1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN LÝ CÁC TỔ CHỨC KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TRỰC THUỘC TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ HẠNG ĐẶC BIỆT NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP VIỆN NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ VIỆT NAM

72 69 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 731,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý nhà nước trong lĩnh vực KH&CN bao gồm một phạm trù tương đối rộng lớn, như quy hoạch, sắp xếp các cơ quan sự nghiệp khoa học, hoạch định chính sách phát triển KH&CN, chiến lược K

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

MAI THỊ KIM TUYẾT

HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN LÝ CÁC TỔ CHỨC KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TRỰC THUỘC TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ HẠNG ĐẶC BIỆT: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP VIỆN NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

HÀ NỘI, 2019

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

MAI THỊ KIM TUYẾT

HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN LÝ CÁC TỔ CHỨC KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TRỰC THUỘC TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ HẠNG ĐẶC BIỆT: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP VIỆN NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ VIỆT NAM

Ngành: Quản lý Khoa học và Công nghệ

Mã số: 8 34 04 12

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS VŨ TRƯỜNG SƠN

HÀ NỘI, 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong Luận văn là trung thực Những kết luận của Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Mai Thị Kim Tuyết

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới Giám đốc Trung tâm Đào tạo và bồi dưỡng Quản lý khoa học Học viện khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo Giảng viên cao cấp Vũ Trường Sơn

Giảng viên cao cấp Vũ Trường Sơn đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn các giảng viên Khoa sau Đại học - Học viện Khoa học

Xã hội đã truyền đạt những kiến thức khoa học và kinh nghiệm thực tiễn cho tôi trong quá trình học tập

Xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo, đồng nghiệp đang công tác tại Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam, đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi thu thập tài liệu, đây là những căn cứ quan trọng để tôi hoàn thành luận văn

Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn sâu sắc những người thân trong gia đình, bạn

bè, đồng nghiệp đã cổ vũ, động viên tôi vượt qua những khó khăn trong quá trình học tập, nghiên cứu

Bên cạnh những điều kiện thuận lợi, tôi cũng gặp những khó khăn nhất định

về năng lực và sự hiểu biết của bản thân cũng như thời gian nghiên cứu có hạn nên luận văn không tránh khỏi những hạn chế và khiếm khuyết, tác giả rất mong nhận được những góp ý của các nhà khoa học, các giảng viên và các đồng nghiệp

Xin trân trọng cảm ơn!

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC TIỄN HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN LÝ CÁC TỔ CHỨC KH&CN 6

1.1 Cơ chế quản lý KH&CN 6

1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến cơ chế quản lý 15

1.3 Một số kinh nghiệm về cơ chế quản lý của các tổ chức KH&CN 17

Chương 2: THỰC TRẠNG CƠ CHẾ QUẢN LÝ CỦA TỔ CHỨC KH&CN HẠNG ĐẶC BIỆT (VIỆN NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ VIỆT NAM) 22

2.1 Khái quát về Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam 22

2.2 Thực trạng công tác quản lý các tổ chức KH&CN trực thuộc tại Viện NLNTVN 28

2.3 Hạn chế và nguyên nhân trong công tác quản lý của Viện NLNTVN 47

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN LÝ CÁC ĐƠN VỊ TRỰC THUỘC VIỆN NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ VIỆT NAM 50

3.1 Phương hướng phát triển của Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam 50

3.2 Giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý 56

KẾT LUẬN 63

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 65

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

3 CNH-HĐH Công nghiệp hóa hiện đại hóa

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đổi mới cơ chế quản lý tổ chức khoa học công nghệ là một chính sách lớn, mang ý nghĩa quan trọng, giúp cho tổ chức ổn định và phát triển được bền vững

Qua hơn hai mươi năm thực hiện đổi mới cơ chế quản lý, đặc biệt là từ khi có Nghị định của Chính phủ Số 115/2005/NĐ-CP ngày 05 thánh 9 năm

2005 về quy định cơ chế tự chủ tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ công lập Các tổ chức khoa học và công nghệ đã đạt được những kết quả quan trọng, đội ngũ phát triển, cơ sở vật chất được tăng cường

Tuy nhiên, sau nhiều năm thực hiện cơ chế quản lý tổ chức khoa học và công nghệ còn bộc lộ nhiều hạn chế Mặc dù các tổ chức Khoa học và Công nghệ đã được tự chủ, nhưng quyền tự chủ còn bị hạn chế chưa phát huy được tiềm năng to lớn của đội ngũ chi thức hiện có và cơ sở vật chất đã được đầu tư

Đặc biệt, vấn đề tự chủ của các tổ chức Khoa học công nghệ trực thuộc một số tổ chức Khoa học công nghệ chưa xác định rõ, Quan hệ quản lý của tổ chức Khoa học công nghệ chủ quản với các tổ chức KHCN trực thuộc còn nhiều lúng túng

Những quan hệ này đã làm kìm hãm sự phát triển của các tổ chức KHCN và sự lớn mạnh của nền KHCN nước nhà

Luận văn đặt vấn đề nghiên cứu những khó khăn vướng mắc trong cơ chế quản lý các tổ chức KHCN, tìm nguyên nhân và đề xuất giải pháp nhằm “Hoàn thiện cơ chế quản lý các tổ chức KHCN trực thuộc tổ chức KHCN đặc biệt”

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Đề tài đi nghiên cứu về vấn đề “Hoàn thiện cơ chế quản lý của các tổ chức KH&CN trực thuộc tổ chức KH&CN hạng đặc biệt”; Trong tình hình hiện nay các tổ chức KH&CN thực hiện theo NĐ 54/2016/NĐ-CP ngày 14/6/2016 về quy định cơ chế tự chủ của các tổ chức KH&CN công lập Thời

Trang 8

gian này, nhận thấy việc đổi mới cơ chế quản lý trong các tổ chức KHCN là đặc biệt quan trọng vì vậy có một số đề tài nghiên cứu của các tổ chức KHCN, một số bài viết trên các tạp trí, bài báo về vấn đề này được nhiều tác giả quan tâm đưa ra những quan điểm riêng, chỉ ra được đổi mới cơ chế quản

lý đã phát huy được tiềm lực tri thức và thúc đẩy được phát triển khoa học và công nghệ Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện đã bộc lộ ra những hạn chế khó khăn Các đề tài nghiên cứu và sách tham khảo liên quan đến vấn đề này còn tương đối hạn chế Luận văn tác giả đề cập đến việc đưa ra những khó khăn vướng mắc trong việc chuyển đổi sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị trực thuộc Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam, đưa

ra giải pháp hoàn thiện các cơ chế quản lý

Luận văn có đề cập về nội dung cơ chế chính sách quản lý trong các tổ chức KH&CN, ở đây mỗi tổ chức KHCN có thể chế và cơ chế quản lý khác nhau, các đề tài đề án nghiên cứu trong thời gian qua của các tổ chức tập trung vào các nội dung như; cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm một phần đối với các đơn vị sự nghiệp trong đó có các tổ chức KHCN trực thuộc tổ chức KHCN, chưa có đề tài nghiên cứu rõ về cơ chế quản lý của các tổ chức KHCN trực thuộc tổ chức KHCN hạng đặc biệt Luận văn sẽ đưa ra một số chính sách riêng đối với đơn vị KH&CN hạng đặc biệt

Ở Việt Nam hiện nay tổ chức KHCN hạng đặc biệt có 3 Viện lớn là: Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam Viện Khoa học Thủy Lợi và Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam Tuy nhiên vấn đề tự chủ của các tổ chức KHCN trực thuộc các tổ chức này chưa được xác định rõ Mối quan hệ giữa

tổ chức quản lý và các tổ chức KHCN trực thuộc còn nhiều bất cập khó khăn lúng túng Ví dụ tại Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam thể hiện trong đề

án tự chủ của các đơn vị, nhiều đơn vị thực chất chỉ mang tính chất liệt kê ( về tài sản, về số lượng cán bộ, về doanh thu hàng năm, về tài sản ) Chưa đưa ra được những bất cập, khó khăn, giải pháp để tổ chức chuyển đổi sang cơ chế tự

