ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ --- TRẦN MAI HƯƠNG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP THUỘC BỘ QUỐC PHÒNG CỦA KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC CHUYÊN NGÀNH IA LUẬN VĂN T
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
TRẦN MAI HƯƠNG
KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP THUỘC BỘ QUỐC PHÒNG CỦA KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC CHUYÊN NGÀNH IA
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Hà Nội – 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
TRẦN MAI HƯƠNG
KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP THUỘC BỘ QUỐC PHÒNG CỦA KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC CHUYÊN NGÀNH IA
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60 34 04 10 LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN TRÚC LÊ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Đề tài “ Kiểm toán Báo cáo tài chính đối với các doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng của Kiểm toán Nhà nước Chuyên ngành Ia ” là
công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Trúc Lê Các số liệu, kết quả nêu trong bài viết là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả
Trần Mai Hương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Đề tài luận văn và kết thúc khóa học, với tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Trường Đại học Kinh tế - Trường Đại học Quốc Gia Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi có môi trường học tập tốt trong suốt thời gian tôi học tập nghiên cứu tại trường
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới PGS TS Nguyễn Trúc Lê đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành Đề tài luận văn tốt nghiệp này
Đồng thời, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn tới những anh chị đồng nghiệp tại Kiểm toán Nhà nước Chuyên ngành Ia, nơi tôi công tác đã giúp đỡ tạo điều kiện để tôi hoàn thành công trình nghiên cứu này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với Khoa Sau đại học - Hội đồng Khoa học và Đào tạo Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc Gia Hà Nội, các thầy cô giáo tham gia quản lý, giảng dạy và tư vấn trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Kính mong sự chỉ dẫn và góp ý của các thầy cô giáo, các bạn đồng nghiệp để công trình nghiên cứu của tôi tiếp tục được hoàn thiện hơn
TÁC GIẢ
Trần Mai Hương
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG ii
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH DOANH NHÀ NƯỚC 4
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 4
1.2 Cơ sở lý luận về kiểm toán Báo cáo tài chính các doanh nghiệp Nhà nước 6
1.2.1 Khái niệm doanh nghiệp Nhà nước 6
1.2.2 Khái niệm các doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng 7
1.2.3 Đặc điểm của doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng 7
1.2.4 Phân loại các doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng 13
1.2.5 Những vấn đề lý luận cơ bản của kiểm toán Báo cáo tài chính các doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng của Kiểm toán nhà nước Chuyên ngành Ia 16
1.2.6 Nội dung thực hiện một cuộc kiểm toán Báo cáo tài chính theo Quy trình kiểm toán Báo cáo tài chính các doanh nghiệp nhà nước của Kiểm toán nhà nước 19
1.2.7 Những yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức thực hiện kiểm toán Báo cáo tài chính của Doanh nghiệp trực thuộc Quốc phòng 37
1.3 Kinh nghiệm về kiểm toán Báo cáo tài chính 50
1.4 Tổ chức kiểm tra, thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán đối với kiểm toán Báo cáo tài chính các doanh nghiệp nhà nước 54
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 56
2.1 Phương pháp thu thập thông tin 56
Trang 62.2 Các phương pháp xử lý thông tin: 56
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP THUỘC BỘ QUỐC PHÒNG CỦA KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC CHUYÊN NGÀNH IA 58
3.1 Kiểm toán nhà nước Chuyên ngành Ia với Kiểm toán Báo cáo tài chính 58
3.1.1.Đặc điểm về tổ chức của Kiểm toán nhà nước Chuyên ngành Ia 58 3.1.2 Đối tượng và lĩnh vực kiểm toán của KTNN Chuyên ngành Ia 58
3.1.3 Một số kết quả đạt được qua kiểm toán các doanh nghiệp Quốc phòng những năm gần đây của KTNN CN Ia 59
3.2.Thực trạng công tác Kiểm toán Báo cáo tài chính đối với các doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng của Kiểm toán nhà nước Chuyên ngành Ia 64 3.2.1 Thực trạng về quy trình kiểm toán BCTC 64
3.2.2 Về chuẩn mực kiểm toán và các chính sách pháp luật liên quan đến hoạt động kiểm toán 69
3.2.3 Về tổ chức và hoạt động của Kiểm toán nhà nước 73
3.2.4 Về đạo đức nghề nghiệp, trình độ, năng lực của Kiểm toán viên nhà nước 74
3.2.5 Về đặc trưng tài chính của Doanh nghiệp quốc phòng 75
3.2.6 Nguyên nhân, hạn chế và bất cập 76
CHƯƠNG 4 GIẢI PHÁP VÀ KHUYẾN NGHỊ 78
4.1 Giải pháp đối với những hạn chế trong chính sách, quy trình, chuẩn mực của Kiểm toán nhà nước và của pháp luật 78
4.1.1 Đối với việc hoàn thiện Quy trình kiểm toán doanh nghiệp của Kiểm toán nhà nước 78
4.1.2 Đối với việc hoàn thiện các chuẩn mực, chính sách pháp luật liên quan đến hoạt động kiểm toán 81
4.2 Giải pháp đối với việc nâng cao địa vị pháp lý của KTNN 84
Trang 74.3 Giải pháp nâng cao chất lượng, phát triển đội ngũ kiểm toán viên đủ về mặt số lượng 88 4.4 Giải pháp đối với đặc thù kiểm tra, kiểm soát nội bộ của đơn vị được kiểm toán 90 4.5 Tăng cường và nâng cáo hiệu quả phối hợp công tác giữa KTNN với các cơ quan của Quốc hội; các Bộ, Ngành; cấp ủy và chính quyền các cấp cũng như với từng đơn vị được kiểm toán nói chúng với các doanh nghiệp quốc phòng nói riêng 93 KẾT LUẬN 95 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 9DANH MỤC BẢNG
1 Bảng 1.1 Phương pháp kiểm toán tài sản cố định và mục tiêu cần đạt được 51
2 Bảng 1.2 Bài học kinh nghiệm trong kiểm toán doanh nghiệp xây lắp 52
3 Bảng 3.1 Một số chỉ tiêu tổng quát từ kết quả kiểm toán các doanh
4 Bảng 3.2 Một số chỉ tiêu tổng quát từ kết quả kiểm toán các doanh
5 Bảng 3.3 Một số chỉ tiêu tổng quát từ kết quả kiểm toán các doanh
6 Bảng 3.4 Một số chỉ tiêu tổng quát từ kết quả kiểm toán các doanh
7 Bảng 3.5 Một số chỉ tiêu tổng quát từ kết quả kiểm toán các doanh
8 Bảng 3.6 Kết quả tăng thu NSNN qua kiểm toán các doanh nghiệp
9 Bảng 3.7 Đánh giá chỉ tiêu tăng thu NSNN theo kết quả kiểm toán
các doanh nghiệp Quốc phòng giai đoạn 2011-2015 64
Trang 10LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động kiểm toán của Kiểm toán nhà nước trong những năm qua đã cung cấp các thông tin cần thiết, tin cậy và là một trong những căn cứ quan trọng để Quốc hội xem xét phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước Qua 20 năm hoạt động, khuân khổ và môi trường pháp lý cho hoạt động kiểm toán đã được tạo dựng song chưa đầy đủ Hệ thống nguyên tắc, chuẩn mực, quy trình
và phương pháp nghiệp vụ mang tính công nghệ kiểm toán cũng chưa hoàn thiện đã làm cho Kiểm toán viên gặp khó khăn khi triển khai công việc
Khi tiến hành một cuộc kiểm toán Báo cáo tài chính các Doanh nghiệp nhà nước nói chung, các KTV của KTNN đang áp dụng Quyết định số 04/2012/QĐ-KTNN ngày 06 tháng 04 năm 2012 về Quy trình kiểm toán Doanh nghiệp của Kiểm toán nhà nước và Chuẩn mực số 200 Các nguyên tắc
cơ bản trong kiểm toán tài chính (Ban hành kèm theo Quyết định số 02/2016/QĐ-KTNN ngày 15 tháng 7 năm 2016 của Tổng Kiểm toán nhà
nước) và các chuẩn mực khác về kiểm toán tài chính liên quan Tuy nhiên, do
