1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quản lý nhà nước về quy hoạch và phát triển đô thị tại thành phố cẩm phả, tỉnh quảng ninh

124 67 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 1,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Trong quá trình thực hiện đề tài: “Quản lý Nhà nước về quy hoạch và phát triển đô thị tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh”, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ, độn

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

PHẠM THỊ CHUNG ANH

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ QUY HOẠCH VÀ

PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ TẠI THÀNH PHỐ CẨM PHẢ,

TỈNH QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

Ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

PHẠM THỊ CHUNG ANH

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ QUY HOẠCH VÀ

PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ TẠI THÀNH PHỐ CẨM PHẢ,

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn được thực hiện nghiêm túc, trung thực là kết quả nghiên cứu của riêng tôi

Các trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, ngày 21 tháng 02 năm 2019

Tác giả luận văn

Phạm Thị Chung Anh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài: “Quản lý Nhà nước về quy hoạch và phát triển đô thị tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh”, tôi đã nhận được sự hướng

dẫn, giúp đỡ, động viên của nhiều cá nhân và tập thể Tôi xin được bày tỏ sự cảm

ơn sâu sắc nhất tới tất cả các cá nhân và tập thể đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong học tập và nghiên cứu

Tôi xin chân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu Nhà trường, Phòng Đào tạo - Bộ phận Sau Đại học, các khoa, phòng của Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi về mọi mặt trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này

Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ, đóng góp nhiều ý kiến quý báu của các nhà khoa học, các thầy, cô giáo trong Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh - Đại học Thái Nguyên

Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của giáo viên hướng dẫn PGS.TS Đỗ Thị Bắc

Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi còn được sự giúp đỡ và cộng tác của các đồng chí tại địa điểm nghiên cứu, tôi xin chân thành cảm ơn

Tôi xin cảm ơn sự động viên, giúp đỡ của bạn bè và gia đình đã giúp tôi thực hiện luận văn này

Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc đối với mọi sự giúp đỡ quý báu đó

Thái Nguyên, ngày 21 tháng 02 năm 2019

Tác giả luận văn

Phạm Thị Chung Anh

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu 3

5 Kết cấu của luận văn 3

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ QUY HOẠCH VÀ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ 4

1.1 Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về quy hoạch và phát triển đô thị 4

1.1.1 Khái niệm đô thị 4

1.1.2 Quản lý nhà nước về quy hoạch và phát triển đô thị 8

1.1.3 Nội dung quản lý nhà nước về quy hoạch và phát triển đô thị 12

1.1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về quy hoạch và phát triển đô thị 16

1.2 Kinh nghiệm quản lý Nhà nước về quy hoạch và phát triển đô thị của một số thành phố trong nước và trên thế giới 21

1.2.1 Kinh nghiệm quản lý Nhà nước về quy hoạch và phát triển đô thị của một số thành phố ở một số nước trên thế giới 21

1.2.2 Kinh nghiệm quản lý Nhà nước về quy hoạch và phát triển đô thị của một số thành phố trong nước 24

1.2.3 Bài học kinh nghiệm rút ra về quản lý nhà nước về quy hoạch và phát triển đô thị cho thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh 29

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31

2.1 Câu hỏi nghiên cứu 31

2.2 Phương pháp nghiên cứu 31

2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 31

Trang 6

2.2.2 Phương pháp tổng hợp và phân tích thông tin 34

2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 35

2.3.1 Các chỉ tiêu đánh giá phát triển kinh tế xã hội thành phố Cẩm Phả 35

2.3.2 Các chỉ tiêu quản lý nhà nước về quy hoạch và phát triển đô thị tại thành phố Cẩm Phả 35

Chương 3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ QUY HOẠCH VÀ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ TẠI THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH 37

3.1 Khái quát thành phố Cẩm Phả 37

3.1.1 Điều kiện tự nhiên thành phố Cẩm Phả 37

3.1.2 Điều kiện kinh tế thành phố Cẩm Phả 40

3.1.3 Điều kiện xã hội thành phố Cẩm Phả 43

3.2 Thực trạng quản lý nhà nước về quy hoạch và phát triển đô thị tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh 48

3.2.1 Lập kế hoạch quản lý nhà nước về quy hoạch và phát triển đô thị tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh 49

3.2.2 Thực hiện quản lý nhà nước về quy hoạch và phát triển đô thị tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh 52

3.2.3 Kiểm tra, thanh tra quản lý nhà nước về quy hoạch và phát triển đô thị tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh 66

3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về quy hoạch và phát triển đô thị tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh 71

3.3.1 Yếu tố chủ quan 71

3.3.2 Nhân tố khách quan 74

3.4 Đánh giá chung quản lý nhà nước về quy hoạch và phát triển đô thị tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh 76

3.4.1 Kết quả đạt được 76

3.4.2 Những hạn chế và nguyên nhân 78

Chương 4 GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ QUY HOẠCH VÀ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ TẠI THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH 81

4.1 Quan điểm, phương hướng và mục tiêu quản lý nhà nước về quy hoạch và phát triển đô thị tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh 81

Trang 7

4.1.1 Quan điểm, phương hướng quản lý Nhà nước về quy hoạch và phát

triển đô thị tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh 81

4.1.2 Mục tiêu quản lý Nhà nước về quy hoạch và phát triển đô thị tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh 82

4.2 Giải pháp quản lý nhà nước về quy hoạch và phát triển đô thị tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh 83

4.2.1 Hoàn thiện quản lý nhà nước về quy hoạch xây dựng và kiến trúc đô thị 83

4.2.2 Hoàn thiện quản lý nhà nước về nhà ở, đất đai tại đô thị thành phố Cẩm Phả 87

4.2.3 Hoàn thiện quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật quy hoạch và phát triển đô thị thành phố Cẩm Phả 89

4.2.4 Hoàn thiện quản lý nhà nước về bảo vệ cảnh quan, môi trường quy hoạch đô thị thành phố Cẩm Phả 93

4.2.5 Hoàn thiện quản lý nhà nước về công tác kiểm tra, thanh tra quy hoạch và phát triển đô thị 98

4.2.6 Các giải pháp khác 98

4.3 Kiến nghị 101

4.3.1 Đối với Nhà nước 101

4.3.2 Đối với Sở ban ngành tỉnh Quảng Ninh 101

4.3.3 Đối với UBND tỉnh Quảng Ninh 102

KẾT LUẬN 104

TÀI LIỆU THAM KHẢO 107

PHỤ LỤC 109

Trang 8

SX KD : Sản xuất - kinh doanh

QLNN : Quản lý Nhà nước TDTT : Thể dục thể thao TNHH : Trách nhiệm hữu hạn UBND : Ủy ban nhân dân VLXD : Vật liệu xây dựng XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Bảng thống kê mẫu nghiên cứu 33

Bảng 2.2 Mức ý nghĩa của điểm bình quân 33

Bảng 3.1 Tình hình thu ngân sách thành phố Cẩm Phả giai đoạn 2015-2017 40

Bảng 3.2 Giá trị sản xuất các ngành kinh tế TP Cẩm Phả giai đoạn 2015-2017 42

Bảng 3.3 Cơ cấu giá trị sản xuất các ngành kinh tế TP Cẩm Phả giai đoạn 2015 - 2017 43

Bảng 3.4 Lao động thành phố Cẩm Phả năm 2015 - 2017 46

Bảng 3.5 Tình hình dân số thành phố Cẩm Phả giai đoạn 2015 - 2017 47

Bảng 3.6 Một số chỉ tiêu Kinh tế - Xã hội thành phố Cẩm Phả 48

Bảng 3.7 Tổng hợp ý kiến về công tác lập kế hoạch về quy hoạch và phát triển đô thị tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh năm 2017 50

Bảng 3.8 Thực trạng sử dụng đất năm 2017 50

Bảng 3.9 Điều tra về thực hiện quy hoạch và phát triển đô thị tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh năm 2017 52

Bảng 3.10 Tổng hợp ý kiến về quy trình về quy hoạch và phát triển đô thị tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh năm 2017 53

Bảng 3.11 Thực trạng nhà ở khu vực nội thành thành phố Cẩm Phả năm 2017 55

Bảng 3.12 Thực trạng công trình công cộng cấp đô thị thành phố Cẩm Phả năm 2017 56

Bảng 3.13 Thực trạng công trình phục vụ giao thông thành phố Cẩm Phả 59

Bảng 3.14 Thực trạng công trình cung cấp nước sạch thành phố Cẩm Phả 61

Bảng 3.15 Thực trạng hệ thống thoát nước đô thị Cẩm Phả 61

Bảng 3.16 Thực trạng hệ thống cấp điện và chiếu sáng công cộng đô thị thành phố Cẩm Phả 63

Bảng 3.17 Thực trạng quản lý cảnh quan và môi trường đô thị thành phố Cẩm Phả 65

Bảng 3.18 Thực hiện các cuộc thanh tra, kiểm tra, giám sát của thành phố Cẩm Phả giai đoạn 2015 - 2017 67

Trang 10

Bảng 3.19 Tổng hợp ý kiến về công tác kiểm tra, thanh tra về quy hoạch và

phát triển đô thị tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh năm 2017 69 Bảng 3.20 Kết quả xử lý vi phạm trật tự xây dựng đô thị 70 Bảng 3.21 Tổng hợp kinh phí đầu tư xây dựng đợt đầu 71 Bảng 4.1 Bảng dự kiến quy hoạch sử dụng đất thành phố Cẩm Phả đến

năm 2020 86 Bảng 4.2 Dự kiến vốn và nguồn vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng của thành

phố Cẩm Phả đến năm 2020 92 Bảng 4.3 Bảng dự kiến nhu cầu dùng nước của thành phố Cẩm Phả đến

năm 2020 94 Bảng 4.4 Dự kiến vốn đầu tư hạ tầng kỹ thuật của thành phố Cẩm Phả đến

năm 2020 96

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nhìn nhận chung có thể thấy, quy hoạch và quản lý đô thị ở nước ta vẫn còn

bị ảnh hưởng của quán tính bao cấp, chủ yếu dựa vào các nguyên tắc thiết kế tĩnh, thiếu linh hoạt theo hướng thị trường Trong khi đó, đô thị ngày càng khẳng định vai trò động lực then chốt trong nền kinh tế, do đó cần cải cách công nghệ và quy trình lập quy hoạch xây dựng đô thị theo hướng chuyển từ quy hoạch tĩnh sang quy hoạch động, với cách tiếp cận đa ngành mà Quy hoạch chiến lược là một ví dụ

