Việc nghiên cứu lý luận chung về hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại, soi rọi vào thực tiễn của TPBank, từ đó đưa ra giải pháp thiết thực góp phần nâng cao hiệu quả ho
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRỪƠNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP.HỒ CHÍ MINH
NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI CỔ PHẦN TIÊN PHONG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRỪƠNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP.HỒ CHÍ MINH
NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI CỔ PHẦN TIÊN PHONG
Chuyên ngành : Quản trị kinh doanh
Mã số ngành : 60 34 01 02
CÁN B Ộ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS PHAN MỸ HẠNH
TP HỒ CHÍ MINH, tháng 5 năm 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu độc lập của bản thân Nội dung nghiên cứu và kết quả trong luận văn này là trung thực được đúc kết từ kết quả học tập và nghiên cứu từ lý luận và thực tiễn của bản thân trong thời gian qua Toàn bộ kết quả trong Luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu phản ánh trong Luận văn và các thông tin trích dẫn đều được chỉ rõ nguồn gốc rõ ràng /
H ọc viên thực hiện Luận văn
NGUYỄN ĐĂNG HUY
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành với sự cố gằng trong học tập, nghiên cứu của học viên, tôi còn nhận được sự giúp đỡ của các tổ chức và cá nhân Vì vậy, tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến:
• Trường Đại học Công nghệ TP Hồ Chí Minh với đội ngũ giảng viên giàu kinh nghiệm đã giảng dạy, giúp đỡ cho tôi trong suốt quá trình học tập tại Trường
• TS Phan Mỹ Hạnh, Cán bộ hướng dẫn khoa học, đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ
tôi trong quá trình hoàn thành luận văn
• Các cô chú, anh chị em là cán bộ nhân viên của TPBank, đã nhiệt tình giúp
đỡ, tạo điều kiện cho tôi tiếp cận, cung cấp thông tin có liên quan đến đề tài, đã góp
ý cho nội dung luận văn được tốt hơn
• Các bạn đồng nghiệp và học viên cùng khóa đã giúp đỡ, góp ý và động viên
để tôi hoàn thành luận văn
Trang 5TÓM T ẮT
Trong nền kinh tế thị trường, ngân hàng thương mại với các hoạt động huy động vốn, cung cấp tín dụng và dịch vụ ngân hàng đã và luôn giữ vai trò là lực lượng chủ lực tạo dòng chảy lưu thông vốn để thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển Vai trò đó của ngân hàng thương mại có phát huy tốt hay không còn tùy thuộc vào
hiệu quả hoạt động kinh doanh của toàn hệ thống ngân hàng thương mại nói chung
và của từng ngân hàng thương mại nói riêng Việc nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại, nhất định sẽ mang lại kết quả tích cực cho
nền kinh tế và cho chính bản thân các ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại cổ phần Tiên phong ( TPBank) có lịch sử tồn tại và phát triển chưa đến 10 năm, nhưng lại là một trong những ngân hàng thương mại cổ
phần có quy mô tầm trung ở Việt Nam Tuy bề dày và kinh nghiệm trong quản lý và
hoạt động kinh doanh ngân hàng chưa nhiều, nhưng TPBank đã có những bước phát triển đáng khích lệ và có đóng góp tích cực đối với sự phát triển của nền kinh tế xã
hội trong vài năm trở lại đây Việc nghiên cứu lý luận chung về hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại, soi rọi vào thực tiễn của TPBank, từ đó đưa
ra giải pháp thiết thực góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của TPBank là rất cần thiết, vừa có ý nghĩa to lớn về lý luận khoa học vừa có ý nghĩa về thực tiễn
Với đề tài “Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương
m ại Cổ phần Tiên phong” luận văn chuyển tải các nội dung chủ yếu sau đây:
Chương1: Trình bày các thuật ngữ, khái niệm và các hoạt động của ngân hàng thương mại; Về hiệu quả hoạt động kinh doanh, các yếu tố, các chỉ tiêu đánh giá,
và ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh trong ngân hàng thương mại Đây là nội dung lý luận cơ bản của luận văn, làm nền tảng để thực hiên các nội dung trong chương 2, chương 3 của luận văn
Chương 2 giới thiệu khái quát về NHTMCP Tiên Phong, sau đó tiến hành phân tích thực trạng hoạt động và hiệu quả hoạt động kinh doanh của TPBank dựa trên nguồn dữ liệu thu thập được thông qua số liệu báo cáo thống kê Luận văn đã phân tích lý giải về hiệu quả hoạt động kinh doanh trong hoạt động huy động vốn,
Trang 6hiệu quả trong hoạt động tín dụng , hiệu quả sử dụng tài sản, hiệu quả hoạt động đầu tư và cuối cùng tổng hợp chỉ tiêu về hiệu quả tài chính Để có thể đánh giá sát
thực hơn về hiệu quả hoạt động kinh doanh của TPBank, luận văn đã tiến hành so sánh, đối chiếu với các chỉ tiêu của toàn hệ thống ngân hàng thương mại và của các ngân hàng thương mại cổ phần
Chương 3, sau khi nêu định hướng chiến lược và mục tiêu phát triển đến năm
2020 của TPBank, Luận văn đã trình bày, phân tích 8 nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của TPBank trong thời gian tới
Tổng hợp toàn bộ kết quả nghiên cứu, Luận văn đã có kết luận, đồng thời nêu lên những nghiên cứu tiếp theo để góp phần gia tăng giá trị khoa học và thực
tiễn theo đề tài nghiên cứu./
Trang 7ABSTRACT
In a market economy, commercial banks with capital mobilization, credit and banking services have always been and still are a key force in the flow of capital to promote economic growth developed society The role that commercial banks have to play well depends on the business performance of the whole banking system of commerce in general and of each commercial bank in particular Improving business efficiency of commercial banks will definitely bring positive results to the economy and the commercial banks themselves
Tienphong Commercial Joint Stock Bank (TPBank) has a history of less than
10 years of existence and development but is one of the medium-sized joint stock commercial banks in Vietnam Despite its richness and experience in management and banking business, TPBank has made remarkable progress and has contributed positively to the development of the social economy for several years Come back here The study of the general theory of business performance of commercial banks, illuminated the reality of TPBank, thus providing a practical solution contributing to improve the performance of TPBank is very necessary, Both have great significance in scientific reasoning and practical sense
Under the topic "Improving Business Performance of Tienphong Commercial
Joint Stock Bank", the dissertation transposes the following main contents:
Chapter 1: Presentation of terms, concepts and activities of commercial banks;
In terms of business performance, factors, indicators, and significance of improving business performance in commercial banks This is the basic content of the thesis, as the basis for the contents of chapter 2, chapter 3 of the thesis
Chapter2 introduces Tienphong Commercial Joint Stock Bank, then analyzes TPBank's performance and business performance based on data collected through statistical reporting data The essay analyzes the business performance of capital mobilization, efficiency in credit operations, asset use efficiency, investment efficiency and finally aggregates indicators on financial performance To make a more realistic assessment of the business performance of TPBank, the dissertation has compared and
Trang 8compared the indicators of the commercial banking system and joint stock commercial banks
Chapter 3, after presenting TPBank's strategic orientation and development goals to 2020, has analyzed and analyzed eight groups of solutions to improve TPBank's business performance in the coming time
Synthesizing the results of the study, the thesis concludes and concludes the follow-up research to contribute to the increase of scientific and practical value in the research topic
Trang 9
M ỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
ABSTRACT v
MỤC LỤC vii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT xi
DANH MỤC CÁC BẢNG xii
DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ xiii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Sự cần thiết của đề tài luận văn ( Lý do chọn đề tài) 1