đặc thù của các doanh nghiệp quốc phòng như, các doanh nghiệp quốc phòng đều trực thuộc các cơ quan chủ quản cấp trên, như: Bộ Quốc phòng; các Quân khu, Quân chủng, Quân đoàn, Tổng cục, Cục, Vụ, Viện, Học viện, nhà trường…được hình thành và phát triển dựa trên những chức năng, nhiệm vụ riêng biệt, như doanh nghiệp quốc phòng với nhiệm vụ chủ yếu là sản xuất vũ khí, sản xuất các trang thiết bị phục vụ quân sự và các doanh nghiệp quốc phòng với nhiệm vụ chủ yếu làm kinh tế, phục vụ nhiệm vụ quân sự, quốc phòng thời bình và sẵn sàng chiến đấu trong thời chiến Chính vì vậy, cơ chế quản lý đối với DNQP cũng có nhiều điểm khác biệt với các DNNN Các điểm khác biệt đó được gọi là “đặc thù” Cụ thể, đặc thù về cơ cấu tổ chức,
Trang 11đặc thù về biên chế, về hoạt động, về cơ cấu tài chính, về cơ chế điều hành, cơ chế quản lý tài chính… Các hệ thống quy trình, chuẩn mực của Kiểm toán nhà nước tuy đầy đủ nhưng chưa có quy trình, chuẩn mực quy định, hướng dẫn việc kiểm toán các doanh nghiệp quốc phòng Chính vì những lí do trên,
Tác giả đã lựa chọn đề tài “Kiểm toán Báo cáo tài chính đối với các doanh
nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng của Kiểm toán Nhà nước Chuyên ngành Ia ”
làm đề tài nghiên cứu cho Luận văn Thạc sỹ của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận và những kết quả nghiên cứu thực tế, mục tiêu nghiên cứu của Đề tài là làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về kiểm toán Báo cáo Tài chính tại Kiểm toán nhà nước Chuyên ngành Ia Phân tích đánh giá những kết quả đạt được, những hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế,
đề ra phương hướng và giải pháp, hình thành kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện công tác kiểm toán Báo cáo tài chính tại Kiểm toán nhà nước Chuyên ngành Ia
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Báo cáo tài chính đối với Doanh nghiệp thuộc
Bộ Quốc phòng của Kiểm toán nhà nước Chuyên ngành Ia
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu kiểm toán Báo cáo Tài chính đối với Doanh nghiệp trực thuộc Bộ Quốc phòng (các doanh nghiệp
cổ phần có vốn nhà nước từ 51% trở lên)
4 Câu hỏi nghiên cứu của đề tài:
Nghiên cứu này nhằm trả lời câu hỏi: Làm thế nào để hoàn thiện công tác kiểm toán BCTC các doanh nghiệp quốc phòng của Kiểm toán nhà nước Chuyên ngành Ia
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được chia thành 4 chương:
Trang 12Chương 1: Tổng quan và cơ sở lý luận về công tác kiểm toán Báo cáo tài chính đối với các doanh nghiệp Nhà nước;
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu;
Chương 3: Thực trạng công tác kiểm toán Báo cáo tài chính đối với các doanh nghiệp Nhà nước;
Chương 4: Giải pháp và khuyến nghị
Trang 13CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH DOANH NHÀ NƯỚC
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Hiện nay có rất nhiều công trình nghiên cứu về việc hoàn thiện quy trình kiểm toán tài chính nói chung và kiểm toán Báo cáo tài chính của Doanh nghiệp nhà nước nói riêng nhưng, chưa có nhiều đề tài nghiên cứu về nội dung này Các công trình nghiên cứu được thực hiện ở cấp độ cả luận văn thạc sỹ và luận án tiến sỹ đã nghiên cứu tại KTNN hay những công ty kiểm toán độc lập lớn ở trong nước, cụ thể một số công trình nghiên cứu như sau:
Đề tài nghiên cứu “Kiểm toán Báo cáo tài chính các Doanh nghiệp nhà
nước do KTNN thực hiện” (Nguyễn Thu Hà, 2013) Đề tài đã làm rõ những
vấn đề liên quan đến quy trình kiểm toán BCTC các DNNN cả về mặt lý luận
và thực tiễn Đề tài đã giúp người đọc hiểu được các bước trong quy trình từ lập KHKT đến thực hiện kiểm toán, tiến hành lập BCKT và cuối cùng là bước kiểm tra việc thực hiện kiến nghị kiểm toán Đề tài đã đi sâu vào quy trình kiểm toán đối với từng loại hình doanh nghiệp như sản xuất, xây dựng và thương mại và có ví dụ cụ thể đối với các loại hình này Chính vì thế, người đọc hoàn toàn có thể so sánh được sự khác nhau trong quy trình kiểm toán đối với từng loại hình doanh nghiệp này Đề tài cũng đã đề xuất được những phương hướng và giải pháp có tính khả thi để nâng cao chất lượng kiểm toán BCTC các DNNN do KTNN nhà nước thực hiện
“Hoàn thiện quy trình kiểm toán báo cáo tài chính của ngân hàng
thương mại do Kiểm toán Nhà nước thực hiện” (Đỗ Huy Chí, 2011) Đề tài sử
dụng phương pháp nghiên cứu chung và phương pháp nghiên cứu cụ thể Trong phạm vi Đề tài nghiên cứu đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ những vấn
đề lý luận cơ bản về Quy trình kiểm toán báo cáo tài chính của ngân hàng
Trang 14thương mại Tập trung làm rõ một cách có hệ thống và ngắn gọn về thực trạng Quy trình kiểm toán báo cáo tài chính của ngân hàng thương mại do Kiểm toán Nhà nước thực hiện, các ưu điểm, nhược điểm, các nguyên nhân của những bất cập còn tồn tại từ đó làm căn cứ đưa ra những giải pháp có tính chất định hướng cơ bản để hoàn thiện Quy trình kiểm toán báo cáo tài chính của ngân hàng thương mại ở giai đoạn chuẩn bị kiểm toán, thực hiện kiểm toán, lập và gửi báo cáo kiểm toán Việc hoàn thiện này góp phần nâng cao chất lượng của các cuộc kiểm toán báo cáo tài chính của ngân hàng thương mại do Kiểm toán Nhà nước thực hiện
“Hoàn thiện quy trình kiểm toán báo cáo tài chính các đơn vị sự
nghiệp công lập thực hiện cơ chế tự chủ tài chính do Kiểm toán Nhà nước thực hiện” (Võ Mai Trang, 2008) Luận văn nghiên cứu kiểm toán báo cáo tài
chính đơn vị sự nghiệp công lập là đơn vị dự toán cấp 3, nghiên cứu hoạt động kiểm toán các đơn vị sự nghiệp công lập do Kiểm toán Nhà nước thực hiện Trên cơ sở kết quả nghiên cứu Luận văn đã hệ thống hóa những vấn đề
lý luận về quy trình kiểm toán báo cáo tài chính đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện cơ chế tự chủ tài chính Luận văn đi sâu phân tích, đánh giá và chỉ
rõ những ưu điểm và những hạn chế của quy trình kiểm toán báo cáo tài chính các đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện cơ chế tự chủ tài chính của Kiểm toán Nhà nước Luận văn đã đề xuất những phương hướng, giải pháp hoàn thiện quy trình kiểm toán báo cáo tài chính nhằm nâng cao chất lượng kiểm toán đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện cơ chế tự chủ tài chính do Kiểm toán Nhà nước thực hiện
“Hoàn thiện quy trình kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách của
các đơn vị hành chính thực hiện cơ chế khoán chi do Kiểm toán Nhà nước Việt Nam thực hiện”(Nguyễn Thị Hải Yến, 2010) Đề tài nghiên cứu đã làm
sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn tạo ra cơ sở khoa học để làm rõ sự
Trang 15cần thiết phải hoàn thiện quy trình kiểm toán chi ngân sách đối với đơn vị hành chính thực hiện cơ chế khoán chi, đề xuất phương hướng và giải pháp để hoàn thiện quy trình kiểm toán nhằm từng bước nâng cao chất lượng, hiệu quả của các cuộc kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách bộ ngành, ngân sách địa phương do KTNN Việt Nam thực hiện
Bài viết nghiên cứu “tìm hiểu về hệ thống kiểm soát nội bộ trong các
đơn vị dự toán trực thuộc Bộ Quốc phòng” (Phạm Bính Ngọ, 2013).Bài viết
đã đưa ra một số giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong các đơn
vị dự toán trực thuộc Bộ Quốc phòng
Tuy nhiên, các đề tài trên chưa đi sâu vào nghiên cứu công tác kiểm toán Báo cáo tài chính đối với các Doanh nghiệp trực thuộc Bộ Quốc phòng
Chính vì vậy, tác giả chọn đề tài “Kiểm toán Báo cáo tài chính đối với các
Doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng của Kiểm toán nhà nước Chuyên ngành
Ia ” với mong muốn đóng góp những ý kiến đánh giá, những quan điểm từ
góc nhìn của bản thân Tác giả là một KTV nhằm đưa ra những kiến nghị giúp hoàn thiện và nâng cao công tác kiểm toán Báo cáo tài chính của KTNN nói chung và công tác Kiểm toán Báo cáo tài chính các Doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng của KTNN Chuyên ngành Ia nói riêng
1.2 Cơ sở lý luận về kiểm toán Báo cáo tài chính các doanh nghiệp Nhà nước
1.2.1 Khái niệm doanh nghiệp Nhà nước
“Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ”.(Luật Doanh nghiệp, 2005)
“Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ”.(Luật Doanh nghiệp, 2014)
Trang 161.2.2 Khái niệm các doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng
“Doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh được giao nhiệm
vụ sản xuất, cung ứng các sản phẩm, dịch vụ quốc phòng, an ninh hoặc thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh ổn định, thường xuyên bằng nguồn lực của Nhà nước hoặc nguồn lực của doanh nghiệp phù hợp với mục tiêu doanh nghiệp phục vụ quốc phòng an ninh” (Nghị định số 93/NĐ-CP, 2015)
1.2.3 Đặc điểm của doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng
1.2.3.1 Về tổ chức hoạt động của các doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng
Doanh nghiệp Quốc phòng được phân biệt khối doanh nghiệp Quốc phòng an ninh; doanh nghiệp công ích Quốc phòng với 100% vốn của nhà nước và các doanh nghiệp cổ phần có vốn nhà nước từ 51% trở lên Trong hệ thống các DNQP có thể phân biệt bởi phân cấp ngân sách của các doanh nghiệp Doanh nghiệp trực thuộc thẳng Bộ Quốc phòng là đơn vị dự toán cấp 2; các doanh nghiệp (đơn vị dự toán cấp 3) trực thuộc đơn vị dự toán cấp 2 là các quân khu, binh chủng, tổng cục
Các DNQP, nhiệm vụ chủ yếu là sản xuất vũ khí, sản xuất các thiết bị phục vụ quân sự và các doanh nghiệp kinh tế Quốc phòng (phục vụ nhiệm vụ quân sự, Quốc phòng thời bình và sẵn sàng cho thời chiến), trực thuộc các cơ quan chủ quản cấp trên như: Bộ Quốc phòng; quân khu; quân chủng; tổng cục; cục; vụ; viện; học viện nhà trường… Với những đặc điểm có tính đặc thù
về tổ chức biên chế, cơ chế hoạt động, nhiệm vụ công ích Quốc phòng của các doanh nghiệp Hoạt động SXKD theo cơ chế thị trường, các DNQP phải chịu sự ràng buộc bởi địa vị pháp lý “kép”: vừa là đơn vị hành chính-quân sự (phải tuân thủ những quy định chung đối với tiềm lực quốc phòng của đất nước), vừa là pháp nhân kinh tế (hoạt động theo các quy định và Luật doanh nghiệp đối với DNNN) Trong cơ cấu vốn và tài sản tại các DNQP có cả 2 nhóm yếu tố: vốn SXKD của doanh nghiệp (quản lý, khai thác, sử dụng theo
Trang 17pháp luật kinh tế) và tài sản quân sự (đất Quốc phòng, trang bị, vật tư quân sự…giao cho đơn vị quản lý, khai thác, sử dụng theo các quy định của pháp luật quân sự) Do lịch sử hình thành nên phần lớn các doanh nghiệp kinh doanh được tổ chức tự phát từ các đơn vị chủ quản như trên, chủ yếu tận dụng chất xám của đội ngũ cán bộ khoa học, một số tài sản… từ đó hình thành đơn
vị sản xuất kinh doanh và dần chuyển thành DNNN Cơ bản các doanh nghiệp này không được nhà nước cấp vốn cho SXKD nên khi phát triển mạnh về quy
mô hoạt động, về doanh thu thường rất khó khăn về vốn
Để đổi mới công nghệ, đáp ứng nhu cầu sản xuất, sửa chữa vũ khí, khí tài, trang bị để xây dựng quân đội, các DNQP có nhu cầu đầu tư dây chuyền sản xuất, sửa chữa vũ khí, khí tài, trang thiết bị kỹ thuật quân sự ngày càng lớn, rất tốn kém, công nghệ phức tạp, đa số phải nhập ngoại, khó mua trong khi đó khả năng ngân sách Quốc phòng hàng năm đặt hàng tại các doanh nghiệp còn thấp, thường không ổn định, chỉ đáp ứng được từ 10% đến 50% công suất thiết kế của trang thiết bị, chưa tương xứng với giá trị đầu tư Việc khai thác, tận dụng năng lực quốc phòng để làm kinh tế ngày càng khó khăn dẫn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh hạn chế
Các doanh nghiệp đứng chân trên địa bàn chiến lược song song với việc thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh phải việc thực hiện nhiệm vụ đảm bảo giữ vững an ninh, chính trị, tạo thế phòng thủ, thực hiện phân bố lại
cơ cấu kinh tế, dân cư, xoá đói giảm nghèo, thực hiện tốt các chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn đóng quân
1.2.3.2.Về tài chính doanh nghiệp Quốc phòng
+ Khối doanh nghiệp phục vụ Quốc phòng: Doanh nghiệp nhà nước trực tiếp phục vụ Quốc phòng hoặc kết hợp kinh tế với Quốc phòng được tổ chức quản lý và hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp (Điều 67-Luật DN2005) và quy định riêng của Chính phủ
Trang 18DNQP cũng mang đầy đủ các đặc trưng tài chính của các DNNN về sở hữu, phân phối thu nhập và mục tiêu hoạt động Tuy nhiên với đặc thù trong lĩnh vực Quốc phòng các DNQP lại có một số đặc điểm về tài chính tương đối đặc trưng về tình hình sở hữu vốn, cơ quan chủ quản, về loại hình sản xuất kinh doanh …, cụ thể:
+ Khối doanh nghiệp công ích quốc phòng: Có 100% vốn NSNN Nhìn chung, các doanh nghiệp công ích Quốc phòng có quy mô vừa và nhỏ Tuy các doanh nghiệp phải hạch toán kinh tế, song phần Ngân sách nhà nước hỗ trợ cho hoạt động công ích cũng khá lớn Hàng năm các doanh nghiệp lập dự toán ngân sách trình cấp trên phê duyệt và tổ chức thực hiện sau khi được thông báo Ngân sách
Đơn vị cấp trên chủ quản giao kế hoạch sản xuất, kế hoạch tài chính và xét duyệt báo cáo quyết toán tài chính hàng năm của các doanh nghiệp Tình hình tài chính của các doanh nghiệp công ích được tổng hợp vào BCTC năm của cấp chủ quản trực tiếp Ngân sách quốc phòng được cấp, sử dụng và quyết toán cho các doanh nghiệp thông qua đơn vị chủ quản của doanh nghiệp đó
Thuế thu nhập doanh nghiệp và các khoản nộp khác như bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, khấu hao cơ bản doanh nghiệp thanh, quyết toán qua cấp trên của mình Trong các sản phẩm quốc phòng theo nhiệm vụ công ích do BQP đặt hàng, có một số sản phẩm thuộc danh mục không chịu thuế giá trị gia tăng do Bộ Tài chính và Bộ Quốc phòng thống nhất quyết định, khối lượng và giá cả các sản phẩm này do Bộ Quốc phòng quyết định
Do đặc thù về loại hình sản xuất đã nêu ở trên, vật tư sản xuất của các doanh nghiệp công ích Quốc phòng được cung ứng từ hai nguồn: Một là, Những vật tư đặc chủng phục vụ cho sản xuất vũ khí, thiết bị quân sự sẽ do cấp trên trực tiếp mua và cấp cho doanh nghiệp nhằm đảm bảo chất lượng và chủng loại; Hai là, Những vật tư thông thường dùng cho sản xuất hàng kinh tế
Trang 19và hàng quốc phòng các doanh nghiệp tự mua trên cơ sở đảm bảo chất lượng
và chủng loại theo yêu cầu
+ Khối các công ty cổ phần: Cơ cấu vốn từ 51% cổ phần do Nhà nước nắm giữ và số còn lại do các cổ đông là do người lao động; nhà đầu tư chiến lược; cổ đông tự do nắm giữ
1.2.3.3.Về hệ thống kiểm soát nội bộ của các doanh nghiệp Quốc phòng
Về Môi trường kiểm soát: Nhìn chung các yếu tố cơ bản để đánh giá
môi trường kiểm soát ở các DNQP đều tốt, thể hiện trên các mặt sau:
Thứ nhất: Các nhà quản lý doanh nghiệp rất quan tâm đến công tác
kiểm tra, kiểm soát đối với các hoạt động của doanh nghiệp và đã thiết lập được chế độ báo cáo định kỳ và đột xuất phục vụ cho công tác quản lý và điều hành doanh nghiệp
Thứ hai: Các doanh nghiệp đã tiến hành xây dựng điều lệ hoạt động khi
thành lập doanh nghiệp Tuy nhiên việc sửa đổi, bổ sung điều lệ cho phù hợp với sự phát triển của doanh nghiệp, với cơ chế quản lý của Nhà nước còn chậm và chưa được quan tâm đúng mức
Thứ ba: Hầu hết các DNQP đều xây dựng được hệ thống quy chế tài
chính, làm cơ sở cho việc điều hành và quản lý tài chính tại doanh nghiệp Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cũng thực hiện triển khai, phổ biến, tuyên truyền đến các phòng, ban, phân xưởng tạo sự công khai, thống nhất và tăng cường sự kiểm tra, giám sát lẫn nhau trong quá trình thực hiện Đồng thời, để triển khai thực hiện nhiệm vụ Quốc phòng và sản xuất kinh doanh, các DNQP
đã tiến hành xây dựng định mức kinh tế - kỹ thuật cho các sản phẩm Các định mức kinh tế kỹ thuật nhìn chung phù hợp với các đặc điểm về trang thiết
bị, quy trình công nghệ, tổ chức sản xuất của mỗi doanh nghiệp
Thứ tư: Cơ cấu tổ chức của các DNQP được xây dựng theo mô hình
