1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng và giải pháp nhằm chuyển dịch cơ cấu cây trồng trên địa bàn thị trấn phố bảng, huyện đồng văn, tỉnh hà giang

69 47 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để giải quyết những vấn đề này thì thực hiện chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nói chung và cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp nói riêng có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với nước ta trong

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

Khóa học: 2014 – 2018

Thái Nguyên, năm 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Văn Tâm

Thái Nguyên, năm 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian thực tập tốt nghiệp vừa qua, để hoàn thành được khóa luận tốt nghiệp, ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ của các tập thể, các cá nhân trong và ngoài trường

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy giáo, cô giáo Khoa Kinh tế & Phát triển nông thôn – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo TS Nguyễn Văn Tâm đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực tập tốt nghiệp

Qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các đồng chí cán bộ UBND thị trấn Phố Bảng, cùng nhân dân trong trấn đã giúp đỡ tôi nhiệt tình trong thời gian tôi thực tập tại địa phương

Trong quá trình thực tập mặc dù bản thân đã hết sức cố gắng nhưng do thời gian có hạn, trình độ bản thân còn hạn chế và bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu nên bản khóa luận này không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự quan tâm đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và bạn bè để bản khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên,30 tháng 5 năm 2018

Sinh viên

LÝ THỊ PHÂN

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

Bảng 4.1: Tình hình sử dụng đất đai của thị trấn Phố Bảng 26 Bảng 4.2 Cơ cấu diện tích các loại cây trồng chủ yếu tại địa phương 34 Bảng 4.3 Năng suất một số cây trồng chủ yếu tại địa phương qua 3

năm 2015- 2017 37 Bảng 4.4 Cơ cấu giá trị sản xuất một số cây trồng chính của địa phương qua

3 năm 2015- 2017 40 Bảng 4.5 Cơ cấu diện tích gieo trồng theo mùa vụ của địa phương qua 3 năm 2015- 2017 43 Bảng 4.6 Cơ cấu giống lúa của địa phương năm 2017 45 Bảng 4.7 Cơ cấu giống của một số cây trồng hàng năm của địa phương 46 Bảng 4.8 Một số công thức luân canh trên đất lúa của địa phương qua 3 năm

2015 - 2017 48 Bảng 4.9 Hiệu quả kinh tế của một số công thức luân canh 49

Trang 5

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT

1 AN- QP An ninh- quốc phòng

2 CN-TTCN-XD Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp - Xây dựng

3 CNH-HĐH Công nghiệp hóa – hiện đại hóa

5 GĐVH Gia đình văn hóa

7 HĐND Hội đồng nhân dân

8 KT&PTNT Kinh tế và phát triển nông thôn

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của để tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Ý nghĩa của đề tài 2

1.3.1 Ý nghĩa học tập 2

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2

Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3

2.1 Cơ sở lý luận về đề tài 3

2.1.1 Các khái niệm cơ bản 3

2.1.2 Các quan điểm về chuyển dịch cơ cấu cây trồng 5

2.1.3 Ý nghĩa của việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng 8

2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 9

2.2.1 Quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng trên thế giới 9

2.2.2 Quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng tại Việt Nam 10

2.2.3 Quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng của Tỉnh Hà Giang 14

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 20

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 20

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 20

3.2 Địa điểm, thời gian và nội dung nghiên cứu 20

3.2.1 Địa điểm 20

Trang 7

3.2.2 Thời gian 20

3.2.3 Nội dung nghiên cứu 20

3.3 Phương pháp nghiên cứu 21

3.3.1 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp 21

3.3.2.1 Phương pháp chọn mẫu 21

3.3.3.2 Phương pháp thu thập số liệu 22

Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 24

4.1 Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu 24

4.1.1 Điều kiện tư nhiên 24

4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 27

4.2 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu cây trồng của địa phương qua 3 năm 2015 – 2017 33

4.2.1 Cơ cấu diện tích các cây trồng chủ yếu tại địa phương qua 3 năm 2015 – 2017 33

4.2.2 Năng suất một số cây trồng chủ yếu tại địa phương qua 3 năm 2015 – 2017 36 4.2.3 Giá trị sản xuất của một số cây trồng chính ở địa phương qua 3 năm 2015- 2017 39

4.2.4 Cơ cấu diện tích gieo trồng theo mùa vụ tại địa phương 42

4.2.5 Cơ cấu giống một số cây trồng chính của địa phương năm 2017 45

4.3.4.1 Cơ cấu giống lúa của địa phương năm 2017 45

4.2.6 Một số công thức luân canh trên đất lúa 47

4.2.7 So sánh hiệu quả kinh tế của 1 số công thức luân canh 49

4.3 Những thuận lợi và khó khăn của thị trấn Phố Bảng trong việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng 50

4.4 Một số giải pháp đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng 52

4.4.1 Giải pháp về khoa học kỹ thuật 52

4.4.2 Giải pháp về các công tác chỉ đạo 52

4.4.3 Quy hoạch vùng sản xuất 53

4.4.4 Giải pháp về tổ chức 54

Trang 8

4.4.5 Giải pháp về đất đai 54

Phấn 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 55

5.1 Kết luận 55

5.2 Kiến nghị 56

TÀI LIỆU THAM KHẢO 57

Trang 9

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của để tài

Việt Nam là một nước nông nghiệp với điểm xuất phát thấp Nông nghiệp chưa đáp ứng nhu cầu cải thiện đời sống nhân dân, chưa cung cấp đủ nguyên liệu cho công nghiệp hàng hoá và xuất khẩu, chưa tạo được động lực thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn Để giải quyết những vấn đề này thì thực hiện chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nói chung và

cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp nói riêng có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với nước ta trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước

Chuyển dịch cơ cấu cây trồng nhằm phát huy mọi tiềm năng sản xuất của mỗi vùng hướng tới sản xuất chuyên môn hóa phát triển nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá lớn, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập và cải thiện mức sống cho người nông dân Do đó, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp trên phạm vi cả nước cũng như với từng địa phương

là rất cần thiết

Thị trấn Phố Bảng là thị trấn biên giới của huyện Đồng Văn, với tổng diện tích tự nhiên 1.167,13ha, là nơi có nhiều tiềm năng đất đai nông-lâm nghiệp Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên toàn tỉnh đã đạt được nhiều thành tựu và chuyển biến tích cực Phố Bảng có nhiều tiềm năng thuận lợi cho quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng, phát triển nông nghiệp Tuy nhiên cơ cấu sản xuất nông nghiệp còn chuyển đổi chậm trong khi nhiều tiềm năng của vùng chưa được khai thác hết Từ thực tiễn trên trong thời gian thực tập tại

địa phương tôi đã chọn nghiên cứu đề tài:"Thực trạng và giải pháp nhằm chuyển dịch cơ cấu cây trồng trên địa bàn Thị trấn Phố Bảng, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang”

Trang 10

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

có kinh nghiệm và người dân địa phương

- Quá trình thực hiện đề tài thực tập sẽ nâng cao năng lực cũng như rèn luyện kỹ năng, phương pháp nghiên cứu khoa học cho bản thân mỗi sinh viên