Trang 9

chủ được thành công theo đúng nghĩa Chưa đưa ra được cái đặc biệt của các

tổ chức KH&CN như (Tại sao các tổ chức KH&CN trực thuộc Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam nó lại là đặc biệt, mà đặc biệt thì có những cơ chế quản lý khác thế nào? Tại sao phải khác ) Luận văn này tác giả đi phân tích những vấn đề trên để nhận dạng rõ cái đặc biệt của tổ chức KH&CN trực thuộc

tổ chức KH&CN hạng đặc biệt, đưa ra những cơ chế tháo gỡ khó khăn cho các

tổ chức KH&CN hiện nay đang thực hiện cơ chế tự chủ tự chịu trách nhiệm

Thực trạng hiện nay , vì sao cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm nói chung của các cơ quan nghiên cứu khoa học không được thực thi nỗ lực Một

số nghiên cứu trên cho rằng quá trình chuyển đổi sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của hệ thống cơ quan KH&CN là một quá trình tự điều chỉnh, tự thích nghi của hệ thống, dựa trên nguyên tắc “tự sắp xếp” trong “một trật tự pháp luật - sự điều tiết của nhà nước”, không lấy nguyên tắc giảm đầu mối để sắp xếp mạng lưới các tổ chức KH&CN Tuy nhiên nghiên cứu này mới chỉ dừng lại mức độ mô tả và phân loại các loại hình tổ chức KH&CN trong dạng chuyển đổi sang cơ chế tự chủ tự chịu trách nhiệm Các đánh giá về quá trình chuyển đổi chỉ ở bên ngoài hệ thống chưa phân tích quá trình nhận dạng sang

cơ chế tự chủ tự chịu trách nhiệm là thay đổi tổ chức ở bên trong về chức năng nhiệm vụ, phát hiên thuận lợi khó khăn

Nghiên cứu việc các đơn vị thực hiện cơ chế tự chủ tự chịu trách nhiệm đối với tổ chức KH&CN có 02 mốc quan trọng, từ năm 2005 đến 2015 theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP và giai đoạn tiếp theo là từ năm 2016 đến nay thực hiện theo Nghị định 54/2016/NĐ-CP ngày 14/6/2016 Trong giai đoạn này có nhiều đề tài nghiên cứu nhưng mang tính chất phân loại các loại hình

tổ chức KHCN trong dạng chuyển đổi sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm Những quá trình đánh giá chỉ tập trung ở bên ngoài hệ thống như các quyết định hành chính của cơ quan quản lý nhằm mục đích sắp xếp các tổ chức Các đề tài ở đây chưa phân tích rõ được nhận dạng của quá trình chuyển

Trang 10

đổi sang tự chủ về thay đổi lại chức năng nhiệm vụ thay đổi lại cơ cấu tổ chức bên trong của tổ chức KHCN đó Phát hiện những thuận lợi khó khăn bên trong với mỗi tổ chức loại hình KHCN đó khi chuyển đổi Các đề tài này cũng chưa đưa ra được các tiêu chí để dựa vào đó có thể phân tích mức độ chuyển đổi thành công của các loại hình tổ chức KHCN, cũng như những biện pháp đảm bảo cho sự chuyển đổi thành công sang cơ chế tự chủ tự chịu trách nhiệm tại các tổ chức KHCN trực thuộc

Nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, hoàn thiện cơ chế quản lý các tổ chức KH&CN đặc biệt là các tổ chức KHCN trực thuộc tổ chức KHCN hạng đặc biệt, cần chuyển đổi sang mô hình tự chủ tự chịu trách nhiệm thành công, cần có một hướng giải phát có tính đột phá về cơ chế cho tổ chức KH&CN, cần có một cơ chế gắn hoạt động KH&CN với doanh nghiệp

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu:

Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý các tổ chức trực thuộc tổ chức Khoa học công nghệ hạng đặc biệt

Nhiệm vụ của luận văn:

Để thực hiện các mục đích nghiên cứu nêu trên, đề tài xác định các nhiệm vụ sau:

Đánh giá thực trạng của cơ chế quản lý trong các tổ chức khoa học công nghệ trực thuộc Nghiên cứu các hạn chế tồn tại trong cơ chế quản lý tìm

ra nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trên

Đưa ra những giải pháp khắc phục các hạn chế tồn tại trên để hoàn thiện cơ chế quản lý đối với các tổ chức trực thuộc tổ chức Khoa học công nghệ hạng đặc biệt

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Cơ chế quản lý các tổ chức tổ chức khoa học và

công nghệ thuộc tổ chức khoa học công nghệ hạng đặc biệt

Trang 11

Phạm vi nghiên cứu: Các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực NLNT thuộc

Viện NLNTVN

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu quy chế quản lý để tìm hiểu các nội dung liên quan đến luận văn và trên cơ sở các thông tin thu được tiến hành phân tích, đánh giá rút ra bài học kinh nghiệm;

- Phương pháp thu thập tài liệu: Thu thập nghiên cứu tài liệu, trao đổi với đồng nghiệp những vấn đề liên quan đến luận văn này

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Luận văn sẽ góp phần thay đổi nhận thức về cơ chế quản lý các đơn vị trực thuộc Viện NLNTVN trong giai đoạn hiện nay, khẳng định cơ chế tư chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị, sẽ mang đến hiệu quả thiết thực trong việc quản lý hiện nay

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới cơ chế quản lý

Chương 2: Thực trạng về cơ chế quản lý của Viện NLNTVN

Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý các tổ chức khoa học và công nghệ trong Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam

Trang 12

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC TIỄN HOÀN THIỆN

CƠ CHẾ QUẢN LÝ CÁC TỔ CHỨC KH&CN

1.1 Cơ chế quản lý KH&CN

Cơ chế quản lý KH&CN là tập hợp các nguyên tắc, chế độ quy định

quan hệ qua lại giữa các chủ thể tham gia trong quá trình lao động sáng tạo KH&CN Nó có vai trò gắn kết các thành phần trong hệ thống quản lý, đưa chúng vào hoạt động đạt mục tiêu chung của hệ thống quản lý KH&CN Nó

có vai trò gắn kết các thành phần trong hệ thống quản lý KH&CN, ví dụ như hiện nay thực hiện theo Nghị định 54 là thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các tổ chức KH&CN, đáp ứng nhu cầu phát triển của chính bản thân các tổ chức KH&CN theo xu hướng chuyển đổi theo cơ chế tự chủ

Cho tới nay, cơ chế quản lý KH&CN được thể hiện qua hệ thống văn bản pháp luật điều tiết các quan hệ trong hoạt động KH&CN, hiện có tới khoảng một trăm văn bản các loại khác nhau, trực tiếp và gián tiếp liên quan đến quản lý KH&CN bao gồm từ Hiến pháp, luật, các văn bản dưới luật Đây

là đối tượng trọng tâm trong công tác cải cách hành chính liên quan đến quản

lý KH&CN ở nước ta

Định nghĩa về quản lý Nhà nước trong lĩnh vực KH&CN thường được hiểu giống quản lý nghiên cứu khoa học, là quản lý đối với công tác nghiên cứu khoa học và những hoạt động phát triển công nghệ, nó thường bao gồm những hoạt động quản lý như kế hoạch nghiên cứu khoa học, nghiên cứu đề tài, phát triển công nghệ,v.v Quản lý nhà nước trong lĩnh vực KH&CN bao gồm một phạm trù tương đối rộng lớn, như quy hoạch, sắp xếp các cơ quan sự nghiệp khoa học, hoạch định chính sách phát triển KH&CN, chiến lược KH&CN, đổi mới thể chế hoạt động KH&CN, kế hoạch thực hiện chương trình các đề tài, áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất đời sống, chuyển giao kỹ thuật, đổi mới công nghệ .v.v Trên cơ sở những nhận thức này, xuất phát từ đặc điểm của đối tượng quản lý là hoạt động khoa học

Trang 13

và công nghệ, quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ theo các nguyên tắc, mỗi nguyên tắc trên thực tế không vận dụng riêng rẽ mà phối hợp nhuần nhuyễn với các nguyên tắc khác để có thể phát huy tác dụng trong thực tế cụ thể:

Nguyên tắc về sự thống nhất giữa khoa học và kinh tế: Nguyên tắc này bao trùm, người làm quản lý phải luôn tạo điều kiện để gắn hoạt động khoa học và công nghệ với các hoạt động kinh tế Sự thống nhất này phải thể hiện trên tất cả các mặt

kế hoạch, đầu tư, tổ chức chỉ đạo thực hiện

Nguyên tắc kết hợp với cơ chế tác động thị trường

Nguyên tắc kết hợp tập trung dân chủ

Nguyên tắc phân công phân cấp

Nguyên tắc tham gia cộng đồng

Nguyên tắc kế thừa phát triển

Chính sách quản lý KH&CN là một tập hợp các văn bản quy phạm pháp luật định rõ các phương châm, nguyên tắc, quy định, thể lệ của Nhà nước đối với hoạt động KH&CN Có chính sách quốc gia, cũng có chính sách của một vùng, một đơn vị hành chính hoặc một tổ chức, hay một ngành

cụ thể Tập hợp lại thì chính sách là thể hiện thái độ của của Nhà nước hay của chủ thể quản lý đối với mục tiêu phát triển KH&CN, các biện pháp thực hiện mục tiêu đó trong phạm vi cả nước hoặc trong một ngành hẹp.Hoặc 1 địa phương Ví dụ trọng luận văn tác giả phân tích đến Viện Năng lượng nguyên

tử Việt Nam áp dụng cơ chế chính sách của nhà nước và một số chính sách riêng của đơn vị vào việc quản lý các tổ chức KH&CN trực thuộc Nói chung, chính sách KH&CN phụ thuộc rất nhiều vào chính sách chung của nhà nước Đặc biệt là các chính sách vĩ mô và vi mô Nhà nước ta đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng nên nhiều chủ trương đường lối lãnh đạo của Đảng cũng thể hiện đường lối chính sách KH&CN