Trên thực tế, quy hoạch và quản lý đô thị, như đã phân tích ở trên, đặc biệt là phân vùng đô thị, nhiều vấn đề đặt ra rất cần được nghiên cứu kỹ Chẳng hạn như việc mở rộng quá mức không gian đô thị, mâu thuẫn giữa quy mô và chất lượng đô thị, giữa bảo tồn và phát triển hay phát triển để bảo tồn di sản đô thị,… đảm bảo đô thị phát triển bền vững Biểu hiện là hiện tượng phát triển từ Tỉnh lên Thành phố trực thuộc Trung ương Hiện tượng này có nguy cơ như là hội chứng trong phát triển đô thị ở nước ta Hay một số xu hướng khác như phát triển Khu trung tâm hành chính đô thị các cấp hoặc Trung tâm hành chính tập trung,…

Thành phố Cẩm Phả cũng không nằm ngoài quy luật đó Quy hoạch năm

2000 có tác động tới bộ mặt Thành phố hiện nay tuy đã đạt được một số kết quả khả quan như xác định hướng phát triển đô thị ra biển là đúng đắn, Đô thị Cẩm Phả phát triển về cơ bản tuân thủ theo quy hoạch, bước đầu đã hình thành rõ nét hệ thống mạng lưới đường khung xương chính của đô thị và trung tâm chính trị - văn hóa - TDTT đặt tại trung tâm đô thị là chính xác.Tuy nhiên, bản qua hoạch này chủ yếu chỉ quan tâm đến khu vực đô thị trung tâm từ Đèo Bụt đến Cửa Ông mà chưa quan tâm đến kết nối với hành lang kinh tế cao tốc và các khu kinh tế trên tuyến này Thực trạng giao thông còn tồn tại một số hạn chế về đường bộ, đường sắt, đường thuỷ và đường đô thị Việc giữ nguyên các tuyến đường sắt và đường 18A như hiện nay là không phù hợp với tương lai dài hạn của đô thị Cẩm Phả Dưới tác động của việc hình thành khu Kinh tế Vân Đồn, khu công nghiệp cảng biển Hải Hà và trục cao tốc Hạ Long - Móng Cái chưa có sự chuẩn bị cho bước phát triển mới của Cẩm Phả Bên cạnh đó, UBND chưa có nhiều quỹ đất giành cho phát triển công nghiệp lớn của Tỉnh và đô thị

Trang 12

Do tốc độ đô thị hóa cao nên công tác quản lý quy hoạch đô thị trên địa bàn thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh gặp không ít khó khăn, nảy sinh những tồn tại, hạn chế Qua khảo sát thực tế của các ban thuộc HĐND thành phố cho rằng, để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về công tác này, các cấp chính quyền cùng cơ quan chức năng cần tăng cường thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao

Trước yêu cầu thực tiễn đó, tác giả đã chọn đề tài “Quản lý Nhà nước về quy hoạch và phát triển đô thị tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh” làm luận văn

thạc sỹ, đề tài có ý nghĩa lớn về lý luận và thực tiễn, có tính cấp bách đối với diện mạo của thành phố Cẩm Phả trong giai đoạn phát triển mới

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Đề tài nghiên cứu thực trạng quản lý nhà nước về quy hoạch và phát triển đô thị tại thành phố Cẩm Phả và đề xuất giải pháp nhằm quản lý nhà nước về quy hoạch và phát triển đô thị tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn

từ nay đến năm 2025, góp phần xây dựng thành phố Cẩm Phả và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn của quản lý nhà nước về quy hoạch

và phát triển đô thị

- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về quy hoạch và phát triển

đô thị tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh

- Đề xuất giải pháp quản lý nhà nước về quy hoạch và phát triển đô thị tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quản lý nhà nước về quy hoạch và phát triển đô thị tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Luận văn được nghiên cứu tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh

Quảng Ninh

Trang 13

- Về thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu số liệu từ năm 2015-2017

- Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu công tác quản lý nhà nước về quy

hoạch và phát triển đô thị tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; phân tích nhân

tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về quy hoạch và phát triển đô thị tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh Trên cơ sở đó đánh giá các kết quả đạt được, chưa đạt được và nguyên nhân để từ đó đề xuất giải pháp quản lý nhà nước về quy hoạch và phát triển đô thị tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh đến năm 2025

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu

Luận văn là công trình khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực, là tài liệu giúp thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh quy hoạch, xây dựng kế hoạch quản lý nhà nước về quy hoạch và phát triển đô thị tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh đến năm 2025 có cơ sở khoa học

Luận văn nghiên cứu khá toàn diện và có hệ thống, những giải pháp chủ yếu nhằm quản lý nhà nước về quy hoạch và phát triển đô thị tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, có ý nghĩa thiết thực cho quá trình quản lý nhà nước về quy hoạch

và phát triển đô thị tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh và đối với các địa phương khác có điều kiện tương tự

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, luận văn được kết cấu thành 4 chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của quản lý nhà nước về quy hoạch và

phát triển đô thị

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng quản lý nhà nước về quy hoạch và phát triển đô thị tại

thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh

Chương 4: Giải pháp quản lý nhà nước về quy hoạch và phát triển đô thị tại

thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ QUY HOẠCH VÀ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ

1.1 Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về quy hoạch và phát triển đô thị

1.1.1 Khái niệm đô thị

1.1.1.1 Khái niệm đô thị và tiêu chuẩn đô thị

a Đô thị

Theo tác giả Nguyễn Đình Hương (2003): “Đô thị là điểm dân cư tập trung

có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của một vùng lãnh thổ có cơ sở hạ

tầng đô thị thích hợp”

Các khái niệm về đô thị đều có tính tương đối xuất phát từ sự khác nhau về trình độ phát triển kinh tế xã hội, đặc điểm văn hoá, hệ thống dân cư Mỗi nước trên thế giới có quy định riêng tuỳ theo yêu cầu và khả năng quản lý của mình Nếu xem xét trên một phương diện chung nhất thì đô thị là một không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp

Trên quan điểm xã hội học, đô thị là một hình thức tồn tại của xã hội trong một phạm vi không gian cụ thể và là một hình thức cư trú của con người “Sự tồn tại của đô thị tự bản thân nó khác hẳn vấn đề đơn giản là xây dựng nhiều nhà cửa độc lập với nhau, ở đây cái tổng hợp, cái chung nhất không phải là con số cộng của những bộ phận cấu thành Đó là một cơ thể sống riêng biệt theo kiểu của nó” (Lê Trọng Bình, 2009)

Trên góc độ quản lý kinh tế - xã hội, đô thị là điểm tập trung dân cư với mật

độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có cơ sở hạ tầng thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế -

xã hội của cả nước, của một miền lãnh thổ, một tỉnh, một Thành phố Cẩm Phả hoặc một vùng trong tỉnh hoặc trong Thành phố Cẩm Phả

Ở Việt Nam, đô thị được Nhà nước quy định là các thành phố, thị xã, thị trấn

có số dân từ 4000 người trở lên, trong đó trên 65% lao động trong lĩnh vực phi nông nghiệp… Hiện nay quan niệm đó được các nhà quản lý bổ sung thêm một tiêu

Trang 15

chuẩn nữa là cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị, cơ sở hạ tầng kỹ thuật của đô thị có thể hoàn chỉnh, đồng bộ hoặc chưa hoàn chỉnh, chưa đồng bộ nhưng phải có quy hoạch chung cho tương lai Theo Nghị định 42/2009/NĐ-CP ngày 07/5/2009 của Chính phủ quy định, đô thị là điểm dân cư tập trung các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, hội

tụ đầy đủ các tiêu chuẩn do Nhà nước quy định, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ nhất định (Chính phủ, 2009)

Từ các quan niệm trên đây, và trong điều kiện hiện nay, quan niệm về đô thị cần có sự đổi mới, nên quan niệm chung về đô thị như sau: Đô thị là một không gian cư trú của con người, ở đó cư dân sống tập trung với mật độ cao, lao động chủ yếu làm việc trong khu vực phi nông nghiệp, cơ sở hạ tầng, kinh tế, xã hội phát triển, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một lãnh thổ nhất định

Quan niệm như vậy nhằm nhấn mạnh hai mặt là phát triển xã hội và phát triển kinh tế ở đô thị Về mặt xã hội, đô thị là một hình thức cư trú, ở đó có mật độ dân cư cao, mức sống cao, tiện nghi đầy đủ hơn cùng với những thể chế luật lệ tiến

bộ Không gian đô thị bao gồm không gian kiến trúc, hạ tầng kỹ thuật, cảnh quan môi trường,… Về mặt kinh tế, hoạt động sản xuất ở đô thị chủ yếu là công nghiệp

và dịch vụ Để có sự phát triển kinh tế, xã hội, đô thị phải có một cơ sở hạ tầng kỹ thuật tiên tiến Nhờ có sự phát triển về kinh tế, xã hội, mà đô thị có vai trò thúc đẩy

sự phát triển kinh tế, xã hội của vùng hoặc cả nước Như vậy, khi nói tới đô thị cần đề cập đến các yếu tố cơ bản cấu thành đô thị như quy mô, mật độ dân số, sự phát triển kinh tế, xã hội, hình thức lao động và tính hiện đại của cơ sở hạ tầng, và vai trò của đô thị đối với vùng và cả nước (Nguyễn Đình Hương, 2003)

b Tiêu chuẩn Đô thị

Theo Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ngày 07/5/2009 của Chính phủ về phân loại đô thị, đô thị phải có đầy đủ các tiêu chuẩn sau:

- Về thể chế: đô thị là các thành phố, thị xã, thị trấn được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập

- Về trình độ phát triển:

+ Đô thị là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, cấp quốc gia, cấp vùng liên tỉnh, cấp tỉnh, cấp Thành phố Cẩm Phả hoặc là một trung tâm của vùng trong tỉnh; có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ nhất định

Trang 16

+ Quy mô dân số tối thiểu của nội thành, nội thị là 4.000 người

+ Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp của nội thành, nội thị từ 65% trở lên

