1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Năng lực quản lý của cán bộ quản lý cấp phòng, ban thuộc cơ quan đảng ủy khối doanh nghiệp trung ương

106 37 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 1,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thời gian qua, đội ngũ cán bộ quản lý cấp phòng, ban, đơn vị cấp phòng, ban cơ quan Đảng ủy Khối đã thực hiện tốt vai trò của mình trong việc xây dựng kế hoạch, chỉ đạo, hướng dẫn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHỐI DOANH NGHIỆP TRUNG ƯƠNG

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHỐI DOANH NGHIỆP TRUNG ƢƠNG

Chuyên ngành : QUẢN LÝ KINH TẾ

PGS.TS Lê Thị Anh Vân PGS.TS Phạm Văn Dũng

Hà Nội, 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, chưa được công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào của người khác Việc sử dụng kết quả, trích dẫn tài liệu của người khác đảm bảo theo đúng các quy định Các nội dung trích dẫn và tham khảo các tài liệu, sách báo, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và trang website theo danh mục tài liệu tham khảo của luận văn

Hà Nội, ngày 30 tháng 12 năm 2017

Học viên

Lê Trường Sơn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn này, tôi đã nhận được

sự hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý nhiệt tình của quý thầy cô, bạn bè và gia đình Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn đến các thầy cô trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, đã tận tình hướng dẫn , giúp đỡ cho tôi trong quá trình ho ̣c tâ ̣p

Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Lê Thị Anh Vân đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Tôi cũng chân thành cảm ơn bạn bè và gia đình đã luôn là nguồn động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn

Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng nỗ lực, tìm tòi, nghiên cứu để hoàn thiện luận văn, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những đóng góp tận tình của quý thầy cô và các bạn

Hà Nội, ngày 30 tháng 12 năm 2017

Học viên

Lê Trường Sơn

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ ii

DANH MỤC HÌNH MINH HỌA iv

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Câu hỏi nghiên cứu 3

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

5 Những đóng góp mới của luận văn 4

6 Kết cấu của luận văn 5

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU,CƠ SỞ LÝLUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC QUẢN LÝ CỦA CÁN BỘ QUẢN LÝ CẤP PHÒNG, BAN THUỘC CƠ QUAN ĐẢNG 6

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 6

1.2 Cơ sở lý luận về năng lực quản lý của cán bộ quản lý cấp phòng, ban thuộc cơ quan Đảng 10

1.2.1 Cán bộ quản lý cấp phòng, ban thuộc cơ quan Đảng 10

1.2.2 Khái niệm năng lực quản lý của cán bộ quản lý cấp phòng, ban thuộc cơ quan Đảng 15

1.2.3 Những yếu tố cấu thành năng lực quản lý của cán bộ quản lý cấp phòng, ban thuộc cơ quan Đảng 18

1.2.4 Những tiêu chí đánh giá năng lực quản lý của cán bộ quản lý cấp phòng, ban thuộc cơ quan Đảng 28

1.2.5 Những nhân tố ảnh hưởng đến năng lực quản lý của cán bộ quản lý cấp phòng, ban thuộc cơ quan Đảng 29

Trang 6

1.3 Cơ sở thực tiễn về năng lực quản lý của cán bộ quản lý cấp phòng, ban thuộc cơ

quan Đảng 32

1.3.1 Kinh nghiệm nâng cao năng lực quản lý của cán bộ quản lý cấp phòng, ban của một số cơ quan Đảng 32

1.3.2 Bài học rút ra cho Cơ quan Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương trong nâng cao năng lực quản lý của cán bộ quản lý cấp phòng, ban 34

2.1 Quy trình nghiên cứu 36

2.1.1 Xác định đề tài nghiên cứu 36

2.1.2 Xây dựng khung nghiên cứu 36

2.1.3 Thu thập tài liệu thực tế 37

2.2 Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu 38

2.2.1 Dữ liệu sơ cấp 38

2.2.2 Dữ liệu thứ cấp 40

2.3 Các phương pháp xử lý thông tin 41

2.3.1 Phương pháp thống kê mô tả 41

2.3.2 Phương pháp phân tích tổng hợp 41

2.2.3 Phương pháp so sánh 42

Chương 3: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG NĂNG LỰC QUẢN LÝ CỦA CÁN BỘ QUẢN LÝ CẤP PHÒNG, BAN THUỘC CƠ QUAN ĐẢNG ỦY KHỐI DOANH NGHIỆP TRUNG ƯƠNG 43

3.1 Khái quát về của Cơ quan Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương 43

3.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Cơ quan Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương 43

3.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Cơ quan Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương 44

3.1.3 Cơ cấu tổ chức của Cơ quan Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương 46

3.1.4 Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lýcấp phòng, ban thuộc Cơ quan Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương 46

3.2.Thực trạng năng lực quản lý của cán bộ quản lý cấp phòng, ban thuộc cơ quan Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương 49

3.2.1 Xác định yêu cầu về năng lực quản lý đối với cán bộ quản lý các phòng, ban thuộc Cơ quan Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương 49

Trang 7

3.2.2 Thực trạng các yếu tố cấu thành năng lực quản lý của cán bộ quản lý cấp phòng,

ban thuộc cơ quan Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương 51

3.3 Đánh giá năng lực quản lý của cán bộ quản lý cấp phòng, ban thuộc Cơ quan Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương 68

3.3.1 Kết quả đã đạt được 68

3.2.2 Nguyên nhân 73

Chương 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO 76

NĂNG LỰC QUẢN LÝ CỦA CÁN BỘ QUẢN LÝ CẤP PHÒNG, BAN THUỘC CƠ QUAN ĐẢNG ỦY KHỐI DOANH NGHIỆP TRUNG ƯƠNG 76

4.1 Phương hướng nâng cao năng lực quản lý của cán bộ quản lý cấp phòng, ban thuộc Cơ quan Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương 76

4.2 Giải pháp nâng cao năng lực quản lý của cán bộ quản lý cấp phòng, ban thuộc Cơ quan Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương 78

4.2.1 Nhóm giải pháp thuộc về cơ quan Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương 78

4.2.2 Nhóm giải pháp đối với bản thân người cán bộ quản lý các phòng, ban thuộc 85

4.3 Kiến nghị 88

KẾT LUẬN 89

TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1 DNTW Doanh nghiệp Trung ƣơng

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

1 Bảng 1.1

Nhóm nội dung phản ánh yếu tố kiến thức quản

lý của cán bộ quản lý cấp phòng, ban thuộc cơ quan Đảng

22

2 Bảng 1.2

Nhóm nội dung phản ánh yếu tố kỹ năng quản

lý của cán bộ quản lý cấp phòng, ban thuộc cơ quan Đảng

24

3 Bảng 1.3

Nhóm nội dung phản ánh yếu tố thái độ, hành

vi, phẩm chất đạo đứccủa cán bộ quản lý cấp phòng, ban thuộc cơ quan Đảng

25

4 Bảng 1.4 Tiêu chí đánh giá năng lực quản lý của cán bộ

quản lý cấp phòng, ban thuộc cơ quan Đảng 29

50

8 Bảng 3.4

Tình hình kiến thức bắt buộc của đội ngũ cán bộ quản lý cấp phòng, ban thuộc cơ quan Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ƣơng giai đoạn 2012-

52

Trang 10

2016

9 Bảng 3.5

Kết quả đánh giá kiến thức của cán bộ quản lý cấp phòng, ban thuộc cơ quan Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ƣơng

54

10 Bảng 3.6

Kết quả đánh giá kỹ năng quản lý của cán bộ quản lý cấp phòng, ban thuộc cơ quan Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ƣơng

58

11 Bảng 3.7

Kết quả đánh giá thái độ, phẩm chất, đạo đức quản lý của cán bộ quản lý cấp phòng, ban thuộc cơ quan Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ƣơng

63

12 Bảng 3.8

Kết quả đánh giá chung năng lực quản lý của cán bộ quản lý cấp phòng, ban thuộc Cơ quan Đảng ủy Khối Doanh nghệp Trung ƣơng

69

13 Sơ đồ 2.1

Khung lý thuyết về nâng cao năng lực quản lý cho đội ngũ cán bộ quản lý cấp phòng, ban cơ quan cơ quan Đảng