2.Mục tiêu nghiên cứu 1
2.1 Mục tiêu tổng quát 1
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3.Đối tượng nghiên cứu 2
4 Phạm vi nghiên cứu 2
6 Dữ liệu nghiên cứu 3
7 Những đóng góp mới của luận văn ( Ý nghĩa khoa học và thực tiễn) 3
8.Phương pháp nghiên cứu 3
9.Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan 4
9.1 Các nghiên cứu trong nước 4
Chương 1 8
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 8
VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA 8
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 8
1.1CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 8
1.1.1Khái niệm về ngân hàng thương mại ( NHTM) 8
1.1.2 Các hoạt động của ngân hàng thương mại 9
1.1.2.1Nhận tiền gửi 9
1.1.2.3 Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ 10
1.1.2.4 Các hoạt động khác 11
Trang 101.2 HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NHTM 12
1.2.1 Khái niệm về hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM 12
1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đếnhiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại 14
1.2.2.1 Nhóm các yếu tố chủ quan của ngân hàng thương mại 14
1.2.2.2 Nhóm các yếu tố khách quan 16
1.2.3.3 Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng chi phí và tài sản 21
1.2.3.4 Lợi nhuận và tốc độ tăng lợi nhuận 22
1.2.3.5 Tỷ suất lợi nhuận (Chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời) 23
1.2.4 Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại 25
1.2.4.1 Đối với các ngân hàng thương mại 25
1.2.4.2 Đối với khách hàng doanh nghiệp và cá nhân 26
1.2.4.3 Đối với toàn hệ thống ngân hàng 26
1.3 HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA MỘT NHTM CỔ PHẦN& BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG THƯƠNG TIÊN PHONG
27
1.3.1Hiệu quả hoạt động kinh doanh của một NHTMCP(trường hợp SacomBank) 27
1.3.2 Bài học kinh nghiệm đối với TPBank 30
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 31
Chương 2 32
PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG 32
KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN TIỀN PHONG 32 2.1 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ NHTM CỔ PHẦN TIÊN PHONG 32
2.1.1 Hoàn cảnh ra đời, sứ mạng, tầm nhìn và cam kết của TPBank 32
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của TPBank 35
2.1.3 Quy mô hoạt động ngân hàng của TPBank 37
2.2 PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN TIÊN PHONG 40
2.2.1 Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh của TPBank 40
Trang 112.2.1.1 Hiệu quả hoạt động huy động vốn 40
2.2.1.2 Hiệu quả hoạt động tín dụng 43
2.2.1.3 Hiệu quả sử dụng tài sản 50
2.2.1.4 Hiệu quả hoạt động đầu tư 51
2.2.1.5 Hiệu quả tài chính của TPBank 54
2.2.2 Đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của TPBank 59
2.2.2.1 Những thành công và kết quả đạt được 59
2.3.2 Những tồn tại 61
2.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA TPBANK 62
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 65
Chương 3 66
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNGKINH DOANH CỦANGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN TIÊN PHONG 66
3.1 ĐỊNH HƯỚNG KINH DOANH VÀ MỤC TIÊU CHIẾN LƯỢC CỦA TPBANK 66
3.1.1 Định hướng kinh doanh của TPBank 66
3.1.1.1 Đối với hoạt động huy động vốn và hoạt động tín dụng 66
3.1.1.2 Đối với nguồn vốn và quản lý vốn khả dụng 68
3.1.1.3 Đối với công tác quản lý rủi ro, kiểm soát và kiểm toán nội bộ 68
3.1.1.4 Đối với chính sách nhân sự 69
3.1.2 Mục tiêu chiến lược 69
3.2 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA TPBANK 70
3.2.1.Tăng cường năng lực tài chính, phát triển mạng lưới, mở rộng quy mô 70
3.2.1.1Tăng cường năng lực tài chính 70
3.2.1.2 Phát triển mạng lưới mở rộng quy mô 71
3.2.2 Phát triển đội ngũ nhân lực chất lượng cao 72
3.2.3 Chuẩn hóa mô hình tổ chức và quản trị điều hành 73
3.2.4 Tăng cường kiểm soát, xử lý rủi ro tín dụng 74
3.2.5 Nâng cao hiệu quả huy động vốn, hoạt động tín dung và đầu tư 75
3.2.6 Tiếp tục đẩy mạnh chương trình hiện đại hoá công nghệ ngân hàng 76
Trang 123.2.7 Tăng cường kiểm soát và tiết kiệm chi phí 77
3.2.8 Đẩy mạnh và gia tăng thu nhập hoạt động dịch vụ 77
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 80
KẾT LUẬN 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
Trang 13DANH M ỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CAR Captal Adequacy Ratio Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu
NIM
Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên
ROA Retern On Asset - ROA Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản
Công ty Quản lý Tài sản.(Tên đầy đủ :
Công ty TNHH Quản lý TS của các TCTD VN)
Trang 14DANH M ỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Quy mô hoạt động và tỷ lệ tăng trưởng của TPBank giai đoạn 2012 -2016 37
Bảng 2.2 Tình hình huy động vốn và tốc độ tăng trưởng từ năm 2012 -2016 tại TPBank 41
Bảng 2.3Tỷ lệ chi phí huy động vốn bình quân tại TPBank 2012 -2016 Đơn vị: Triệu VND 42
Bảng 2.4 Tỷ lệ chi phí vốn biên tế và lãi suất cho vay bình quân tại TP.Đơn vị: Triệu VND 42
Bảng 2.5 Dư nợ tín dụng phân loại theo thời hạn tại TPBank từ 2012 -2016 44
Bảng 2.7 Chỉ tiêu về chất lượng tín dụng và tỷ lệ an toàn vốn của TPBank 2012 -2016 47
Bảng 2.8 Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) và tỷ lệ chi phí ngoài lãi của TPBank 48 Bảng 2.9 Thu nhập ngoài lãi cận biên giai đoạn 2012 – 2016 tại TPBank 50
Bảng 2.10 Hiệu quả sử dụng tài sản tại TPBank từ 2012 -2016 Đơn vị: Triệu VND 50
Bảng2.11: Tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ đầu tư của TPBank từ 2012 -2016 51
Bảng 2.12 Cơ cấu đầu tư tại TPBank & tốc độ tăng trưởng từ 2012 -2016 52
Bảng 2.13 Quy mô, tỷ trọng dư nợ tín dụng và đầu tư tại TPBank từ 2012 -2016
Đơn vị: Triệu VND, % 53
Bảng 2.14 Chỉ tiêu về hiệu quả tài chính củaTPBank từ 2012-2016 Đơn vị Triệu VND 55
Bảng 2.15 Tỷ suất ROA, ROE từ 2011-2015 của hệ thống NHTM Việt Nam 59
Trang 15
DANH M ỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Quy mô TS, Vốn HĐ & Dư nợ TD của TPBank từ 2012- 2016 (Triệu VND) 39 Biều đồ 2.2: Quy mô dư nợ tín dụng, mức đầu tư và tổng tài sản 40 Biểu đồ 2.3: Chất lượng tín dụng tại TPBank giai đoạn 2012 -2016 (Triệu VND) 48 Biểu đồ 2.4 Tổng Tài sản và tài sản sinh lời ( TD và ĐT) của TPBank 2012 - 2016 54
Trang 16
PH ẦN MỞ ĐẦU
1 S ự cần thiết của đề tài luận văn ( Lý do chọn đề tài)
Qua hơn 10 năm phát triển trong hội nhập, nền kinh tế Việt Nam nói chung
và hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam nói riêng đã gặt hái được nhiều thành công Bức tranh về nền kinh tế tài chính Việt Nam trở nên rõ nét hơn, sáng sủa hơn
và dự báo những điều tốt đẹp trong tương lai Riêng đối với hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại nói chung và của các ngân hàng thương mại nội địa nói riêng cũng không nằm ngoài tình hình tổng quát của nền kinh tế xã hội: thành công cũng
có, trở ngại khó khăn thách thức cũng có Điều này cho thấy nếu các ngân hàng thương mại nội địa Việt Nam không phấn đấu vươn lên mạnh mẽ bằng chính nguồn
lực của mình để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, thì nguy cơ tụt hậu và sẽ
bị đối thủ cạnh tranh là các ngân hàng thương mại có yếu tố nước ngoài đuổi kịp, và qua mặt sẽ trở thành hiện thực Do đó, không những các ngân hàng thương mại trong nước cần xây dựng chiến lược và định hướng phát triển đúng, mà còn phải hết
sức chủ động và tích cực trong công tác quản trị điều hành
Ngân hàng thương mại cổ phần Tiên Phong (TPBank) là một trong những
ngân hàng thương mại cổ phần có quy mô vừa ở Việt Nam, tuy đã có những đóng góp đối với sự phát triển của nền kinh tế xã hội, nhưng còn phải phấn đấu nhiều hơn
nữa để nâng cao hiệu quả kinh doanh Hiệu quả nói chung và hiệu quả tài chính nói riêng trong hoạt động kinh doanh của TPBank chưa có vị trí cao trong hệ thống ngân hàng Việt Nam Trong điều kiện thực tế đó, đặt vấn đề tìm giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động của TPBank là rất cần thiết.Đây cũng là một mục tiêu mà TPBank phải đạt được để vươn lên vị trí top 15 trong hệ thống NHTM Việt Nam