+ Có cơ sở hạ tầng đô thị gồm hệ thống công trình hạ tầng xã hội và hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật: Đối với khu vực nội thành, nội thị phải được đầu

tư xây dựng đồng bộ và có mức độ hoàn chỉnh theo từng loại đô thị Đối với khu vực ngoại thành, ngoại thị phải được đầu tư xây dựng đồng bộ

cơ sở hạ tầng và bảo đảm yêu cầu bảo vệ môi trường và phát triển đô thị bền vững

+ Kiến trúc, cảnh quan đô thị: việc xây dựng, phát triển đô thị phải theo quy chế quản lý kiến trúc đô thị được duyệt, có các khu đô thị kiểu mẫu, các tuyến phố văn minh đô thị, có không gian công cộng phục vụ đời sống tinh thần của dân cư đô thị; có tổ hợp kiến trúc hoặc công trình kiến trúc tiêu biểu và phù hợp với môi trường, cảnh quan thiên nhiên

1.1.1.2 Phân loại đô thị

Tác giả sử dụng cách phân loại đô thị ở Việt Nam theo Luật Quy hoạch đô thị 2009 Đô thị được đánh giá theo các nhóm tiêu chí cơ bản sau đây:

a) Vị trí, chức năng, vai trò cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội của

IV và loại V

a Đô thị loại đặc biệt

Đô thị loại đặc biệt là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội thành, Thành phố Cẩm Phả ngoại thành và các đô thị trực thuộc

Thủ đô hoặc đô thị với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học - kỹ thuật, đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh là hai đô thị được xếp vào loại đặc biệt của Việt Nam

Trang 17

b Đô thị loại I, loại II

Đô thị loại I, loại II là thành phố thuộc tỉnh có các phường nội thành và các

xã ngoại thành

Đô thị loại 1: Đô thị với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc của cả nước

Đô thị loại 2: Đô thị với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong vùng tỉnh, vùng liên tỉnh hoặc cả nước, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với cả nước

c Đô thị loại III

Đô thị loại III là thành phố hoặc thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thành, nội thị và các xã ngoại thành, ngoại thị

Đô thị với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong tỉnh hoặc vùng liên tỉnh, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với vùng liên tỉnh

d Đô thị loại IV

Đô thị loại IV là thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thị và các xã ngoại thị

Đô thị với chức năng là trung tâm tổng hợp hoặc chuyên ngành về chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong tỉnh, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một tỉnh hoặc một vùng trong tỉnh

Trang 18

Trong đó, đô thị loại I và loại II phải do Thủ tướng Chính phủ ra quyết định công nhận; các kiểu đô thị loại III và IV do Bộ trưởng Bộ Xây dựng ra quyết định công nhận; và loại V do Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh công nhận

1.1.2 Quản lý nhà nước về quy hoạch và phát triển đô thị

1.1.2.1 Quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị

a Khái niệm quy hoạch đô thị

Theo Luật Quy hoạch đô thị 2009: “Quy hoạch đô thị là việc tổ chức không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị, hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội và nhà ở để tạo lập môi trường sống thích hợp cho người dân sống trong

đô thị, được thể hiện thông qua đồ án quy hoạch đô thị.”

Quy hoạch đô thị là một khái niệm hay được dùng để chỉ các hoạt động kiểm soát hay tổ chức môi trường sống đô thị Các hoạt động này có thể bao gồm: ban hành luật, quy định kiểm soát phát triển; xây dựng và vận hành các bộ máy quản lý

đô thị; đề ra các tiêu chí, lập và phê duyệt quy hoạch; thực hiện các chương trình đầu tư phát triển đô thị; nghiên cứu đô thị; đào tạo bộ máy nhân lực; trao đổi tranh

luận về các vấn đề đô thị

Điều cần chú ý là trong các bối cảnh khác nhau, các hoạt động này thường không có mục đích, nội dung hay phương pháp thực hiện giống nhau Nguyên nhân

là đô thị thường có các vấn đề khác nhau trong mỗi giai đoạn phát triển Việc nhìn nhận, đánh giá, giải quyết các vấn đề đô thị không chỉ phụ thuộc vào năng lực các

bộ máy chuyên môn mà còn lệ thuộc nhiều và chủ trương của bộ máy cầm quyền và khả năng đáp ứng của nền kinh tế Trong mỗi giai đoạn phát triển, bộ máy cầm quyền thường chỉ chú trọng kiểm soát hay thúc đẩy một số hoạt động quy hoạch đô thị mà họ cho là quan trọng Trong khi đó, nghiên cứu và đào tạo nhân lực trong các ngành liên quan quy hoạch đô thị thường được coi là lĩnh vực tách biệt với thực tế hành nghề Kết quả là luôn có nhiều quan điểm về nội dung và cách thức thực hiện quy hoạch đô thị

Quy hoạch xây dựng đô thị là bộ môn khoa học kỹ thuật, xã hội, nhân văn, là nghệ thuật về tổ chức không gian sống cho các đô thị và các khu vực đô thị Nó là nghệ thuật sắp xếp tổ chức các không gian chức năng, khống chế hình thái kiến trúc

Trang 19

trong đô thị trên cơ sở các điều tra, dự báo, tính toán sự phát triển, đặc điểm, vai trò, nhu cầu và nguồn lực của đô thị, nhằm cụ thể hóa chính sách phát triển, giảm thiểu các tác động có hại phát sinh trong quá trình đô thị hóa, tận dụng tối đa mọi nguồn lực, và hướng tới sự phát triển bền vững Các không gian đô thị, công trình hạ tầng

kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội đô thị cần được quy hoạch phù hợp với phát triển tổng thể kinh tế - xã hội- môi trường, an ninh - quốc phòng

Từ các nội dung trên ta thấy công tác Quản lý quy hoạch đô thị là một trong những lĩnh vực quan trọng nhất trong công tác quản lý đô thị Nội dung quản lý quy hoạch đô thị trong thực tế được cụ thể thành những nhiệm vụ chủ yếu như sau: Lập

và xét duyệt quy hoạch đô thị, Soạn thảo và ban hành hệ thống các văn bản pháp quy về quản lý quy hoạch xây dựng đô thị, Xây dựng hệ thống kiểm soát và phát triển đô thị theo quy hoạch và pháp luật, Tổ chức quản lý nhà nước về quy hoạch và xây dựng đô thị

b Quản lý Nhà nước về quy hoạch đô thị

Theo Nghị định số 11/2013/NĐ-CP ngày 14/01/2013 của Chính phủ về quản

lý đầu tư phát triển đô thị, quản lý quy hoạch đô thị là “quá trình thiết lập các quy định bắt buộc, lập kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực và giám sát quá trình phát triển xã hội nhằm đảm bảo cho các đồ án, đề án quy hoạch, các phân khu đô thị, đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt được thực hiện Quản lý quy hoạch đô thị cũng là quá trình nghiên cứu những bất cập của các đồ án, đề án quy hoạch, các phân khu đô thị, nghiên cứu các bất cập của những chính sách áp dụng trong quá trình triển khai thực hiện công tác quản lý, đề xuất với các cấp có thẩm quyền để giải quyết một cách kịp thời”

c Vai trò của quản lý Nhà nước về quy hoạch đô thị

Theo tác giả Lê Trọng Bình (2009), quản lý quy hoạch đô thị có hai mục đích chính: “Bảo đảm thực hiện đúng quy hoạch, hạn chế tình trạng quy hoạch một đằng thực thi một nẻo; Kịp thời phát hiện những vấn đề mới nảy sinh từ thực tiễn để kiến nghị/ quyết định điều chỉnh quy hoạch Mục đích thứ hai là cần thiết nhưng mục đích thứ nhất mới là chủ yếu, bởi nếu quy hoạch càng hoàn chỉnh thì mục đích thứ hai càng trở nên ít/ không cần thiết, và ngược lại” Những hoạt động cụ thể liên quan đến ngành quy hoạch đô thị là:

Trang 20

- Đầu tư và phát triển bất động sản: Ở đây việc đầu tư và phát triển bất động sản phải tuân theo quy luật phát triển chung của xã hội-kinh tế riêng từng khu vực

cụ thể

- Văn hóa, lối sống cộng đồng

- Chính sách quản lý và phát triển bất động sản và nhà ở

- Chiến lược phát triển kinh tế xã hội cho mỗi vùng, mỗi khu vực

- Đầu tư hạ tầng kỹ thuật

- Phát triển và bảo tồn các di sản kiến trúc và thiên nhiên

- Phát triển bền vững của nhân loại

Cơ sở của quy hoạch đô thị là hệ thống các tiêu chuẩn và các nguyên tắc tổ chức xây dựng đô thị Dựa vào hệ thống các nguyên tắc này, theo điều kiện thực tế

và chính sách, mục tiêu phát triển ngắn hạn và dài hạn; nhóm bốn đối tượng tác động chính đến kết quả đồ án quy hoạch là: các nhà quy hoạch, các nhà quản lý, các nhà đầu tư và những người trực tiếp chịu ảnh hưởng của quy hoạch đề xuất ra các giải pháp, mục đích, thời gian và nguồn lực cụ thể để thực hiện

Hiện nay ở Việt Nam việc lập các đồ án quy hoạch chưa được tổ chức thực hiện còn chưa theo đúng nguyên tắc do điều kiện về kinh phí, trang thiết bị, năng lực chuyên môn còn hạn chế và sự can thiệp tùy tiện của nhiều tổ chức cơ quan tới quá trình lập đồ án Quy hoạch, cũng như các yếu tố khác Khung luật pháp cho việc thực hiện quy hoạch hiện nay còn thiếu hụt trong khi công tác quản lý và thực thi quy hoạch lại khá lỏng lẻo Các đồ án Quy hoạch hiện nay đang là công cụ cho việc hợp thức hóa một số chuyển đổi đất sai mục đích hoặc chưa đủ các cơ sở nghiên cứu đánh giá một cách chính xác và khoa học

d Ý nghĩa của quản lý Nhà nước về quy hoạch đô thị

Quản lý quy hoạch đô thị là một trong những lĩnh vực quan trọng nhất của quản lý đô thị

+ Quản lý Nhà nước về quy hoạch đô thị có ý nghĩa rất quan trọng, đây là vấn đề vừa mang tính chiến lược nhưng phải đi trước một bước làm cơ sở cho đầu

tư xây dựng các công trình, chỉnh trang và phát triển đô thị Đồng thời là một trong những giải pháp chủ yếu để quản lý xây dựng đô thị phát triển theo hướng văn