Trong luận văn tác giả đề xuất đến nội dung các chính sách như: Các chính sách quản lý KH&CN trọng tâm nhất trong giai đoạn hiện nay là: (1)

Trang 14

Chính sách đầu tư cho KH&CN được coi là một trong những điều kiện tiền đề quan trọng nhất để thúc đẩy sự phát triển KH&CN; (2) Chính sách phát triển nguồn nhân lực KH&CN giữ vai trò quyết định đến chất lượng và tiến độ thực hiện các nhiệm vụ KH&CN, chất lượng các công trình KH&CN, nâng cao chất lượng, nâng cao sức cạnh tranh của các sản phẩm hàng hóa, nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội và đời sống; (3) Chính sách đổi mới công nghệ sản xuất nhằm nang cao trình độ công nghệ sản xuất mới, tạo ra được nhiều sản phẩm hàng hóa có sức cạnh tranh (4) Chính sách xã hội hóa KH&CN, thực chất là tổ chức huy động được mọi nguồn lực của xã hội đầu tư cho hoạt động KH&CN, hỗ trợ cho nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp cho KH&CN, mà hiện nay không thể đáp ứng được yêu cầu tăng cường các hoạt động KH&CN phục vụ sản xuất và đời sống

1.1.1 Cơ chế quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ

Theo khoa học quản lý hiện đại, phổ biến cho rằng “quản lý chính là các hoạt động do một hoặc nhiều người điều phối hành động của những người khác, nhằm thu được hiệu quả mà nếu một người hoạt động đơn độc thì không thể thu được Như vậy, quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường Quản lý bao gồm các yêu tố sau: phải hướng tới mục tiêu; thông qua con người; với kỹ thuật, thông qua con người; với kỹ thuật, công nghệ; hoạt động bên trong của một tổ chức Nói một cách cụ thể, quản lý là những hoạt động vận dụng các chức năng cơ bản của kế hoạch, tổ chức, chỉ huy điều hòa, phối hợp thanh tra điều tra sử dụng hữu hiệu các yếu tố cơ bản như nhân lực, vật lực, tài lực, tin lực, để thực hiện được các mục tiêu trong một thời gian nhất định

Với cách tiếp cận về quản lý nêu trên, quản lý nhà nước với chức năng thực thi quyền hành pháp của Nhà nước, là sự tác động có tổ chức đối với các quá trình và hành vi hoạt động của con người

Trang 15

Quản lý Nhà nước trong lĩnh vực KH&CN thường được hiểu giống quản lý nghiên cứu khoa học, là quản lý đối với công tác nghiên cứu khoa học

và những hoạt động phát triển công nghệ, nó thường bao gồm những hoạt động quản lý như kế hoạt nghiên cứu khoa học, nghiên cứu đề tài, phát triển công nghệ,.,, Quản lý Nhà nước trong lĩnh vực KH&CN bao gồm một phạm trù tương đối rộng lớn, như quy hoạch, sắp xếp các cơ quan sự nghiệp khoa học, hoạch định chính sách phát triển KH&CN, chiến lược KH&CN, đổi mới

cơ chế hoạt động KH&CN, kế hoạch thực hiện các chương trình đề tài, áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất đời sống, chuyển giao kỹ thuật, đổi mới công nghệ, năng lượng nguyên tử

Trên cơ sở những nhận thức trên đây, xuất phát từ đặc điểm của đối tượng quản lý là hoạt động khoa học và công nghệ, quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ theo các nguyên tắc, mỗi nguyên tắc trên thực tế không vận dụng riêng rẽ mà phối hợp nhuần nhuyễn với các nguyên tắc khác để có thể phát huy tác dụng trong thực tế, cụ thể như sau:

Nguyên tắc về sự thống nhất giữa khoa học và kinh tế

Nguyên tắc này có tính bao trùm, người làm quản lý KH&CN phải luôn luôn tạo ra điều kiện để gắn các hoạt động khoa học và công nghệ với các hoạt động kinh tế Sự thống nhất này phải thể hiện trên tất cả các mặt kế hoạch, đầu tư, tổ chức chỉ đạo thực hiện Điều đặc biệt quan trọng là văn bản quy phạm pháp luật, nó phải được lồng ghép trong các văn bản hành chính, pháp lý chung Chính sách, pháp luật, kế hoạch, biện pháp, tổ chức, đầu tư đều phải gắn bó với kinh tế nếu không không thể thực hiện được hoặc thực hiện nhưng ít có tác dụng đối với phát triển kinh tế - xã hội

Nguyên tắc kết hợp với cơ chế tác động của thị trường

Nội dung nguyên tắc này là mọi chủ trương, biện pháp quản lý KH&CN đề ra phải căn cứ nhu cầu thị trường, bám sát nhu cầu thị trường, chính thị trường tự nó có sức hút các kết quả nghiên cứu một cách mạnh mẽ;

Trang 16

mặt khác sự chủ động và sang tạo từ phía các tập thể khoa học có tác dụng đi trước thúc đẩy, gợi ý, mở đường cho sản xuất kinh doanh Nhưng nếu sự chủ động này không căn cứ vào thực tế sẽ dẫn đến chủ quan duy ý chí, đưa ra những giải pháp mà thực tế khó chấp nhận, kém hiệu quả

Nguyên tắc kết hợp tập trung – dân chủ

Trong bất kỳ nền kinh tế nào sự tập trung nguồn lực, nỗ lực vào một đích là nhân tố quyết định thành công giải quyết vấn đề, dù đó là kinh tế hay khoa học, kỹ thuật Sự chỉ đạo của Chính phủ hay các cơ quan chính phủ một cách tập trung trong từng thời gian giải quyết dứt điểm từng vấn đề có ý nghĩa rất quyết định, nhất là trong hoàn cảnh nội lực còn mỏng Trong khi đó, giải quyết các bài toán kỹ thuật, công nghệ thì đòi hỏi sang tạo, linh hoạt cao độ Phát huy sáng tạo của mọi thành viên, đa dạng hóa các phương án, biện pháp

sẽ tạo điều kiện có được những biện pháp hữu hiệu nhất có thể Người làm quản lý KH&CN cần nắm những nguyên tắc này

Nguyên tắc phân công phân, phân cấp

Công việc phát triển và ứng dụng KH&CN muốn làm có hiểu quả phải

có sự phân công, phân cấp rành mạch Như thế, mỗi cấp tập trung vào một loại việc, trên cơ sở đó phối hợp với nhau phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn bộ hệ thống Trung ương không làm thay công việc của địa phương Địa phương không dập khuôn máy móc theo cách tổ chức ở trung ương

Nguyên tắc tham gia cộng đồng

Tiến bộ KH&CN về bản chất, là một quá tình xã hội Mỗi thành viên của cộng đồng dân cư đều có vai trò nhất định trong quá trình đó theo cơ chế hút đẩy nói trên Các quyết định trong quản lý nên cho dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra Hiệu quả sẽ được nâng cao vì cơ chế đó có tác dụng kiểm soát xã hội, phát huy sáng kiến cộng đồng cho các hoatjd động KH&CN Nguyên tắc đấu thầu trong nghiên cứu, ứng dụng KH&CN là một trong

Trang 17

những cơ chế để thực hiện dân chủ trong khoa học Ai cũng có quyền tham gia, từ đó chọn người giỏi nhất, hiệu quả nhất Trên tầm vĩ mô, công việc quản lý KH&CN không thể khoán trắng cho một bộ, một ngành chịu trách nhiệm mà phải được các bộ các ngành tham gia, đề xuất, thực hiện Mỗi đề án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội đều phải quan tâm đến nội dung khoa học trong đó, phải nghiên cứu nếu cần thiết, phải đầu tư cho công tác khoa học để phục vụ lại chính mình Nguyên tắc xã hội hóa trong quản lý KH&CN đang

có ý nghĩa thời sự lớn đối với sự phts triển, đầu tư cho khoa học và công nghệ nước ta