37

14 Sơ đồ 3.1: Sơ đồ tổ chức của Cơ quan Đảng ủy Khối 46

Trang 11

DANH MỤC HÌNH MINH HỌA

Trang 12

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Quản lý cấp phòng, ban là cầu nối trung gian giữa quản lý cấp cao (tổng giám đốc, giám đốc, chủ tịch, thường trực tỉnh, thành ủy ) và đội ngũ nhân viên, họ là mắt xích trọng yếu trong việc triển khai các chiến lược, chiến thuật một cách hiệu quả Họ là trưởng, phó các phòng ban trong cơ quan hành chính của Đảng và nhà nước, giám đốc các phân xưởng, tổ trưởng tổ kỹ thuật chung quy, nhà quản lý cấp phòng, ban chịu trách nhiệm quản lý hệ thống nhân viên dưới quyền mình dựa trên tư tưởng của nhà lãnh đạo cấp trên Cán bộ quản lý cấp phòng, ban là cầu nối giữa lãnh đạo cấp cao và cán

bộ quản lý cấp thấp hơn trong đơn vị Đây là đội ngũ chính có nhiệm vụ tổ chức, triển khai và thực hiện hóa các chủ trương, chính sách của lãnh đạo cấp cao đến toàn thể nhân viên, là cầu nối giữa chuyên viên, nhân viên và lãnh đạo cấp trên Nhờ cán bộ quản lý cấp phòng, ban mà dòng chảy thông tin của đơn vị được liên tục và thông suốt Độ chính xác trong đánh giá trực trạng của đơn vị phần lớn phụ thuộc vào báo cáo của đội ngũ lãnh đạo cấp phòng, ban

Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương được thành lập vào ngày 11/4/2007, đến nay Đảng ủy Khối có 35 đơn vị trực thuộc trên 80.000 đảng viên và trên 2 triệu người lao động với nhiệm vụ chính là lãnh đạo các Đảng

bộ trực thuộc thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng.Trong

35 đơn vị trực thuộc Cơ quan Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương là cơ quan chuyên trách công tác Đảng, được coi là cơ quan đầu não của toàn Đảng

bộ Khối Doanh nghiệp Trung ương Ra đời cùng với sự hình thành và phát triển của Đảng bộ Khối Doanh nghiệp Trung ương ngày 11/4/2007, qua 10 năm hình thành và phát triển hiện nay Cơ quan Đảng ủy Khối có 7 ban, đơn

vị bao gồm (Ban Tổ chức, Ban Tuyên giáo, Ban Dân vận, Văn Phòng, Ủy ban

Trang 13

Kiểm tra, Trung tâm bồi dưỡng chính trị, Đoàn thanh niên) với 102 cán bộ, công nhân viên người lao động với nhiệm vụ tham mưu cho Đảng ủy Khối các nội dung về lĩnh vực chỉ đạo hoạt động sản xuất kinh doanh và công tác xây dựng Đảng của các Đảng ủy Trực thuộc và đảm bảo các hoạt động của cơ quan Đảng ủy Khối

Trong thời gian qua, đội ngũ cán bộ quản lý cấp phòng, ban, đơn vị (cấp phòng, ban) cơ quan Đảng ủy Khối đã thực hiện tốt vai trò của mình trong việc xây dựng kế hoạch, chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức đội ngũ cán bộ, đảng viên trong bộ phận tham mưu nhiều nội dung quan trọng trong công tác chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng trong doanh nghiệp; kiểm tra đôn đốc các cá nhân trong việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn; tham gia công tác xây dựng đội ngũ cán bộ của cơ quan Đảng ủy Khối

đã đóng góp vào sự lớn mạnh của Đảng bộ Khối

Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, thực hiện chủ trương của Trung ương và Chính phủ về việc cổ phần hóa, cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, đòi hỏi Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương phải có những tham mưu sâu cho Trung ương về công tác Đảng trong doanh nghiệp, phối hợp với các

bộ, ban ngành chỉ đạo các tập đoàn, tổng công ty, ngân hàng trong Khối hoàn thành nhiệm vụ sản xuất kinh doanh Đồng thời phải có biện pháp tổ chức, hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra việc triển khai, thực hiện của các Đảng bộ trực thuộc Để thực hiện được các nhiệm vụ đó đòi hỏi Cơ quan Đảng ủy Khối, nhất là đội ngũ cán bộ quản lý cấp phòng ban cơ quan Đảng ủy Khối phải nâng cao năng lực tham mưu, tổ chức, hướng dẫn, triển khai, kiểm tra đánh giá việc thực hiện các chủ trương của Đảng ủy Khối tại các đảng ủy trực thuộclà nhiệm vụ quan trọng và cần thiết

Mặc dù đã có khá nhiều nghiên cứu về vấn đề này, song tại riêng Cơ quan Đảng ủy Khối DNTW thì chưa có nghiên cứu nào được thực hiện Xuất

Trang 14

phát từ những thực tế trên, em chọn đề tài “Năng lực quản lý của cán bộ quản lý cấp phòng, ban thuộc Cơ quan Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ƣơng” làm đề tài nghiên cứu của Luận văn thạc sĩ với mong muốn

đƣợc đóng góp một phần công sức trong việc xây dựng và nâng cao chất lƣợng công tác quản lý của cán bộ quản lý cấp phòng, ban, của Cơ quan Đảng

ủy Khối DNTW ngày một tốt hơn

2 Câu hỏi nghiên cứu

Thực trạng năng lực quản lý của cán bộ quản lý cấp phòng, ban thuộc

Cơ quan Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ƣơng hiện nay nhƣ thế nào? Làm thế nào để nâng cao năng lực quản lý của cán bộ quản lý cấp phòng, ban thuộc Cơ quan Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ƣơng trong thời gian tới?

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở lý luận và phân tích thực trạng năng lực quản lý của cán bộ quản lý cấp phòng, ban thuộc Cơ quan Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ƣơng đáp để đƣa ra những giải pháp có

căn cứ khoa học nhằm nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ này

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Xác định khung lý thuyết cho nghiên cứu về năng lực quản lý của cán

bộ quản lý cấp phòng, ban thuộc cơ quan Đảng

- Phân tích thực trạng năng lực quản lý của cán bộ quản lý cấp phòng, ban thuộc Cơ quan Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ƣơng, từ đó tìm ra những ƣu điểm, hạn chế và lý giải nguyên nhân của những hạn chế đó

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực quản lý của cán bộ quản lý cấp phòng, ban thuộc Cơ quan Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ƣơng

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1.Đối tƣợng nghiên cứu

Trang 15

Năng lực quản lý của cán bộ quản lý cấp phòng, ban thuộc Cơ quan Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu năng lực quản lý của cán bộ quản lý cấp phòng, ban bao gồm các trưởng, phó ban, trưởng, phó phòng thuộc Cơ quan Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương và được tiếp cận theo 03 nhóm yếu tố cấu thành năng lực quản lý: kiến thức; kỹ năng; thái độ, phẩm chất, đạo đức

- Về không gian: Nghiên cứu tại cơ quan Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương

- Về thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu, đánh giá thực trạng năng lực quản lý của cán bộ quản lý cấp phòng, ban thuộc Cơ quan Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương từ năm 2012 đến 2016 và đề xuất các giải pháp đến năm 2025

5 Những đóng góp mới của luận văn

5.2 Đóng góp về thực tiễn

Luận văn phân tích, đánh giá một cách toàn diện năng lực quản lý của cán bộ quản lý cấp phòng, ban thuộc Cơ quan Đảng ủy Khối Doanh nghiệp

Trang 16

Trung ương giai đoạn 2012-2016; đề xuất được một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện năng lực quản lý của cán bộ quản lý cấp phòng, ban thuộc

Cơ quan Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương trong thời gian tới Do đó, kết quả nghiên cứu của luận văn có thể trở thành tài liệu tham khảo cho đội ngũ lãnh đạo Ban Chấp hành Trung ương và Cơ quan Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương trong quản lý đội ngũ cán bộ quản lý cấp phòng, ban thuộc Cơ quan Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương, cũng như là tài liệu tham khảo hữu ích cho những người quan tâm khác

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn có kết cấu gồm 04 chương như sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn

về năng lực quản lý của cán bộ quản lý cấp phòng, ban thuộc cơ quan Đảng

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Phân tích thực trạng năng lực quản lý của cán bộ quản lý cấp phòng, ban thuộc Cơ quan Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương

Chương 4: Phương hướng và giải pháp nâng cao năng lực quản lý của cán bộ quản lý cấp phòng, ban thuộc Cơ quan Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương

Trang 17

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU,

CƠ SỞ LÝLUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC QUẢN LÝ CỦA CÁN BỘ QUẢN LÝ CẤP PHÒNG, BAN THUỘC CƠ QUAN ĐẢNG

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Cho đến nay đã có một số công trình nghiên cứu về những vấn đề liên quan đến năng lực cán bộ cấp phòng, ban nói chung và năng lực quản lí của cán bộ cấp phòng, ban của cơ quan Đảng nói riêng:

Nguyễn Duy Gia (1990), “Cải cách hệ thống tổ chức, hoạt động của bộ máy quản lý hành chính nhà nước, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức hành chính nhà nước”, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, Học viện Hành chính quốc gia, Hà Nội Đề tài đã nghiên cứu sâu về hệ thống tổ chức, bộ máy quản lý nhà nước, nêu được một số giải pháp để nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, trong đó nhấn mạnh vai trò của yếu tố đào tạo, bồi dưỡng, nhất là bồi dưỡng thường xuyên đối với đội ngũ cán bộ này

Nguyễn Trọng Điều (1992): “Hoàn thiện yêu cầu về tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo quản lí nhà nước trong sự nghiệp đổi mới”, luận văn thạc sỹ Tác giả