- Đề tài cũng được coi là một tài liệu tham khảo cho Trường, Khoa, các

cơ quan trong ngành và sinh viên các khóa tiếp theo

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả của đề tài là cơ sở để các nhà quản lý, các cấp lãnh đạo địa phương đưa ra những giải pháp phù hợp nhằm chuyển dịch cơ cấu cây trồng hợp lý, hiệu quả để nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống của người dân tại Thị trấn nói riêng và người dân nông thôn nói chung

Trang 11

Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý luận về đề tài

2.1.1 Các khái niệm cơ bản

2.1.1.1 Khái niệm về cơ cấu cây trồng

Cơ cấu cây trồng là thành phần các giống và các loại cây được bố trí theo không gian và thời gian trước một hệ sinh thái nông nghiệp nhằm tận dụng hợp lý nhất các nguồn lực về tự nhiên kinh tế xã hội sẵn có của vùng

Cơ cấu cây trồng là một biện pháp kinh tế và kỹ thuật tổng hợp nhằm đẩy mạnh sự phát triển của sản xuất nông nghiệp, thể hiện cụ thể của phương hướng sản xuất về mặt trồng trọt Cơ cấu cây trồng cũng quyết định sự phát triển của ngành chăn nuôi và các ngành phụ khác của nông nghiệp Sự chuyên môn hoá, tập trung sản xuất phải được phản ánh cụ thể trong cơ cấu cây trồng

Cơ cấu cây trồng cũng là kết quả của quy hoạch sử dụng ruộng đất và quan trọng nhất là sử dụng ruộng đất nào để trồng cây gì thì có hiệu quả kinh tế cao nhất Ngoài ra cơ cấu cây trồng còn có quan hệ chặt chẽ với việc đầu tư vốn và sử dụng lao động, tuỳ cơ cấu cây trồng mà mức độ đầu tư vốn và lao động vào ruộng đất sẽ thay đổi Cũng như cơ cấu cây trồng có quyết định độ màu mỡ của đất đai, bảo vệ môi trường sinh thái có khả năng làm giảm sự phát triển của sâu bệnh hại cây trồng Đặc biệt cơ cấu cây trồng làm giảm tính thời vụ trong sản xuất nông nghiệp, tăng thu nhập trên một đơn vị diện tích gieo trồng

2.1.1.2 Khái niệm về cơ cấu cây trồng hợp lý

Cơ cấu cây trồng hợp lý là cơ cấu cây trồng phù hợp với phương thức sản xuất của từng vùng hay đơn vị sản xuất nông nghiệp Đáp ứng được yêu cầu của đơn vị sản xuất của người lao động, khai thác hết tiềm năng về tự nhiên kinh tế xã hội và lợi thế sẵn có của vùng Để nâng cao năng suất lao động, năng suất cây trồng, tăng thu nhập trên một đơn vị diện tích Nâng cao

Trang 12

hiệu quả sử dụng đất đai cho thu nhập lớn, góp phần nâng cao đời sống vật chất cũng như tinh thần của người dân

Cơ cấu cây trồng hợp lý còn là sự thể hiện tính hiệu quả của mỗi quan

hệ giữa các cây trồng được bố trí trên đồng ruộng Thể hiện mỗi quan hệ tương hỗ trợ nhau cùng nhau phát triển, sinh trưởng bằng cách tạo ra môi trường thuận lợi về sinh dưỡng ánh sáng cho nhau Làm cơ sở cho nông nghiệp phát triển một cách mạnh mẽ toàn diện vững chắc theo hướng thâm canh không ngừng nâng cao hiệu suất lao động và bảo vệ môi trường sinh thái [3]

2.1.1.3 Khái niệm về chuyển dịch cơ cấu cây trồng

Chuyển dịch cơ cấu cây trồng là sự thay đổi về tỷ lệ phần trăm diện tích gieo trồng, giá trị sản lượng của nhóm cây trồng trong tổng thể ngành trồng trọt về từng loại cây trồng trong nhóm cây trồng chịu sự thay đổi của các yếu tố tự nhiên, kinh tế xã hội và thị trường Nó là một quá trình thực hiện bước chuyển dịch từ hiện trạng của một cơ cấu cây trồng cũ sang một cơ cấu cây trồng mới, nhằm đáp ứng những yêu cầu chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn [5]

Chuyển dịch cơ cấu cây trồng là sự thay đổi tỷ lệ từng loại cây trồng trên một đơn vị diện tích đất canh tác Là việc đưa vào ngành sản xuất trồng trọt những loại cây có năng suất, chất lượng, giá trị cao để thay thế cho những cây trồng, giống cây trồng cũ có năng suất, chất lượng, giá trị thấp hơn để đạt được hiệu quả kinh tế cao hơn trong sản suất nông nghiệp, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển theo hướng phù hợp với nhu cầu thị trường [4]

Chuyển dịch cơ cấu cây trồng thực chất là phá thế độc canh trong nông thôn để hình thành một cơ cấu cây trồng mới phù hợp với điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội, khí hậu, sinh thái của vùng đồng thời đạt hiệu quả kinh tế cao dựa vào những đặc tính sinh học của từng loại cây trồng Đây chính là quá trình tổng hợp lại các công thức luân canh các thành phần giống cây trồng và các cây trồng, đảm bảo các thành phần trong cơ cấu có mỗi quan hệ tương tác

Trang 13

với nhau, thúc đẩy lẫn nhau nhằm khai thác tốt nhất các nguồn lực sẵn có về điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của địa phương để nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp bảo vệ môi trường sinh thái [3]

2.1.2 Các quan điểm về chuyển dịch cơ cấu cây trồng

2.1.2.1 Quan điểm phát triển sản xuất hàng hóa

Sản xuất nông sản hàng hoá là một yếu tố khách quan của nền kinh tế thị trường Nó là sự thể hiện của lực lượng sản xuất tiến bộ Sản xuất hàng hoá phát sinh là do lực lượng sản xuất phát triển và có liên quan đến sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất Sản xuất hàng hoá gắn liền với thị trường và có sự điều tiết vĩ mô của nhà nước, vì thị trường là nơi tiêu thụ của hàng hoá, trao đổi và giao lưu hàng hoá chỉ có thị trường mới phản ánh được giá trị hàng hoá Nhà nước sẽ điều chỉnh cung cầu của thị trường thông qua các chính sách thuế khoán, tài chính, tiền tệ Trong quá trình tái sản xuất bao gồm bốn khâu: Sản xuất, phân phối, lưu thông, tiêu thụ (theo Paul A Samelson, kinh tế học 1989, dịch ra tiếng việt) Mọi nền sản xuất đều sản xuất đều giải quyết ba vấn đề cơ bản là: Sản xuất cái gì với tổng lượng bao nhiêu? Sản xuất như thế nào bằng những công nghệ và tài nguyên nào? Hàng hoá được sản xuất cho ai? Tất cả đều phải gắn chặt với thị trường Nông nghiệp nói chung và cơ cấu cây trồng nói riêng cũng là ngành sản xuất vật chất và nó cũng không thể dừng lại ở một khâu nào trong bốn khâu trên, mà nó là một chuỗi liên tục chi phối trong mỗi quan hệ tương tác lẫn nhau theo hướng hoàn thiện trong từng hoàn cảnh cụ thể, theo sự thay đổi của thị trường Quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng từ tự cung tự cấp theo hướng sản xuất hàng hoá cũng là một yếu

tố khách quan đối với sự phát triển của nền kinh tế nông nghiệp hiện đại Trong điều kiện nước ta hiện nay thì thị trường có tác động mạnh mẽ vào sản xuất nông nghiệp Đòi hỏi sản xuất nông nghiệp phải đa dạng hoá sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm đáp ứng được nhu cầu thị trường ở mọi lúc, mọi nơi Do vậy, vấn đề hiệu quả kinh tế của cơ cấu cây trồng phải

