Hàng loạt các luật, thông tư, nghị định đã được ban hành: Luật Ngân sách năm 2015 thay thế cho Luật ngân sách năm 2002 ra ngày 20 tháng 06 năm năm 2015 nhằm bảo đảm tính thống nhất của N
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS NGÔ XUÂN BÌNH
Hà Nội - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn: Quản lý chi ngân sách nhà nước tại Tòa
án nhân dân tỉnh Long An là kết quả nghiên cứu riêng của tôi, chưa được
công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào của người khác
Việc sử dụng kết quả, trích dẫn tài liệu của người khác đảm bảo theo đúng các quy định Các nội dung trích dẫn và tham khảo các tài liệu, sách báo, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm theo danh mục tài liệu tham khảo của luận văn
HỌC VIÊN
ĐẶNG THỊ HẢI HÀ
Trang 4
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI CÁC CƠ QUAN
HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 6
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về quản lý chi ngân sách nhà nước trong cơ quan hành chính nhà nước 6
1.2 Cơ sở lý luận về quản lý chi NSNN trong cơ quan hành chính nhà nước 9
1.2.1 Khái quát về Ngân sách nhà nước 9
1.2.2 Khái quát về chi ngân sách nhà nước 10
1.2.3 Khái quát về Cơ quan hành chính Nhà nước 15
1.3 Kinh nghiệm về quản lý chi ngân sách nhà nước trong một số cơ quan hành chính nhà nước 27
1.3.1 Kinh nghiệm quản lý chi ngân sách nhà nước của một số đơn vị khác 27
1.3.2 Bài học kinh nghiệm về quản lý chi NSNN cho Tòa án nhân dân tỉnh Long An 30
CHƯƠNG 2:THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN 32
2.1 Khái quát thực trạng về chi ngân sách nhà nước tại Tòa án nhân dân tỉnh Long An 32
2.1.1 Giới thiệu sơ lược về Tòa án nhân dân tỉnh Long An 32
2.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý chi ngân sách nhà nước 34
2.1.3 Kết quả chi ngân sách nhà nước của Tòa án nhân dân tỉnh Long An 35 2.2 Phân tích thực trạng quản lý chi ngân sách nhà nước tại Tòa án nhân dân tỉnh Long An 36
2.2.1 Nội dung chi hoạt động tại Tòa án nhân dân tỉnh Long An 36
2.2.2 Thực trang công tác quản lý chi NSNN của Tòa án nhân dân tỉnh Long An 39
Trang 52.3 Đánh giá công tác quản lý chi ngân sách nhà nước tại Tòa án nhân dân tỉnh Long An 49 2.3.1 Những kết quả đạt được 49 2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân làm hạn chế tính hiệu quả trong công tác quản lý chi NSNN tại Tòa án nhân dân tỉnh Long An 51
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN 58
3.1 Nhân tố ảnh hưởng đến chi NSNN của Tòa án nhân dân tỉnh Long An 58 3.2 Yêu cầu của việc hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà nước tại Tòa án nhân dân tỉnh Long An 59 3.3 Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà nước của Tòa án nhân dân tỉnh Long An 60 3.3.1 Tiếp tục hoàn thiện xây dựng cơ chế quản lý tài chính đặc thù đối với Tòa án nhân dân tỉnh Long An giai đoạn tiếp theo 60 3.3.2 Hoàn chỉnh Quy chế chi tiêu nội bộ 61 3.3.3 Đổi mới quy trình lập dự toán, chấp hành dự toán và quyết toán ngân sách nhà nước 62 3.3.4 Nâng cao chất lượng, trình độ đội ngũ cán bộ trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quản lý tài chính; Tổ chức sắp xếp lại cán bộ làm công tác chi tiêu tài chính phù hợp quy mô hoạt động và cơ cấu bộ máy của đơn vị 68 3.3.5 Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý tài chính 69 3.3.6 Tăng cường phân cấp quản lý tài chính: 70 3.3.7 Tăng cường hoạt động kiểm tra, giám sát công tác tài chính, kế toán 71 3.3.8 Xây dựng quy trình phối hợp thực hiện nhiệm vụ trong nội bộ Tòa án nhân dân tỉnh Long An 72 3.4 Điều kiện thực hiện giải pháp 73 3.4.1 Sự quan tâm, chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng, các cấp lãnh đạo 73
Trang 63.4.2 Điều kiện về môi trường pháp lý 73
3.4.3 Điều kiện về khả năng ngân sách 74
3.4.4 Điều kiện về cơ sở vật chất và công nghệ thông tin 74
3.5 Một số kiến nghị 75
3.5.1 Đối với Chính phủ 75
3.5.2 Đối với Bộ Tài chính 76
3.5.3 Đối với Kho bạc Nhà nước 76
3.5.4 Đối với Cục Kế hoạch- Tài chính (Tòa án nhân dân tối cao) 76
3.5.5 Đối với Lãnh đạo Tòa án nhân dân tỉnh Long An 76
KẾT LUẬN 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
Trang 73 CQHCNN Cơ quan hành chính nhà nước
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2.1 TỔNG HỢP NGUỒN KINH PHÍ HOẠT ĐỘNG CỦA TÒA ÁN
NHÂN DÂN TỈNH LONG AN GIAI ĐOẠN 2013-2017……… 35
Bảng 2.2 TỔNG HỢP MỨC LƯƠNG CƠ SỞ QUA CÁC NĂM……….…37
Bảng 2.3 TỔNG HỢP THỜI GIAN GỬI BÁO CÁO DỰ TOÁN CHI NSNN
CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN GIAI ĐOẠN 2013-2017….41
Bảng 2.4 PHƯƠNG ÁN PHÂN BỔ NGUỒN KINH PHÍ ĐƯỢC GIAO
GIAI ĐOẠN 2013-2017……… ……… 47
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 TỔ CHỨC BỘ MÁY CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 16
Sơ đồ 3.1 QUY TRÌNH CHIẾN LƯỢC LẬP NGÂN SÁCH THEO KẾT QUẢ
ĐẦU RA 63
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn hai mươi năm thực hiện cơ chế mở cửa của Đảng và Nhà nước, kể từ Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 Mọi mặt đời sống kinh tế- xã hội đã được cải thiện vượt bậc tạo cho Việt Nam một bộ mặt với những thay đổi to lớn về diện mạo kinh tế mới trong mắt bạn bè quốc tế Sự tồn tại và phát triển của một Nhà nước luôn luôn cần thiết phải có nguồn lực tài chính đảm bảo cho hoạt động chi tiêu thường xuyên của những tổ chức, cơ quan đơn vị thuộc bộ máy quản lý Nhà nước Để đáp ứng nguồn kinh phí để đảm bảo cho các hoạt động như; Các cơ quan quản lý Nhà nước, quân đội, cảnh sát, sự ngiệp văn hoá, giáo dục, y tế, phúc lợi xã hội, đầu tư phát triển kinh tế đất nước thì Nhà nước phải tạo ra các nguồn thu để bảo đảm, đó là nguồn thu
từ các loại thuế và các nguồn khác Tất cả quá trình thu nộp và sử dụng nguồn kinh phí đó của Nhà nước đều phải được phản ánh qua Ngân sách Nhà nước Trong những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng kinh kế nhanh nhưng vẫn không đáp ứng được việc ngân sách Nhà nước thu không đủ chi, Chính phủ luôn cân nhắc trong vấn đề chi tiêu và công tác quản lý chi ngân sách nhà nước Hàng loạt các luật, thông tư, nghị định đã được ban hành: Luật Ngân sách năm 2015 thay thế cho Luật ngân sách năm 2002 ra ngày 20 tháng 06 năm năm 2015 nhằm bảo đảm tính thống nhất của NSNN và là hành lang pháp lý mới đầy đủ và đồng bộ hơn, phù hợp với tình hình thực tế hiện nay,
xu hướng hội nhập quốc tế, góp phần quan trọng vào tiến trình cải cách tài chính công theo hướng hiện đại; Nghị quyết 01/NQ-CP ngày 03/01/2015 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành, thực hiện
kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2015, Nghị quyết đề ra thực hiện chính sách tài khoá chặt chẽ, quản lý và sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, tăng cường kỷ cương, kỷ luật tài chính Việc quản lý chi ngân sách Nhà nước một cách cách hiệu quả là một nhiệm vụ quan trọng trong việc ổn định vĩ mô nền kinh tế Do đó hoàn thiện công tác quản lý chi Ngân sách nhà nước nhằm tăng cường hiệu quả quản lý, giám sát để nâng cao
Trang 10hiệu quả chi tiêu ngân sách là một vấn đề rất đáng được quan tâm không chỉ của Chính phủ mà còn của các Ban, Ngành, các cơ quan hành chính sử dụng ngân sách nhà nước; Tăng cường tiết kiệm chi, chống lãng phí, tham nhũng, phấn đấu giảm dần bội chi NSNN là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của Việt Nam hiện nay
Một trong những bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước chính là các
cơ quan hành chính Nhà nước trong đó có Hệ thống Tòa án nhân dân nói chung và Tòa án nhân dân tỉnh Long An nói riêng có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế, bảo vệ chế độ và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, tập thể và của công dân.v.v.v thông qua các hoạt động xét xử các vụ án hình sự, dân sự và các vụ việc khác liên quan đến luật pháp và quyền công dân Để thực hiện chức năng của mình, Tòa án nhân dân tỉnh Long An được giao kinh phí NSNN quản lý, sử dụng và gia tăng hàng năm Vì vậy, việc quản lý và chi NSNN một cách hợp lý, đáp ứng được các yêu cầu tiết kiệm, hiệu quả, tránh việc sử dụng lãng phí nguồn kinh phí NSNN Thêm vào đó,
do đặc điểm tỉnh giáp biên giới, kinh tế phát triển, luôn được Tòa án nhân dân tối cao chọn làm Tòa án nhân dân tỉnh thí điểm những hoạt động cải cách công tác xét xử, các hoạt động tuyên truyền hiểu biết pháp luật trong nhân dân, ưu tiên cấp kinh phí đặc thù như: kinh phí ngoại giao với Tòa án nhân dân nước bạn, thí điểm thừa phát lại, …Tuy nhiên, do nguồn kinh phí nhiều,
