Kết quả trong thời gian vừa qua, công tác quản lý nhiệm vụ KH&CN đã được đổi mới, thể hiện ở chỗ đã tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho hoạt động nghiên cứu KH&CN, bảo đảm quyền và lợi
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGÔ THỊ THANH NGA
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHIỆM VỤ KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ CỦA VIỆN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP VIỆN SINH THÁI VÀ
TÀI NGUYÊN SINH VẬT)
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
HÀ NỘI, 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGÔ THỊ THANH NGA
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHIỆM VỤ KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ CỦA VIỆN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP VIỆN SINH THÁI VÀ
TÀI NGUYÊN SINH VẬT)
Ngành: Quản lý Khoa học và Công nghệ
Mã số: 8 34 04 12
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS ĐẶNG DUY THỊNH
HÀ NỘI, 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của
cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sỹ Đặng Duy Thịnh
Các số liệu sử dụng trong luận văn có trích dẫn nguồn rõ ràng Các kết luận nghiên cứu trong luận văn được đúc kết từ cơ sở lý luận đến thực tiễn của vấn đề luận văn cần giải quyết
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình./
Học viên
Ngô Thị Thanh Nga
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được Học viện Khoa học Xã hội, Viện hàn lâm Khoa học
Xã hội Việt Nam và Viện Chiến lược và Chính sách khoa học và công nghệ,
Bộ Khoa học và Công nghệ quyết định và cho phép thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Đặng Duy Thịnh
Tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc nhất tới thầy giáo hướng dẫn là TS Đặng Duy Thịnh đã trực tiếp tận tình hướng dẫn, chia sẻ kinh nghiệm và đóng góp nhiều ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô trong Khoa Chính sách công đã tận tình giảng dạy, cung cấp kiến thức và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho chúng tôi trong thời gian học tập tại trường
Nhân dịp này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Lãnh đạo Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, các tổ chức và cá nhân, anh chị em đồng nghiệp và gia đình đã luôn ở bên hỗ trợ tài liệu, tư vấn, chia sẻ kinh nghiệm
và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi thực hiện luận văn
Do thời gian và năng lực bản thân có hạn, luận văn này không tránh khỏi những khiếm khuyết, tôi rất mong được sự thông cảm và nhận được những góp ý của các thầy cô giáo, các chuyên gia trong lĩnh vực Quản lý Khoa học và Công nghệ để Luận văn được hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn !
Học viên
Ngô Thị Thanh Nga
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA VIỆN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 7
1.1 Các khái niệm, định nghĩa công cụ 7 1.2 Viện nghiên cứu khoa học và quản lý nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ 13 1.3 Nội dung và đặc điểm của công tác quản lý nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ của Viện nghiên cứu khoa học 19 1.4 Kinh nghiệm thực tiễn về quản lý nhiện vụ Khoa học và Công nghệ tại Viện nghiên cứu khoa học 24
Chương 2: CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT TỪ NĂM
2014 ĐẾN 2018 29
2.1 Tổng quan về Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật 29 2.2 Công tác quản lý các nguồn lực thực hiện nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ KH&CN 38
2.3 Thực trạng công tác quản lý nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ Viện
Sinh thái và Tài nguyên sinh vật 2014-2018 43 2.4 Đánh giá chung về công tác quản lý nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ trong hoạt động Khoa học và Công nghệ của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật 49
Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA VIỆN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 55
3.1 Bối cảnh, cơ hội ảnh hưởng đến công tác quản lý nhiệm vụ Khoa học
và Công nghệ của Viện nghiên cứu khoa học 55 3.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ cho các viện Nghiên cứu khoa học 62
KẾT LUẬN 74 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Bộ KHCN: Bộ Khoa học và Công nghệ
CGCN: Chuyển giao công nghệ
DNNN: Doanh nghiệp nhà nước
HVCH: Học viên cao học
KT-XH: Kinh tế - Xã hội
KH&CN: Khoa học và Công nghệ
KHXH&NV: Khoa học xã hội và nhân văn
Luật KH&CN: Luật Khoa học và công nghệ
NC&TK: Nghiên cứu và Triển khai
NCCB: Nghiên cứu cơ bản
NCKH: Nghiên cứu khoa học
NCS: Nghiên cứu sinh
NCƯD: Nghiên cứu ứng dụng
NCVCC: Nghiên cứu viên cao cấp
NSNN: Ngân sách nhà nước
Nghị định 115: Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 05/09/2005 của Chính phủ PGS: Phó giáo sư
SX-KD: Sản xuất – Kinh doanh
TKTN: Triển khai thực nghiệm
Viện STTTNSV: Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật
Viện HL KHCNVN:Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Tỷ suất thành công, thất bại của hoạt động NC&TK 19Bảng 2.1: Nhân lực KHCN Viện STTNSV năm 2018 33Bảng 2.2 Số lượng kinh phí chia theo nguồn giai đoạn 2014-2018 34Bảng 2.3 Kết qủa thực hiện các nhiệm vụ KH&CN giai đoạn 2014-2018 36
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Hoạt động NC&TK theo khái niệm của UNESCO, 8 Hình 1.2 Phân loại hoạt động NC&TK theo các giai đoạn 9 Hình 1.3 Chuỗi nghiên cứu và triển khai, người tham gia và tài chính 14 Hình 2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Viện STTNSV tại thời điểm thành lập và phát triển trong giai đoạn 1990 31 Hình 2.2 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Viện STTNSV hiện nay 32 Hình 2.3 Quy trình xác định danh mục và xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì nhiệm vụ KHCN 44 Hình 2.4 Quy trình quản lý chung thực hiện các nhiệm vụ KHCN cấp Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam 45
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đảng và Nhà nước ta từ rất sớm đã xác định vai trò then chốt của cách mạng khoa học và kỹ thuật Trong thời gian gần đây, nhiều văn bản quan trọng về định hướng chiến lược và cơ chế, chính sách phát triển khoa học và công nghệ đã được ban hành: Luật Khoa học và Công nghệ (2013); Luật chuyển giao công nghệ (2017); Chiến lược phát triển KH&CN Việt Nam 2011-2020; Nghị quyết 20-NQ/TW của đảng về phát triển KH&CN phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đaị hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế (2012)
và nhiều chính sách cụ thể khác về xây dựng tiềm lực và đổi mới cơ chế quản lý khoa học và công nghệ
Mới đây, báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI được Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII (20-28/01/2016) thông qua đã có những nhận định, đánh giá về những ưu nhược của công tác quản lý KH&CN như: Quản lý nhà nước về khoa học, công nghệ có đổi mới Thị trường KH&CN cũng như hợp tác quốc tế về KH&CN có bước tiến bộ nhưng còn thiếu định hướng, hiệu quả thấp Việc huy động nguồn lực của xã hội cho khoa học, công nghệ chưa được chú trọng Công tác quy hoạch, phát triển KH&CN chưa gắn kết chặt chẽ với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và quốc phòng - an ninh Báo cáo cũng đã đề ra phương hướng quản lý KH&CN thời gian tới như sau: “Đến năm
2020 KH&CN Việt Nam đạt trình độ phát triển của nhóm các nước dẫn đầu ASEAN; đến năm 2030 có một số lĩnh vực đạt trình độ tiên tiến thế giới” Các ngành KH&CN có nhiệm vụ cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng và triển khai đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật Có cơ chế thúc đẩy đổi mới công nghệ theo hướng ứng dụng công nghệ mới, công nghệ hiện đại Thực hiện
cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức KH&CN công lập; Tăng cường liên kết giữa các tổ chức KH&CN với doanh nghiệp; mở rộng hình thức liên kết giữa Nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, nhà nông Khuyến khích, tạo điều kiện để các doanh nghiệp tham gia nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng tiến
bộ KH&CN, đổi mới công nghệ; Xây dựng và thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng, đãi ngộ, tôn vinh đội ngũ cán bộ KH&CN, nhất là các chuyên
Trang 9gia giỏi, có nhiều đóng góp Kiện toàn, nâng cao năng lực bộ máy và đội ngũ cán bộ
quản lý nhà nước về KH&CN Đối với công tác quản lý nhiệm vụ KH&CN, Luật
KH&CN 2013 đã đưa ra những đổi mới như cơ chế đặt hàng, cấp kinh phí KH&CN thông qua cơ chế quỹ,
Kết quả trong thời gian vừa qua, công tác quản lý nhiệm vụ KH&CN đã được đổi mới, thể hiện ở chỗ đã tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho hoạt động nghiên cứu KH&CN, bảo đảm quyền và lợi ích của tổ chức, cá nhân tham gia công tác nghiên cứu KH&CN, bảo đảm sự phân công phân cấp, xác định trách nhiệm giữa các đơn vị, tổ chức tham gia thực hiện nhiệm vụ KH&CN, Tuy nhiên trên thực tế cho thấy vẫn còn những bất cập như thiếu sự phối hợp giữa các loại nhiệm vụ cấp bộ (vd Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) với cấp cơ sở (vd Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật ); thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị quản lý nhiệm vụ KH&CN các cấp; thiếu sự phân công, phân cấp rõ ràng giữa nhiệm vụ KH&CN cấp bộ với nhiệm vụ nghiên cứu thường xuyên theo chức năng của đơn vị cơ sở, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (Viện STTNSV) là tổ chức KH&CN trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học
và Công nghệ Việt Nam (Viện HL KHCNVN), và là đơn vị hoạt động dưới sự quản lý của Viện HL KHCNVN nói riêng và theo những quy định của Đảng và Nhà nước nói chung Viện STTNSV có chức năng điều tra nghiên cứu cơ bản và phát triển công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao trong lĩnh vực sinh thái học, đa dạng sinh học và tài nguyên sinh vật Do sự thay đổi của cơ chế chính sách và nhu cầu phát triển của Viện STTNSV, công tác quản lý các nhiệm