Nguyên tắc kế thừa và phát triển, tuần tự kết hợp với nhảy vọt

Sự phát triển của công nghệ luôn luôn có tính kế thừa Chỉ lĩnh hội được thành tựu của thế hệ trước, những nước đi trước ta mới làm ra được kết quả thực sự có ý nghĩa mới, sáng tạo Sự sáng tạo có kế thừa là sáng tạo gấp đôi, gấp ba cái đáng ra có thể làm được, và do vậy nâng hiệu quả lên gấp bội phần tương ứng Trong quản lý cần có biện pháp tránh trùng lắp những cái đã được người khác, nước khác nghiên cứu, mà phải kế thừa những cái đó Trên tầm vĩ mô cũng tương tự, nước ta lấy nhập công nghệ là chính, sở dĩ cũng là để tiết kiệm nguồn lực quá ít ỏi, nhằm vào thích nghi, sáng tạo công nghệ Chiến lược “làm một số, mua một số” là thể hiện cụ thể của nguyên tắc kế thừa và phát triển trên bình diện hợp tác quốc tế Chính qua chiến lược này một nước nghèo mới có thể đi tắt, đón đầu, bứt lên đuổi kịp các nước phát triển

Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển khoa học và công nghệ

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã huấn thị rằng “Khoa học phải từ sản xuất mà ra và phải trở lại phục vụ sản xuất, phục vụ quần chúng, nhằm

nâng cao năng suất lao động và không ngừng cải thiện đời sống của nhân dân, bảo đảm cho chủ nghĩa xã hội thắng lợi Như vậy, nhiệm vụ của khoa

học là cực kỳ quan trọng, cho nên mọi ngành, mọi người đều phải tham gia

Trang 18

công tác khoa học, kỹ thuật để nâng cao năng suất lao động, sản xuất ra nhiều của cải vật chất, để xây dựng chủ nghĩa xã hội thắng lợi” [20]

Trong lời dặn giản dị này của Người chúng ta thấy thật rõ và sâu sắc các tư tưởng chỉ đạo cho công tác khoa học và công nghệ Tính mục đích thiết thực, quần chúng, tính giải cấp và tính khoa học hòa với nhau thật thống nhất,

dễ hiểu, dễ nhớ Những nguyên tắc quản lý nhà nước về KH&CN mà chúng ta nói đến ngày nay thực chất đã thấm nhuần lời dạy sâu sắc đó của Người

1.1.2 Tổ chức khoa học công nghệ hạng đặc biệt

Lao động KH&CN là quá trình lao động xã hội đặc thù, là hoạt động của những người có tri thức chuyên môn đặc biệt, tiến hành thu thập, xử lý, gia công thông tin về các sự vật trong giới tự nhiên hoặc nhân tạo để có được tri thức lý luận, phương pháp tác động, đường lối nhận biết thế giới và cải tạo thế giới Do đó, lao động KHCN có tính quy luật đặc thù của nó

Tổ chức khoa học công nghệ hạng đặc biệt là một tổ chức KH&CN trong đó

có những đặc điểm nghiên cứu đặc thù ngành

Một trong những đặc thù của lao động KH&CN đặc biệt là:

Thứ nhất, tính sáng tạo; đây là công tác nghiên cứu khoa học là một

loại lao động trí óc mang tính sáng tạo, đặc điểm nổi bật là tính sáng tạo, nó là linh hồn của công tác nghiên cứu là điểm cơ bản phân biệt với lao động sản xuất lặp đi lặp lại Ví dụ nghiên cứu cơ bản là để phát hiện và nhận thức về những quy luật mà trước nó đó con người chưa hề nhận thức được; nghiên cứu công nghệ là để sáng tạo ra phương pháp công nghệ mà trước đó chừa có nhằm sáng tạo ra những thiết bị hoặc sản phẩm mà trước đó không tồn tại Nghiên cứu khoa học và sáng tạo có mối quan hệ mật thiết với nhau quá trình của công tác nghiên cứu khoa học là quá trình tạo ra cái mới Do đó đánh giá trình độ cao hay thấp của một thành quả nghiên cứ khoa học chủ yếu là xem mức độ yếu tố sáng tạo trong đó

Trang 19

Thứ hai, tính rủi ro; Vì lao động sáng tạo, đi tìm cái chưa biết nên cũng

có thể thành công và cũng có thể thất bại, thông thường đi sâu vào bản chất nghiên cứu cơ bản thì độ rủi ro cao, khả năng thất bại lớn Một trong những cái được của thất bại trong nghiên cứu lại là một loại thu hoạch bởi nó có thể cảnh tỉnh người sau, hay nó là kinh nghiệm và bài học cho người đi sau

Thứ ba, đặc tính kế thừa của lao động KH&CN; Thông thường những

cái đi sau là kế thừa của cái đi trước, những tri thức mới mà họ tạo ra cũng tất nhiên cũng sẽ được người khác hoặc người sau kế thừa và phát triển Thông thường những cái đi sau là kế thừa của những cái đi trước, đó cũng chính là sự kế thừa của lao động; trong công tác nghiên cứu khoa học sự đan xen, sự xâm nhập vào nhau và sự tổng hợp hợp của của các bộ môn về thực chất cũng chính là sự phá bỏ những hạn chế của chuyên ngành chuyên môn, vấn đề học tập và kế thừa thành quả bộn môn khác và người khác cũng chính là biểu hiện tính kế thừa

Thứ tư, sự tích lũy của lao động KH&CN; Tổ chức với tư cách là một

tập thể, là tập hợp người được tổ chức lại, hoạt động vì những quyền lợi chung, nhằm một mục đích chung Như vậy, tổ chức KH&CN là một thực thể tiến hành hoạt động KH&CN vì những quyền lợi chung, mục đích chung Tổ chức KH&CN được thành lập, hoạt động và giải thể theo quy định của Pháp luật Tổ chức KH&CN có chức năng chủ yếu là nghiên cứu khoa học, nghiên cứu triển khai và phát triển công nghệ, hoạt động dịch vụ KH&CN

Cần tạo môi trường tự do nghiên cứu như: tự do xác định vấn đề nghiên cứu, tự do xác định phương pháp nghiên cứu, tự do đánh giá và tự do truyền bá kết quả nghiên cứu

Bản chất của tổ chức khoa học và công nghệ hạng đặc biệt là :

Về thứ bậc hành chính tương đương với tổng cục, về quyền hạn lớn hơn, nó

là đơn vị hạch toán cấp 2 dưới nó có đơn vị hạch toán cấp 3 Được ủy quyền quyết định một số nhiệm vụ đề tài mang tính chất chuyên ngành, nó có nhiệm vụ được giao lớn hơn như: Có thể được giao nhiệm vụ đề tài mang tính an ninh chính trị cấp

Trang 20

quốc gia Ccó tính liên ngành rộng hơn (được kết hợp với các cơ quan khác nghiên cứu về một số chuyên ngành mang tính liên kết liên ngành: Ví dụ tại Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam nghiên cứu về Điện hạt nhân, bức xạ, phóng xạ nhưng vẫn kết hợp với các bộ ngành khác nghiên cứu về Công nghệ sinh học, hay môi trường v.v.) Có tính đa dạng về tổ chức như dưới nó có các tổ chức Khoa học và Công nghệ có tư cách pháp nhân riêng, có con dấu riêng, có tài khoản riêng, có tài

vụ cấp 3, có chức năng nhiệm vụ khác nhau, có đơn vị đào tạo, có đơn vị nghiên cứu và có các tổ chức dịch vụ Giúp việc cho đơn vị cấp trên là có đơn vị giúp việc chuyên trách, cán bộ tương đối độc lập

1.1.3 Cơ chế tự chủ tự chịu trách nhiệm

Thông thường, tự chủ sẽ đi trước và trách nhiệm sẽ xuất hiện sau Nếu một tổ chức có được tính tự chủ cao thì sẽ có những quyết định có tính trách nhiệm cao hơn và đạt được kết quả tốt hơn trong những hoạt động của mình Ngược lại lại khi tính trách nhiệm của một tổ chức không xứng đáng với tầm của tính tự chủ thì các cơ quan có thẩm quyền sẽ giảm bớt hoặc thu hồi các quyền hạn của tổ chức đó và như vậy năng lực làm chủ các hoạt động của tổ chcs này sẽ bị thu hẹp tương ứng với mức độ trách nhiệm

Theo cách hiểu chung nhất, cơ chế quản lý là quá trình chuyển động dây chuyền của các bộ phận cấu thành hệ thống, trong đó có bộ phận khởi động, bộ phận chuyền dẫn và bộ phận chuyển động cuối cùng Có nhiều loại cơ chê quản lý: cơ chế dân chủ, cơ chế tập trung, cơ chế phân cấp, cơ chế thị trường

Nhà nước trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các tổ chức KHCN nhằm mục tiêu hoàn thành nhiệm vụ được giao, phát huy mọi khả năng của đơn vị để cung cấp dịch vụ vớ chất lượng cao cho xã hội và tăng nguồn thu nhập cho tổ chức Việc giao tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các tổ chức KH&CN để thích ứng với tình hình mới, giải quyết có hiệu quả mà các vấn đề về KH&CN nảy sinh mà khu vực tư nhân không thể giải quyết được trong xu thế hội nhập quốc tế, đồng thời nhanh chóng khắc phục sự bất cập của hệ thống tổ chức KH&CN, làm minh bạch hóa hoạt động tài chính của