kinh tế - quân sự, một mặt bảo đảm quyền và trách nhiệm của giám đốc doanh
Trang 20nghiệp đối với Nhà nước, mặt khác cũng để tăng cường sự kiểm tra, kiểm soát của các tổ chức đảng và tổ chức quần chúng trong đơn vị Nhìn chung cơ cấu
tổ chức doanh nghiệp không phức tạp và tương đối phù hợp
Thứ năm: Các cán bộ quản lý doanh nghiệp đều được đào tạo, rèn luyện
trong môi trường có tính kỷ luật cao, có phẩm chất đạo đức tốt, xác định được trách nhiệm nghề nghiệp đối với sự phát triển của đơn vị
Thứ sáu: Hàng năm, các DNQP đều tiến hành xây dựng kế hoạch sản
xuất kinh doanh - kỹ thuật - tài chính và bảo vệ trước cơ quan chủ quản Công tác lập dự toán ngân sách được thực hiện theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước Nhìn chung, công tác lập kế hoạch đã được quan tâm và thực hiện tương đối tốt
Thứ bảy: Các DNQP chịu sự kiểm soát của các cơ quan chức năng của
Bộ Quốc phòng hay cơ quan chủ quản trực tiếp của doanh nghiệp theo định
kỳ quý, năm Các cơ quan kiểm tra, kiểm soát mang tính thường xuyên (hàng năm) của cấp trên doanh nghiệp như: Thanh tra Quốc phòng, Uỷ ban kiểm tra Đảng các cấp, Hội đồng Giá, Cơ quan kế hoạch, đầu tư
Thanh tra Quốc phòng của tổng cục, quân khu, quân chủng đối với các doanh nghiệp trực thuộc vừa thanh tra thực hiện nhiệm vụ chính trị, quân
sự của các đơn vị, vừa thực hiện thanh tra về công tác tài chính theo yêu cầu
Uỷ ban kiểm tra Đảng các cấp trong các tổng cục, quân khu, quân chủng vừa kiểm tra các tổ chức Đảng và đảng viên theo quy định của Điều
lệ Đảng, vừa kiểm tra việc thực hiện sự lãnh đạo của Đảng uỷ các cấp về công tác tài chính trong đơn vị, thực hiện kiểm tra sâu về tài chính theo yêu cầu
Hội đồng Giá của tổng cục, quân khu, quân chủng thẩm định giá để làm cơ sở cho chỉ huy các cấp quản lý của doanh nghiệp phê duyệt giá thanh toán sản phẩm, dịch vụ chi trả bằng nguồn Ngân sách quốc Phòng (đối với các doanh nghiệp công ích)
Trang 21Cơ quan kế hoạch cấp trên trực tiếp của doanh nghiệp kiểm tra việc lập
và triển khai thực hiện các kế hoạch sản xuất, kế hoạch tài chính
Cơ quan quản lý đầu tư, hướng dẫn việc lập dự án đầu tư, kiểm tra việc triển khai thực hiện các dự án
Như vậy với mỗi khâu, mỗi giai đoạn trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp đều được kiểm tra, kiểm soát từ khi bắt đầu cho tới khi kết thúc Qua đó có thể thấy được mục tiêu của HTKSNB lập nên tại doanh nghiệp đã hướng và chủ động nhằm hạn chế những sai sót trong quá trình thực hiện KTV phải đánh giá sự hiện hữu của HTKSNB và tính hiệu lực của nó trong việc ngăn chặn những sai sót từ đó đánh giá rủi ro kiểm soát và lập KHKT phù hợp với đơn vị được kiểm toán
Về hệ thống kế toán, trong điều kiện các DNQP còn có nhiều hạn chế
về địa bàn hoạt động khó khăn, chế độ đãi ngộ chưa thích hợp nên chưa thu hút được đội ngũ cán bộ kế toán có trình độ và năng lực cao Trình độ cán bộ, nhân viên kế toán được đánh giá ở mức trung bình khá
Về thủ tục kiểm soát, các chức năng, nhiệm vụ quan trọng trong các
doanh nghiệp được phân công, phân nhiệm rõ ràng và được thể hiện trên các quy chế làm việc của doanh nghiệp Trong mối quy chế đều quy định rõ về cơ cấu tổ chức bộ máy; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan trong doanh nghiệp; Trình tự, thủ tục giải quyết các công việc chủ yếu; Mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ; Chế
độ cung cấp thông tin, báo cáo định kỳ và đột xuất…
Trong mỗi quy trình cụ thể, các chức năng, nhiệm vụ được phân công cho những người khác nhau đảm bảo không ai thực hiện từ khâu đầu đến khâu cuối trong cùng một quy trình
Quyền hạn của những người giữ vai trò quan trọng trong doanh nghiệp được quy định rõ ràng và có quy định về chế độ uỷ quyền Điều này thể hiện
Trang 22qua các quy chế làm việc của ban giám đốc Trong mỗi quy chế đều quy định giám đốc doanh nghiệp chịu trách nhiệm toàn diện trước thủ trưởng cấp trên
và đảng uỷ đơn vị về công tác của đơn vị mình theo quy định của Nhà nước
và Bộ Quốc phòng Các phó giám đốc của doanh nghiệp được giám đốc doanh nghiệp phân công điều hành và giải quyết các lĩnh vực cụ thể trong đơn
vị Các phó giám đốc nhiệm chịu trách nhiệm trước giám đốc và đảng uỷ doanh nghiệp về nhiệm vụ được giao
Hầu hết các nghiệp vụ kinh tế được phê chuẩn đúng đắn theo đúng cấp
có thẩm quyền Nhìn chung, các thủ tục kiểm soát được thiết kế tuân thủ các nguyên tắc phân công, phân nhiệm rõ ràng; nguyên tắc bất kiêm nhiệm; nguyên tắc uỷ quyền phê chuẩn
1.2.4 Phân loại các doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng
Thứ nhất: Phân chia theo loại hình doanh nghiệp
Sau khi thực hiện triển khai sắp xếp doanh nghiệp trong quân đội theo các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, tổ chức hoạt động của DNQP gồm: Tập đoàn, tổng công ty và công ty Thực hiện theo quy định của Luật doanh nghiệp
và phương án sắp xếp được Chính phủ phê duyệt, doanh nghiệp trong quân đội
sẽ phải chuyển thành công ty TNHH một thành viên và công ty cổ phần
Thứ hai: Phân chia theo bản chất hoạt động của doanh nghiệp
Theo tiêu chí này DNQP có thể chia làm hai loại doanh nghiệp đó là các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong Quân đội và doanh nghiệp công ích Quốc phòng
Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh: Doanh nghiệp hoạt động kinh
doanh trong Quân đội cũng giống như một doanh nghiệp nhà nước đơn thuần, hoạt động theo Luật DNNN, chịu tác động của các môi trường pháp lý mà pháp luật điều chỉnh Chịu sự cạnh tranh đối với các doanh nghiệp cùng ngành nghề khác theo cơ chế thị trường Hạch toán theo chế độ kế toán doanh
Trang 23nghiệp theo quy định, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ về thuế với nhà nước và
các trách nhiệm pháp lý khác của pháp luật
Doanh nghiệp công ích Quốc phòng: Theo Quyết định
528/2000/QĐ-BQP ngày 12 tháng 4 năm 2000 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về việc công nhận các doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích trong quân đội, doanh nghiệp hoạt động công ích trong quân đội được chia làm 2 loại: DNQP và doanh nghiệp kinh tế quốc phòng Hai loại doanh nghiệp này được phân biệt
như sau:
Doanh nghiệp Quốc phòng là doanh nghiệp trong quân đội sản xuất hoặc sửa chữa vũ khí, khí tài, trang bị chuyên dụng quân sự, có tham gia sản xuất các mặt hàng kinh tế Doanh nghiệp công ích Quốc phòng được xác định trong tổ chức biên chế quân đội
Doanh nghiệp kinh tế Quốc phòng là doanh nghiệp trong quân đội sản xuất kinh doanh các sản phẩm dân dụng hoặc làm dịch vụ phục vụ dân sinh, được giao nhiệm vụ quốc phòng hoặc làm nhiệm vụ quốc phòng trên địa bàn chiến lược (biên giới, hải đảo, vùng biển ) và có tham gia xây dựng địa bàn, phát triển kinh tế xã hội, kết hợp kinh tế với Quốc phòng
Các sản phẩm, dịch vụ công ích, nhiệm vụ Quốc phòng, an ninh do doanh nghiệp công ích Quốc phòng thực hiện theo phương thức đặt hàng hoặc giao kế hoạch bao gồm: sản xuất thuốc nổ phục vụ Quốc phòng; sản xuất hoá chất phục vụ Quốc phòng; sản xuất chất phóng xạ; sản xuất, sửa chữa vũ khí, khí tài, trang thiết bị kỹ thuật cho quốc phòng và thực hiện nhiệm vụ Quốc phòng đặc biệt theo quy định của Thủ tướng Chính phủ
Các doanh nghiệp công ích Quốc phòng hoạt động dưới sự lãnh đạo
tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của đảng uỷ doanh nghiệp, đảng uỷ cấp trên trực tiếp và chịu sự quản lý thống nhất của Bộ Quốc phòng Doanh nghiệp được quản lý theo nguyên tắc tập trung dân chủ, chế độ một người chỉ huy,
Trang 24thực hiện quyền tham gia quản lý của tập thể người lao động trong doanh nghiệp Doanh nghiệp hoạt động theo phương thức hạch toán kinh tế độc lập, đảm bảo nhiệm vụ Quốc phòng và kinh tế của doanh nghiệp, đảm bảo lợi ích của người lao động, của doanh nghiệp và của Nhà nước theo quy định của pháp luật Khác với các doanh nghiệp nhà nước nói chung, các doanh nghiệp công ích Quốc phòng có đặc điểm nổi bật sau:
Một là, Mục tiêu chính trong hoạt động của doanh nghiệp là phục vụ
lợi ích về Quốc phòng, đảm bảo sự ổn định chính trị xã hội trong các giai đoạn phát triển của đất nước
Hai là, Xét về phân cấp ngân sách, doanh nghiệp công ích Quốc
phòng là đơn vị dự toán cấp 3 trực thuộc đơn vị dự toán cấp 2 của Bộ Quốc phòng Vấn đề lợi nhuận không phải là mục tiêu đầu tiên của quá trình sản xuất Mục đích thành lập các doanh nghiệp công ích Quốc phòng là nhằm đáp ứng một cách kịp thời, đầy đủ nhu cầu về an ninh, Quốc phòng Trong trường hợp năng lực sản xuất dư thừa mới được sử dụng để sản xuất kinh doanh thu lợi nhuận Năng lực sản xuất của các doanh nghiệp công ích Quốc phòng được tính toán trên cơ sở vừa có tính trước mắt vừa có tính lâu dài, kể cả trong trường hợp nhu cầu lớn nhất khi có chiến tranh xảy ra
Ba là, Các doanh nghiệp công ích Quốc phòng ít bị chịu tác động trong quá
trình đổi mới của đất nước Biểu hiện trước hết là việc đổi mới cơ chế quản lý của các doanh nghiệp công ích Quốc phòng diễn ra chậm hơn các doanh nghiệp khác,
ít chịu sự cạnh tranh và hiệu quả sử dụng vốn chưa được coi trọng
Có một số điểm khác biệt giữa doanh nghiệp trực thuộc Bộ (đơn vị dự toán cấp 2) và doanh nghiệp công ích Quốc phòng (đơn vị dự toán cấp 3 trực thuộc đơn vị dự toán cấp 2 của Bộ Quốc phòng) Doanh nghiệp trực thuộc Bộ,
cơ quan quản lý trực tiếp là Bộ Quốc phòng, không qua một trung gian quản
lý khác Việc nhận được những đơn đặt hàng hay vấn đề về vay vốn trong
Trang 25kinh doanh sẽ được thuận lợi khi không phải qua cấp trung gian Những vấn
đề vướng mắc liên quan đến doanh nghiệp sẽ được Bộ trực tiếp giải quyết do
đó nhanh có những điều chỉnh phù hợp tạo thời cơ và hiệu quả trong hoạt động của doanh nghiệp Ngược lại đối với những doanh nghiệp là đơn vị dự toán cấp 3 trực thuộc đơn vị dự toán cấp 2 của Bô Quốc phòng, các vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh phải được thông qua đơn vị chủ quản trực tiếp, các vấn đề về vốn kinh doanh sẽ bị hạn chế và qua nhiều thủ tục hơn Thêm vào đó có những vấn đề cần giải quyết, hay những vấn đề liên quan đến
cơ chế hoạt động của doanh nghiệp mà cơ quan chủ quản không có thẩm quyền giải quyết và phải đợi ý kiến của Bộ, điều đó gây khó khăn trong hoạt động của các doanh nghiệp
Thứ ba: phân loại doanh nghiệp theo đặc điểm của hoạt động kinh doanh
Theo tiêu chí này các doanh nghiệp quốc phòng có thể chia thành 3 loại doanh nghiệp là:
+ Doanh nghiệp sản xuất
+ Doanh nghiệp thương mại, dịch vụ
+ Doanh nghiệp xây lắp
1.2.5 Những vấn đề lý luận cơ bản của kiểm toán Báo cáo tài chính các doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng của Kiểm toán nhà nước Chuyên ngành Ia
1.2.5.1.Xây dựng Kế hoạch kiểm toán Báo cáo tài chính các doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng của Kiểm toán nhà nước Chuyên ngành Ia
Khái niệm về kiểm toán của tác giả Alvin A Arens và James K Loebbeck (Mỹ): “Kiểm toán là quá trình mà theo đó một cá nhân độc lập, có thẩm quyền thu thập và đánh giá các bằng chứng về các thông tin số lượng có liên quan đến một tổ chức kinh tế cụ thể nhằm mục đích xác định và báo cáo
Trang 26mức độ phù hợp giữa các thông tin số lượng đó với các chuẩn mực đã được xây dựng” [01,09]
“Kiểm toán là xác minh bày tỏ ý kiến về thực trạng hoạt động được kiểm toán bằng hệ thống phương pháp kỹ thuật của kiểm toán chứng từ và ngoài chứng từ do các kiểm toán viên có trình độ nghiệp vụ tương xứng thực hiện trên cơ sở hệ thống pháp lý có hiệu lực” [13,tr.40]
Theo GS.TS Nguyễn Quang Quynh – Đại học kinh tế quốc dân: “Kiểm toán là xác minh và bày tỏ ý kiến về thực trạng hoạt động được kiểm toán bằng hệ thống phương pháp, kỹ thuật của kiểm toán chứng từ và ngoài chứng
tử do các kiểm toán viên có trình độ nghiệp vụ tương xứng thực hiện trên cơ
sở hệ thống pháp lý có hiệu lực” [08,34]
“Kiểm toán tài chính chủ yếu nhằm mục tiêu xác định xem báo cáo tài chính hoặc các thông tin tài chính của đơn vị được kiểm toán có phù hợp với khuôn khổ quy định về lập và trình bày báo cáo tài chính hiện hành không, qua đó đánh giá, xác nhận tính đúng đắn, trung thực của báo cáo tài chính, thông tin tài chính Ngoài ra, còn có các mục tiêu khác gắn liền với các nội dung kiểm toán như các nội dung kiểm toán sau”.(Chuẩn mục kiểm toán nhà
nước số 200, 2016)
“Báo cáo tài chính doanh nghiệp gồm: Báo cáo tài chính của từng doanh nghiệp lập theo phương pháp giá gốc; báo cáo tài chính tổng hợp của tổng công ty; báo cáo tài chính hợp nhất lập theo phương pháp vốn chủ sở hữu của công ty mẹ - tập đoàn” (Quy trình kiểm toán doanh nghiệp, 2012);
“Một bộ báo cáo tài chính đầy đủ của một đơn vị phải bao gồm các loại báo cáo được lập và trình bày theo quy định hiện hành về báo cáo tài chính, chẳng hạn như: Đối với một doanh nghiệp thì bộ báo cáo tài chính năm thường bao gồm: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ và Bản thuyết minh báo cáo tài chính được lập theo mẫu
Trang 27quy định; đối với một đơn vị hành chính sự nghiệp, bộ báo cáo tài chính thường bao gồm: Bảng cân đối tài khoản, Tổng hợp tình hình kinh phí và quyết toán kinh phí đã sử dụng, Báo cáo chi tiết kinh phí hoạt động, Báo cáo chi tiết kinh phí dự án, Bảng đối chiếu dự toán kinh phí ngân sách tại Kho bạc nhà nước, Bảng đối chiếu tình hình tạm ứng và thanh toán tạm ứng kinh phí ngân sách tại Kho bạc nhà nước, Báo cáo thu - chi hoạt động sự nghiệp và hoạt động sản xuất, kinh doanh, Báo cáo tình hình tăng, giảm tài sản cố định, Báo cáo số kinh phí chưa sử dụng năm trước chuyển sang, Thuyết minh báo cáo tài chính”(Chuẩn mực KTNN số 200, 2016)
1.2.5.2 Mục tiêu của kiểm toán Báo cáo tài chính:
“Mục đích của kiểm toán tài chính là làm tăng độ tin cậy của người sử
dụng các báo cáo tài chính và thông tin tài chính Để đạt được mục đích trên, kiểm toán viên nhà nước phải đưa ra ý kiến về việc liệu báo cáo tài chính, các thông tin tài chính có được lập và trình bày trung thực, hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu, phù hợp với các quy định về lập và trình bày báo cáo tài chính được
áp dụng hay không” (Kiểm toán nhà nước, 2016 Đoạn 10, Chuẩn mực kiểm toán nhà nước số 200, Các nguyên tắc cơ bản trong kiểm toán tài chính)Khi thực hiện kiểm toán tài chính, mục tiêu chung của kiểm toán viên nhà nước là: “Đạt được sự đảm bảo hợp lý rằng, xét trên các khía cạnh trọng yếu, liệu báo cáo tài chính, các thông tin tài chính có còn sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn hay không, báo cáo tài chính có được lập và trình bày phù hợp với khuôn khổ quy định hiện hành về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng hay không” (Kiểm toán nhà nước, 2016 Đoạn 11, Chuẩn mực kiểm toán nhà nước
số 200, Các nguyên tắc cơ bản trong kiểm toán tài chính)
1.2.5.3 Đối tượng của Kiểm toán Báo cáo tài chính
“Một bộ báo cáo tài chính đầy đủ của một đơn vị phải bao gồm các loại báo cáo được lập và trình bày theo quy định hiện hành về báo cáo tài chính
Trang 28Chẳng hạn như: đối với một doanh nghiệp thì bộ báo cáo tài chính năm thường bao gồm: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ và Bản thuyết minh báo cáo tài chính được lập theo mẫu quy định” (Kiểm toán nhà nước, 2016 Đoạn 16, Chuẩn mực Kiểm toán nhà nước số 200, các nguyên tắc cơ bản trong kiểm toán tài chính)
1.2.6 Nội dung thực hiện một cuộc kiểm toán Báo cáo tài chính theo Quy trình kiểm toán Báo cáo tài chính các doanh nghiệp nhà nước của Kiểm toán nhà nước