Trên tinh thần đó, học viên chọn đề tài “ Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh c ủa Ngân hàng thương mại cổ phần Tiên Phong” làm luận văn tốt
nghiệp Cao học ngành QTKD, chuyên ngành Tài chính
2.M ục tiêu nghiên cứu
Trang 17định việc nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh trong các NHTM là yêu cầu khách quan và rât cần thiết không những đối với các ngân hàng thương mại mà đối
với toàn bộ nền kinh tế
hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại cổ phần Tiên Phong
• Đề xuất các giải pháp thiết thực để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh
của Ngân hàng thương mại cổ phần Tiên Phong trong thời gian tới
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng Trong
đó nghiên cứu cơ sở lý luận chung về hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng và
thực tiễn về hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng (trường hợp cụ thể bằng số
liệu thực tế tại Ngân hàng thương mại cổ phần Tiên Phong)
4 Ph ạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng thương mại cổ phần Tiên Phong giai đoạn 6 năm gần nhất; Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của TPBank trong thời gian tới
5 Câu h ỏi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nêu trên, câu hỏi được đặt ra khi thực hiên luận án này là:
• Hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại được đánh giá
dựa trên các chỉ tiêu chủ yếu gì Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh
trong các ngân hàng thương mại đối với nền kinh tế xã hội như thế nào
• Tác giả phản ánh và đánh giá như thế nào về hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM cổ phần Tiên Phong trong thời gian qua
• Cần những giải pháp nào để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM cổ phần Tiên Phong trong thời gian tới
Trang 186 D ữ liệu nghiên cứu
Nguồn dữ liệu được sử dụng để thực hiện đề tài luận văn gồm có:
• Nguồn dữ liệu từ Ngân hàng thương mại cổ phần Tiên Phong: Báo cáo thường niên 2011 – 2015; Báo cáo Tài chính 2011 – 2016
• Nguồn dữ liệu từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Báo cáo thường niên
2011 - 2015; Thống kê hoạt động Ngân hàng các năm 2011 – 2015
7 Nh ững đóng góp mới của luận văn ( Ý nghĩa khoa học và thực tiễn)
• Góp phần bổ sung hệ thống lý luận về hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại, qua đó làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu lý luận liên quan đến
đề tài
• Đánh giá đúng tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh của TPBank, qua
đó giúp những nhà quản lý kinh doanh ngân hàng có cách nhìn nhận và đánh giá
những kết quả đạt được và những gì chưa đạt được trong quản trị kinh doanh ngân hàng thương mại nói chung và NHTM cổ phần nói riêng
• Giải pháp đề xuất trong luận văn này có thể giúp hệ thống quản lý và điều hành của ngân hàng thương mại cổ phần tiếp nhận có chọn lọc để vận dụng vào
thực tiễn với mục tiêu nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng
8.P hương pháp nghiên cứu
Đề tài luận văn nghiên cứu về hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM, là
dạng đề tài nghiên cứu ứng dụng, do đó học viên lựa chọn phương pháp nghiên cứu định tính cho phù hợp với dạng đề tài này, cụ thể là:
• Phương pháp phân tích, tổng hợp lý thuyết để hoàn thành phần lý luận của
luận văn;
• Phương pháp tập hợp dữ liệu thống kê;
▪ Phương pháp phân tích dữ liệu thứ cấp để phản ánh thực trạng và đánh giá
thực trạng theo đối tượng nghiên cứu của luận văn;
• Phương pháp tổng hợp từ kinh nghiệm thực tiễn rút ra từ kết quả nghiên cứu, đề xuất giải pháp thiết thực để hoàn chỉnh mục tiêunghiên cứu của đề tài luận
văn
Trang 199.T ổng quan các công trình nghiên cứu liên quan
9.1 Các nghiên c ứu trong nước
• Nghiên cứu của Nguyễn Thị Cành và Hoàng Nguyễn Vân Trang
Với đề tài “Các nhân tố tác động đến hiệu quả tài chính của các ngân hàng
thương mại Việt Nam”.Các tác giả sử dụng số liệu chạy mô hình hồi quy là số liệu
bảng thống kê về kết quả hoạt động của 08 ngân hàng thương mại lớn tại Việt Nam giai đoạn từ 2003 - 2008 Để thực hiện được mục tiêu tổng thể của nghiên cứu là đo lường các yếu tố tác động đến hiệu quả tài chính của cácNHTM Việt Nam
Kết quả nghiên cứu đi đến 2 kết luận :
Th ứ nhất: Quy mô tổng tài sản, hệ số an toàn vốn CAR và chi phí có quan hệ
nghịch biến với lợi nhuận Quy mô vốn chủ sở hữu, doanh thu hay thu nhập lãi thuần có quan hệ đồng biến với lợi nhuận
Th ứ hai: Tỷ trọng vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản có quan hệ đồng biến với
lợi nhuận hoạt động của các NHTM Việt Nam, tức cấu trúc vốn có tác động dương
và tác động tương đối mạnh đến ROA Tỷ lệ chi phí trên thu nhập có quan hệ nghịch biến với ROA, điều này cho thấy yếu tố về năng lực quản trị của các NHTM nghiên cứu là yếu kém Hệ số CAR có quan hệ nghịch biến với ROA
• Nghiên cứu của Phạm Hữu Hồng Thái
Nghiên cứu tác động của nợ xấu đến khả năng sinh lợi của ngân hàng thương
mại cổ phần Việt Nam giai đoạn từ năm 2005 – 2012 Nghiên cứu sử dụng dữ liệu được thu nhập từ các báo cáo tài chính hàng năm, các báo cáo thường niên của 34 ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
Tác giả sử dụng biến phụ thuộc ROE đo lường khả năng sinh lợi của ngân hàng Các biến độc lập được sử dụng là quy mô ngân hàng ; đòn bẩy tài chính (tổng
n ợ/tổng vốn chủ sở hữu); chất lượng tài sản có (nợ xấu/tổngdư nợ); dự phòng rủi ro
tín dụng(dự phòng rủi ro/tổng dư nợ); hiệu quả quản trị tài sản (thu nhập hoạt
động/tổng tài sản); hiệu quả chi phí hoạt động (tổng chi phí hoạt động/tổng tài
s ản)
Kết quả nghiên cứu cho thấy nợ xấu có tác động tiêu cực đến khả năng sinh
lợi của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Có nghĩa là tỷ lệ nợ xấu tăng lên sẽ dẫn đến khả năng sinh lợi của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
Trang 20bị giảm sút Cùng kết quả với nợ xấu là các yếu tố chi phí dự phòng tổn thất, hiệu
quả quản lý chi phí hoạt động cũng có tác động tiêu cực đến khả năng sinh lợi của ngân hàng Các yếu tố có ảnh hưởng tích cực đến khả năng sinh lợi của ngân hàng
là quy mô ngân hàng, đòn bẩy tài chính, hiệu quả quản lý tài sản, trong khi đó yếu
tố dự phòng rủi ro tín dụng thì sự tác động không rõ ràng
• Nghiên cứu của Trịnh Quốc Trungvà Nguyễn Văn Sáng
Với đề tài“Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng
thương mại Việt Nam” Tác giả sử dụng số liệu được lấy từ các báo cáo tài chính
của các NHTM Việt Nam gồm 05 NHTM nhà nước và 34 NHTMCP trong giai đoạn từ năm 2005 - 2012 và sử dụng mô hình hồi quy Tobit để phân tích các nhân
sản, tăng tỷ lệ cho vay so với tổng tài sản và giảm tỷ lệ nợ xấu Bên cạnh đó, nghiên
cứu cũng cho thấy NHTM Nhà nước hoạt động kém hiệu quả hơn so với NHTM khác.Vì vậy, vấn đề tái cấu trúc ngân hàng cần phải được chú trọng đến loại hình sở
hữu của ngân hàng mới có thể tăng tính hiệu quả của từng ngân hàng cũng như toàn
hệ thống
• Nghiên cứu của Nguyễn Thị Cành và Nguyễn Thị Diễm Hiền
Nghiên cứu của GS.TS Nguyễn Thị Cành và Th.S Nguyễn Thị Diễm Hiền (2015) áp dụng khung phân tích Camels để đánh giá thực trạng hoạt động và mức
độ lành mạnh của các NHTM Việt Nam Các tác giả đưa ra 6 nhóm các chỉ tiêu có tác động đến sức khỏe của các định chế tài chính, bao gồm: Đảm bảo vốn đầy đủ hay an toàn vốn (Capital Adequacy – C);Chất lượng tài sản (Asset Quality – A);Quản trị lành mạnh (Management Soundless – M);Thu nhập (Earnings – E);Tính thanh khoản (Liquydity – L);Độ nhạy rủi ro thị trường (Sensitivity to Market Risk – S)
Trang 219.2 Các nghiên c ứu ở nước ngoài
• Nghiên cứu của Ong Tze San and Teh Boon Heng
Vào năm 2013, Ong Tze San and Teh Boon Heng (2013) nghiên cứu về đề
tài: “Nh ững nhân tố tác động đến khả năng sinh lợi của các ngân hàng thương mại Malaysia” Nghiên cứu sử dụng bộ dữ liệu bao gồm 20 NHTM trong và ngoài nước
hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng tại Malaysia (gồm 9 ngân hàng trong nước và
