TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ MÔI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNGTài liệu tham khảo cho các bạn sinh viên về học phần Kinh tế môi trườngChủ đề:THỰC TRẠNG KHAI THÁC VÀ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN THỦY HẢI SẢN Ở VIỆT NAM VÀ TRÊN THẾ GIỚI.
Trang 1KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ
Trang 2MỤC LỤC
I Tổng quan thủy hải sản trên thế giới 4
1 Thực trạng 4
2 Sản lượng 5
3 Khai thác biển 5
4 Khai thác nội địa 7
5 Các chiến lược quản lý 7
6 Triển vọng 8
II Khai thác thủy hải sản ở Việt Nam 8
1 Khai thác nội địa 8
1.1 Nguồn lợi thủy sản 8
1.2 Đặc điểm khai thác nội địa 9
1.3 Giá trị sản lượng khai thác 10
2 Khai thác biển 10
2.1 Nguồn lợi hải sản 10
2.2 Tàu cá khai thác 16
2.3 Cơ cấu nghề cá 18
2.4 Đánh giá nguồn lao động 18
2.5 Sản lượng và năng suất 19
2.6 Đánh giá hiệu quả 22
2.7 Ảnh hưởng của khai thác thủy hải sản tới môi trường 24
III Quản lý khai thác thủy hải sản 25
1 Hiện trạng về quản lý 25
1.1 Về tổ chức 25
1.2 Về năng lực quản lý 28
1.3 Các công cụ quản lý khai thác thủy hải sản hiện hành 30
2 Tồn tại 35
Trang 32.1 Về nguồn lợi hải sản 35
2.2 Về năng lực khai thác hải sản 35
2.3 Phương thức tổ chức khai thác hải sản 35
2.4 Quản lý, kiểm soát khai thác hải sản 36
2.5 Hệ thống hậu cần, dịch vụ nghề cá 36
2.6 Các hoạt động khác 37
3 Mục tiêu, quy hoạch và định hướng 37
3.1 Quy hoạch sản lượng khai thác thủy sản 37
3.2 Quy hoạch nghề nghiệp khai thác thủy sản 39
3.3 Quy hoạch tàu thuyền KTTS 41
3.4 Quy hoạch vùng khai thác 44
3.5 Xu hướng phát triển chung trong khu vực 44
Kết luận 46
Tài liệu tham khảo 46
Trang 4% trong tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản (6,1 tỷ USD, 2011), tạo công ăn việc làmcho khoảng 700.000 lao động trực tiếp trên biển.
Tuy nhiên, trong 10 năm trở lại đây hoạt động khai thác hải sản đã nảy sinh nhiềutồn tại, bất cập như: công tác quản lý tàu cá; nghề khai thác hải sản phát triển tự phátkhông kiểm soát được; tổ chức sản xuất trên biển mang tính nhỏ lẻ, phân tán, tự phátchưa có sự liên kết và hợp tác trong tổ chức sản xuất; công nghệ khai thác, công nghệbảo quản sản phẩm sau thu hoạch trên tàu còn lạc hậu so với các nước trong khu vực;
sự cạnh tranh trong khai thác ngày càng tăng; tình trạng đánh bắt bất hợp pháp vẫn diễn
ra đã làm cạn kiệt nguồn lợi hải sản vùng biển ven bờ; Thiếu thông tin, cơ sở dữ liệunghề cá để phục vụ chocông tác quản lý, qui hoạch khai thác hải sản; đầu tư cơ sở hạtầng còn dàn trải và thiếu đồng bộ… Mặt khác, hệ thống tổ chức quản lý khai thác vàthực thi pháp luật chưa được kiện toàn
Trang 5I Tổng quan thủy hải sản trên thế giới
Dân số thế giới được dự đoán tăng từ mức hiện tại là 6,8 tỷ người lên đến 9 tỷ ngườinăm 2050 (UN-DESA 2009) Cùng với việc tăng dân số, nhu cầu về nguồn thực phẩm antoàn, nhiều dinh dưỡng cũng ngày càng tăng Khai thác thủy sản đóng góp vai trò quantrọng trong việc cung cấp nguồn thực phẩm này và góp phần cải thiện sinh kế của ngườidân cũng như phát triển kinh tế của nhiều nước trên thế giới Năm 2011, sản lượng khaithác toàn cầu đạt 90,4 triệu tấn, tăng 2% so với năm 2010, trong đó khai thác biển đạt78,9 triệu tấn, tăng 1,9% và khai thác nội đồng đạt 11,5 triệu tấn, tăng 2,6% so với năm
2010 Tuy nhiên, khai thác thủy sản toàn cầu đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớnnhư: Khai thác quá mức, suy kiệt nguồn lợi, biến đổi khí hậu…
1 Thực trạng
Trong mấy năm gần đây, sản lượng khai thác toàn cầu giảm sút cùng với tình trạngkhai thác quá mức đã chuyển tải thông điệp mạnh mẽ - tình trạng khai thác biển toàn cầuđang ngày càng xấu đi và ảnh hưởng đến sản lượng thủy sản toàn cầu Khai thác quá mứckhông chỉ gây hậu quả về mặt sinh thái mà còn góp phần làm giảm sản lượng khai thác