Trên cơ sở quy định của Luật Kiểm toán nhà nước, Hệ thống chuẩn mực Kiểm toán Nhà nước, Quy trình kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước, các chế độ của Nhà nước và thực tiễn hoạt động kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước trong lĩnh vực kiểm toán doanh nghiệp nhà nước, ngày 06/4/2012, Tổng Kiểm toán Nhà nước đã ký Quyết định số 04/2012/QĐ-KTNN ban hành Quy trình kiểm toán doanh nghiệp thay thế Quyết định số 02/2010/QĐ-KTNN ngày 27/01/2010 của Tổng Kiểm toán Nhà nước ban hành Quy trình kiểm toán doanh nghiệp Để đảm bảo tính hiệu quả, tính kinh tế và tính hiệu lực của từng cuộc kiểm toán cũng như để thu thập bằng chứng kiểm toán đầy đủ và có giá trị làm căn cứ cho kết luận của KTV về tính trung thực và hợp lý của số liệu trên BCTC, cuộc kiểm toán thường được tiến hành theo quy trình gồm 3 giai đoạn: Chuẩn bị kiểm toán, thực hiện kiểm toán, lập và gửi Báo cáo kiểm toán, Đối với KTNN, ngoài ba giai đoạn này còn giai đoạn thứ tư là kiểm tra việc thực hiện các kết luận, kiến nghị kiểm toán
1.2.6.1 Giai đoạn chuẩn bị kiểm toán
Thu thập thông tin về các nghĩa vụ pháp lý của khách thể kiểm toán:
Bên cạnh việc thu thập thông tin cơ sở về khách thể kiểm toán giúp KTV hiểu được các mặt hoạt động kinh doanh của khách thể, KTV còn thu thập các
Trang 29thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách thể giúp KTV nắm bắt được các quy
trình mang tính pháp lý có ảnh hưởng đến các mặt hoạt động kinh doanh này
Thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách thể kiểm toán bao gồm:
Một là, giấy phép thành lập và điều lệ Công ty: Việc thu thập các thông
tin này sẽ giúp KTV hiểu được quá trình hình thành, mục tiêu hoạt động và các lĩnh vực kinh doanh hợp pháp của đơn vị cũng như nắm bắt được những vấn đề mang tính nội bộ của đơn vị như cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ của các phòng ban, quy mô vốn điều lệ… Đối với các đơn vị dự toán thuộc nhà nước, KTV thu thập các thông tin liên quan đến quyết định thành lập, nhiệm vụ và quyền hạn cũng như cơ cấu tổ chức của đơn vị đó
Hai là, các BCTC, BCKT, thanh tra hay kiểm tra của năm hiện hành
hay trong vài năm trước: Các BCTC cung cấp dữ liệu về tình hình tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh của đơn vị, giúp KTV nhận thức được tổng quát
về các vấn đề phát sinh và dựa trên cơ sở đó, áp dụng các kỹ thuật phân tích các báo cáo này để nhận thức được xu hướng phát triển của đơn vị được kiểm toán Ngoài ra, việc xem xét các BCTC, các biên bản thanh tra, kiểm tra sẽ giúp KTV nhận thức rõ hơn về thực trạng hoạt động của đơn vị đơn vị được kiểm toán và dự kiến phương hướng kiểm tra
Ba là, biên bản các cuộc họp cổ đông, Hội đồng quản trị và Ban giám
đốc: đây là những tài liệu chính thức tóm lược về những vấn đề quan trọng nhất đã được thảo luận và quyết định chính thức trong các cuộc họp đó Các biên bản này chứa đựng nhiều thông tin quan trọng liên quan đến hoạt động kinh doanh của đơn vị được kiểm toán Qua việc nghiên cứu các biên bản này, KTV sẽ xác định được những dữ kiện có ảnh hưởng quan trọng đến việc hình thành và trình bày trung thực các thông tin trên BCTC
Bốn là, các hợp đồng và cam kết quan trọng: hợp đồng mua bán hàng…
là mối quan tâm hàng đầu ở các bộ phận cá biệt của cuộc kiểm toán và đặc
Trang 30biệt là trong suốt các giai đoạn khác nhau của cuộc khảo sát chi tiết KTV sẽ nắm bắt được sơ bộ các hợp đồng đó sẽ giúp KTV tiếp cận với các hoạt động chính của đơn vị được kiểm toán, hình dung những khía cạnh pháp lý có ảnh hưởng đến tình hình tài chính và kết quả hoạt động của khách thể kiểm toán
Tìm hiểu kiểm soát nội bộ và đánh giá rủi ro kiểm soát: KTV cần thu
thập các thông tin liên quan đến KSNB của khách thể kiểm toán để trả lời cho
2 câu hỏi: Thứ nhất là KSNB của đơn vị có tồn tại và thứ hai là KSNB của đơn vị có hoạt động có hiệu quả hay không Việc trả lời câu hỏi KSNB có tồn tại hay không và hiệu quả hoạt động của hệ thống này ngoài việc giúp KTV nhận định về khả năng thực hiện kiểm toán còn giúp KTV đánh giá được rủi
ro kiểm soát để từ đó xây dựng phương pháp kiểm toán cho thích hợp, giảm thiểu rủi ro kiểm toán
Rủi ro kiểm soát (Control Risk - CR) là rủi ro xảy ra sai sót trọng yếu trong từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong BCTC khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp mà hệ thống kế toán và KSNB không ngăn ngừa hết hoặc không phát hiện và sửa chữa kịp thời Đánh giá rủi ro kiểm soát là quá trình đánh giá tính hiệu quả của KSNB đối với việc phát hiện và ngăn chặn các gian lận và sai sót quan trọng trong BCTC
KTV đánh giá rủi ro kiểm soát ở mức độ cao khi: các thủ tục và biện pháp kiểm soát của đơn vị đối với một hay tất cả cơ sở dữ liệu không có tác dụng; KTV không có đầy đủ cơ sở đánh giá tác dụng của các thủ tục và biện pháp kiểm soát của đơn vị Ngược lại, KTV đánh giá rủi ro kiểm soát thấp khi: xác định được các biện pháp kiểm soát của đơn vị liên quan đến cơ sở dữ liệu là có tác dụng phát hiện và ngăn chặn được gian lận và sai sót; có điều kiện và kế hoạch tiến hành thử nghiệm để khẳng định đánh giá về hệ thống kiểm soát
Trang 31Nếu rủi ro kiểm soát được đánh giá ở mức độ cao thì trong việc xây dựng KHKT, KTV có thể bỏ qua không thực hiện các thử nghiệm kiểm soát
mà tăng cường các thử nghiệm cơ bản để thực hiện Nếu rủi ro kiểm soát được đánh giá ở mức độ thấp, thì việc tăng cường thực hiện thử nghiệm kiểm soát là một điều cần thiết, giảm thiểu thực hiện các thử nghiệm cơ bản để giảm thời gian và công sức
Thực hiện thủ tục phân tích: Thủ tục phân tích là việc phân tích các số
liệu, thông tin, các tỷ suất quan trọng, qua đó tìm ra những xu hướng biến động và tìm ra những mối quan hệ có mâu thuẫn với các thông tin liên quan khác hoặc có sự chênh lệch lớn so với giá trị đã dự kiến Sử dụng thủ tục phân
tích trong giai đoạn lập KHKT nhằm vào các mục tiêu sau:
Một là, thu thập hiểu biết về nội dung các BCTC và những biến động
quan trọng về kế toán và hoạt động kinh doanh của đơn vị được kiểm toán vừa mới diễn ra kể từ lần kiểm toán trước
Hai là, tăng cường sự hiểu biết của KTV về hoạt động kinh doanh của
đơn vị được kiểm toán và giúp KTV các định các vấn đề nghi vấn về khả năng hoạt động liên tục của đơn vị
Như vậy, qua việc thực hiện thủ tục phân tích ở khâu lập KHKT giúp KTV xác định nội dung cơ bản của cuộc kiểm toán BCTC Quy trình phân tích bao gồm việc so sánh các thông tin tài chính, như: So sánh thông tin tương ứng trong kỳ này với các kỳ trước; So sánh giữa thực tế với kế hoạch của khách thể (Ví dụ: Kế hoạch sản xuất, kế hoạch bán hàng ); So sánh giữa thực tế với ước tính của KTV (Ví dụ: Chi phí khấu hao ước tính ); So sánh giữa thực tế của khách thể với các đơn vị trong cùng ngành có cùng quy mô hoạt động, hoặc với số liệu thống kê, định mức cùng ngành (Ví dụ: Tỷ suất đầu tư, tỷ lệ lãi gộp )
Trang 32Quy trình phân tích cũng bao gồm việc xem xét các mối quan hệ: Giữa các thông tin tài chính với nhau (Ví dụ: Mối quan hệ giữa lãi gộp với doanh thu ); hoặc giữa các thông tin tài chính với các thông tin phi tài chính (Ví dụ: Mối quan hệ giữa chi phí nhân công với số lượng nhân viên )
Đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán
Một là, đánh giá trọng yếu, trọng yếu là khái niệm về tầm cỡ (hay quy
mô) và bản chất của các sai phạm (kể cả bỏ sót) của các thông tin tài chính hoặc đơn lẻ, hoặc là từng nhóm mà trong bối cảnh cụ thể nếu dựa vào thông tin này để xét đoán thì không thể chính xác hoặc là sẽ rút ra những kết luận
sai lầm BCTC khi được kiểm toán, KTV sẽ chú trọng trên các khía cạnh
trọng yếu, đó là những thông tin nếu trình bày sai sẽ ảnh hưởng đến các kết
luận về BCTC, ảnh hưởng đến nhiều khoản mục khác Trọng yếu được xem