11 ngân hàng nước ngoài) trong giai đoạn từ năm 2003 – 2009 Tác giả sử dụng
biến phụ thuộc là ROA, ROE, NIM; các biến độc lập là tỷ lệ an toàn vốn, chất lượng tài sản, hiệu quả quản lý, chất lượng thanh khoản , quy mô ngân hàng, tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) và tỷ lệ lạm phát (CPI)
Nghiên cứu này đưa ra kết luận sau đây: Việc tạo ra lợi nhuận của các ngân hàng (Malaysia) chỉ chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi các nhân tố nội tại của chính ngân hàng, trong khi các nhân tố vĩ mô, có tác động nhưng không đáng kể
• Nghiên cứu của Beger A.N và Mester L.J( 1997)“Đánh giá hiệu quả hoạt
động kinh doanh của các ngân hàng thương mại” khẳng định: Hiệu quả hoạt động
kinh doanh ngân hàng thể hiệnmối quan hệ giữa doanh thu đầu ra và chi phí đầu vào Nói cách khác việc tạo doanh thu đầu ra lớn nhất với giá trị các nguồn lực đầu vào của ngân hàng nhỏ nhất sẽ tạo ra hiệu quả hoạt động kinh doanh tốt nhất Từ
đó, hai tác giả đi đến kết luận:Ngân hàng thương mại hoạt động có hiệu quả phải là
những ngân hàng có danh mục tài sản có sinh lời (tín dụng và đầu tư) vừa chiếm tỷ
trọng cao trong tổng tài sản, vừa có chất lượng tốt Trong khi chi phí nguồn lực đầu vào(chi phí huy động vốn, chi phí kinh doanh, chi phí nhân viên) phải ở mức thấp
nhất, hợp lý nhất Muốn vậy phải có một hệ thống quản trị có hiệu quả Muốn có
một hệ thống quản trị có hiệu quả, phải có một đội ngũ nhân lực có trình độ chuyên môn cao và trách nhiệm
Như vậy, từ những tóm lược các nghiên cứu trên, so sánh giữa các nghiên
cứu định tính và cả các kết quả nghiên cứu định lượng tại Việt Nam và trên thế giới
đã cho thấysự tác động của các nhân tố đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại trong nước và trên thế giới
KẾT CẤU LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận văn có kết cầu 3 chương, gồm:
Trang 22Chương 1: Cơ sở lý luận về ngân hàng thương mại và hiệu quả hoạt động
kinh doanh của ngân hàng thương mại
Chương 2: Phân tich và đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân
hàng thương mại cổ phần Tiên Phong
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân
hàng thương mại cổ phần Tiên Phong
Trang 23Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại ( NHTM)
Khái niệm về ngân hàng thương mại được nêu dưới nhiều gốc độ khác nhau:
• Theo giáo trình Tài chính Tiền tệ của Trường đại học Kinh tế: Ngân hàng thương mại (NHTM) là loại ngân hàng giao dịch trực tiếp với các công ty, xí nghiệp, tổ chức kinh tế và cá nhân, bằng cách nhận tiền gửi, tiền tiết kiệm, rồi sử
dụng số vốn đó để cho vay, chiết khấu, cung cấp các phương tiện thanh toán và cung ứng dịch vụ ngân hàng cho các đối tượng nói trên
• Theo Nghị định 59/2009/NĐ-CP của Chính Phủ ban hành ngày 16/07/2009 về
tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại, thì: “Ngân hàng thương mại là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật”.[6]
• Theo Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 được Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 16/06/2010, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2011:
“Ngân hàng là lo ại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các lo ại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng h ợp tác xã”
“Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này
nh ằm mục tiêu lợi nhuận”.[15]
Như vậy, có thể nói rằng, ngân hàng thương mại là định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trường Nhờ hệ thống định chế tài chính trung gian này mà các nguồn tiền nhàn rỗi nằm rải rác trong xã hội sẽ được
Trang 24huy động, tập trung lại, đồng thời sử dụng số vốn đó để cấp tín dụng cho các tổ
chức kinh tế, cá nhân để phát triển kinh tế xã hội
1.1.2 C ác hoạt động của ngân hàng thương mại
NHTM là loại hình tổ chức chuyên nghiệp trong lĩnh vực tạo lập và cung cấp các dịch vụ tài chính, tiền tệ cho công chúng cũng như thực hiện nhiều vai trò khác trong nền kinh tế.Thành công trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng hoàn toàn
phụ thuộc vào năng lực, khả năng cung cấp dịch vụ cho công chúng theo giá cạnh tranh trên thị trường Các hoạt động của NHTM tương đối đa dạng, liên quan đến nhiều lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội, chủ yếu gồm ba lĩnh vực: nghiệp vụ nợ (huy động vốn), nghiệp vụ có (cho vay, kinh doanh) và nghiệp vụ môi giới trung gian (dịch vụ thanh toán, bảo lãnh, đầu tư, thuê mua, tư vấn, ủy thác, đại lý, dịch vụ cho thuê két sắt …) Các nghiệp vụ này có quan hệ chặt chẽ, tác động hỗ trợ, thúc đẩy nhau phát triển, tạo nên uy tín cho ngân hàng Các hoạt động của NHTM bao
gồm:
1.1.2.1 Nhận tiền gửi
Nhận tiền gửi là một trong hai mặt hoạt động cơ bản của NHTM Với hoạt động
nhận tiền gửi, các NHTM được phép sử dụng tất cả những công cụ và phương pháp khác nhau để huy động mọi nguồn tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế để tạo lập nguồn
vốn, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu vay vốn của nền kinh tế NHTM nhận tiền gửi dưới các hình thức sau đây:
• Nhận tiền gửi (tiền gửi có kỳ hạn, không kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các loại
ti ền gửi khác) của các tổ chức kinh tế, các cá nhân, các tổ chức đoàn thể xã hội, các
tổ chức tín dụng và các hình thức huy động khác… bằng VND và bằng ngoại tệ
• Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy động vốn trong nước và nước ngoài
• Vay vốn của TCTD, tổ chức tài chính trong nước và nước ngoài
• Vay vốn của NHNN dưới hình thức tái cấp vốn, tái chiết khấu theo quy định
Trang 25hoạt động tín dụng là hoạt động mang lại lợi nhuận chủ yếu cho các NHTM, quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, tuy nhiên, nó cũng chứa đựng nhiều rủi
ro Do đó, bên cạnh việc mở rộng hoạt động tín dụng, các ngân hàng phải có biện pháp để phòng ngừa và hạn chế rủi ro tin dụng, bởi vì khi những rủi ro này xảy ra sẽ gây ảnh hưởng lớn đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng Hoạt động cấp tín dụng cũng là hoạt động kinh doanh chủ yếu của NHTM, đây là hoạt động mang lại lợi nhuận chủ yếu cho các NHTM, quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng Đây là hình thức ngân hàng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử
dụng vào mục đích và thời gian thỏa thuận nhất định giữa ngân hàng và khách hàng
với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi Hoạt động cấp tín dụng bao gồm:
• Cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn để sản xuất kinh doanh đối với các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế; cho vay phục vụ tiêu dùng đối với cá nhân, hộ gia đình, các tổ chức đoàn thể xã hội
• Chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác
• Bảo lãnh ngân hàng: Bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh dự thầu,
bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh hoàn thanh toán, các hình thức bảo lãnh khác
• Cho vay thông qua phát hành thẻ tín dụng
• Bao thanh toán trong nước; bao thanh toán quốc tế đối với các ngân hàng được phép thực hiện thanh toán quốc tế
• Các hình thức cấp tín dụng khác sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận
1.1.2.3 Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ
Đây là các hoạt động dịch vụ mà khi ngân hàng cung cấp cho khách hàng sẽ
nhận được các khoản hoa hồng và lệ phí Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ bao gồm các hoạt động sau:
• Mở tài khoản thanh toán cho khách hàng
• Cung ứng các phương tiện thanh toán
•Thực hiện dịch vụ thanh toán trong nước bao gồm séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi,
nhờ thu, ủy nhiệm thu, thư tín dụng, thẻ ngân hàng, dịch vụ thu hộ và chi hộ
Trang 26• Thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế và các dịch vụ thanh toán khác sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận
• Dịch vụ quản lý tiền mặt, tư vấn ngân hàng, tài chính; các dịch vụ quản lý, bảo
quản tài sản, cho thuê tủ, két an toàn
• Dịch vụ môi giới tiền tệ
• Tư vấn tài chính doanh nghiệp, tư vấn mua, bán, hợp nhất, sáp nhập doanh nghiệp và tư vấn đầu tư