đã xây dựng hệ thống tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo quản lí nhà nước thông qua

lí luận và thực trạng cán bộ lãnh đạo và quản lí nhà nước Tác giả cũng đề xuất giải pháp hoàn thiện tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo quản lí Tuy nhiên, năng lực quản lí mới được tiếp cận một cách nói chung, chưa bàn sâu về năng lực

Nguyễn Phú Trọng, Trần Xuân Sầm (2003), Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Trên cơ sở các quan điểm lý luận và tổng kết thực tiễn, cuốn sách đã phân tích, lý giải, hệ thống hóa các căn cứ khoa học của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, từ đó đưa ra những kiến nghị

về phương hướng, giải pháp nhằm củng cố, phát triển đội ngũ này cả về chất

Trang 18

lượng, số lượng và cơ cấu cho phù hợp với yêu cầu của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam

Phạm Thị Thu Vinh (2003): “Nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ chính quyền cơ sở trên địa bàn tỉnh Phú Thọ”, luận văn thạc sỹ Trong luận văn này, tác giả đã đưa những đánh giá về thực trạng đội ngũ cán bộ chính quyền cơ sở tại Phú Thọ Tuy nhiên vấn đề năng lực chưa được phân tích sâu dựa trên các nhóm tiêu chí cụ thể, chưa đánh giá được chính xác mức độ năng lực thực tế của cán bộ cơ sở tại Phú Thọ Vì thế một số giải pháp đưa ra còn chung chung, chưa bám sát với mục đích nâng cao năng lực cán bộ

Đề tài khoa học cấp nhà nước, mã số ĐTĐL-2004/25 do PGS.TS Nguyễn Trọng Điều làm chủ nhiệm: “Nghiên cứu cơ sở khoa học nhằm hoàn thiện chế độ công vụ ở Việt Nam”,đã đi sâu nghiên cứu cơ sở khoa học nhằm hoàn thiện chế độ công vụ, làm cơ sở khoa học để xây dựng luật công vụ ở Việt Nam hiện nay Đây là đề tài cấp nhà nước, vấn đề được nghiên cứu ở đây

là rất rộng, dung lượng nghiên cứu với quy mô rất lớn, tuy nhiên nội dung chủ yếu là nghiên cứu chế độ công vụ nhằm xây dựng luật công vụ Các nhà nghiên cứu đã đưa ra những cơ sở khoa học về công vụ và công chức, cơ sở của nền công vụ và công vụ trong mối quan hệ với các thiết chế và lĩnh vực khác, những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và của Đảng về công vụ

Thang Văn Phúc, Nguyễn Minh Phương (2005): “Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức” Nxb Chính trị quốc gia Trong cuốn sách này, các tác giả đã nêu ra những cơ sở lý luận về xây dựng cán bộ công chức theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân Phân tích sâu sắc về khái niệm của cán bộ công chức; nêu ra các văn bản pháp luật về cán bộ công chức đã được ban hành trong từng các giai đoạn khác nhau từ trước đến nay; phân loại cán bộ công chức; thể chế quản lý cán

bộ công chức; phân tích tính tất yếu khách quan của việc xây dựng đội ngũ

Trang 19

cán bộ công chức đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; phân tích vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ công chức trong xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân và sự cần thiết phải xây dựng đội ngũ cán bộ công chức trong sạch, vững mạnh; những khó khăn, thách thức đối với việc xây dựng đội ngũ cán bộ công chức Ngoài

ra, trong cuốn sách này các tác giả còn nêu ra thực trạng đội ngũ cán bộ công chức và thể chế quản lý cán bộ công chức ở Việt Nam hiện nay Trong phần thực trạng đã đề cập đến quá trình hình thành và phát triển của đội ngũ cán bộ công chức ở Việt Nam qua các giai đoạn như: Giai đoạn từ năm 1945-1954; Giai đoạn từ năm 1954-1975; Giai đoạn từ năm 1975-1986; Giai đoạn từ năm 1986-hiện nay (thời điểm nghiên cứu) Sau khi đánh giá chung những ưu điểm chủ yếu, những hạn chế và nguyên nhân về thực trạng đội ngũ cán bộ công chức ở Việt Nam hiện nay các tác giả còn đưa ra những kinh nghiệm xây dựng công chức của một số nước trên thế giới để vận dụng kinh nghiệm các nước vào việc xây dựng đội ngũ CC ở Việt Nam

Hoàng Hải Bằng, Nguyễn Ngọc Long (2006): “Bản lĩnh chính trị với năng lực của cán bộ lãnh đạo, quản lí trong hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay”, NXB Chính trị quốc gia Nhóm tác giả đã chỉ ra cấu trúc và biểu hiện các loại năng lực của người cán bộ lãnh đạo quản lí Tuy nhiên các tác giả chưa bàn đến năng lực thực tiễn của người cán bộ lãnh đạo, quản lí trong hệ thống chính trị ở nước ta

Phạm Huy Lê (2014) “Nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý cấp trung tại Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông”, luận văn thạc sỹ, tác giả đã làm rõ các yêu cầu về năng lực quản lý đối với đội ngũ cán bộ Quản

lý cấp trung nhằm giúp Học viện đạt được mục tiêu chiến lược từ nay đến năm 2020 và định hướng đến 2025; Đánh giá thực trạng năng lực quản lý hiện tại của đội ngũ Cán bộ Quản lý cấp trung tại Học viện; Đề xuất một số giải

Trang 20

pháp nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ Cán bộ Quản lý cấp trung của Học viện Tuy nhiên phần giải pháp mới thiên về giải pháp đào tạo, chưa chú tâm đến các giải pháp như quy hoạch, bồi dưỡng

Lại Đức Vượng (2014): “Năng lực của đội ngũ cán bộ công chức - cơ

sở cho việc phân cấp quản lý”, luận văn thạc sỹ, tác giả chủ yếu đưa ra khái niệm về phân cấp quản lí và thảo luận vấn đề quản lí quá trình phân cấp Tác giả có đề cập đến 3 nhóm năng lực của đội ngũ cán bộ công chức là: năng lực lãnh đạo và quản lí, năng lực thực thi công vụ và năng lực nhóm, song chưa bàn đến năng lực lãnh đạo và quản lí của cán bộ công chức cấp phòng, ban cơ quan Đảng

Vũ Kiều Anh (2015) ”Nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp Cục/Vụ của Ban Dân vận Trung ương”, luận văn thạc sỹ, tác giả đã đề cập đến vấn đề năng lực quản lý cán bộcục/vụ của Ban Dân vận Trung ương,

có hệ thống khái niệm rõ ràng, nêu được đặc thù của đội ngũ cán bộ quản lý trong cơ quan chuyên trách Đảng và có giải pháp để nâng cao được năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ này Tuy nhiên, một số giải pháp tác giả đưa ra còn chung chung, chưa thể hiện rõ được tính Đảng trong mỗi giải pháp

Các công trình trên chủ yếu tập trung đánh giá về chất lượng cán bộ như phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ học vấn, chuyên môn chưa đánh giá sâu sắc về năng lực quản lý của người cán bộ quản lý cấp phòng, ban thuộc cơ quan Đảng cấp tỉnh thành và tương đương Hoặc có đánh giá về năng lực quản lý nhưng chưa gắn với những tiêu chí đặc trưng của quản lý, chưa gắn với hiệu quả trong công tác chỉ đạo của các Đảng đối việc phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội

Việc nghiên cứu nâng cao năng lực quản lý của cán bộ quản lý cấp phòng, ban thuộc cơ quan Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương đến nay chưa có tác giả nào nghiên cứu một cách hệ thống Cho nên, tác giả mạnh dạn

Trang 21

nghiên cứu vấn đề này, với mong muốn góp phần nhỏ bé trong công tác cán

bộ của cơ quan Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương

1.2 Cơ sở lý luận về năng lực quản lý của cán bộ quản lý cấp phòng, ban thuộc cơ quan Đảng

1.2.1 Cán bộ quản lý cấp phòng, ban thuộc cơ quan Đảng

1.2.1.1 Khái niệm cán bộ quản lý cấp phòng, ban thuộc cơ quan Đảng

Theo quy định số 219-QĐ/TƯ ngày 27/12/2013 của Ban Chấp hành Trung ương về chức năng, nhiệm vụ tổ chức bộ máy của cơ quan chuyên trách, tham mưu giúp việc tỉnh, thành ủy và các tổ chức Đảng tương đương cấp tỉnh (Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương, Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương) thì “Ban” của cơ quan Đảng là cơ quan tham mưu, giúp

việc tỉnh uỷ trên các lĩnh vực công tác

- Văn phòng: tham mưu các nội dung điều hành công việc lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp hoạt động các cơ quan tham mưu, giúp việc; tham mưu, đề xuất chủ trương, chính sách thuộc lĩnh vực kinh tế - phòng, ban hội, đối ngoại; nguyên tắc, chế độ quản lý tài chính, tài sản của đảng bộ; là trung tâm thông tin tổng hợp phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo của tỉnh uỷ, trực tiếp quản lý tài sản, tài chính của tỉnh uỷ và các cơ quan, tổ chức đảng trực thuộc tỉnh uỷ, bảo đảm kinh phí, cơ sở vật chất cho hoạt động của cấp ủy;