vụ KH&CN của Viện đã có những điểm được hoàn thiện theo Luật KH&CN
2013, cơ chế tự chủ tại Nghị định 115 và Luật KH&CN 2013 và mới đây là Nghị định 54/NĐ-CP về tự chủ của tổ chức KH&CN công lập Tuy nhiên vẫn còn có những điểm chưa theo kịp và không còn phù hợp với quá trình chuyển đổi hình thức hoạt động như hiện nay
Trong bối cảnh đó, tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện công tác
quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ của Viện nghiên cứu khoa học (Nghiên cứu trường hợp Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật)” với mong muốn tìm hiểu
về cơ sở lý luận về công tác quản lý các nhiệm vụ KH&CN tại Viện nghiên cứu khoa
Trang 10học; nghiên cứu thực trạng công tác quản lý nhiệm vụ KH&CN, tìm hiểu các nhân tố tác động đến công tác quản lý nhiệm vụ KH&CN và trên cơ sở đó đề xuất hướng quản lý phù hợp với chức năng, đặc điểm các nhiệm vụ KH&CN của Viện STTNSV
vật nói riêng và Viện nghiên cứu khoa học nói chung
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Công tác quản lý nhiệm vụ KH&CN tại Viện nghiên cứu khoa học một cách hiệu quả luôn là vấn đề được quan tâm của Nhà nước và các cấp lãnh đạo trong tình hình nền kinh tế thị trường hiện nay Trong những năm gần đây, Viện nghiên cứu khoa học chịu sự tác động của cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm ngày càng diễn ra mạnh mẽ Một số công trình nghiên cứu liên quan đến quản lý nhiệm vụ KH&CN có thể kể đến như:
- "Đổi mới cơ chế quản lý khoa học và công nghệ" -TS Lê Đăng Doanh (NXB Khoa học & Kỹ thuật, Hà Nội, 2003);
- “Nghiên cứu đổi mới cơ chế, chính sách tài chính của Nhà nước đối với hoạt động khoa học và công nghệ và hoạt động đổi mới (công nghệ )” - TS Đặng Duy Thịnh, Đề tài cấp bộ, Hà Nội, 2009;
- “Nghiên cứu phân tích, đánh giá hoạt động quản lý các nhiệm vụ KH&CN sau 30 năm đổi mới” - TS Hoàng Xuân Long, Đề tài cấp Bộ, Hà Nội, 2017
Qua các nghiên cứu nêu ở trên, những nội dung cơ bản của đổi mới cơ chế quản lý KH&CN; đổi mới hệ thống KH&CN, phát triển nguồn nhân lực, đổi mới cơ chế tài chính, kế hoạch hoá hoạt động KH&CN, xây dựng thị trường KH&CN… đã được đề cập và phân tích từ các góc độ khác nhau Những nghiên cứu này đã từng bước sáng rõ các vấn đề về quản lý KH&CN và thúc đẩy quá trình đổi mới đáp ứng nhu cầu thực tế ở phạm vi quốc gia cũng như địa phương
Trong thời gian qua, các nghiên cứu về đổi mới chính sách trong quản lý KH&CN ở các Viện nghiên cứu khoa học được thực hiện rất ít Ở phạm vi Viện
HL KHCNVN, những vấn đề nghiên cứu về phương pháp luận thường ít được chú ý Những nghiên cứu liên quan đến hoạt động KH&CN của Viện HL KHCNVN trong những năm gần đây có thể kể đến là:
Trang 11- Đa dạng hóa các hoạt động nghiên cứu ứng dụng nhằm nâng cao năng lực tự chủ về tài chính cho các tổ chức KH&CN (trường hợp Viện Cơ học –Viện
HL KHCNVN) - Lành Thị Thúy Thanh, 2015
- Nhận diện rào cản trong hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu tại
Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam - Phạm Nguyệt Minh, 2013
- Xây dựng chính sách thu hút nhân lực khoa học và công nghệ chất lượng cao trong điều kiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm tại Viện Hàn lâm Khoa học và
công nghệ Việt Nam - Đỗ Thị Lâm Thanh, 2015
Qua những công trình nghiên cứu kể trên, cho đến thời điểm này chưa có tác giả nào công bố các kết quả nghiên cứu về vấn đề quản lý nhiệm vụ KH&CN của Viện nghiên cứu khoa học mà cụ thể là Viện STTNSV trong giai đoạn 2014-
2018 thuộc Viện HL KHCNVN Đề tài nghiên cứu này có mục tiêu đầy đủ và có
tính kế thừa một số ý tưởng khoa học của các công trình nghiên cứu nêu trên
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Đánh giá, phân tích những bất cập trong công tác quản lý các nhiệm vụ khoa học & công nghệ của Viện STTNSV trong giai đoạn 2014-2018
- Đưa ra được một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ của Viện nghiên cứu khoa học nói chung và Viện STTNSV nói riêng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý nhiệm vụ khoa học và công
nghệ của Viện STTNSV
4.2 Phạm vi nghiên cứu: Các đề tài/nhiệm vụ khoa học và công nghệ và
các nguồn lực thực hiện nhiệm vụ của Viện STTNSV
4.3 Phạm vi thời gian đánh giá: 2014-2018
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1.Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ áp dụng cho Viện nghiên cứu khoa học
Trang 12- Đánh giá thực trạng công tác quản lý nhiệm vụ KH&CN của Viện STTNSV giai đoạn 2014-2018
- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện, đổi mới công tác quản lý nhiệm vụ KH&CN của Viện nghiên cứu khoa học nói chung và trường hợp Viện STTNSV nói riêng
Câu hỏi nghiên cứu
Thực trạng công tác quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ của Viện STTNSV trong 05 năm (2014-2018) như thế nào? có những điểm yếu, rào cản nào cần khắc phục?