Trang 21

các tổ chức KH&CN Nội dung trọng tâm của tự chủ tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN gồm: tự chủ xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn, tự chủ về quản lý nhân sự và bộ máy, tự chủ về quản

lý tài chính Trong một tổ chức thì các quyền tự chủ này luôn đồng hành cùng nhau, hỗ trợ nhau

1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến cơ chế quản lý

Cơ chế quản lý của tổ chức KH&CN chịu sự tác động trực tiếp của việc thực thi chính sách

1.2.1 Thực thi chính sách

Nói đến chính sách trong lĩnh vực KH&CN, cần chú ý đến một hệ thống gồm: Cơ chế và chính sách quản lý KH&CN; công cụ thực thi chính sách trong lĩnh vực khoa học và công nghệ; hệ thống tổ chức bộ máy thực thi chính sách, đội ngũ công chức viên chức quản lý KH&CN Ba bộ phận này có tác động qua lại với nhau rất chặt chẽ, có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm nhau trong quá trình thực thi chính sách cũng như trong việc đổi mới chính cách trong lĩnh vực KH&CN

Cơ chế và chính sách quản lý trong lĩnh vực khoa học và công nghệ

Cơ chế và chính sách quản lý KH&CN đóng vai trò quan trọng trong việc thực thi chính sách trong lĩnh vực KH&CN nói chung và đối với các tổ chức KH&CN nói riêng Thiếu chính sách, cơ chế, quy định thể lệ thì hệ thống KH&CN không thể vận hành được

Cơ chế quản lý KH&CN là tập hợp nguyên tắc chế độ quy định quan hệ qua lại giữa các chủ thể tham gia trong quá trình lao động sáng tạo KH&CN

Nó có vai trò gắn kế các thành phần trong hệ thống quản lý, đưa chúng vào hoạt động đạt mục tiêu chung của hệ thống quản lý KH&CN, đáp ứng nhu cầu phát triển của chính bản thân các tổ chức KH&CN theo xu hướng chuyển đổi theo cơ chế doanh nghiệp Các cơ chế này thể hiện qua loạt các văn bản

Các chính sách quản lý KH&CN trọng tâm hiện nay là: (1) Chính sách đầu tư cho KH&CN được coi là những điều kiện tiền đề quan trọng nhất để

Trang 22

thúc đẩy sự phát triển KH&CN; (2) Chính sách phát triển nguồn nhân lực giữ vai trò quyết định đến chất lượng và tiến độ thực hiện các nhiệm vụ KH&CN, chất lượng các công trình KH&CN, nâng cao chất lượng, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa, nâng cao hiệu quả kinh tế- xã hội của sản xuất

và đời sống (3) Chính sách đổi mới công nghê sản xuất nhằm nâng cao trình

độ công nghệ sản xuất mới, tạo được nhiều hàng hóa có tính cạnh tranh (4) Chính sách xã hội hóa KH&CN, thực chất là tổ chức huy động được mọi nguồn lực của xã hội đầu tư cho hoạt động KH&CN, hỗ trợ cho nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp cho KH&CN, mà hiện nay không thể đáp ứng được yêu cầu tăng cường các hoạt độngKH&CN phục vụ sản xuất và đời sống

Hiện nay việc nhận thức của các cơ quan hoạch định, ban hành việc kiểm tra, giám sát việc xây dựng cơ chế quản lý cho các tổ chức KH&CN cần phải khách quan và khoa học Ở đây ta thường đưa ra hướng dễ thực hiện, thuận lợi cho cơ quan nhà nước thực thi cơ chế, làm trở ngại cho hoặc có thể làm tổn hại đến quyền lợi của đối tượng của cơ chế (tổ chức KH&CN, các nhà khoa học)

1.2.2 Nhận thức

Nhận thức của các tổ chức KH&CN nơi tổ chức thực thi cơ chế cần phải bắt kịp xu thế xóa dần bao cấp nhà nước, giảm dần sự can thiệp nhà nước, giảm dần sự can thiệp trực tiếp bằng mệnh lệnh hành chính, đồng thời phát huy vai trò chủ động sáng tạo, tăng tính chủ động tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN trong việc triển khai các hoạt động KH&CN theo quy luật của kinh tế thị trường Tuy vậy, nhìn chung các tổ chức KH&CN vẫn còn mang nặng tư duy bao cấp, chậm đổi mới, chưa kịp thích nghi với cơ chế kinh tế thị trường

Tiếp theo là nhận thức của xã hội, nơi tiếp nhận kết quả của hoạt động KH&CN cần có nhận thức chung về vai trò của KH&CN trong việc phát triển đất nước, kinh tế xã hội Thay đổi tư duy bao cấp trông chờ vào nhà nước, cho rằng Nhà nước phải có trách nhiệm cung cấp các dịch vụ KH&CN bằng tư duy kinh tế thị trường, tham gia vào việc đầu tư cho KH&CN, đặt hàng các nhiệm vụ KH&CN

Trang 23

Những vấn đề tồn tại trên là một trở ngại lớn trong quá trình đổi mới cơ chế quản lý trong các tổ chức KH&CN hiện nay nói chung và các tổ chức KH&CN trực thuộc tổ chức KH&CN hạng đặc biệt nói riêng

1.3 Một số kinh nghiệm về cơ chế quản lý của các tổ chức KH&CN

Tổ chức KH&CN từng phát triển mạnh mẽ ở nhiều nước trên thế giới (Hộp 2.1) Không thể phù nhận những kết quả mà các tổ chức KH&N mang lại Sức mạnh quân sự của Đức, Mỹ, sức mạnh kinh tế và quân sự một thời của Liên Xô đã gắn liền với hệ thống tổ chức KH&CN Sự phát triển trong lĩnh vực y học, nông nghiệp, bảo vệ môi trường cũng phần lớn nhờ các công trình nghiên cứu từ tổ chức khoa học Chính phủ

Trang 24

Hộp 2.1 Quy mô hệ thống tổ chức khoa học và công nghệ ở

một số nước trong thập kỷ 90

Tuy nhiên loại hình tổ chức này đã và đang bộc lộ nhiều nhược điểm rõ như hoạt động không có hiệu quả, ít gắn với cuộc sống và tiêu tốn khoản lớn kinh phí trở thành gánh nặng tài chính cho ngân sách Nhà nước Các nhà quản

lý và các nhà nghiên cứu đã bỏ nhiều công sức tìm hiểu bản chất của hiện

* Mỹ: ở thời điểm 1990, Mỹ có trên 700 phòng thí nghiệm cấp Liên bang với tổng ngân sách là 21 tỷ USD Phần lớn các cơ quan này là hoạt động theo liên ngành chủ quả tương ứng Nguồn chi cơ bản cho hoạt động các cơ quan này là Bộ Quốc phòng (49%) và Bộ Năng lượng (21%)

*Nhật Bản: ở thời điểm 1996, Nhật Bản có 575 viện nghiên cứu Nhà nước

so với 3700 Viện nghiên cứu tư nhân

* Trung Quốc: ở thời điểm 1992 số lượng t ổ chức KHCN là 5116

Các viện KH&CN thuộc Nhà nước ở Trung Quốc đầu tiên được hình thành

cơ bản thông qua việc chuyển giao từ Liên Xô, cùng với việc nhập ồ ạt công nghệ công nghiệp trong những năm 50 Sau đó hệ thống này được củng cố thêm bởi cơ chế kế hoạch tập trung ở Trung Quốc Quy mô của Viện nghiên cứu trong một số năm như sau:

- Năm 1985 có 7957 Viện gồm; 122 viện thuộc viện Hàn lâm khoa học với 32,2 nghìn cán bộ; 622 viện thuộc Bộ và ủy ban của chính phủ Trung ương với 93 nghìn cán bộ; 3946 viện thuộc chính quyền địa phương cao hơn cấp huyện với 105,8 nghìn cán bộ, 3267 viện cấp huyện

- Năm 1986 có 8631 viện; bao gồm 122 viện thuộc Viện Hàn lầm với 34,5 nghìn cán bộ, 922 viện thuộc Bộ và ủy ban của Chính phủ Trung ương với 175,1 nghìn cán bộ, 4227 viện thuộc chính quyền địa phương cao hơn cấp huyện với 114,7 nghìn cán bộ và 3360 viện thuộc cấp huyện

Trang 25

tượng tiêu cực trong các tổ chức KH&CN và đã đưa ra giải pháp giao quyền

tự chủ, tự chịu trách nhiệm

1.3.2 Điều kiện để thực hiện cơ chế quản lý

Vấn đề giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các tổ chức KH&CN là một xu thế Tuy nhiên, để tự chủ các tổ chức phải phát huy tác dụng, đòi hỏi cần một số điều kiện