và ảnh hưởng xấu đến kinh tế xã hội trên toàn cầu Tỷ trọng trữ lượng thủy sản bị khaithác quá mức tăng từ 10% trong năm 1974 lên đến 26% trong năm 1989 Kể từ năm
1990, nguồn lợi thủy sản bị khai thác quá mức tiếp tục tăng tuy ở mức độ chậm hơn Hầuhết trữ lượng của các loài thủy sản hàng đầu, chiếm khoảng 30% tổng sản lượng khai thácthế giới đều đã được khai thác triệt để nên không thể khai thác thêm, trong khi một sốloài khác vẫn ở trong tình trạng bị khai thác quá mức
Khai thác bất hợp pháp và các hoạt động liên quan là những thách thức mà các nướcđang phải đối mặt trong việc đảm bảo phát triển nghề cá bền vững và tăng cường hệ sinhthái lành mạnh Cộng đồng quốc tế tiếp tục bày tỏ mối quan ngại về quy mô và hệ quảcủa đánh cá bất hợp pháp Ở các nước đang phát triển, do khả năng về kỹ thuật còn hạnchế nên đang phải hứng chịu hậu quả về khai thác bất hợp pháp đã làm lu mờ những nỗlực của họ trong quản lý nghề cá, dẫn đến hệ quả tiêu cực trong việc thúc đẩy an ninhlương thực, xóa đói giảm nghèo và sinh kế bền vững
Tuy nhiên, một số nước đã triển khai các hoạt động quản lý khai thác hiệu quả, đạtđược những tiến bộ đáng kể trong việc giảm tỷ lệ khai thác quá mức và phục hồi nguồnlợi thủy sản và hệ sinh thái biển Tại Mỹ, 67% trữ lượng thủy sản hiện tại đã được khaithác bền vững, trong khi chỉ có 17% bị khai thác quá mức Tại Newzealand, 69% trữlượng thủy sản được khai thác bền vững, trong khi tại Úc, trữ lượng thủy sản khai thácquá mức chỉ chiếm 12%
Trang 6Bên cạnh đó, một số nước đã áp dụng các chính sách và biện pháp hiệu quả trong việcchống khai thác bất hợp pháp như việc nâng cao nhận thức và tuyên truyền cho ngư dân,
do vậy tỷ lệ khai thác bất hợp pháp ở các vùng này đang giảm dần
2 Sản lượng
Nhìn chung, sản lượng khai thác tiếp tục ổn định ở mức 90 triệu tấn mặc dù có một sốthay đổi đáng kể về sản lượng ở từng nước, từng vùng và từng loài Trong vòng 7 năm(2004-2010), sản lượng khai thác biển (không tính cá cơm) đạt 72,1-73,3 triệu tấn, trongkhi sản lượng khai thác nội địa tăng liên tục, với mức tăng là 2,6 triệu tấn/năm
Năm 2010, sản lượng khai thác cá cơm của Peru giảm chủ yếu là do các biện phápquản lý trong khai thác như cấm khai thác trong quý 4 để bảo vệ nguồn lợi cá cơm Một
số nước khác như Liên Bang Nga, sản lượng khai thác tăng trong năm 2011 Tuy nhiên,sản lượng khai thác thủy sản của Nhật giảm đáng kể do ảnh hưởng bởi động đất và sóngthần tháng 3 năm 2011, ước tính giảm khoảng 21% tổng sản lượng thủy sản của nướcnày Nhìn chung, trong năm 2011, tổng sản lượng khai thác thủy sản toàn cầu đạt trên 90triệu tấn, mức cao nhất kể từ năm 2006
Do sản lượng khai thác cá cơm giảm đáng kể, Peru đã mất vị trí thứ hai sau TrungQuốc về số lượng trong thứ tự các nước khai thác biển chủ yếu Một vài nước châu Á nhưTrung Quốc, Ấn Độ, In-đô-nê-xi-a và Việt Nam có mức tăng trưởng đáng kể Sản lượngcủa một số nước khác như Na-uy, Nga và Tây Ban Nha cũng phục hồi sau một vài nămtăng trưởng ì ạch
Sản lượng khai thác của Nga đã tăng hơn 1 triệu tấn kể từ năm 2004 Theo các nhàchức trách Nga, có được mức tăng trưởng này là do cắt giảm các thủ tục về hoạt động cậpcảng Sản lượng đánh bắt của Liên bang Nga được dự báo sẽ đạt mức 6 triệu tấn vào năm
2020, tăng hơn 40% so với mức hiện tại
Sản lượng khai thác của Peru và Chi-lê giảm do sản lượng khai thác cá cơm giảm.Ngoài ra, sản lượng của một số các nước khác cũng giảm như: Nhật, Hàn Quốc, Thái Lan
Trang 7ở châu Á, Argentina, Canada và Mexico ở châu Mỹ, Ai-len ở châu Âu và Newzealand.Moroco, Nam Phi và Senagal vẫn là 3 nước có sản lượng khai thác biển nhiều nhất ởchâu Phi.