Cần những giải pháp nào để hoàn thiện, đổi mới công tác quản lý nhiệm vụ KH&CN của một Viện nghiên cứu khoa học (Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật) trong thời gian tới?
Giả thuyết nghiên cứu
Công tác quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ của Viện STTNSV thời gian qua chậm đổi mới ở khâu nào (vd tìm nguồn kinh phí cho hoạt động KH&CN)? Thiếu cơ chế nào (vd khuyến khích công bố kết quả nghiên cứu)?
Công tác quản lý nhiệm vụ KH&CN của Viện STTNSV thời gian tới cần hoàn thiện những giải pháp về xây dựng kế hoạch, xác định, tuyển chọn, quản lý thực hiện nhiệm vụ, phân bổ, cấp kinh phí, nghiệm thu để nâng cao chất lượng sản phẩm nghiên cứu, ứng dụng…; triển khai kế hoạch tham gia thực hiện các nhiệm vụ KH&CN từ các nguồn khác (như Quỹ phát triển KH&CN quốc gia, Chương trình KH&CN của Bộ KH&CN và các bộ ngành khác, hợp tác quốc tế,
doanh nghiệp, )
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Các báo cáo tổng kết hoạt động
KH&CN của Viện STTNSV trong các năm từ 2014 - 2018
- Phương pháp trao đổi, thảo luận: Với Lãnh đạo và các nghiên cứu viên
thuộc Viện STTNSV
- Phương pháp thống kê
Trang 136 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ hệ thống hoá các lý luận và thực tiễn về công tác tổ chức quản lý các nhiệm vụ KH&CN của Viện nghiên cứu khoa học, đồng thời đánh giá thực trạng công tác quản lý nhiệm vụ KH&CN của Viện STTNSV Kết quả sẽ góp phần hoàn thiện lý luận về công tác quản lý nhiệm vụ KH&CN của Viện nghiên cứu khoa học
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở khoa học cho Viện nghiên cứu khoa học nói chung và Viện STTNSV nói riêng hoàn thiện công tác quản lý nhiệm vụ KH&CN của Viện, góp phần nâng cao hiệu quả các hoạt động KH&CN của Viện trong thực tiễn
7 Kết cấu của luận văn
Nội dung của Luận văn có kết cấu thành 3 chương như sau:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhiệm vụ KH&CN của Viện nghiên cứu khoa học
Chương 2 Công tác quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ của Viện STTNSV giai đoạn 2014-2018
Chương 3 Giải pháp hoàn thiện, đổi mới công tác quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ của Viện Nghiên cứu khoa học
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA VIỆN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 1.1 Các khái niệm, định nghĩa công cụ
1.1.1 Khái niệm Khoa học và công nghệ
Có rất nhiều khái niệm về Khoa học và Công nghệ Nhưng ở luận văn này, tác giả chỉ đề cập đến một số khái niệm về Khoa học và Công nghệ như sau:
- Theo Luật khoa học và công nghệ của Việt nam (2013), khoa học là hệ thống tri thức về các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy
- Theo Từ điển Giáo dục, Khoa học là lĩnh vực hoạt động của con người nhằm tạo ra và hệ thống hóa những tri thức khách quan về thực tiễn, là một trong những hình thái ý thức xã hội bao gồm cả hoạt động để thu hái kiến thức mới lẫn
cả kết quả của hoạt động ấy, tức là toàn bộ những tri thức khách quan làm nên nền tảng của một bức tranh về thế giới Từ khoa học cũng còn dùng để chỉ những lĩnh vực tri thức chuyên ngành Những mục đích trực tiếp của khoa học là miêu
tả, giải thích và dự báo các quá trình và các hiện tượng của thực tiễn dựa trên cơ
sở những quy luật mà nó khám phá được
- Sheldon (1997) cho rằng khoa học là một hoạt động trí tuệ được thực hiện bởi con người, được thiết kế để khám phá cách thức hoạt động, tồn tại của
sự vật - hiện tượng
- Công nghệ: theo ESCAP, Công nghệ là hệ thống kiến thức về quy trình
và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin; các thành phần công nghệ gồm các yếu tố: Kỹ thuật (Technoware), Con người (Humanware), Thông tin (Inforware) và Tổ chức (Organware)
- Theo Bộ Luật dân sự và Luật chuyển giao công nghệ của Việt Nam (2017), công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm
Trang 151.1.2 Hoạt động KH&CN (NC&TK, Dịch vụ KH&CN)
Hoạt động KH &CN (Science and Technology Acitivities) là một thuật ngữ được dùng trong thiêt kế chính sách của UNESCO bao gồm: hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D) và hoạt động dịch vụ KH&CN (H 1.1.)