• Kinh doanh ngoại hối, phái sinh về tỷ giá, lãi suất, tiền tệ và tài sản tài chính khác cho khách hàng ở trong nước và nước ngoài sau khi được NHNN chấp thuận
● Đầu tư trực tiếp
Đầu tư trực tiếp là hoạt động đầu tư của ngân hàng bằng vốn điều lệ và quỹ dự
trữ của mình theo nguyên tắc lời được hưởng, lỗ phải gánh chịu Đầu tư trực tiếp còn gọi là đầu tư thương mại và được thực hiện dưới hình thức sau đây:
• Thành lập hoặc mua lại công ty con, công ty liên kết để thực hiện bảo lãnh phát hành chứng khoán, môi giới chứng khoán; quản lý, phân phối chứng chỉ quỹ đầu tư chứng khoán; quản lý danh mục đầu tư chứng khoán và mua, bán cổ phiếu; cho thuê tài chính; kinh doanh dịch vụ bảo hiểm
• Thành lập, mua lại công ty con, công ty liên kết hoạt động trong lĩnh vực quản
lý tài sản bảo đảm, kiều hối, kinh doanh ngoại hối, vàng, bao thanh toán, phát hành
thẻ tín dụng, tín dụng tiêu dùng, dịch vụ trung gian thanh toán, thông tin tín dụng
• Góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực bảo
hiểm, chứng khoán, kiều hối, kinh doanh ngoại hối, vàng, bao thanh toán, phát hành
thẻ tín dụng, tín dụng tiêu dùng, dịch vụ trung gian thanh toán, thông tin tín dụng và các lĩnh vực khác
Trang 27• Mua, nắm giữ cổ phiếu của TCTD khác với điều kiện và trong giới hạn quy định của Ngân hàng Nhà nước
● Đầu tư gián tiếp
Đầu tư gián tiếp còn lại là đầu tư tài chính là hoạt động đầu tư bằng nguồn vốn
tự có và các nguồn vốn ổn định khác Đây là hình thức đầu tư mà chủ đầu tư (NH) không trực tiếp tham gia vào quá trình kinh doanh, không tham gia vào quản lý vốn,
chỉ cần bỏ vốn đầu tư để hưởng thu nhập dưới hình thức lợi tức trái phiếu Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư linh hoạt và có mức độ rủi ro thấp hơn đầu tư trực tiếp, đồng thời có thể giúp ngân hàng nhanh chóng chuyển đổi danh mục đầu tư theo hướng có lợi nhất Đầu tư gián tiếp gồm có:
• Mua, bán trái phiếu doanh nghiệp
• Tham gia đấu thầu tín phiếu Kho Bạc; mua, bán công cụ chuyển nhượng, trái phiếu Chính phủ, tín phiếu Kho Bạc, tín phiếu Ngân hàng Nhà nước và các giấy tờ
có giá khác trên thị trường
1.2 HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NHTM
1.2.1 Khái niệm về hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM
Trong hoạt động kinh doanh của NHTM, hiệu quả cđược thể hiên ở hai khía
cạnh sau:
Th ứ nhất, khả năng biến đổi các đầu vào thành các đầu ra, hay khả năng sinh lời
hoặc giảm thiểu chi phí để tăng khả năng cạnh tranh với các định chế tài chính khác
Th ứ hai, đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh ngân hàng
Th ứ ba, Khả năng tạo thu nhập cao, lợi nhuận lớn và ổn định
Sự ổn định của hệ thống NHTM quan hệ chặt chẽ với sự ổn định và phát triển
của nền kinh tế vì NHTM là tổ chức trung gian tài chính kết nối khu vực tiết kiệm
với khu vực đầu tư của nền kinh tế Do đó, sự biến động của nó sẽ ảnh hưởng rất
mạnh đến các ngành kinh tế quốc dân khác.[10]
Như vậy, quan điểm về hiệu quả là đa dạng, tùy theo mục đích nghiên cứu có
thể xét hiệu quả theo những khía cạnh khác nhau Tuy nhiên, xuất phát từ những
hạn chế về thời gian và nguồn số liệu, quan điểm về hiệu quả mà luận văn sử dụng
để đánh giá hiệu quả kinh doanh của các NHTM là dựa trên tiêu chuẩn đánh giá về
mức độ an toàn, lành mạnh, khả năng sinh lời cao
Trang 28Hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại được đánh giá dưới các gốc độ sau đây:
• D ưới gốc độ kinh doanh của ngân hàng thương mại:
Hiệu quả hoạt động kinh doanh thể hiện một cách khái quát nhất là hoàn thành các chỉ tiêu kinh doanh mà HĐQT và Ban điều hành đặt ra trong kỳ kế hoạch Các
chỉ tiêu này về cơ bản gồm các chỉ tiêu về số lượng như: Tổng vốn huy động và tốc
độ tăng trưởng; Tổng dư nợ tín dụng và tốc độ tăng trưởng Chỉ tiêu chất lượng như:
Chất lượng tài sản (tỷ lệ nợ quá hạn, tỷ lệ nợ xấu), Tỷ lệ dư nợ tín dụng so với tổng nguồn vốn huy động Đặc biệt các chỉ tiêu về hiệu quả tài chính như : Lợi nhuận, tỷ
suất lợi nhuận ròng so với tổng tài sản, tỷ suất lợi nhuận ròng so với vốn chủ sở
hữu Phân tích hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại được tập trung ở chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận, bởi vì khi một ngân hàng thương mại có tỷ suất lợi nhuận cao, đồng nghĩa với việc nâng cao hiệu quả chi phí trong nguồn lực đầu vào, đồng
thời nâng cao hiệu quả trong việc phân bổ sử dụng tài sản đầu ra Cụ thể là chuyển hóa tài sản đầu vào với chi phí hợp lý tiết kiệm để tạo ra doanh thu lớn trong tài sản đầu ra Điều này được khẳng định qua hoạt động thực tiễn của mỗi ngân hàng: Ngân hàng nào có tỷ lệ nợ xấu cao, nhất là nợ nhóm 5, ngân hàng đó không thể có tỷ suất
lợi nhuận cao; Ngân hàng nào huy động vốn chi phí cao, ngân hàng đó cũng không
thể có tỷ suất lợi nhuận cao Như vậy hiệu quả kinh doanh ngân hàng là hiệu quả
tổng hợp của các mặt hoạt dộng huy động vốn và hoạt động tín dụng và các hoạt động khác của ngân hàng thương mại.[10]
• Dưới gốc độ hiệu quả của toàn hệ thống ngân hàng và nền kinh tế - xã hội:
Hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại phải gắn liền với
hiệu quả hoạt động kinh doanh của toàn hệ thống ngân hàng.Nghĩa là sự tồn tại và
hoạt động của mỗi ngân hàng thương mại bao giờ cũng gắn liền với toàn bộ hệ
thống ngân hàng thương mại.Tính liên kết hệ thống trong hoạt đông ngân hàng trở nên tất yếu, thì hiệu quả kinh doanh của hệ thống ngân hàng cũng là một tất
yếu.Không một ngân hàng nào có thể tồn tại và phát triển bền vững khi hệ thống ngân hàng yếu kém và suy sụp, ngược lại không có một hệ thống ngân hàng vững
mạnh khi các thành viên của hệ thống đó kinh doanh không có hiệu quả.Khi đặt vấn
đề nâng cao hiệu qủa hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại, chúng ta
Trang 29không chỉ nói đến hiệu quả tài chính cuối cùng, mà còn phải nói đến hiệu ứng của
hoạt đông kinh doanh ngân hàng đối với sự phát triển của nền kinh tế xã hội Ở tầm
vĩ mô, hoạt động ngân hàng có hiệu quả phải tạo ra kênh dẫn vốn quan trọng để thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển Điều này đòi hỏi hoạt động của ngân hàng phải làm sao huy động tối đa mọi nguồn vốn trong nền kinh tế, nhất là trong khu vực dân
cư, để đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế với lãi suất thỏa đáng để vừa kinh doanh ngân hàng có lãi, vừa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng, không chỉ thuần túy là lợi nhuận, không chỉ hiệu quả của toàn bộ hệ thống ngân hàng, mà hiệu quả đó chỉ thực sự có
ý nghĩa khi tạo ra động lực và đòn bẩy để thúc đẩy phát triển nền kinh tế - xã
yếu tố này có tác động khác nhau đến hiệu quả hoạt động ngân hàng
1.2.2.1 Nhóm các y ếu tố chủ quan của ngân hàng thương mại
Nhóm yếu tố chủ quan chính là các yếu tố bên trong nội bộ của chính các NHTM như các yếu tố về năng lực tài chính, khả năng quản trị điều hành, ứng dụng
tiến bộ công nghệ và chất lượng của lao động
• Năng lực tài chính: Năng lực tài chính của một NHTM thường được biểu hiện
trước hết là qua khả năng mở rộng nguồn vốn chủ sở hữu, vì vốn chủ sở hữu thể
hiện sức mạnh tài chính của một ngân hàng Tiềm lực về vốn chủ sở hữu ảnh hưởng đến quy mô kinh doanh của ngân hàng như: khả năng huy động và cho vay vốn, khả năng đầu tư tài chính và trình độ trang bị công nghệ Khả năng sinh lời cũng là một nhân tố phản ánh về năng lực tài chính của một ngân hàng vì nó thể hiện tính hiệu
quả của một đồng vốn kinh doanh.Năng lực tài chính còn thể hiện khả năng phòng
ngừa và chống đỡ rủi ro của một ngân hàng trước các biến cố không mong đợi Nếu
Trang 30nợ xấu tăng thì dự phòng rùi ro cũng phải tăng để bù đắp rủi ro, có nghĩa là khả năng tài chính cho phép sử dụng để bù đắp tổn thất có thể xảy ra Ngược lại, nếu nợ
xấu tăng nhưng dự phòng rủi ro không đủ để bù đắp có nghĩa là tình trạng tài chính
xấu và năng lực tài chính bù đắp cho các khoản chi phí này bị thu hẹp
•Năng lực quản trị, điều hành: Năng lực quản trị điều hành là nhân tố tiếp theo
ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng Năng lực quản trị điều hành trước hết là phụ thuộc vào cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý, trình độ lao động và tính
