Sự thay thế của Nghị định NĐ 54/2016/NĐ-CP đối với Nghị định 115/2005/NĐ-CP kỳ vọng sẽ giải quyết được những tồn tại, những bất cập đang có, tạo động lực cho các tổ chức khoa học công ng
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THU HIỀN
TĂNG CƯỜNG TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI ĐỀ ÁN BIÊN SOẠN BÁCH KHOA TOÀN THƯ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
HÀ NỘI - 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THU HIỀN
TĂNG CƯỜNG TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI ĐỀ ÁN BIÊN SOẠN BÁCH KHOA TOÀN THƯ VIỆT NAM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Đề tài nghiên cứu “Tăng cường tự chủ tài chính tại Đề án Biên soạn Bách khoa toàn thư Việt Nam” của luận văn này là kết quả của sự nghiên cứu,
cố gắng tìm tòi của bản thân tôi cùng với sự hướng dẫn nhiệt tình của giáo viên hướng dẫn khoa học PGS.TS Nguyễn Thị Hoài Lê Tôi xin cam đoan trong công trình nghiên cứu này không hề có bất kỳ sự trích dẫn nào mà không có dẫn nguồn, tác giả
Tôi xin cam đoan những lời trên đây là hoàn toàn đúng sự thật và tôi xin chịu toàn bộ trách nhiệm về tính chính xác của lời cam đoan này
Hà Nội, ngày ……tháng……năm 2019
Học viên
Nguyễn Thu Hiền
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, thực hiện và hoàn thiện đề tài nghiên cứu khoa học này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của cô giáo trực tiếp hướng dẫn, đại diện lãnh đạo cơ quan cùng toàn thể bạn bè, người thân Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới:
- PGS.TS Nguyễn Thị Hoài Lê, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện đề tài
- Gia đình, bạn bè cùng đồng nghiệp, đã luôn động viên, cổ vũ tôi hoàn thành đề tài này
Mặc dù đã cố gắng rất nhiều, nhưng đề tài nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong các thầy cô, những người quan tâm đến đề tài, người thân, bạn bè và đồng nghiệp tiếp tục có những ý kiến đóng góp để đề tài được hoàn thiện
Xin chân trọng cảm ơn!
Học viên
Nguyễn Thu Hiền
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NHỮNG VẦN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ 10
TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI CÁC TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CÔNG LẬP 10
1.2 Cơ chế tự chủ tài chính tại các tổ chức khoa học và công nghệ công lập 17
1.3 Tiêu chí đánh giá tự chủ tài chính 24
1.4 Kinh nghiệm thực hiện cơ chế tự chủ tài chính trong quản lý nghiên cứu khoa học công nghệ từ nguồn ngân sách nhà nước 28
Chương 2 36
THỰC TRẠNG TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI ĐỀ ÁN BIÊN SOẠN 36
BÁCH KHOA TOÀN THƯ VIỆT NAM 36
2.1 Tổng quan về Đề án Biên soạn Bách khoa toàn thư Việt Nam 36
2.2 Thực trạng về cơ chế tự chủ tài chính tại Đề án 44
Chương 3 66
GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI ĐỀ ÁN 66
BIÊN SOẠN BÁCH KHOA TOÀN THƯ VIỆT NAM 66
3.1 Bối cảnh và những cơ hội, thách thức tăng cường tự chủ tài chính tại các tổ chức khoa học và công nghệ công lập 66
3.2 Quan điểm về việc tăng cường tự chủ tài chính nhằm thúc đẩy công tác quản lý tài chính tại tổ chức khoa học công nghệ công lập 71
3.3 Giải pháp quản lý tài chính theo hướng tự chủ tài chính tại Văn phòng Đề án 73
3.4 Các kiến nghị đề xuất 78
KẾT LUẬN 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
BKTT Bách khoa toàn thư BCNĐA Ban chủ nhiệm Đề án CNNV Chủ nhiệm nhiệm vụ ĐVSN Đơn vị sự nghiệp KH&CN Khoa học và công nghệ HĐCĐ Hội đồng chỉ đạo
VPĐA Văn phòng đề án
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Hình 2.1: Cơ cấu tổ chức Văn phòng đề án 38
Hình 2.2: Ban chỉ đạo Đề án Biên soạn BKTT Việt Nam 42
Bảng 2.1: Nguồn kinh phí của VPĐA theo các năm 49
Bảng 2.2: Chênh lệch thu - chi các năm của VPĐA 52
Bảng 2.3: Trích lập quỹ qua từng năm 54
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Khoa học - công nghệ đã và đang trở thành động lực sản xuất trực tiếp và quan trọng, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam Nhiều nhà nghiên cứu xác định đây là “nhân tố vàng” để nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước Nhận thức được tầm quan trọng này, Đảng và Nhà nước ta trong những năm gần đây đã quan tâm nhiều tới phát triển khoa học – công nghệ cả về quy mô và chất lượng, một trong những chính sách thể hiện sự đặc biệt chú trọng tới KHCN là sự đổi mới quản lý tài chính công cho lĩnh vực khoa học công nghệ Kể từ 01/8/2016, các tổ chức khoa học và công nghệ có đã có một bước chuyển mình khi chuyển từ thực hiện cơ chế tự chủ theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP sang thực hiện theo Nghị định NĐ 54/2016/NĐ-CP ngày ngày 14/06/2016 của Chính phủ
Sự thay thế của Nghị định NĐ 54/2016/NĐ-CP đối với Nghị định 115/2005/NĐ-CP kỳ vọng sẽ giải quyết được những tồn tại, những bất cập đang có, tạo động lực cho các tổ chức khoa học công nghệ công lập phát triển với những quyền cụ thể hơn như: quyền tự chủ về tài chính, quyền tự chủ về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự, quản lý và sử dụng tài sản Tuy nhiên qua thực tế công tác tại Văn phòng Đề án Biên soạn Bách khoa toàn thư Việt Nam - đơn vị thuộc Viện Hàn lâm Khoa học học xã hội Việt Nam – một trong những cơ quan nghiên cứu khoa học hàng đầu của cả nước, nhận thấy đơn vị chưa phát huy hết được tự chủ của mình trong công tác quản lý tài chính Bản thân Đề án mới đi vào hoạt động, nhiệm vụ biên soạn Bách khoa toàn thư lần đầu tiên được thực hiện ở Việt Nam nên đang trong giai đoạn thử nghiệm,
mô hình tổ chức mới, nhân sự mới, phương thức tổ chức và hoạt động mới, nên việc thực hiện Đề án cũng như quản lý tài chính của Đề án còn nhiều vướng mắc Văn phòng Đề án được thành lập để giúp triển khai công việc,
Trang 9hoạt động và quản lý như một tổ chức khoa học công nghệ do Nhà nước đảm bảo chi thường xuyên theo Điều 3 Nghị định 54/2016/NĐ-CP và được giao tự chủ tài chính theo Quyết định số 2057/QĐ-KHXH của Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam Tuy nhiên VPĐA lại không phải đơn vị sự nghiệp có thu và nguồn thu đến thời điểm hiện tại hoàn hoàn từ ngân sách nhà nước cấp
Do đó việc thực hiện cơ chế tự chủ tài chính tại Đề án đang là bài toán cần tìm lời giải
Chính vì vậy tôi chọn đề tài “Tăng cường tự chủ tài chính tại Đề án
Biên soạn Bách khoa toàn thư Việt Nam" làm đề tài nghiên cứu cho luận
văn cao học của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Cho đến nay đã có nhiều nhà khoa học, đề tài, luận án nghiên cứu về đổi mới quản lý tài chính công nói chung và cơ chế tự chủ tài chính tại các đơn vị
sự nghiệp công lập nói riêng
Về đổi mới quản lý ngân sách nhà nước, có nhiều công trình nghiên cứu đã
làm rõ khái niệm, bản chất, các nhân tố ảnh hưởng cũng như những thách thức đặt
ra đối với cải cách tài chính công nói chung và tự chủ tài chính nói riêng
Tác giả Bùi Thị Minh Huyền trong cuốn “Một số vấn đề cơ bản về tài chính
công và cải cách tài chính công”, (2003), đã đề cập đến những vấn đề cơ bản về
lý thuyết tài chính công; đặc trưng và vài trò của tài chính công trong phát triển kinh tế - xã hội Cuốn sách cũng đánh giá thực trạng tài chính công ở Việt Nam và chỉ ra sự cần thiết phải cải cách tài chính công trong thời gian tới
Bài viết “Cải cách cơ chế tự chủ đối với đơn vị sự nghiệp công lập:
kinh nghiệm từ Trung Quốc” (Nguyễn Xuân Thắng, 2016) đã nghiên cứu
trình bày kinh nghiệm quản lý thu – chi tại các đơn vị sự nghiệp công lập của Trung Quốc, và rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong quản
lý các đơn vị sự nghiệp công lập theo cơ chế tự chủ
Trang 10Cùng với các nghiên cứu cá nhân đó, Chính phủ cũng nghiên cứu và soạn thảo nhiều đề án liên quan tới cải cách tài chính công, cụ thể là đổi mới
cơ chế tài chính theo hướng tự chủ tại các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc các lĩnh vực kinh tế - văn hóa - xã hội
Năm 2003, Bộ Tài chính tổng kết báo cáo tham luận của các bộ và địa phương triển khai thực hiện Nghị định 10/2002/NĐ-CP ngày 16/12/2002 của
Chính phủ về chế độ tài chính áp dụng cho các đơn vị sự nghiệp công lập có thu và Quyết định 192/2001/QĐ-TTG ngày 17/2/2001 của Thủ tướng chính phủ về mở rộng thí điểm khoán biên chế và kinh phí quản lý tài chính đối với