Tây Bắc Thái Bình Dương vẫn là khu vực có sản lượng cao nhất, tập trung ở ba vùngTây Bắc Atlantic, Đông Bắc Atlantic và Đông Bắc Thái Bình Dương, với sản lượng đạt20,9 triệu tấn trong năm 2010, tương đương 27% Các loài cá nổi nhỏ có sản lượng caonhất trong khu vực này, với cá cơm Nhật đạt 1,9 triệu tấn trong năm 2003 và 1,1 triệu tấntrong năm 2009-2010 Các loài khác cũng đóng góp sản lượng lớn trong tổng sản lượngkhai thác vùng như cá hố, cá thu Nhật, Alaska Pollock; tuy nhiên các loài này đang bịkhai thác quá mức Sản lượng mực, bạch tuộc đạt 1,3 triệu tấn trong năm 2010
Năm 2010, sản lượng khai thác biển khu vực Trung Đông Thái Bình Dương đạt 2triệu tấn Khu vực Đông Nam Thái Bình Dương có những thay đổi bất thường với xuhướng giảm dần sản lượng khai thác từ năm 1993 Các loài cá nổi nhỏ chiếm tỷ trọng lớn
trong sản lượng khai thác Sản lượng cá cơm, cá sòng (Trachurus murphyi), cá trích Nam
Mỹ (Sardinops sagax) chiếm hơn 80% sản lượng khai thác vùng, trong khi sản lượng các
loài cá mòi và cá trích Thái Bình Dương chiếm tỷ trọng nhiều nhất vùng Trung ĐôngThái Bình Dương
Sản lượng khai thác vùng Trung Đông Atlantic tăng trong ba năm qua và đạt 4 triệutấn trong năm 2010 Các loài cá nổi nhỏ đóng góp gần 50% trong tổng sản lượng khaithác, tiếp theo là các loài cá tạp ven bờ Cá trích (Sardina pilchardus) có sản lượng caonhất, đạt 600-900 nghìn tấn trong 10 năm qua
Sản lượng khai thác Vùng Đông Nam Thái Bình Dương đạt 2,4 triệu tấn trong năm
2010, tương đương với mức sản lượng đầu những năm 1970 và đạt 3 triệu tấn trong cuốinhững năm 1980 Cá thu, cá tuyết và cá tuyết chấm đen là những loài có sản lượng caonhất
Tại Đông Bắc Atlantic, tổng sản lượng khai thác biển có xu hướng giảm sau năm
1975, sau đó phục hồi trong những năm 1990 và đạt mức 8,7 triệu tấn trong năm 2010.Tại khu vực Trung Tây Thái Bình Dương, sản lượng khai thác tiếp tục tăng trưởng, đạtmức 11,7 triệu tấn năm 2010, chiếm 14% tổng sản lượng khai thác biển toàn cầu
Sản lượng khai thác ở khu vực phía Đông Ấn Độ Dương có mức tăng trưởng cao,với tốc độ tăng trưởng đạt 17% trong giai đoạn 2007-2010, đạt 7 triệu tấn năm 2010.Vùng vịnh Benga và biển Andaman có mức tăng trưởng ổn định Nguyên nhân tạo ramức tăng trưởng này có thể do sự mở rộng vùng khai thác mới hoặc khai thác các loàimới Sản lượng khai thác biển Khu vực phía Tây Ấn Độ Dương đạt 4,5 triệu tấn năm
2006, sau đó giảm nhẹ trước khi đạt mức 4,3 triệu tấn trong năm 2010
Trang 8Tại khu vực Biển Đen – Địa Trung Hải sản lượng khai thác biển giảm 15%, trongkhi khu vực Tây Bắc Atlantic sản lượng giảm 30 % kể từ năm 2007 Năm 2010, sảnlượng khai thác ở Đông Nam Thái Bình Dương (không tính cá cơm) giảm, trong khi sảnlượng phía Đông Nam Atlantic tăng.