hữu hiệu của cơ chế điều hành để có thể ứng phó tốt trước những diễn biến của thị trường Tiếp theo năng lực quản trị, điều hành còn có thể được phản ánh bằng khả năng giảm thiểu chi phí hoạt động, nâng cao năng suất sử dụng các đầu vào để có
thể tạo ra được một tập hợp đầu ra cực đại
• Năng lực về công nghệ: Năng lực về công nghệ thể hiện năng lực hiện hữu và
khả năng ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại chính là phản ánh năng lực công nghệ thông tin của một ngân hàng Trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ và ứng dụng sâu rộng của nó vào cuộc sống xã hội như ngày nay, thì ngành ngân hàng khó có thể duy trì khả năng cạnh tranh của mình nếu vẫn cung ứng các
dịch vụ truyền thống Năng lực công nghệ của ngân hàng thể hiện khả năng trang bị công nghệ mới gồm thiết bị và con người, tính liên kết công nghệ giữa các ngân hàng và tính độc đáo về công nghệ của mỗi ngân hàng
• Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ chuyên môn: Năng lực nghiệp vụ
của đội ngũ chuyên môn là nhân tố về con người lao động Nhân tố về con người lao động có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng Đội ngũ chuyên môn từ cấp độ lãnh đạo cao cấp trong bộ máy quản trị điều hành toàn hệ thống, cũng như đội ngũ chuyên môn thuộc ban điều hành và nhân viên lao động ở các chi nhánh, phòng giao dịch phải là những người được đào tạo chuyên nghiệp, có trình độ chuyên môn được thử thách và rèn luyện qua thực tiễn Khi một ngân hàng có được đội ngũ chuyên môn tinh thông về nghiệp vụ, tận tụy với công
việc, đoàn kết hiệp lực trong tập thể, thì ngân hàng đó sẽ có kết quả hoạt đông kinh doanh tốt Khi nền kinh tế xã hội càng phát triển,càng đòi hỏi các ngân hàng càng
phải cung ứng nhiều sản phẩm dịch vụ mới tiện ích và có chất lượng Yêu cầu này này đòi hỏi chất lượng của nguồn nhân lực cũng phải được nâng cao để đáp ứng kịp
Trang 31thời đối với những thay đổi của thị trường và xã hội Việc sử dụng nhân lực có đạo đức nghề nghiệp, giỏi về chuyên môn sẽ giúp cho ngân hàng tạo lập được những khách hàng trung thành, ngăn ngừa được những rủi ro có thể xảy ra trong các hoạt động kinh doanh, đầu tư và đây cũng là nhân tố giúp các ngân hàng giảm thiểu được các chi phí hoạt động Tuy nhiên, trong quá trình phát triển nguồn nhân lực luôn
phải chú trọng việc gắn phát triển nhân lực với công nghệ mới
1.2.2.2 Nhóm các y ếu tố khách quan
• Môi trường về kinh tế, chính trị và xã hội trong nước
NHTM là một tổ chức trung gian tài chính làm cầu nối giữa khu vực tiết kiệm
với khu vực đầu tư của nền kinh tế, do vậy những biến động của môi trường kinh tế, chính trị và xã hội có những ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của các ngân hàng Nếu môi trường kinh tế, chính trị và xã hội ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các NHTM, vì đây cũng là điều kiện làm cho quá trình sản xuất
của nền kinh tế được diễn ra bình thường, đảm bảo khả năng hấp thụ vốn và hoàn
trả vốn của các doanh nghiệp trong nền kinh tế Ngược lại, khi môi trường bất ổn thì
lại là những nhân tố bất lợi cho cho NHTM như nhu cầu vay vốn giảm, nguy cơ nợ quá hạn, nợ xấu gia tăng làm giảm hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng
Hơn nữa, hiện nay quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ trên
thế giới Các nền kinh tế của các nước trên thế giới ngày càng phụ thuộc vào nhau,
luồng vốn quốc tế đã và đang dồn vào khu vực Châu Á mạnh mẽ, điều này đang tạo
ra nhiều cơ hội cho Việt Nam nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng trong việc tranh thủ được các nguồn vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý…Tuy nhiên, bên
cạnh đó, ngành ngân hàng cũng phải đối mặt với nhiều thách thức từ quá trình hội
nhập, như phải cạnh tranh với những tập đoàn tài chính đầy tiềm lực Ngoài ra,
những biến động của tình hình kinh tế, chính trị và xã hội của các nước trên thế giới cũng có những ảnh hưởng nhất định đến nền kinh tế trong nước nói chung và hiệu
quả hoạt động của các NHTM nói riêng
• Môi trường pháp lý
Môi trường pháp lý bao gồm tính đồng bộ và đầy đủ của hệ thống luật, các văn
bản dưới luật, việc chấp hành luật và trình độ dân trí.Nếu hệ thống luật pháp được xây dựng không phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế thì sẽ là một rào cản
Trang 32lớn cho quá trình phát triển kinh tế Việt Nam do mới chuyển đổi nền kinh tế từ cơ
chế kế hoạch tập trung sang vận hành theo cơ chế thị trường có điều tiết, do đó hệ
thống luật còn thiếu và chưa đầy đủ Đây cũng thực sự là một trở ngại đối với hoạt động của các NHTM bởi vì môi trường pháp lý hoàn chỉnh chính là cơ sở đề cho ngành ngân hàng phát triển nhanh và bền vững
• Mô i trường kinh tế tài chính thế giới
Hoạt động kinh doanh ngân hàng chịu tác đông của môi trường kinh tế tài chính
thế giới khá rõ nét.Trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính ngân hàng.Không một hệ thống tài chính của một quốc gia nào có thể đứng vững được trong các cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ quốc tế với
tầm cở và quy mô lớn.Ngay cả khi biến động thị trường tài chính quốc tế ở phạm vi
và mức độ khu vực cũng sẽ có tác động đến hiệu quả kinh doanh ngân hàng Chính
vì vậy hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng cũng sẽ bị chi phối khá mạnh bởi tình hình tài chính quốc tế.[18]
1.2.3 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt độngcủa các ngân hàng thương mại
1.2.3 1 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động huy động vốn
Hoạt động huy động vốn là hoạt động góp phần tạo ra nguồn lực tài chính của ngân hàng thương mại Không có nguồn lực tài chính này, hoạt động của NHTM sẽ
bị ngưng trệ, do đó các ngân hàng thương mại trước hết phải quan tâm đến hoạt động này Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động huy động vốn bao gồm:
• Mức vốn huy động: Đây là chỉ tiêu cần đạt được trong kỳ kèm theo tỷ lệ tăng
trưởng nguồn vốn huy động Trong đó cần phân biệt nguồn vốn không kỳ hạn và nguồn vốn có kỳ hạn Các chỉ tiêu này dùng để kiểm tra, đôn đốc các bộ phận liên quan đến hoạt động huy động vốn để có kế hoạch điều chỉnh các công cụ cho phù hợp với tình hình
• Chi phí huy động vốn: Chi phí huy động vốn được xác định bằng nhiều
phương pháp, dù áp dụng phương pháp nào cũng đều thể hiện hiệu quả hoạt động huy động vốn Thông thường chi phí huy động vốn được đánh giá qua 2 chỉ tiêu:
Tỷ lệ CP vốn bình quân = Chi phí huy động vốn/Tổng huy động bình quân (1.1)
Trong đó, chi phí huy động vốn là những chi phí phát sinh trực tiếp đến hoạt động huy động vốn như trả lãi tiền gửi, tiền tiết kiệm, trả lãi tiền phát hành giấy tờ
Trang 33có giá, và các chi phí trực tiếp khác như khoản chi trả thưởng, khuyến mãi, hoa hồng môi giới v.v
Tỷ lệ chi phí vốn biên tế: Chỉ tiêu chi phí huy động vốn biên tế thường được
dùng trong quản trị tài sản nợ Trong chỉ tiêu này, ngoài các chi phí trực tiếp liên quan đến huy động vốn như nói ở trên, cần được cộng thêm các chi phí phi lãi, tức
là các chi phí có liên quan đến hoạt động nghiệp vụ như chi phí nhân viên, chi phí văn phòng phẩm, in ấn, khấu hao tài sản thiết bị v.v.[11]
Tỷ lệ CP vốn biên tế=[Chi phí lãi+Chi phí ngoài lãi] /Tổng huy động b/q trong
kỳ(1.2)
Tỷ lệ chi phí vốn biên tế sẽ là căn cứ để xác định mức sàn lãi suất cho vay Nói chung cả hai chỉ tiêu nên trên, được phân tích đánh giá trong nội bô ngân hàng để đánh giá “ hiệu quả chi phí” trong hoạt động huy động vốn của ngân hàng
1.2.3.2 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động cấp tín dụng
Hiệu quả hoạt động cấp tín dụng được đánh giá qua hàng loạt các chỉ tiêu vừa định lượng vừa định tính Tùy theo từng trường hợp và yêu cầu quản lý, có thể sử dụng một hoặc các chỉ tiêu sau đây:
• Mức dư nợ và tốc độ tăng trưởng tín dụng:
Mức dư nợ là chỉ tiêu số lượng theo con số tuyệt đối về hoạt động tín dụng Chỉ tiêu này phản ánh quy mô hoạt động nghiệp vụ quan trọng và cơ bản nhất của ngân hàng thương mại để tạo ra danh mục tài sản sinh lời lớn nhất của ngân hàng
