp luật
Đồng thời qua phổ biến, tuyên truyền chính sách sẽ giúp cho CCVC có trách nhiệm tổ chức thực hiện chính sách, nhận thức được đầy đủ mục đích, tính chất phức tạp, phạm vi điều chỉnh, quy mô của chính sách để họ chủ động, tích cực tìm kiếm các giải pháp thực hiện
Tuy nhiên, để thực hiện tốt nội dung này cần phải tăng cường đầu tư về trình độ chuyên môn, phẩm chất chính trị, về trang thiết bị kỹ thuật…nhằm nâng cao chất lượng tuyên truyền vận động Trong thực tế có không ít cơ quan, đơn vị do thiếu năng lực tuyên truyền, vận động đã làm cho chính sách bị biến dạng, làm cho lòng tin của người dân vào nhà nước bị giảm sút Việc thực hiện phổ biến, tuyên truyền chính sách sắp xếp TCBM được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: tuyên truyền, phổ biến trên các phương tiện truyền thông, như đài truyền hình, đài phát thanh, trên các tờ báo, tổ chức hội nghị, cuộc họp, tập huấn… Tùy theo yêu cầu của các cơ quan quản lý, tính chất của từng loại chính sách và điều kiện cụ thể mà có thể lựa chọn hình thức tuyên truyền, vận động thích hợp
Do đó, để công tác phổ biến, tuyên truyền chính sách sắp xếp TCBM đạt hiệu quả cao và thiết thực thì đòi hỏi các cấp, các ngành, người dân phải thường xuyên nâng cao nhận thức, xác định rõ trách nhiệm và huy động sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội tham gia vào công tác phổ biến, tuyên truyền chính sách
Trang 241.3.3 Phân công, phối hợp thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy
Thực hiện chính sách sắp xếp TCBM được thực thi trên phạm vi không gian rộng lớn từ Trung ương đến địa phương vì thế số lượng các đối tượng cá nhân và tổ chức tham gia thực hiện chính sách là rất lớn Bởi vậy, muốn tổ chức thực hiện chính sách sắp xếp TCBM một cách có hiệu quả thì phải tiến hành phân công, phối hợp giữa các cơ quan quản lý ngành, các cấp chính quyền địa phương, các yếu tố tham gia thực hiện chính sách và quá trình ảnh hưởng đến thực hiện mục tiêu chính sách Trong phân công, phối hợp thực hiện chính sách sắp xếp TCBM cần phải có những quy định rõ ràng, cụ thể; xác định tổ chức cá nhân chủ trì, chịu trách nhiệm chính; phân công tổ chức cá nhân tham gia phối hợp và phân công trách nhiệm cụ thể cho tổ chức, cá nhân trong tổ chức thực hiện chính sách sắp xếp TCBM
Hiện nay, ở nước ta việc thực hiện sắp xếp TCBM do Chính phủ và Bộ Nội
vụ thực hiện: Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về tổ chức bộ máy hành chính nhà nước [18, tr.11]; Bộ Nội vụ là cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác tổ chức bộ máy hành chính [11, tr.2]
1.3.4 Duy trì chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy
Duy trì chính sách sắp xếp TCBM là toàn bộ hoạt động đảm bảo cho chính sách tồn tại, phát huy tác dụng trong đời sống chính trị xã hội và phù hợp với thực tế Do đó, để chính sách sắp xếp TCBM được duy trì trong thực tế thì đòi hỏi phải
có sự đồng tâm, hợp lực của cả người tổ chức, người thực hiện và môi trường tồn tại; các cơ quan có chức năng quản lý nhà nước phải thường xuyên tuyên truyền, vận động các tổ chức, cá nhân trong toàn xã hội tích cực tham gia thực hiện chính sách Trong quá trình thực hiện chính sách sắp xếp TCBM nếu có khó khăn, vướng mắc thì các cơ quan quản lý xây dựng các hệ thống công cụ, giải pháp để tạo thuận lợi cho việc thực hiện Trong thực tế hiện nay, có nhiều chính sách được ban hành đúng nhưng trong quá trình thực hiện không có giải pháp điều chỉnh dẫn đến hiệu quả chính sách thấp gây thất thoát, lãng phí không đáp ứng với yêu cầu, mục đích của chính sách đặt ra
Trang 251.3.5 Điều chỉnh chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy
Điều chỉnh chính sách sắp xếp TCBM là hoạt động cần thiết được diễn ra thường xuyên trong tiến trình tổ chức thực hiện chính sách và được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền (thông thường cơ quan nào lập chính sách thì
có quyền điều chỉnh) Việc điều chỉnh này phải đáp ứng được việc giữ vững mục tiêu ban đầu của chính sách, chỉ điều chỉnh các biện pháp, cơ chế thực hiện mục tiêu Theo quy định, cơ quan nào ban hành chính sách thì được quyền điều chỉnh bổ sung chính sách, nhưng trên thực tế việc điều chỉnh các biện pháp, cơ chế chính sách sắp xếp TCBM diễn ra rất linh hoạt, vì thế cơ quan quản lý nhà nước về sắp xếp tổ chức bộ máy cấp trung ương và các ngành, các cấp chủ động điều chỉnh biện pháp, cơ chế chính sách để thực hiện có hiệu quả chính sách sắp xếp TCBM, miễn