Hình 1.1 Hoạt động NC&TK theo khái niệm của UNESCO,
NC&TK (Research and Development)
NCCB
(Fundamental
Research)
NCƯD (Applied
Research)
Triển khai (Technological Experimental
Development)
sản xuất (Production)
Dịch vụ KH&CN (Science and Technology Services)
Nguồn: [3, 23] 1.1.2.1 Nghiên cứu và triển khai (R&D- Research and Development)
Năm 1980, UNESCO định nghĩa NC&TK (R&D) là tập hợp các hoạt
động có hệ thống và sáng tạo nhằm phát triển kho tàng kiến thức gồm các kiến thức liên quan đến con người, tự nhiên và xã hội và nhằm sử dụng kiên thức đó
để tạo ra những áp dụng mới Trong khi nghiên cứu khoa học (R) được định
nghĩa là tập hợp toàn bộ các hoạt động có hệ thống và sáng tạo nhằm phát triển
kho tàng kiến thức khoa học và áp dụng chúng vào thực tiễn thì triển khai (D)
được cho là một công việc có hệ thống nhằm vận dụng các kiến thức nghiên cứu khoa học đã đạt được hoặc kinh nghiệm thực tiễn nhằm sản xuất ra sản phẩm mới, công nghệ mới, phương pháp tiến hành mới, hệ thống dịch vụ mới và nhằm
cơ bản hoàn thiện những gì đã hoặc đang sử dụng/sản xuất [23] UNESCO phân
hoạt động NC&TK thành các bước như sau: Ở bước Nghiên cứu bao gồm hai bước con: NCCB và NCƯD, trong đó NCCB lại chia thành NCCB thuần túy và NCCB định hướng Sau bước Nghiên cứu là bước Triển khai Quá trình “Triển khai” bao gồm 3 giai đoạn: tạo vật mẫu, tạo quy trình để tạo công nghệ - sản xuất thử loạt 0 hay làm “Sêri 0”
Trang 16Các giai đoạn của NC&TK là sự kế thừa lẫn nhau và các dòng tri thức
chảy theo các chiều mũi tên từ trên xuống dưới (H 1.2)
Hình 1.2 Phân loại hoạt động NC&TK theo các giai đoạn
Nguồn: [3] 1.1.2.2 Nghiên cứu cơ bản (FR - Fundamental Research)
NCCB là những nghiên cứu nhằm tìm ra các thuộc tính, cấu trúc, động thái của các đối tượng nghiên cứu, các sự vật và hiện tuợng Kêt qủa của NCCB có thể là những phân tích lý luận, những kết luận về quy luật, định luật, định lý, Trên cơ sở đó, hình thành nên các phát hiện, phát minh và các hệ thống lý thuyết mới NCCB đuợc chia thành hai loại:
- NCCB thuần túy: còn gọi là NCCB tự do hay NCCB không định
hướng, là những nghiên cứu tìm hiểu về bản chất sự vật và quy luật của các hiện tượng tự nhiên và xã hội, nhằm nâng cao nhận thức, tri thức mà chưa có hoặc chưa bàn đến bất kỳ một ý nghĩa ứng dụng nào Loại hình nghiên cứu này, nhìn chung mang đậm dấu ấn cá nhân của nhà nghiên cứu
- NCCB định hướng: còn gọi là nghiên cứu thăm dò, là những NCCB đã
dự kiến mục đích ứng dụng NCCB định hướng lại được chia thành: Nghiên cứu nền tảng và Nghiên cứu chuyên đề
1.1.2.3 Nghiên cứu ứng dụng (AR - Applied Research)
NCƯD là sự vận dụng các lý thuyết, quy luật thu được từ trong NCCB, tức là dựa trên cơ sở các kết quả, sản phẩm của NCCB, để đưa ra những mô tả, giải thích, dự báo hoặc những nguyên lý về các giải pháp (giải pháp được hiểu
Trang 17theo nghĩa rộng nhất của thuật ngữ này, có thể là các giải pháp về công nghệ, vật liệu, sản phẩm, giải pháp về xã hội, quản lý, tổ chức, ) NCƯD cũng có thể là nghiên cứu để áp dụng các kết quả nghiên cứu đã thành công ở một môi trường nhất định, vào trong một môi trường mới của sự vật, hiện tượng
Kết quả của NCƯD có thể là một hệ thống tri thức về nhận dạng trạng thái của sự vật, hiện tượng trong hiện tại và tương lai Cũng có thể là một hệ thống tri thức về giải thích nguyên nhân, nguồn gốc, động thái, cấu trúc, tương tác, hậu quả, quy luật chung chi phối sự vật, hiện tượng Sản phẩm của NCƯD cũng có thể là một giải pháp mới có tính nguyên lý về công nghệ, vật liệu, sản phẩm, về xã hội, tổ chức và quản lý Trong đó, một sản phẩm đặc biệt của NCƯD là các nguyên lý công nghệ