Trang 14

gắn liền với việc nghiên cứu thị trường và chỉ có thông qua thị trường mới đánh giá được hiệu quả của nó Vì vậy cần phải nhận thức đầy đủ về quan hệ cung cầu để hành động phù hợp với các quy luật của nó [8]

2.1.2.2 Quan điểm phát triển hàng hóa xuất khẩu

Muốn phát triển nền kinh tế toàn diện và vững chắc thì cần phải có sự giao lưu trao đổi hàng hoá trên thị trường trong và ngoài nước Bởi vì việc giao lưu mở rộng mối quan hệ với các nước trên thế giới là rất cần thiết và quan trọng trong việc tăng cường vốn, khoa học kỹ thuật trang thiết bị máy móc hiện đại vào sản xuất để khai thác những tiềm năng của mỗi vùng mỗi quốc gia Mỗi vùng mỗi quốc gia chuyên môn hoá cần chú trọng tăng cường một hay một số hàng hoá nông sản có giá trị kinh tế cao phù hợp với điều kiện

tự nhiên khí hậu, đất đai của vùng

Thực tế trong những năm vừa qua, cùng với quá trình công nghiệp hoá

đô thị hoá, thị trường hoá, sản xuất trong các ngành ở các nước đều có sự phát triển, thoả mãn ngày càng đầy đủ hơn nhu cầu của con người Song mục đích cuối cùng của mọi hoạt động sản xuất đều là tối đa hoá lợi nhuận Trong hoạt động sản xuất nông nghiệp thì vấn đề chuyển dịch cơ cấu cây trồng cũng không nằm ngoài mục đích đó Do chạy theo lợi nhuận trước mắt mà các hộ nông dân, các chủ thể sử dụng đất nông nghiệp có những hoạt động sản xuất

đã vắt kiệt sức sản xuất của đất đai, khai thác cạn kiệt các nguồn tài nguyên đất nước Tối thiểu chi phí và tối đa hoá lợi nhuận dẫn đến hiện tượng thoái hoá đất, bạc màu đất, tính chất vật lý, hoá học của đất cũng thay đổi Vấn đề đặt ra ở đây là chuyển dịch cơ cấu cây trồng muốn đạt được hiểu quả kinh tế cao và bề vững thì đòi hỏi các hộ nông dân, các nhà sản suất phải nắm được các đặc tính sinh học, khả năng chống chịu với điệu kiện ngoại cảnh của cây trồng Để có những biện pháp tác động đúng và thích hợp nhằm cải tạo đất và làm sạch môi trường sinh thái [5]

Trang 15

2.1.2.3 Quan điểm chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng nông nghiệp bền vững

Như chúng ta đã biết nông nghiệp có vai trò quan trọng trong nền kinh

tế nước ta và có ý nghĩa quyết định ở giai đoạn đầu của sự phát triển kinh tế Một nền nông nghiệp phát triển mới tạo tiền đề vững chắc cho sự nghiệp CNH-HĐH đất nước Do vậy để chương trình xoá đói giảm nghèo có hiệu quả thì cần phải quan tâm tới sản xuất nông nghiệp nhất là vẫn đề an toàn lương thực, không chỉ đơn thuần là về mặt số lượng mà nó còn bao gồm cả chất lượng Chính điều này đã thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng trong

cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn được chú ý và phát triển, tạo cho nông nghiệp phát triển bền vững [7]

2.1.2.4 Quan điểm bảo vệ môi trường sinh thái

Thực tế trong những năm vừa qua, cùng với quá trình công nghiệp hoá

đô thị hoá, thị trường hoá, sản xuất trong các ngành ở các nước đều có sự phát triển, thoả mãn ngày càng đầy đủ hơn nhu cầu của con người Song mục đích cuối cùng của mọi hoạt động sản xuất đều là tối đa hoá lợi nhuận Trong hoạt động sản xuất nông nghiệp thì vấn đề chuyển dịch cơ cấu cây trồng cũng không nằm ngoài mục đích đó Do chạy theo lợi nhuận trước mắt mà các hộ nông dân, các chủ thể sử dụng đất nông nghiệp có những hoạt động sản xuất

đã vắt kiệt sức sản xuất của đất đai, khai thác cạn kiệt các nguồn tài nguyên đất nước Tối thiểu chi phí và tối đa hoá lợi nhuận dẫn đến hiện tượng thoái hoá đất, bạc màu đất, tính chất vật lý, hoá học của đất cũng thay đổi Vấn đề đặt ra ở đây là chuyển dịch cơ cấu cây trồng muốn đạt được hiểu quả kinh tế cao và bền vững thì đòi hỏi các hộ nông dân, các nhà sản suất phải nắm được các đặc tính sinh học, khả năng chống chịu với điệu kiện ngoại cảnh của cây trồng Để có những biện pháp tác động đúng và thích hợp nhằm cải tạo đất và làm sạch môi trường sinh thái [7]

Trang 16

2.1.3 Ý nghĩa của việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng

Ở bất cứ nước nào dù giàu hay nghèo, nông nghiệp đều chiếm vị trí quan trọng Nông nghiệp là ngành sản xuất chủ yếu của nền kinh tế cung cấp những sản phẩm cần thiết phục vụ cho đời sống con người tồn tại và phát triển

Trong sản xuất nông nghiệp nước ta trồng trọt là ngành sản xuất chủ yếu, sản xuất ra lương thực, thực phẩm Sản xuất lương thực tăng nhanh bình quân mỗi năm tăng lên trên 1,3 triệu tấn Nó không những cung cấp lương thực, thực phẩm phục vụ cho đời sống con người, làm thức ăn cho gia súc, cung cấp nhiên liệu cho sản xuất công nghiệp, giữ gìn và bảo vệ môi trường sinh thái, mà còn là nguồn hàng xuất khẩu đem lại hiệu quả kinh tế cao tạo ra nguồn thu nhập ngoại tệ lớn cho đất nước thông qua xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp tạo tiền đề vững chắc cho công cuộc CNH-HĐH đất nước

Cơ cấu cây trồng hợp lý có ý nghĩa quan trọng trong việc chuyển nền sản xuất nông nghiệp từ chỗ độc canh cây lương thực sang nền nông nghiệp

đa dạng hoá cây trồng Tạo ra các loại cây trồng, những nông sản phẩm có chất lượng giá trị cao, có hiệu quản kinh tế cao phù hợp với điều kiện thời tiết, khí hậu, phương hướng sản xuất của vùng, cũng như đáp ứng được nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước, nhu cầu của con người và xã hội