có nhiều khoản chi đặc thu Ngành vì vậy dẫn đến có những sai sót không đáng có trong quản lý chi NSNN Mặt khác cũng chưa có công trình nào nghiên cứu về quản lý chi NSNN tại Tòa án nhân dân tỉnh Long An Vì vậy
tôi đã lựa chọn đề tài “Công tác quản lý chi NSNN tại Tòa án nhân dân tỉnh Long An” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Các công trình nghiên cứu hiện nay chủ yếu nghiên cứu chi NSNN ở tầm vĩ mô cấp nhà nước cấp ngành cấp tỉnh, tập trung giải quyết đến các vấn
đề về quản lý chi NNSS trên các luật định, cơ chế chính sách, xét riêng trong
hệ thống Tòa án nhân dân cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu về
Trang 11vấn đề quản lý tài chi NSNN của Tòa án nhân dân tỉnh Long An Vì vậy, nghiên cứu đề tài này là một vấn đề mới, thực sự cần thiết và có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả quản lý chi NSNN tại Tòa án nhân dân tỉnh Long An nói riêng, góp phần tăng cường hiệu quả quản lý chi NSNN của
hệ thống Tòa án nhân dân và của nhà nước nói chung
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, qua đó phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý chi NSNN của Tòa án nhân dân tỉnh Long An trong giai đoạn 2013-2017 để thấy được những kết quả cũng như các hạn chế cần khắc phục từ đó đề xuất một số giải pháp khả thi nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi NSNN tại Tòa án nhân dân tỉnh Long An trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa và bổ sung lý luận về quản lý và chất lượng quản lý chi NSNN trong các cơ quan nhà nước ở Việt Nam
- Đánh giá thực trạng công tác quản lý chi NSNN tại Tòa án nhân dân tỉnh Long An giai đoạn 2013-2017
- Đề xuất các giải pháp tăng cường quản lý chi NSNN tại Tòa án nhân dân tỉnh Long An trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Công tác quản lý chi NSNN tại Tòa án nhân dân tỉnh Long An
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Đề tài được nghiên cứu trong phạm vi quản lý của Tòa
án nhân dân tỉnh Long An
Về thời gian: Đề tài nghiên cứu, phân tích và đánh giá các số liệu thống
kê từ giai đoạn 2013 - 2017
- Về nội dung: đề tài chỉ nghiên cứu, đánh giá công tác quản lý chi
NSNN tại Tòa án nhân dân tỉnh Long an từ nguồn kinh phí Ngành Tòa án nhân dân cấp hàng năm theo quy định Đề tài không nghiên cứu công tác quản
Trang 12lý chi ngân sách đối với nguồn khác như: nguồn vốn Ngân sách tập trung do
Bộ Kế hoạch đầu tư cấp để đầu tư xây dựng cơ bản cho ngành Tòa án nhân dân, nguồn vốn do tỉnh, thành phố hỗ trợ cho Tòa án nhân dân tỉnh
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Về cơ sở lý luận: Dựa trên lý thuyết quản lý của các cơ quan hành chính nhà nước về chi NSNN thể hiện qua các khái niệm được quy định trong các văn bản pháp luật đã được ban hành
Ngoài ra, Luận văn căn cứ cơ sở thực tiễn về quản lý chi NSNN trong một số đơn vị khác thuộc hệ thống Tòa án nhân dân từ đó đưa ra bài học kinh nghiệm về quản lý chi NSNN cho Tòa án nhân dân tỉnh Long An
- Về phương pháp nghiên cứu: Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Trong quá trình nghiên cứu, luận
án chủ yếu sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp nghiên cứu tổng quan các tài liệu
Phương pháp thống kê so sánh
- Về nguồn số liệu: Để có cái nhìn tổng quan , khái quát về tình hình quản lý chi NSNN của Tòa án nhân dân tỉnh Long An, luận văn sử dụng chủ yếu số liệu thứ cấp từ các báo cáo của Tòa án nhân dân cấp thành phố, thị xã, huyện thuộc Tòa án nhân dân tỉnh Long An, báo cáo quyết toán và các quyết định giao ngân sách giai đoạn 2013- 2017 của Phòng Quản lý chi ngân sách, Cục Kế hoạch – Tài chính thuộc Tòa án nhân dân tối cao Các tài liệu, văn bản pháp luật liên quan tới công tác quản lý tài sản công; kết quả các công trình nghiên cứu đã được công bố Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các thông tin, tài liệu trên các giáo trình, sách, báo, tạp chí có liên quan đến đề tài
6.Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Ý nghĩa lý luận: Luận văn cung cấp cơ sở lý luận về quản lý chi NSNN trong cơ quan hành chính nhà nước
- Ý nghĩa thực tiễn: Tổng quan thực trạng quản lý chi NSNN tại Tòa án nhân dân tỉnh Long An, từ đó đánh giá thực trạng và đưa ra các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi NSNN tại Tòa án nhân dân tỉnh Long An
Trang 137 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn quản lý chi ngân sách Nhà nước tại cơ quan hành chính nhà nước
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý chi NSNN tại Tòa án nhân dân tỉnh Long An
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi NSNN tại Tòa án nhân dân tỉnh Long An
Trang 14Trong công trình “Municipal Expenditures” -Nguyên lý chi tiêu, tác giả người Mỹ Mabel Waker đã luận bàn về phân bổ chi NSNN Ông đã đề ra một
số nguyên tắc chi NSNN chế định khuynh hướng phân bổ chi NSNN
Trường phái Sự lựa chọn công, đứng đầu là J.Buchanan, giáo sư tại Đại học George Mason bang Virginie Hoa Kỳ, người đã từng đoạt giải Nobel Kinh tế năm 1986, quan tâm tới tính hợp lý của các sự lựa chọn về chi tiêu công Ý tưởng xuất phát của các công trình nghiên cứu của trường phái này là: trước tình trạng chi tiêu công gia tăng, câu hỏi đặt ra là liệu các chi tiêu đó
có luôn minh bạch về phương diện kinh tế không Để trả lời câu hỏi,các nhà nghiên cứu của trường phái này đã đề xuất một số nguyên tắc cơ bản cho chi tiêu công như (1) Cần thiết phải xây dựng cơ chế kiểm tra, đảm bảo an toàn như xác định mức trần trong chi tiêu hay ấn định nghĩa vụ phải đạt được để cân bằng NS, (2) Việc sử dụng nguồn thu của NSNN phải minh bạch, rõ ràng
và đo lường được hiệu quả, (3) Quyết định chi tiêu trong lĩnh vực công cần được đánh giá, nghiên cứu kỹ trên cơ sở xem xét các ảnh hưởng về kinh tế của các quyết định này
Luận án tiến sĩ "Hoàn thiện quản lý chi NSNN tại thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội " của tác giả Lê Kim Thu, trường đại học Thăng Long, năm 2015
Luận văn đã hệ thống lý thuyết, mang tính thực tiễn cao góp phần làm rõ hơn thực trạng quản lý chi NSNN của Thị xã sau 11 năm thực hiện Luật Ngân
Trang 15sách và làm cơ sở để có giải pháp hoàn thiện quản lý chi ngân sách nhà nước cấp huyện hiện nay, một nhiệm vụ luôn được quan tâm hàng đầu trong quản
lý nhà nước về tài chính, góp phần thực hiện tốt và toàn diện các họat động kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng trên địa bàn thị xã
Luận án tiến sỹ “Hoàn thiện quản lý chi NSNN nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh” của tác giả Trần Văn Lâm,
Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2016 Trong luận án này tác giả đã
hệ thống hoá cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa chi NSNN và phát triển Kinh
tế - Xã hội ở địa phương, làm rõ mục tiêu, nguyên tắc, phương thức quản lý chi NS địa phương trong điều kiện kinh tế thị trường Đã trình bày một cách khái quát thực trạng quản lý chi NS trong mối quan hệ với phát triển Kinh tế
xã hội trên các mặt: cải thiện cơ sở hạ tầng Kinh tế - xã hội, bảo đảm công bằng xã hội Tác giả phân tích kinh nghiệm cải cách quản lý chi NSNN ở các nước công nghiệp phát triển và rút ra bài học cho ViệtNam, nhất là kinh nghiệm cải cách quản lý NS theo kết quả đầu ra và khuôn khổ NStrung hạn.Đặc biệt, tác giả luận án đã luận chứng khá thuyết phục về các quan điểm hoàn thiện quản lý chi NS địa phương, kiến nghị áp dụng 6 nhóm giải pháp hoàn thiện quản lýchi NS địa phương phù hợp với điều kiện Việt Nam Một
số giải pháp có ý nghĩa tham khảo cho các địa phương khác như áp dụng quy trình lập dự toán và phân bổ NS trên cơ sở khuôn khổ chi tiêu trung hạn hướng đến kết quả đầu ra; hoàn thiện cơ chế quản lý chi NS theo hướng mở rộng quyền tự chủ cho tổ chức thụ hưởng NS…
Luận văn thạc sĩ "Hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà nước tại Sở Tài chính tỉnh Quảng Bình" của tác giả Lê Thị Diệu Hồng, trường đại
học Huế, năm 2018 Luận văn ngoài việc liệt những kết quả đạt được quan trọng, còn chỉ ra công tác quản lý chi NSNN vẫn còn một số tồn tại, hạn chế, như: Phân bổ vốn đầu tư còn dàn trải, không gắn với kế hoạch vốn; công tác quản lý tạm ứng, thanh toán vốn còn nhiều bất cập; giải ngân vốn đầu tư chậm; nợ đọng xây dựng cơ bản chưa có nguồn thanh toán; chuyển nguồn chi ngân sách hàng năm còn lớn; tình trạng chi vượt dự toán vẫn xảy ra; còn tình