Mặc dù gọi như vậy, nhưng kết quả của NCƯD vẫn chưa thể ứng dụng được ngay mà còn phải trải qua một giai đoạn nữa, giai đoạn này gọi là triển khai mới có thể đưa chúng vào sử dụng trong thực tế
1.1.2.4 Triển khai thực nghiệm (D -Exprimental Development)
Triển khai hay còn gọi là triển khai thực nghiệm công nghệ là hoạt động vận dụng các quy luật (kết qủa của NCCB) và các nguyên lý, giải pháp (kết qủa của NCƯD) để tạo ra vật mẫu và công nghệ sản xuất vật mẫu với các tham số kỹ thuật khả thi Triển khai bao gồm ba giai đoạn:
- Tạo ra vật mẫu: là giai đoạn thực nghiệm nhằm tạo ra được sản phẩm mẫu hay còn gọi là vật mẫu chức năng (Functional Prototype), mà chưa quan tâm đến quy trình sản xuất ra vật mẫu và quy mô áp dụng vật mẫu đó
- Tạo quy trình, công nghệ: là giai đoạn tìm kiếm, thử nghiệm (bán sản xuất) và tạo ra công nghệ để sản xuất sản phẩm theo mẫu mới vừa thành công ở giai đoạn trước
- Sản xuât thử loạt đầu: là giai đoạn kiểm chứng độ tin cậy của công nghệ trên quy mô nhỏ hay làm thí điểm, trong thực tế còn được gọi là sản xuất bán đại trà hay bán công nghiệp
Theo lý thuyết, kết quả nghiến cứu sau giai đoạn triển khai sẽ được
Trang 18chuyển giao vào sản xuất thông qua CGCN Tuy nhiên, thực tế có thể do doanh nghiệp chưa sẵn sàng tiếp nhận, cũng có thể do tổ chức NC&TK còn muốn giữ lại làm bí quyết hoặc muốn tiếp tục hoàn thiện công nghệ,
1.1.2.5 Dịch vụ KH&CN (STS-Science and Technology Services)
Dịch vụ khoa học và công nghệ là hoạt động phục vụ, hỗ trợ kỹ thuật cho việc nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, đo lường, chất lượng sản phẩm, hàng hóa, an toàn bức xạ, hạt nhân và năng lượng nguyên tử; dịch vụ về thông tin, tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng, phổ biến, ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội
1.1.3 Nhiệm vụ KH&CN (đề tài, đề án, dự án KH&CN)
Nhiệm vụ KH&CN là công việc KH&CN được tổ chức dưới hình thức chương trình, đề tài, dự án, nhiệm vụ nghiên cứu theo chức năng của tổ chức khoa học và công nghệ và các hình thức khác [7]
Các nhiệm vụ KH&CN có sử dụng ngân sách nhà nước theo quy định được tổ chức dưới hình thức chương trình, đề tài, dự án và các hình thức khác Hai hình thức nhiệm vụ KH&CN có sử dụng ngân sách nhà nước thường hay được sử dụng nhất, kể cả các nhiệm vụ KH&CN thuộc chương trình KH&CN là
đề tài và dự án sản xuất thử nghiệm
Nhiệm vụ KH&CN sử dụng ngân sách nhà nước bao gồm nhiệm vụ KH&CN cấp quốc gia, cấp bộ, cấp tỉnh và cấp cơ sở do cơ quan có thẩm quyền quyết định, được quy định tại Điều 27 của Luật KH&CN 2013 Nhiệm vụ KH&CN cấp quốc gia, cấp bộ, cấp tỉnh phải thực hiện theo hình thức đặt hàng hoặc tuyển chọn
Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để mọi tổ chức, cá nhân đề xuất ý tưởng khoa học để hình thành nhiệm vụ KH&CN của nhà nước Trong đó, Chính phủ quy định tiêu chí xác định nhiệm vụ KH&CN các cấp phù hợp với từng giai
đoạn phát triển và lĩnh vực KH&CN
Nhiệm vụ KH&CN cấp quốc gia được đề ra phải đáp ứng các tiêu chí sau đây:
Trang 19- Có tầm quan trọng đối với phát triển KH-XH, quốc phòng, an ninh trong phạm vi cả nước; và nâng cao tiềm lực KH&CN quốc gia;
- Giải quyết các vấn đề KH&CN liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, liên vùng;
- Phải huy động nguồn lực quốc gia, có thể có sự tham gia của nhiều ngành KH&CN