- Ban Tổ chức thực hiện công tác tổ chức xây dựng đảng gồm: tổ chức, cán bộ, đảng viên, bảo vệ chính trị nội bộ của hệ thống chính trị trong tỉnh, là

cơ quan chuyên môn, nghiệp vụ về công tác tổ chức, cán bộ, đảng viên, bảo

vệ chính trị nội bộ của tỉnh uỷ;

- Ủy ban Kiểm tra tham mưu giúp tỉnh uỷ, uỷ ban kiểm tra tỉnh uỷ thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng trong đảng bộ tỉnh theo quy định của Điều lệ Đảng; thực hiện các

Trang 22

nhiệm vụ do tỉnh uỷ, ban thường vụ tỉnh uỷ giao; là cơ quan chuyên môn, nghiệp vụ về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng của tỉnh uỷ;

- Ban Tuyên giáo là cơ quan tham mưu của tỉnh uỷ mà trực tiếp, thường xuyên là ban thường vụ và thường trực tỉnh uỷ về công tác xây dựng Đảng thuộc các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, tuyên truyền, lý luận chính trị, báo chí, xuất bản, văn hoá, văn nghệ, khoa giáo, biên soạn lịch sử Đảng bộ địa phương, là cơ quan chuyên môn, nghiệp vụ về công tác tuyên giáo của tỉnh uỷ;

- Ban Dân Vận là cơ quan tham mưu của tỉnh uỷ mà trực tiếp, thường xuyên là ban thường vụ và thường trực tỉnh uỷ về công tác dân vận (bao gồm

cả công tác dân tộc, tôn giáo)

Ngoài các Ban trên đối với Đảng ủy Khối trực thuộc (Khối các cơ quan Trung ương và Khối Doanh nghiệp Trung ương) còn có 02 đơn vị trực thuộc

là Trung tâm bồi dưỡng chính trị và Đoàn thanh niên Khối

Đối với cấp“phòng” là đơn vị tổ chức cấp dưới của ban để thực hiện các nhiệm vụ cụ thể theo chức năng, nhiệm vụ của Ban và chỉ có cơ quan Tỉnh, thành ủy mới được thành lập cấp, theo quy định có các phòng như sau:

- Văn phòng: Phòng Tổng hợp; Phòng Hành chính, tiếp dân; Phòng Lưu trữ; Phòng Quản trị; Phòng Tài chính đảng; Phòng Cơ yếu - Công nghệ thông tin

- Ban Tổ chức: Văn phòng, Phòng Tổ chức - cán bộ, Phòng Huyện, cơ

sở đảng, đảng viên (hoặc phòng tổ chức đảng - đảng viên), Phòng bảo vệ chính trị nội bộ

- Ủy ban Kiểm tra: Văn phòng; Từ 3 đến 4 phòng nghiệp vụ

- Ban Tuyên giáo: Văn phòng; Phòng Lý luận chính trị và lịch sử Đảng; Phòng Tuyên truyền - báo chí - xuất bản; Phòng Văn hoá - Văn nghệ; Phòng Khoa giáo

- Ban Dân Vận: Văn phòng, Phòng Đoàn thể và các hội, Phòng Dân vận các cơ quan nhà nước, Phòng Dân tộc và Tôn giáo

Trang 23

- Đối với cơ quan Đoàn Thanh niên: Văn phòng, Ban Tổ chức, Ban Phong trào, Ban Tuyên giáo, Ủy ban kiểm tra, Ban Trường học, Ban Công tác thiếu nhi và nhi đồng

- Trung tâm bồi dưỡng chính trị: Gồm Văn phòng, phòng nghiệp vụ

Từ lâu, người dân Việt Nam dành gọi từ “cán bộ” một cách trân trọng cho những ai làm việc cho nhà nước nói chung Và trong tâm trí của mọi người thì cán bộ chính là cầu nối giữa dân với Đảng, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Cán bộ là người đem chính sách của Đảng, Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành Đồng thời đem tình hình dân chúng báo cáo cho Đảng, Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng”

Theo Điều 4, Luật Cán bộ, công chức năm 2008, khái niệm “ Cán bộ được quy định là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”

Mặc dù khái niệm “cán bộ” được sử dụng trong nhiều giai đoạn lịch

sử khác nhau với những cách hiểu khác nhau nhưng quan niệm chung nhất,

“Cán bộ là người có chức vụ, vai trò và cương vị nòng cốt trong một tổ

chức, có tác động, ảnh hưởng đến hoạt động của tổ chức và các quan hệ trong lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành, góp phần định hướng sự phát triển của tổ chức"

Theo quy định của Nghị quyết Trung ương 5 khoá IX: Hệ thống chính trị ở cơ sở có cán bộ chuyên trách và cán bộ không chuyên trách

Cán bộ chuyên trách là những cán bộ phải dành phần lớn thời gian lao động, làm việc công để thực hiện chức trách được giao, bao gồm: Cán bộ giữ

Trang 24

chức vụ qua bầu cử gồm: Cán bộ chủ chốt của cấp uỷ Đảng, HĐND, UBND những người đứng đầu Uỷ ban mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - phòng, ban hội

Cán bộ không chuyên trách là những người chỉ tham gia việc công trong một phần thời gian lao động Căn cứ hướng dẫn của Trung ương, UBND cấp tỉnh quy định khung về số lượng và mức phụ cấp cho cán bộ không chuyên trách trong hệ thống chính trị ở cấp cơ sở (kể cả trưởng thôn)

Như vậy xét về mặt bản chất, cán bộ quản lý cấp phòng, ban thuộc cơ

quan Đảng là cán bộ quản lý tại Cơ quan Đảng, chịu trách nhiệm tổ chức thực thi những chiến lược, chính sách, quyết định của lãnh đạo cấp trên nhằm đạt được những mục tiêu hoạt động đã được đề ra

1.2.1.2 Đặc điểm của cán bộ quản lý cấp phòng, ban thuộc cơ quan Đảng

Người cán bộ cấp phòng, ban trong tổ chức Đảng có những đặc điểm chung của cán bộ, công chức nói chung, cũng như những đặc điểm riêng có họ:

Thứ nhất, cán bộ cấp phòng, ban trong tổ chức Đảng là những người thực thi công vụ và được Nhà nước đảm bảo các điều kiện cần thiết, quyền lợi chính đáng để có khả năng và yên tâm thực thi công vụ Để thực hiện công

vụ, người cán bộ cấp phòng, ban trong tổ chức Đảng được cung cấp các điều kiện cần thiết để tiến hành thực thi công vụ như trụ sở, phương tiện, điều kiện làm việc Họ được đảm bảo các quyền lợi vật chất và tinh thần như: hưởng lương từ ngân sách nhà nước tương xứng với chức trách và công việc, nhận các loại trợ cấp, phụ cấp khác bằng tiền hoặc hiện vật và lương hưu khi đủ thời gian cống hiến cho nền công vụ, được khen thưởng khi có công lao xứng đáng Sự đảm bảo quyền lợi cho cán bộ cấp phòng, ban này có tính chất ổn định, lâu dài, thực tế là suốt đời nếu như họ không vi phạm kỷ luật bị thải hồi hoặc bị truy tố trước pháp luật

Trang 25

Thứ hai, cán bộ cấp phòng, ban trong tổ chức Đảng là lực lượng lao động chuyên nghiệp, có tính chuyên môn hóa cao Tính chuyên nghiệp của

người cán bộ cấp phòng, ban được quy định bởi địa vị pháp lý và được thể hiện qua hai yếu tố: thời gian, thâm niên công tác và trình độ năng lực chuyên môn, kỹ năng, nghiệp vụcông tác Đảng Hai yếu tố này gắn bó chặt chẽ với nhau tạo nên mức độ chuyên nghiệp của người cán bộ tham mưu Thời gian, thâm niên công tác tạo điều kiện để cán bộ cấp phòng, ban trong tổ chức Đảng thành thạo công việc và đúc rút kinh nghiệm trong thực thi công vụ, còn trình độ hiểu biết pháp luật, năng lực chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ tạo khả năng hoàn thành những công việc được giao Chính vì vậy, ngay khi bổ nhiệm, tổ chức Đảng đã yêu cầu người họ (người cán bộ tham mưu) phải có chuyên môn, có đủ tiêu chuẩn về độ tuổi, phẩm chất chính trị, đạo đức