Sản lượng khai thác biển của các loài chính như cá ngừ và tôm vẫn ổn định trongnăm 2010, trong khi sản lượng động vật thân đầu tăng trưởng trở lại sau khi giảm xuốngcòn 0,8 triệu tấn vào năm 2009 Tại vùng biển Antactic, sản lượng nhuyễn thể tăng hơn70% so với năm 2010
Sản lượng nhuyễn thể hai mảnh vỏ- trai và sò, đã từng chiếm hơn 50% trong sảnlượng khai thác nhuyễn thể hai mảnh vỏ vào những năm 1990 ngày càng giảm trongnhững năm gần đây Sản lượng khai thác trai và sò cũng có xu hướng giảm
4 Khai thác nội địa
Từ giữa những năm 2000 đến nay, tổng sản lượng khai thác nội địa tăng đáng kể, đạt11,2 triệu tấn trong năm 2010, tăng 30% kể từ năm 2004 Các nước châu Á đóng gópphần lớn trong tổng sản lượng khai thác nội địa toàn cầu chiếm gần 70% Trong mấy nămgần đây, tỷ trọng sản lượng khai thác nội địa của một số nước châu Á ngày càng tăng.Năm 2010, sản lượng khai thác nội địa của Ấn Độ tăng đáng kể, tăng 0,54 triệu tấn so vớinăm 2009 Sản lượng của Trung Quốc và Myanma đều tăng 0,1 triệu tấn
Sản lượng khai thác nội địa tại một số châu lục khác có những xu hướng khác nhau.Uganđa và Cộng hòa Tanzania là các nước có sản lượng cao ở châu Phi Tại một số nướcNam Mỹ như Agentina, Colombia, Vênêzuêla và một số nước Nam Mỹ khác sản lượngkhai thác nội địa có xu hướng giảm Tại châu Âu, sản lượng khai thác nội địa tăng tronggiai đoạn 2004-2010 do sản lượng của liên bang Nga tăng gần 50% Sản lượng khai thác
ở một số nước ở châu Đại Dương thay đổi không đáng kể
5 Các chiến lược quản lý
Mặc dù có sự khác nhau về mặt quản lý, nguồn lợi hải sản, các điều kiện kinh tế xã hội, nhưng các nước trong khu vực đều phải đối mặt với những vấn đề bức xúc như nhau trong quá trình phát triển nghề cá của mình
Để phát triển bền vững và quản lý tốt , các nước trong khu vực đã để ra các biện pháp quản lý và đã rất thành công trong quản lý nghề cá ven bờ Các biện pháp quản lý chủ yếu là:
- Ban hành luật nghề cá: Đây là cơ sở pháp lý để có quản lý nghề cá hữu hiệu Nhật
Bản đưa ra luật nghề cá Meifi vào năm 1901 và sửa lại anwm 1910 và năm 1949,
Trang 9Luật nghề cá hiện từ năm 1949, đã cụ thể hóa bộ luật Meifi, đến nay Nhật Bản có 19 Luật liên quan đén nghề cá Trung Quốc ban hành Luật nghề cá năm 1986 Thái Lan
1947 và bổ sung năm 1953 Philipin 1975
- Chương trình cấp giấy phép đánh cá Để bảo vệ nguồn lợi cá biển và đạt được sự cân
bằng tối ưu giữa năng lực khai thác và nguồn lợi, các nước đã ban hành các qui định
về hạn mức tổng công xuất máy tàu cho phép hoạt động ở mỗi vùng biển Cấm ngư
cụ và phương pháp đánh bắt có hại, qui định mùa cấm, vùng cấm, kích thước cá cho phép đánh bắt, kích thước mắt lưới và giới hạn tỉ lệ cá tạp, bảo vệ môi trường Qui định vùng cấm hoàn toàn sự hoạt động cuả nghề lưới kéo
- Phân chia ngư trường: Hầu hết các nước Đông Nam Á và Đông Á đã thực hiện phân
chia ngư trường theo tuyến Mỗi vùng sẽ qui định cỡ tàu và nghề được phép hoạt động Qui định vùng biển cấm nghề lưới kéo hoạt động (thường là các vùng biển ven bờ)
- Quản lí nghề cá ven bờ dựa vào cộng đồng: Thấy rõ tầm quan trọng và sự phức tạp
của quản lý nghề cá van bờ, nếu chỉ dựa vào số cán bộ ít ỏi của các cơ quan quản lý nghề cá cấp tỉnh sẽ không thể quản lý, bảo vệ nguồn lợi ven bờ và duy trì được sự phát triển bền vững của ngành khai thác cá biển
Quản lý nghề cá dựa trên cộng đồng đang là mô hình quản lý tốt vùng ven bờ cho nghề cá qui mô nhỏ Áp dụng mô hình này sẽ hạn chế đáng kể tình trạng cạnh tranh vô ích trong khai thác và bảo vệ tốt được nguồn lợi ven bờ mô hình này đang được nhiều nước nghiên cứu áp dụng
6 Triển vọng