Cơ cấu cây trồng hợp lý dẫn đến việc sử dụng các yếu tố đầu vào đầy

đủ và hợp lý hơn Nó còn là căn cứ để xây dựng kế hoạch đầu tư vốn, sử dụng lao động, đất đai, các tư liệu sản xuất và các yếu tố đầu vào khác trong sản xuất nông nghiệp một cách có hiệu quả; giảm bớt tính thời vụ trong sản xuất nông nghiệp và hạn chế được lao động nông nghiệp có tính chất thời vụ trong sản xuất nông nghiệp

Cơ cấu cây trồng còn có vai trò quan trọng trong việc cải tạo và bồi dưỡng đất, hạn chế sự phát triển của sâu bệnh, tăng năng suất cây trồng và tăng giá trị hàng hoá Đặc biệt cơ cấu cây trồng còn thúc đẩy sự chuyển dịch

Trang 17

cơ cấu sản xuất nông nghiệp trên một đơn vị diện tích Từ đó làm tăng thu nhập cho người nông dân làm cho đời sống của họ được nâng cao

Cơ cấu cây trồng hợp lý còn là cơ sở làm cho nông nghiệp phát triển một cách mạnh mẽ, toàn diện vững chắc Lợi dụng một cách tốt nhất các điều kiện tự nhiên khí hậu, đất đai, nguồn nước với đặc tính sinh học của cây trồng

để có năng suất, sản lượng cao nhất trên một đơn vị diện tích Tránh được tác hại của sâu bệnh, bồi dưỡng và cải tạo đất tốt

2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

2.2.1 Quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng trên thế giới

2.2.1.1 Nhóm các nước phát triển

Đặc điểm nổi bật của các nước này là chuyên môn hoá, tập trung cao độ hình thành các vùng chuyên canh lớn, các trang trại lớn.Việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp ở mức tiên tiến Sản phẩm sản xuất theo nhu cầu của thị trường với khối lượng lớn, chất lượng giá trị cao, sản phẩm làm ra được ngành công nghiệp chế biến tiêu thụ và phục vụ xuất khẩu

Cơ cấu cây trồng không đơn thuần vì mục đích thu sản phẩm mà còn vì mục đích cải tạo môi trường sinh thái, để phát triển nền nông nghiệp bền vững Tuy nhiên cơ cấu cây trồng thường bị biến đổi, lệ thuộc vào nền kinh tế thị trường mang tính chất sản xuất hàng hoá cao độ [4]

2.2.1.2 Nhóm các nước đang phát triển

Đặc điểm của những nước này là mới đi vào chuyên môn hoá và tập trung Việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp còn nhiều hạn chế, trình độ quản lý chưa cao, thiếu vốn trong sản xuất, năng suất cây trồng vẫn thấp Sản xuất mang tính truyền thống tự nhiên chưa mang tính sản xuất hàng hoá, thị trường Một phần các nước này còn gặp khó khăn về giải quyết lương thực, cơ cấu cây trồng chưa vì mục đích bảo vệ môi trường [5]

Trang 18

2.2.1.3 Nhóm các nước nghèo

Phần lớn các nước này nằm ở Châu Phi và một số nước ở Châu Á Đặc

điểm nổi bật đáng chú ý ở các nước này là sản xuất nông nghiệp mang nặng tính tự nhiên, tự cung tự cấp, kỹ thuật canh tác thủ công lạc hậu Chủ yếu là quảng canh, phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, bóc lột đất đai và môi trường một cách vô thức Ở các vùng này đời sống nhân dân nói chung, đặc biệt các hộ nông dân còn gặp nhiều khó khăn Tình trạng đói nghèo vẫn tồn tại nhiều, thiếu vốn, khoa học kỹ thuật Áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp còn rất hạn chế [3]

2.2.2 Quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng tại Việt Nam

2.2.2.1 Giai đoạn trước đổi mới (trước năm 1986)

Ở nước ta các nhà khoa học cũng đi từ những nghiên cứu riêng rẽ từng cây, tách rời môi trường tự nhiên, môi trường xã hội đến nghiên cứu hệ thống cây trồng trong một môi trường cụ thể Truyền thống xây dựng đê điều, thuỷ lợi, kỹ thuật làm đất bằng trâu, bò, tập quán đầu tư nhiều lao động sống, tận dụng phân chuồng, phân xanh đi liền với việc thâm canh đã làm nên nền văn minh lúa nước của dân tộc Việt Nam Ngay từ những năm 1960 viện sĩ Đào Thế Tuấn đã cùng các nhà nghiên cứu khoa học của viên khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam nghiên cứu đưa cây lúa vụ xuân với các giống lúa gắn ngày có tiềm năng năng suất cao và tập đoàn cây vụ đông vào chân đất hai vụ lúa, đưa cây màu vụ xuân vào chân đất một vụ mùa, đã tạo nên bước chuyển biến rõ nét về sản lượng lương thực, thực phẩm trong vùng đồng bằng sông Hồng Năm 1970 nhờ chuyển vụ mạnh, năng suất lúa chiêm xuân toàn miền Bắc được nâng lên 19,73 tạ/ ha so với năng suất lúa chiêm xuân từ 1960 -

1969 đến 18,94 tạ/ ha Năm 1974 sản lượng lúa miền Bắc chỉ đạt 5,48 triệu tấn, năng suất lúa đạt 34,2 tạ/ ha, lương thực đầu người chỉ đạt 276 kg, lương thực nhập khẩu lên tới 1,5 triệu tấn Từ 1975 đến năm 1980 lương thực cả nước dậm chân tại chỗ (năm 1975 là 13,4 triệu tấn, năm 1980 là 14,4 triệu

Trang 19

tấn) Lương thực bình quân đầu người giảm dần từ 274 kg năm 1975 xuống

257 kg năm 1980, đặc biệt năng suất lúa bình quân cả nước rất thấp lại còn giảm năm 1975 là 22,3 tạ/ ha, năm 1980 là 21,1 tạ/ ha Năm 1985 năng suất chung miền Bắc đạt 31,9 tạ/ ha Điển hình các tỉnh Thái Bình bình quân tăng năng suất 42 tạ / ha, Hải Hưng 38 tạ/ha Có những xã đạt năng suất cao như: HTX Vũ Thắng 70 tạ/ ha,Trực Đông - Hải Hậu 72 tạ/ ha [13] Sản xuất nông nghiệp nước ta nói chung và trồng trọt nói riêng, giai đoạn này rất còn lạc hậu, mang tính tự nhiên, tự cung tự cấp Cây trồng chủ yếu là cây lúa nước nên năng suất và giá trị kinh tế thấp, lúa thường xuyên bị sâu bệnh và thiên nhiên tàn phá, nhiều nơi còn bị mất trắng Ngoài cây lúa, một số cây trồng khác như: Ngô, khoai, sắn cũng được gieo trồng nhưng chỉ là sản xuất nhỏ, manh mún và không có sự đầu tư, chỉ đạo đúng đắn Cơ cấu cây trồng ở thời

kỳ này đơn giản, chủ yếu vẫn là độc canh cây lương thực Hơn nữa, sản xuất lại chịu ảnh hưởng của cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp, trình độ dân trí thấp, thiếu hiểu biết về khoa học kỹ thuật dẫn đến không hình thành vùng chuyên canh Sản lượng thấp không phát huy được tiềm năng sẵn có, lợi thế so sách của mỗi địa phương Đời sống của nhân dân nhất là nông dân còn gặp nhiều khó khăn, diện đói nghèo tăng Nhà nước phải nhập khẩu mỗi năm trên dưới một triệu tấn lương thực, nhập khẩu 5,6 tấn lương thực trong những năm 1976 - 1980 Qua đó ta có thể nói những năm cuối thập kỷ 70 tình hình kinh tế nước ta gặp nhiều khó khăn và lâm vào tình trạng thiếu lương thực, thực phẩm một cách trầm trọng [8]