Nhiệm vụ KH&CN cấp bộ cần phải đáp ứng các tiêu chí sau đây:
- Có tầm quan trọng đối với sự phát triển của ngành, lĩnh vực;
- Giải quyết các vấn đề KH&CN trong phạm vi ngành, lĩnh vực;
- Có sử dụng kinh phí sự nghiệp KH&CN của Bộ, ngành
Nhiệm vụ KH&CN nhằm giải quyết các vấn đề KH&CN của cơ sở là các nhiệm vụ KH&CN nằm trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ thường xuyên của
cơ sở, phải đạt được các tiêu chí sau đây, bao gồm:
- Phát triển nguồn nhân lực NC&TK cho tương lai của Viện;
- Những nghiên cứu cơ bản làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo
1.1.4 Công tác quản lý nhiệm vụ KH&CN
Quản lý là việc quản trị của một tổ chức, cho dù đó là một doanh nghiệp, một tổ chức phi lợi nhuận hoặc cơ quan chính phủ Quản lý bao gồm các hoạt động thiết lập chiến lược của một tổ chức và điều phối các nỗ lực của nhân viên để hoàn thành các mục tiêu của mình thông qua việc áp dụng các nguồn lực sẵn có [5] Đối với hoạt động KH&CN quá trình từ hình thành cho đến kết thúc một nhiệm
vụ KH&CN, công tác quản lý nhiệm vụ KH&CN bắt đầu từ khâu xác định tên, nội dung, mục tiêu nhiệm vụ; tuyển chọn người thực hiện hoặc giao trực tiếp các nhiệm
vụ KH&CN; triển khai thực hiện các nội dung, mục tiêu các nhiệm vụ; đảm bảo tài chính thực hiện nhiệm vụ; đánh giá, kiểm tra tiến độ thực hiện; đánh giá nghiệm thu
và sau nghiệm thu và công bố, chuyển giao kết quả nhiệm vụ KH&CN
Công tác quản lý nhiệm vụ KH&CN nêu trên được tiến hành theo kế hoạch 5 năm và hàng năm do Thủ trưởng các cấp các ngành, cơ sở quyết định theo trách nhiệm và quyền hạn của mình Các tổ chức KH&CN cấp cơ sở, ngoài việc quyết định các nhiệm vụ cấp cơ sở của mình và đưa vào kế hoạch thực hiện và quản lý
Trang 20thực hiện, còn có kế hoạch tham gia thực hiện các nhiệm vụ KH&CN của cấp quốc gia, cấp bộ, cấp tỉnh và các nhiệm vụ KH&CN khác (các quỹ về KH&CN, hợp tác quốc tế, doanh nghiệp, ) Theo cơ chế trên, ngân sách nhà nước về KH&CN được Bộ KH&CN kết hợp với Bộ Tài chính phân bổ hàng năm cho các cấp và các cơ quan tài tính khác (quỹ của nhà nước, ) để tổ chức triển khai các nhiệm vụ KH&CN các cấp theo kế hoạch 5 năm và hàng năm
Các nguyên tắc chung trong quá trình quản lý nhiệm vụ KH&CN được thực hiện trong thực tiễn quản lý hoạt động KH&CN tầm quốc gia, bộ và địa phương theo Luật KH&CN quy định và các yêu cầu phát triển của Viện nghiên cứu khoa học Cụ thể:
- Phải phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo anh ninh - quốc phòng của địa phương
- Cơ chế quản lý phải phù hợp với tình hình thực tiễn
- Lấy chất lượng KH&CN và hiệu quả kinh tế - xã hội làm tiêu chuẩn chủ yếu để đánh giá nhiệm vụ KH&CN
- Thực hiện phân định rõ cho từng cấp quản lý và phân biệt giữa nhiệm vụ thường xuyên của quản lý Nhà nước và nhiệm vụ KH&CN
1.2 Viện nghiên cứu khoa học và quản lý nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ
Viện nghiên cứu khoa học: Viện nghiên cứu khoa học (tiếng Anh: scientific
research institute) là một tổ chức tiến hành các hoạt động nghiên cứu khoa học Các
Viện NC&TK nói chung có thể tập trung vào nghiên cứu cơ bản hoặc nghiên cứu ứng dụng hoặc triển khai thực nghiệm hoặc có thể thực hiện cả ba hoạt động nghiên cứu này với các mức độ khác nhau Viện nghiên cứu khoa học là Viện chủ yếu tiến hành các họat động nghiên cứu khoa học và ở mức độ nhất định tiến hành cả các hoạt động triển khai Thuật ngữ này thường chỉ những cơ sở nghiên cứu khoa học tự nhiên và cũng dùng cho nhiều Viện nghiên cứu khoa học xã hội