là không làm thay đổi mục tiêu của chính sách
Một nguyên tắc cần chấp hành khi điều chỉnh chính sách sắp xếp TCBM là
để chính sách tiếp tục tồn tại, chỉ được điều chỉnh các biện pháp, cơ chế thực hiện mục tiêu chính sách sắp xếp TCBM hoặc bổ sung, hoàn chỉnh mục tiêu theo yêu cầu thực tế Nếu điều chỉnh là thay đổi mục tiêu, nghĩa là làm thay đổi chính sách tổ chức bộ máy, thì coi như chính sách sắp xếpTCBM không tồn tại
1.3.6 Kiểm tra, đôn đốc thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy
Kiểm tra, đôn đốc thực hiện chính sách sắp xếp TCBM là hoạt động quan trọng trong chu trình thực hiện chính sách công bảo đảm cho các hoạt động được diễn ra bình thường theo đúng quy định của pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhằm tuyên truyền sâu rộng để các tổ chức, cá nhân, CCVC và người lao động nắm rõ quan điểm, chính sách, pháp luật về sắp xếp TCBM của Đảng và Nhà nước Trên thực tế, khi triển khai thực hiện chính sách sắp xếp TCBM không phải bộ phận nào cũng làm tốt, làm nhanh như nhau, vì thế cần có hoạt động theo dõi, kiểm tra, đôn đốc thực hiện chính sách để phát hiện những sơ hở hạn chế, bất cập của chính sách để kịp thời có những đề xuất những giải pháp điều chỉnh phù
Trang 26hợp tạo điều kiện cho chính sách đạt được hiệu quả cao và trên cơ sở đó xây dựng
các biện pháp phòng ngừa và xử lý vi phạm trong thực hiện chính sách
Kiểm tra, đôn đốc thực hiện chính sách sắp xếp TCBM giúp kịp thời tìm kiếm giải pháp khắc phục hạn chế bất cập, sai sót trong tổ chức điều hành triển khai thực hiện chính sách, góp phần tích cực vào việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả của chính sách Nếu duy trì thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách sắp xếp TCBM sẽ giúp các cơ quan nhà nước, nhà quản lý nắm vững được tình hình thực hiện từ đó có thể đưa ra những kết luận chính xác về nội dung chính sách
1.3.7 Đánh giá tổng kết thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy
Đánh giá tổng kết thực hiện chính sách sắp xếp TCBM là khâu cuối cùng trong chu trình thực hiện chính sách và được thực hiện trong thời gian duy trì chính sách Tuy là khâu cuối cùng trong chu trình chính sách nhưng nó cũng không kém phần quan trọng so với các bước trên và có thể đánh giá một phần hay toàn bộ kết quả thực hiện chính sách
Đánh giá tổng kết thực hiện chính sách sắp xếp TCBM được coi như là quá trình xem xét, kết luận về chỉ đạo - điều hành và chấp hành chính sách của các đối tượng thực thi chính sách Đối tượng được xem xét, đánh giá tổng kết về chỉ đạo điều hành thực hiện chính sách sắp xếp TCBM là các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến cơ sở Cơ sở để đánh giá, tổng kết công tác chỉ đạo, điều hành thực hiện chính sách trong các cơ quan nhà nước là kế hoạch được giao và những nội quy, quy chế được xây dựng ở bước 1 Bên cạnh việc tổng kết, đánh giá kết quả chỉ đạo, điều hành của các cơ quan nhà nước, còn xem xét đánh giá việc thực hiện của các đối tượng tham gia thực hiện chính sách bao gồm đối tượng thụ hưởng lợi ích trực tiếp và gián tiếp từ chính sách Thước đo đánh giá kết quả thực thi của đối tượng này là tinh thần hưởng ứng với mục tiêu chính sách và ý thức chấp hành những quy định về cơ chế, biện pháp do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để thực hiện mục tiêu chính sách trong từng điều kiện về không gian và thời gian
Trang 271.4 Yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy
Quá trình thực hiện chính sách sắp xếp TCBM là một quá trình dài và phức tạp, việc thực hiện chính sách này chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố Tuy nhiên, tựu chung lại thì có các nhân tố sau:
1.4.1 Tính chất vấn đề của chính sách
Mỗi một chính sách đều có một tính chất riêng, tính chất vấn đề của chính sách có quan hệ mật thiết và gắn liền với mỗi chính sách, có tác động trực tiếp đến quá trình hoạch định và thực thi chính sách Nếu vấn đề chính sách có tính chất đơn giản, có phạm vi hẹp và chỉ tác động đến một bộ phận nhất định thì việc thực hiện chính sách sẽ dễ dàng hơn so với những chính sách có tính chất phức tạp, có phạm
vi rộng và ảnh hưởng đến nhiều cá nhân, bộ phận, tổ chức thì việc thực hiện chính sách sẽ khó khăn và phức tạp hơn