Phát triển các quan hệ thị trường khoa học và công nghệ

Tự chủ tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN là thể hiện vài trò chủ thể của các đơn vị KH&CN trên thị trường KH&CN như vậy, môi trường của tự chủ tự chịu trách nhiệm là phát huy được tác dụng là một thị trường KH&CN phát triển lành mạnh

Sự không chắc chăn về giao dịch mua bán công nghệ khiến các tổ chức KH&CN gặp nhiều khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm

Thiếu nguồn vốn mạo hiểm là nguyên nhân khiến cơ sở nghiên cứu công ích không thể hiện được sức mạnh của mình

Thiếu cơ sở hạ tầng cho thương mại hóa là nguyên nhân cản trở các nhà khoa học và các tổ chức khoa học sử dụng tối đa các tiềm năng của mình trên

cơ sở nguồn kinh phí cấp từ Nhà nước

Thiếu các tổ chức môi giới đã làm cho các đơnvị khoa học và các doanh nghiệp khó thương thảo

Do đó, cùng với chủ trương tăng cường tự chủ, t ự chịu trách nhiệm của tổ chức KH&CN phải chú trọng đến các quan hệ thị trường

Cải tiến quản lý kế hoạch theo hướng giảm tỉ lệ giao kế hoạch mang tính pháp lệnh Đồng thời cấp kinh phí cho nghiên cứu dựa trên nguyên tắc hỗ trợ có mức độ tuyển chọn qua cạnh tranh thay vì cơ chế xin cho

Xây dựng hệ thống đánh giá về hoạt động tự chủ

Trao quyền tự chủ về mọi mặt (nhân lực, tài chính, đất đai)

Trang 26

Nhân lực KH&CN là yếu tố quyết định nhất của Tổ chức KH&CN Khi nói đến nhân lực người ta thường chú ý một số khía cạnh: Người đứng đầu tổ chức là người đứng đầu xác định các hướng hoạt động KH&CN của tổ chức;

Cơ cấu lợp lý về chuyên môn và trình độ; Độ tuổi trung bình; quá trình điều hành tổ chức (bao gồm các yếu tố: Đào tạo, bồi dưỡng nhân lực đảm bảo sự phát triển của tổ chức; Tạo môi trường thuận lợi cho từng cá nhân và tập thể phát huy năng lực sáng tạo của mình; Đánh giá đúng năng lực và sở trường để

sử dụng có hiệu quả)

Nguồn lực tài chính cho các tổ chức KH&CN rất đa dạng Hiện nay, các nguồn tài chính cho các tổ chức KH&CN công lập từ ngân sách nhà nước Thực hiện các nhiệm vụ, các hợp đồng khoa học; Tài trợ của các tổ chức kinh tế-xã hội trong và ngoài nước; Lợi nhuận của các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ Tỉ lệ các nguồn thu khách nhau của tổ chức KH&CN thể hiện chính sách quốc gia về phát triển KH&CN

Thiết bị máy móc, nhà xưởng, đất đai là cơ sở hạ tầng cần thiết và quan trọng của tổ chức KH&CN Đối với nguồn lực này người ta thường lưu ý về khả năng hao mòn vô hình của thiết bị nghiên cứu khoa học rất lớn vì thế sau khi lắp đặt cần nhanh chóng đưa vào sử dụng và với hiệu suất cao để nhanh chóng hoàn vốn và thay thế Vấn đề này hoàn toàn dễ hiểu đối với các Viên nghiên cứu công nghệ ở các nước phát triển nhưng lại là vấn đề nan giải đối với các nước có nền kinh thế chỉ huy tập trung hay đang chuyển đổi như ở nước ta Với chế độ thuê mua tài chính, các Viện nghiên cứu công nghệ có khả năng tài chính để mua sắm, trang bị bất cứ thiết bị gì cần thiết cho nghiên cứu và phát triển miễn là hoạt động đó đem lại lợi nhuận và có khả năng thanh toán với công ty tài chính Điều này khá mới mẻ với các Viện nghiên cứu công nghệ của nước ta

Thông tin là nguồn lực không thể thiếu của hoạt động KH&CHN Với

xu thế hội nhập, nguồn thông tin đủ sức cung cấp cho các nhà KH&CN Bên

Trang 27

cạnh việc khai thác miễn phí, thì việc chi cho thông tin là hết sức cần thiết cho bất kỳ hoạt động nào của các tổ chức KH&CN Với sự phát triển của kỹ thuật thì điều kiện và phương tiện ghi chép, lưu trữ khai thác thông tin là hết sức cần thiết cho bất kỳ hoạt động KHCN nào của các tổ chức KH&CN, các nhà khoa học Những kết quả nghiên cứu của các nhà KH&CN cũng cần sớm được công bố và đưa vào thương mại nhanh chóng

Tiểu kết chương

Những nội dung đề cập nghiên cứu ở chương 1 về cơ sở lý luận về cơ chế quản lý KH&CN nói chung và trong Viện NLNTVN nói riêng, đưa ra những nhận thức về tổ chức KH&CN hạng đặc biệt, đó là những căn cứ lý thuyết quan trọng luận giải cho việc phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp về hoàn thiện cơ chế quản lý KH&CN tại các tổ chức KH&CN trực thuộc tổ chức KH&CN hạng đặc biệt

Trang 28

Chương 2 THỰC TRẠNG CƠ CHẾ QUẢN LÝ CỦA TỔ CHỨC KH&CN HẠNG ĐẶC BIỆT (VIỆN NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ VIỆT NAM)

2.1 Khái quát về Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam

- Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam, tên giao dịch quốc tế của Viện

là Vietnam Atomic Energy Institute (VINATOM), tiền thân từ Viện Nghiên cứu hạt nhân, được thành lập ngày 23/02/1979 theo Nghị định 59/CP của Hội đồng Chính phủ Viện đã thực hiện việc tiếp nhận, quản lý cơ sở lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt, hình thành tổ chức, hợp tác nghiên cứu, xây dựng đề án khôi phục và mở rộng lò phản ứng hạt nhân và các cơ sở nghiên cứu của Viện

- Sau khi Viện Nghiên cứu hạt nhân (Đà Lạt) được thành lập theo Quyết định số 64-CP ngày 26/4/1976 của Thủ tướng Chính phủ, nhiều cán bộ

có trình độ cao từ Viện Vật lý, Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước, từ các trường đại học đã được chuyển về Viện và nhanh chóng ổn định, triển khai công việc Cơ sở nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt được quân đội chuyển giao cho Viện quản lý Vào năm 1977, nước ta đã đàm phán với Liên Xô về việc khôi phục và mở rộng (nâng công suất) lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt Ngoài các bộ phận nghiên cứu ở Đà Lạt như Phòng Vật lý hạt nhân, Phòng Hóa phóng xạ, Phòng An toàn bức xạ và Sinh học phóng xạ, ở Hà Nội, các bộ phận nghiên cứu Vật lý lý thuyết, Năng lượng hạt nhân và Hóa phóng xạ cũng được hình thành Năm 1978, Việt Nam tham gia trở lại Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA), trên cơ sở tiếp quản ghế thành viên của chính quyền cũ ở miền Nam và bắt đầu đàm phán với IAEA về trợ giúp kỹ thuật

- Sự phát triển của Viện cho thấy rõ hơn tính đa dạng của các hoạt động

và Nghị định 59-CP ngày 23/02/1979 của Hội đồng Chính phủ đã nâng quy

mô về không gian và nhiệm vụ của Viện Nghiên cứu hạt nhân trên phạm vi toàn quốc, với định hướng trở thành một ngành Năng lượng nguyên tử của

Trang 29

Việt Nam Viện đã có những bước phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn này Năm 1982, công trình khôi phục và mở rộng lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt được tiến hành như một công trình trọng điểm của Nhà nước, một số phòng thí nghiệm tại Hà Nội được xây dựng, hợp tác với các nước xã hội chủ nghĩa,

Ấn Độ và IAEA được tăng cường Nhiều dự án tài trợ của IAEA được thực hiện Năm 1982, Chính phủ Việt Nam chính thức tham gia Hiệp ước Không phổ biến vũ khí hạt nhân