cơ quan hành chính sự nghiệp ở Hà Nội
Báo cáo tổng kết công tác thanh tra về thực hiện hiện cơ chế TCTC tại
các đơn vị hành chính và sự nghiệp công thời kỳ 2006 - 2010 tập trung tổng
hợp đánh giá phân tích những ưu điểm và hạn chế trong quá trình thực hiện
cơ chế tự chủ tài chính tại các đơn vị hành chính sự nghiệp được thanh tra; Tuy nhiên, báo cáo chưa hệ thống và phân tích được nguyên nhân của những bất cập của cơ chế tự chủ tài chính để kiến nghị điều chỉnh sửa đổi bổ sung phù hợp với tình hình thực tế
Về vấn đề tự chủ tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập, đã có
nhiều công trình nghiên cứu việc thực hiện đổi mới cơ chế quản lý tài chính theo hướng tự chủ tại các đơn vị sự nghiệp công lập, chủ yếu là tại các trường đại học như:
Luận án tiến sĩ “Hoàn thiện cơ chế tài chính của các trường đại học
công lập ở Việt Nam” (Trần Đức Cân, 2012) Luận án đã lý giải các căn cứ
khoa học đối với việc hình thành các tiêu chí để đánh giá hiệu quả của tự chủ tài chính trong các trường đại học công lập, như quy mô, cơ cấu vốn, cơ cấu chi phí, suất đầu tư trên sinh viên, công trình khoa học, tỷ lệ sinh viên trên giảng viên; Đánh giá và phân tích thực trạng cơ chế tự chủ tài chính của các
Trang 11trường đại học công lập bằng những nguồn số liệu phong phú, tác giả đánh giá về tính hiệu lực, tính hiệu quả, tính công bằng, tính ràng buộc, tính đồng thuận của các trường đại học công lập đối với cơ chế hiện hành Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn, đề xuất các giải pháp và kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại các trường đại học công lập phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam Song đề tài thiếu cách tiếp cận lịch sử - logic, do đó hoàn thiện cơ chế tài chính chưa được xem xét như một quá trình qua các giai đoạn gắn với sự hình thành và phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN của nước ta
Mặc dù vậy, các nghiên cứu về tự chủ trong lĩnh vực khoa học công nghệ hay cụ thể tại các đơn vị sự nghiệp khoa học công nghệ lại chưa được thực hiện nhiều Mới chỉ có một vài bài viết về quản lý tài chính cho hoạt động khoa học công nghệ chung chung hoặc hoạt động nghiên cứu khoa học trong đơn vị sự nghiệp giáo dục mà thôi
Bài viết “Cơ chế tài chính cho hoạt động khoa học và công nghệ ở Việt
Nam: Một số hạn chế và giải pháp hoàn thiện” (Nguyễn Hồng Sơn, 2012)
phân tích một số hạn chế của cơ chế tài chính hiện nay đối với hoạt động khoa học và công nghệ về huy động, phân bổ và sử dụng các nguồn lực tài chính cho khoa học và công nghệ Bài viết chỉ ra mặc dù chính phủ đã có nhiều chính sách, ưu đã về mặt tài chính cho KHCN nhưng các doanh nghiệp vẫn đầu tư ít bởi nhu cầu tự thân của các doanh nghiệp chưa cao, tiềm lực kinh tế
và quy mô doanh nghiệp còn hạn hẹp ; tăng cường hiệu quả trong việc phân
bổ các nguồn lực tài chính hiện hành lại chưa được chú trọng đúng mức và chưa có nhiều cải thiện; các quy định về quản lý chi tiêu đã góp phần đảm bảo chi NSNN đúng theo mục đích ban đầu khi lập dự toán nhưng cũng kéo theo một số hạn chế Từ đó, tác giả để xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế tài chính cho các hoạt động KHCN theo hai hướng: Nhà nước cần phải nhanh
Trang 12chóng tái cấu trúc lĩnh vực đầu tư công theo hướng tăng cường đầu tư cho KH&CN, giáo dục, y tế trên cơ sở giảm đầu tư vào các lĩnh vực khác kém hiệu quả và có thể thu hút được đầu tư của khu vực tư nhân thông qua các hợp đồng cùng góp vốn; Đồng thời Nhà nước cũng cần tiếp tục duy trì các khuyến khích hiện tại đối với việc nâng cao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các
tổ chức KH&CN trong lĩnh vực nghiên cứu ứng dụng Nhà nước sẽ chỉ tài trợ
cho các lĩnh vực nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu chính sách
Nghiên cứu của Nguyễn Trường Giang (2016), đã nêu được thực trạng về
cơ chế quản lý tài chính cho hoạt động KH&CN ở nước ta hiện nay, tham khảo kinh nghiệm của các nước để đưa ra kiến nghị, chỉ rõ giải pháp quan trọng nhất
là đổi mới đồng bộ cách thức tổ chức quản lý hoạt động KH&CN trong đó có đổi mới trong cơ chế quản lý tài chính, từ việc ưu tiên nguồn lực, nâng cao hiệu quả đầu tư ngân sách nhà nước cho KH&CN, huy động các nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước đến cải thiện khung hành lang pháp lý, hệ thống chính sách,
cơ chế quản lý tài chính… Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa chỉ ra các giải pháp
cụ thể, chi tiết cách làm và lộ trình triển khai Vì vậy, cần tiếp tục nghiên cứu để triển khai các ý tưởng được nêu trong nghiên cứu này
Luận án tiến sĩ của Đỗ Diệu Hương (2018) về “Đổi mới quản lý tài chính trong hoạt động khoa học xã hội: Trường hợp Viện hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam” đã trình bày thưc trạng quản lý tài chính trong hoạt động khoa học xã hội, lấy dẫn chứng tại Viện Hàn Lâm khoa học xã hội Việt Nam, là đơn vị công lập hàng đầu cả nước hoạt động trong lĩnh vực khoa học xã hội Kết quả nghiên cứu của luận án đã chỉ ra những thành công đạt được và hạn chế, nguyên nhân
về cơ chế chính sách quản lý của nhà nước trong quản lý tài chính cho hoạt động khoa học xã hội cũng như các hạn chế trong quản lý tài chính và triển khai thực hiện của các tổ chức khoa học và công nghệ hoạt động trong lĩnh vực khoa học
xã hội, trong đó nhấn mạnh những hạn chế cơ bản là: nguồn thu chủ yếu trong
Trang 13hoạt động KHXH vẫn là ngân sách Nhà nước cấp, khả năng khai thác các nguồn ngoài ngân sách của các tổ chức KH&CN hoạt động trong lĩnh vực KHXH còn hạn chế; việc phân bổ, xây dựng định mức chi cho hoạt động KHXH còn thiếu
cơ sở thực tiễn; trong quản lý chi ngân sách cho hoạt động KHXH còn nhiều phiền hà và bất cập Trên cơ sở đó, luận án đã để xuất hai nhóm giải pháp liên quan đến tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách quản lý tài chính trong hoạt động khoa học xã hội của cơ quan quản lý nhà nước và tiếp tục đổi mới quản lý tài chính tại các tổ chức khoa học công nghệ hoạt động trong lĩnh vực khoa học xã hội
Các công trình nghiên cứu nói trên đều nghiên cứu tập trung về tài chính công, cải cách tài chính công, cơ chế quản lý tài chính công theo hướng tự chủ tại các đơn vị sự nghiệp công lập Tuy nhiên, theo nhận thức của tác giả, chưa có công trình nghiên cứu có hệ thống về cơ chế tự chủ tài chính tại đơn
vị sự nghiệp khoa học công nghệ công lập Chính vì thế luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề tự chủ tài chính tại đơn vị sự nghiệp khoa học công nghệ công lập, lấy dẫn chứng số liệu từ Đề án Biên soạn BKTT Việt Nam với mong muốn ngoài làm rõ thêm cơ sở lý luận của tự chủ tài chính tại các đơn
vị sự nghiệp sự nghiệp khoa học công nghệ công lập, làm phong phú thêm các trường hợp cụ thể về tự chủ tài chính tại các đơn vị sự nghiệp sự nghiệp khoa học công nghệ, từ đó, cung cấp thêm các căn cứ, các luận điểm cho chương trình cải cách tài chính công theo hướng tự chủ mà Đảng và Nhà nước đang thực hiện
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu, đánh giá thực trạng thực hiện tự chủ tài chính tại
Đề án Biên soạn BKTT Việt Nam, từ đó đề xuất các kiến nghị, giải pháp
Trang 14nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tài chính theo hướng tự chủ tài chính, phát huy vai trò tự chủ tài chính cho Đề án
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập;
- Phân tích, đánh giá thực trạng tự chủ tài chính tại Đề án Biên soạn BKTT Việt Nam;
- Kiến nghị các giải pháp nhằm tăng cường quản lý tài chính theo hướng tự chủ tài chính, song song với việc phát huy tính tự chủ của chủ nhiệm nhiệm vụ khi thực hiện các nhiệm vụ khoa học
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề lý luận và thực tiễn về tự chủ tài chính đối với tổ chức khoa học và công nghệ công lập
Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Phạm vi không gian: để làm rõ bức tranh thực trạng tự chủ tài chính tại
tổ chức khoa học và công nghệ công lập, luận văn sẽ tập trung phân tích thực trạng thực hiện tự chủ tài chính tại Đề án Biên soạn Bách khoa toàn thư Việt Nam