Trang 16trạng lãng phí, thất thoát, kém hiệu quả trong quản lý kinh phí chi thường xuyên; chưa có công cụ, thước đo hiệu quả việc sử dụng NSNN đối với các đơn vị thực hiện khoán chi hành chính; bộ máy ngân sách xã, phường, thị trấn còn yếu, mối quan hệ giữa các cơ quan Tài chính và Kho bạc Nhà nước vẫn còn trùng lặp về chức năng, nhiệm vụ trong quá trình chấp hành dự toán chi ngân sách nhà nước và kiểm tra, giám sát lẫn nhau; việc phân định trách nhiệm, quyền hạn trong quản lý kiểm soát chi NSNN còn yếu
Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà nước
cho giáo dục Trung học phổ thông tại Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Quảng
Bình” của tác giả Trương Thị Thúy Hằng, trường đại học Huế, năm 2018
Luận văn đã chỉ ra những tồn tại hạn chế bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, cả
về cơ chế quản lý lẫn tổ chức thực hiện, như: quan điểm hoàn thiện công tác quản lý tài chính; chất lượng đội ngũ làm công tác quản lý tài chính trongsự nghiệp Giáo dục và Đào tạo của tỉnh Quảng Bình để từ đấy đưa ra những giải pháp khắc phục cho chi NSNN trong sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo của tỉnh
Hay bài viết “Xây dựng hệ thống giám sát và đánh giá chi NSNN dựa trên kết quả ở Việt Nam” của tác giả Sử Đình Thành và Bùi Thị Mai Hoài
trên Tạp chí Phát triển kinh tế, năm 2012 Hai tác giả đã đưa ra cái nhìn tổng quan về NSNN và cách xây dựng một hệ thống giám sát, đánh giá chi NSNN một cách có hiệu quả, thiết thực với tình hình ngân sách Việt Nam
Bài viết “Quản lý chi ngân sách địa phương cho đầu tư phát triển trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên” của tác giả Dương Thị Thúy Ngư trên Tạp chí
Khoa học và Công nghệ, năm 2010 Bài viết tập trung đưa ra thực trạng hạn chế trong việc chi NSNN cho đầu tư phát triển để từ đó đưa ra những giải pháp khắc phục, thúc đẩy nền kinh tế tại địa phương phát triển
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến nhiều khía cạnh về quản lý chi NSNN, đã đưa ra được các khái niệm tổng quát về NSNN, cùng với những chính sách, quan điểm về khai thác và bảo vệ chi NSNN có hiệu quả bên cạnh đó chỉ ra những nguyên nhân và hạn chế trong công tác quản lý chi NSNN để từ đó đề ra những giải pháp khả thi, có thể áp
Trang 17dụng vào thực tiễn, giúp hiện đại hóa công tác quản lý nhà nước và nâng cao hiệu quả, hiệu lực trong quản lý chi NSNN Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên chủ yếu nghiên cứu tài sản công ở tầm vĩ mô cấp nhà nước cấp ngành cấp tỉnh, tập trung giải quyết đến các vấn đề về quản lý tài công trên các luật định, cơ chế chính sách, xét riêng trong hệ thống Tòa án nhân dân cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề quản lý chi NSNN của Tòa án nhân dân tỉnh Long An Chính vì vậy, nghiên cứu đề tài này là một vấn đề mới, thực sự cần thiết và có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả quản lý chi NSNN tại Tòa án nhân dân tỉnh Long An nói riêng, góp phần tăng cường hiệu quả quản lý chi NSNN của hệ thống Tòa án nhân dân và của nhà nước nói chung
1.2 Cơ sở lý luận về quản lý chi NSNN trong cơ quan hành chính nhà nước
1.2.1 Khái quát về Ngân sách nhà nước
Ngân sách nhà nước (NSNN) là phạm trù kinh tế và là phạm trù lịch sử
Sự hình thành và phát triển của ngân sách nhà nước gắn liền với sự xuất hiện
và phát triển của nền kinh tế hàng hoá - tiền tệ trong các phương thức sản xuất
do nhà nước quản lý trực tiếp Nói cách khác, sự ra đời và phát triển của Nhà nước cùng với sự tồn tại của nền kinh tế hàng hoá tiền tệ là những tiền đề cho
sự ra đời tồn tại và phát triển của NSNN NSNN là một phạm trù kinh tế tổng hợp và trừu tượng Khi nghiên cứu NSNN phải xem xét trên các mặt hình thức, thực thể và quan hệ kinh tế chứa đựng trong NSNN
Xét về hình thức: NSNN là một bản dự toán thu và chi do chính phủ lập ra,
đệ trình Quốc hội (QH) phê chuẩn và giao cho Chính phủ (CP) tổ chức thực hiện
Xét về thực thể: NSNN bao gồm những nguồn thu và những khoản chi
cụ thể và được định lượng Các nguồn thu đều được nộp vào một quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước, các khoản chi đều được xuất ra từ quỹ tiền tệ tập trung này.Các khoản thu chi của NSNN đều phản ánh những mối quan hệ kinh tế nhất định giữa Nhà nước với các chủ thể hoạt động trên mọi lĩnh vực của nền kinh tế xã hội, bao gồm: Quan hệ tài chính giữa Nhà nước và dân cư; quan hệ tài chính giữa Nhà nước với các tổ chức tài chính, tín dụng và các
Trang 18doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế; quan hệ tài chính giữa Nhà nước
và các tổ chức chính trị xã hội; Quan hệ tài chính giữa Nhà nước với các quốc gia và các tổ chức quốc tế
Từ phân tích nêu trên, ta có thể đưa ra khái niệm về NSNN như sau:
“NSNN là bản dự toán thu chi tài chính tổng hợp của Nhà nước, phản ánh các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước trên cơ sở luật định”
Luật Ngân sách nhà nước của Việt Nam số 83/2015/QH13 ngày
25/06/2015 của Quốc Hội định nghĩa tại Khoản 14 Điều 4 như sau: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nướcˮ
1.2.2 Khái quát về chi ngân sách nhà nước
1.2.2.1 Vị trí chi ngân sách nhà nước trong hoạt động quản lý kinh tế:
Trong tất cả mọi lĩnh vực của hoạt động kinh tế xã hội nói chung, để đảm bảo hoạt động bình thường, đều phải có vai trò của con người tác động vào Những tác động mang tính tất yếu đó gọi là quản lý Hay thực chất của quản lý là thiết lập và tồ chức thực hiện hệ thống các phương pháp và biện pháp, tác động một cách có chủ.định tới các đối tượng quan tâm nhằm đạt được kết quả nhất định
Quản lý chi ngân sách nhà nước (NSNN) là một bộ phận trong công tác quản lý NSNN và cũng là một bộ phận trong công tác quản lý nói chung Xét theo nghĩa rộng, quản lý chi NSNN là việc sử dụng NSNN làm công cụ quản lý hệ thống xã hội thông qua các chức năng vốn có; theo nghĩa hẹp, quản lý chi NSNN
là quản lý các đầu ra của NSNN thông qua các công cụ và quy định cụ thể
Quản lý chi NSNN giữ một vị trí đặc biệt quan trọng bởi NSNN luôn giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống các khâu tài chính, bảo đảm thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước, điều tiết vĩ mô nền kinh tế để thực hiện các mục tiêu chiến lược của quốc gia Quản lý chi NSNN góp phần quan
Trang 19trong để NSNN phát huy được vai trò chủ đạo đó và NSNN thực sự trở thành công cụ hữu hiệu hướng tới mục tiêu đã định
Vị trí quan trọng của công tác quản lý chi NSNN được thể hiện rõ nét thông qua quá trình định hướng, hoạch định chính sách, ban hành cơ chế, tiêu chuẩn, định mức để thực hiện chức năng vốn có của ngân sách
Với chức năng NSNN đảm bảo kinh phí cho bộ máy nhà nước hoạt động thì công tác quản lý chi NSNN cần hướng tới và phải đạt được,đó là, chính sách chi cho bộ máy đáp ứng cải cách hành chính, góp phần làm trong sạch bộ máy, đặt quyền và trách nhiệm trong mối quan hệ ràng buộc nhau Quản lý chi NSNN giúp cho ngân sách được sử dụng minh bạch, tiền tệ hoá các khoản chi chủ yếu gắn với lương, đảm bảo tái sản xuất sức lao động, đủ nuôi sống bản thân và gia đình, tạo cơ sở để xây dựng hệ thống bộ máy hành chính trong sạch đang được đón nhận rộng rãi ở nhiều quốc gia trên thế giới Việc tính toán lương là một khoản lớn trong chi hành chính gắn với năng lực, hiệu suất làm việc, khuyến khích người có tài, đặc biệt ở những lĩnh vực đòi hỏi trình độ chuyên môn cao và trách nhiệm xã hội lớn, các lĩnh vực liên quan đến dân, nhạy cảm, có thể nảy sinh tham nhũng Hệ thống chi hành chính trong cơ chế thị trường được kiểm soát chặt chẽ thông qua các công cụ quản
lý như công cụ quản lý sản phẩm đầu ra đối với dịch vụ công do bộ máy nhà nước cung cấp các kế hoạch trung hạn cũng được huy động để xác định gói ngân quỹ cho phép dự báo khả năng đáp ứng chi bộ máy hành chính và trong
đó yếu tố tiền lương được coi là quan trọng nhất
Với chức năng đảm bảo kinh phí cho quản lý xã hội, thoả mãn nhu cầu phát triển y tế, văn hoá, giáo dục , bằng hệ thống các chính sách, giải pháp, Nhà nước có thể thực hiện ý chí của mình ở chỗ quyết định quy mô đầu tư, chỉ ra lĩnh vực cần tập trung chỉ đạo, ưu tiên đầu tư, nâng cao chất lượng và hiệu quả của khoản chi đó thông qua cơ cấu chi NSNN, có thể thấy chính sách của Nhà nước ưu tiên cho lĩnh vực nào, ngành nào, nhìn chung Nhà nước ngày càng can thiệp sâu vào các lĩnh vực thông qua công cụ chi NSNN, tạo nên ảnh hưởng và tác động sâu sắc tới sự phát triển từng ngành, lĩnh vực và
Trang 20góp phần tạo môi trường cạnh tranh cho các thành phần kinh tế cùng cung cấp dịch vụ, tạo nguồn địch vụ phong phú đa đảng, đáp ứng đầy đủ mọi thu cầu ngày càng đa dạng cho phép người dân tự do lựa chọn