Trang 21

minh, hiện đại, góp phần làm tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, đảm bảo an ninh xã hội

+ Sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên, đất đai, lao động và các tiềm năng khác, bảo vệ môi trường sinh thái

+ Đảm bảo cho quá trình đầu tư, xây dựng công trình đúng quy hoạch và thiết kế được duyệt, đảm bảo bền vững và mỹ quan, đảm bảo chất lượng và thời hạn xây dựng Ngăn ngừa các ảnh hưởng tiêu cực khác có thể gây ra như các công trình xây dựng được tạo ra bởi dự án cảnh quan, thuần phong mỹ tục, anh ninh quốc gia (Lê Trọng Bình, 2009)

1.1.2.2 Quản lý nhà nước về phát triển đô thị

Theo Nghị định số 11/2013/NĐ-CP ngày 14/01/2013 của Chính phủ về quản

lý đầu tư phát triển đô thị, quản lý nhà nước về phát triển đô thị là việc sử dụng nguồn lực để tác động đến công tác quy hoạch và phát triển đô thị nhằm đạt được các mục tiêu kiểm soát hay tổ chức môi trường sống đô thị

Nguyên tắc quản lý phát triển đô thị

1 Quản lý phát triển đô thị theo chiến lược, quy hoạch, chương trình phát triển đô thị, khu vực phát triển đô thị, dự án đầu tư xây dựng khu đô thị, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững

2 Phát triển hạ tầng đô thị phải hiện đại, đồng bộ Việc đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng đô thị phải tuân thủ quy hoạch, chiến lược, chương trình phát triển đô thị, hạ tầng đô thị

3 Tạo ra môi trường sống tốt cho cư dân đô thị, đảm bảo lợi ích của cộng đồng; Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, bảo tồn và tôn tạo các di tích văn hóa, lịch sử hiện có

4 Khuyến khích xây dựng đô thị thích ứng với biến đổi khí hậu, tăng trưởng xanh, thông minh; sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, thực hiện các cam kết quốc tế về cắt giảm phát thải khí nhà kính

5 Huy động, đa dạng hóa và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính cho phát triển đô thị

6 Tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước về phát triển đô thị; phân công, phân cấp, phát huy khả năng tự chủ cho chính quyền đô thị; nâng cao năng lực quản

Trang 22

lý đô thị; đảm bảo sự tham gia của các thành phần, cộng đồng xã hội trong quá trình phát triển đô thị theo quy định của pháp luật

1.1.3 Nội dung quản lý nhà nước về quy hoạch và phát triển đô thị

1.1.3.1 Lập quy hoạch và phát triển đô thị

Theo Luật quy hoạch 2009, Chính phủ thống nhất quy định về lập, trình và xét duyệt quy hoạch xây dựng đô thị trong phạm vi cả nước như sau:

+ Ủy ban nhân dân các thành phố thuộc tỉnh, thị xã, Thành phố Cẩm Phả trình Ủy ban nhân dân tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương phê duyệt các đồ án quy hoạch chung các đô thị còn lại (từ loại III đến loại V) và các quy hoạch chi tiết của các đô thị

Trước khi Ủy ban nhân dân tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương phê duyệt các đồ án quy hoạch chung đô thị loại III, IV, quy hoạch chi tiết trung tâm đô thị loại đặc biệt, I, II và các quốc lộ đi qua các đô thị tỉnh lỵ phải có ý kiến của Bộ Xây dựng bằng văn bản

1.1.3.2 Thực hiện quản lý nhà nước về quy hoạch và phát triển đô thị

a Quản lý nhà nước về nhà ở đô thị

Cơ sở pháp lý để quản lý nhà nước về nhà ở đô thị là Pháp lệnh nhà ở năm

1991, Nghị định 30/CP ngày 5/7/1994 về nhà ở, đất ở; Nghị định 61/CP ngày 5/7/1994 về mua bán, kinh doanh nhà ở; Quyết định số 27/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về một số cơ chế, chính sách phát triển nhà ở cho người có thu

Trang 23

nhập thấp ở đô thị và các văn bản pháp quy khác của Trung ương và địa phương Nội dung quản lý nhà nước về nhà ở đô thị gồm có:

- Cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở: Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hay cơ quan quản lý nhà, đất được ủy quyền cấp cho chủ sở hữu, chủ sử dụng hợp pháp, người thay mặt đại diện hợp pháp cho các tổ chức, người nước ngoài định cư tại Việt Nam có nhà ở hợp pháp

- Quản lý việc mua bán nhà và chuyển nhượng nhà ở, hình thành và phát triển thị trường nhà ở, thị trường thuê nhà ở chính thức

b Quản lý nhà nước về đất đai đô thị

Cơ sở pháp lý để quản lý đất đô thị là Luật Đất đai năm 2003, các Nghị định số 181, 182, 188, 197 của Chính phủ và các văn bản khác, Nghị định 88/CP ngày 17/8/1994 về quản lý sử dụng đất đô thị Nội dung quản lý nhà nước về đất đai đô thị bao gồm:

- Giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đô thị

- Thu hồi đất để xây dựng cơ sở hạ tầng đô thị

c Quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật quy hoạch và phát triển đô thị

Hạ tầng kỹ thuật đô thị (giao thông vận tải, cấp, thoát nước, cấp điện, năng lượng, xử lý rác thải, ) có ý nghĩa rất quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội cũng như đáp ứng những nhu cầu trong đời sống của người dân đô thị Nhà nước cần phải đầu tư xây dựng, nâng cấp, cải tạo cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở đô thị để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng trong đô thị Quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật

đô thị bao gồm:

- Quản lý nhà nước về giao thông đô thị

- Quản lý nhà nước về cung cấp nước sạch đô thị

- Quản lý nhà nước về thoát nước đô thị

- Quản lý nhà nước về cấp điện, chiếu sáng công cộng và thông tin liên lạc

Trang 24

d Quản lý nhà nước về bảo vệ cảnh quan, môi trường quy hoạch đô thị

* Quản lý nhà nước về cảnh quan đô thị

- Chính quyền đô thị xây dựng định hướng phát triển kiến trúc đô thị mang tính đa dạng trong sự thống nhất, ban hành các chính sách, quy chế và kế hoạch đầu tư phát triển cảnh quan đô thị vừa đảm bảo hiện đại, văn minh, vừa bảo tồn được các giá trị văn hoá truyền thống dân tộc

- Các cơ quan chức năng cần xây dựng định hướng kiến trúc cho các thể loại công trình trong đô thị, quy hoạch mỹ quan các đường phố

- Các cấp chính quyền địa phương cần tăng đầu tư bảo tồn và phát huy các giá trị di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, có chính sách hỗ trợ dân duy tu, bảo trì các công trình văn hóa có giá trị, kêu gọi đầu tư, hỗ trợ của nước ngoài

- Tăng cường quản lý nhà nước về trật tự xây dựng đô thị, xử lý nghiêm minh các vi phạm trong xây dựng, phá vỡ cảnh quan đã được quy hoạch

- Các tổ chức và cá nhân khi xây dựng, cải tạo các công trình kiến trúc văn hóa phải đảm bảo được tính lịch sử, văn hóa của công trình và phải được các cơ quan quản lý nhà nước phê duyệt đồng ý; hạn chế chặt bỏ cây xanh khi xây dựng các công trình mới

* Quản lý nhà nước về môi trường đô thị

- Nhà nước và các cấp chính quyền các địa phương cần hoạch định chiến lược bảo vệ môi trường trong phạm vi quốc gia cũng như trong từng địa phương, có

kế hoạch tăng ngân sách đầu tư

- Cụ thể hóa Luật Môi trường, ban hành các chính sách, quy chế, quy định cụ thể về quản lý và bảo vệ môi trường đô thị

- Hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý môi trường đô thị Nhà nước và chính quyền các tỉnh, thành phố giao việc quản lý nhà nước về môi trường cho Bộ

và Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường, tăng cường phối hợp giữa các cơ quan ban hành hữu quan

- Quan tâm đến việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức chuyên trách làm nhiệm vụ bảo vệ môi trường về chuyên môn và nghiệp vụ

Trang 25

e Tiêu chí đánh giá hiệu quả của QLNN về quy hoạch và phát triển đô thị đứng trên góc độ quản lý kinh tế

Hiệu quả là tiêu chí đánh giá mọi hoạt động nói chung và hoạt động quản lý nhà nước nói riêng Đánh giá hiệu quả của QLNN về quy hoạch và phát triển đô thị đứng trên góc độ quản lý kinh tế là công tác khó khăn vì hoạt động quản lý Nhà nước mang tính đặc thù Hoạt động này không trực tiếp sáng tạo ra các giá trị vật chất nhưng bản thân hoạt động quản lý có những ảnh hưởng nhất định đến quá trình tạo ra giá trị vật chất, làm cho quá trình này diễn ra một cách nhanh chóng hay chậm chạp Chính vì thế, kết quả của hoạt động này nhiều khi được đánh giá chủ yếu mang tính chất định tính chứ không phải định lượng Bên cạnh đó, còn có nhiều yếu tố không thể định lượng một cách cụ thể, chính xác; chẳng hạn như năng lực,

uy tín, trình độ, kỹ năng, kinh nghiệm và sự am hiểu về các lĩnh vực xã hội cơ bản của chủ thể tiến hành hoạt động quản lý Nhà nước Những yếu tố này có vai trò, tác dụng rất lớn đối với hoạt động quản lý Nhà nước nhưng không thể lượng hoá như các chỉ số khác

Cũng như bất kỳ sự đánh giá một sự vật, hiện tượng nào đó, việc đánh giá hiệu quả hoạt động của QLNN về quy hoạch và phát triển đô thị đứng trên góc độ quản lý kinh tế cũng cần có những tiêu chí nhất định Việc xác định hệ thống tiêu chí là luận cứ khoa học đảm bảo cho việc đánh giá được khách quan và đúng đắn Một số tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động như sau:

- Những biến chuyển trên lĩnh vực an ninh, trật tự an toàn xã hội

- Những chuyển biến trên lĩnh vực kinh tế

- Những chuyển biến trên lĩnh vực văn hoá - xã hội

- Hiệu quả thực thi các quyết định quản lý nhà nước

- Tính chủ động, sáng tạo trong hoạt động quản lý nhà nước

- Tính kinh tế của các hoạt động quản lý nhà nước

1.1.3.3 Kiểm tra, thanh tra quản lý nhà nước về quy hoạch và phát triển đô thị

- Thanh tra, kiểm tra, xử phạt nghiêm các hành vi gây ô nhiễm môi trường

đô thị theo luật định, tuyên truyền phổ biến nâng cao ý thức cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường sống, khai thác sự đóng góp của các tổ chức xã hội, kinh

tế và dân cư

Trang 26

- Ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ hiện đại trong việc bảo vệ và thanh tra quản lý về môi trường, đặc biệt các công nghệ mới trong thu gom, xử lý các chất

thải sinh hoạt, hạn chế ô nhiễm môi trường không khí

1.1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về quy hoạch và phát triển

đô thị

1.1.4.1 Yếu tố chủ quan

a Khả năng chi ngân sách cho quy hoạch đô thị

Quy hoạch xây dựng đô thị là một dự án tốn kém và rất cần những nhà đầu

tư về vốn, hoặc các nguồn lực khác Thực tế là chính quyền không đủ ngân sách để xây dựng hết mọi nơi, hơn nữa, việc kêu gọi các nhà đầu tư tư nhân mang lại nhiều sáng kiến giá trị hơn rất nhiều là sự rập khuôn máy móc trong quản lý nhà nước Và quan điểm này của quy hoạch đô thị dựa trên áp dụng những tính chất của nền kinh

tế thị trường, trong đó nhà nước chỉ kiểm soát doanh nghiệp và đảm bảo lợi ích cộng đồng Thành phố Cẩm Phả “tay ba” giữa chính quyền - nhà đầu tư - cộng đồng đã đẩy vị trí những người làm quy hoạch vào giữa bắt buộc họ phải trang bị thêm những kiến thức về quyền lợi và lợi ích đầu tư của các chủ sở hữu nguồn lực và có

kỹ năng đàm phán, thỏa thuận để đảm bảo dự án hoạt động Một dự án quy hoạch

đô thị trở thành một bài toán về quản lý hoạt động hiệu quả hơn là chỉ đạo và lên kế hoạch, chính sách

b Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội địa phương

- Trình độ phát triển kinh tế là điều kiện của đô thị hoá:

Phát triển kinh tế trong đó phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ là yếu tố có tính quyết định của quá trình đô thị hoá Trình độ phát triển kinh tế của một nước được thể hiện trên nhiều phương diện: quy mô và tốc độ tăng trưởng GDP, cơ cấu ngành của nền kinh tế, sự phát triển các thành phần kinh tế, trình độ hoàn thiện của cơ sở hạ tầng, trình độ văn hoá giáo dục của dân cư, mức sống dân cư… Trong một chừng mực nhất định, trình độ phát triển kinh tế thể hiện lợi thế về

vị trí, điều kiện tự nhiên và các vấn đề xã hội của một quốc gia hay một vùng

Tuy nhiên khi điều kiện cần cho phát triển đô thị là phát triển kinh tế đã đạt được thì vấn đề còn lại là chính sách hay cơ chế cho phát triển đô thị được coi như

Trang 27

điều kiện đủ của vấn đề Nếu không có chính sách phát triển đô thị đúng, sẽ dẫn đến tình hình bế tắc trong tương lai

- Phương thức sản xuất xã hội có ảnh hưởng quan trọng đến đô thị hoá

Phương thức sản xuất xã hội và tình hình chính trị của đất nước có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình đô thị hoá Mỗi phương thức sản xuất có một kiểu đô thị tương ứng và do đó quá trình đô thị hoá có những đặc trưng riêng của nó Ở Việt Nam, sau năm 1954 cả nước tạm thời chia làm 2 miền với hai chế độ chính trị khác nhau Miền Bắc với phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa, mô hình đô thị hoá với những nét đặc trưng cơ bản là:

+ Các thành phố được tổ chức xây dựng thành hệ thống theo tầng bậc, rải đều trên khắp lãnh thổ nhằm xoá bỏ dần sự tách biệt giữa các vùng,…

+ Các thành phố phát triển trên cơ sở tập trung hoá, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc

Cũng trong thời gian đó ở Miền Nam, với một chế độ chính trị thân Mỹ, nền kinh tế phụ thuộc nặng nề vào Mỹ Đặc trưng cơ bản của đô thị miền Nam thời Mỹ nguỵ là đô thị hành chính và dịch vụ, sản xuất không phát triển, kinh tế phụ thuộc nước ngoài

Sau ngày giải phóng Miền Nam (tháng 5-1975), đất nước ta thống nhất, cả nước theo một đường lối chính trị Hậu quả của chiến tranh rất nặng nề, nền kinh tế độc lập tự chủ trong điều kiện khó khăn, tốc độ đô thị hoá chậm chạp Sau 1986 phong trào đổi mới với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và nền kinh

tế nhiều thành phần đã mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh Đặc biệt với các chính sách mở cửa nền kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần đã tạo ra sự phát triển kinh tế vượt bậc, quá trình đô thị hoá đã diễn ra mạnh mẽ

- Văn hoá dân tộc có ảnh hưởng quan trọng đến đô thị hoá

Truyền thống văn hoá dân tộc có ảnh hưởng quan trọng đến quá trình đô thị hoá, trước hết là công tác quản lý đất đai đô thị, quản lý xã hội, quản lý dân số Mỗi dân tộc có một nền văn hoá riêng của mình và nền văn hoá đó có ảnh hưởng đến tất

cả các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội nói chung và kiểu đô thị nói riêng

Trang 28

Về mặt xã hội, đô thị Việt Nam còn mang nhiều màu sắc nông thôn Người thành thị hôm nay, cách đây không lâu họ còn là những người nông dân Ra thành phố học tập, lao động, họ học tập và hoà nhập lối sống thành thị nhưng vẫn mang theo những phong tục, tập quán, thói quen cũ Về mặt xây dựng, đô thị Việt Nam chịu ảnh hưởng của nhiều nền văn hoá khác nhau biểu hiện qua hình thức xây dựng nhà ở của các giai đoạn lịch sử Trên ba miền đất nước, mỗi thành phố đều có những nét độc đáo riêng của mình Hà Nội, Huế, Thành phố Hồ Chí Minh đều có những biểu tượng riêng mang bản sắc của từng miền và trong đó có cái chung của Việt Nam

- Cách mạng khoa học kỹ thuật là điều kiện cho đô thị hoá

Sự phát triển của khoa học kỹ thuật, công nghệ có ảnh hưởng mạnh mẽ đến phát triển kinh tế nói chung và từng đô thị nói riêng ở các mức độ khác nhau và tuỳ thuộc vào những lợi thế địa phương, khả năng sinh lợi tiềm ẩn, các kỹ năng vốn có

và sự thích nghi mà mỗi đô thị có thể thu nhận được Nhân tố khoa học kỹ thuật bên ngoài có ảnh hưởng tới các thành phố theo hai hướng Thứ nhất, có sự cạnh tranh giữa các thành phố khi các công ty đa quốc gia so sánh giá các yếu tố đầu vào và đánh giá các thuận lợi về luật pháp và cơ chế chính sách; tính năng động của lực lượng sản xuất và sự ổn định chính trị Những thành phố nào đáp ứng các yêu cầu này sẽ phát triển nhanh hơn và ngược lại Thứ hai, sự xuất hiện các ngành công nghiệp dịch vụ điện tử bao gồm các dịch vụ tài chính và thương mại, thông tin và bưu điện Các phương tiện thông tin hiện đại đang mang lại lợi ích to lớn cho các thành phố lớn vì những thành phố này đã tạo điều kiện để áp dụng công nghệ thông tin hiện đại có hiệu quả nhất

Tuy nhiên, vấn đề là liệu các nước đang phát triển như Việt Nam có nắm bắt kịp các thành tựu khoa học hiện đại, rút ra được kinh nghiệm phát triển kinh tế

và quản lý đô thị của các nước trên thế giới và trong khu vực, giải quyết tốt các vấn đề môi trường, dân số, giao thông, nhà ở, việc làm… ở đô thị hay không? Đó thực sự là những thách thức lớn đối với các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng

c Ý muốn Ban lãnh đạo địa phương

Nếu Ban lãnh đạo địa phương thực sự muốn quy hoạch và phát triển đô thị một cách nghiêm túc định hướng bền vững, thì khi các cấp lãnh đạo chỉ đạo các

Trang 29

ngành vào cuộc tích cực, các chính sách bất cập được kịp thời tháo gỡ bằng các văn bản pháp quy thay thế Việc chỉ đạo kịp thời ra các đồ án quy hoạch chung, quy hoạch nông thôn mới, quy hoạch chi tiết, đưa ra các chế độ báo cáo thường xuyên cho các ban ngành Điều đó góp phần không nhỏ cho công tác quản lý quy hoạch đô thị trên địa bàn, sự quan tâm của lãnh đạo đã làm cho chất lượng của các đồ án quy hoạch được nâng cao, phù hợp với thực tiễn trên địa bàn, giúp cho công tác triển khai sau quy hoạch được thuận lợi hơn

Năng lực cán bộ làm công tác quản lý quy hoạch: Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và năng lực công tác của cán bộ trực tiếp làm công tác quản lý quy hoạch xây dựng đô thị là một yếu tố then chốt đến công tác quản lý quy hoạch đô thị Người cán bộ làm công tác quản lý quy hoạch đô thị phải kịp thời phát hiện những bất hợp lý trong quá trình xét duyệt các đồ án quy hoạch để điều chỉnh cho thích hợp và phải kịp thời phát hiện những sai phạm trong công tác xây dựng để có biện pháp ngăn chặn và xử lý

1.1.4.2 Yếu tố khách quan

a Nhu cầu phát triển của tỉnh

Theo Dự thảo Luật trình cho ý kiến tại phiên họp thứ 23 của Ủy ban Thường

vụ Quốc hội khóa XIV, trong nội dung đề xuất khu vực phát triển đô thị ghi rõ:

- Ủy ban nhân cấp tỉnh là cơ quan có thẩm quyền tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt và điều chỉnh kế hoạch cải tạo, tái thiết đô thị của các đô thị trực thuộc

- Vị trí, quy mô, diện tích Phạm vi ranh giới khu vực phát triển đô thị được xác định trên cơ sở quy hoạch chung đô thị, điều kiện tự nhiên, nhu cầu đầu tư phát triển đô thị của từng khu vực