- Một mốc lịch sử quan trọng là cùng với thời điểm xây dựng, mở rộng

cơ sở hạ tầng, lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt sau khi khôi phục, tăng công suất gấp hai lần so với lò cũ, đã đạt trạng thái tới hạn vào ngày 01/11/1983 Sau lễ khánh thành Công trình khôi phục và mở rộng lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt vào ngày 20 tháng 3 năm 1984, lò phản ứng chính thức đi vào hoạt động Bước phát triển này cùng với các hoạt động khác, đã làm tiền đề cho giai đoạn phát triển mới, được thể chế hóa bằng Nghị định số 87-HĐBT ngày 11/6/1984 của Hội đồng Bộ trưởng, nâng Viện lên một tầm cao hơn về chức năng, nhiệm vụ Viện được đổi tên thành Viện Năng lượng nguyên tử Quốc gia, trở thành đại diện cho một ngành bao gồm cả chức năng hoạch định chính sách, quản lý và nghiên cứu Năm 1988, gần 160 cán bộ của Viện 481 thuộc Tổng cục Kỹ thuật được chuyển ngành và sát nhập vào Viện Năng lượng nguyên tử Quốc gia, nâng tổng số cán bộ công nhân viên của Viện lên mức cao nhất lúc bấy giờ, 720 người

Tới đầu năm 1989, cơ cấu tổ chức của Viện theo Nghị định 87-HĐBT được thực hiện đầy đủ và do đó, Chính phủ đồng ý cho phép Viện dùng tên đối ngoại là Ủy ban Năng lượng nguyên tử Việt Nam (Vietnam Atomic Energy Commission)

- Sau chủ trương đổi mới của Đảng, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử cũng có những bước phát triển mới Năm 1989, Chính phủ ủy quyền cho Viện ký Hiệp định Bảo đảm (Safeguard) Cùng năm này,

Trang 30

Việt Nam thực sự bắt đầu tham gia tích cực vào Hợp tác vùng Châu Á - Thái Bình Dương về hạt nhân (RCA), dù đã là thành viên từ năm 1977 Năm 1990, Việt Nam bắt đầu thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với IAEA Viện đã tổ chức thành công Hội nghị RCA năm 1991 tại Thành phố Hồ Chí Minh và từ đó Việt Nam hoạt động như một thành viên đầy đủ của RCA Thời gian này, ở Hà Nội, sự phát triển về tổ chức, về nhiệm vụ cũng như về cơ sở vật chất đòi hỏi phải có sự phân cấp quản lý mới Do đó, bên cạnh Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt và Trung tâm Hạt nhân thành phố Hồ Chí Minh đều cho Thủ tướng hoặc Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng quyết định thành lập, ngày 21/01/1991, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ra quyết định thành lập Viện Khoa học và Kỹ thuật hạt nhân

và Viện Công nghệ xạ hiếm tại Hà Nội, tạo thành 4 đơn vị nghiên cứu và triển khai trực thuộc Viện Năng lượng nguyên tử Quốc gia ở 3 miền của đất nước

- Năm 1993, nhằm tập trung quản lý các đơn vị sự nghiệp nghiên cứu khoa học công lập về một mối chung, Chính phủ đã ban hành Nghị định 59/CP ngày 13/9/1993, chuyển Viện Năng lượng nguyên tử Quốc gia về trực thuộc Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ) và đổi tên thành Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam1.2 Hiện trạng Viện NLNTVN

và những kết quả đã đạt được trong hơn 35 năm hình thành và phát triển

2.1.2 Nguồn nhân lực và tổ chức bộ máy

Về nguồn nhân lực: Tính đến ngày 31/12/2018 toàn Viện có 745 cán

bộ, viên chức và người lao động, trong đó có 570 cán bộ biên chế, 175 cán bộ hợp đồng, viên chức trong biên chế và hợp đồng không xác định thời hạn được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, 570 cán bộ, viên chức ở các đơn vị trực thuộc thực hiện theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP của Chính phủ, 175 cán

bộ, nhân viên hợp đồng hưởng lương từ các nguồn kinh phí khác Trong toàn

bộ 810 cán bộ, nhân viên có 11 giáo sư và phó giáo sư, 52 tiến sỹ, 152 thạc

sỹ, 453 đại học, cao đẳng, còn lại 77 cán bộ trung cấp kỹ thuật và nhân viên phục vụ

Trang 31

Về cơ cấu tổ chức bộ máy: Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam có 3 cơ

quan tham mưu và 9 đơn vị trực thuộc:

- Khối Cơ quan gồm: Lãnh đạo Viện, Văn phòng, Ban Hợp tác quốc tế, Ban

Kế hoạch và Quản lý khoa học

- Khối các cơ quan nghiên cứu và triển khai gồm 9 đơn vị trực thuộc, có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng, đó là:

1) Viện Nghiên cứu hạt nhân;

2) Viện Khoa học và Kỹ thuật hạt nhân;

3) Viện Công nghệ xạ hiếm;

4) Trung tâm Hạt nhân thành phố Hồ Chí Minh;

5) Trung tâm Nghiên cứu và Triển khai công nghệ bức xạ;

6) Trung tâm Ứng dụng kỹ thuật hạt nhân trong công nghiệp;

7) Trung tâm Chiếu xạ Hà Nội;

8) Trung tâm Đánh giá không phá huỷ;

9) Trung tâm Đào tạo hạt nhân

- Hàng năm Bộ Khoa học và Công nghệ cấp cho Viện khoảng 150 tỷ đồng để tiến hành các hoạt động nghiên cứu và triển khai khoa học và công nghệ Đồng thời, thông qua hoạt động sản xuất, chuyển giao công nghệ và dịch vụ kỹ thuật, Viện cũng tạo được doanh thu khoảng 200 tỷ đồng mỗi năm.Viện đang quản lý, khai thác và sử dụng các thiết bị lớn như: lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt; các dây chuyền thiết bị sản xuất, điều chế đồng vị phóng xạ; các cơ sở sản xuất thử nghiệm quy mô nhỏ (dạng pilot) về xử lý quặng urani

Trang 32

và xử lý monazit; thiết bị chiếu xạ công nghiệp dùng nguồn Co-60 hoạt độ

400 kCi tại Thành phố Hồ Chí Minh; thiết bị chiếu xạ bán công nghiệp dùng nguồn Co-60 hoạt độ 200 kCi tại Hà Nội; 2 thiết bị chiếu xạ dùng nguồn Co-

60 với hoạt độ 16,5 kCi (1981) và 10 kCi (2007) phục vụ cho nghiên cứu tại Đà Lạt; máy gia tốc chùm tia điện tử EB để chiếu xạ khử trùng và bảo quản; máy gia tốc KOTRON 13MeV điều chế dược chất phóng xạ; các hệ thiết bị phân tích như khối phổ kế AAS, ICP-MS, GC-MS, HPLC-MS, các hệ phổ kế gamma, alpha, ; phòng chuẩn cấp II- kiểm định và hiệu chuẩn thiết bị đo lường bức xạ; phòng thí nghiệm thủy văn đồng vị, phòng thí nghiệm NDT… Đây là các trang thiết bị và phòng thí nghiệm hiện đại nhất ở nước ta trong lĩnh vực NLNT, có thể so sánh được với một số nước trong khu vực như Thái Lan, Malaysia, Philippines,

Ngoài những cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện có nói trên, trong tương lai gần, cơ sở vật - chất kỹ thuật do Viện quản lý sẽ tăng lên rất lớn do có sự đầu

tư của Nhà nước cho lĩnh vực này theo Đề án "Tăng cường năng lực nghiên cứu - triển khai và hỗ trợ kỹ thuật phục vụ phát triển ứng dụng năng lượng nguyên tử và bảo đảm an toàn, an ninh", và đặc biệt là có Trung tâm Khoa học và Công nghệ hạt nhân (theo Hiệp định hợp tác Việt - Nga đã ký kết) có

số vốn đầu tư dự kiến khoảng 540 triệu USD, với thiết bị chính là lò phản ứng

hạt nhân nghiên cứu mới và nhiều thiết bị nghiên cứu hiện đại khác

2.1.4 Các nhiệm vụ phát triển

Trong giai đoạn hiện nay, với các nhiệm vụ chính về:

- Nghiên cứu xây dựng chính sách, phương hướng, chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển ngành năng lượng nguyên tử Việt Nam;

- Thực hiện nghiên cứu cơ bản định hướng ứng dụng trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử, triển khai ứng dụng kỹ thuật hạt nhân và công nghệ bức xạ trong các ngành kinh tế - xã hội của đất nước;

- Nghiên cứu, tiếp thu, làm chủ và phát triển khoa học, kỹ thuật và công nghệ liên quan đến nhà máy điện hạt nhân;

Trang 33

- Thực hiện vai trò của cơ quan hỗ trợ kỹ thuật quốc gia độc lập về kiểm tra đánh giá và bảo đảm chất lượng, bảo đảm an toàn, an ninh hạt nhân

và bảo vệ môi trường, phục vụ cho chương trình phát triển điện hạt nhân

Viện NLNTVN là đơn vị nghiên cứu đầu ngành và duy nhất có vai trò rất quan trọng trên toàn quốc trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử

2.1.4.1 ghiên cứu phát triển các kỹ thuật hạt nhân, triển khai ứng dụng trong các lĩnh vực kinh tế- xã hội, phục vụ nền kinh tế quốc dân