Đối với chính sách sắp xếp TCBM thì vấn đề của chính sách rất phức tạp, tính phức tạp của chính sách thể hiện ở chỗ khi thực hiện chính sách TCBM sẽ ảnh hưởng tác động trực tiếp đến toàn bộ hệ thống tổ chức bộ máy (cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, cơ sở vật chất ), nhân sự làm việc trong bộ máy (tình trạng dôi dư nhân sự sau sắp xếp, bố trí sắp xếp vị trí việc làm phù hợp với trình độ, chuyên môn, chính sách đối với nguồn cán bộ dôi dư sau sắp xếp) và lợi ích của mỗi CCVC Do đó, trong quá trình thực hiện chính sách sắp xếp TCBM nếu không làm tốt công tác cán bộ sẽ gây mất ổn định tổ chức và việc thực hiện chức năng, nhiệm
Trang 28sách của nhà nước về tổ chức bộ máy không quy định rõ ràng, thiếu đồng bộ thì sẽ gây khó khăn, cản trở cho quá trình thực hiện chính sách
Có thể nói, ở nước ta hiện nay hệ thống thể chế pháp luật, chính sách về tổ chức bộ máy đang từng bước được đổi mới và hoàn thiện mà chủ yếu Hiến pháp năm 2013 và các đạo luật cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng định hướng cho việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, đặc biệt là hệ thống pháp luật về tổ chức bộ máy nhà nước
1.4.3 Môi trường thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy
Môi trường thực hiện chính sách sắp xếp TCBM là yếu tố tác động rất lớn đến chính sách, nếu có một môi trường tốt thì chính sách sẽ dễ dàng thực hiện và ngược lại nếu có một môi trường xấu sẽ ảnh hưởng đến quá trình thực hiện chính sách Môi trường thực hiện chính sách sắp xếp TCBM bao gồm các yếu tố liên quan đến các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, an ninh, quốc phòng, tự nhiên, xã hội…tất cả những yếu tố này ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy Đối với việc thực hiện chính sách sắp xếp TCBM ở nước ta vô cùng thuận lợi vì nhà nước ta có một hệ thống chính trị, xã hội tương đối ổn định; nền kinh tế có mức tăng trưởng khá; chính sách mở cửa hội nhập ở nước ta được người dân hưởng ứng và đồng thuận cao
Để đáp ứng với tình hình hội nhập và phát triển, nước ta đã thực hiện nhiều cuộc cải cách hành chính quan trọng hướng tới tinh gọn tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước
1.4.4 Quy mô hoạt động của tổ chức
Quy mô hoạt động của tổ chức là một phạm trù được thể hiện trên nhiều góc
độ như các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức, bộ máy, nhân sự, và không gian tác động, các đối tượng chịu ảnh hưởng của hoạt động quản lý của nó Nói đến quy mô của một tổ chức là nói đến sự lớn, nhỏ của các tổ chức đó Hệ thống tổ chức
có quy mô rộng hay hẹp đều ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách sắp xếp TCBM, được thể hiện ở chỗ hệ thống tổ chức có quy mộ rộng trong quá trình thực
Trang 29hiện sắp xếp đều phải xây dựng những phương án sắp xếp, bố trí cụ thể về nguồn lực vật chất và nhân sự cụ thể; một tổ chức có quy mô rộng cũng đòi hỏi việc xây dựng và thực hiện chức năng, nhiệm vụ cũng phải nhiều hơn, số lượng vị trí việc làm trong tổ chức có thể nhiều hơn đối với tổ chức có quy mô hoạt động hẹp hơn
1.4.5 Tiềm lực của nhóm đối tượng chính sách
Tiềm lực của nhóm đối tượng chính sách được hiểu là thực lực và tiềm năng
mà mỗi nhóm có được trong mối quan hệ so sánh với các nhóm đối tượng khác Tiềm lực của nhóm đối tượng chính sách được thể hiện trên các phương diện kinh
tế, chính trị, văn hóa xã hội Tiềm lực của đối tượng chính sách có vai trò ảnh hưởng, tác động không nhỏ đến quá trình thực hiện chính Chính vì vậy, các nhóm đối tượng thực hiện chính sách cần phải có sự chuẩn bị, sự nghiên cứu, trau dồi kiến thức để dần dần tích luỹ kiến thức, tạo ra cho mình những tiềm lực tốt để hoàn
thành nhiệm vụ được giao và đạt được hiệu quả của chính sách
1.4.6 Năng lực của công chức, viên chức trong thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy
Năng lực của CCVC trong quá trình thực hiện chính sách sắp xếp TCBM có vai trò quan trọng quyết định đến hiệu quả của chính sách Hay nói cách khác thì kết quả của chính sách phụ thuộc vào yếu tố năng lực của CCVC thực hiện chính sách Đối với những tổ chức có đội ngũ CCVC có trình độ, chuyên môn nghiệp vụ,
có kỹ năng làm việc sẽ mang lại hiệu quả cao hơn so với những tổ chức có đội ngũ CCVC có năng lực yếu, hạn chế về trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ và kĩ năng làm việc Năng lực của CCVC trong thực hiện chính sách sắp xếp TCBM được thể hiện