- Khu vực phát triển đô thị được xác định và phê duyệt trong Chương trình phát triển từng đô thị Căn cứ nhu cầu quản lý và phát triển đô thị, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định việc lập và phê duyệt khu vực phát triển đô thị riêng

- Ủy ban nhân cấp tỉnh tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt và điều chỉnh khu vực phát triển đô thị thuộc địa bàn quản lý;…

Do đó, căn cứ theo nhu cầu phát triển đô thị của tỉnh mà thì UBND Tỉnh sẽ phối hợp với các bên liên quan để có chính sách quy hoạch và phát triển đô thị cho phù hợp với thực tế tại địa phương

Trang 30

b Hội nhập kinh tế quốc tế

Sự hội nhập toàn diện là yếu tố thúc đẩy quá trình đô thị hoá nhanh hơn Nhập khẩu các hình thái kiến trúc, thương mại hoá các quan hệ, phương pháp quản

lý hiện đại, liên doanh trong xây dựng đô thị hoặc các khu đô thị là một thực tế đã diễn ra khá sinh động ở các nước phát triển như ở Pháp, Canada Việt Nam cũng không nằm ngoài thực tế đó Từ thời Pháp thuộc, Hà Nội đã có những khu nhà tây, trong những năm gần đây đã xuất hiện làng của những người Nhật, những khu nhà

ở của người Hàn Quốc, người Nga, đó thực sự là những ngoại ứng tích cực trong phát triển đô thị Việt Nam Về kinh tế, sự hội nhập kinh tế làm cho các thị trường phát triển đặc biệt là thị trường tài chính Trong giai đoạn hiện nay chúng ta không

sợ thiếu vốn mà chỉ sợ không có khả năng quản lý

Quá trình toàn cầu hóa thông qua giao dịch quốc tế (về hàng hóa, vốn, và lao động) đã hình thành một nền kinh tế thế giới có tính hội nhập Sự cạnh tranh giữa các trung tâm đô thị trong và ngoài nước ngày càng mạnh mẽ Sự phụ thuộc lẫn nhau đang hình thành vượt qua các biên giới quốc gia, tạo ra những mối liên hệ chặt chẽ hơn về hợp tác kinh tế Tự do hóa thương mại và hội nhập đang tạo ra những cơ hội và sự biến động mới bên trong các đô thị

Sự hội nhập giữa các quốc gia là điều kiện cho các hoạt động giao lưu thương mại và là cơ hội cho sản xuất phát triển, đặc biệt là sự trao đổi về khoa học

kỹ thuật Hoạt động đầu tư của nước ngoài trước hết ở các đô thị và đặc biệt là đô thị lớn luôn mang lại hiệu quả cao cho các nhà đầu tư Chính vì vậy, đô thị luôn là nơi hấp dẫn các nhà đầu tư Các thành phố lớn là những hạt nhân của các vùng kinh

tế, luôn đi đầu trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài Tuy nhiên sự đầu tư của nước ngoài vào các thành phố lớn cũng là một nhân tố động lực phát triển kinh tế của chính các đô thị đó, từ đó tạo sức lan toả của đầu tư nước ngoài sang những đô thị ở những khu vực lân cận có điều kiện kinh tế khó khăn hơn

Các dự án đầu tư nước ngoài đã đóng góp có hiệu quả vào quá trình đô thị hoá Nhờ đó các đô thị đã tăng cường được vai trò là trung tâm phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, các ngành nghề mới, trung tâm phát triển và chuyển giao công nghệ trong vùng, trung tâm giao lưu thương mại trong nước và nước ngoài, thu hút vốn đầu tư, phát triển kinh tế đối ngoại, trung tâm dịch vụ, phát triển văn hoá giáo dục, nâng cao dân trí, phát triển nguồn lực, tăng thu ngân sách cho Nhà nước hàng năm

Trang 31

1.2 Kinh nghiệm quản lý Nhà nước về quy hoạch và phát triển đô thị của một

số thành phố trong nước và trên thế giới

1.2.1 Kinh nghiệm quản lý Nhà nước về quy hoạch và phát triển đô thị của một số thành phố ở một số nước trên thế giới

Các thành phố được đánh dấu trên bản đồ đô thị thông minh thế giới là các thành phố có trình độ phát triển kinh tế - xã hội cao, cơ sở hạ tầng hiện đại, đã và đang phát triển theo hướng bền vững Các thành phố này đã lựa chọn và thử nghiệm

áp dụng công nghệ thế hệ mới vào nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm vận hành thành phố một cách thông minh và bền vững hơn Nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng và phát triển đô thị thông minh của các nước cho phép chúng ta lựa chọn con đường phù hợp nhất để xây dựng đô thị thông minh ở Việt Nam

a Kinh nghiệm Nhật Bản

Sau thế chiến thứ 2, Nhật Bản bước vào thời kỳ phát triển và đô thị của Nhật Bản cũng phải đối mặt với các vấn đề mà đô thị Việt Nam hiện đang gặp phải như dân số tập trung quá đông ở đô thị, giao thông công cộng, cơ sở hạ tầng không đáp ứng kịp, ô nhiễm môi trường…

Tại Nhật, quy hoạch được xem là một chương trình quảng bá xúc tiến đầu tư nghiêm túc Sau khi quy hoạch hoàn chỉnh, sẽ được công bố rộng rãi trước công chúng, đặc biệt về quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch hạ tầng Mục đích của việc này là để các nhà đầu tư và nhân dân cùng tham gia thực hiện Điểm đặc biệt nhất trong quy hoạch đô thị Nhật Bản là trong các chương trình phát triển đô thị có quy định tối thiểu 40% dự án phải ưu tiên cho địa phương quản lý thực hiện Khi quy hoạch được lập nên, cần lấy ý kiến cộng đồng rất nhiều lần, đảm bảo 70% tự nguyện chấp thuận thì quy hoạch đó mới được phê chuẩn

Quy hoạch đô thị có 3 sản phẩm chính: Quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch hạ tầng và danh mục các dự án phát triển

Các dự án này đều yêu cầu đảm bảo chất lượng môi trường đô thị và làm hài lòng các nhóm lợi ích tham gia phát triển Dự án phát triển khu dân cư đô thị được phân thành 2 loại: Dự án phát triển đô thị mới gắn với các khu công nghiệp, khu kinh tế và dự án tái phát triển khu dân cư hiện có

Trang 32

Việc cấp phép chuyển đổi chức năng sử dụng đất, đền bù giải phóng mặt bằng, xây dựng các công trình kiến trúc đều rất được coi trọng Để hạn chế tình trạng sử dụng đất thiếu kiểm soát, việc cấp phép đầu tư cho tư nhân được kiểm duyệt rất nghiêm ngặt Các khu vực đã lập dự án khả thi với quy hoạch 1/500 được chuyển tải thành quy chế với các quy định trong sử dụng đất mang tính bắt buộc

Dự án cấp vùng và quốc gia sẽ được thực hiện bởi các cơ quan tầm cỡ quốc gia phối kết hợp với TCty lớn ví dụ như TCty Đường bộ Nhật đảm nhận Các dự án khác được thực hiện trên có sở có đồng thuận của bộ MLIT và chính quyền địa phương Các đơn vị tham gian thực hiện dự án có thể là tổ chức Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân và các Cty cổ phần thực hiện

Ngày nay, Nhật Bản đã thành công trong xây dựng đô thị nhỏ gọn, thân thiện môi trường, giảm lượng CO2, phát triển đô thị trung tâm, đồng thời tiến hành chiến lược thông minh thu gọn các vùng ngoại ô, đạt được đô thị bền vững

b Kinh nghiệm Trung Quốc

Trước năm 1978, Trung Quốc phát triển nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung XHCN, đô thị hóa chậm phát triển, quy hoạch đô thị ảnh hưởng nhiều của Liên Xô (cũ) Sau năm 1978, Trung Quốc thực hiện cải cách mở cửa, đổi mới nền kinh tế theo nền kinh tế thị trường XHCN kiểu Trung Quốc Nền kinh tế Trung Quốc liên tục tăng trưởng với tốc độ cao trong thời gian dài, từ đây quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh, nhất là các đô thị phía Đông Nam, đô thị ven biển, ven các sông lớn…

Để thực hiện tốt quá trình đô thị hóa tại các đô thị lớn, Trung Quốc đã tập trung giải quyết các nhóm vấn đề chính sau:

1 Công tác Quy hoạch đô thị: Trung Quốc đặc biệt coi trọng công tác Quy hoạch đô thị (năm 1990 đã ban hành Luật Quy hoạch đô thị) Quy hoạch đô thị được duyệt đã trở thành văn bản pháp luật để quản lý quá trình quy hoạch xây dựng

và phát triển đô thị; Quy hoạch được duyệt được đặt trong bảo tàng riêng tại trung tâm của thành phố, công bố công khai để nhân dân tiện theo dõi quản lý, giám sát

2 Quy hoạch sinh thái đô thị Trung Quốc: Việc quy hoạch sinh thái đô thị được nghiên cứu trong đồ án quy hoạch các đô thị Hiện nay Trung Quốc đang thực hiện thí điểm triển khai việc lập Quy hoạch sinh thái đô thị tại Thượng Hải và

Trang 33

một số thành phố lớn khác Mục đích: Đưa Quy hoạch sinh thái đô thị thành pháp luật, đảm bảo phát triển đô thị, hạn chế việc sử dụng tài nguyên đất đai, giới hạn việc tăng đất xây dựng, giảm khí các bô níc, cải tạo đất đai và tăng đất cây xanh theo các giai đoạn quy hoạch phát triển, đảm bảo an toàn sinh thái, bảo vệ các nguồn nước, bảo vệ các dòng chảy tự nhiên, phát triển đô thị bền vững Quy hoạch sinh thái các đô thị Trung Quốc đều lấy hành lang các sông, kênh nước, dọc các trục đường lớn, các công viên, vườn hoa lớn, các hồ nước, các vùng đất nông nghiệp làm chủ đạo; kết hợp với các vườn hoa cây xanh các khu ở tạo thành hệ thống sinh thái đô thị Tiến tới thống nhất, nối tiếp và lồng ghép 3 quy hoạch: Quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch quản lý đất đai, quy hoạch sinh thái đô thị thành một quy hoạch thống nhất