Với chức năng chi ngân sách đóng vai trò là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế thị trường, thông thường, Nhà nước sử dụng chi NSNN như công cụ tác động vào phát triển kinh tế khi cần thiết, đối với ngành, lĩnh vực chiến lược cần
ưu tiên song các tổ chức kinh tế tư nhân không muốn làm thì xuất hiện Nhà nước với vai trò nhà tài trợ nhằm đảm bảo sự phát triển cân đối, hài hoà
Trong nền kinh tế thị trường, khi kinh tế càng phát triển, nguồn ngân sách càng dồi dào hơn thì càng được Chính phủ sử dụng như một công cụ linh hoạt, có hiệu quả đối với điều tiết vĩ mô về tăng trưởng, lạm phát, thất nghiệp, việc làm, khắc phục tình trạng chênh lệch giữa các vùng miền, xoá đói giảm nghèo, tăng phúc lợi xã hội và giải quyết các vấn đề quan trọng trong tiến trình toàn cầu hoá Việc tác động vào nền kinh tế nhằm đạt được mục tiêu của Nhà nước dựa trên chức năng vốn có ngân sách thể hiện rõ vị trí và vai trò của chủ thể hay còn gọi là hiệu quả của công tác quản lý chi NSNN
1.2.2.2 Cơ sở pháp lý quản lý chi ngân sách nhà nước
Song song với việc phân cấp, phân quyền và tăng cường nguồn lực tài chính để mỗi cấp ngân sách thực hiện quyền và trách nhiệm của mình là nhưng ràng buộc về mặt pháp lý Đó chính là cơ sở để thực hiện phân cấp ngân sách, làm căn cứ để các cấp ngân sách thực hiện quyền của mình đồng thời cũng yêu cầu các cấp ngân sách từ trung ương đến địa phương phải tuân thủ Việc tuân thủ nghiêm ngặt quy định được ấn định trong hệ thống các văn bản luật thay thế cho việc quản lý, thanh kiểm tra mang nặng tính hành chính trước đây giữa cấp trên và cấp dưới, tạo ra tính không minh bạch trong quản
lý ngân sách cũng như tính ỷ lại của cấp dưới với cấp trên
Trước hết cơ sở pháp lý cơ bản và chung nhất cho mọi hoạt động ngân sách là hiến pháp, mỗi đất nước đều có hiến pháp là đạo luật gốc, đạo luật cơ bản quy định những vấn đề chung về chủ quyền quốc gia, về tổ chức bộ máy, phân cấp phân quyền những vấn đề chi phối và liên quan đến hoạt động
Trang 21ngân sách Ví dụ hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định bộ máy nhà nước ta gồm 4 cấp chính quyền, mỗi cấp được quản lý toàn diện các lĩnh vực kinh tế xã hội và cơ quan quyết định những vấn đề thuộc địa phương trong đó có quyết định ngân sách là Hội đồng nhân dân (HĐND) cùng cấp Điều đó chi phối hoạt động ngân sách ở chỗ ngân sách cũng phải hình thành 4 cấp tương ứng và nếu muốn quyết định có tồn tại hay không một cấp ngân sách nhất định thì trước hết phải sửa đổi hiến pháp Nhìn chung hiến pháp của một đất nước bao giờ cũng quy định những vấn đề chung nhất liên quan đến ngân sách
Mặt khác, hoạt động ngân sách cũng giống như những hoạt động ở các lĩnh vực khác cũng cần những quy định cơ bản, chuyên biệt và mang tính đặc thù riêng Thông thường những luật chuyên biệt này bao gồm luật Ngân sách nói chung, luật Thuế luật Cân đối ngân sách, luật Ngân sách hàng năm, luật Ngân sách trung hạn Tuỳ theo từng quốc gia quyết định những vấn đề nào cần
có luật riêng và thời hạn luật có hiệu lực, nhưng nhìn chung hoạt động ngân sách
ở bất kỳ quốc gia nào cũng đều được chi phối bằng luật chuyên biệt
Ngoài luật chuyên biệt, hoạt động ngân sách còn liên quan đến rất nhiều lĩnh vực vì vậy có thể nói cơ sở pháp lý cho hoạt động ngân sách còn được thể hiện trong một số luật khác có liên quan hay nói cách khác, hoạt động ngân sách còn chịu sự chi phối của nhiều luật khác có liên quan Ví dụ như luật Tổ chức Quốc hội, Chính phủ, HĐND quyết định quyền, trách nhiệm của mỗi cấp chính quyền về kinh tế xã hội, từ đó liên quan đến thẩm quyền về ngân sách cũng như ảnh hưởng đến phân cấp ngân sách Luật Đầu tư liên quan đến công tác quản lý tài chính về đầu tư như đấu thầu, quyền quyết định dự án đầu tư liên quan đến phân cấp quản lý vốn đầu tư cũng như quy trình quản lý Luật Doanh nghiệp liên quan đến cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp Một số nước quy định những luật riêng nhưng liên quan mật thiết đến hoạt động ngân sách như luật khuyến khích ổn định và tăng trưởng kinh tế Tóm lại, hoạt động ngân sách, xuất phát từ phạm vi tác động và ảnh hưởng của nó tới toàn bộ nền kinh tế và mọi tổ chức cá nhân, nên xét cả về lý
Trang 22luận và thực tiễn đều phải căn cứ vào cơ sở pháp lý vững chắc, không chỉ ở hành lang hiến pháp chung, mà còn dựa trên hệ thống luật pháp gồm luật chuyên biệt và các luật có liên quan Đó là cơ sở pháp lý chung cho hoạt động ngân sách của bất kỳ quốc gia nào
1.2.2.3 Nội dung chi ngân sách nhà nước
* Chi thường xuyên của NSNN: Là những khoản chi không có trong khu vực đầu tư và có tính chất thường xuyên như:
- Chi cho sự nghiệp kinh tế của Nhà nước, NSNN cấp kinh phí hoạt động cho các đơn vị sự nghiệp kinh tế do nhà nước quản lý nhưng nội dung hoạt động
có liên quan hỗ trợ cho toàn bộ nền kinh tế như các đơn vị sự nghiệp giao thông,
sự nghiệp nông lâm thuỷ sản, sự nghiệp khí tượng thủy văn…;
- Chi cho văn hoá – xã hội: NSNN cấp kinh phí hoạt động cho các đơn
vị sự nghiệp thuộc các lĩnh vực Giáo dục đào tạo, văn hoá nghệ thuật, thể dục thể thao thông tin tuyên truyền, thông tấn báo chí…
- Chi cho bộ máy quản lý Nhà nước: khoản chi này đáp ứng yêu cầu hoạt động của bộ máy quản lý Nhà nước với ba hệ thống quyền lực: Lập pháp, hành pháp và tư pháp
Về nguyên tắc, các khoản chi này phải được bảo đảm bằng các khoản thu không mang tính hoàn trả (thu trong cân đối) của NSNN
* Chi đầu tư phát triển: chi cho đầu tư phát triển của NSNN bao gồm nhiều khoản chi với mục đích, tính chất và đặc điểm khác nhau gồm: chi đầu
tư xây dựng các công trình thuộc kết cấu hạ tầng Kinh tế- Xã hội của nền kinh
tế, không có khả năng thu hồi vốn như công trình giao thông, đê điều kênh mương, thông tin, y tế văn hoá …;
- Chi đầu tư hỗ trợ các doanh nghiệp các tổ chức kinh tế của Nhà nước, chi góp vốn cổ phần vào các thành phần kinh tế nhằm thực hiện vai trò dẫn dắt và định hướng
- Chi sự phát triển của nền kinh tế theo đúng mục tiêu của Nhà nước trong từng thời kỳ; Chi đầu tư phát triển các chương trình mục tiêu quốc gia như giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo, trồng rừng, giao thông thuỷ lợi, kiên cố trường học; Chi mua vật tư hàng hoá chiến lược của Dự trữ quốc…
Trang 23* Chi cho quốc phòng an ninh: khoản chi này phục vụ nhu cầu hoạt động và thực hiện nhiệm vụ an ninh quốc phòng của các lực lượng vũ trang bao gồm 3 hệ thống là Quân đội nhân dân, công an nhân dân và Cảnh sát nhân dân từ TW đến địa phương
* Chi khác: Chi bổ sung quỹ dự trữ nhà nước; chi bổ sung NS cấp dưới; chi viện trợ; chi trả nợ gốc các khoản vay của chính phủ
1.2.3 Khái quát về Cơ quan hành chính Nhà nước
1.2.3.1 Khái niệm về Cơ quan hành chính Nhà nước
Bộ máy nhà nước là một chỉnh thể thống nhất, được tạo thành bởi các cơ quan nhà nước Bộ máy nhà nước Việt nam gồm bốn hệ thống cơ quan chính: cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp, cơ quan toà án và cơ quan kiểm sát
Cơ quan hành chính Nhà nước là một loại cơ quan trong bộ máy nhà nước được thành lập theo hiến pháp và pháp luật, để thực hiện quyền lực nhà nước, có chức năng quản lý hành chính nhà nước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Như vậy, Cơ quan hành chính nhà nước là cơ quan thực hiện quyền hành pháp của Nhà nước Đó là cơ quan quản lý chung hay từng mặt công tác, có nhiệm vụ chấp hành pháp luật và chỉ đạo thực hiện chủ trương,
kế hoạch của Nhà nước
Căn cứ vào theo điều 94, Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam năm 2013: "Chính phủ là cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện quyền hành pháp, là
cơ quan chấp hành của Quốc hội" Tại Điều 1 Luật Tổ chức chính phủ số 32/2001/QH10 năm 2001 quy định: “Chính phủ thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế xã hội, quốc phòng an ninh và đối ngoại của nhà nước; đảm bảo hiệu lực của bộ máy Nhà nước từ Trung ương đến cơ
sở, đảm bảo việc tôn trọng và chấp hành Hiến pháp và pháp luật; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, bảo đảm ổn định và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân” Vì
vậy, Cơ quan hành chính Nhà nước được chia thành:
Trang 24- Cơ quan hành chính Nhà nước ở Trung ương bao gồm: Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ Các cơ quan này hoạt động trên phạm vi toàn quốc, văn bản pháp luật do các cơ quan này ban hành
có hiệu lực trên phạm vi cả nước và có tính bắt buộc thi hành đối với mọi CQHCNN cấp dưới, các tổ chức xã hội và mọi công dân
- Cơ quan hành chính Nhà nước ở Địa phương bao gồm: Uỷ ban Nhân dân các cấp (tỉnh, huyện, xã), các sở, phòng, ban Đây là các cơ quan được thành lập