ở chỗ là tinh thần, thái độ trách nhiệm trong công việc; kiến thức, khả năng xây dựng kế hoạch, phổ biến tuyên truyền, phân công phối hợp, duy trì, điều chỉnh chính sách, kiểm tra đôn đốc thực hiện và đánh giá, tổng kết quá trình thực hiện chính sách Ngoài ra, còn có khả năng phân tích, thiết kế và dự báo những tác động ảnh hưởng đến quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy Năng lực của CCVC thực hiện chính sách sắp xếp TCBM là rất quan trọng, quyết định đến hiệu quả của việc thực
Trang 30hiện chính sách do đó cần phải lựa chọn đội ngũ CCVC có đủ năng lực, trình độ chuyên môn để thực hiện chính sách một cách có hiệu quả
1.4.7 Nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất cho quá trình thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy
Nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất là yếu tố quan trọng, không thể thiếu trong thực hiện chính sách sắp xếp TCBM Nguồn lực vật chất và tài chính sẽ tạo điều kiện cho việc thực thi được tốt hơn mở rộng được số lượng đối đượng thụ hưởng, tạo
cơ hội cho việc tiếp cận sự giúp đỡ nhiều hơn cho đối tượng chính sách Trong thực tế hiện nay, có nhiều chính sách được ban hành nhưng do thiếu các nguồn lực này nên việc thực hiện chính sách đã gặp nhiều khó khăn trong việc truyền tải những nội dung chính sách đến với chủ thể tham gia và đối tượng thụ hưởng một cách thường xuyên
Do đó, trong quá trình thực hiện chính sách sắp xếp TCBM, yếu tố nguồn lực tài chính
là nhân tố đảm bảo, quyết định đến hiệu quả thực hiện chính sách
Trang 311.4.8 Sự đồng tình, ủng hộ của đối tượng chính sách
Có thể nói, một chính sách có hiệu quả hay không, có thành công hay không đều phụ thuộc vào yếu tố sự đồng tình, ủng hộ của các đối tượng chính sách, nó có vai trò quan trọng quyết định sự thành bại của chính sách Sắp xếp tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằm làm cho
tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả đang là một vấn đề được toàn
xã hội hết sức quan tâm, trong đó chủ yếu là toàn thể CCVC trong hệ thống tổ chức
bộ máy hành chính nhà nước và các ĐVSNCL Do đó, sự đồng tình, ủng hộ của đối tượng chính sách mà chủ yếu là CCVC góp phần quan trọng đến việc hoàn thiện các mục tiêu chính sách đề ra và quyết định đến hiệu quả chính sách sắp xếp TCBM
Tiểu kết chương
Chương 1 tác giả đã hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về thực hiện chính sách sắp xếp TCBM bao gồm các khái niệm cơ bản về thực hiện chính sách công, thực hiện chính sách sắp xếp TCBM và thực hiện chính sách sắp xếp TCBM các ĐVSNCL; nêu ra một số quan điểm, mục tiêu, giải pháp của Đảng và Nhà nước vềsắp xếp tổ chức bộ máy; trình bày các nội dung cơ bản của tổ chức thực hiện chính sách sắp xếp TCBM; xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách sắp xếp TCBM Từ kết quả nghiên cứu ở Chương 1 sẽ là cơ sở để phân tích thực trạng thực hiện chính sách sắp xếp TCBM của Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam
ở Chương 2
Trang 32Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH SẮP XẾP TỔ CHỨC BỘ MÁY
TẠI VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM 2.1 Khái quát chung về Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển tổ chức bộ máy Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam - tên giao dịch quốc tế là Vietnam Academy
of Social Sciences (VASS) - có tiền thân từ Ban Nghiên cứu Lịch sử - Địa lý - Văn học được thành lập ngày 02/12/1953 và chính thức mang tên Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam từ ngày 22/02/2012 Quá trình hình thành, phát triển tổ chức bộ máy của Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam tương ứng với các giai đoạn phát triển của cách mạng Việt Nam
* Ngày 2/12/1953, Ban Nghiên cứu Lịch sử - Địa lý - Văn học (gọi tắt là Ban Nghiên cứu Sử - Địa -Văn) được thành lập theo Quyết định số 34/NQ-TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam Đến năm 1954, được đổi tên thành Ban Nghiên cứu Văn học - Lịch sử - Địa lý (gọi tắt là Ban Nghiên cứu Văn -
Sử - Địa ); Tổ chức bộ máy của Ban Nghiên cứu Văn - Sử - Địa gồm có 5 tổ nghiên cứu gồm Tổ Cổ sử, Tổ Lịch sử hiện đại; Tổ Văn học; Tổ Địa lý và Tổ Quan hệ quốc