3 Công tác Quy hoạch - xây dựng các Dự án trọng điểm: Trong mỗi thành phố, mỗi khu vực, Trung Quốc coi trọng việc nghiên cứu lựa chọn, hoạch định, quy hoạch, xây dựng, các cơ chế chính sách tập trung các nguồn lực đầu tư xây dựng các Đặc khu kinh tế, các khu khai phát, các khu công nghiệp, các cảng biển nước sâu, các khu trung tâm thương mại lớn, các đầu mối giao thông tổng hợp, công trình trọng điểm… để phát huy lợi thế so sánh, coi đây là những đầu tàu, tạo động lực, tạo đà thúc đẩy phát triển thành phố, phát triển các vùng lân cận và khu vực chậm phát triển…

4 Quy hoạch và bảo vệ các di tích lịch sử: Trung Quốc có hệ thống các di tích lịch sử văn hóa phong phú, đặc sắc Trong quy hoạch phát triển mỗi đô thị đều coi đây là một nguồn tài nguyên đặc biệt, phải được bảo vệ khai thác và phát huy giá trị, tạo thành một nguồn lực thúc đẩy phát triển du lịch, thương mại, phát triển kinh tế… Đây là giá trị khác biệt cơ bản giữa các đô thị, giữa các vùng miền; góp phần thúc đẩy quá trình đô thị hóa, giữ gìn bản sắc văn hóa

5 Quy hoạch xây dựng, phát triển nhà ở đô thị Trung Quốc: Trung Quốc đã thực hiện nhiều cuộc cải cách về nhà ở đô thị, bằng nhiều hình thức, thực hiện thí điểm rồi nhân diện rộng… thông qua việc vận hành tốt thị trường tài chính, thị trường đất đai, thị trường nhà ở, giải quyết nhà ở xã hội, đa dạng hóa loại hình nhà

ở, huy động nhiều nguồn vốn, giải quyết tốt việc giải phóng mặt bằng, xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật - xã hội cho các khu ở

Trang 34

6 Quy hoạch xây dựng, quản lý hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị: Trung Quốc quy hoạch, đầu tư xây dựng đồng bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị (giao thông, cấp điện, cấp nước, thoát nước, xử lý nước thải - rác thải và môi trường…), đặc biệt tại các thành phố phát triển phía Đông Nam; coi giao thông là lĩnh vực đột phá để phát triển

7 Các lĩnh vực hỗ trợ công tác quy hoạch, quản lý đô thị: Trung Quốc coi trọng chính sách mở cửa, tăng cường quan hệ hợp tác giao lưu văn hóa quốc tế, nhất

là đối với các nước láng giềng, lân cận như Việt Nam, Philippines, Singapore… coi đây là điều kiện để giữ vững ổn định và thúc đẩy phát triển KT-XH, phát triển các

đô thị cửa khẩu vùng biên giới và khu vực; nhằm khai thác phát huy lợi thế và hạn chế những tồn tại ở các vùng biên giới

1.2.2 Kinh nghiệm quản lý Nhà nước về quy hoạch và phát triển đô thị của một

số thành phố trong nước

1.2.2.1 Kinh nghiệm của thành phố Bắc Ninh

Việt Nam là nước đang phát triển có tốc độ đô thị hóa nhanh, công tác quy hoạch và quản lý phát triển đô thị còn nhiều bất cập Tại các đô thị lớn, tình trạng

ùn tắc giao thông đang trở nên phức tạp; quản lý các hạ tầng đô thị như cấp, thoát nước, thu gom xử lý rác thải và nước thải… gặp nhiều khó khăn; các dịch vụ công cộng như y tế, văn hóa, giáo dục… đều quá tải; ô nhiễm môi trường, mất an ninh trật tự, thủ tục hành chính rườm rà và nhiều rào cản đã làm cản trở sự phát triển kinh tế Tại các đô thị nhỏ, việc phát triển dàn trải, thiếu các động lực phát triển rõ ràng khiến kinh tế đô thị phát triển chậm chạp; các lĩnh vực quản lý môi trường, hạ tầng ít được quan tâm đầu tư, về lâu dài sẽ phát sinh những vấn đề khó giải quyết Trong khi đó Việt Nam là nước được cho là có hạ tầng công nghệ thông tin cập nhật tốt ở châu Á; người Việt Nam nhanh nhạy, có kiến thức và rất có hứng thú đối với các công nghệ mới; chính phủ Việt Nam đang thể hiện mong muốn và quyết tâm phát triển đất nước bền vững, thịnh vượng, văn minh và phát triển đô thị thông minh đang là giải pháp chính phủ lựa chọn hướng tới để thực hiện các mục tiêu đề ra Vì vậy, việc phát triển đô thị thông minh tại Việt Nam là khả thi, đây không phải là trào lưu mà chính là giải pháp đi tắt đón đầu để giải quyết các vấn đề của đô thị hiện nay, là sự đầu tư cần thiết cho phát triển bền vững trong tương lai

Trang 35

Cấu trúc đô thị thành phố Bắc Ninh được định hướng là “Chùm đô thị hướng tâm, nhất thể hóa đô thị nông thôn”, gồm đô thị trung tâm Bắc Ninh, đô thị vệ tinh -

xã Thuận Thành, cùng 2 vùng dân cư nông thôn là Gia Bình, Lương Tài

Cấu trúc không gian được kết hợp giữ cấu trúc mạng hướng tâm và cấu trúc hành lang phát triển Quy hoạch Bắc Ninh sẽ hình thành 5 trục phát triển

Thứ nhất là trúc phát triển đô thị, dịch vụ dọc QL1, nối Từ Sơn - Tiên Sơn -

Bắc Ninh, kết hợp với trục phát triển đô thị Hà Nội - Bắc Ninh - Bắc Giang

Thứ hai là trục phát triển đô thị công nghiệp dọc QL18, nối Yên Phong - Bắc

Ninh - Quế Võ, xây dựng các đô thị công nghiệp hoàn chỉnh, bổ sung cơ sở hạ tầng xây dựng, dịch vụ phục vụ phát triển công nghiệp

Thứ ba là trục phát triển đô thị, dịch vụ dọc QL38, vành đai 04, TP Bắc

Ninh, Thuận Thành Thứ tư là trục phát triển đô thị, dịch vụ dọc hành lang sông Đuống Thứ năm là trục phát triển đô thị, công nghiệp và nông nghiệp sinh thái công nghệ cao dọc QL17, nối Quế Võ - Gia Bình - Thuận Thành

Đặc biệt, Bắc Ninh phát triển vành đai xanh “Du lịch, văn hóa và sinh thái” sông Đuống, trong đó sông Đuống làm trung tâm Cụm di tích Thuận Thành, Phật tích, Gia Bình làm hạt nhân với các chức năng vành đai xanh, cân bằng sinh thái, vùng cảnh quan, hành lang kết nối 2 khu vực Bắc và Nam sông Đuống

Đô thị Bắc Ninh sẽ phát triển theo 3 hành lang tạo thành tam giác phát triển

đô thị, trọng tâm của tam giác phát triển là khu vực Phật tích, các cực Bắc Ninh, Từ Sơn, Tiên Du, Nam Sơn là trọng điểm trong phát triển đô thị Hành lang đô thị kết nối 3 phân khu đô thị Bắc Ninh - Tiên Du - Từ Sơn và liên kết giữa khu đô thị Bắc Ninh với Hà Nội

1.2.2.2 Kinh nghiệm của thành phố Hà Nội

a Kinh nghiệm của quận Bắc Từ Liêm hướng tới đô thị sạch - xanh - hiện đại

Sau hơn một năm từ thành phố trở thành quận, bộ mặt một đô thị sạch - xanh

- hiện đại đang dần hiện hữu trên địa bàn Bắc Từ Liêm Các lĩnh vực trật tự an toàn giao thông, văn minh đô thị, vệ sinh môi trường được bảo đảm, có sự chuyển biến tích cực, rõ nét

Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính, quận Bắc Từ Liêm có quy mô diện tích và dân số lớn (hơn bốn nghìn ha đất và hơn 320 nghìn người), trong khi đó, hệ

Trang 36

thống hạ tầng khung, nhất là hệ thống giao thông chưa phát triển, diện tích đất nông nghiệp và quy hoạch đô thị xanh chiếm khoảng 1/4 diện tích của quận Từ chín xã nay chuyển thành 13 phường, công việc bộn bề, công tác quản lý và đầu tư cơ sở hạ tầng theo quy chuẩn đô thị thật sự là thử thách đầy gian nan đối với cán bộ, nhân dân Bắc Từ Liêm

Phó Chủ tịch UBND quận Bắc Từ Liên Nguyễn Kim Vinh chia sẻ, ngay sau khi đi vào hoạt động, Quận ủy Bắc Từ Liêm đã ban hành Chỉ thị 01-CT/QU về lãnh đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ chủ yếu năm 2014, trong đó có việc bảo đảm an ninh trật tự, an toàn giao thông, văn minh đô thị, vệ sinh môi trường và giao UBND quận xây dựng kế hoạch tiếp tục thực hiện Năm trật tự và văn minh đô thị trên địa bàn Kế thừa những kinh nghiệm của Thành phố Từ Liêm (cũ), quận tiếp tục duy trì

Tổ công tác liên ngành giúp UBND quận Bắc Từ Liêm đôn đốc cơ sở quản lý trật tự

đô thị Hàng tuần, Tổ công tác giao ban với các phường, kiểm điểm những việc đã thực hiện, những hạn chế và chỉ rõ những việc cần làm trong tuần tiếp theo 13 phường trong quận đều xây dựng kế hoạch thực hiện Năm trật tự và văn minh đô thị, đăng ký thực hiện các tuyến đường văn minh đô thị, có tiêu chí cụ thể cho từng tuyến, phân công nhiệm vụ đến từng cán bộ phụ trách Quận tổ chức xét công nhận tiêu chí "Phường đạt chuẩn văn minh đô thị" và chấm điểm cuộc thi "Tuyến đường xanh, sạch, đẹp", đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, tổ chức cho các hộ kinh doanh ký cam kết thực hiện nếp sống văn minh đô thị, không lấn chiếm lòng đường, hè đường, để xe đúng vị trí quy định