Phạm vi không gian: nghiên cứu thực trạng thực hiện tự chủ tài chính tại
Đề án từ năm 2016 đến năm 2018
Văn phòng Đề án Biên soạn Bách khoa toàn thư (VPĐA) là đơn vị sử dụng ngân sách VPĐA có con dấu, tài khoản riêng, hoạt động giống như các viện nghiên cứu chuyên ngành của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam Mặc dù Văn phòng Đề án không phải tổ chức khoa học công nghệ nhưng được Viện Hàn lâm giao là tổ chức chủ trì giúp việc triển khai các nhiện vụ của Đề án Nhân sự thực hiện các nhiệm vụ có thể thuộc Văn phòng hoặc các nhà khoa học ngoài văn phòng Các hoạt động từ lập kế hoạch, phân bổ ngân
Trang 15sách thanh quyết toán cho thực hiện các nhiệm vụ đến các hoạt động bộ máy khác đều có quy trình thực hiện tương tự như các Viện nghiên cứu chuyên ngành của Viện Hàn lâm Do đó tính chất các nguồn thu cũng như các khoản chi của VPĐA cũng giống như của các đơn vị khác của Viện Hàn lâm
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các lý luận về tài chính công và đổi mới quản lý tài chính công để nghiên cứu vấn đề tự chủ tài chính tại các tổ chức khoa học công nghệ công lập Đề tài sử dụng phương pháp luận chủ đạo là duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Các phương pháp nghiên cứu cụ thể như:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết được sử dụng nhằm làm
rõ lý thuyết, hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn về tự chủ tài chính đối với tổ chức khoa học và công nghệ công lập trong chương 1 Trên cơ sở nghiên cứu, tổng hợp và kế thừa các tài liệu, kết quả nghiên cứu từ các sách, giáo trình, luận án, bài báo cũng như các Thông tư, Nghị định của Nhà nước, các văn bản của Viện Hàn lâm và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan
tự chủ tài chính, tác giả tiến hành tổng quan vấn đề nghiên cứu ở phần mở đầu, hệ thống hóa những lý luận cơ bản về tự chủ tài chính tại tổ chức KHCN công lập ở chương 1 bao gồm các khái niệm, nội dung, nguyên tắc thực hiện của cơ chế tự chủ tài chính tại các tổ chức KHCN công lập cũng như các nhân
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Trang 16Qua nghiên cứu đề tài “Tăng cường tự chủ tài chính tại Đề án Biên soạn
Bách khoa toàn thư Việt Nam”, luận văn mong muốn:
- Về mặt lý luận: luận văn góp phần hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn về cơ chế tự chủ tài chính, bao gồm khái niệm, nội dung và nguyên tắc, tính khách quan của tự chủ tài chính; làm rõ các tiêu chí đánh giá tự chủ tài chính và các nhân tố ảnh hưởng đến cơ chế tự chủ tài chính; nghiên cứu thực trạng tự chủ tài chính tại Đề án Biên soạn Bách khoa toàn thư Việt Nam, đề xuất những giải pháp góp phần hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại đơn vị, từ đó góp phần hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính các tổ chức khoa học và công nghệ nói chung và tổ chức khoa học công nghệ công lập nói riêng
- Về mặt thực tiễn: Các kết quả nghiên cứu thực trạng và giải pháp hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính của luận văn tại đơn vị có đặc thù cao như Văn phòng đề án Biên soạn bách khoa toàn thư Việt Nam có ý nghĩa áp dụng thực tiễn, làm cơ sở hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính đối với Đề án biên soạn Bách khoa toàn thư Việt Nam trong thời gian tới cũng như các đề án sử dụng ngân sách nhà nước có tính tương đồng trong tương lai Đồng thời, kết quả nghiên cứu có thể làm cơ sở tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu, và những người quan tâm tới các vấn đề quản lý tài chính công, tự chủ tài chính tại ĐVSN khoa học công nghệ công lập
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn có kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về tự chủ tài chính tại các
tổ chức khoa học và công nghệ công lập
Chương 2: Thực trạng về cơ chế tự chủ tài chính tại Đề án Biên soạn Bách khoa toàn thư Việt Nam
Chương 3: Giải pháp tăng cường tự chủ tài chính tại Đề án Biên soạn Bách khoa toàn thư Việt Nam
Trang 17Chương 1 NHỮNG VẦN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI CÁC TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ
CÔNG NGHỆ CÔNG LẬP
1.1 Khái quát về tổ chức khoa học và công nghệ công lập
1.1.1 Hoạt động khoa học công nghệ
Khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển
của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy [22]
Như vậy thực chất của khoa học là sự khám phá các hiện tượng các thuộc tính vốn tồn tại một cách khách quan Sự khám phá này đã làm thay đổi nhận thức của con người tạo điều kiện nghiên cứu, ứng dụng hiểu biết này vào thực tế Khoa học là kết quả nghiên cứu của quá trình hoạt động thực tiễn, nhưng đến lượt mình nó lại có vai trò to lớn tác động mạnh mẽ trở lại hoạt động sản xuất, con người hoàn toàn có khả năng đưa khoa học thành lực lượng sản xuất trực tiếp
Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc
không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm [22]
Trước đây cách hiểu truyền thống thường đồng nhất công nghệ với kỹ thuật, thiết bị mà không lưu ý với thực tế vận hành, tay nghề của công nhân, năng lực tổ chức quản lý hoạt động sản xuất, do vậy thuật ngữ “công nghệ” thường được dùng thay cho thuật ngữ “kỹ thuật” việc hiểu đúng nội dung
“công nghệ” như hiện nay đặc biệt có ý nghĩa quan trọng, khi công nghệ thực
sự trở thành nhân tố quyết định khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường trong nước cũng như quốc tế
Trang 18Khác với khoa học các giải pháp kĩ thuật của công nghệ đóng góp trực tiếp vào sản xuất và đời sống nên nó được sự bảo hộ của nhà nước dưới hình thức sở hữu công nghiệp’ và do đó nó là thứ hàng để mua bán
Khoa học và công nghệ có nội dung khác nhau nhưng chúng lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Mối liên hệ chặt chẽ này thể hiện ở chỗ khi còn ở trình độ thấp, khoa học tác động tới kĩ thuật và sản xuất còn rất yếu, nhưng đã phát triển đến trình độ cao như ngày nay thì nó tác động mạnh mẽ và trực tiếp tới sản xuất Khoa học và công nghệ, là kết quả sự vận dụng những hiểu biết, tri thức khoa học của con người để sáng tạo cải tiến các công cụ, phương tiệ phục vụ cho sản xuất và các hoạt động khác
Hoạt động khoa học và công nghệ là hoạt động nghiên cứu khoa học,
nghiên cứu và triển khai thực nghiệm, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, phát huy sáng kiến và hoạt động sáng tạo khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ [22]
Nhiệm vụ của hoạt động khoa học và công nghệ là:
- Xây dựng lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam; xây dựng luận cứ khoa học cho việc định ra đường lối, chính sách, pháp luật về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh; góp phần xây dựng nền giáo dục tiên tiến, xây dựng con người mới Việt Nam; kế thừa và phát huy giá trị truyền thống lịch sử, văn hoá dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại và đóng góp vào kho tàng văn hoá, khoa học của thế giới
- Nâng cao năng lực khoa học và công nghệ để làm chủ công nghệ tiên tiến, công nghệ cao, phương pháp quản lý tiên tiến; sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khỏe con người; kịp thời dự báo, phòng, chống, hạn chế và khắc phục hậu quả thiên tai
Trang 19- Tiếp thu thành tựu khoa học và công nghệ của thế giới để tạo ra, ứng dụng có hiệu quả công nghệ mới; tạo ra sản phẩm mới có sức cạnh tranh cao; phát triển nền khoa học và công nghệ Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực, tiếp cận với trình độ thế giới, làm cơ sở vững chắc cho việc phát triển các ngành công nghiệp hiện đại; đẩy mạnh việc phổ biến và ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ vào sản xuất và đời sống
Nguyên tắc hoạt động khoa học và công nghệ là:
- Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh, phát triển khoa học và công nghệ
- Xây dựng và phát huy năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ kết hợp với việc tiếp thu có chọn lọc thành tựu khoa học và công nghệ của thế giới, phù hợp với thực tiễn Việt Nam