Nghiên cứu phát triển các kỹ thuật đo liều bức xạ, kiểm chuẩn thiết bị bức xạ, đảm bảo an toàn bức xạ, quan trắc, cảnh báo phóng xạ môi trường Nghiên cứu ứng dụng công nghệ bức xạ và đồng vị phóng xạ trong các ngành

và lĩnh vực: công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng, giao thông, tài nguyên và môi trường, và y tế Các kỹ thuật kiểm tra không phá hủy (NDT) được ứng dụng trong viêc kiểm tra đánh giá chất lượng thiết bị, công trình Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật đột biến để tạo các giống mới cho nông nghiệp Nghiên cứu ứng dụng công nghệ bức xạ nhằm bảo quản, thanh trùng các sản phẩm nông sản, thủy hải sản, thuốc đông nam dược cũng như phục vụ xuất khẩu Nghiên cứu chế tạo các đồng vị, dược chất phóng xạ phục vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật đồng vị đánh dấu trong thăm

dò, khai thác, chế biến dầu khí, kỹ thuật thủy văn đồng vị trong đánh giá, quản lý tài nguyên nước ngầm

2.1.4.2 Đẩy mạnh hợp tác quốc tế để đáp ứng nhu cầu xây dựng tiềm lực, tiếp thu thành tựu khoa học công nghệ và hội nhập quốc tế

Để thực hiện tốt các nhiệm vụ trong giai đoạn tới trong việc phát triển điện hạt nhân ở Việt Nam thì Viện cần phải mở rộng quan hệ với các tổ chức quốc tế và song phương trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử theo cả chiều rộng và chiều sâu Viện phải được nâng tầm trong quan hệ quốc tế nhằm tiếp thu được những thành tựu khoa học công nghệ mới nhất trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử từ các nước công nghiệp hạt nhân phát triển, học tập các kinh nghiệm thực tiễn và đào tạo được đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ trình độ cao cho nước nhà

Trang 34

2.1.4.3 Triển khai xây dựng Trung tâm Khoa học và Công nghệ hạt nhân

Nhiệm vụ quan trọng và có ảnh hưởng quyết định đến việc phát triển

tiềm lực khoa học công nghệ ngành năng lượng nguyên tử của Việt Nam trong tương lai Trung tâm Khoa học và Công nghệ hạt nhân sẽ là cơ sở nghiên cứu khoa học và công nghệ hiện đại phục vụ cho các lĩnh vực về điện hạt nhân như: nâng cao năng lực, trình độ, đào tạo cán bộ trong tính toán, thiết

kế, phân tích đánh giá an toàn, hỗ trợ khoa học - kỹ thuật và công nghệ cho việc thực hiện các dự án hạt nhân nói chung, và nhà máy ĐHN nói riêng; tiếp thu, làm chủ công nghệ hạt nhân chuyển giao về Việt Nam Đồng thời, Trung tâm còn là cơ sở nghiên cứu và ứng dụng các kỹ thuật hạt nhân tiên tiến trong các ngành kinh tế - xã hội, là nơi tập hợp các chuyên gia giỏi trong nhiều lĩnh vực khoa học và công nghệ liên quan trong cả nước Trung tâm được xây dựng tại Viện NLNTVN, sẽ là cơ sở nghiên cứu hiện đại trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử ở nước ta và trong khu vực Đông Nam Á

2.1.4.4 Viện NLNTVN đang thực hiện nhiệm vụ đào tạo, huấn luyện cán bộ cho ngành năng lượng nguyên tử

Viện NLNTVN có Trung tâm đào tạo hạt nhân trực thuộc, cũng như có đủ năng lực về trang thiết bị nghiên cứu, đội ngũ cán bộ có trình độ thực hiện nhiệm

vụ bồi dưỡng, huấn luyện chuyên ngành năng lượng nguyên tử, điện hạt nhân cho các đơn vị liên quan trong cả nước Theo Quyết định số 1558/QĐ-TTg, Viện NLNTVN là 1 đơn vị tham gia, phối hợp với các trường đại học thực hiện đào tạo nguồn nhân lực cho điện hạt nhân và năng lượng nguyên tử

2.2 Thực trạng công tác quản lý các tổ chức KH&CN trực thuộc tại Viện

NLNTVN

2.2.1 Nguyên tắc quản lý chung

Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam điều hành theo chế độ thủ trưởng, đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy năng lực trách nhiệm

cá nhân của từng công chức, viên chức; quan hệ chặt chẽ với tổ chức Đảng,

Trang 35

các đoàn thể chính trị - xã hội Mỗi việc do một người phụ trách và chịu trách nhiệm chính

Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam quản lý thống nhất về định hướng phát triển khoa học và công nghệ đối với tất cả các đơn vị trực thuộc; chỉ tiêu biên chế và quy hoạch đào tạo, phát triển nguồn nhân lực; kế hoạch xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho nghiên cứu, triển khai; kế hoạch hợp tác quốc tế Đảm bảo tập trung tiềm lực khoa học công nghệ của các đơn

vị tạo nên sức mạnh tổng hợp của toàn viện

Hoạt động của Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam phải tuân thủ theo quy định của pháp luật, quy chế làm việc của Bộ KH&CN và các quy định về chức năng, nhiệm vụ

2.2.2 Thẩm quyền, phạm vi giải quyết công việc

1) Trách nhiệm của Viện trưởng

- Chủ động tổ chức thực hiện Quyết định của Bộ trưởng Bộ Khoa học

và Công nghệ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam Chịu trách nhiệm toàn diện, liên tục về mọi hoạt động của Viện trước Bộ trưởng và trước pháp luật;

Viện trưởng thực hiện thẩm quyền các công việc theo quy định phân cấp quản lý công chức viên chức của các đơn vị trực thuộc Bộ Khoa học và công nghệ Tiếp đó Viện trưởng thực hiện chỉ đạo các đơn vị thông qua phân cấp quản lý trong các đơn vị trực thuộc Viện

- Phân công các Phó Viện trưởng phụ trách một số lĩnh vực công tác Phân cấp cho Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Viện giải quyết một số vấn đề thuộc thẩm quyền của các đơn vị;

- Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra hoạt động của các đơn vị trực thuộc Viện trong việc thực hiện pháp luật, nhiệm vụ đã phân công, phân cấp thuộc lĩnh vực quản lý;

Trang 36

- Ký các văn bản báo cáo Lãnh đạo Bộ, quy hoạch phát triển Viện; Đề

án thành lập mới, giải thể, tổ chức lại các tổ chức thuộc Viện; quy chế chi tiêu nội bộ; Quy chế dân chủ ở cơ quan; phương án vay vốn tín dụng, hỗ trợ đầu tư; giao nhiệm vụ kế hoạch cho các đơn vị; phê duyệt quyết toán cho các đơn

vị theo phân cấp của Bộ KH&CN và phê duyệt các dự án đầu tư xây dựng được Bộ trưởng ủy quyền;

- Chủ trì tổ chức thực hiện chương trình, các đề tài, dự án và các nhiệm

vụ khác do Bộ trưởng giao;

- Bổ nhiệm, miễn nhiệm lãnh đạo các đơn vị trực thuộc, các Ban tham mưu và các chức danh khác; quyết định thành lập Hội đồng tư vấn, đi công tác, học tập ở nước ngoài; quyết định khen thưởng, kỷ luật, nâng lương theo phân cấp quản lý cán bộ của Bộ Khoa học và Công nghệ

2) Công tác quản lý, sử dụng công chức, viên chức

Quản lý số lượng, chất lượng, công chức, viên chức

Tổ chức công tác tuyển dụng sử dụng viên chức theo kế hoạch tuyển dụng đã được Bộ KH&CN phê duyệt; tiếp nhận, điều dộng, biệt phái, luân chuyển, chuyển công tác cho thôi việc, tạm đình chỉ công tác đối với công chức, viên chức (trừ các chức danh do Bộ trưởng quyết định) thuộc thẩm quyền quản lý của đơn vị

Quyết định thành lập các hội đồng: tuyển dụng công chức, viên chức; xét nâng lương trước thời hạn; khen thưởng kỷ luật theo thẩm quyền

Bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiện, tiếp nhân, diều động, luân chuyển, biệt phái công chức, viên chức (Trình Bộ trưởng xem xét quyết định bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm đối với cấp Phó viện trưởng, kế toán trưởng Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam; Trình Bộ trưởng phê duyệt chủ trương

bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm đối với chức vụ lãnh đạo đơn vị trực thuộc

có hệ số 0,8 trở lên; Quyết định bổ nhiệm bổ nhiệm lại đối với lãnh đạo các đơn

vị thuộc Khối cơ quan và đơn vị chưa được phân cấp như các trung tâm trực

Ngày đăng: 05/12/2019, 05:55

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w