2.2.2.2 Giai đoạn sau đổi mới đến nay (sau năm 1986)

Cùng với sự đổi mới kinh tế nói chung, nền nông nghiệp nước ta đang trong quá trình chuyển đổi sang nền nông nghiệp theo định hướng xã hội chủ nghĩa Nền nông nghiệp nước ta được hình thành và phát triển từ lâu đời nhưng chuyển biến sâu sắc và mạnh mẽ nhất từ khi Việt Nam thực hiện thành công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã

Trang 20

hội Từ những năm cuối thập kỷ 80, dưới ánh sáng của chính sách đổi mới của Đảng và Chính phủ nền nông nghiệp Việt Nam đã có nhiều biến đổi sâu sắc Đẩy mạnh đầu tư, ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đa dạng hoá sản phẩm gắn liền nông nghiệp với thị trường Điển hình là hàng loạt các chính sách về nông nghiệp nông thôn đã được ban hành như: Chỉ thị 100 của ban Bí thư Trung ương Đảng tháng 01 năm 1981, Nghị quyết

10 của Bộ Chính trị tháng 4 năm 1988 Chính sách giao quyền sử dụng đất lâu dài cho hộ nông dân theo điều 20 luật đất đai năm 1993 Chính sách thuế nông nghiệp, khuyến nông, trợ giá nông sản Xây dựng các công trình phòng chống thiên tai, đê điều, hệ thống kênh máng tưới tiêu, đường giao thông Việc nghiên cứu cơ cấu cây trồng nhằm từng bước phá chế độ độc canh cây lúa đã được triển khai bằng việc cải thiện hệ thống cây trồng theo hướng đa dạng hoá phát triển theo một số hướng sau: Nhập nội và đưa vào sản xuất những loại cây trồng mới có năng suất chất lượng cao không phải là cây bản địa như khoai tây, cà chua, hành tây ngô đã mang lại những hiệu quả kinh tế cao hơn Đặc biệt ta đã tạo chọn và nhập nội nhiều giống cây trồng tốt đưa vào sản xuất đại trà khá nhanh, có tác dụng hiệu quả cao hơn Trước hết phải

kể đến việc lai tạo và nhập giống lúa thuần và lúa lai từ Trung Quốc vào miền Bắc Ngoài lúa ta cũng nhập khá nhiều giống cây lương thực có nhiều ưu thế

và chất lượng cho năng suất cao, thay thế các giống đã dùng lâu trong sản xuất như: Ngô lai Bioseed, khoai tây KT03, dưa thái trong nước giữa các vùng đã có sự chuyển dịch thâm canh cây trồng từ vùng này sang vùng khác

đã thu được nhiều thắng lợi

Theo Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT) Nguyễn Xuân Cường, năm 2016, sản xuất nông, lâm và thủy sản phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức Tuy nhiên, ngành NN&PTNT đã luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo sâu sát và hỗ trợ kịp thời của Đảng, Nhà nước; sự phối hợp chặt chẽ của các bộ, ban, ngành và địa phương; sự chung sức, đồng

Trang 21

hành và sáng tạo của cộng đồng doanh nghiệp và bà con nông dân trên cả nước và thông tin, tuyên truyền kịp thời của các cơ quan truyền thông Đồng thời, ngành đã nỗ lực bám sát thực tiễn, chỉ đạo quyết liệt, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện tái cơ cấu gắn với xây dựng nông thôn mới

Báo cáo của ngành NN&PTNT cũng chỉ rõ, năm 2016, ngành nông nghiệp đã góp phần ổn định đời sống, đảm bảo an sinh xã hội cho nhân dân và phát triển đất nước Cơ cấu sản xuất tiếp tục được điều chỉnh phù hợp với định hướng tái cơ cấu và thích ứng với biến đổi khí hậu; sản xuất được duy trì trong điều kiện thiên tai khắc nghiệt; xuất khẩu tăng cao, tăng trưởng ngành được phục hồi GDP toàn ngành đã tăng 1,2% so với năm 2015; giá trị sản xuất (theo giá so sánh 2010) tăng 1,44%, trong đó: Trồng trọt giảm 0,9%, chăn nuôi tăng 5,4%; lâm nghiệp tăng 6,17%; thuỷ sản tăng 2,91% Kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản ước đạt khoảng 32,1 tỷ USD, tăng 5,4%

so với năm 2015; tiếp tục duy trì được 10 mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu

từ 1 tỷ USD trở lên Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới tiếp tục được triển khai rộng khắp, đạt mục tiêu đề ra; các nhiệm vụ xóa đói, giảm nghèo được quan tâm thực hiện Đến cuối năm 2016, cả nước có 2.235

xã đạt chuẩn nông thôn mới (hoàn thành mục tiêu có 25% số xã đạt chuẩn năm 2016)

Tạo được những giống cây trồng mới có năng suất chất lượng cao phù hợp với điều kiện tự nhiên của vùng Vụ đông ở miền Bắc thích hợp với cây trồng có nguồn gốc á nhiệt đới như: Bắp cải, xu hào, cà chua, khoai lang, đậu tương mở rộng diện tích cây vụ đông miền Bắc đã đưa vào sản xuất nhiều giống cây trồng mới có năng suất cao, các giống lúa vụ xuân, vụ mùa ngắn ngày, giải phóng đất vào tháng 9 để đưa thêm một vụ cây trồng cạn vụ đông vào chân đất vẫn chủ động nước, đã làm tăng vụ, tăng hệ số quay vòng của đất và tăng sản lượng lương thực đáng kể Đây là con đường đúng đắn nhất trong chiến lược sử dụng, bảo vệ và bồi dưỡng đất đai, nó không chỉ có ý

Trang 22

nghĩa to lớn đối với các vùng có điều kiện canh tác thuận lợi, nông dân có trình độ khá về đầu tư thâm canh mà ngay cả đối với vùng có điều kiện canh tác khó khăn, kỹ thuật sản xuất lạc hậu Theo hướng miền Bắc đã có nhiều tỉnh ở đồng bằng Sông Hồng thực hiện thành công và đạt năng suất cao

Cơ cấu một vụ đã chuyển dịch theo hướng tăng diện tích lúa đông xuân

và lúa hè thu có năng suất cao, ổn định Các loại giống lúa mới đã được sử dụng trên 87% diện tích gieo trồng Sản lượng lương thực có hạn tăng hàng năm trên 1,6 triệu tấn lương thực, bình quân lương thực đầu người đã tăng từ