Dự báo, sản lượng khai thác có mức tăng trưởng vừa phải, khoảng 3% trong giai đoạn2012-2021 Tỷ trọng sản lượng thủy sản khai thác dùng để sản xuất thức ăn sẽ khoảng17% trong năm 2021, giảm khoảng 6% so với giai đoạn 2009-2011 do nhu cầu tiêu dùngthủy sản của con người ngày càng tăng Sản lượng khai thác nội địa sẽ ít hơn so với sảnlượng khai thác biển Tuy nhiên, cá và các loài thủy sản khai thác từ nội địa đóng gópphần quan trọng trong thực đơn của mọi người trên toàn thế giới, đặc biệt là các quốc gia
ở châu Á Thái Bình Dương, Mỹ La tinh và Đông Âu Mức khai thác trong khai thác nộiđịa cũng khác nhau ở các vùng khác nhau do yếu tố văn hóa và nhân khẩu học Khai thácquá mức cũng vẫn còn tồn tại trong khai thác nội địa, đặc biệt là Nam Mỹ
II Khai thác thủy hải sản ở Việt Nam
1 Khai thác nội địa
Trang 101.1 Nguồn lợi thủy sản
Việt Nam có những thủy vực tự nhiên rất rộng lớn, hệ thống sông ngòi và kênh rạchchằng chịt, khí hậu nhiệt đới mưa nhiều Những điều kiện tự nhiên trên đem lại cho nước
ta những nguồn lợi:
- 1,7 triệu ha thủy vực nội địa
- 230 hồ tự nhiên và đầm phá với diện tích 34.600 ha, năng suất của hồ 250kg/ha.năm
- Hồ chứa nhân tạo với diện tích trên 40.000 ha, năng suất của hồ 17kg/ha.năm ở cáctỉnh phía Bắc và 30-65kg/ha.năm ở các tỉnh phía Nam
- Sông trong đó có 100 sông lớn, năng suất của sông 8-10kg/ha.năm ở các tỉnh phíaBắc và 135-150kg/ha.năm ở các tỉnh phía Nam
- 580.000 ha ruộng nước, trong đó 12% thuộc ĐB sông Hồng và 88% thuộc ĐB sôngCửu Long; 20% ĐB sông Hồng và với tỉ lệ nhỏ hơn ĐB sông Cửu Long bị ngập vàomùa mưa
- Có 544 loài cá nước ngọt, trong đó 243 loài cá ở các sông miền Bắc, 134 loài ở miềnTrung và 255 loài ở miền Nam, chỉ có 70 loài có giá trị kinh tế
- Có 186 loài cá nước lợ mặn, trong đó có nhiều loài cá có giá trị kinh tế như cá song(cá mú), cá hồng, cá trap, cá vược (cá chẽm), cá măng, cá cam, cá bống, cá bớp, cáđối, cá dìa
- Có 700 loài động vật không xương sống trong đó 55 loài giáp xác, 125 loài hai mãnh
vỏ và chân bụng
1.2 Đặc điểm khai thác nội địa
Khai thác nội địa có xu hướng giảm, thể hiện nguồn lợi thủy sản đang bị suy giảmnghiêm trọng do việc khai thác quá mức, khai thác hủy diệt, đặc biệt là tình trạng ô nhiễmmôi trường do các hóa chất dung trong nông nghiệp và do các công trình thủy lợi để kiểmsoát lũ đã làm mất nơi ở, các bãi sinh sản và bãi ương nuôi của cá di cư hoặc các động vậtthủy sản khác
Bảng 2.1 Khai thác thủy sản nội địa qua các năm Năm 2000 2002 2004 2006 2008 2010 2011 2012
Sản lượng
(Nguồn: Tổng cục thống kê qua các năm)
Trang 11Phương tiện khai thác thủy sản nội địa rất thô sơ, chủ yếu là các công cụ khai tháctruyền thống có từ lâu đời như chài, lưới, đăng,…, chưa kể tới kích điện, xung điện… đây
là những phương tiện có tính hủy diệt rất cao, ngư dân có thể đánh bắt bất kỳ đối tượng
và kích thước nào mà gần như không gặp phải trở ngại nào
Khai thác thủy sản nội địa đóng vai trò quan trọng đối với dân nghèo vùng nông thônViệt Nam, không chỉ đối với những người đánh bắt chuyên nghiệp mà cả đối với những
hộ dân coi kết hợp đánh cá như một sinh kế phụ bên cạnh những nghề khác
1.3 Giá trị sản lượng khai thác
Sản lượng khai thác cá nội địa bao gồm cả khai thác thủy sản dựa trên nuôi thả, thôngqua việc thả giống ở các hồ chứa, đập hoặc các mặt nước khác, chủ yếu là cá chép và cá
Năm 2001
Tỷ lệ (%)
Năm 2010
Tỷ lệ (%)
Năm 2012
Tỷ lệ (%)
2 Khai thác biển
2.1 Nguồn lợi hải sản
Theo thống kê cho thấy biển Việt Nam có chừng 11.000 loài sinh vật đã được pháphiện Trong đó có khoảng 6000 loài động vật đáy, 2.038 loài cá, 1640 loài giáp xác, 2500
Trang 12loài nhuyễn thể, 650 loài rong biển, 25 loài mực, 7loài bạch tuộc,… Vùng biển đặc quyềnkinh tế của nước ta trữ lượng hải sản dao động trong khoảng 3,2 – 4,2 triệu tấn/năm vớikhả năng khai thác bền vững 1,4 – 1,8 triệu tấn Với những tiếm năng trên ngành khaithác thủy hải sản ở Việt Nam xuất hiện từ rất sớm nhưng chủ yếu tập trung đánh bắt ven
bờ trong khi nguồn lợi xa bờ chưa khai thác hết
Nguồn lợi xa bờ