và hoạt động trên một phạm vi lãnh thổ nhất định, các văn bản pháp luật do các cơ quan này ban hành có hiệu lực trong một phạm vi lãnh thổ hoạt động
Sơ đồ 1.1 - Tổ chức bộ máy cơ quan hành chính nhà nước
1.2.3.2 Nội dung công tác quản lý chi NSNN tại các Cơ quan hành chính Nhà nước
a Các nguyên tắc quản lý chi NSNN tại Cơ quan hành chính Nhà nước
Quản lý nhà nước đối với chi NSNN được hiểu là quá trình Nhà nước vận dụng các quy luật khách quan, sử dụng hệ thống các nhóm công cụ và phương pháp tác động đến hoạt động chi NSNN nhằm phục vụ tốt nhất cho
CHÍNH PHỦ
UBND cấp xã Các phòng, ban
UBND cấp huyện, quận Các Sở, Ban, ngành
UBNN cấp tỉnh, thành phố
Các Bộ, cơ quan
ngang Bộ, cơ quan
thuộc Chính phủ
Trang 25việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ của chủ thể trong Bộ máy nhà nước trong từng thời kỳ nhất định của từng cấp nhất định
Quản lý nhà nước đối với chi NSNN tại các Cơ quan hành chính Nhà nước có vai trò rất quan trọng trong việc sử dụng có hiệu quả nguồn lực tài chính quốc gia nói chung và nguồn vốn NSNN nói riêng, ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện chức năng, hiệu quả hoạt động của Nhà nước, theo đó Nhà nước đặt ra một loạt các yêu cầu mang tính nguyên tắc trong quản lý để đảm bảo tối ưu trong công tác quản lý đối với các cơ quan này, cụ thể:
- Bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả: Do thực tế nguồn lực tài chính luôn có hạn, nhưng nhu cầu chi thường lớn hơn rất nhiều, do đó trong quá trình phân
bổ và sử dụng nguồn lực tài chính cần phải tính toán để sao cho với chi phí thấp nhất nhưng vẫn đạt hiệu quả cao nhất, đó cũng chính là mục tiêu của quản lý chi tiêu tài chính
- Tuân thủ chế độ, chính sách, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu: Chế độ, chính sách, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu trong lĩnh vực chi NSNN do Nhà nước ban hành được xây dựng trên những nguyên tắc nhất định, mang tính khoa học và có tính đến điều kiện khả năng ngân sách có thể đáp ứng; đồng thời là sự cụ thể hoá chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về lĩnh vực này Chính vì vậy, việc chấp hành nghiêm các chế độ, chính sách, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu là yêu cầu đầu tiên để đảm bảo thực hiện nguyên tắc thống nhất và đảm bảo công bằng trong quản lý của Nhà nước đối với các Cơ quan hành chính Nhà nước Ngoài ra, đó cũng là căn cứ để hình thành cơ chế quản
lý tài chính nhằm sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả nguồn lực tài chính Từ việc thực hiện cơ chế quản lý cho đến việc vận dụng các quy định cụ thể trong hoạt động tài chính, các đơn vị phải đảm bảo được tính hiệu quả trong phân
bổ và sử dụng nguồn lực, không vi phạm kỷ luật tài chính
- Quản lý chặt chẽ theo từng nguồn kinh phí và chi tiết theo từng nội dung chi: Để đảm bảo hoạt động, mỗi cơ quan đơn vị tuỳ từng loại hình mà có nhiều nguồn kinh phí khác nhau: Nguồn NSNN cấp, nguồn thu từ phí, lệ phí, nguồn đi vay, nguồn tài trợ, viện trợ,…do vậy, trong quản lý tài chính đòi hỏi
Trang 26phải chi tiết theo từng nguồn kinh phí sử dụng cho từng loại hình hoạt động nhằm đáp ứng được yêu cầu về cân đối thu chi nguồn tài chính, tạo điều kiện cho người quản lý điều hành được các hoạt động tài chính, hạn chế được sự lãnh phí, không hiệu quả trong quản lý nguồn kinh phí Mặt khác, trong quá trình thực hiện, do nội dung chi liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau, mức chi được xác định theo từng đối tượng về quy mô, tính chất hoạt động, do vậy đòi hỏi phải quản lý chi tiết theo từng nội dung chi cụ thể
- Phân cấp hợp lý và mở rộng tự chủ cho đơn vị sử dụng ngân sách: Việc thực hiện phân cấp mạnh cho các đơn vị sử dụng ngân sách cũng đang là một xu hướng tất yếu trong bối cảnh đổi mới quản lý tài chính công như hiện nay Tuy nhiên, việc phân cấp phải được thực hiện theo lộ trình thích hợp, có tính đến việc nâng cao năng lực quản lý tài chính cho các đơn vị và vẫn đảm bảo được sự quản lý, giám sát, định hướng của Nhà nước đối với lĩnh vực này Nội dung phân cấp phải tạo điều kiện phát huy mọi khả năng, tính năng động, tự chủ, tự chịu trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị và dựa trên nguyên tắc: Đảm bảo tính thống nhất trong quản lý Nhà nước; tập trung dân chủ; phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, khả năng chuyên môn và tài chính của đơn vị; từng bước giảm dần bao cấp từ Nhà nước; thực hiện công khai, dân chủ; đảm bảo lợi ích của Nhà nước, quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật
- Có sự kết hợp với Kho bạc Nhà nước (KBNN) và kết hợp giữa các bộ phận chức năng trong quản lý: KBNN là cơ quan được Nhà nước giao nhiệm
vụ quản lý về quỹ NSNN, do vậy có nhiệm vụ trực tiếp thanh toán mọi khoản chi NSNN KBNN có nhiệm vụ kiểm soát mọi khoản chi NSNN và có quyền
từ chối thanh toán đối với khoản chi sai chế độ và chịu trách nhiệm về quyết định của mình KBNN chỉ thực hiện thanh toán các khoản chi NSNN khi có
đủ các điều kiện: Đã có trong dự toán chi NSNN được cấp có thẩm quyền giao; nội dung chi đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định; được thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách hoặc người được uỷ quyền chuẩn chi Thực hiện yêu cầu này, tất cả các đơn
Trang 27vị đều phải mở tài khoản tại KBNN, chịu sự kiểm tra, kiểm soát của KBNN trong quá trình rút dự toán, thanh toán và quyết toán kinh phí Mặt khác, do mọi hoạt động của bất kỳ cơ quan, đơn vị nào cũng liên quan đến tài chính, tài sản, do vậy phải có sự phối kết hợp đồng bộ giữa các cơ quan quản lý chức năng, chuyên môn, như vậy mới đáp ứng được các yêu cầu của nhiệm vụ và công tác quản lý tài chính mới thực sự mang lại hiệu quả
- Công khai, minh bạch: Để đảm bảo sử dụng kinh phí hiệu quả, tránh thất thoát, lãng phí, tham ô, tham nhũng, tăng cường sự giám sát, đòi hỏi trong công tác quản lý tài chính luôn phải thực hiện công khai, minh bạch Công khai tài chính đồng thời cũng là biện pháp nhằm phát huy quyền làm chủ của cán bộ, công chức, tập thể người lao động và nhân dân trong việc thực hiện quyền kiểm tra, giám sát quá trình quản lý và sử dụng vốn, tài sản Nhà nước; huy động, quản lý và sử dụng các khoản đóng góp của nhân dân theo quy định của pháp luật; phát hiện và ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm chế độ quản lý tài chính Việc công khai tài chính theo quy định được thực hiện thông qua các hình thức: Công bố trong các kỳ họp thường niên của
cơ quan; Phát hành ấn phẩm, Niêm yết công khai tại trụ sở làm việc của cơ quan, đơn vị; Thông báo bằng văn bản đến các cơ quan, đơn vị, cá nhân có liên quan; Đưa lên trang thông tin điện tử; Thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng Các tổ chức, đơn vị, cá nhân thuộc đối tượng được tiếp nhận thông tin công khai NSNN có quyền chất vấn cơ quan, tổ chức, đơn vị
về các nội dung công khai Người có trách nhiệm thực hiện công khai phải trả lời chất vấn về các nội dung đã được công bố công khai Việc trả lời chất vấn phải được thực hiện bằng hình thức trả lời trực tiếp hoặc bằng văn bản gửi tới người chất vấn, tuỳ theo hình thức chất vấn và nội dung chất vấn
Để thực hiện tốt các yêu cầu mang tính nguyên tắc trong quản lý tài chính tại các cơ quan hành chính Nhà nước , Nhà nước đã nghiên cứu và đặt
ra một số phương pháp quản lý tài chính để các Cơ quan hành chính Nhà nước thực hiện như: quản lý theo dự toán, quản lý theo phươngthức khoán kinh phí, quản lý theo kết quả đầu ra
Trang 28b Nội dung chi của các Cơ quan hành chính Nhà nước
Kinh phí đảm bảo hoạt động của các CQHCNN được sử dụng để chi một số nội dung chi chủ yếu sau:
- Chi thực hiện chế độ tự chủ: là những khoản chi thường xuyên, gồm: + Các khoản chi thanh toán cho cá nhân: tiền lương, tiền công, phụ cấp lương, các khoản đóng góp theo lương, tiền thưởng, phúc lợi tập thể và các khoản thanh toán khác cho cá nhân theo quy định
+ Các khoản chi quản lý hành chính đảm bảo duy trì hoạt động: thanh toán dịch vụ công cộng, vật tư văn phòng, thông tin, tuyên truyền, liên lạc, hội nghị, công tác phí trong nước, chi phí thuê mướn; Chi cho các đoàn đi công tác nước ngoài và đón các đoàn khách nước ngoài vào Việt Nam; Chi nghiệp
vụ chuyên môn của từng ngành; Chi mua sắm, sửa chữa thường xuyên tài sản
cố định và các khoản chi khác có tính chất thường xuyên khác
Căn cứ vào tình hình thực hiện nhiệm vụ được giao, Cơ quan hành chính Nhà nước thực hiện chế độ tự chủ được vận dụng các chế độ chi tiêu tài chính hiện hành để quy định các mức chi áp dụng, thực hiện tại đơn vị, nhưng phải đảm bảo trong phạm vi nguồn kinh phí được giao và không được vượt quá mức chi tối đa do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định Thủ trưởng