xét trên cả hai khía cạnh định tính và định lượng Khía cạnh định tính đó là thông tin phản ánh sai trên một khoản mục sẽ ảnh hưởng đến các thông tin của các khoản mục khác có liên quan, chính điều đó sẽ làm ảnh hưởng lên toàn bộ báo cáo tài chính Điều này có thể khiến người sử dụng BCTC đưa ra các quyết định sai lầm Khía cạnh thứ hai là định lượng, nếu các khoản mục
có các sai phạm vượt qua con số này thì khoản mục đó đã phản ánh các thông
tin không chính xác, có nghĩa BCTC sai phạm xét trên khía cạnh trọng yếu
Khi đánh giá trọng yếu, KTV phải thực hiện các bước sau:
Bước một: ước tính ban đầu về trọng yếu, mức ước lượng ban đầu trọng
yếu là mức mà các BCTC có thể bị sai nhưng vẫn chưa ảnh hưởng tới các quyết định của người sử dụng Mức ước lượng ban đầu không cố định mà có thể thay đổi trong suốt cuộc kiểm toán Các hãng kiểm toán thường có đường lối chỉ chỉ đạo KTV xác định mức trọng yếu Khi xây dựng mức ước lượng ban đầu về, KTV cần lưu ý những yếu tố ảnh hưởng như sau:
Trang 33Trọng yếu là một khái niệm tương đối hơn là một số lượng tuyệt đối, gắn liền với quy mô của khách thể kiểm toán: Tính trọng yếu là khái niệm tương đối gắn liền với quy mô của đơn vị được kiểm toán, một sai phạm có thể là trọng yếu với một công ty nhỏ nhưng không trọng yếu với công ty lớn Yếu tố định lượng của trọng yếu: quy mô sai sót là yếu tố quan trọng xem xét liệu có sai sót trọng yếu hay không Tuy nhiên do trọng yếu mang tính chất tương đối nên việc có được các cơ sở để quyết định xem một quy mô của một sai phạm nào có trọng yếu hay không là một điều cần thiết Yếu tố định tính của trọng yếu là bản chất sai sót: một gian lận luôn coi là trọng yếu mà không cần xét tới quy mô, các sai sót nhỏ nhưng có tính chất hệ thống hay các sai sót ảnh hưởng đến thu nhập luôn coi là ảnh hưởng trọng yếu (định tính)
Bước hai: phân bổ ước lượng ban đầu về trọng yếu cho các khoản mục
trên BCTC
Sau khi có ước lượng ban đầu về tính trọng yếu, KTV cần phân bổ mức ước lượng này cho từng khoản mục trên BCTC Đó chính là sai số có thể chấp nhận được đối với từng khoản mục
Mục đích của phân bổ ước lượng ban đầu về tính trọng yếu cho các khoản mục là nhằm xác định số lượng bằng chứng kiểm toán thích hợp phải thu thập cho từng khoản mục với chi phí thấp nhất có thể
Khi phân bổ mức trọng yếu, KTV thường dựa vào bản chất khoản mục, chi phí kiểm toán, kinh nghiệm của KTV, đánh giá rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát để tiến hành phân bổ
Hai là, đánh giá rủi ro kiểm toán
Rủi ro kiểm toán là những rủi ro mà KTV có thể mắc phải khi đưa ra những nhận xét không xác đáng về các thông tin tài chính và đó là các sai sót nghiêm trọng Trong kiểm toán có ba loại rủi ro ảnh hưởng trực tiếp đến rủi ro kiểm toán đó là: rủi ro kiểm soát; rủi ro tiềm tàng và rủi ro phát
Trang 34hiện Vì vậy khi lập KHKT cụ thể, KTV phải dự kiến các trường hợp rủi ro
và những thủ pháp, trình tự nhằm phát hiện những sai phạm trọng yếu trong BCTC có nguồn gốc từ gian lận và sai sót Mức độ rủi ro kiểm toán cao hay thấp quyết định khối lượng công việc kiểm toán phải tiến hành, vì vậy cần phân loại, xem xét các mối quan hệ tác động giữa các rủi ro đến khối lượng công việc kiểm toán cần tiến hành cũng như đến trình tự, thủ pháp kiểm toán thích hợp
Khi đánh giá về rủi ro kiểm toán, KTV tiến hành đánh giá theo từng loại rủi ro như sau:
Trước hết, đánh giá rủi ro tiềm tàng
Rủi ro tiềm tàng là rủi ro tiềm ẩn, vốn có do khả năng từng nghiệp vụ, từng khoản mục trên BCTC chứa đựng sai sót trọng yếu khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp, mặc dù có hay không có hệ thống kiểm soát nội bộ
Việc phân tích, đánh giá rủi ro tiềm tàng có ý nghĩa rất quan trọng lập KHKT và thường bắt đầu với việc kiểm điểm xem KTV biết gì về công việc và bản chất kinh doanh cũng như hiểu biết ngành nghề của đơn vị Nếu KTV không
lý giải được những vấn đề thực của bản chất kinh doanh của đơn vị được kiểm toán thì sẽ không nhận biết và xác định được khu vực rủi ro quan trọng Rủi ro được xem xét từ tổng thể đến đơn vị chi tiết theo trình tự từ đỉnh đến đáy Thực hiện phân tích, đánh giá rủi ro tiềm tàng qua thu thập và chứng từ hóa các thông tin sau: bản chất kinh doanh của khách thể kiểm toán; các nhân tố ảnh hưởng đến ngành nghề mà đơn vị đang hoạt động; bản chất của các bộ phận, khoản mục đã được kiểm toán; bản chất hệ thống kế toán và thông tin trong đơn vị (mức độ điện toán hóa, phương pháp kế toán đang áp dụng)
Rủi ro kiểm soát được xác định qua việc đánh giá KSNB KSNB của đơn vị được xác định trên 2 yếu tố là sự hiện diện và tính hữu hiệu KSNB nếu được xây dựng đủ các yếu tố đã góp phần giảm bớt một phần rủi ro kiểm
Trang 35soát và khi hệ thống này hoạt động có hiệu lực thì rủi ro kiểm soát càng giảm đến mức thấp hơn nữa Qua nhận định đó, KTV có thể đánh giá được một phần các thông tin được phản ánh trên các BCTC
Rủi ro phát hiện là rủi ro xảy ra sai sót trọng yếu trong từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong BCTC khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp mà trong quá trình kiểm toán, KTV và công ty kiểm toán không phát hiện được Rủi ro phát hiện có quan hệ trực tiếp đến phạm vi kiểm toán và các phương pháp kiểm toán đã thực thi trong quá trình kiểm toán Phạm vi kiểm toán càng rộng thì các phương pháp kiểm toán càng thích hợp và chặt chẽ, công việc kiểm toán càng được tuân thủ vào chuẩn mực và nguyên tắc kiểm toán, tuy nhiên mức
độ rủi ro phát hiện vẫn có thể cao do KTV lựa chọn và áp dụng phương pháp kiểm toán không phù hợp, giải thích sai kết quả kiểm toán
Khi xác định được rủi ro kiểm toán của cuộc kiểm toán, từ những thông tin ban đầu thu thập được, KTV xác định rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát
để từ đó xác định mức độ rủi ro phát hiện có thể chấp nhận Khi đó, KTV sẽ định hướng được công việc cần làm để giảm thiểu rủi ro kiểm toán ở mức chấp nhận được Khi lập KHKT, xác định được điều này sẽ giúp KTV bám sát kế hoạch và thực hiện các bước công việc cần thiết
Thiết kế chương trình kiểm toán
Để lập KHKT chi tiết trước hết cần tiến hành xem xét các vấn đề liên quan đến việc lập kế hoạch chi tiết cho các bộ phận được kiểm toán theo trình
tự từ đỉnh đến đáy KTV cần thu thập thêm thông tin cần thiết cho các bộ phận được kiểm toán, từ đó xem xét các quyết định về việc lập kế hoạch có thích đáng hay không Khi cần thiết, KTV có thể tham khảo ý kiến của những người có thẩm quyền của khách thể kiểm toán Trong KHKT, cần xác định được cụ thể mục tiêu của bộ phận được kiểm toán, phạm vi và thời gian cũng
Trang 36như nhân lực, vật lực để đảm bảo cho cuộc kiểm toán được thực hiện đúng tiến độ
KTV cần soạn thảo chương trình kiểm toán cụ thể cho từng phần hành kiểm toán hướng tới ba mục tiêu: thứ nhất là sắp xếp một cách có kế hoạch các công việc và nhân lực, đảm bảo sự phối hợp giữa các KTV cũng như hướng dẫn cho các KTV chưa có nhiều kinh nghiệm vì theo chương trình kiểm toán, các KTV sẽ nắm được các thủ tục kiểm toán cụ thể được thực hiện; thứ hai, đây là phương tiện để tổ trưởng Tổ kiểm toán quản lý, giảm sát tiến độ và kết quả công việc của các KTV; thứ ba là bằng chứng để chứng minh các thủ tục kiểm toán đã được thực hiện Khi xây dựng chương trình kiểm toán, KTV phải xem xét các đánh giá về rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát, cũng như mức độ đảm bảo phải đạt được thông qua thử nghiệm cơ bản Chương trình kiểm toán cũng có thể bao gồm mục đích kiểm toán của từng bộ phận, các bước công việc chi tiết cần thực hiện, các thủ pháp kiểm toán thích hợp sẽ áp dụng, sự phối hợp các trợ lý một cách hữu hiệu để thực thi công việc đạt chất lượng cao “Trên cơ sở khảo sát thu thập và đánh giá thông tin
về hệ thống kiểm soát nội bộ, thông tin về tài chính và các thông tin khác của doanh nghiệp để lập kế hoạch kiểm toán ”(Kiểm toán nhà nước, 2012)