- Bảo đảm quyền tự do sáng tạo, phát huy dân chủ trong hoạt động khoa học và công nghệ vì sự phát triển của đất nước
- Trung thực, khách quan, đề cao đạo đức nghề nghiệp, tự chủ, tự chịu trách nhiệm
- Bảo đảm an toàn tính mạng, sức khỏe con người, bảo vệ môi trường
1.1.2 Tổ chức khoa học và công nghệ công lập
Tổ chức Khoa học và công nghệ (KHCN) được định nghĩa trong Luật Khoa học và công nghệ 2013 là tổ chức có chức năng chủ yếu là nghiên cứu khoa học, nghiên cứu triển khai và phát triển công nghệ, hoạt động dịch vụ khoa học và công nghệ, được thành lập và đăng ký hoạt động theo quy định của pháp luật [22]
Theo quy định tại Điều 9 Luật khoa học và công nghệ năm 2013 thì hình thức và phân loại tổ chức khoa học và công nghệ tại Việt Nam được quy định
cụ thể như sau:
- Hình thức của tổ chức khoa học và công nghệ được quy định như sau:
Trang 20+ Tổ chức nghiên cứu khoa học, tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ được tổ chức dưới hình thức viện hàn lâm, viện, trung tâm, phòng thí nghiệm, trạm nghiên cứu, trạm quan trắc, trạm thử nghiệm và hình thức khác do Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định;
+ Cơ sở giáo dục đại học được tổ chức theo quy định của Luật giáo dục đại học;
+ Tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ được tổ chức dưới hình thức trung tâm, văn phòng, phòng thử nghiệm và hình thức khác do Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định
- Tổ chức khoa học và công nghệ được phân loại như sau:
+ Theo thẩm quyền thành lập, tổ chức khoa học và công nghệ gồm các loại quy định tại khoản 1 Điều 12 của Luật khoa học và công nghệ năm 2013; + Theo chức năng, tổ chức khoa học và công nghệ gồm tổ chức nghiên cứu cơ bản, tổ chức nghiên cứu ứng dụng, tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ;
+ Theo hình thức sở hữu, tổ chức khoa học và công nghệ gồm tổ chức khoa học và công nghệ công lập, tổ chức khoa học và công nghệ ngoài công lập, tổ chức khoa học và công nghệ có vốn nước ngoài
Tổ chức khoa học và công nghệ công lập là tổ chức khoa học và công nghệ do cơ quan có thẩm quyền quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e và g Khoản 1 Điều 12 Luật khoa học và công nghệ và do tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, thành lập và đầu tư [22]
Từ một cách tiếp cận khác, tổ chức KHCN công lập được nhận định là tương đồng với đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động trong lĩnh vực khoa học
và công nghệ bởi các đặc điểm về cơ quan thành lập, tính chất hoạt động và
cơ cấu nguồn tài chính của các tổ chức này
Trang 21Đơn vị sự nghiệp (ĐVSN) là những tổ chức được thành lập để thực hiện các HĐSN, những hoạt động này nhằm duy trì và đảm bảo sự hoạt động bình thường của xã hội, không nhằm mục đích thu lợi nhuận.Với cách hiểu này, ĐVSN là đơn vị không có tính chất xí nghiệp, lấy phát triển kinh tế, văn hóa
và phúc lợi xã hội làm mục tiêu, nhân viên các ĐVSN thuộc sở hữu toàn dân thuộc biên chế sự nghiệp Nguồn kinh phí chủ yếu dựa vào cấp phát kinh phí
sự nghiệp của NSNN, một phần dựa vào thu nhập bản thân của hoạt động sự nghiệp [28, tr.664]
Tùy theo yêu cầu quản lý của nhà nước cũng như chức năng nhiệm vụ của từng đơn vị mà có nhiều cách phân loại các ĐVSN khác nhau
Căn cứ vào chuyên ngành hoạt động của ĐVSN, có thể phân loại các ĐVSN theo các lĩnh vực như y tế; giáo dục, đào tạo; văn hóa; thể dục thể thao; khoa học công nghệ… Đây là cách phân loại theo chiều dọc, tuy nhiên trên thực tế có rất nhiều ĐVSN tham gia hoạt động đồng thời ở nhiều lĩnh vực
Căn cứ vào cơ quan trực tiếp quản lý, có thể chia ĐVSN thành 4 nhóm: ĐVSN thuộc các cơ quan hành chính nhà nước; ĐVSN trực thuộc các đơn vị
sự nghiệp công; ĐVSN thuộc các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội – nghề nghiệp; ĐVSN trực thuộc các doanh nghiệp nhà nước Cách phân loại này phân biệt rõ các cấp quản lý trực tiếp đối với các ĐVSN công, từ đó có sự rõ ràng trong giao nhiệm vụ và cấp kinh phí hoạt động
- Căn cứ quy định của Luật Ngân sách nhà nước, các ĐVSN công lập được phân thành đơn vị dự toán cấp I, đơn vị dự toán ngân sách, đơn vị sử dụng ngân sách: Đơn vị dự toán cấp I là đơn vị dự toán ngân sách được Thủ tướng Chính phủ hoặc Ủy ban nhân dân giao dự toán ngân sách.
- Đơn vị dự toán ngân sách là cơ quan, tổ chức, đơn vị được cấp có thẩm quyền giao dự toán ngân sách
Trang 22- Đơn vị sử dụng ngân sách là đơn vị dự toán ngân sách được giao trực tiếp quản lý, sử dụng ngân sách
1.1.3 Tài chính công và tài chính tổ chức khoa học và công nghệ công lập
Tài chính công là một phạm trù gắn với hoạt động thu và chi bằng tiền của nhà nước, phản ánh hệ thống các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị trong quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ của nhà nước nhằm phục vụ việc thực hiện những chức năng vốn có của nhà nước đối với xã hội (không vì mục tiêu lợi nhuận)
Nội dung của tài chính công bao gồm: Ngân sách nhà nước (NSNN) từ trung ương đến địa phương; dự trữ nhà nước; tín dụng nhà nước; ngân hàng nhà nước; tài chính của các cơ quan hành chính nhà nước, tài chính của các đơn vị sự nghiệp nhà nước; các quỹ tài chính nhà nước (đối với nước ta)
Trong đó NSNN là bộ phận quan trọng nhất, chi phối đến các thành tố khác Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được
dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm
vụ của Nhà nước
Tài chính các đơn vị sự nghiệp công lập, trong đó bao gồm các tổ chức KHCN công lập, là một bộ phận của tài chính công Nguồn tài chính cho các đơn vị này hoạt động chủ yếu dựa vào những khoản cấp phát theo chế độ từ NSNN Ngoài ra còn một số khoản thu khác có nguồn gốc từ NSNN, các khoản thu do đơn vị tự khai thác, hoặc từ quyên góp, tặng, biếu không phải nộp NSNN
Nói rõ hơn, tài chính của các tổ chức KHCN công lập không giống tài chính của doanh nghiệp Xét về nguồn thu: Nếu doanh nghiệp có nguồn tài chính đa dạng, từ vốn chủ sở hữu, vốn cổ phần, vốn vay… thì nguồn tài chính
Trang 23của tổ chức KHCN công lập chỉ chủ yếu là khoản tài trợ từ ngân sách nhà nước Nếu doanh nghiệp có thể chủ động gia tăng vốn bằng cách huy động từ nhiều nguồn khác nhau từ mọi chủ thể kinh tế, thì tổ chức KHCN công lập lại chỉ có thể mở rộng nguồn thu từ các kinh phí NSNN, từ các khoản thu phí, lệ phí theo đúng luật định Xét về phân phối và sử dụng tài chính: Doanh nghiệp được chủ động sử dụng toàn bộ nguồn tài chính của mình trong tổ chức và hoạt động Trong khi đó, tại các tổ chức KHCN công lập, các khoản chi phải được thực hiện theo đúng các định mức đã quy định trong các văn bản pháp luật liên quan
Tóm lại, tài chính trong các tổ chức KHCN công lập vì sử dụng NSNN nên bị ràng buộc bởi các định mức và khoản chi theo các văn bản quy định của nhà nước và cơ quan chủ quản Điều này ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả hoạt động của các tổ chức KHCN công lập, ảnh hưởng tới chất lượng các dịch vụ công cũng như hiệu lực quản lý của nhà nước
Chính vì thế, cải cách tài chính công là một đòi hỏi khách quan và phù hợp với các điều kiện đảm bảo tính khả thi của nó, xuất phát từ thực trạng tài chính công hiện nay và yêu cầu về cải cách hành chính nhà nước trong thời gian tới Đối với tài chính các đơn vị sự nghiệp công lập: định mức, chế độ chi tiêu còn chưa hợp lý, thiếu cụ thể, không đồng bộ Cơ chế quản lý biên chế, quản lý kinh phí ngân sách còn bất cập, chưa tạo động lực khuyến khích
sử dụng kinh phí tiết kiệm, hiệu quả, dẫn đến tình trạng lãng phí khả phổ biến
Tăng cường tự chủ tài chính tại các đơn vị hành chính sự nghiệp công lập trên cơ sở gắn chi tiêu tài chính với việc cải tiến cơ chế quản lý các đơn vị này là một trong các giải pháp nhằm cải cách tài chính công đang được thực hiện
Trang 241.2 Cơ chế tự chủ tài chính tại các tổ chức khoa học và công nghệ công lập
1.2.1 Khái niệm cơ chế tự chủ tài chính
Trong lĩnh vực kinh tế nói chung và tài chính nói riêng, sự vận hành các phạm trù thuộc lĩnh vực này luôn chịu sự chi phối của (i) các quy luật kinh tế/tài chính đã và đang tồn tại trong môi trường kinh tế nhất định; (ii) con người đưa ra những cách thức để hướng sự vận động của các phạm trù kinh tế/tài chính mang tính quy luật khách quan theo những mục đích chủ quan của