cơ quan thực hiện chế độ tự chủ tự quyết định bố trí số kinh phí được giao vào các mục chi cho phù hợp; được quyền điều chỉnh giữa các mục chi nếu xét thấy cần thiết nhằm đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ được giao
- Chi không thực hiện chế độ tự chủ: Ngoài kinh phí giao để chi thực hiện chế độ tự chủ, hàng năm Cơ quan hành chính Nhà nước còn được NSNN
bố trí kinh phí để thực hiện một số nhiệm vụ theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền giao, gồm: Chi mua sắm hiện đại hoá trang thiết bị phục vụ
công tác chuyên môn của từng cơ quan, chi sửa chữa lớn tài sản cố định; chi đầu tư xây dựng mới và cải tạo mở rộng các công trình, trụ sở cơ quan hành chính phục vụ công việc chuyên môn của từng ngành theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt; Chi đóng niên liễm, vốn đối ứng các dự án theo hiệp định với các tổ chức quốc tế.; Chi thực hiện các chương trình mục tiêu quốc
Trang 29gia; Chi thực hiện tinh giản biên chế (nếu có); Chi đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức; Chi nghiên cứu khoa học; Chi thực hiện các nhiệm vụ không thường xuyên khác có tính chất đột xuất được cấp có thẩm quyền giao
c Nội dung quản lý chi NSNN tại các Cơ quan hành chính Nhà nước Hoạt động chi NSNN tại các Cơ quan hành chính Nhà nước được thực hiện gồm ba khâu: lập dự toán, chấp hành dự toán và Quyết toán chi NSNN,
cụ thể:
* Lập dự toán: Hàng năm, các Cơ quan hành chính Nhà nước (đơn vị trực tiếp sử dụng ngân sách) lập dự toán thu, chi ngân sách thuộc phạm vi nhiệm vụ được giao, gửi Cơ quan hành chính Nhà nước cấp trên trực tiếp Cơ quan hành chính Nhà nước cấp trên trực tiếp (trường hợp không phải là đơn vị
dự toán cấp I) xem xét, tổng hợp dự toán của các Cơ quan hành chính Nhà nước cấp dưới trực thuộc gửi đơn vị dự toán cấp I Đơn vị dự toán cấp I xem xét dự toán do các đơn vị trực thuộc lập, tổng hợp và lập dự toán thu, chi ngân sách thuộc phạm vi quản lý gửi cơ quan Tài chính, cơ quan Kế hoạch và Đầu
tư cùng cấp Dự toán thu, chi ngân sách phải kèm theo bản thuyết minh chi tiết căn cứ tính toán từng khoản thu, chi Khi thực hiện lập dự toán thu, chi ngân sách hàng năm, các Cơ quan hành chính Nhà nước phải căn cứ theo các văn bản hướng dẫn, quy định của Nhà nước, đơn vị quản lý cấp trên
* Chấp hành dự toán: Căn cứ dự toán ngân sách được cấp có thẩm quyền giao, cơ quan chủ quản cấp trên (đơn vị dự toán cấp I) lập phương án phân bổ dự toán cho các Cơ quan hành chính Nhà nước thuộc phạm vi quản
lý gửi cơ quan tài chính cùng cấp để thẩm tra theo quy định Sau khi có ý kiến thẩm tra của cơ quan tài chính cùng cấp, cơ quan chủ quản cấp trên (đơn vị dự toán cấp I) giao dự toán cho các Cơ quan hành chính Nhà nước thuộc phạm vi quản lý Các Cơ quan hành chính Nhà nước phải chấp hành theo đúng dự toán
đã được giao Các khoản chi NSNN của Cơ quan hành chính Nhà nước phải đáp ứng các điều kiện: có trong dự toán chi NSNN được giao; đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định; đã được Thủ trưởng đơn vị hoặc người được uỷ quyền quyết định chi Ngoài ra, đối
Trang 30với việc chi NSNN để đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm trang thiết bị, phương tiện làm việc và các công việc khác phải qua đấu thầu hoặc thẩm định giá thì còn phải tổ chức đấu thầu hoặc thẩm định giá theo quy định của pháp luật Căn cứ vào dự toán NSNN được giao, tiến độ triển khai công việc và điều kiện chi ngân sách, Thủ trưởng Cơ quan hành chính Nhà nước quyết định chi gửi KBNN nơi giao dịch, kèm theo các tài liệu cần thiết theo chế độ quy định KBNN kiểm tra tính hợp pháp của các tài liệu do đơn vị gửi, thực hiện thanh toán khi có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật Việc thanh toán theo nguyên tắc trực tiếp từ KBNN cho người hưởng lương, trợ cấp xã hội và người cung cấp hàng hoá, dịch vụ; đối với các khoản chi chưa
có điều kiện thực hiện việc thanh toán trực tiếp, KBNN tạm ứng cho Cơ quan hành chính Nhà nước để chủ động chi theo dự toán được giao, sau đó Cơ quan hành chính Nhà nước có trách nhiệm cung cấp chứng từ chứng
minh để thanh toán tạm ứng với KBNN theo quy định
* Quyết toán ngân sách: Kết thúc năm ngân sách, các Cơ quan hành chính Nhà nước phải lập, tổng hợp báo cáo quyết toán năm gửi Cơ quan hành chính Nhà nước cấp trên xét duyệt Số liệu trong báo cáo quyết toán ngân sách phải chính xác, trung thực, đầy đủ Nội dung của báo cáo quyết toán ngân sách phải theo đúng các nội dung trong dự toán được giao và theo Mục lục NSNN; Thủ trưởng các Cơ quan hành chính Nhà nước phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực, đầy đủ của báo cáo quyết toán của đơn vị, chịu trách nhiệm về những khoản thu, chi hạch toán, quyết toán sai chế độ Kết thúc việc xét duyệt quyết toán năm, Cơ quan hành chính Nhà nước cấp trên ra thông báo xét duyệt quyết toán năm cho các Cơ quan hành chính Nhà nước cấp dưới và thực hiện công khai theo quy định của pháp luật Thủ trưởng Cơ quan hành chính Nhà nước cấp trên phải chịu trách nhiệm về kết quả xét duyệt quyết toán cho Cơ quan hành chính Nhà nước cấp dưới, nếu để xảy ra vi phạm mà không phát hiện hoặc đã phát hiện nhưng không xử l sẽ bị xử l theo quy định của pháp luật
Trang 311.2.3.3 Tổ chức bộ máy và phân cấp quản lý chi NSNN tại các Cơ quan hành chính Nhà nước:
Các Cơ quan hành chính Nhà nướcthường được thiết lập theo hệ thống dọc từ Trung ương đến địa phương trong cùng một ngành, chúng hình thành nên các cấp dự toán khác nhau, tuỳ theo trách nhiệm trong việc quản lý tài chính Mọi khoản chi tiêu của các Cơ quan hành chính Nhà nướcđược bố trí trong kế hoạch và được duyệt trong dự toán chi tiêu NSNN hàng năm, vì thế
nó còn được gọi là đơn vị dự toán Hiện nay, theo quy định của Luật NSNN
có 3 cấp đơn vị dự toán, cụ thể:
- Đơn vị dự toán cấp I là đơn vị trực tiếp nhận dự toán ngân sách hàng năm do Thủ tướng Chính phủ hoặc Uỷ ban nhân dân giao, thực hiện phân bổ, giao dự toán ngân sách cho đơn vị cấp dưới trực thuộc
- Đơn vị dự toán cấp II là đơn vị cấp dưới đơn vị dự toán cấp I, được đơn vị dự toán cấp I giao dự toán và phân bổ dự toán được giao cho đơn vị dự toán cấp III (trường hợp được ủy quyền của đơn vị dự toán cấp I)
- Đơn vị dự toán cấp III là đơn vị trực tiếp sử dụng ngân sách (Đơn vị sử dụng NSNN), được đơn vị dự toán cấp I hoặc cấp II giao dự toán ngân sách
1.2.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác quản lý chi NSNN của các Cơ quan hành chính Nhà nước
- Quan điểm và hệ thống các giải pháp chiến lược của Đảng và Nhà nước về lĩnh vực hành chính nhà nước: Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân Việc thực thi các giải pháp chiến lược của Đảng và Nhà nước đối với lĩnh vực hành chính nhà nước có tác động quan trọng đến quản lý tài chính trong lĩnh vực hành chính nhà nước, những giải pháp này sẽ cho phép sử dụng nguồn lực tài chính một cách hiệu quả
- Cơ chế chính sách nhà nước:
Một là, yếu tố pháp luật: Là yếu tố trước hết và quan trọng của cơ chế quản lý tài chính đối với các cơ quan nhà nước, được thể hiện: mọi chủ trương, chính sách của Nhà nước trong quản l kinh tế nói chung, quản l hoạt
Trang 32động tài chính, đặc biệt là quản lý chi NSNN của cơ quan nhà nước nói riêng chỉ có thể đi vào thực tiễn khi nó được cụ thể hoá thành luật Vì thông qua pháp luật mọi yêu cầu của quản lý được cụ thể hoá thành các quy tắc, quy định về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể có liên quan đến quản lý, đồng thời quy định các biện pháp bảo đảm cho quyền và nghĩa vụ được thực hiện Trong các điều kiện, hoàn cảnh khác nhau và đối với mỗi chủ thể khác nhau được pháp luật quy định có những quyền và nghĩa vụ khác nhau, nhờ đó trật
tự trong nền kinh tế được duy trì
Hai là, hệ thống các biện pháp tổ chức thực hiện pháp luật: Hệ thống các biện pháp tổ chức thực hiện pháp luật bao gồm từ việc cụ thể hoá pháp luật tới việc triển khai thực hiện pháp luật trong thực tế Đối với mỗi một chủ thể quản lý khác nhau thì quyền và nghĩa vụ khác nhau trong việc tổ chức thực hiện pháp luật Ví dụ, có sự khác nhau trong thẩm quyền tổ chức thực hiện pháp luật giữa các Bộ, ngành
Ba là, quyết định quản lý: Hình thức biểu hiện cụ thể và cuối cùng của các quá trình quản lý là quyết định quản lý Các quyết định quản lý phải phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế của các cơ quan nhà nước như các điều kiện về khoa học công nghệ, về tài chính,