Phê duyệt Kế hoạch kiểm toán: Là khâu cuối cùng của giai đoạn chuẩn
bị kiểm toán “Trình tự các bước tiến hành việc phê duyệt kế hoạch kiểm toán được thực hiện theo hướng dẫn tại Quy trình lập, xét duyệt và ban hành Kế hoạch kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước và các quy định hiện hành của
Kiểm toán Nhà nước” (Kiểm toán nhà nước, 2012)
1.2.6.2 Giai đoạn thực hiện kiểm toán:
Nghiên cứu, đánh giá các thông tin về đơn vị
Thực hiện thu thập thông tin, xử lý thông tin: Trước hết, KTV phân tích
và đánh giá về loại hình và lĩnh vực hoạt động của đơn vị được kiểm toán để
Trang 37bước đầu có những nhận định về những nội dung kiểm toán cần lưu ý Đặc điểm lĩnh vực hoạt động của đơn vị sẽ ảnh hưởng lớn đến nội dung KHKT, trọng tâm kiểm toán và xây dựng các bước công việc mà KTV cần thực hiện
để đạt được mục tiêu kiểm toán Tổ trưởng Tổ kiểm toán sẽ đánh giá việc tuân thủ việc lập BCTC của đơn vị có đúng yêu cầu về lập BCTC đã được quy định hay không Việc lập BCTC đúng quy định sẽ bước đầu giúp Tổ trưởng
Tổ kiểm toán đưa ra được nhận định về hoạt động của đơn vị Đối với doanh nghiệp là việc sử dụng vốn có hiệu quả, hoạt động có đạt doanh thu cao, kiểm soát tốt chi phí và đảm bảo thu nhập cho người lao động; đối với các đơn vị
dự toán là việc sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước có đúng mục đích
và đạt hiệu quả
Tiếp sau đó, KTV thực hiện phân tích, đánh giá nhằm phát hiện những điểm yếu cơ bản của KSNB để xác định rủi ro kiểm soát, như: Đánh giá tính hiệu lực, hiệu quả và độ tin cậy của KSNB; Đánh giá mức độ tin cậy, tính hợp pháp và hợp lệ các thông tin đã thu thập được; Đánh giá tổng quát về tình hình tài chính và hoạt động của đơn vị được kiểm toán
Ngoài ra, KTV tiến hành phân tích ngang và phân tích dọc đối với các chỉ tiêu tài chính phản ánh qua các số liệu trên BCTC mà đơn vị kiểm toán cung cấp Khi tiến hành phân tích sơ bộ mối liên quan giữa các chỉ tiêu tài chính với nhau sẽ giúp KTV nhận thấy được những chỉ tiêu bất thường hoặc các nội dung có tồn tại rủi ro xảy ra sai sót
Lập và xét duyệt kế hoạch kiểm toán chi tiết
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ, các thông tin tài chính và các thông tin có liên quan, xác định được các trọng yếu kiểm toán, đánh giá mức độ rủi ro; căn cứ vào kế hoạch kiểm toán tổng thể của Đoàn kiểm toán, Tổ trưởng xây dựng kế hoạch kiểm toán chi tiết theo Chuẩn mực số 07 - Lập kế hoạch kiểm toán trong Hệ thống Chuẩn mực Kiểm
Trang 38toán Nhà nước ban hành kèm theo Quyết định số 06/2010/QĐ-KTNN ngày 09/11/2010 của Tổng Kiểm toán Nhà nước Nội dung và các chỉ tiêu của Kế hoạch kiểm toán chi tiết thực hiện theo mẫu Kế hoạch kiểm toán chi tiết trong
Hệ thống mẫu biểu, hồ sơ kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước
Xét duyệt kế hoạch kiểm toán chi tiết:
Tổ trưởng trình Trưởng đoàn xem xét, phê duyệt kế hoạch kiểm toán chi tiết Trưởng đoàn căn cứ vào Kế hoạch kiểm toán của cuộc kiểm toán, các thông tin thu thập được về đơn vị được kiểm toán để kiểm tra; yêu cầu Tổ trưởng bổ sung, sửa đổi, hoàn chỉnh và phê duyệt Kế hoạch kiểm toán chi tiết
Kế hoạch kiểm toán chi tiết có thể được xem xét, điều chỉnh trong các trường hợp xét thấy cần thiết; việc điều chỉnh kế hoạch kiểm toán chi tiết do Tổ trưởng đề nghị với Trưởng đoàn bằng văn bản và chỉ được thực hiện khi đã được Trưởng đoàn phê duyệt
Kiểm toán báo cáo tài chính
Kiểm toán số dư đầu năm: Được thực hiện trên cơ sở hướng dẫn tại Chuẩn mực số 17 - Kiểm toán số dư đầu kỳ trong Hệ thống Chuẩn mực Kiểm toán Nhà nước ban hành kèm theo Quyết định số 06/2010/QĐ-KTNN ngày 09/11/2010 của Tổng Kiểm toán Nhà nước
Các nội dung cơ bản của kiểm toán số dư đầu kỳ như sau: Kiểm toán việc chuyển các số dư cuối kỳ của niên độ trước sang số dư đầu kỳ của niên độ kiểm toán; Kiểm toán đánh giá sự phù hợp trong áp dụng chính sách kế toán giữa hai
kỳ kế toán; Các giao dịch của năm trước ảnh hưởng đến năm nay, đặc biệt chú ý giao dịch cuối niên độ trước có tác động trọng yếu đến thông tin báo cáo tài chính niên độ kiểm toán; Kiểm toán đối với các khoản mục trên báo cáo tài chính Thủ tục kiểm toán các khoản mục chủ yếu trên báo cáo tài chính doanh nghiệp thực hiện (Quy trình kiểm toán doanh nghiệp, 2012)
Kiểm toán tính tuân thủ các quy định pháp luật và các quy định khác
Trang 39Kiểm toán tính tuân thủ các quy định của pháp luật: Sau khi thực hiện các thủ tục kiểm toán cơ bản (phân tích, kiểm soát chi tiết ), kiểm toán viên cần xem xét quy định pháp lý và các quy chế, quy định nội bộ để đánh giá tính tuân thủ trong việc chấp hành pháp luật, nội quy quy chế của đơn vị được kiểm toán Kiểm toán tính tuân thủ gồm 3 nội dung:
+ Tuân thủ luật pháp nói chung;
+ Tuân thủ các quy định cụ thể liên quan đến ngành nghề SXKD của đơn vị được kiểm toán;
+ Tuân thủ các quy chế, quy định nội bộ
Các thủ tục kiểm toán có thể áp dụng:
+ Đối chiếu, xác minh để làm rõ:
+ Môi trường pháp lý mà doanh nghiệp đang hoạt động;
+ Các biện pháp ban lãnh đạo sử dụng để đảm bảo không có các vi phạm; + Các hoạt động nghiệp vụ, giao dịch của đơn vị có đảm bảo tuân thủ các quy định pháp luật và các quy định khác có liên quan
Đánh giá (kiểm tra)
+ Lập danh sách các tài liệu, hồ sơ kiểm tra;
+ Kiểm tra các hồ sơ, tài liệu về các hoạt động, giao dịch của đơn vị; + Các thủ tục khác
Kiểm toán đánh giá tính kinh tế, hiệu quả, hiệu lực của doanh nghiệp
Cơ sở xác định mục tiêu, nội dung, phương pháp, tiêu chí kiểm toán đánh giá tính kinh tế, hiệu quả và hiệu lực hoạt động của doanh nghiệp khi lập
kế hoạch kiểm toán:
Cơ sở xác định: Mục tiêu, nội dung kiểm toán chủ yếu hàng năm của Kiểm toán Nhà nước;
Yêu cầu: Nội dung, mục tiêu phương pháp, tiêu chí kiểm toán đánh giá tính kinh tế, hiệu quả và hiệu lực hoạt động của doanh nghiệp được xác định khi xây dựng kế hoạch kiểm toán tổng quát cho từng cuộc kiểm toán (kế
Trang 40hoạch riêng hoặc lồng ghép với kế hoạch kiểm toán BCTC, kiểm toán chuyên
đề tùy thuộc vào yêu cầu từng cuộc kiểm toán) và gắn với thực tế hoạt động của doanh nghiệp nhưng phải đảm bảo phù hợp với mục tiêu, nội dung, phương pháp, tiêu chí kiểm toán chung theo định hướng của Kiểm toán Nhà nước và kế hoạch kiểm toán tổng quát
Tiêu chí kiểm toán đánh giá tính kinh tế, hiệu quả và hiệu lực của từng cuộc kiểm toán cần được xác định cụ thể, nhằm gắn với mục tiêu, nội dung đã xác định, đồng thời đảm bảo yếu tố phù hợp với thực tiễn hoạt động của đối tượng được kiểm toán;
Khi xác định tiêu chí phải đảm bảo các yêu cầu về tính khoa học, phù hợp với quy định của Nhà nước đối với doanh nghiệp, phù hợp với thông lệ được thừa nhận để đánh giá, kết luận kiểm toán thuyết phục, gắn với thực tế, hợp lý và có tính khả thi
Đánh giá hiệu quả trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao
Tổng sản lượng sản xuất , giá trị sản xuất…Kiểm toán viên so sánh các chỉ tiêu trên thời kỳ trước và sau khi thực hiện đề án tái cơ cấu ; Đánh giá hiê ̣u quả trong viê ̣c thực hiê ̣n vai trò đi ̣nh hướng , điều tiết nền kinh tế và ổn đi ̣nh kinh tế vĩ mô : Kiểm toán viên căn cứ trên các báo tổng kết , báo cáo quản trị…của đơn vị để phân tích , đánh giá; So sánh, đánh giá về khả năng ca ̣nh tranh của đơn vi ̣ trước và sau khi thực hiê ̣n đề án qua chỉ tiêu thi ̣ phần sản phẩm của đơn vi ̣ (bao gồm thi ̣ phần nô ̣i bô ̣ và thi ̣ phần cung cấp ra ngoài ); Đánh giá tính minh ba ̣ch của các thông tin trên BCTC của doanh nghiê ̣p trước
và sau khi thực hiện tái cơ cấu ; Đánh giá tính hiê ̣u lực của đề án : Kiểm toán viên căn cứ các mu ̣c tiêu của đề án và tình hình thực tế mà doanh nghiê ̣p đã
đa ̣t được để phân tích, đánh gía
Ghi chép giấy tờ làm việc và lập biên bản xác nhận bằng chứng kiểm toán