Đây là vùng nước ngoài khơi thuộc vùng biển đặc quyền kinh tế, được tính từ đườngcách bờ biển 24 hải lí đến giới hạn ngoài của vùng biển Việt Nam Mặc dù hoạt độngkhai thác đã diễn ra từ những năm 90 nhưng chưa có nhiều nghiên cứu về nguồn lợi ởkhu vực này Trong những năm gần đây hoạt động khai thác đã diễn ra khá mạnh mẽ ởnhiều ngư trường ở cả 5 vùng biển khơi vịnh Bắc Bộ, Duyên hải Trung Bộ, Đông Nam
Bộ, Tây Nam Bộ và vịnh Thái Lan
Dựa trên những số liệu sẵn có và phân tích thực tiễn khai thác trong những năm gầnđây có thể thấy rằng nguồn lợi thủy sản xa bờ ở nước ta nhìn chung không giàu, mứcphong phú trung bình, độ sâu càng lớn mật độ càng giảm và nguồn lợi cũng ít phong phú.Các loại hải sản có giá trị kinh tế cao chỉ chiếm số lượng và tỉ lệ thấp, thành phần cá tạpchiếm tỉ lệ cao Trong đó vùng biển Đông Nam Bộ có khả năng khai thác hải sản xa bờlớn nhất chiếm 49,7% khả năng khai thác cả nước, sau đó là Vịnh Bắc Bộ (16%), biểnmiển Trung (14,3%), Tây Nam Bộ(11,9%) Tuy nhiên, lượng cá có thể xuất khẩu trongsản lượng đánh bắt xa bờ là không cao, ở miền Bắc chỉ chiếm khoảng 5 – 15% sản lượng,miền Trung chỉ xuất khẩu được một số loài cá nổi lớn và mực, ở Đông và Tây Nam Bộlượng cá này cũng chỉ chiểm khoảng 20 – 30% Tỉ lệ cá tạp trung bình chiếm đến 40%.Nhìn chung, nguồn lợi mang tính phân án, đàn cá nhỏ, khó đạt hiệu quả cao khi tiếnhành khai thác ở quy mô lớn; điều kiện thủy văn, khí hậu ở vùng này thất thường, cónhiều dông, bão thêm vào đó công tác hậu cần chưa tốt làm cho quá trình khai thác chịunhiều rủi ro, tốn thêm chi phí
Nguồn lợi ven bờ
Vùng nước mặn ven bờ là vùng sinh thái quan trọng nhất đối với các loài thủy sinhvật Vùng này có nguồn thức ăn dồi dào do phù sa và các loại chất vô cơ cũng như hữu
cơ hòa tan từ các cửa sông lạch đổ ra Đó là nguồn thức ăn rất tốt cho các loài sinh vậtbậc thấp và đến lượt mình chúng lại trở thành thức ăn cho tôm, cá Vì vậy, vùng này làbãi sinh sản, cư trú, phát triển của nhiều loài thủy sản
Vùng Đông Nam Bộ và vùng Tây Nam Bộ là vùng sinh thái có sản lượng khai tháccao nhất, có thể chiếm tới 67% tổng lượng hải sản khai thác ở Việt Nam
Trang 13Vịnh Bắc Bộ với hàng nghìn hòn đảo tạo nên nhiều bãi triều quanh đảo, có thể nuôicác loài nhuyễn thể có giá trị như trai ngọc,vẹm xanh, vẹm nâu, hàu sông, hàu biển, bàongư, sò huyết, sò lông, ngao dầu, ngao mật,
Đặc tính nguồn lợi này gây khó khăn cho hoạt động khai thác khi phải chọn lựa cácthông số kỹ thuật của ngư cụ sao cho vừa kinh tế,vừa có tính chọn lọc cao (các ngư cụ cókhả năng đánh bắt một cách lựa chọn đối tượng cần khai thác) Nghề đánh cá biển củaViệt Nam mang tính chất đa loài Do kích cỡ cá cũng như kích cỡ đàn rất khác nhau nêncần có đội tàu đa dạng
Đặc tính phong phú về loài nhưng số lượng cá thể mỗi loài lại không nhiều cũng gâykhó khăn cho các nhà chế biến Với mỗi mẻ lưới, nhất là đối với nghề lưới kéo (giã cào),phải rất mất công phân loại cá, tôm theo loài để xử lý,bảo quản và chế biến
Trang 14Bảng 2.3 Trữ lượng và khả năng khai thác cá biển ở Việt Nam
(%) Tấn
Tỷ lệ (%)
Trang 15Cá đáy 2.140.133 855.885
Cá nổi đại dương
Trữ lượng (tấn)
Cho phép khai thác (tấn)
Trữ lượng (tấn)
Cho phép khai thác (tấn)
Trữ lượn g (tấn)
Cho phép khai thác (tấn)
Trữ lượn g (tấn)
Cho phép khai thác (tấn)
Trang 16Làm tròn số : Trung tâm Thông tin KHKT và Kinh tế thuỷ sản
Bảng 2.5 Trữ lượng và khả năng khai thác mực nang ở vùng biển Việt Nam
Khu vực
Trữ lượng và khả năng khai thác (tấn)
Trang 17Theo số liệu của cục Khai thác và bảo vệ nguồn lợi Thủy sản đến năm 2011 cả nước
có trên 126,4 nghìn tàu cá các loại với tổng công suất đạt khoảng 4,4 triệu CV (tàuthuyền tăng 70% công suất tăng 175% so với năm 2001) Số lượng tàu cá tăng bình quân6,2% năm, tổng công suất máy tàu tăng bình quân 7,1%/năm
Trong đó:
Tàu cá ven bờ (được coi là loại tàu cá có công suất nhỏ hơn 90CV)
Nhóm tàu cá ven bờ thường chiếm tỉ lệ cao trong tổng số tàu cá khai thác ở nước ta.Trong nhóm tàu này, nhóm tàu có công suất <20 CV là nhóm tàu chỉ có khả năng khaithác ở vùng ven đất liền có độ sâu khoảng 30m trở vào gây ảnh hưởng nghiêm trọng tớinguồn lợi ven bờ tăng bình quân 9,1%/năm, nhóm tàu có công suất từ
20 – 90CV tăng bình quân 1,8%/năm
Tàu cá xa bờ (những tàu cá có công suất lớn hơn 90CV)
Trang 18Trong tổng số tàu khai thác thủy hải sản ở nước ta, nhóm tàu thuyền khai thác xa bờluôn chiếm tỉ lệ không cao nhưng có xu hướng tăng dần theo thời gian Đây là nhóm tàu
có mức tăng trưởng cao nhất (13%năm) Sự tăng lên nhanh chóng của nhóm tàu này thểhiện xu thế phát triển khai thác hướng tới nguồn lợi xa bờ
Theo số liệu mới nhất và năm 2012, cả nước có khoảng 125.000 tàu cá Trong đó sốtàu cá tham gia hoạt động đánh bắt xa bờ có công suất >90CV vào khoảng 26.000 chiếcchiếm 20.8% tổng số tàu cá tăng 1,1% so với năm 2011
Bảng 2.7 Cơ cấu tàu thuyền khai thác hải sản phân theo công suất máy
T
T Hạng mục
Đơn vị
Năm 2001
Năm 2010
Năm 2011
Tốc độ tăng trưởng bình quân đoạn 2001-2010 (%/năm )
3.215.214
4.444.66
2.3 Cơ cấu nghề cá
Ở nước ta hiện có 40 loại nghề cá khai thác được xếp vào 7 họ nghề chủ yếu là
Bảng 2.8 Cơ cấu nghề cá phân theo công suất
TT Họ Nghề Tổng
Số
< 20 cv 20 - 90 cv > 90 cv Chiếc % Chiếc % Chiếc %
Trang 19Từ bảng 2.8 ta có thể thấy số tàu đánh bắt ven bờ hoạt động nghề lưới rê chiếm tỉtrọng cao đặc biết là những tàu có công suất dưới 20CV (chiếm 54,1%) chứng tỏ nghềlưới rê đang là sinh kế chủ yếu của ngư dân nghèo ven bờ Trong số tàu cá khai thác hảisản xa bờ, nghề lưới kéo chiếm tỉ trọng cao nhất (46,7%) cho dù sử dụng lưới kéo đem lạihiệu quả không cao, khai thác không có tính chọn lọc và ảnh hưởng đến nguồn lợi mà nóquét qua.
2.4 Đánh giá nguồn lao động
Tương ứng với tăng số lượng tàu cá, lao động trực tiếp khai thác thủy sản cũng tăngtheo, từ 270.587 người (năm 1990) lên gần 850.000 người (năm 2011), mỗi năm bổsung khoảng 18-20 nghìn người
Trình độ lao động phần lớn được đào tạo theo phương thức “cha truyền con nối” Độingũ thuyền trưởng, máy trưởng hầu hết ít được đào tạo qua trường lớp chính quy,thiếu các kiến thức cơ bản để sử dụng được các thiết bị hàng hải, khai thác Thiếu cáckiến thức về luật hang hải để có thể hoạt động khai thác ở những vùng biển quốc tế
Trình độ văn hóa thấp, trong đó có 8,4% mù chữ, 55,2% tốt nghiệp tiểu học, chỉ có34,5 tốt nghiệp trung học cơ sở, 1,9% trung học phổ thông và 0,1% được đào tạo quacác trường đại học và trung học chuyên.( theo Nghiên cứu cơ sở khoa học phục vụ
Trang 20cho việc điều chỉnh cơ cấu nghề nghiệp khai thác hải sản, Viện nghiên cứu hải sản,Nguyễn Văn Kháng, 2011)
Nếu xét các loại nghề khai thác gần bờ, trừ nghề lưới rùng bờ sử dụng nhiều lao độngđánh cá bán chuyên Các loại nghề khai thác sử dụng thuyền thủ công và tàu thuyềncông suất nhỏ nên số lượng đánh cá bình quân 2-5 người/1 đơn vị tàu thuyền Tuykhông có số liệu chính xác nhưng ước lượng số lao động khai thác thủy hải sản gần
Nhìn vào biểu đồ trên ta thấy:
Phân theo vùng thì xa bờ chiếm 49,4%, còn lại lượng ven bờ chiếm 50,6% tổngsản lượng khai thác thủy hải sản toàn quốc Sản lượng khai thác hải sản trong những nămvừa qua có xu hướng tăng chậm Qua đó cho ta thấy sự chuyển đổi cơ cấu từ khai thácgần bờ sang khai thác xa bờ đã và đang diễn ra mạnh mẽ
Bảng 2.9 Hiện trạng khai thác thủy sản tuyến biển Việt Nam giai đoạn 2001-2010
Trang 21T Sản lượng
ĐV T
Năm 2001
Tỷ lệ (%)
Năm 2010
Tỷ lệ (%)
TĐTBQ (%/
Sản lượng khai thác ven bờ năm 2001 là 1.025.200 tấn (chiếm 69,2%) đến năm
2010 sản lượng là 1.126.000 tấn (chiếm 50,6%) Tốc độ gia tăng sản lượng vào khoảng1,1%/năm