mình Với cách tiếp cận như vậy, có thể hiểu cơ chế tự chủ tài chính là cơ chế
quản lý nhằm tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị về các mặt hoạt động tài chính, tổ chức bộ máy và sắp xếp lao động qua đó làm tăng chất lượng hoạt động và cung cấp dịch vụ của đơn vị Nói cách khác, đây
là hệ thống các nguyên tắc, luật định, chính sách, công cụ về quản lý tài chính
và mối quan hệ tài chính giữa các đơn vị dự toán các cấp với cơ quan chủ quản và cơ quan quản lý nhà nước trong những điều kiện cụ thể nhằm đạt
được các mục tiêu nhất định
Cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công được định nghĩa tại Khoản 1 Điều 3 Nghị định 16/2015/NĐ-CP Quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự
nghiệp công lập như sau: “Cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công” là các
quy định về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ,
tổ chức bộ máy, nhân sự và tài chính của đơn vị sự nghiệp công [10] Bản
chất của tự chủ là sự phân chia quyền lực từ nhà nước tới cơ sở hoạt động sự nghiệp Tự chủ tài chính là một nội dung trong tự chủ hoạt động của tổ chức KHCN
Có thể tóm tắt nội hàm của tự chủ tài chính đối với các tổ chức KHCN công lập như sau:
- Tự chủ tài chính là phương thức quản lý tài chính trong nền kinh tế thị trường Điều này hoàn toàn khác với phương thức quản lý tài chính theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp là căn cứ vào kế hoạch nhà nước giao,
Trang 25NSNN cấp toàn bộ kinh phí hoạt động cho đơn vị Tự chủ tài chính là phương thức quản lý tài chính trong đó tổ chức KHCN công lập là những chủ thể độc lập, tự quyết định các hoạt động sự nghiệp về tài chính, nhà nước không can thiệp trực tiếp vào các quan hệ tài chính của đơn vị Nhà nước thực hiện chức năng quản lý của mình thông qua cơ chế, chính sách tài chính, hỗ trợ và các hợp đồng được đặt hàng của chính phủ Nhà nước đóng vai trò là “người đại diện xã hội” “mua” lại các dịch vụ của tổ chức KHCN công lập Hay nói cách khác, đây chính là phương thức quản lý chi NSNN theo kết quả đầu ra
- Tự chủ tài chính đối với tổ chức KHCN công lập được thực hiện trên
cơ sở nhà nước trao quyền tự quyết định và tự chịu trách nhiệm về hoạt động tài chính, đồng thời tạo điều kiện pháp lý cần thiết cho tổ chức KHCN thực hiện quyền tự chủ của mình về tài chính Trong khung khổ các quy định, các văn bản quy phạm pháp luật, đối với từng loại tổ chức KHCN công lập theo quy định của Chính phủ, từng nhóm được giao quyền quyết định trong huy động, phân bổ và sử dụng các nguồn tài chính gắn với nhiệm vụ, trách nhiệm của mình
- Tự chủ tài chính trong tổ chức KHCN công lập được thực hiện một cách đầy đủ và tập trung ở việc tự cân đối thu – chi qua các kỳ kế toán Tự chủ tài chính và cân đối thu – chi của tổ chức KHCN công lập là hai mặt của một quá trình Một mặt tự chủ tài chính nhằm tự cân đối được thu – chi, mặt khác tổ chức KHCN công lập có tự cân đối được thu – chi thì mới thực hiện được quyền tự chủ tài chính trên thực tế
Đối với các tổ chức KHCN công lập, cơ chế tự chủ tài chính được hiểu
là cơ chế theo đó các đơn vị công được trao quyền tự quyết định, tự chịu trách nhiệm về các khoản thu, khoản chi của đơn vị mình, nhưng không vượt quá mức khung do Nhà nước quy định
Đơn vị thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm phải là đơn vị dự toán độc lập, có con dấu và tài khoản riêng, tổ chức bộ máy kế toán theo quy định của Luật Kế toán
Trang 26Tự chủ tài chính đối với tổ chức KHCN công lập nhằm mục đích đảm bảo cho tổ chức KHCN công lập không ngừng phát triển và hoàn thiện, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về dịch vụ công của xã hội, hoàn thành các nhiệm
vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Mục tiêu của cơ chế tự chủ tài chính đối với các tổ chức KHCN công lập là:
Thứ nhất, trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho đơn vị trong việc
tổ chức công việc, sắp xếp lại bộ máy, sử dụng lao động và nguồn lực tài chính để hoàn thành nhiệm vụ được giao; phát huy mọi khả năng của đơn vị
để cung cấp dịch vụ với chất lượng cao cho xã hội; tăng nguồn thu, nhằm từng bước giải quyết thu nhập cho người lao động; phát huy tính sáng tạo, năng động, xây dựng “thương hiệu riêng” cho đơn vị mình
Thứ hai, thực hiện chủ trương xã hội hóa trong việc cung cấp dịch vụ cho xã hội, huy động sự đóng góp của cộng đồng xã hội để phát triển các hoạt động sự nghiệp, từng bước giảm dần bao cấp từ ngân sách nhà nước
Thứ ba, thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với tổ chức công lập, Nhà nước vẫn quan tâm đầu tư để hoạt động sự nghiệp ngày càng phát triển; bảo đảm cho các đối tượng chính sách - xã hội, đồng bào dân tộc thiểu
số, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn được cung cấp dịch vụ theo quy định ngày càng tốt hơn
1.2.2 Nội dung và nguyên tắc thực hiện tự chủ tài chính tại các tổ chức khoa học và công nghệ công lập
Các tiếp cận về khái niệm cho thấy nội dung của cơ chế tự chủ tài chính
là một văn bản pháp luật chứa đựng những quy định về quyền tự chủ tài chính của tổ chức KHCN công lập Nó là một tập hợp những quy định nhằm chuyển đổi quyền hạn ra quyết định về tài chính của nhà nước sang các đơn vị hành chính sự nghiệp, để hoạt động độc lập trong lĩnh vực tài chính
Nội dung của cơ chế tự chủ tài chính tại các tổ chức khoa học và công nghệ công lập được quy định tại Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ký ngày
Trang 275/9/2005 và được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 96/2010/NĐ-CP ký ngày 20/9/2010 áp dụng cho các tổ chức nghiên cứu khoa học, tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ có
tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng, do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập Hiện nay, các tổ chức khoa học và công nghệ công lập thực hiện cơ chế tự chủ theo Nghị định 54/2016/NĐ-CP ngày 14 tháng 6 năm 2016 Theo đó, quyền tự chủ của tổ chức khoa học và công nghệ công lập bao gồm quyền tự chủ về tài chính, thực hiện nhiệm vụ,
tổ chức bộ máy, nhân sự, quản lý và sử dụng tài sản Trong khuôn khổ luận văn chỉ nghiên cứu nội dung tự chủ tài chính của tổ chức khoa học và công nghệ công lập
Về mặt tài chính, các tổ chức khoa học và công nghệ công lập được thực hiện tự chủ trong quản lý, khai thác nguồn thu và sử dụng nguồn tài chính của mình
Tự chủ trong quản lý và khai thác các nguồn thu bao gồm: a) Nguồn
thu từ hoạt động khoa học và công nghệ, sản xuất, kinh doanh, liên doanh, liên kết và nguồn thu hợp pháp khác; b) Nguồn thu phí theo pháp luật về phí,
lệ phí được để lại để chi hoạt động thường xuyên và chi mua sắm, sửa chữa lớn trang thiết bị, tài sản phục vụ công tác thu phí; c) Nguồn thu từ ngân sách nhà nước nếu được cơ quan có thẩm quyền giao để thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ, nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng, dịch vụ sự nghiệp công; d) Nguồn thu từ ngân sách nhà nước để thực hiện các nhiệm vụ không thường xuyên nếu được cơ quan có thẩm quyền giao, bao gồm: Kinh phí thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình, dự án, đề án khác; kinh phí đối ứng thực hiện các dự án; vốn đầu tư phát triển; kinh phí mua sắm trang thiết bị phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt; kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cơ quan có thẩm quyền giao;đ) Nguồn vốn vay, viện trợ, tài trợ theo quy định hiện hành.[11]
Trang 28Tự chủ tài chính yêu cầu các tổ chức KHCN quản lý và khai thác các nguồn thu theo đúng chế độ, đúng phạm vi và định mức, phải đưa vào dự toán
và được quản lý, hoạch toán đúng pháp luật Các khoản thu đảm bảo tính công khai, minh bạch, kết hợp chặt chẽ giữa yếu tố thẩm quyền và trách nhiệm
Tự chủ trong sử dụng nguồn tài chính tại các tổ chức KHCN công lập
là tự chủ trong quản lý các loại chi phí phát sinh khi đơn vị hoạt động sự nghiệp
- Chi thường xuyên: là các khoản chi hoạt động theo chức năng, nhiệm