Thứ ba, hoạt động tham mưu của cán bộ cấp phòng, ban trong tổ chức Đảng diễn ra thường xuyên, liên tục trên phạm vi rộng và mang tính phức tạp Trên thực tế có thể thấy, hoạt động của người cán bộ cấp phòng, ban đòi

hỏi tư duy trí tuệ, sản phẩm khó cân đo đong đếm nhưng lại có tác động rất lớn đến nhiều mặt của đời sống kinh tế - xã hội Chính vì vậy, đòi hỏi đội ngũ cán bộ cấp phòng, ban trong tổ chức Đảng phải đủ năng lực, phẩm chất đạo đức để thực hiện tốt nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước giao phó.(Hồ Mẫu Ngoạt, 2006)

1.2.1.3 Vai trò của cán bộ quản lý cấp phòng, ban thuộc cơ quan Đảng

- Trong công việc: Đội ngũ cán bộ quản lý phòng, ban thuộc cơ quan

Đảng là lực lượng tham mưu cho cấp ủy Đảng trong hoạch định chiến lược,

kế hoạch, chủ trương, chính sách, bước đi, giải pháp thực hiện nghị quyết của đảng bộ các cấp

- Trong tổ chức: Cán bộ cấp phòng, ban là cầu nối giữa quản lý cấp cao

với phần còn lại của cả cơ quan, truyền đạt những chỉ đạo của lãnh đạo cấp cao đến tất cả các nhân viên trong cơ quan, đồng thời là người tiếp thu những

Trang 26

tham mưu, góp ý của các bộ công nhân viên để chuyển đến lãnh đạo cấp cao góp phần thực hiện các nhiệm vụ của toàn cơ quan, đơn vị

- Trong công tác kiểm tra, giám sát, quy hoạch đội ngũ cán bộ: Đội ngũ

cán bộ quản lý cấp phòng, ban là người trực tiếp tiếp xúc với đội ngũ cán bộ, công nhân viên, do đó họ có vai trò quan trọng trong phân công, đánh giá, xếp loại cán bộ, người lao động trong các phòng ban, từ đó làm công tác sắp xếp,

bố trí, quy hoạch đội ngũ cán bộ của đơn vị

1.2.1.4 Phân loại cán bộ quản lý cấp phòng, ban thuộc cơ quan Đảng

Theo quy định số 219 -QĐ/TƯ lãnh đạo cấp phòng, ban thuộc cơ quan

Đảng ở cấp tỉnh và tương đương như sau:

- Trưởng các ban, đơn vị: Gồm Chánh Văn phòng, Chủ nhiệm ủy ban

Kiểm tra, Trưởng ban Tổ chức, Trưởng Ban Dân Vận, Trưởng Ban Tuyên giáo, Giám đốc trung tâm bồi dưỡng chính trị và Bí thư Đoàn thanh niên

- Phó các ban, đơn vị gồm: Phó Chánh Văn phòng, Phó Chủ nhiệm ủy

ban Kiểm tra, Phó ban: Dân vận, Tổ chức, Tuyên giáo, Phó giám đốc Trung tâm bồi dưỡng chính trị và Phó bí thư Đoàn thanh niên

- Trưởng, phó phòng: Văn phòng các Ban, PhòngTổng hợp, Phòng

Hành chính, tiếp dân, Phòng Lưu trữ; Phòng Quản trị, Phòng Tài chính đảng; Phòng Cơ yếu - Công nghệ thông tin (Văn phòng); Phòng Tổ chức - cán bộ, Phòng Huyện, cơ sở đảng, đảng viên (hoặc phòng tổ chức đảng - đảng viên), Phòng bảo vệ chính trị nội bộ (Ban Tổ chức); Phòng Lý luận chính trị và lịch

sử Đảng, Phòng Tuyên truyền - báo chí - xuất bản, Phòng Văn hoá - Văn nghệ, Phòng Khoa giáo (Ban Tuyên giáo); Phòng nghiệp vụ (Ủy ban Kiểm tra, Trung tâm Bồi dưỡng chính trị); các phòng Tổ chức, kiểm tra, tuyên giáo, trường học (Đoàn Thanh niên)

1.2.2 Khái niệm năng lực quản lý của cán bộ quản lý cấp phòng, ban thuộc cơ quan Đảng

Trang 27

Theo Cục quản lý nhân sự (Office of Personnel Management) của Mỹ, năng lực được hiểu là đặc tính có thể đo lường được của kiến thức, kỹ năng, thái

độ, các phẩm chất cần thiết để hoàn thành được nhiệm vụ và là yếu tố giúp một

cá nhân làm việc hiệu quả hơn so với những người khác Năng lực có thể phát triển, nâng cao và duy trì thông qua các khóa tập huấn, việc luân chuyển vị trí, kinh nghiệm thực tiễn, quá trình học tập hoặc tự bản thân phát triển Việc có đạt được cấp độ nào đó của một năng lực được đánh giá thông qua khả năng áp dụng năng lực đó trong những hoàn cảnh, tình huống khác nhau

Wynne (1997) thì cho rằng “Năng lực là một tập hợp các kỹ năng, kiến

thức, hành vi và thái độ được cá nhân tích luỹ và sử dụng để đạt được kết quả theo yêu cầu công việc”

Batal (2002) cho rằng: Năng lực làm việc được hiểu là kiến thức, kỹ

năng và hành vi - thái độ cần huy động để có thể thực hiện đúng đắn các hoạt động riêng của từng vị trí làm việc Kiến thức bao gồm hiểu biết chung và hiểu biết chuyên ngành về một lĩnh vực cụ thể Kỹ năng là khả năng áp dụng các kỹ thuật, phương pháp và công cụ để giải quyết công việc Thái độ - hành vi: thái độ, hành vi của bản thân người làm việc

Theo Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê (chủ biên) thì năng lực có thể

được hiểu theo hai nét nghĩa: (1) Chỉ một khả năng, điều kiện tự nhiên có sẵn để thực hiện một hoạt động nào đó Tức là năng lực là một khả năng có thực, được bộc lộ ra thông qua việc thành thạo một hoặc một số kĩ năng nào đó (2) Là một phẩm chất tâm sinh lí tạo cho con người có khả năng để hoàn thành một hoạt động nào đó có chất lượng cao Nghĩa là năng lực là sẵn có ở dạng tiềm năng của người học có thể giúp họ giải quyết những tình huống có thực trong cuộc sống

Có thể thấy năng lực ở con người có nhiều cấp độ khác nhau Năng lực cũng là những phẩm chất tâm lý mà nhờ chúng con người tiếp thu tương đối

dễ dàng những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và tiến hành một hoạt động nào đấy

Trang 28

một cách có kết quả Năng lực hình thành một phần dựa trên cơ sở tư chất tự nhiên của cá nhân, và một phần lớn dựa trên quá trình đào tạo, giáo dục và hoạt động thực tiễn, cũng như tự rèn luyện của cá nhân Người có năng lực sẽ thể hiện sự hứng thú đối với công việc nào đó; sự dễ dàng tiếp thu kỹ năng nghề nghiệp; hiệu suất lao động cao

Như vậy điểm chung cốt lõi của các cách hiểu trên về khái niệm “Năng

lực là khả năng vận dụng kiến thức, kĩ năng và thái độ để giải quyết tốt một

tình huống có thực trong cuộc sống”

Nhiều học giả hiện nay cho rằng, năng lực quản lý là khả năng đáp ứng

được mục tiêu quản lý của tổ chức Năng lực quản lý bao gồm kiến thức , kỹ năng quản lý, phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp, tiềm năng phát triển, khả năng học hỏi và sáng tạo khi thực hiện hoạt động quản lý Năng lực quản lý được thể hiện một cách tập trung trong toàn bộ chu trình của hoạt động quản lý từ việc lập kế hoạch đến tổ chức - chỉ đạo việc thực hiện kế hoạch và kiểm tra - đánh giá - hiệu chỉnh

Thông qua việc tìm hiểu các quan điểm, khái niệm có liên quan, học viên hiểu rằng :

Năng lực quản lý của cán bộ quản lý cấp phòng, ban thuộc cơ quan

Đảng là tổng hợp của kiến thức, kỹ năng quản lý, thái độ, phẩm chất, đạo đức của người cán bộ trong hoạt động quản lý để đạt được những mục tiêu của phòng, ban nói riêng, mục tiêu của cơ quan Đảng trong từng thời kỳ nhất định

Năng lực quản lý không được đánh giá thông qua bằng cấp mà đánh giá chủ yếu thông qua kết quả thực hiện nhiệm vụ của người cán bộ quản lý các phòng, ban thuộc cơ quan Đảng

Năng lực quản lý khác với năng lực chuyên môn vì công việc quản lý hoàn toàn khác với công việc chuyên môn Khi công việc thay đổi thì năng

Trang 29

lực làm việc cũng được xem xét lại theo yêu cầu và tính chất của công việc

đó Có những cá nhân có thể có năng lực thực hiện công việc chuyên môn tốt nhưng chưa chắc đã có đủ năng lực để thực hiện công việc quản lý Vì vậy, có những chuyên gia có năng lực thực hiện công việc rất tốt nhưng khi được đề bạt lên một vị trí quản lý thì lại thực hiện không hiệu quả do tính chất công việc mà họ đảm nhận đã thay đổi