tế Ban Nghiên cứu Văn - Sử - Địa chỉ tồn tại trong khoảng 5 năm nhưng đã đặt dấu mốc đầu tiên cho lộ trình thành lập Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam, là cơ sở cho sự phát triển toàn diện ngành khoa học xã hội Việt Nam sau này
* Ngày 4/ 3/1959, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ký Sắc lệnh số 01/SL thành lập Ủy ban Khoa học Nhà nước trực thuộc Hội đồng Chính phủ Đến năm 1960, Thủ tướng Chính phủ thành lập 03 đơn vị nghiên cứu gồm Viện Văn học, Viện Sử học và Viện Kinh tế; thời gian này hình thành thêm một số
Tổ nghiên cứu gồm Tổ Triết học, Tổ Luật học để chuẩn bị thành lập các Viện sau
đó Đến năm 1965, được bổ sung thêm Tổ Ngôn ngữ học, Tổ Luật học, Tổ Từ điển Bách khoa, Tổ Dân tộc học, Đội Khảo cổ học [30, tr.17]
Trang 33Ngày 19/6/1967, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ra Quyết định số 47/TVQH
về đổi tên Viện KHXH Việt Nam thành Ủy ban KHXH Việt Nam Tổ chức bộ máy của Ủy ban KHXH Việt Nam gồm 05 đơn vị nghiên cứu: Viện Triết học, Viện Kinh
tế, Viện Sử học, Viện Văn học, Viện Luật học; 02 đơn vị phục vụ nghiên cứu là Thư viện KHXH, Nhà xuất bản KHXH và 02 đơn vị chức năng giúp việc Chủ nhiệm là Văn phòng và Vụ Tổ chức - Cán bộ Đến năm 1968, Uỷ ban KHXH Việt Nam thành lập thêm 03 đơn vị nghiên cứu trực thuộc theo quy định tại Nghị định số 59/CP ngày 14/5/1968 là Viện Khảo cổ học, Viện Dân tộc học, Viện Ngôn ngữ học Năm 1973, Chủ nhiệm Ủy ban KHXH Việt Nam quyết định thành lập một số đơn vị gồm: Ban Thông tin KHXH, Ban Đông Nam Á, Ban Đào tạo và Bồi dưỡng Cán bộ [30, tr.19]
* Tháng 12/9/1975, Trung ương Cục miền Nam quyết định thành lập Viện KHXH miền Nam trên cơ sở sắp xếp lại tổ chức nghiên cứu khoa học tại miền Nam, trong thời gian này Viện Thông tin KHXH cũng được thành lập trên cơ sở thống nhất Thư viện KHXH và Ban Thông tin KHXH của Ủy ban KHXH Việt Nam; năm
1979, Viện Nghiên cứu Hán Nôm được thành lập trên cơ sở Ban Hán Nôm được thành lập trước đó Tính đến năm 1983, Ủy ban KHXH Việt Nam đã có 16 Viện Nghiên cứu khoa học được hình thành đánh dấu bước phát triển về mặt tổ chức hệ thống các Viện Khoa học xã hội và nhân văn ở nước ta Hệ thống tổ chức bộ máy thời gian này gồm các đơn vị: Viện Triết học, Viện Kinh tế, Viện Luật học, Viện Xã hội học, Viện Sử học, Viện Khảo cổ học, Viện Văn hóa dân gian, Viện Nghiên cứu Hán Nôm; Viện Từ điển Bách khoa thư, Viện KHXH thành phố Hồ Chí Minh, Viện Kinh tế thế giới, Viện Đông Nam Á, Viện Châu Á - Thái Bình Dương; 01 cơ quan phục vụ nghiên cứu là Tạp chí khoa học xã hội; 02 cơ quan chức năng giúp việc Ủy ban là Vụ Kế hoạch tổng hợp, Vụ Hợp tác quốc tế [30, tr.25, 26]
* Ngày 31/3/1990, Hội đồng Nhà nước đã ra Nghị quyết số 244/NQ-HĐNN, quyết định phê chuẩn chuyển Ủy ban KHXH Việt Nam thành Viện KHXH Việt Nam Cơ cấu tổ chức của Viện KHXH Việt Nam lúc này gồm có 16 Viện, 02 Trung
Trang 34tâm nghiên cứu chuyên ngành và một số cơ quan phục vụ nghiên cứu, cơ quan chức năng giúp việc Viện trưởng
Ngày 22/5/1993, Chính phủ ban hành Nghị định số 23/CP quyết định thành lập Trung tâm KHXH&NV Quốc gia trên cơ sở tổ chức lại Viện KHXH Việt Nam
Cơ cấu tổ chức của Trung tâm KHXH&NV Quốc gia khi mới thành lập gồm có 16 đơn vị nghiên cứu khoa học; 03 cơ quan phục vụ nghiên cứu khoa học và 05 cơ quan chức năng, giúp việc Chủ nhiệm Uỷ Ban KHXH Việt Nam
Sau một thời gian hoạt động, tổ chức bộ máy của Trung tâm KHXH&NV Quốc gia đã phát triển thêm 07 Trung tâm: Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc, Trung tâm Nghiên cứu Nhật Bản, Trung tâm Nghiên cứu Bắc Mỹ, Trung tâm Nghiên cứu SNG và Đông Âu, Trung tâm Nghiên cứu khoa học về Gia đình và Phụ
nữ, Trung tâm Biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam và thành lập thêm Viện Nghiên cứu Con người; Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam được tách ra khỏi Viện Dân tộc học (năm 1995) Như vậy, trong vòng 10 năm (từ năm 1983 đến năm 1993), Chính phủ đã ra Quyết định thành lập mới 08 Trung tâm và 01 Viện nghiên cứu chuyên ngành trực thuộc Trung tâm KHXH&NV Quốc gia [30, tr.50]
Ngày 15/01/2004, Chính phủ ban hành Nghị định số 26/2004-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Viện KHXH Việt Nam theo đó Trung tâm KHXH&NV Quốc gia đổi tên thành Viện KHXH Việt Nam Giai đoạn này, Viện KHXH Việt Nam thành lập thêm 05 đơn vị nghiên cứu mới là Viện Nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông, Viện KHXH vùng Trung Bộ và Viện KHXH vùng Tây Nguyên, Trung tâm Phân tích và Dự báo và 01 đơn vị chức năng, giúp việc Chủ tịch Viện là Ban Quản lý khoa học