• Tỷ lệ tăng trưởng tín dụng: Gắn liền với chỉ tiêu mức dư nợ là chỉ tiêu tỷ lệ
tăng trưởng tín dụng Vì chỉ tiêu này cho biết quy mô hoạt động tín dụng của ngân hàng trong trạng thái phát triển tăng thêm, dậm chân tại chỗ hay bị sụt giảm Một ngân hàng có mức dư nợ cao, nhưng tỷ lệ tăng trưởng tín dụng thấp hoặc không tăng trưởng, ngân hàng đó không được đánh giá là ngân hàng hoạt động tín dụng có hiệu quả Mức dư nợ cao, kèm theo tỷ lệ tăng trưởng tín dụng hợp lý trong từng thời
kỳ được đánh giá là ngân hàng hoạt động tín dụng có hiệu quả Tuy nhiên đây chỉ là chỉ tiêu định lượng, cần kết hợp chỉ tiêu chất lượng để có kết luận chính xác hơn, khách quan hơn
• Tỷ lệ Tổng dư nợ/Nguồn vốn huy động: Chỉ tiêu này giúp đánh giá mức độ
chuyển hóa tài sản của ngân hàng tốt hay không tốt Nếu tỷ lệ này càng cao (tối đa
Trang 34khoảng 90 %) càng chứng tỏ hiệu suất sử dụng đồng vốn và hiệu quả hoạt động tín dụng càng cao.Nói cách khác ngân hàng huy động vốn là để cho vay, huy động nhiều vốn mà cho vay ít sẽ dễ bị thua lỗ hoặc hòa vốn Nếu vốn huy động được sử dụng tối đa sẽ tạo thu nhập lớn cho ngân hàng, hiệu quả sẽ tốt hơn
• Tỷ lệ Tổng dư nợ / Tổng tài sản: Chỉ tiêu này phản ánh mức độ sử dụng tài sản
trong ngân hàng thương mại để tạo nguồn thu nhập cho ngân hàng Chỉ tiêu này đánh giá hiệu suất và hiệu quả sử dụng tài sản trong ngân hàng thương mại Theo thống kê kinh nghiệm ở Việt Nam, tỷ lệ này biến động trong khoảng 60 - 70 % tổng tài sản được coi là hoạt động tín dụng có hiệu quả về mặt lượng
•Chất lượng tài sản: Chất lượng tài sản là chỉ tiêu đánh giá chất lượng hoạt
đông tín dụng của các ngân hàng thương mại Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại luôn phải đối mặt với rủi ro.bDo đó chất lượng tài sản (Khoản mục tín dụng) cao hay thấp sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập và chi phí hoạt động tín dụng, tức là ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của ngân hàng Chất lượng tài sản tín dụng càng cao, càng chứng tỏ chất lượng hoạt động tín dụng cao, dẫn đến hiệu quả tài chính tốt
Chất lượng tài sản tín dụng, được phân loại theo 05 nhóm:
-Nhóm 1: Nợ đủ tiêu chuẩn;-Nhóm 2: Nợ cần chú ý; -Nhóm 3: Nợ nghi ngờ;
-Nhóm 4: Nợ dưới tiêu chuẩn; -Nhóm 5: Nợ có khả năng mất vốn
Các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện phân loại và trích lập dự phòng rủi ro theo Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 và Thông tư số 36/2014/TT-NHNN ngày 20/01/2014 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Dựa trên phân loại nhóm nợ, nợ từ nhóm 2 đến nhóm 5 được coi là nợ quá hạn;
Nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5 được coi là nợ xấu Từ kết quả phân nhóm nợ như trênsẽ đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng qua 3 chỉ tiêu sau:
• Chỉ tiêu 1: Tỷ lệ nợ quá hạn = Nợ quá hạn / Tổng dư nợ (1.3)
Tỷ lệ nợ quá hạn ở mức 5% trở xuống được coi là bình thường
• Chỉ tiêu 2: Tỷ lệ nợ xấu = Nợ xấu / Tổng dư nợ (1.4)
Tỷ lệ nợ xấu ở mức 3 % trở xuống được coi là bình thường
Trang 35Ngân hàng thương mại nào có tỷ lệ nợ quá hạn và tỷ lệ nợ xấu vượt giới hạn nói trên sẽ được đánh giá là hoạt đông tín dụng không tôt, không có hiệu quả (theo chuẩn mực chung) Tuy nhiên trong thực tế, tùy từng điều kiện cụ thể, trong từng thời gian cụ thể, nhà phân tích hoạt động tín dụng ngân hàng nói riêng và hoạt động tin dụng nói riêng
• Chỉ tiêu 3: Tỷ lệ lãi cận biên (Net Interest Margin - NIM)
Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên được xác định theo công thức sau:
NIM = Thu nhập lãi - Chi phí lãi
Tổng tài sản Có sinh lời x 100% (1.5) Trong đó:
+Thu nhập lãi là những khoản thu nhập liên quan đến hoạt động tín dụng, gồm thu lãi cho vay (cho vay các tổ chức kinh tế và cá nhân; cho vay các tổ chức tín
dụng khác), thu lãi tiền gửi (tiền gửi tại NHNN, tiền gửi tại các tổ chức tín dụng và
tiền gửi khác)
+ Chi phí lãi: là những khoản chi phí liên quan đến hoạt động tín dụng như chi
trả lãi tiền gửi, trả lãi tiền tiết kiệm, trả lãi tiền xay, chi hoa hồng môi giới tiền tệ, chi phát hành giấy tờ có giá…
+ Tổng tài sản có sinh lời gồm tổng dư nợ tín dụng (Dư nợ cho vay các tổ chức kinh tế và cá nhân; Dư nợ cho vay các tổ chức tín dụng khác; Các khoản mục đầu tư; Tiền gửi tại NHNN và tại các TCTD khác)
Tỷ lệ lãi cận biên là chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lời cơ bản từ hoạt động tín
dụng của ngân hàng thương mại Tỷ lệ này thường được sử dụng đo lường mức độ chênh lệch giữa thu nhập từ lãi và chi phí trả lãi mà ngân hàng có thể đạt được thông qua hoạt động kiểm soát chặt chẽ tài sản có sinh lời và theo đuổi các nguồn
vốn có chi phí thấp.Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên càng lớn(khoảng trên 3% năm) thì
khả năng sinh lời trong hoạt động tín dụng càng cao, ngược lại NIM càng nhỏ, thì
khả năng sinh lời trong hoạt động tín dụng càng thấp, thậm chí bị lỗ Qua phân tích
chỉ số NIM cao hay thấp, ngân hàng có thể điều chỉnh tăng giảm lãi suất một cách
hợp lý
Trang 361.2.3.3 Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng chi phí và tài sản
Với chiến lược tối đa hóa lợi nhuận, các NHTM thường nâng cao hiệu quả hoạt động của mình bằng cách giảm thiểu các chi phí hoạt động, tăng năng suất lao động trên cơ sở tự động hóa và nâng cao trình độ của nhân viên Bởi vậy, các thước đo tính hiệu quả sử dụng chi phí và tài sản bao gồm các chỉ tiêu sau:
•T ỷ số hiệu quả hoạt động
Tỷ số hiệu quả hoạt động = T Tổng thu nhập hoạt động x 100% (1.6) ổng chi phí hoạt động
Tỷ số hiệu quả hoạt động là một thước đo phản ánh mối quan hệ giữa đầu vào (tử số) và đầu ra (mẫu số) hay nói cách khác, nó phản ánh khả năng bù đắp chi phí trong hoạt động của ngân hàng Đây một chỉ số tài chính quan trọng, đặc biệt trong
việc đánh giá hiệu quả tài chính của các NHTM Một tỷ lệ cao của chi phí trên thu
nhập (doanh thu) cho thấy ngân hàng hoạt động không hiệu quả Điều này là có thể nhưng không nhất thiết do quản trị kém cõi; tuy nhiên, điều này chắc chắn sẽ có tác động tiêu cực đến khả năng lợi nhuận Ngược lại, tỷ lệ chi phí trên thu nhập càng
thấp thì ngân hàng càng hiệu quả trong công tác quản lý và càng làm tăng hiệu quả sinh lời.[11]
Tỷ lệ này cho nhà đầu tư một cái nhìn rõ hơn về hiệu quả tài chính trong hoạt động kinh doanh của các NHTM
• Hi ệu quả sử dụng tài sản
Hiệu quả sử dụng tài sản = Tổng thu nhập hoạt động Tổng tài sản (1.7)
Hiệu quả sử dụng tài sản phản ánh các chính sách quản lý danh mục đầu tư (đặc
biệt là cấu trúc và thu nhập của tài sản) Nếu tỷ số này lớn, nó phản ánh ngân hàng
đã phân bổ tài sản (danh mục đầu tư) một cách hợp lý nhằm nâng cao lợi nhuận của ngân hàng
• Ch ỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng chi phí và tài sản Khi xem xét, đánh giá
hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của một tổ chức kinh tế, tổ chức tài chính, các nhà phân tích thường đánh giá và xem xét qua nhiều khía cạnh khác nhau như hiệu
quả quản trị, tài chính và kinh tế Trên khía cạnh tài chính, hiệu quả tài chính là một
phần của hiệu quả hoạt động kinh doanh, nó cũng là một phạm trù kinh tế, biểu hiện
sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, nó phản ánh mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế
Trang 37mà doanh nghiệp nhận được và chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để có được lợi ích
Đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng, hiệu quả tài chính là một khái niệm
rất rộng, phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh và đầu tư của một ngân hàng với các yếu tố nội tại của chính ngân hàng trong môi trường kinh tế - xã hội nhất định
Hiệu quả tài chính là kết quả hoạt động kinh doanh có xét đến các yếu tố chi phí trong quá trình hoạt động Để đánh giá hiệu quả tài chính, người ta thường sử dụng
hệ thống các chỉ tiêu gồm lợi nhuận, tỷ lệ lãi ròng trên tổng tài sản (ROA), tỷ lệ lãi ròng trên vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) và các chỉ tiêu khác theo quan điểm của từng nhà phân tích