1.2.3 Những yếu tố cấu thành năng lực quản lý của cán bộ quản lý cấp phòng, ban thuộc cơ quan Đảng

Theo trường phái của Anh trong việc đánh giá năng lực của nhân sự thì năng lực bao gồm 3 yếu tố là kiến thức (K -Knowledge), kỹ năng (S- Skill) và thái độ (A - Attitude), hay còn gọi là mô hình ASK, đây là mô hình đang được

sử dụng nhiều trong quá trình đánh giá năng lực của nhân sự Đối với đội ngũ cán bộ cơ quan Đảng, năng lực quản lý của cán bộ cấp phòng, ban của cơ quan Đảng cơ bản cũng được đánh giá trên các khía cạnh đó và là sự tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và phẩm chất, thái độ và các yêu cầu khác đặc thù của cán bộ quản lý cấp phòng, ban cơ quan Đảng mà một cán bộ quản lý của cơ quan Đảng cần có trong hoạt động lãnh đạo bản thân, lãnh đạo đội ngũ cấp dưới, lãnh đạo tổ chức nhằm đạt được mục tiêu của đơn vị đã định ra từ đầu

1.2.3.1 Kiến thức

Đối với cán bộ cơ quan Đảng yếu tố kiến thức là bắt buộc và rất cần thiết để có thể tham mưu, lãnh đạo, chỉ đạo các chủ trương, đường lối, kế hoạch của lãnh đạo cấp trên Đối với người cán bộ quản lý cấp phòng, ban phải có kiến thức bắt buộc theo quy định, nếu không có kiến thức này sẽ không được cân nhắc, bố trí vào vị trí quản lý của cấp phòng ban Bên cạnh kiến thức bắt buộc, người cán bộ quản lý cấp phòng, ban cần có thêm các kiến thức chung khác để phục vụ công tác quản lý của cá nhân trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của bản thân:

a).Nhóm kiến thức bắt buộc

Trang 30

- Trình độ lý luận chính trị: Thực tế cho thấy nếu cán bộ quản lý có lập

trường chính trị vững vàng, hoạt động vì mục tiêu, lý tưởng cách mạng thì sẽ được nhân dân kính trọng, tin yêu và họ sẽ vận động được nhân dân thực hiện tốt các chủ trương, chính sách, pháp luật góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước Ngược lại, nếu cán bộ quản lý nào lập trường chính trị không vững vàng, hoạt động vì lợi ích cá nhân, thoái hoá, biến chất sẽ đánh mất lòng tin ở nhân dân dẫn đến hiệu quả quản lý nhà nước thấp Vì vậy, để nâng cao năng lực quản lý nhà nước thì cần thiết phải nâng cao trình độ lý luận chính trị cho cán bộ quản lí cấp phòng, ban Theo quy định cán bộ quản lý cấp phòng, ban thuộctỉnh, thành ủy và tương đương phải có trình độ lý luận chính trị từ trung cấp trở lên

- Trình độ chuyên môn nghiệp vụ: Trình độ chuyên môn nghiệp vụ

được hiểu là những kiến thức chuyên sâu về một lĩnh vực nhất định được biểu hiện qua những cấp độ: Sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học Đây là những kiến thức mà cán bộ quản lý cấp phòng, ban không được thiếu khi giải quyết công việc của mình Nếu thiếu kiến thức này thì người cán bộ sẽ lúng túng trong việc giải quyết công việc, chắc chắn sẽ khó hoàn thành công việc, hiệu quả quản lý nhà nước sẽ thấp Theo quy định cán bộ quản lý cấp phòng, ban thuộctỉnh, thành ủy và tương đương phải có bằng cử nhân và tương đương trở lên

- Trình độ tin học, ngoại ngữ: Ngoại ngữ và tin học có vai trò quan

trọng trong tất cả các lĩnh vực hoạt động và ảnh hưởng trực tiếp đến sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế đối với tất cả các quốc gia Người cán bộ có quản lý có trình độ ngoại ngữ tin học tốt sẽ dễ dàng tiếp cận mới những tiến bộ khoa học, văn minh nhân loại cũng như những thành tựu khoa học trên thế giới để có thể vận dụng sáng tạo cho tổ chức của mình

Trang 31

Theo quy định đối với đội ngũ cán bộ quản lý cấp phòng, ban thì tin học, ngoại ngữ trình độ B trở lên

b) Kiến thức chung:

Là tổng thể tri thức, hiểu biết mà một người lĩnh hội, tích lũy qua trải nghiệm hoặc học hỏi và có khả năng vận dụng vào công việc quản lý của mình Các kiến thức mà cán bộ quản lý cấp phòng, ban thuộc cơ quan Đảng cần có bao gồm:

- Kiến thức kinh tế: Đây là kiến thức cơ bản hiểu biết về kinh tế như

kinh tế vĩ mô, kinh tế vi mô, tài chính ngân hàng, thị trường, kinh tế thị trường, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa…nhóm kiến thức chung về kinh tế này có vai trò quan trọng đối với cán bộ cấp phòng, ban cơ quan Đảng

- Kiến thức quản lý tổ chức: Kiến thức và kinh nghiệm quản trị doanh

nghiệp bao gồm kiến thức và kinh nghiệm xác lập mục tiêu, xây dựng, phát triển, điều hành, tổng kết chiến lược phát triển doanh nghiệp, kiến thức về quản trị nguồn nhân lực…những kiến thức và kinh nghiệm này giúp cho cán

bộ cấp phòng, ban cơ quan đảng hiểu được sự vận hành của doanh nghiệp, từ

đó hỗ trợ cho cán bộ cấp phòng, ban trong công tác tuyên truyền, vận động, tham mưu cho lãnh đạo tỉnh, thành ủy phương thức tổ chức các hoạt động trong công tác xây dựng Đảng tại doanh nghiệp

- Kiến thức pháp luật: Kiến thức về pháp luật rất cần thiết, đối với cán bộ

quản lý cấp phòng, ban thuộc cơ quan đảng nắm kiến thức về pháp luật và đặc biệt là pháp luật về kinh tế là cần thiết, nó giúp cho người cán bộ có thể đánh giá những hoạt động của doanh nghiệp đã thực hiện đúng pháp luật hay chưa, đánh giá đội ngũ lãnh đạo doanh nghiệp đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong quá trình quản lý kinh tế hay không, đồng thời hỗ trợ tích cực trong công tác tham mưu tác chỉ đạo hoạt động sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp

Trang 32

- Kiến thức về công tác xây dựng Đảng: Kiến thức xây dựng Đảng bao

gồm tổng hợp nhiều kiến thức như: kiến thức về chính trị, hệ thống chính trị, vai trò của các yếu tố cấu thành hệ thống chính trị, hiểu biết về các lĩnh vực chuyên môn của công tác Đảng (tuyên giáo, tổ chức, kiểm tra, dân vận, văn phòng), kiến thức về tổ chức chính trị, chính trị xã hội; kiến thức về xây dựng tổ chức Đảng, kiến thức để điều hành các hoạt động xây dựng kế hoạch, phân công nhiệm vụ, điều hành, kiểm tra kết quả thực hiện tại các phòng, ban cơ quan Đảng

-Kiến thức văn hóa, xã hội: theo phân tích ở trên, đây cũng là mảng kiến

thức quan trọng cần phải có của người cán bộ quản lý trong tổ chức Đảng

- Kiến thức hội nhập quốc tế: xu hướng hội nhập quốc tế diễn ra với

hầu hết mọi quốc gia trên thế giới, các quốc gia hội nhập để phát triển Tuy nhiên, một yêu cầu đặt ra đối với mọi quốc gia là việc hội nhập chứ không phải là hòa tan Do đó, quan điểm của Đảng về vấn đề hội nhập là đặc biệt quan trọng và phải có sự thay đổi linh hoạt theo từng thời kỳ nhất định Như vậy, mảng kiến thức về hội nhập quốc tế là một mảng kiến thức cần phải có

và phải được trau dồi thường xuyên đối với đội ngũ cán bộ quản lý trong tổ chức Đảng “

- Kiến thức về khoa học, công nghệ, kỹ thuật: là mức độ am hiểu về

khoa học công nghệ hiện đại, kiến thức về sử dụng các phần mềm chuyên ngành để giải quyết công việc, v.v

Theo quy định của Trung ương đối với cán bộ các cơ quan nhà nước đều bắt buộc phải đảm bảo kiến thức cơ bản Và tùy từng lĩnh vực có thêm những yêu cầu khác, đối với cán bộ công tác tại các cơ quan Đảng, nhất là các cơ quan Đảng chỉ đạo hoạt động của các doanh nghiệp cần hiểu biết thêm về các kiến thức quản lý về kinh tế, luật, nhân sự, quản trị doanh nghiệp và công tác xây dựng đảng trong doanh nghiệp Từ đó tác giả đề xuất

Trang 33

các tiêu chí phản ánh yếu tố kiến thức quản lý của cán bộ quản lý cấp phòng, ban thuộc cơ quan đảng như sau:

Bảng 1.1: Nhóm tiêu chí phản ánh yếu tố kiến thức của cán bộ quản lý

cấp phòng, ban thuộc cơ quan Đảng

KT1 Kiến thức kinh tế

KT2 Kiến thức quản lý tổ chức

KT3 Kiến thức pháp luật và luật kinh tế

KT4 Kiến thức về công tác xây dựng Đảng

KT5 Kiến thức văn hóa xã hội

KT6 Kiến thức hội nhập quốc tế

KT7 Kiến thức về khoa học, công nghệ, kỹ thuật

Nguồn: Tác giả xây dựng 1.2.3.2 Kỹ năng quản lý

Kỹ năng quản lý thể hiện sự thành thạo của mỗi người khi vận dụng sự hiểu biết về quản lý trong thực tế điều hành nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra

Kỹ năng liên quan đến quản lý bản thân bao gồm: kỹ năng thấu hiểu bản thân, cân bằng công việc và cuộc sống, học hỏi, giải quyết vấn đề Kỹ năng quản lý

tổ chức như xây dựng tầm nhìn và lập chiến lược; tổ chức và triển khai công việc; huy động và phối hợp các nguồn lực; xây dựng và phát triển văn hóa; khởi xướng sự thay đổi Đối với đội ngũ cấp phòng, ban cơ quan Đảng cần quan tâm đến 07 kỹ năng sau:

- Kỹ năng tham mưu thực hiện nhiệm vụ chính trị: tham mưu các nội

dung về chỉ đạo hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thể hiện ở việc tiếp nhận các thông tin từ chỉ đạo thông qua các chỉ thị, nghị quyết, quy định của Đảng, chính sách của Chính phủ về điều hành kinh tế vĩ mô của đất nước từ đó nghiên cứu lựa chọn các nội dung có thể triển khai thực hiện tại các doanh nghiệp, tham mưu xây dựng phương án tổ chức thực hiện phù hợp tình hình thực tế

Trang 34

- Kỹ năng tham mưu công tác xây dựng Đảng: thể hiện việc nghiên cứu

các nghị quyết, chỉ thị, hướng dẫn chủ trương của Đảng trong công tác Đảng bao gồm công tuyên giáo, dân vận, tổ chức, kiểm tra, văn phòng Từ đó lựa chọn những nội dung sát thực với cơ quan Đảng để tổ chức, triển khai thực hiện Kỹ năng tham mưu công tác Đảng còn thể hiện ở kinh nghiệm trong công tác Đảng, cũng như kinh nghiệm trong công tác quản lý tại cơ quan Đảng

- Kỹ năng tuyên truyền: với vai trò trung gian, là cấp thực hiện việc

tuyên truyền nội dung các Nghị quyết, chủ trương của Đảng và Nhà nước đến nhân dân và người lao động, đòi hỏi người cán bộ cần có những kiến thức cơ bản về tuyên truyền, tuyên truyền miệng để khi truyền tải thuyết phục được nhân dân, làm cho dân tin và thực hiện theo đúng chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước Kết quả kỹ năng tuyên truyền là phải thuyết phục được nhân dân tin tưởng và làm theo chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc xây dựng và phát triển đất nước

- Kỹ năng tạo động lực: Thể hiện ở việc phân công công việc khoa học,

công bằng trong thực hiện nhiệm vụ, khuyến khích, động viên khen thưởng kịp thời, quan tâm đến đời sống của các thành viên trong tổ chức

- Kỹ năng phát hiện, xử lý tình huống: thể hiện ở khả năng phân tích,

tổng hợp, suy đoán, dự báo của người cán bộ cấp phòng, ban để có thể dự báo những tình huống có thể xảy ra trong quá trình tổ chức thực hiện, thể hiện ở khả năng nhạy bén, chủ động trong việc xử lý các tình huống phát sinh một cách hợp lý, nhanh và hiệu quả

- Kỹ năng phối hợp: Đối với mội phòng, ban trong một tổ chức thực

hiện một nhiệm vụ khác nhau, do vậy để thực hiện mục tiêu chung đòi hỏi cán

bộ cấp phòng, ban phải có kỹ năng phối hợp ăn ý với nhau, trao đổi, phân công nhiệm vụ cụ thể cho mỗi tổ chức để có thể thực hiện được tốt nhất nhiệm vụ được giao

- Kỹ năng tổ chức, kiểm tra: Thể hiện ở kỹ năng bố trí công việc theo

Trang 35

năng lực của nhân viên, tổ chức, điều hành hoạt động, phân tích hiệu quả công việc tại mỗi khâu, phát hiện và bổ sung những thiếu sót, hạn chế trong công tác tham mưu của nhân viên để có thể thực hiện hiệu quả công việc của phòng, ban mà cơ quan giao

Trên cơ sở thực tiễn tác giả thấy đối với cán bộ quan lý cấp phòng, ban

cơ quan Đảng cần những tiêu chí về kỹ năng như sau:

Bảng 1.2: Nhóm tiêu chí phản ánh yếu tố kỹ năng quản lý của cán bộ

quản lý cấp phòng, ban thuộc cơ quan Đảng

KN 1 Kỹ năng tham mưu thực hiện nhiệm vụ chính trị

KN 2 Kỹ năng tham mưu công tác xây dựng Đảng

KN 3 Kỹ năng tuyên truyền

KN 4 Kỹ năng tạo động lực

KN 5 Kỹ năng phát hiện, xử lý tình huống

KN 6 Kỹ năng phối hợp

KN 7 Kỹ năng tổ chức, kiểm tra

Nguồn: Tác giả xây dựng 1.2.3.3 Hành vi, thái độ, phẩm chất đạo đức

Do đặc điểm công việc quản lý trong cơ quan Đảng, bên cạnh những kiến thức, kỹ năng cần thiết, để hoàn thiện năng lực quản lý của mình thì người cán bộ quản lý cấp phòng, ban cơ quan Đảng phải có phẩm phẩm chất đạo đức trong sáng, có đạo đức công vụ và thái độ tích cực, chủ động với công việc, thực hiện nghiêm túc Nghị quyếtsố 101-QÐ/TW “về việc nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp” của Ban Bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Do vậy, yếu tố thái độ, phẩm chất, đạo đức là một trong 03 yếu tố chủ đạo nhằm đánh giá năng lực của cán bộ quản

lý cấp phòng, ban thuộc cơ quan Đảng Trong phạm vi nghiên cứu, luận văn xác định những tiêu chí cơ bản đánh giá yếu tố này như sau:

Trang 36

Bảng 1.3: Nhóm nội dung phản ánh thái độ, phẩm chất, đạo đức của cán

bộ quản lý cấp phòng, ban thuộc cơ quan Đảng

TPD1 Lòng trung thành

TPD2 Tính kỷ luật

TPD3 Tính chủ động, sáng tạo

TPD4 Tính kiên nhẫn

TPD5 Khả năng chịu áp lực công việc

TPD6 Khả năng quyết đoán

TPD7 Biết lắng nghe

TPD8 Tính trung thực

Nguồn: Tác giả xây dựng

- Lòng trung thành: Là đội ngũ cốt cán trong công tác Đảng, do vậy đội ngũ

cán bộ quản lý cấp phòng, ban cơ quan Đảng phải kiên định chủ nghĩa Mác -

Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mới của Ðảng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; đi đầu trong đấu tranh với những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; Gương mẫu trong thực hiện, tuyên truyền và bảo vệ chủ trương, đường lối của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích chung của Ðảng, Nhà nước và của nhân dân Nếu thiếu tính trung thành, người cán bộ

quản lý cơ quan Đảng dễ dao động, thay đổi làm ảnh hưởng đến vai trò của Đảng trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, ảnh hưởng đến tồn vong của Đảng

- Tính kỷ luật: cán bộ quản lý cấp phòng, ban thuộc cơ quan Đảng phải

có tính kỷ luật cao, tính kỷ luật thể hiện trong suy nghĩ, tác phong trong nói, viết và làm thực hiện nghiêm túc theo điều lệ, quy định của Đảng; Thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ; phát huy dân chủ đi đôi với giữ nghiêm

kỷ luật trong tổ chức, cơ quan, đơn vị Gương mẫu chấp hành nghị quyết, chỉ thị, quyết định, sự phân công, điều động của tổ chức; đi đầu thực hiện nền nếp, chế độ sinh hoạt đảng, các nội quy, quy chế, quy định của tổ chức, cơ