Ngày 22/4/2008, Chính phủ ban hành Nghị định số 53/2008/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Viện KHXH Việt Nam, trong quy định này tổ chức bộ máy của Viện KHXH Việt Nam có 29 đơn vị nghiên cứu khoa học và 05 đơn vị chức năng, giúp việc Chủ tịch Viện
Trang 35Sau khi Nghị định số 53/2008/NĐ-CP của Chính phủ có hiệu lực, căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của Viện KHXH Việt Nam, Chủ tịch Viện xây dựng Đề án thành lập 04 đơn vị nghiên cứu mới là Viện Phát triển bền vững vùng Bắc Bộ (năm 2009); Trung tâm Ứng dụng Công nghệ thông tin (năm 2009); Học viện KHXH (năm 2010); Viện Nghiên cứu Ấn Độ và Tây Nam Á (năm 2011), nâng tổng số đơn
vị nghiên cứu khoa học lên thành 32 đơn vị Ngoài ra, trong thời gian này, theo thẩm quyền Chủ tịch Viện đã Quyết định thành lập Trung tâm Nghiên cứu Kinh Thành và thành lập Ban Thi đua Khen thưởng (sau khi được sự đồng ý của Bộ Nội
vụ và Ban Thi đua khen thưởng Trung ương)
Đến năm 2012, Viện KHXH Việt Nam đổi tên thành Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam và được quy định tại Nghị định số 109/2012/NĐ-CP ngày 26/12/2012 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam đã thực hiện sắp xếp lại tổ chức bộ máy cho phù hợp với tên gọi tại Nghị định số 109/2012/NĐ-CP; thực hiện đổi tên Viện Phát triển bền vững vùng Nam Bộ thành Viện KHXH vùng Nam Bộ; Viện Phát triển bền vững vùng Trung Bộ thành Viện KHXH vùng Trung Bộ; Viện Phát triển bền vững vùng Tây Nguyên thành Viện KHXH vùng Tây Nguyên; Viện Nghiên cứu và Phát triển bền vững thành Viện Địa lý nhân văn; Viện Phát triển bền vững vùng Bắc Bộ thành Viện Nghiên cứu Phát triển bền vững Vùng
Ngày 26/12/2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 217/2013/NĐ-CP về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 109/2012/NĐ-CP, quy định trong hệ thống tổ chức bộ máy của Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam có 32 đơn vị nghiên cứu khoa học; 04 ĐVSNCL khác; 06 cơ quan chức năng, giúp việc Chủ tịch Viện Bên cạnh đó, Chủ tịch Viện đã thành lập thêm 03 tổ chức nghiên cứu khoa học công nghệ thuộc thẩm quyền quản lý
Ngày 18/8/2017, Chính phủ ban hành Nghị định quy định số
99/2017/NĐ-CP về quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, một lần nữa đã khẳng định về sự hoàn thiện cơ cấu tổ
Trang 36chức, chức năng nhiệm vụ trong thời kỳ đổi mới và phát triển theo tinh thaanfcasc Nghị quyết, chỉ thị của Đảng và Nhà nước về tinh gọn tổ chức bộ máy, đảm bảo hiệu lực, hiệu quả trong tổ chức và hoạt động
Như vậy, trải qua hơn 60 năm hình thành và phát triển, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam đã có nhiều đóng góp quan trọng vào sự phát triển của KHXH&NV nước nhà, đã có nghiên cứu khoa học lớn được thực hiện có ý nghĩa to lớn trong việc cung cấp luận cứ cho Đảng và Nhà nước đáp ứng và phục vụ đắc lực cho sự nghiệp xây dựng và phát triển của đất nước trong các lĩnh vực văn hóa, văn học nghệ thuật, chính sách dân tộc, tôn giáo, chính sách ngôn ngữ… góp phần vào việc khôi phục, duy trì và phát triển những giá trị văn hóa - xã hội truyền thống mang đậm tính nhân văn của dân tộc, nâng cao trình độ nhận thức của người dân cũng như tăng cường hiểu biết và mối quan hệ với các quốc gia khác trên thế giới
2.1.2 Tổ chức bộ máy của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam hiện nay có tác động đến việc thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy
Hệ thống tổ chức bộ máy của Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam bao gồm người đứng đầu là Chủ tịch Viện và Hội đồng khoa học, dưới Chủ tịch Viện và Hội đồng khoa học là các Phó Chủ tịch; dưới các Phó Chủ tịch là các đơn vị hành chính giúp việc Chủ tịch Viện; dưới các đơn vị giúp việc Chủ tịch Viện có các ĐVSNCL được thực hiện theo Nghị định của Chính phủ và các đơn vị do Chủ tịch Viện Hàn
lâm quyết định thành lập: Sơ đồ tổ chức bộ máy (phụ lục 1)
Chủ tịch Viện Hàn lâm do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm và miễn nhiệm, là đại diện pháp nhân của Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam trong quan hệ với các đơn
vị và cá nhân; chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về toàn bộ hoạt động của Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam
Các Phó Chủ tịch Viện do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm và miễn nhiệm theo đề nghị của Chủ tịch Viện và chịu trách nhiệm trước Chủ tịch Viện về nhiệm
vụ được phân công
Trang 37Hội đồng Khoa học Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam là cơ quan tư vấn cho Chủ tịch Viện về các lĩnh vực nghiên cứu khoa học bao gồm các nhà khoa học trong
và ngoài Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam có trình độ chuyên môn sâu về từng ngành hoặc liên ngành khoa học xã hội và nhân văn
Hệ thống tổ chức hành chính giúp việc Chủ tịch Viện Hàn lâm có 06 đơn vị: + có 05 đơn vị được quy định tại Nghị định số 99/2017/NĐ-CP của Chính phủ thực hiện chức năng tham mưu, giúp việc Chủ tịch Viện Hàn lâm về các công tác tổ chức cán bộ, kế hoạch - tài chính, hợp tác quốc tế, quản lý khoa học và công tác hành chính văn phòng tại Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam Các tổ chức hành chính thực hiện chức năng giúp Chủ tịch Viện Hàn lâm quản lý, đôn đốc, kiểm tra các đơn vị trực thuộc trong lĩnh vực chuyên môn có liên quan;
+ Ngoài ra, còn có 01 tổ chức Văn phòng Đảng - Đoàn thể là đầu mối sinh hoạt hành chính công chức, viên chức chuyên trách công tác đảng, công đoàn, đoàn thanh niên được thành lập theo Quy định số 215-QĐ/TW ngày 05/12/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Trong hệ thống cơ cấu tổ chức của Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam có 37 tổ chức khoa học và công nghệ và đơn vị sự nghiệp công lập được quy định tại Nghị định số 99/2017/NĐ-CP ngày 18/8/2017 của Chính phủ, trong đó:
- Có 33 tổ chức khoa học và công nghệ thực hiện chức năng nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về nghiên cứu khoa học xã hội, nghiên cứu khoa học nhân văn và nghiên cứu khoa học vùng, quốc tế, cụ thể:
+ Trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học xã hội gồm có 11 đơn vị, thực hiện chức năng chủ yếu tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản về phát triển toàn diện con người Việt Nam và các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc, những tinh hoa của văn hóa và văn minh của toàn nhân loại; nghiên cứu về sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Trang 38+ Trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học nhân văn gồm 10 đơn vị, thực hiện chức năng chủ yếu tập trung nghiên cứu những vấn đề cấp bách về lịch sử, dân tộc, tôn giáo, văn hóa, văn học, ngôn ngữ, tâm lý nhằm phát huy sức mạnh toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc; tổ chức những hoạt động điều tra, khai quật, phát huy những di sản văn hóa dân tộc;
+ Trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học khối vùng và quốc tế gồm có 11 đơn vị: trong đó, các khối khoa học vùng gồm 03 đơn vị, thực hiện chức năng chủ yếu tập trung các hoạt động điều tra cơ bản, phân tích và dự báo kinh tế xã hội phục vụ nhu cầu phát triển đất nước, chú trọng nghiên cứu những lĩnh vực kinh tế - xã hội chủ yếu, những ngành, vùng kinh tế trọng điểm; nghiên cứu những vấn đề lý luận
và thực tiễn về khoa học xã hội vùng Tây Nguyên, vùng Nam Bộ và vùng Trung bộ; Các khối khoa học quốc tế gồm có 07 đơn vị thực hiện chức năng nghiên cứu những vấn đề cơ bản về khoa học xã hội của các nước và các tổ chức khu vực của Châu Âu; Châu Mỹ; Nghiên cứu khu vực Đông Nam Á, Nghiên cứu khu vực Đông Bắc
Á; Nghiên cứu khu vực Ấn Độ và Tây Nam Á và nghiên cứu Trung Quốc
- Có 04 ĐVSNCL khác gồm: 01 đơn vị thực hiện thực hiện chức năng đào tạo trình độ thạc sỹ, tiến sỹ; tham gia đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao trong lĩnh vực khoa học xã hội là Học viện KHXH; 01 đơn vị thực hiện chức năng nghiên cứu khoa học và các hoạt động nghiệp vụ bảo tàng nhằm giới thiệu, phổ biến, giáo dục về những giá trị lịch sử, văn hóa của các dân tộc ở trong nước và ngoài nước là Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam; 02 đơn vị thực hiện chức năng công bố, giới thiệu
và thông tin những kết quả nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn trong nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước, gồm Tạp chí KHXH Việt Nam và Nhà xuất bản KHXH
- Ngoài ra, trong cơ cấu tổ chức của Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam còn có