Kết quả, ngay trong năm 2014 đã có 40 tuyến đường với tổng chiều dài hơn

29 km được đăng ký thực hiện tuyến đường, tuyến phố văn minh đô thị 704 tuyến ngõ với chiều dài 144,067 km được lắp hệ thống điện chiếu sáng Tại một số tuyến đường chính như Cầu Diễn, Hồ Tùng Mậu, Phạm Văn Đồng, Trần Cung, tình trạng tắc đường, xe quá khổ, quá tải, chở vật liệu lưu thông giờ tan tầm, dừng đỗ xe không đúng nơi quy định, mái che, mái vẩy, biển quảng cáo lô nhô từng bước được khắc phục

Tính riêng sáu tháng đầu năm nay, quận đã tổ chức hàng chục đợt ra quân giải tỏa xử lý các vi phạm về trật tự an toàn giao thông, trật tự đô thị, nhất là tại các

Trang 37

tuyến đường chính như đường Đặng Thùy Trâm, Phạm Tuấn Tài (phường Cổ Nhuế 1), khu vực ngã ba Trường đại học Mỏ - đường Cổ Nhuế (phường Cổ Nhuế 2), đường Lê Văn Hiến (phường Đức Thắng), đường Võ Quý Huân (phường Phúc Diễn)… Các lực lượng chức năng đã tạm giữ, thu giữ hơn một nghìn biển hiệu, biển quảng cáo; hơn 200 lều bạt và tháo dỡ hơn 300 mái che, mái vẩy, bục bệ sai quy định; bóc xóa 1.123 quảng cáo rao vặt Hơn 6.000 trường hợp vi phạm trật tự an toàn giao thông, trật tự đô thị đã bị xử lý, phạt hơn hai tỷ đồng Đáng chú ý, quận đã

xử lý 65% số trường hợp vi phạm quản lý đất đai, trật tự xây dựng, số còn lại đang trong quá trình xử lý, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý trong lĩnh vực vốn khó khăn, phức tạp, nhất là tại địa bàn từ Thành phố thành quận như Bắc Từ Liêm

Đến Bắc Từ Liêm những ngày này, có thể thấy rõ những nét đổi thay rất cơ bản trong công tác quản lý trật tự đô thị Không còn chợ cóc họp dưới lòng đường, không còn mái che, mái vẩy lô xô và vỉa hè không còn hàng quán lấn chiếm, thay vào đó là những vạch vôi trắng phân định lối đi cho người đi bộ, chỗ để xe đạp, xe máy Không chỉ người ở xa đến mà chính người dân nơi đây cũng ghi nhận những đổi thay tích cực trên quê hương mình

Từ khi chuyển thành quận, việc thu gom rác thải được thực hiện trong ngày đến tận các ngõ, thay vì chỉ làm ở những tuyến đường chính như trước đây Hệ thống điện, đường cũng được đầu tư, nâng cấp, ngõ phố khang trang, sạch đẹp người dân rất phấn khởi

Sau hơn một năm, với nỗ lực của cả hệ thống chính trị cùng sự đồng thuận, hưởng ứng của người dân, bộ mặt đô thị của quận Bắc Từ Liêm có nhiều đổi thay tích cực Tất cả đang tạo tiền đề để Bắc Từ Liêm sớm trở thành đô thị sạch - xanh - hiện đại, dù phía trước còn không ít công việc phải làm

b Kinh nghiệm quản lý quy hoạch đô thị của quận Long Biên

Quận Long biên được TP Hà Nội đánh giá là giai đoạn có những thay đổi tích cực và rõ nét, công tác đầu tư xây dựng theo quy hoạch, chỉnh trang đô thị có nhiều chuyển biến rõ rệt, các công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội được quan tâm đầu tư phát triển với sự hình thành ngày càng nhiều các trục đường giao thông, các trường học, trạm y tế, cấp nước, thoát nước, chiếu sáng, công viên, cây xanh, hồ điều hòa…

Trang 38

Quận Long Biên nằm ở cửa ngõ phía Đông Bắc của Thủ đô, là đầu mối giao thông quan trọng trong trục tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh Long Biên xác định công tác quản lý đô thị là nhiệm vụ quan trọng và có vai trò to lớn để quận trở thành đô thị văn minh, hiện đại

Công tác quản lý trật tự xây dựng cũng có nhiều chuyển biến tích cực Việc thực hiện quy chế dân chủ đã góp phần nâng cao trật tự xây dựng ở cơ sở, giấy phép xây dựng được niêm yết công khai, việc giám sát trật tự xây dựng đã huy động được

cả hệ thống chính trị và nhân dân tham gia

Quận trở thành một trong những đơn vị dẫn đầu về số lượng công trình được cấp phép xây dựng và tỷ lệ công trình có phép cao Năm 2011, tỷ lệ công trình xây dựng có phép của quận là 97%, đến năm 2015 tỷ lệ công trình xây dựng có phép là 99,5%

Hướng tới mục tiêu trở thành đô thị trung tâm phía Bắc Thủ đô phát triển bền vững, đồng bộ, hiện đại, trên địa bàn quận, các dự án lớn đồng loạt được triển khai,

hạ tầng đô thị cơ bản được hoàn thiện và khớp nối Bên cạnh đó, một số dự án hạ tầng kỹ thuật của Trung ương, Thành phố sẽ được hoàn thành như: Nút giao cầu Thanh Trì, dự án đường sắt trên cao, dự án mở rộng cầu Vĩnh Tuy…

Các khu đô thị tiếp tục được đẩy nhanh tiến độ, thu hút các doanh nghiệp đầu

tư các dự án quy mô lớn như: Khu đô thị sinh thái Sài Đồng rộng 96 ha, công viên công nghệ thông tin, khu đô thị Him Lam tại phường Long Biên, Thạch Bàn, Cự Khối; khu phụ trợ công nghiệp Hanel 37 ha; chuẩn bị đưa vào hoạt động Trung tâm thương mại Nhật Bản Aeon Mall tại phường Long Biên

Trong thời gian tới, quận Long Biên sẽ áp dụng mô hình khoán quản trật tự

đô thị với các tuyến phố, tuyến đường, đổi mới mô hình hoạt động và nâng cao chất lượng của lực lượng bảo vệ dân phố tham gia công tác quản lý trật tự đô thị

Hiện nay, quận Long Biên đang nghiên cứu xây dựng quy chế quản lý đô thị, quản lý quy hoạch kiến trúc quận, thiết kế đô thị phù hợp với các quy định hiện hành của Nhà nước nhằm nâng cao vai trò của cộng đồng trong công tác quy hoạch, khuyến khích và phát huy vai trò cộng đồng trong xây dựng, giám sát công tác quản

lý đô thị (Chính phủ, 2015)

Qua đó ta thấy UBND quận Long Biên đã sớm định hướng đúng đắn cho sự phát triển hạ tầng kỹ thuật, đưa ra các biện pháp có hiệu quả nhằm đẩy nhanh tiến

Trang 39

trình triển khai các dự án; Sự định hướng đúng đắn đó đã quy hoạch được một quận Long Biên phát triển về mọi mặt từ giao thông, hệ thống hạ tầng kỹ thuật, cảnh quan đô thị dẫn đến phát triển chung cho các ngành như: Công nghiệp, du lịch, thủy sản, xây dựng

1.2.3 Bài học kinh nghiệm rút ra về quản lý nhà nước về quy hoạch và phát triển

đô thị cho thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh

Kinh nghiệm quy hoạch và phát triển đô thị trên thế giới cho thấy không có một định nghĩa chung “thông minh” cho mọi đô thị Mỗi quốc gia, mỗi thành phố khác nhau xây dựng “đô thị thông minh” của mình theo những tiêu chí, những lĩnh vực khác nhau, tùy thuộc quy mô, tính chất đô thị, điều kiện kinh tế, văn hóa - xã hội, mức độ đầu tư mong muốn và các vấn đề đô thị phải đối mặt Tuy những thành công trong phát triển đô thị thông minh mới được ghi nhận ở các nước phát triển nhưng có thể thấy đô thị thông minh không phải là một sản phẩm cụ thể theo một mẫu hình nào đó mà là một khung các định hướng và hành động nhằm áp dụng công nghệ thông minh vào các lĩnh vực để các chức năng của đô thị được quy hoạch

và hoạt động hiệu quả hơn trên quan điểm phát triển đô thị bền vững sẵn có Chính

vì vậy, mọi đô thị đều có thể bắt đầu một tiến trình để trở nên thông minh từ những điều kiện đang có

Bài học kinh nghiệm rút ra cho thành phố Cẩm Phả đó là:

- Áp dụng đồng bộ các giải pháp, cùng với sự vào cuộc tích cực, trách nhiệm của các cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể và các tầng lớp nhân dân trong công tác quản

lý hạ tầng giao thông

- Quản lý thực hiện quy hoạch đô thị theo hướng hiện đại, đồng bộ và bền vững; trên nền quy hoạch đã được duyệt đảm bảo sự khớp nối giữa các vùng, các miền, các khu vực

- Nghiên cứu, kiến nghị những giải pháp có liên quan đến chính sách nhằm thu hút nguồn vốn trong dân, thu hút các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng giao thông

- Tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng đối với công tác quản lý quy hoạch đô thị, xác định 6 nhiệm vụ chủ yếu như: đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục

Trang 40

pháp luật về quản lý trật tự xây dựng, ATGT, trật tự đường hè, vệ sinh môi trường, vận động nhân dân thực hiện nếp sống văn minh lồng ghép với xây dựng tổ dân phố văn hóa, cơ quan, gia đình văn hóa

- Đẩy mạnh tuyên truyền, vận động và tổ chức kiểm tra, giám sát Thành phố Cẩm Phả tổ chức cho các hộ kinh doanh ký cam kết và có chế tài xử lý cụ thể, đồng thời giám sát việc chấp hành quy định của các hộ kinh doanh Bên cạnh đó, Thành phố Cẩm Phả cũng thấy rằng, để tạo được sự đồng thuận của người dân thì cần phải sắp xếp lại kinh doanh, nhằm đáp ứng nhu cầu giải quyết việc làm, đời sống của rất nhiều hộ dân trên địa bàn

- Tăng cường công tác xử lý, thường xuyên ra quân mở các đợt cao điểm kiểm tra xử lý các vi phạm trật tự xây dựng, an toàn giao thông, trật tự đường phố,

vệ sinh môi trường, đô thị, xây dựng văn hoá giao thông

Ngày đăng: 04/12/2019, 14:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w