Năm 2001 sản lượng khai thác xa bờ là 456.000(chiếm 30,8%) đến năm 2010 sảnlượng vào khoảng 1.100.000 tấn(chiếm 49,4%) Tốc độ gia tăng sản lượng khai thác xa
bờ đạt 10,3%/năm Cá ngừ đại dương là một trong những đối tượng khai thác chính củanghề cá xa bờ Trong giai đoạn 2001- 2010 sản lượng khai thác cá ngừ khoảng 15.000 –30.000 tấn/năm, trong đó sản lượng cá ngừ đại dương đạt khoảng 12.231 tấn/năm Trongnăm 2012, riêng sản lượng cá ngừ đại dương tại 3 tỉnh trọng điểm miền trung đều caohơn năm 2011 và ước tính đạt trên 19000 tấn (Bình Định 9.055 tấn, Phú Yên 6.050 tấn,Khánh Hòa 4.000 tấn)
Nguồn lợi xa bờ ở Việt Nam không phong phú, số lượng hải sản có giá trị khôngnhiều, đối tượng khai thác chủ yếu là cá ngừ đại dương, mực Giá trị kinh tế chưa cao,đánh bắt xa bờ chỉ đóng góp khoảng 20% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản hàng năm
Trang 22Về cơ cấu sản lượng phân theo vùng: vùng biển Vịnh Bắc Bộ có xu hướng tăng từ14,3% năm 2001 lên 17,4% năm 2010; còn lại các vùng biển khác đều có xu hướng giảm( vùng biển Trung Bộ giảm từ 32% năm 2001 xuống còn 31,9% năm 2010; vùng biểnĐông Nam Bộ giảm từ 24,8% xuống còn 28,8% năm 2010; vùng biển Tây Nam Bộ giảm
từ 24,8% xuống còn 21,9% năm 2010) Điều này thể hiện sự suy giảm nghiêm trọngnguồn lợi thủy sản trong giai đoạn này
Bảng 2.10 Hiện trạng cơ cấu sản lượng khai thác hải sản theo vùng biển giai đoạn 2001-2010
T
T Vùng biển
ĐV T
Năm 2001
Tỷ lệ (%)
Năm 2010
Tỷ lệ (%)
TĐTBQ (%/
Năm 2010
TĐTBQ (%)
Trang 23Giai đoạn 2001-2010, năng suất khai thác theo lao động có chiều hướng tăng nhẹ(tăng 0,7%/năm) Ngược lại, năng suất theo tàu thuyền và công suất lại có xu hướng giảmdần, đặc biệt từ 0,49 tấn/cv xuống 0,37 tấn/cv (giảm 3,1%/năm) Điều này chứng tỏ, sựgia tăng tổng công suất máy không tương ứng với sự gia tăng tổng sản lượng khai thác.
2.6 Đánh giá hiệu quả
Trong giai đoạn 2001 – 2010, hiệu quả khai thác thủy hải sản ở Việt Nam được cảithiện sản lượng khai thác tăng lên đáng kể.Sản lượng xa bờ có tốc độ tăng trưởng bìnhquân khá nhanh thể hiện xu hướng phát triển khai thác nguồn lợi ngoài khơi trong khinguồn lợi ven bờ đang suy giảm, phù hợp với chủ trương của chính phủ Tuy nhiên, sovới một số nước trong khu vực như Thái Lan, Trung Quốc, Philippin, hiệu quả khai tháccủa ta còn chưa cao
Chất lượng thủy hải sản ven bờ đang có xu hướng giảm, tỉ lệ cá con trong mỗi mẻlưới ngày càng tăng nguyên nhân là do sự khai thác quá mức Tuy rằng trong giai đoạnvừa qua tốc độ gia tăng sản lượng ở ven bờ có xu hướng chậm lại (khoảng 1,1%/năm) tuynhiên nhìn chung sản lượng ven bờ vẫn vượt quá khả năng khai thác Ngay từ năm 2001sản lượng khai thác đã đạt 1.025.200 tấn gần gấp đôi so với khả năng khai thác gần bờcho phép khoảng 600.000 tấn/năm
Hoạt động khai thác xa bờ ở nước ta thực sự bắt đầu từ năm 1997 Trước bối cảnhnguồn lợi ven bờ đang dần cạn trong khi nguồn lợi xa bờ chưa khai thác hết, năm 1997Chính phủ nước ta ra Quyết định số 393/TTg đề ra chương trình phát triển đánh bắt xa bờnhằm khai thác nguồn lợi thủy sản ngoài khơi Mặc dù chương trình này được coi là thấtbại, hoạt động khai thác không hiệu quả nhưng nó là tiền đề để phát triển hoạt động khaithác xa bờ sau này
Trong những năm gần đây hiệu quả khai thác thủy hải sản xa bờ đã tăng lên rõ rệt Sản lượng khai thác trong năm 2001 chỉ đạt 456.000 nghìn tấn chưa đáp ứng đượcmột nửa sản lượng được phép khai thác, khả năng khai thác chưa tương xứng với tiềmnăng thủy hải sản Nhưng đến năm 2010, sản lượng khai thác xa bờ đã đạt 1.100.000 tấnchạm mốc sản lượng khai thác cho phép, chiếm 49,4% tổng sản lượng khai thác tuyếnbiển, tốc độ gia tăng sản lượng bình quân là 10%/năm Đây là một con số khả quan chothấy sự chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu từ khai thác gần bờ sang khac thác xa bờ
Một số vấn đề còn tồn tại