vụ được giao Các khoản chi thường xuyên bao gồm: Chi tiền lương, tiền công, phụ cấp, BHXH, tiền thưởng; Chi hoạt động chuyên môn, chi quản lý; Chi mua hàng hóa dịch vụ như điện, nước, xăng dầu, văn phòng phẩm, thông tin liên lạc, công tác phí, thuê mướn, sửa chữa… và những chi phí khác phục
vụ hoạt động thường xuyên của đơn vị
- Chi không thường xuyên: chi đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm thiết
bị, sửa chữa lớn… và các khoản chi khác theo quy định
Yêu cầu chi tiêu tài chính là các khoản chi phải đúng, đảm bảo định mức, hợp lý; đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả, chính xác, trung thực; chấp hành nghiêm chế độ tài chính kế toán của nhà nước và đơn vị Việc cân bằng giữa quyền quản lý và trách nhiệm là cốt lõi trong quản lý chi tiêu tổ chức công lập Đơn vị cần được giao quyền hạn rõ ràng trong phân bổ nguồn lực để thực hiện cung cấp dịch vụ một cách nhanh chóng và hiệu quả nhất Nhưng đồng thời cũng cần gắn trách nhiệm cụ thể Áp dụng cơ chế khoán chi cho phép các đơn vị tự hạch toán theo đúng quy định vừa đảm bảo tính độc lập vừa đảm bảo tính đặc thù của mỗi đơn vị Các đơn vị được tự xác định mức chi trả thu nhập tăng thêm cho cán bộ viên chức theo quy chế chi tiêu nội bộ; được tự chủ trong trích lập các quỹ nhằm phân phối hợp lý kết quả tài chính
Quản lý tài chính theo hướng tự chủ tại tổ chức KHCN khoa học và công nghệ công lập cần tuần thủ các nguyên tắc:
Trang 29- Bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao Đối với hoạt động sản xuất hàng hóa, cung cấp dịch vụ phải phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao, phù hợp với khả năng chuyên môn và tài chính của đơn vị
- Thực hiện công khai, dân chủ theo quy định của pháp luật, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của cán bộ công chức viên chức và người lao động
- Thực hiện quyền tự chủ phải gắn với tự chịu trách nhiệm trước cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp và trước pháp luật về những quyết định của mình; đồng thời chịu sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
- Bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật
1.2.3 Tính khách quan của thực hiện cơ chế tự chủ tài chính tại tổ chức khoa học và công nghệ công lập
Thực hiện Chiến lược phát triển KH&CN giai đoạn 2011 – 2020, nguồn lực đầu tư từ NSNN cho phát triển KH&CN tiếp tục được mở rộng và tăng cường, góp phần quan trọng trong việc thực hiện có kết quả các nhiệm vụ về phát triển KH&CN nói riêng và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội nói chung của đất nước Trong giai đoạn 2016 - 2019, mặc dù điều kiện NSNN còn gặp nhiều khó khăn, nhưng bố trí chi NSNN cho phát triển hoạt động KH&CN luôn ưu tiên năm sau tăng cao hơn so với năm trước Tổng dự toán chi NSNN
sự nghiệp KH&CN giai đoạn 2016 - 2019 đã được Quốc hội thông qua tại các nghị quyết về về phân bổ ngân sách hàng năm là 46.729 tỷ đồng Nguồn lực tài chính cho phát triển KH&CN đã được bố trí tăng dần trong những năm gần đây, theo đó trong năm 2019, tổng chi sự nghiệp cho KH&CN 12.825 tỷ đồng, tăng khoảng 22% so với năm 2016 [34]
Tuy nhiên cơ chế quản lý tài chính đối với hoạt động khoa học công nghệ vẫn còn bất cập Nước ta đã bước vào nền kinh tế thị trường, nhưng hoạt động KH&CN còn chịu nhiều quy định mang nặng tính hành chính, tư duy của thời bao cấp kế hoạch hóa Trước hết là công tác xây dựng kế hoạch cho
Trang 30các đề tài, dự án KH&CN hàng năm Việc áp đặt cơ chế kế hoạch hóa cứng nhắc trong xây dựng các nhiệm vụ KH&CN có nhiều điểm giống như đối với các hoạt động khác là điều làm giới khoa học bức xúc Cùng với đó, tất cả nhiệm vụ KH&CN khi xây dựng và phê duyệt phải kèm theo dự toán kinh phí chi tiết với các nội dung chi cụ thể theo các định mức được quy định mà thực
tế đối với việc nghiên cứu khoa học, không phải tất cả nội dung đều có thể xác định cụ thể được từ trước khi triển khai Hơn nữa, hệ thống định mức thấp
và lạc hậu dẫn tới tình trạng các nhà khoa học phải lập dự toán kinh phí bằng cách chia nhỏ nội dung thành hàng trăm nội dung chi tiết để hợp thức hóa chứng từ Điều này trái với tính trung thực của hoạt động nghiên cứu và làm nản lòng các nhà khoa học Việc điều chỉnh nội dung và kinh phí thực hiện nhiệm vụ KH&CN phù hợp với thực tế, đảm bảo hiệu quả nghiên cứu cũng là vấn đề phức tạp và gây mệt mỏi Thêm vào đó, thủ tục thanh quyết toán đề tài, dự án hiện vẫn rườm rà, phức tạp
Ở các quốc gia có nền KH&CN phát triển, Nhà nước thực hiện giao quyền tự chủ tối đa cho các nhà khoa học với quy định rõ ràng về quyền hạn
và trách nhiệm Cơ quan nhà nước có thẩm quyền phân bổ ngân sách và giám sát việc thực hiện Các nhà khoa học có thể đề xuất đề tài, dự án nghiên cứu bất kỳ khi nào cần thiết, hệ thống quỹ về KH&CN sẽ là nơi đánh giá, lựa chọn các nghiên cứu được đề xuất, sau đó tài trợ kinh phí và theo dõi quá trình thực hiện Các cơ quan có trách nhiệm của Chính phủ và Quốc hội có quyền kiểm tra chi tiêu, chống tham nhũng, lạm quyền cũng như kiểm tra việc thực hiện quy định của Nhà nước đối với các cơ sở nghiên cứu và đối với các nhà khoa học Cơ chế này phù hợp với đặc thù sáng tạo của hoạt động KH&CN đó là tính rủi ro (mạo hiểm), tính trễ và tính thực tiễn Vì thế, người làm khoa học phải được trao quyền tự chủ cao, nhưng kèm theo đó trách nhiệm nặng
nề đối với sản phẩm khoa học của họ, thôi thúc họ dành trọn tâm huyết cho nghiên cứu
Trang 31Chính vì vậy, cải cách quản lý tài chính công, tăng cường thực hiện cơ chế tự chủ tại các tổ chức KHCN lập sẽ là điều kiện tiên quyết cho đổi mới hoạt động của đơn vị, giúp các đơn vị đẩy mạnh tự chủ trong thực hiện nhiệm
vụ được giao; phát huy mọi khả năng để trở thành cơ sở cung cấp dịch vụ sự nghiệp công có uy tín, chất lượng
Thứ nhất, trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho tổ chức KHCN trong việc tổ chức công việc, sắp xếp lại bộ máy, sử dụng lao động và nguồn lực tài chính để hoàn thành nhiệm vụ được giao, điều này sẽ giúp phát huy mọi khả năng của đơn vị để cung cấp dịch vụ với chất lượng cao cho xã hội; tăng nguồn thu, nhằm từng bước giải quyết thu nhập cho người lao động; phát huy tính sáng tạo, tạo sự năng động cho đơn vị Cơ chế quản lý khoa học, phân bổ đầu tư và sử dụng ngân sách Nhà nước có trọng tâm, trọng điểm nhằm phát huy tính dân chủ, tự chủ
và sáng tạo của các nhà khoa học, đồng thời nâng cao hiệu quả công tác tổ chức
và quản lý các hoạt động nghiên cứu khoa học xã hội
Thứ hai, thực hiện chủ trương xã hội hóa trong việc thực hiện các nhiệm
vụ nghiên cứu phát triển khoa học công nghệ, huy động sự đóng góp của cộng đồng xã hội để phát triển các hoạt động sự nghiệp, nhất là các hoạt động đặc thù như nghiên cứu khoa học Chủ trương này sẽ từng bước giảm dần bao cấp
từ nhà nước, giảm gánh nặng tài chính cho ngân sách
Thứ ba, thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với tổ chức KHCN nhưng Nhà nước vẫn quan tâm đầu tư để hoạt động sự nghiệp ngày càng phát triển; bảo đảm cho tất cả các đối tượng đều được cung cấp dịch vụ theo đúng quy định ngày càng tốt hơn
1.3 Tiêu chí đánh giá tự chủ tài chính
1.3.1 Các tiêu chí đánh giá tự chủ tài chính tại tổ chức khoa học và công nghệ công lập
Về mặt định lượng, có thể sử dụng các tiêu chí như: Cơ cấu nguồn thu
qua các năm; tổng kinh phí NSNN giao; tổng các khoản chi; cơ cấu các khoản
Trang 32chi thay đổi qua các năm,… kết quả thực hiện tự chủ tài chính còn thể hiện mức độ tự cân đối thu – chi tích cực của đơn vị
Tự chủ tài chính đồng nghĩa với tự chủ huy động và khai thác, phân phối
và sử dụng các nguồn thu theo quy định của pháp luật để thực hiện các hoạt động sự nghiệp của đơn vị Trong quá trình thực hiện, sự thay đổi cơ cấu nguồn thu/chi phản ánh mức độ tự chủ của đơn vị
- Nhóm các tiêu chí về cơ cấu nguồn thu và sự biến đổi cơ cấu nguồn thu qua các năm
+ Cơ cấu nguồn thu là tỷ lệ của mỗi nguồn thu trong tổng nguồn thu, bao gồm: nguồn ngân sách, nguồn thu từ hoạt động khoa học, nguồn thu từ phí, lệ phí theo quy định… Cơ cấu nguồn thu cho biết khả năng tự chủ tài chính của ĐVSN, nguồn thu càng đa dạng thì khả năng TCTC càng cao Tỷ lệ nguồn thu cho biết đơn vị đang dựa chủ yếu vào nguồn nào, đồng thời là cơ sở để đơn vị tìm giải pháp tăng thu từ nguồn nào