Trang 37

quan, đơn vị; Người đứng đầu phải là tấm gương tự phê bình và phê bình để cấp dưới làm theo; Trong tự phê bình và phê bình phải thực sự cầu thị, tự giác, trung thực, chân thành, công tâm, không hữu khuynh, né tránh, chạy theo chủ nghĩa thành tích; khi có khuyết điểm phải nhận khuyết điểm và phải

có kế hoạch sửa chữa Có tình đồng chí, thương yêu lẫn nhau; thẳng thắn đấu tranh bảo vệ lẽ phải, bảo vệ người tốt; kiên quyết đấu tranh chống những biểu hiện lợi dụng phê bình với động cơ xấu; Hiểu và thực hiện đúng chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn của mình; làm việc có nguyên tắc, kỷ cương, có lý, có tình; không lạm dụng chức vụ, quyền hạn khi giải quyết công việc; chống các hiện tượng chạy chức, chạy quyền, chạy tội, chạy bằng cấp, chạy thi đua và các biểu hiện tiêu cực khác.Kiên quyết chống tư tưởng cục bộ, bè phái và các biểu hiện cơ hội, thực dụng vì lợi ích cá nhân, "lợi ích nhóm"; Chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; nói đi đôi với làm, đã nói thì phải làm Nếu thiếu tính kỷ luật, người cán bộ quản lý cấp phòng, ban sẽ có thể thực hiện sai nguyên tắc, quy định của Đảng, dẫn đến sai lầm về đường lối, xa vào chủ nghĩa cá nhân, lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong thực thi nhiệm vụ

- Tính chủ động, sáng tạo: cán bộ quản lý cấp phòng, ban cơ quan

Đảng phải có thái độ chủ động, sáng tạo trong công việc Từ đó, họ dễ dàng kiểm soát tình hình, giải quyết vấn đề một cách nhanh gọn và thống nhất Sự chủ động, sáng tạo còn được thể hiện qua việc liên tục suy nghĩ, sáng tạo và

đề xuất các ý tưởng tham mưu cho lãnh đạo tổ chức Đảng, làm tăng hiệu quả công việc Để làm được điều đó, đòi hỏi người cán bộ cấp phòng, ban phải tích cực học hỏi, tìm tòi, suy luận và hành động để tìm ra những cách làm mới, những phương pháp làm việc mới hiệu quả hơn

- Tính kiên nhẫn: cán bộ quản lý cấp phòng, ban thuộcĐảng cần có tính

kiên nhẫn vì tham mưu còn người là công việc khó khăn, áp lực công việc

Trang 38

lớn Nhất là trong quan hệ với nhân dân cần nêu cao ý thức phục vụ nhân dân; làm việc với thái độ khách quan, công tâm, tập trung sức giải quyết những lợi ích chính đáng của nhân dân; lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của quần chúng, chủ động đối thoại với nhân dân và cán bộ dưới quyền Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân nơi cư trú.Kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện vô cảm, quan liêu, cửa quyền, hách dịch và các hành vi nhũng nhiễu, gây phiền

hà nhân dân Nếu thiếu tính kiên nhẫn, cán bộ quản lý cấp phòng, ban cơ quan Đảng sẽ cảm thấy bế tắc và khó đạt được mục tiêu, hiệu quả trong công việc tham mưu

- Khả năng chịu áp lực công việc: với khối lượng công việc lớn xuất

phát từ yêu cầu của công việc tham mưu, cán bộ quản lý cấp phòng, ban cơ quan Đảng phải có khả năng chịu áp lực thì mới có thể hoàn thành tốt công việc Trong những điều kiện làm việc khó khăn và phải giải quyết những vấn

đề phức tạp có liên quan phát sinh trong công tác chuyên môn hàng ngày thì khả năng chịu áp lực sẽ giúp cho cán bộ quản lý cấp phòng, ban cơ quan Đảng duy trì và tiếp tục hoạt động, sáng suốt để đề xuất những giải pháp thực hiện và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao

- Khả năng quyết đoán: đây là phẩm chất mà cán bộ quản lý cấp phòng,

ban cơ quan Đảng cần có Quyết đoán không có nghĩa là độc đoán, cũng không phải là cố làm ẩu, làm bừa, làm trái quy định, mà là dám nghĩ dám làm

và dám chịu trách nhiệm trong những tình huống nhất định Sự quyết đoán giúp cho người cán bộ cấp phòng, ban giúp xác định và giải quyết vấn đề nhanh chóng

- Biết lắng nghe: cán bộ quản lý cấp phòng, ban cơ quan Đảng phải biết

lắng nghe ý kiến nhận xét của lãnh đạo cấp trên, góp ý của cấp dưới Khả năng lắng nghe giúp người cán bộ cấp phòng, ban tiếp cận được với nhiều luồng ý kiến, ý tưởng Tuy nhiên, biết lắng nghe không có nghĩa là đồng ý với

Trang 39

tất cả các ý kiến đó mà phải biết rút ra được chủ kiến của chính mình

- Tính trung thực: cán bộ quản lý cấp phòng, ban cơ quan Đảng phải

trung thực với lãnh đạo cấp trên và cấp dưới của mình Đây là một phẩm chất quan trọng giúp cho cán bộ quản lý cấp phòng, ban cơ quan Đảng nhận được

sự tin tưởng, gây dựng lòng tin của mọi người trong tổ chức

1.2.4 Những tiêu chí đánh giá năng lực quản lý của cán bộ quản lý cấp phòng, ban thuộc cơ quan Đảng

Năng lực quản lý của cán bộ quản lý các phòng, ban thuộc Cơ quan Đảng được cấu thành từ rất nhiều yếu tố, do đó, việc đưa ra các tiêu chí để đánh giá năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ này cũng không đơn giản Trong khuôn khổ luận văn, học viên sẽ tập trung nghiên cứu một số tiêu chí sau:

(1) Hiệu lực của các quyết định quản lý: tính hiệu lực của quyết định

được tham mưu phản ánh mức độ tác động, ảnh hưởng của quyết định quản lý

đó trên thực tế hoạt động của đợn vị, bộ phận mà người cán bộ quản lý các phòng, ban thuộc Cơ quan Đảng

(2) Chất lượng các ý kiến được đề xuất, sử dụng: số lượng các ý kiến

đề xuất được sử dụng là cơ sở để đánh giá công tác quản lý của cán bộ quản

lý cấp phòng, ban cơ quan Đảng về kiến thức và thực tiễn, am hiểu cơ sở, sát với tình hình đơn vị mà vẫn đảm bảo đúng theo chỉ đạo của Trung ương, đây

là tiêu chí quan trọng đối với cán bộ cơ quan tham mưu của Đảng

(3) Kết quả thực hiện công việc của nhân viên: kỹ năng tạo động lực

làm việc cho nhân viên cấp dưới trực tiếp là một kỹ năng rất quan trọng đối với người cán bộ quản lý các phòng, ban thuộc cơ quan Đảng Ở đây, động lực làm việc của các nhân viên cấp dưới có thể được đánh giá thông qua: thái

độ của họ với công việc; hiệu quả công việc mà họ đảm nhận; v.v

(4) Hiệu quả làm việc của bộ phận: hiệu quả làm việc của bộ phận là

tổng hợp hiệu quả làm việc của mỗi cá nhân trong bộ phận đó Tiêu chí này

Trang 40

chính là kết quả sau cùng của công việc quản lý của đội ngũ cán bộ quản lý các phòng, ban thuộc cơ quan Đảng Hiệu quả làm việc của bộ phận có thể được đánh giá thông qua: tiến độ thực hiện nhiệm vụ được giao; chất lượng của công việc; v.v

(5) Kết quả xếp loại đảng viên, công chức hàng năm:Đây là tiêu chí

quan trọng để đánh giá năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp phòng, ban tại cơ quan Đảng Việc xếp loại cán bộ, đảng viên hàng năm là công việc bắt buộc của các tổ chức Đảng, trên cơ sở kết quả tu dưỡng, rèn luyện, hiệu quả công việc của mỗi cán bộ được tập thể bình bầu, cấp trên đánh giá, phê duyệt Kết quả này mang tính đánh giá toàn diện, khách quan đối với cán bộ công chức, trong đó có đội ngũ cán bộ cấp phòng, ban cơ quan Đảng

Để có kết quả sơ cấp về các tiêu chí đánh giá cán bộ quản lý cấp phòng, ban thuộc cơ quan Đảng tác giả đã tiến hành điều tra với 4 tiêu chí gồm: Hiệu lực của các quyết định quản lý; chất lượng các ý kiến được đề xuất, sử dụng; kết quả thực hiện công việc của nhân viên; hiệu quả làm việc của bộ phận Riêng tiêu chí kết quả xếp loại đảng viên, công chức hàng năm được tổng hợp

từ kết quả xếp loại hàng năm của cơ quan Đảng

Bảng 1.4: Nhómtiêu chí đánh giá năng lực quản lý của cán bộ quản lý

cấp phòng, ban thuộc cơ quan Đảng Mãhóa Tiêu chí đánh giá năng lực quản lý

TC1 Hiệu lực của các quyết định quản lý

TC2 Chất lượng các ý kiến được đề xuất, sử dụng

TC3 Kết quả thực hiện công việc của nhân viên

TC4 Hiệu quả làm việc của bộ phận

Nguồn: Tác giả xây dựng

1.2.5 Những nhân tố ảnh hưởng đến năng lực quản lý của cán bộ quản lý cấp phòng, ban thuộc cơ quan Đảng

Ngày đăng: 04/12/2019, 14:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w