360 kg năm 1995 lên 532 kg năm 2010 Giá trị sản xuất nông nghiệp trên 1 đơn vị sản xuất nông nghiệp tăng từ 13,5 triệu đồng/ ha năm 1995 lên 55,5 triệu đồng/ha năm 2010 [12] Sau 30 năm đổi mới, Việt Nam đạt những thành tựu quan trọng trong công cuộc CNH, HĐH đất nước Từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu với 90% dân số làm nông nghiệp, Việt Nam đã xây dựng được cơ sở vật chất - kỹ thuật, hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước đáp ứng sự nghiệp CNH, HĐH, tạo ra môi trường thu hút nguồn lực xã hội cho phát triển Diện mạo đất nước có nhiều thay đổi, kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng khá, tiềm lực và quy mô nền kinh tế tăng lên (đạt ngưỡng thu nhập trung bình); đời sống nhân dân từng bước được cải thiện; đồng thời tạo ra nhu cầu và động lực phát triển cho tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đội ngũ doanh nghiệp, doanh nhân thật sự trở thành lực lượng quan trọng để thực hiện đường lối CNH, HĐH đất nước

2.2.3 Quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng của Tỉnh Hà Giang

- Thời gian qua, tỉnh Hà Giang đã tích cực chuyển đổi cơ cấu cây trồng

theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho bà con nông dân

Trang 23

Ảnh minh họa

Thuộc nhóm cây trồng mũi nhọn, sản xuất đậu tương hàng hóa của tỉnh

tập trung ở 7 huyện gồm Hoàng Su Phì, Xín Mần, Yên Minh, Đồng Văn,

Quản Bạ, Bắc Mê, Mèo Vạc, chiếm trên 95% diện tích và sản lượng của tỉnh

Năm 2014, diện tích đậu tương toàn tỉnh gieo trồng đạt gần 24 nghìn ha, năng

suất bình quân 13 tạ/ha, hiệu quả kinh tế mang lại gần 400 tỷ đồng Thời gian

tới, tỉnh tập trung chuyển đổi cơ cấu cây trồng gắn sản xuất hàng hóa, phấn

đấu đến năm 2015, tổng diện tích đậu tương đạt 25 nghìn ha, sản lượng đạt

trên 40 nghìn tấn, đảm bảo 85% diện tích tương đương 23.134 ha thâm canh,

trong đó 85% giống mới

Tại huyện Hoàng Su Phì, nhằm phát triển đậu tương hàng hóa gắn với

thâm canh giai đoạn 2011-2015, nhằm nâng cao giá trị/ha đất canh tác, huyện

đã chủ động sản xuất giống đậu tương DT84 tại chỗ để hỗ trợ những hộ, vùng

Trang 24

chưa chủ động giống Năm 2014, diện tích gieo trồng đậu tương của huyện đạt trên 5,4 nghìn ha, sản lượng đạt trên 8 nghìn tấn

Thời gian tới, huyện phấn đấu duy trì diện tích hàng năm trên 5,5 nghìn

ha, sản lượng đạt trên 8,2 nghìn tấn, trong đó diện tích sản xuất hàng hóa tập trung đạt khoảng 2 nghìn ha tại các xã Chiến Phố, Sán Sả Hồ, Pờ Ly Ngài, Nàng Đôn, Pố Lồ, Ngằm Đăng Vài, Tụ Nhân duy trì và phát triển vùng sản xuất giống đậu tương tại chỗ hàng năm đạt 50 ha tại xã Chiến Phố

Vụ Đông - xuân năm nay, huyện Xín Mần thực hiện xây dựng mô hình liên kết trồng ngô hàng hoá giữa hộ nông dân với Công ty Cổ phần và phát triển Xín Mần Theo đó, Công ty đầu tư toàn bộ giống, huyện hỗ trợ 50% giá giống, phân bón doanh nghiệp đầu tư, hỗ trợ KHKT, doanh nghiệp bao tiêu 100% sản phẩm theo giá thị trường cho nông dân Mức thu mua đảm bảo cho nông dân có lãi ít nhất trên 35% nếu thị trường giá xuống thấp Tham gia trồng ngô liên kết có 624 hộ, thuộc 6 xã: Nấm Dẩn, Bản Ngò, Bản Díu, Xín Mần, Nàn Ma và Cốc Pài Trong suốt quá trình trồng, chăm sóc, đồng bào được cán bộ Khuyến nông, doanh nghiệp kèm cặp, trao đổi cách chăm sóc, bón phân, phòng trừ sâu hại, dịch bệnh cho từng giai đoạn cây ngô phát triển Kết quả, cây ngô đã cho thu hoạch tốt, năng suất đạt gần 50 tạ/ ha, cao gần gấp 2 lần ngô trồng đại trà trong vụ Đông-Xuân Doanh nghiệp thu mua cho bà con với giá 6.500đ/kg, sau khi trừ chi phí đầu tư, công chăm bón, thu hoạch nhà nông còn lãi xấp xỉ 30 triệu đồng/ha

Bà con tham gia mô hình khẳng định: Trồng ngô liên kết đã giúp nông dân chuyển đổi tư duy cũng như cánh làm, quan trọng hơn là giúp bà con không phải lo đầu ra cho sản phẩm, yên tâm sản xuất

Từ năm 2013, xã Tả Nhìu, huyện Xín Mần đã vận động nhân dân chuyển đổi đất trồng lúa kém hiệu quả sang trồng rau hàng hóa Hiện toàn xã

có 5 thôn thực hiện chuyển đổi đất trồng lúa một vụ kém hiệu quả sang trồng rau với tổng diện tích khoảng 10ha Chủ yếu là các thôn ở vùng thấp, giáp với

Trang 25

thị trấn Cốc Pài, thuận tiện cho việc buôn bán, vận chuyển rau Thu nhập từ trồng rau cao hơn hẳn so với trước khiến người dân thay đổi nhiều trong cách nghĩ và cách làm Ngày càng có nhiều hộ tích cực chuyển đổi cơ cấu cây trồng nhằm nâng cao thu nhập

Bình quân mỗi hộ trồng rau cho thu nhập từ 100 – 200.000 đồng/ngày

So với trồng lúa một vụ trước đây thì hiệu quả kinh tế cao hơn hẳn Tuy nhiên, hiện bà con chỉ sản xuất các loại rau truyền thống như: Rau cải, rau bí,

đỗ, ớt, rau thơm các loại Chưa trồng được những loại rau trái vụ hiệu quả cao để cung cấp ra thị trường

Tại huyện Mèo Vạc, bà con đã dần hình thành thói quen sản xuất thâm canh tăng vụ, chuyển đổi giống cơ cấu cây trồng, vật nuôi để tăng năng suất, sản lượng Năm 2015, tổng sản lượng lương thực (có hạt) toàn huyện ước đạt 34.516,8 tấn, tăng 8.516 tấn so với năm 2010; bình quân lương thực đầu người ước đạt 442 kg/người/năm, tăng 19,46% so với năm 2010 Giá trị sản xuất/ha canh tác cây hàng năm ước đạt 31,84 triệu đồng/ha, tăng 10,73 triệu đồng/ha so với năm 2010