Như vậy, hiệu quả tài chính của các NHTM là một phạm trù hiệu quả kinh tế - tài chính, phản ánh chất lượng hoạt động kinh doanh của các NHTM; là khả năng đạt được mục tiêu kinh doanh của NHTM trên cơ sở thiết lập, tổ chức điều hành chiến lược, chính sách và các chương trình hoạt động kinh doanh của NHTM
Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính trong hoạt động kinh doanh ngân hàng gồm:
1.2.3.4 Lợi nhuận và tốc độ tăng lợi nhuận
Lợi nhuận là hiệu quả tài chính cuối cùng mà bất kỳ một nhà kinh doanh nào cũng phải quan tâm hàng đầu Hoạt động kinh doanh lấy lợi nhuận làm mục tiêu, có nghĩa là kết quả kinh doanh phải có lợi nhuận.Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại cũng không ngoài mục tiêu ấy Do đó chỉ tiêu lợi nhuận và tốc độ tăng lợi nhuận hàng năm được sử dụng để đánh giá về mặt lượng của hiệu quả kinh doanh ngân hàng
Lợi nhuận trong ngân hàng thương mại được đo lường bằng hai chỉ tiêu:
• Lợi nhuận trước thuế: Lợi nhuận trước thuế được xác định vào cuối niên độ
kế toán, vào ngày kết thúc năm tài chính Lợi nhuận trước thuế là hiệu số giữa tổng doanh thu trong kỳ và tổng chi phí trong kỳ Lợi nhuận trước thuế biến thiên cùng chiều với tổng doanh thu và ngược chiều với tổng chi phí Ngoài con số tuyệt đối về lợi nhuận, người ta còn sử dụng chỉ tiêu tốc độ tăng lợi nhuận kỳ này so với kỳ trước để thấy được động thái của hiệu quả kinh doanh tăng hay giảm.[7]
Trang 38• Lợi nhuận sau thuế: Lợi nhuận sau thuế ( Lợi nhuận ròng) là phần lợi nhuận
còn lại sau khi đã trừ phần thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của Luật Thuế ( Tỷ lệ thuế Thu nhập doanh nghiệp hiện đang áp dụng là 23 %) Lợi nhuận sau thuế
là chỉ tiêu tài chính cuối cùng và quan trọng nhất trong toàn bộ kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng Lợi nhuận sau thuế là nguồn tài chính để mở rộng quy
mô kinh doanh, đầu tư đổi mới công nghệ; Là nguồn tài chính để chi trả cổ tức cho
cổ đông, nếu là ngân hàng cổ phần; Là nguồn tài chính để nâng cao phúc lợi, thưởng cho người lao động
1.2.3.5 Tỷ suất lợi nhuận (Chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời)
Bản chất của các NHTM là tìm kiếm lợi nhuận.Vì vậy, lợi nhuận của ngân hàng
là hết sức quan trọng, là thước đo trọng tâm để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh cho các NHTM Cụ thể, đây là nhân tố quan trọng của việc phân tích doanh thu và chi phí, bao gồm cả mức độ hiệu quả của hoạt động và chính sách lãi suất cũng như các kết quả hoạt động tổng quát được đo lường bằng các chỉ số phân tích
khả năng tạo đủ thu nhập để bù đắp chi phí
Khả năng sinh lợi của NHTM được phản ánh qua các chỉ tiêu tổng hợp sau đây:
• T ỷ suất lợi nhuận trên tài sản (Return On Asset - ROA)
ROA = Lợi nhuận sau thuế
Tổng tài sản x 100% (1.8)
Chỉ tiêu này cho nhà phân tích thấy được hiệu quả sử dụng tài sản của ngân hàng hay là thước đo hiệu quả của ngân hàng trong việc tạo ra thu nhập từ tổng tài
sản bình quân Nói cách khác, ROA là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh của
một đồng tài sản có tại ngân hàng và khả năng quản lý các chi phí tiền gửi một cách
hợp lý để đầu tư các tài sản nhằm mang lại lợi nhuận
ROA còn được gọi là chỉ số phản ánh khả năng sinh lợi kinh tế - để có thể so sánh giữa các ngân hàng với nhau (trong cùng một lĩnh vực, một ngành) Tỷ suất ROA thấp có thể là kết quả của một chính sách đầu tư hay cho vay không năng động hoặc có thể chi phí hoạt động của ngân hàng quá mức Ngược lại, ROA cao
khẳng định hiệu quả kinh doanh tốt, ngân hàng có cơ cấu tài sản hợp lý, có sự điều động linh hoạt giữa các hạng mục trên tài sản trước những biến động của nền kinh
tế Tuy nhiên, nếu mức sinh lợi quá lớn cũng có thể ngân hàng phải đối đầu với
Trang 39những rủi ro lớn do thực hiện các hoạt động đầu tư quá mạo hiểm hoặc giảm dự trữ
xuống quá mức cần thiết
Đối với những nước đang phát triển như ở Việt Nam, nếu chỉ số ROA thấp hơn 0,5% được cho là hiệu quả tài chính yếu kém; nếu ROA từ 0,5% - 1% , có thể xếp
loại trung bình; ROA nằm trong khoảng trên 1% - 2% ngân hàng hoạt động có hiệu
quả tốt; nếu ROA đạt mức trên 2%, được xem là hiệu quả kinh doanh rất tốt.[7] Đây là một trong những chỉ tiêu tài chính được các nhà phân tích đánh giá hiệu
quả tài chính các NHTM sử dụng vì những lý do sau:
- Phản ánh khả năng tạo ra lợi nhuận của tài sản
- Tạo ra sự kết nối các kết quả hoạt động kinh doanh và hoạt động đầu tư của ngân hàng bất kể ngân hàng đã dùng nguồn vốn nào để phục vụ cho các hoạt động kinh doanh và là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công tác quản lý của ngân hàng, cho
thấy khả năng trong việc chuyển tài sản của ngân hàng thành thu nhập ròng
Do đó, tỷ suất lợi nhuận trên tài sản có thể được xem là chỉ tiêu tài chính toàn
diện để đánh giá hiệu quả tài chính trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng
• Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (Return On Equity - ROE)
ROE = Lợi nhuận sau thuế
Vốn chủ sở hữu x 100% (1.9)
Chỉ tiêu này thể hiện một đồng vốn chủ sở hữu bình quân của ngân hàng sẽ mang về bao nhiêu đồng lợi nhuận trong một thời gian nhất định (thường là 1 năm).Nói cách khác, ROE đánh giá lợi ích mà cổ đông (chủ sở hữu ngân hàng) có được từ nguồn vốn bỏ ra Khi mức sinh lời trên vốn chủ sở hữu cao ngụ ý rằng ngân hàng đã tạo được những thành quả trong việc quản lý, do đó ROE cao là mục tiêu
của bất cứ nhà đầu tư ngân hàng nào
Nếu ROE quá lớn so với ROA chứng tỏ vốn tự có chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong tổng nguồn vốn, ngân hàng huy động vốn nhiều để cho vay Như vậy, đòi hỏi các nhà
quản lý phải có sự cân nhắc trong việc sử dụng nguồn vốn hoạt động của ngân hàng mình nhằm điều chỉnh giữa vốn tự có so với vốn huy động, một mặt đảm bảo được tính an toàn cho hoạt động ngân hàng, mặt khác gia tăng lợi nhuận cho chính ngân hàng mình Như vậy, ROE có xem xét đến chi phí huy động vốn và là sự kết hợp
giữa hoạt động kinh doanh, đầu tư và các quyết định huy động vốn của nhà đầu tư
Trang 40ROE còn được gọi là chỉ số phản ánh khả năng sinh lợi tài chính(suất sinh lời tài chính), ROE được dùng để so sánh hiệu quả tài chính giữa các ngành khác nhau.[7]
Với thực trạng ngành ngân hàng hiện nay, suất sinh lời ROE đạt trên 25% ,hiệu
quả tài chính của ngân hàng rất cao; hiệu quả tương đối tốt khi ROE đạt mức 15% - 25%; trong khoảng 10% - 15%, ngân hàng có hiệu quả khá; nếu ROE dưới 10% ngân hàng phải xem xét lại cơ cấu nguồn vốn để có những chính sách điều chỉnh phù hợp
Tóm lại, ROE là chỉ tiêu quan trọng nhất về chỉ tiêu lợi nhuận và tiềm năng phát triển của ngân hàng
Như vậy, ROA và ROE là hai chỉ số tài chính được sử dụng thường xuyên trong các nghiên cứu học thuật để đánh giá hiệu quả tài chính trong hoạt động kinh doanh
của NHTM
1.2.4 Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại
1.2.4 1 Đối với các ngân hàng thương mại
Đánh giá hiệu quả tài chính cũng như xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu
quảtài chính trong hoạt động kinh doanh của các NHTM giúp những người quản lý, điều hành ngân hàng thấy được hiệu quả hoạt động, các lợi thế tài chính của chính ngân hàng mình, cũng như những điểm đã đạt được và chưa đạt được, những điểm
bất cập… để từ đó đưa ra những điều chỉnh kịp thời, phù hợp, nhằm hướng vào các
mục tiêu tài chính như tối thiểu hóa chi phí, tối đa hóa lợi nhuận và tăng trưởng thu
nhập một cách bền vững Như vậy, công tác đánh giá hiệu quả tài chính trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng luôn luôn được chú trọng và quan tâm hàng đầu
nhằm nâng cao vị thế và khả năng cạnh tranh của các NHTM trên thị trường tài chính
Việc đánh giá hiệu quả tài chính trong một giai đoạn nhất định có thể giúp các nhà quản lý thấy được xu hướng hoạt động và dự đoán được kết quả hoạt động nói chung và mức sinh lợi nói riêng của ngân hàng trong các giai đoạn tiếp theo
Bên cạnh đó, với hiệu quả tài chính khả quan, các chỉ số tài chính lành mạnh có
thể sẽ làm gia tăng sự tin tưởng, khả năng cống hiến của người lao động vào ngân hàng và tránh tình trạng chảy máu nhân lực trong ngành ngân hàng [10]