về trình độ của người lao động Quyết định quản lý đúng đắn sẽ có tác dụng tích cực tới các hoạt động của các cơ quan nhà nước, còn ngược lại quyết định quản l sai lầm sẽ làm cản trở hoạt động của các cơ quan nhà nước và trong những chừng mực nhất định còn làm ảnh hưởng tới lợi ích của nhà nước như thất thoát, lãng phí kinh phí, tài sản của nhà nước
- Tổ chức bộ máy quản lý hành chính nhà nước và việc phân định chức năng nhiệm vụ của các cơ quan trong bộ máy quản lý hành chính nhà nước: Tuy đã có nhiều thay đổi tích cực theo hướng tinh giản, gọn nhẹ song bộ máy này vẫn còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc Hệ thống thể chế hành chính chưa đồng bộ, còn chồng chéo và thiếu thống nhất Chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của bộ máy hành chính chưa được xác định thật rõ và phù hợp, sự phân công giữa các ngành, các cấp chưa thật rành mạch Thực chất, cải cách
Trang 33hành chính nhà nước là thay đổi phương thức hoạt động quản lý nhà nước nhằm thích ứng với môi trường và đem lại hiệu quả cao hơn, tuy nhiên, đây là vấn đề phức tạp vì sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của một số cán bộ, công chức
Sự tác động của cải cách hành chính đến đội ngũ cán bộ công chức khá toàn diện: từ nhận thức, tư duy đến hành động; từ quy trình, phương pháp đến kết quả cuối cùng; từ lợi ích cá nhân, lợi ích công đến lợi ích chung, lợi ích xã hội Cải cách hành chính sẽ tạo ra sự thay đổi lớn trong tổ chức, hoạt động của các cơ quan hành chính, những tác động tích cực của công cuộc cải cách hành chính sẽ ảnh hưởng đáng kể đối với hiệu quả quản lý và sử dụng kinh phí NSNN của các Cơ quan hành chính Nhà nước
- Nhiệm vụ được giao hàng năm của các Cơ quan hành chính Nhà nước: Các nguồn kinh phí giữ vị trí trọng yếu trong việc đảm bảo sự tồn tại và phát triển đối với các hoạt động của bộ máy cơ quan nhà nước, phục vụ cho việc thực hiện các chức năng của nhà nước và vai trò quản lý vĩ mô của nhà nước đối với toàn bộ nền kinh tế, để duy trì cho bộ máy hoạt động và thực hiện các nghiệp vụ hành
chính, là bộ phận của cải xã hội dưới hình thức giá trị nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Cơ quan hành chính Nhà nước Xuất phát từ yêu cầu giải quyết các nhiệm vụ thường xuyên và đột xuất được cấp có thẩm quyền giao, các Cơ quan hành chính Nhà nước căn cứ vào nhiệm vụ cụ thể và kế hoạch triển khai thực hiện để lập kế hoạch thu, chi nguồn kinh phí theo cơ chế quản lý tài chính được quy định nhằm nâng cao hiệu quả quản l tài chính, đồng thời mở rộng tính độc lập, tự chủ của các Cơ quan hành chính Nhà nước trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình, do đó có thể nói nhiệm vụ được giao hàng năm của các Cơ quan hành chính Nhà nước gắn liền với công
tác quản lý tài chính và là nhân tố tác động đến công tác quản lý tài chính ở những mức độ khác nhau
- Đặc thù của các cơ quan nhà nước: Đặc thù của cơ quan nhà nước có ảnh hưởng rất lớn tới công tác quản lý tài chính của cơ quan nhà nước, nhất là
cơ chế quản lý chi NSNN Do đó, Nhà nước cần phải có những chính sách,
Trang 34quy định cụ thể để các cơ quan nhà nước có cơ chế quản lý chi NSNN phù hợp và hiệu quả
- Số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức và chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức: Đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước ta hiện nay là một lực lượng khá đông đảo, đang tích cực đóng góp sức mình vào hoạt động của các cơ quan hành chính Tuy nhiên, do điều kiện lịch sử của đất nước, đội ngũ cán bộ, công chức được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, năng lực và trình độ chuyên môn nghiệp vụ không đồng đều Hiện tượng vừa thừa, vừa thiếu cán bộ trong các cơ quan nhà nước không chỉ phổ biến ở thời
kỳ nền kinh tế bao cấp mà ngay cả trong cơ chế thị trường hiện nay, chúng ta còn thiếu những cán bộ giỏi và chuyên gia đầu ngành Còn nhiều cán bộ, công chức hình thành và phát triển từ cơ chế cũ, vì vậy, những thói quen trong cơ chế cũ đã hằn sâu trong tiềm thức không chỉ cán bộ, công chức nói chung mà
cả trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo Tâm lý xin phép và hành động theo mệnh lệnh của cán bộ công chức đã làm cho nhiều cấp hành chính bị động, lúng túng trước những vấn đề phát sinh trong cuộc sống hàng ngày, làm hạn chế sự năng động sáng tạo của cán bộ, công chức, một điều hết sức cần thiết trong cơ chế thị trường Nếu không sớm khắc phục tình trạng này thì hiệu quả quản lý tài chính trong các Cơ quan hành chính Nhà nước khó có thể đạt hiệu quả cao Mặt khác, chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức cũng có tác động, ảnh hưởng đến công tác quản lý tài chính tại các Cơ quan hành chính Nhà nước do chính sách này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của những người hưởng lương mà còn ảnh hưởng đến sản xuất, quan hệ tích luỹ với tiêu dùng, quan hệ giữa các tầng lớp lao động, giữa các ngành nghề, các khu vực khác nhau, đến năng suất và hiệu quả lao động của các bộ, công chức Chính sách tiền lương cũng liên quan trực tiếp đến việc tuyển dụng và
sử dụng cán bộ công chức có chất lượng cao Nếu chính sách tiền lương không tạo thành động lực của cán bộ, công chức thì hiệu quả hoạt động của các Cơ quan hành chính Nhà nước sẽ thấp và khó có thể đáp ứng được yêu cầu và những thách thức trong quá trình hội nhập khu vực và quốc tế
Trang 35- Trình độ chuyên môn của cán bộ tài chính kế toán: Con người luôn là yếu tố quyết định của mọi sự thành công, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động trong bộ máy Cơ quan hành chính Nhà nước, con người vừa là chủ thể, vừa là đối tượng của cơ chế quản lý tài chính Do vậy, để nâng cao và phát huy hiệu quả cơ chế quản lý tài chính thì trình độ, chuyên môn nghiệp vụ cũng như phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ làm công tác tài chính kế toán là nhân
tố cần thiết để thực hiện đúng vai trò quản lý tài chính Với đội ngũ cán bộ tài chính kế toán có trình độ, chuyên môn nghiệp vụ cao, có khả năng tiếp thu những khoa học công nghệ hiện đại sẽ góp phần nâng cao năng lực quản lý tài chính, vì họ là những người tham mưu, đề xuất những ý kiến phù hợp với hoạt động của cơ quan, theo đúng chính sách, chế độ để trên cơ sở đó giúp thủ trưởng cơ quan hành chính có những quyết định quản lý đúng đắn nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng các nguồn kinh phí được giao; Đồng thời, cán
bộ, công chức làm công tác tài chính kế toán là người trực tiếp thực hiện các
cơ chế, chính sách, từ đó giúp cho việc sử dụng các nguồn tài chính tiết kiệm,
cơ chế quản lý tài chính có hiệu quả
1.3 Kinh nghiệm về quản lý chi ngân sách nhà nước trong một số cơ quan hành chính nhà nước
1.3.1 Kinh nghiệm quản lý chi ngân sách nhà nước của một số đơn vị khác
1.3.1.1 Kinh nghiệm của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng
Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng là một trong những Tòa án trong
hệ thống Tòa án nhân dân được chọn làm làm nơi thí điểm cải cách hoạt động xét xử cũng như công tác quản lý chi NSNN Nhờ thực hiện tốt những quy định pháp luật, các văn bản hướng dẫn trong lĩnh vực NSNN của Quốc hội, CHính phủ, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch – Đầu tư, đặc biệt là của Cục Kế hoạch – Tài chính thuộc Tòa án nhân dân tối cao, công tác quản lý chi NSNN của Tòa án nhân dân thành phố Hải phòng đã có nhiều đổi mới, trở thành tấm gương điển hình cho các Tòa án nhân dân cấp tỉnh, thành phố khác học tập Thông qua việc ứng dụng công nghệ hoạt động nghiệp vụ ngân sách nhà nước (NSNN), KBNN, các phần mềm kế toán quản lý chi NSNN, đã giúp cho Tòa
Trang 36án nhân dân thành phố Hải Phòng từng bước cải thiện hiệu quả, tránh lãng phí NSNN, phục vụ công tác cho thẩm phán và thư ký yên tâm làm việc, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân đến làm việc, các công tác liên quan đến chi NSNN cũng được triển khai thực hiện nhanh chóng, đúng pháp luật
Dự toán của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng thực hiện quản lý theo hai nguồn chính là nguồn kinh phí thực hiện tự chủ và nguồn kinh phí thực hiện không tự chủ theo Nghị định số 117/2013/NĐ-CP ngày 07/10/2013 của Chính phủ Trong quá trình triển khai, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã bám sát các chế độ tiêu chuẩn định mức quy định của nhà nước, trong quyết toán nguồn kinh phí thực hiện tự chủ: đối với chi công tác phí kiên quyết không thanh toán các khoản chi vượt chế độ, tiêu chuẩn, định mức quy định của Nhà nước và trong Quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị, như: tiền thuê phòng nghỉ trong thời gian công tác vượt chế độ, định mức; đi công tác quá số ngày ghi trong công lệnh, ; đối với các chương trình công tác trong kế hoạch hoạt động, đơn vị và Cán bộ Công chức