Hướng tới mục tiêu giảm nghèo bền vững, huyện xác định tiếp tục mở rộng diện tích gieo trồng, tập trung thâm canh tăng năng suất, sản lượng các loại cây trồng; tích cực chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, chú trọng phát triển cây vụ Đông, tăng hệ số sử dụng đất; chuyển đổi các loại giống mới có năng suất, chất lượng cao phù hợp với điều kiện thời tiết, thổ nhưỡng, thực hiện cải tạo

và phát triển các loại cây ăn quả; tăng cường đầu tư thâm canh, đa dạng hóa sản phẩm Phấn đấu đến năm 2020, giá trị sản xuất ngành trồng trọt đạt 301,18 tỷ đồng, chiếm 39,86% giá trị sản xuất ngành nông nghiệp

Tại huyện Quang Bình, trên cơ sở phương án sản xuất lúa, ngô hàng hóa của tỉnh, huyện đã chỉ đạo xây dựng các phương án, đề án cụ thể phù hợp với điều kiện của địa phương Đồng thời, tăng cường ứng dụng các tiến bộ KHKT mới vào sản xuất, đẩy mạnh thâm canh, đưa một số giống mới vào

Trang 26

gieo trồng trên diện rộng, xây dựng mô hình cánh đồng thâm canh, cánh đồng mẫu lớn, quy hoạch vùng sản xuất hàng hóa tập trung tại các xã có điều kiện thuận lợi

Thực hiện việc trồng cây vụ 3, cây vụ Đông, trong đó trọng tâm vào trồng ngô hàng hóa, huyện đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực thực hiện các chương trình, mô hình như: Mô hình lúa năng suất cao, cánh đồng thâm canh, ủ phân xanh hữu cơ, nông dân sản xuất giỏi Năm

2014, tổng sản lượng lương thực có hạt đạt trên 38.000 tấn, tăng trên 1.300 tấn so với năm trước, thu nhập lương thực bình quân đầu người đạt 615 kg/người/năm Thông qua thực hiện việc sản xuất lúa, ngô hàng hóa đã hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, bước đầu khắc phục được tình trạng sản xuất manh mún, mang tính tự cung tự cấp, năng suất cây trồng, chất lượng sản phẩm được nâng lên, góp phần tăng thêm thu nhập cho người dân

Năm 2015, huyện phấn đấu diện tích gieo trồng lúa đạt 5.619 ha, ngô 2.500 ha, áp dụng các biện pháp thâm canh tăng vụ, chú trọng các loại giống cao sản, giống chất lượng cao; sản lượng lương thực có hạt đạt trên 40.000 tấn, lương thực bình quân đầu người đạt 650 kg/người/năm

Nhằm tạo động lực cho người dân phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa, những năm gần đây huyện Quản Bạ đã có nhiều chính sách

hỗ trợ cho người dân và các nhóm sở thích, tổ hợp tác, hợp tác xã (HTX) nhằm đẩy mạnh phát triển theo quy mô lớn, hình thành những mô hình, vùng sản xuất hàng hóa riêng biệt theo điều kiện từng địa phương Trong đó, chú trọng phát triển cây dược liệu, chăn nuôi bò, trồng ngô hàng hóa

Cụ thể, huyện hỗ trợ theo từng loại dược liệu với từng mức đầu tư cao hoặc thấp khác nhau, với mức hỗ trợ thấp nhất 10 triệu đồng/ha, diện tích trồng tập trung tối thiểu là 1ha Trong khi đó, mức hỗ trợ theo Nghị quyết 47 của HĐND tỉnh với tất cả các loại cây dược liệu nói chung, mức tối đa là 2 triệu đồng/ha, quy mô trồng tập trung tối thiểu 3ha trở lên Để các chính sách

Trang 27

thực sự đem lại hiệu quả và nguồn vốn hỗ trợ được sử dụng đúng mục đích, những chính sách này đều có những điều kiện đi kèm, ràng buộc người dân phải có trách nhiệm trong sử dụng nguồn vốn và nỗ lực sản xuất hiệu quả Năm 2015 với nguồn kinh phí hơn 11 tỷ đồng, những chính sách này đang được huyện giải ngân cho các hộ, HTX đã đăng ký thực hiện

Sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hoá đã tạo nên năng suất, chất lượng, giá trị ngày càng lớn, qua đó, góp phần quan trọng để xây dựng nông thôn mới ngày càng giàu đẹp, văn minh và đóng góp cho các ngành kinh tế khác của tỉnh phát triển

Trang 28

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Cơ cấu cây trồng và chuyển dịch cơ cấu cây trồng trên địa bàn thị trấn Phố Bảng, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang

Thời gian thực tập từ tháng 2 năm 2018 đến tháng 30/5 năm 2018

3.2.3 Nội dung nghiên cứu

- Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu:về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của thị trấn Phố Bảng, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang

- Thực trạng cơ cấu cây trồng và quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng của thị trấn Phố Bảng, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang

- Những thuận lợi và khó khăn trong chuyển dịch cơ cấu cây trồng trên địa bàn thị trấn Phố Bảng, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang

- Định hướng và giải pháp nhằm đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa trên địa bàn thị trấn Phố Bảng, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang

Trang 29

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp

- Thu thập thông tin từ các công trình khoa học, các báo cáo tổng kết, các bài viết liên quan đến chuyển dịch cơ cấu cây trồng

- Là những thông tin được thu thập thông qua các tài liệu có sẵn như: Các báo cáo thông kê, các thông tin trên internet, các thông tin trên sách, báo, tạp chí, nghiên cứu khoa học

- Đối với các thông tin liên quan với địa bàn nghiên cứu: Lấy thông tin tại UBND thị trấn Phố Bảng

- Đối với các thông tin về cơ sở lý luận, thực tiễn nghiên cứu ở Việt Nam và trên thế giới được thu thập chủ yếu qua ấn phẩm và sách báo, trên internet…sau đó tiến hành tổng hợp, chọn lọc các vấn đề liên quan đến đề tài

3.3.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp

3.3.2.1 Phương pháp chọn mẫu

Qua tham khảo những thông tin từ cán bộ thị trấn, cán bộ trong khu

,xóm và người dân, thấy rằng các hộ nông dân tại các khu, xóm trong thị trấn

là tương đối đồng nhất Vì vậy việc lựa chọn các hộ điều tra tại các khu, xóm được thực hiện một cách ngẫu nhiên Việc lựa chọn mẫu cho phỏng vấn hộ sẽ được bàn bạc cùng với các trưởng khu,xóm dựa trên danh sách hộ

Công thức: 𝑛 = N

(1 + N 𝑒2)

n: kích cỡ mẫu

N: Tổng số hộ

e: (10%)

Trang 30

- Bộ câu hỏi phỏng vấn nông dân được thiết kế trước, sau khi điều tra thử tại thực địa đã được chỉnh sửa và bổ sung hoàn thiện Bảng câu hỏi phỏng vấn hộ gia đình là các câu hỏi đóng, kết hợp với một số câu hỏi mở nhằm làm rõ thêm hoặc chuyển tiếp chủ đề trong thu thập cơ sở dữ liệu sơ cấp Bảng câu hỏi được trình bày trong phụ lục

Số liệu được thu thập tại 2 khu, 2 xóm xác định Khu I, Khu II, Phố Trồ,

Tả Kha Tổng số có 40 phiếu điều tra đã được thu thập tại 40 hộ trong 02 khu,

02 xóm trên Nghiên cứu chọn mẫu dựa trên phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên

Số

hộ

Tỷ

lệ (%)

Số

hộ

Tỷ lệ (%)

Số

hộ

Tỷ lệ(%)

(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2017)

Theo tiêu chí phân loại hộ thì tại địa bàn thị trấn Phố Bảng hộ trung bình là chiếm phần lớn, hộ nghèo vẫn còn hơi nhiều tìm cách giảm nghèo

Trong tổng số 40 hộ điều tra lựa chọn 8 hộ nghèo, 11 hộ cận nghèo, 21

hộ trung bình

Trong đó có thị trấn Khu I, Khu II có số dân nhiều nên được chọn nhiều

hộ điều tra nhất chiếm cùng 11,0% số phiếu điều tra Sau đó đến xóm Tả Kha chiếm 10,0%, xóm Phố Trồ chiếm 8,0%, trong cả ba xóm trên

Mục tiêu của hoạt động điều tra thực địa nhằm thu thập đầy đủ, toàn diện

và chính xác các thông tin về đời sống sinh hoạt, tư tưởng, ý thức của người dân

Trang 31

3.3.3.2 Phương pháp thu thập số liệu

a, Phương pháp điều tra bảng hỏi

- Phương pháp điều tra bảng hỏi: Đây là phương pháp chủ yếu để thu thập số liệu liên quan đến đề tài Một bảng hỏi (xem phụ lục) được hình thành, gồm nhiều bộ phận khác nhau, từ những thông tin cơ bản của chủ hộ, trong chuyển dịch cơ cấu cây trồng , cây ăn quả và các cây luong thực ,thực phẩm của thị trấn,

Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi chỉ tập trung phân tích và đánh giá các hoạt động chuyển dịch cơ cấu cây trồng, thu nhập và thời gian giành cho quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng của cộng đồng địa phương

b, Phương pháp quan sát trực tiếp

Để ghi nhận con số, sự kiện và những hành vi của bà con nông dân và lí

giải những kết quả đánh giá liên quan đến đề tài Phương pháp này được sử

dụng để quan sát, ghi chép các hiện tượng, sự kiện thực tế tại hiện trường, đồng thời để có thể giải thích một số vấn đề liên quan có được khi sử dụng

các phương pháp khác

3.3.2 Phương pháp phân tích sử lý số liệu

- Phương pháp thống kê sử dụng bảng tính Excel, word để thu thập thông tin, tổng hợp số liệu, phân tích tài liệu mục đích nghiên cứu

3.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu

- Năng suất bình quân (AP) : là mức sản lượng thu được trong quá trình điều tra đối với cây lúa trên một đơn vị diện tích

- Giá trị sản xuất (GO: Gross Output): là toàn bộ giá trị của cải vật chất

và dịch vụ được tạo ra trong một thời kỳ (thường là một năm) Trong sản xuất của nông hộ, giá trị sản xuất các loại cây trồng chính mà họ sản xuất ra trong

1 vụ hay 1 năm Công thức tính GO như sau :

Trong đó: GO là giá trị sản xuất

Qi là khối lượng sản phẩm loại i

Pi Giá cả sản phẩm i

Trang 32

- Phía bắc giáp:Trung Quốc,huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang

- Phía đông giáp :Xã Sủng Là,huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang

- Phía tây giáp:Xã Phố Là, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang

- Phía nam giáp:Xã Phố Cáo, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang

Địa hình bị chia cắt và độ dốc lớn đã hạn chế trực tiếp đối với phát triển sản xuất nông nghiệp, nhất là các biện pháp thâm canh và ứng dụng các tiến bộ KHKT Đất sản xuất của thi trấn chủ yếu có độ dốc trên 15oC, lại canh tác cây ngắn ngày nên hiện tượng xói mòn rửa trôi là phổ biến

Một bất lợi nữa là do địa hình cao và bị chia cắt nên rất khó khăn trong việc xây dựng cơ sợ hạ tầng như đường giao thông, các công trình thủy lợi Trên đầu tư cho các công trình thường rất cao, hiệu quả kinh tế mang lại thấp

4.1.1.2 Điều kiện khí hậu và thủy văn

 Điều kiện khí hậu

Thị trấn Phố Bảng nằm trong vùng khi hậu nhiệt đới gió mùa mang tính lục địa khá rõ rệt, có mùa đông lạnh kéo dài Một năm chia thành 2 mùa

rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau

Trang 33

- Chế độ nhiệt:

Nhiệt độ bình quân năm là 22,50C,nhiệt độ trung bình cao nhất 280C vào tháng 6, tháng 7, nhiệt độ trung bình thấp nhất 14,30C vào tháng 1 và 2 ( tháng có nhiệt độ cao nhất so với tháng có nhiệt độ thấp nhất chênh lệch nhau tới 130C), tổng diện tích khoảng 6800-70000C

- Chế độ mưa: Lượng mưa trung bình năm đạt khoảng 700-1000mm, tuy nhiên lượng mưa phân bố không đều do sự chi phối chung của lượng mưa vùng đông bắc bộ, có những nét đặc trưng như sau:

Từ tháng 11 năm trước đến tháng tư năm sau là mùa khô, lượng mưa thấp chỉ chiếm khoảng 14-16% tổng lượng mưa cả năm Từ tháng 5 đến hết tháng 10 là mùa mưa, lượng mưa lớn chiếm tới 84-86% tổng lượng mưa cả năm Trong đó tháng 7 và tháng 8 có lượng mưa lớn nhất (chiếm gần 40% tổng lượng mưa cả năm) thời gian này thường trùng với mùa mưa nên hay xẩy ra lũ ống, lũ quét cục bộ

- Độ ẩm: độ ẩm không khí trung bình năm khoảng 80%

 Thủy văn

Trong địa bàn thị trấn có một số khe cạn, suối nhỏ.Tuy nhiên do độ dốc lớn nên vào mùa mưa dễ sảy ra lũ quét, lũ ống, sạt lở đất đá gây thiệt hại cho sản xuất nông lâm nghiệp cũng như đời sống của người dân trong thị trấn

Địa hình núi đã chia cắt mạnh độ dốc lớn, karst hang động phổ biến cho nên lượng nước mặt khan hiếm, lượng nước mặt thiếu quanh năm, lượng nước mặt phụ thuộc hoàn toàn vào lượng mưa, nước ngầm có độ sâu hàng trăm mét, do thiếu nước ảnh hưởng lớn đến nhu cầu nước sản xuất va sih hoạt của nhân dân trong thị trấn

4.1.1.3 Điều kiện đất đai

Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia nó không chỉ là địa bàn phân bố dân cư, xây dựng các cơ sở chất hạ tầng cũng như các hoạt động kinh tế văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng mà còn là tư liệu sản xuất chủ yếu và không thể thay thế được đối với sản xuất nông nghiệp Không những thế đất đai còn là môi trường sống và cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng

Trang 34

qua 3 năm 2015-2017

Chỉ tiêu

Diện tích

(ha)

Cơ cấu

(%)

Diện tích

(ha)

Cơ cấu

(%)

Diện

tích (ha)

Cơ cấu

(%)

2016 /2015

Ngày đăng: 04/12/2019, 14:15

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w