+ Chỉ tiêu tỷ lệ kinh phí NSNN/Tổng nguồn thu là một chỉ tiêu thường được dùng nhiều nhất Nếu chỉ tiêu này giảm trong khi quy mô tổng nguồn thu tăng chứng tỏ rằng HĐSN của đơn vị ít phụ thuộc hơn vào nguồn kinh phí NSNN Nói cách khác, nó có ý nghĩa là đơn vị đã tự chủ nhiều hơn trong việc khai thác các nguồn thu
- Nhóm các tiêu chí về cơ cấu chi và sự biến đổi trong cơ cấu chi qua các năm + Cơ cấu nguồn chi là tỷ lệ của các mục chi (bao gồm cả chi thường xuyên và không thường xuyên) so với tổng nguồn chi hoạt động trong năm của đơn vị Cơ cấu nguồn chi cho biết khả năng tiết kiệm và hiệu quả sử dụng nguồn kinh phí trong năm của tổ chức KHCN công lập Đồng thời là cơ sở để định hướng thay đổi trong tương lai phù hợp với nhiệm vụ và chiến lược phát triển trong tương lai của đơn vị
+ Chỉ tiêu tỷ lệ chi thường xuyên/Tổng các khoản chi hàng năm của tổ chức KHCN công lập thể hiện khả năng tự chủ tài chính của đơn vị qua việc
Trang 33tự đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên, nó tỷ lệ thuận với mức độ tự chủ tài chính của đơn vị
+ Chỉ tiêu về chênh lệch thu-chi: Sự biến đổi về tổng thu và cơ cấu nguồn thu, tổng chi và các khoản chi của đơn vị theo hướng tích cực thể hiện mức độ tự chủ tài chính tích cực của đơn vị Đó cũng là mặt còn lại của quá trình – hướng đến tự cân đối thu – chi của đơn vị
Về mặt định tính, tính tự chủ của các tổ chức KHCN công lập còn được
xem xét dưới khía cạnh sử dụng NSNN một cách tiết kiệm, hiệu quả, nhất là đối với một tổ chức KHCN công lập do nhà nước đảm bảo chi thường xuyên Các đơn vị không có nguồn thu hoặc có nguồn thu hạn chế, nhưng luôn chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tài chính và tự chủ tài chính; có xây dựng quy chế tự chủ chi tiêu hợp lý; có cơ chế phù hợp để kiểm tra, đánh giá tình hình tài chính… cũng là các chỉ tiêu để có thể được đánh giá là đơn vị tự chủ tốt về tài chính
1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến cơ chế tự chủ tài chính
Cơ chế tự chủ tài chính tại một tổ chức khoa học và công nghệ công lập
có được thực thi một cách hiệu quả hay không phụ thuộc vào hệ thống pháp luật; sự phát triển của thị trường lao động; năng lực quản lý của cơ quan chủ quản; năng lực nội sinh của mỗi đơn vị
1.3.2.1 Các chủ trương, chính sách của Nhà nước
Trong nền kinh tế thị trường Nhà nước có vai trò quản lý vĩ mô, vì vậy mọi đường lối chính sách của Nhà nước điều ảnh hưởng tới các đơn vị sự nghiệp
- Nhà nước tạo lập hành lang pháp lý, định hướng cho các tổ chức KHCN phát triển, kiểm tra giám sát những việc gì được làm và không được làm trong khuôn khổ pháp luật quy định;
- Hệ thống chính sách và các công cụ như chính sách tài chính, đầu tư, tiền lương, thu nhập, chi tiêu của nhà nước có tác động rất lớn đến cơ chế tài chính của các ĐVSN Hệ thống chính sách có phù hợp với cơ chế thị trường,
Trang 34có tính cạnh tranh thì mới tăng cường sự chủ động, sáng tạo cho các đơn vị Khi đó cơ chế tự chủ tài chính mới phát huy tác dụng, góp phần thúc đẩy các
tổ chức KHCN phát triển
1.3.2.2 Năng lực quản lý của các cơ quan chủ quản
Năng lực quản lý của cơ quan chủ quản là nhân tố thúc đẩy sự chuyển biến về hoạt động dịch vụ của các tổ chức KHCN công lập Bởi nó vừa là cơ
sở để hiện thực hóa, vừa là rào cản cho mọi chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước trong lĩnh vực sự nghiệp
Năng lực quản lý của cơ quan chủ quản gồm hai vấn đề cơ bản:
- Tổ chức bộ máy phải gọn nhẹ, linh hoạt, hiệu quả Có nghĩa là trong cơ cấu tổ chức bộ máy cần làm việc theo một đầu mối (một cửa), phải loại bỏ những bộ phận hành chính trung gian Ở bất kỳ cấp bậc nào đều phải xác định
rỏ trách nhiệm của người đứng đầu tổ chức nhằm phát huy tính trách nhiệm,
sự đóng góp, sự sáng tạo của cá nhân và tập thể
- Tư duy quản lý phải theo nền kinh tế thị trường: Đảm bảo tính năng động, sáng tạo
1.3.2.3 Năng lực nội sinh của các tổ chức KHCN công lập
Năng lực nội sinh của các đơn vị chính là nguồn tài chính, nguồn nhân lực, môi trường, thông tin cần thiết cho các hoạt động của đơn vị ấy
- Đội ngũ viên chức - người lao động là nhân tố then chốt tạo nên sự phát triển cho đơn vị Vì vậy các đơn vị cần có đủ số lượng, chất lượng đội ngũ VCNLĐ
- Đội ngũ cán bộ quản lý, phục vụ thực hiện hoạt động dịch vụ có chất lượng để đơn vị vận hành tốt Về số lượng đội ngũ này cần gọn nhẹ, nhưng
am hiểu nghiệp vụ quản lý, phục vụ công tác chuyên môn Trong đó đội ngũ làm công tác quản lý tài chính có ảnh hưởng trực tiếp, đội ngũ này cần có khả năng xây dựng, tổ chức thực hiện kế hoạch tài chính, huy động vốn, kiểm tra, giám sát thực hiện
Trang 351.4 Kinh nghiệm thực hiện cơ chế tự chủ tài chính trong quản lý nghiên cứu khoa học công nghệ từ nguồn ngân sách nhà nước
1.4.1 Cơ chế tài chính đối với khoa học và công nghệ tại một số quốc gia trên thế giới
Ở châu Âu, Hoa Kỳ cũng như nhiều quốc gia có nền khoa học công nghệ phát triển khác trên thế giới, họ luôn nhận thức rõ vai trò quan trọng của khoa học công nghệ và việc đầu tư cho phát triển khoa học công nghệ, hội nhập kinh tế tri thức
Tại các quốc gia đó, các tổ chức khoa học công nghệ có 3 nguồn đầu tư chính: Ngân sách nhà nước (NSNN), khu vực tư nhân (các doanh nghiệp và
cá nhân) và các tổ chức quốc tế và tổ chức nước ngoài Trong đó, 2 nguồn đầu
là chủ yếu NSNN chỉ đầu tư vào những lĩnh vực thuộc nghiên cứu khoa học
và phát triển công nghệ (R&D) như nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu tạo nền tảng phát triển cho các ngành, nghiên cứu nâng cao năng lực quản lý của các
cơ quan nhà nước và những lĩnh vực thuộc R&D đòi hỏi vốn đầu tư rất lớn
mà khu vực tư nhân không thể đầu tư
Cơ quan quản lý KHCN ở các nước tuy khác nhau nhưng đều có trách nhiệm hỗ trợ Chính phủ trong quản lý nghiên cứu khoa học Như hoạt động nghiên cứu KH&CN ở Hoa Kỳ chủ yếu thông qua mô hình Quỹ Khoa học quốc gia Hoa Kỳ (NSF) được thành lập bởi Đạo luật Quỹ Khoa học Quốc gia năm 1950 với nhiệm vụ thúc đẩy tiến bộ khoa học, thúc đẩy sức khoẻ, sự thịnh vượng và phúc lợi quốc gia, đảm bảo quốc phòng Quỹ là cơ quan thuộc chính phủ Hoa Kỳ chuyên hỗ trợ cho NCCB và giáo dục trong tất cả các lĩnh vực phi y tế về khoa học và kỹ thuật Hay như hoạt động nghiên cứu khoa học tại Vương quốc Anh được tài trợ thông qua 7 hội đồng nghiên cứu (RCUK) Nhìn chung, phương thức hoạt động của các hội đồng là giống nhau, tuy nhiên, trong một số trường hợp có những đặc thù riêng biệt Kinh phí hàng năm cho RCUK được cấp thông qua ngân sách nhà nước RCUK chịu trách
Trang 36nhiệm trước Quốc hội về tài trợ cho khoa học thông qua Bộ Kinh doanh, Năng lượng và Chiến lược công nghiệp (BEIS) Tại Nhật Bản, Bộ Giáo dục, Văn hóa, Thể thao, Khoa học và Công nghệ Nhật Bản (MEXT) và Hiệp hội Xúc tiến Khoa học Nhật Bản (JSPS) là hai cơ quan tổ chức và quản lý phần kinh phí liên quan đến đông đảo người làm nghiên cứu tại Nhật Bản Các đề tài khoa học cơ bản tại Nhật Bản được tài trợ thông qua Quỹ tài trợ nghiên cứu khoa học do MEXT và JSPS quản lý
Về quyền quyết định ngân sách, thông thường ở các quốc gia theo thể chế dân chủ thì quốc hội (nghị viện) là cơ quan quyết định cao nhất về phân
bổ ngân sách nhưng thường chỉ là phê duyệt tổng chi và cơ cấu chính
Về tiêu chí phân bổ ngân sách, trên thế giới có hai hệ tiêu chí phân bổ ngân sách nói chung, trong đó có phân bổ NSNN cho KH&CN, đó là các tiêu chí phân bổ ngân sách theo đầu vào và các tiêu chí phân bổ ngân sách theo đầu ra, kết quả Phân bổ ngân sách theo đầu vào là việc phân bổ ngân sách dựa trên các yếu tố đầu vào để vận hành hoạt động của một tổ chức, chẳng hạn như: Chi cho nhân viên, chi quản lý chung, chi cơ sở vật chất… Phân bổ
và quản lý ngân sách theo đầu ra, kết quả (Output Budgeting) là Nhà nước thực hiện quản lý xã hội theo mô hình DN – phải lấy kết quả để đánh giá chất lượng của mỗi tổ chức và cá nhân Các chương trình hoặc dự án nghiên cứu phải có báo cáo giải trình với nhiều nội dung cụ thể trong đó phải nêu được:
Sứ mệnh hoặc mục tiêu nghiên cứu; Các chỉ tiêu có thể đo lường được của từng mục tiêu nghiên cứu; Đối với lĩnh vực quản lý nhà nước thì phải mô tả được sự phát triển của lĩnh vực hoặc chức năng mà bộ hoặc ngành đó chịu trách nhiệm trong tương lai sẽ như thế nào với các chỉ tiêu có thể đo lường được… Ví dụ như NSF quan tâm chủ yếu đến kết quả đầu ra mà không khắt khe xét duyệt đầu vào, quá trình quản lý tài trợ của NSF được thực hiện thông qua các giai đoạn như: (i) đề xuất đề cương nghiên cứu; (ii) bình duyệt đề cương nghiên cứu; và (iii) quản lý tiến trình nghiên cứu
Trang 37Về thời kỳ phân bổ, kinh nghiệm một số nước như Ireland, Anh, Đài Loan, Australia… cho thấy xác định kỳ phân bổ ngân sách cho khoa học từ 3 đến 5 năm là hợp lý [36]
Tương ứng với hai hệ thống tiêu chí phân bổ ngân sách đã nêu trên là hai hệ thống kiểm soát khác nhau Ở hệ thống quản lý ngân sách theo đầu vào, việc kiểm soát tập trung xem khoản chi đó có đúng mục lục đầu vào được chi đúng định mức không, đúng tiêu chuẩn, đúng thẩm quyền không? Và có chứng cứ chứng minh tính trung thực của khoản chi không?… Ở hệ thống quản lý ngân sách theo đầu ra cần kiểm soát xem khoản chi đó có đạt các kết quả đầu ra theo cam kết hoặc theo yêu cầu, có bị sử dụng cho mục đích khác hay có tham nhũng không?…
Nhìn chung, Nhà nước ở các nước có nền KHCN phát triển thực hiện giao quyền tự chủ tối đa cho các nhà khoa học với quy định rõ ràng về quyền hạn và trách nhiệm Cơ quan nhà nước có thẩm quyền phân bổ ngân sách và giám sát việc thực hiện Các nhà khoa học có thể đề xuất đề tài, dự án nghiên cứu bất kỳ khi nào cần thiết, hệ thống quỹ về KH&CN sẽ là nơi đánh giá, lựa chọn các nghiên cứu được đề xuất, sau đó tài trợ kinh phí và theo dõi quá trình thực hiện Các cơ quan có trách nhiệm của Chính phủ và Quốc hội có quyền kiểm tra chi tiêu, chống tham nhũng, lạm quyền cũng như kiểm tra việc thực hiện quy định của Nhà nước đối với các cơ sở nghiên cứu và đối với các nhà khoa học Cơ chế này phù hợp với đặc thù sáng tạo của hoạt động KH&CN với tính rủi ro (mạo hiểm), tính trễ và tính thực tiễn Vì thế, người làm khoa học phải được trao quyền tự chủ cao, nhưng kèm theo đó trách nhiệm nặng nề đối với sản phẩm khoa học của họ, thôi thúc họ dành trọn tâm huyết cho nghiên cứu
Từ các mô hình trên có thể thấy rằng, dù tồn tại dưới dạng Quỹ nghiên cứu khoa học hay Hội đồng nghiên cứu khoa học, các nước trên đều có những điểm nổi bật và tương đồng, đó là: (i) Kinh phí tài trợ cho NCCB phần lớn là
Trang 38từ ngân sách nhà nước với quy mô tài trợ lớn, cách thức giải ngân và cấp kinh phí linh hoạt, phát huy tối đa tính chủ động của tổ chức tài trợ; (ii) Quá trình đánh giá nhận xét và phê duyệt thuyết minh thể hiện sự linh hoạt trong việc kết hợp giữa chuyên gia đánh giá, nhà khoa học và hội đồng khoa học nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc thực hiện ý tưởng nghiên cứu khoa học khi nhận được tài trợ, thời gian đánh giá tối đa 6 tháng thể hiện cách thức làm việc chuyên nghiệp của các tổ chức tài trợ tại các nước này; (iii) việc quản lý định kỳ và cuối kỳ đơn giản nhưng hiệu quả, phản ánh sự nghiêm khắc trong việc lựa chọn và phân loại đối tượng tài trợ
1.4.2 Kinh nghiệm thực hiện cơ chế tài chính tại các Quỹ phát triển
KH&CN quốc gia và Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia
Trong những năm qua, được sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, tài trợ cho KH&CN tại Việt Nam đã có những bước đổi mới, đặc biệt là việc chuyển
từ tài trợ kinh phí thực hiện đề tài thông qua các nhiệm vụ KH&CN sang tài trợ kinh phí thông qua cơ chế quỹ
Quỹ Phát triển KH&CN Quốc gia (viết tắt là NAFOSTED) được thành lập theo Nghị định số 122/2003/NĐ-CP ngày 22/10/2003 của Chính phủ và chính thức đi vào hoạt động từ tháng 3/2008 Ngày 03/4/2014, Chính phủ ban hành Nghị định số 23/2014/NĐ-CP thay thế cho Nghị định số 122/2003/NĐ-
CP quy định về điều lệ tổ chức và hoạt động của Quỹ Quỹ trực thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ, có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng, được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước và tại Ngân hàng trong và ngoài nước Phần lớn kinh phí tài trợ của NAFOSTED dành riêng cho chương trình NCCB trong khoa học tự nhiên và kỹ thuật; khoa học xã hội và nhân văn; Mặc dù mới ra đời nhưng cho đến nay NAFOSTED đã khẳng định vai trò của mình trong việc thúc đẩy công bố quốc tế của Việt Nam, từ khi ra đời cho đến nay số bài
Trang 39báo do NAFOSTED tài trợ chiếm khoảng 20% số bài báo của Việt Nam; chiếm khoảng 60% số bài báo do Việt Nam tài trợ [21]
Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia (viết tắt là NATIF) được thành lập, hoạt động theo quy định tại Điều 39 của Luật Chuyển giao công nghệ năm
2006 và Điều 38 của Luật Chuyển giao công nghệ năm 2017; Quyết định số 1342/QĐ-TTg ngày 05/8/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia; Quyết định số 1051/QĐ-TTg ngày 03/7/2013 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Điều lệ về Tổ chức và hoạt động của Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia Năm 2015, Quỹ chính thức đi vào hoạt động Việc thành lập Quỹ NATIF thể hiện sự quyết tâm của Chính phủ cũng như của Bộ KH&CN trong việc tập trung các nỗ lực nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng lấy KH&CN và hoạt động đổi mới sáng tạo làm nền tảng, tạo động lực cho sự phát triển bền vững của đất nước; xác định doanh nghiệp là trung tâm của hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia
Điều đặc biệt, cơ chế thực hiện đối với cả 2 Quỹ nói trên đều rất đổi mới, linh hoạt, kịp thời và tiếp cận cách quản lý KH&CN trên thế giới Đặc trưng lớn nhất của quỹ là tổ chức, bộ máy và phương thức hoạt động là đề cao tính tự quản, dân chủ và công khai
Ví dụ, với cơ chế tài chính hiện tại của Quỹ NATIF được NSNN cấp vốn để thực hiện tài trợ và chi hoạt động của Quỹ đã góp phần giúp Quỹ chủ động triển khai các hoạt động Quỹ NATIF có thể tiếp nhận đề xuất và xét chọn các nhiệm vụ KH&CN quanh năm, cấp kinh phí thực hiện nhiệm vụ theo tiến độ thực hiện được phê duyệt trong thuyết minh và ký kết trong hợp đồng thực hiện nhiệm vụ mà không phải phụ thuộc vào năm kế hoạch, hay nói cách khác, phương thức cấp phát kinh phí được đổi mới hơn so với cách thức truyền thống Hơn nữa, với một số vốn được cấp từ ngân sách, Quỹ NATIF có
Trang 40thể huy động được lượng vốn lớn hơn 2 đến 3 lần từ các doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất
Hoặc như đối với các đề tài, dự án được nhận tài trợ từ Quỹ NAFOSTED, đã được thực hiện cơ chế tự chủ theo đúng tinh thần của Thông
tư liên tịch 27/2015/TTLT/BKHCN-BTC: Đề tài có thể thay đổi dự toán nhưng không được điều chỉnh tổng mức dự toán và hình thức giao khoán đã được phê duyệt
Tùy theo trường hợp đề tài được phê duyệt dưới hình thức khoán chi đến sản phẩm cuối hay khoán chi từng phần theo thông tư 27, nội dung và thủ tục điều chỉnh sẽ được thực hiện tương ứng, cụ thể:
– Khoán chi đến sản phẩm cuối cùng: được quyền điều chỉnh mục chi
và định mức chi trên cơ sở thống nhất của TCCT và CNĐT, phù hợp với quy chế chi tiêu nội bộ của TCCT, phương án triển khai các nội dung công việc của đề tài
– Khoán chi từng phần: Đối với kinh phí không được giao khoán được điều chỉnh dự toán do cơ quan có thẩm quyền phê duyệt trên cơ sở đề xuất của tổ chức chủ trì (chú ý không được điều chỉnh mức chi phí quản lý chung)
Như Đề án biên soạn Bộ Quốc sử Việt Nam đã áp dụng phương thức khoán chi tới sản phẩm cuối cùng trong thực hiện nhiệm vụ Đây là một cơ chế tự chủ quan trọng tháo gỡ nhiều khó khăn trong quá trình biên soạn bộ Quốc sử, khi mà người thực hiện chính là những nhà khoa học đầu ngành, có người đã nghỉ hưu, có người cao tuổi Thủ tục hành chính của các đề tài cũng
có nhiều đơn giản hơn cho các chủ nhiệm đề tài Thay cho việc phải có hội đồng nghiệm thu các cấp, đề tài nhận tài trợ của quỹ NAFOSTED chỉ cần gửi
hồ sơ đánh giá kết quả đề tài gồm các sản phẩm theo hợp đồng về Quỹ Cơ quan điều hành Quỹ tổng hợp kết quả đánh giá kết quả để Hội đồng Quản lý