đi công tác phải thu xếp thời gian đi, về đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ và thực hiện thanh toán chi phí tàu xe theo đúng quy định, không bố trí đi công tác bằng phương tiện máy bay đối với Cán bộ Công chức không đủ tiêu chuẩn, trừ các trường hợp đột xuất, phát sinh ngoài kế hoạch
1.3.1.2 Kinh nghiệm của Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng
Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng là đơn vị thuộc Hệ thống Tòa án nhân dân Kinh phí đảm bảo hoạt động hàng năm của Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng do Tòa án nhân dân tối cao thông qua Cục Kế hoạch – Tài chính cấp theo quy định
- Về xây dựng cơ chế quản lý tài chính và quy chế chi tiêu nội bộ: Trên
cơ Nghị định số 117/2013/NĐ-CP ngày 07/10/2013 của Chính phủ hướng dẫn chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ quan nhà nước, Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng đã xây dựng cơ chế quản lý và quy chế chi tiêu nội bộ đối với các Văn phòng Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng và các Tòa án nhân dân thành phố, thị xã, huyện thuộc Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng trong đó quy định về công tác
Trang 37phí, chi phí tiếp khách, chi phí họp, hội nghị, nghiệp vụ phí….Do địa hình tỉnh Cao Bằng tương đối rộng lớn và hiểm trở, việc xét xử cũng như những nghiệp vụ liên quan rất tốn kém bằng việc đổi mới trong công tác chi cho nghiệp vụ xét xử với mức quy định mới đã giúp giảm chi phí, tích kiệm cho ngân sách Nhà nước:
+ Sách tài liệu, In ấn dùng cho chuyên môn, trang phục, đồng phục, chi phí phiên toà lưu động v.v thanh toán theo đúng chế độ đã quy định của Nhà nước Trường hợp xét xử quá giờ hành chính thì được tính thêm thời gian là: Sáng 7h đến 11h30'; chiều 13h đến 17h30' - Nếu xử 01 buổi thì đựơc tính thêm 01 buổi = 01 ngày; Nếu 01 ngày thì được tính = 1,5 ngày (Phải lập bản xác nhận quá giờ có đầy đủ chữ ký của thẩm phán Hội thẩm nhân dân & thư
ký trong phiên tòa);
+Khoán tống đạt giấy báo đối với thư ký 200.000đ/tháng/thư ký
+ Khoán tiền tàu, xe cho nhân chứng 1.000đồng/1km-nhân với số km thực đi
Căn cứ để thanh toán khoán tiền tàu, xe cho nhân chứng trong trường hợp này là giấy triệu tập nhân chứng và bảng kê độ dài quãng đuờng thực đi, xác nhận của chủ tọa phiên tòa
- Việc lập kế hoạch đầu tư xây dựng trụ sở mới nhằm đảm bảo nhiệm
vụ tuyên truyền pháp luật tại địa phương cũng như đảm bảo an ninh trật tự luôn bám sát nhu cầu thực tế tại các đơn vị thuộc phạm vi quản lý của Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng Hiện nay đang có 02 trụ sở Tòa án nhân dân cấp huyện xây mới với tổng kinh phí là 80 tỷ đồng Việc sử dụng nguồn vốn đàu
tư xây dựng cơ bản luôn nằm trong kế hoạch trung hạn xây dựng mới các trụ
sở làm việc của Hệ thống Tòa án nhân dân tạo hiệu quả trong sử dụng nguồn vốn ngân sách
- Xây dựng kế hoạch mua sắm tài sản, thiết bị văn phòng, thay thế các tài sản hư hỏng quá thời hạn sử dụng luôn được quan tâm, ưu tiên sử dụng kinh phí 5% tự chủ tích kiệm được của đơn vị
- Phát huy tính dân chủ, công khai minh bạch tài chính trong đội ngũ
Trang 38cán bộ công chức để tăng cường kiểm tra, giám sát nhằm kịp thời khắc phục những hạn chế, ngăn chặn dấu hiệu tiêu cực phát sinh Hàng năm, Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng tiến hành quyết toán với các Tòa án nhân dân cấp thành phố, thị xã, huyện thuộc phạm vi quản lý
1.3.2 Bài học kinh nghiệm về quản lý chi NSNN cho Tòa án nhân dân tỉnh Long An
Qua kinh nghiệm quản lý chi NSNN tại một số cơ quan đã nghiên cứu,
có thể rút ra những kinh nghiệm về quản lý chi NSNN tại Tòa án nhân dân tỉnh Long An như sau:
- Công tác lập dự toán luôn luôn phải bám sát vào tình hình thực hiện nhiệm vụ được giao, công tác thẩm định dự toán phải thực hiện theo một quy trình chặt chẽ, chi tiết đảm bảo theo đúng quy định tránh trường hợp lập dự toán không gắn với kết quả công việc dẫn đến số liệu không đảm bảo theo quy định
- Trong công tác triển khai dự toán, cần đi sâu đi sát vào thực tế của từng đơn vị nắm bắt những khó khăn vướng mắc trong việc thực hiện dự toán, từ đó đưa ra những biệm pháp xử lý phù hợp, đối với những vướng mắc mà trong phạm
vi thẩm quyền của Tòa án nhân dân, phải thực hiện xử lý nhanh chóng kịp thời, đối với những vướng mắc không thuộc phạm vi thẩm quyền xử lý của Tòa án nhân dân phải thực hiện trình cấp trên để giải quyết đảm bảo thời gian sớm nhất
- Trong công tác quyết toán: cần căn cứ vào tình hình thực tế của đơn
vị, căn cứ cơ cấu tổ chức bộ máy của đơn vị để xây dựng kế hoạch thực hiện thẩm tra, xét duyệt quyết toán phù hợp, cần cụ thể hóa cơ chế chính sách đến các đơn vị từng cơ quan đơn vị, từng cán bộ công chức viên chức từ đó đạt hiệu quả cao trong việc sử dụng ngân sách, đảm bảo chi tiêu theo đúng quy định
- Phương thức quản lý chi NSNN nói chung phải được áp dụng thống nhất và hiệu quả và cần gắn việc quản lý chi theo kết quả đầu ra
- Công tác chi NSNN phải đảm bảo tính công khai minh bạch từ Tòa án nhân dân cấp tỉnh đến Tòa án nhân dân cấp huyện trong các vấn đề như xây dựng, sửa chữa trụ sở, mua sắm tài sản phục vụ công tác xét xử, các nội dung chi cho phiên tòa, tập huấn hội thẩm nhân dân… bằng hình thức xây dựng Chi tiêu nội bộ
Trang 39Tiểu kết chương
Chương 1 đã trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu về quản lý chi NSNN trong Cơ quan hành chính nhà nước; đưa ra cơ sở lý luận về quản lý chi NSNN trong Cơ quan hành chính nhà nước bằng phương pháp phân tích tổng hợp , thống kê so sánh để phân tích và hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý chi NSNN trong Cơ quan hành chính nhà nước cụ thể tập trung phân tích đặc điểm và vai trò của quản lý chi NSNN trong Cơ quan hành chính nhà nước, nội dung quản lý chi NSNN trong Cơ quan hành chính nước từ khâu lập lập dự toán, triển khai dự toán, quyết toán NSNN trong cơ quan hành chính nhà nước; đồng thời đưa ra kinh nghiệm về quản lý chi NSNN trong một số Tòa án nhân dân cấp tỉnh, cụ thể là Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng và Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng
Hai phương pháp trên còn được sử dụng để nghiên cứu đánh giá thực trạng quản lý chi NSNN tại Tòa án nhân dân tỉnh Long An giai đoạn 2013-
2017 trong Chương 2 Để từ đó đề ra các giải pháp mang tính khả thi, phù hợp với thực tiễn của Tòa án nhân dân tỉnh Long An trong bối cảnh tình hình kinh tế - xã hội của cả nước hiện nay để từ đó nâng cao hiệu quả quản lý chi NSNN trong thời gian tới ở chương 3
Trang 40Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
2.1 Khái quát thực trạng về chi ngân sách nhà nước tại Tòa án nhân dân tỉnh Long An
2.1.1 Giới thiệu sơ lược về Tòa án nhân dân tỉnh Long An
Hiện nay, tổng biên chế có mặt bao gồm Thẩm phán, cán bộ công chức
và người lao động của Tòa án nhân dân tỉnh Long An là 296 biên chế
Căn cứ vào Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số 62/2014/QH13 ngày 24/11/2014 quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tòa án nhân dân; về Thẩm phán, Hội thẩm và các chức danh khác trong Tòa án nhân dân; về bảo đảm hoạt động của Tòa án nhân dân, Tòa án nhân dân tỉnh Long An có nhiệm vụ và quyền hạn sau:
- Tòa án nhân dân tỉnh Long An là cơ quan xét xử cấp tỉnh của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp Tòa án nhân dân tỉnh Long An có nhiệm vụ bảo vệ công lý bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Bằng hoạt động xét xử của mình, Tòa
án góp phần giáo dục công dân trung thành với Tổ quốc, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã hội, ý thức đấu tranh phòng, chống tội phạm, các vi phạm pháp luật khác
- Tòa án nhân dân tỉnh Long An có trách nhiệm xét xử các vụ án hình
sự, dân sự, kinh doanh, thương mại, hôn nhân và gia đình, lao động, hành chính và giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật trong phạm vi của tỉnh Long An
- Xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình tố tụng; căn cứ vào kết quả tranh tụng ra bản án, quyết định việc có tội hoặc không có tội, áp dụng hoặc không áp dụng hình phạt, biện pháp tư pháp, quyết định về quyền và nghĩa vụ về tài sản, quyền nhân thân trên địa bàn tỉnh Long An