02 tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ cấp cơ sở hoạt động theo Luật Khoa học và Công nghệ và Giấy chứng nhận Đăng ký hoạt động khoa học và công nghệ, tuân theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm (tự bảo đảm chi thường
Trang 39xuyên và chi đầu tư) do Chủ tịch Viện Hàn lâm quyết định thành lập thực hiện chức năng nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ
Hệ thống tổ chức bộ máy của Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam hiện nay tương đối hoàn thiện và phù hợp với chức năng, nhiệm vụ trong thời kỳ phát triển khoa học và công nghệ, từng bước hạn chế được sự cồng kềnh, chồng chéo trong thực hiện nhiệm vụ Quy mô tổ chức các đơn vị trực thuộc Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam trải dài từ Bắc vào Nam khẳng định sự hoàn thiện giữa chức năng, nhiệm
vụ với phạm vi lĩnh vực nghiên cứu khoa học phù hợp với thời kỳ phát triển khoa học và công nghệ Do đó, việc hoàn thiện tổ chức bộ máy của Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam là một yêu cầu cần thiết nhằm hạn chế sự cồng kềnh, chồng chéo trong thực thi nhiệm vụ và từng bước sắp xếp, kiện toàn chức năng, nhiệm vụ; mối quan
hệ công tác để đảm bảo phát triển hệ thống tổ chức nghiên cứu khoa học cả về chiều rộng và chiều sâu, hình thành hệ thống tổ chức chuyên sâu, đa dạng ngành nghề và phong phú lĩnh vực, để có thể hỗ trợ, đan xen cho nhau trong quá trình thực hiện hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ
Với hệ thống tổ chức bộ máy thực hiện chức năng nghiên cứu khoa học là chủ yếu nên đòi hỏi trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách sắp xếp TCBM tại Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam phải có sự nghiên cứu kỹ lưỡng từng đặc thù riêng của từng đơn vị để sắp xếp phù hợp với quy định của Đảng và Nhà nước Đề xuất các phương án sắp xếp tổ chức bộ máy sao cho phù hợp với từng ngành, từng lĩnh vực hoạt động; thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy trên cơ sở bố trí người làm việc phù hợp với chuyên môn nghiên cứu, vị trí việc làm là một vấn đề đặt ra trong quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy tại Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam
2.2 Tổ chức thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Để thực hiện đánh giá một cách khách quan về tình hình tổ chức thực hiện chính sách sắp xếp TCBM tại Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam, tác giả thực hiện khảo sát, điều tra thông qua bảng hỏi tìm hiểu và lấy ý kiến đóng góp của CCVC,
Trang 40người lao động Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam Tác giả thực hiện cuộc điều tra, khảo sát về thực trạng tổ chức thực hiện chính sách sắp xếp TCBM, tập trung chủ yếu vào các vấn đề: xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách; phổ biến, tuyên truyền thực hiện chính sách; phân công phối hợp thực hiện chính sách; duy trì, điều chỉnh chính sách; theo dõi, kiểm tra, đôn đốc thực hiện chính sách và đánh giá, tổng kết thực hiện chính sách
Số lượng bảng hỏi được phát ra với 200 phiếu tới các đối tượng gồm thủ trưởng đơn vị; một số viên chức, người lao động; và các đầu mối viên chức làm công tác tổ chức cán bộ tại Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam, trong đó: Số phiếu
được phát ra là 200 phiếu, và số phiếu thu về là 186 phiếu (hợp lệ) Nội dung điều tra, khảo sát được thể hiện chi tiết ở phụ lục 2 và tổng hợp kết quả điều tra khảo sát
ở phụ lục 3
Qua kết quả điều tra, khảo sát giúp tác giả có thể thu thập được mức độ hài lòng của CCVC và người lao động trong tổ chức thực hiện chính sách sắp xếp
TCBM tại Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam như sau:
2.2.1 Xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy
Kế hoạch thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy được Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam lập trước khi đưa chính sách vào thực tiễn; việc xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách được xác định đầy đủ các bước bao gồm: xây dựng kế hoạch điều hành; kế hoạch cung cấp nguồn lực; kế hoạch kiểm tra và thời gian triển khai chính sách và xây dựng nội quy, quy chế thực hiện Đánh giá kết quả
xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách sắp xếp TCBM được thể hiện:
Bảng 2.1 Đánh giá thực trạng xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy
Mức độ đánh giá
Tốt Trung bình Chưa tốt