1.2.1 Chức năng, và vị trí của Viện nghiên cứu khoa học trong chuỗi nghiên cứu và triển khai
Các tổ chức NCKH, tổ chức NC&TK được thành lập chủ yếu thực hiện
Trang 21các nhiệm vụ KH&CN ưu tiên, trọng điểm của nhà nước nhằm cung cấp các luận cứ khoa học cho việc định ra đường lối, chính sách, pháp luật, tạo ra các kết quả KH&CN mới có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển KT-XH, đảm bảo quốc phòng - an ninh, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài về KH&CN Các tổ chức này được tổ chức dưới hình thức Viện Hàn lâm, Viện, Trung tâm, Phòng thí nghiệm, Trạm nghiên cứu, Trạm quan trắc, Trạm thử nghiệm và hình thức khác và có ở trong tất cả các lĩnh vực KH&CN Các tổ chức nghiên cứu này có thể tổ chức ở cấp quốc gia như là các Viện nghiên cứu khoa học của Viện Hàn lâm khoa học, hoặc các Viện thuộc cấp Bộ, cấp tỉnh và cấp cơ sở
Viện Hàn lâm khoa học là tổ chức NCKH, trong đó có các Viện nghiên cứu khoa học với nhiều hướng chuyên môn khác nhau Ở Việt Nam có hai cơ quan thuộc loại hình này là: Viện HL KHCNVN và Viện HL KHXHVN Theo đó, các Viện nghiên cứu khoa học trong Viện Hàn lâm khoa học có chức năng nghiên cứu cơ bản là chính, có thể có cả các hoạt động NCƯD và PTCN trong các lĩnh vực có liên quan
Hình (H1.3.) chỉ rõ chức năng và vị trí của Viện nghiên cứu khoa học trong hệ thống các tổ chức KH&CN của một quốc gia (các viện này nằm ở khu vực Đại học, Phòng thí nghiệm của nhà nước và thực hiện các nghiên cứu khoa học gồm NCCB và NCƯD là chủ yếu)
Trang 22Hình 1.3 Chuỗi nghiên cứu và triển khai, người tham gia và tài chính
1.2.2 Cơ cấu tổ chức một Viện nghiên cứu khoa học
Thông thường, cơ cấu Viện NC&TK cũng như Viện nghiên cứu khoa học được tổ chức gồm các bộ phận như sau:
1- Ban Lãnh đạo Viện bao gồm: Viện trưởng và các Phó viện trưởng có nhiệm vụ xây dựng chiến lược phát triển dài hạn và tiến hành công tác kế hoạch hoạt động KH&CN của viện 5 năm và hàng năm
2- Hội đồng khoa học bao gồm: Chủ tịch, phó chủ tịch, thư ký và các thành viên được bầu trong và ngoài viện, có nhiệm vụ tư vấn cho Lãnh đạo viện
về chiến lược và kế hoạch phát triển viện
Đại học
Phòng thí nghiệm của nhà nước
KH&CN theo giai
đoạn nghiên cứu
Mức ưu tiên các tổ
chức KH&CN được
nhà nước cấp tài chính
Trang 233- Phòng Quản lý tổng hợp là cơ quan giúp việc, có nhiệm vụ phục vụ công việc chung của Viện như: công việc hành chính - văn thư lưu trữ; tổ chức cán bộ; công tác kế hoạch khoa học; đào tạo; hợp tác quốc tế; tài vụ Trong đó
bộ phận kế hoạch khoa học là quan trọng trong việc tổ chức và triển khai, cũng như quản lý các nhiệm vụ KH&CN
4- Các phòng/ban/bộ môn/trung tâm chuyên môn Các đơn vị này có chức năng và nhiệm vụ tiến hành các hoạt động NC&TK và các nhiệm vụ KH&CN khác theo các chuyên ngành khoa học, các chuyên đề khoa học, với mục tiêu chung là phát triển đơn vị, phát triển chuyên ngành về KH&CN theo các nội dung được quy định tại chức năng và nhiệm vụ của Viện
5- Nhóm nghiên cứu là tập thể nhà khoa học tiến hành nhiệm vụ KH&CN trong một hoặc liên các phòng/ban/bộ môn/trung tâm
1.2.3 Tổ chức nhóm nghiên cứu khoa học
Nhóm nghiên cứu khoa học (NCKH) là hình thức thông thường được tổ chức triển khai các nhiệm vụ KH&CN hiện nay tại các Viện Đó là một tập thể các nhà khoa học và học thuật có năng lực chuyên môn tốt, có tâm huyết, đạo đức nghề nghiệp, có khát vọng định hướng cùng một mục đích, một lĩnh vực chuyên môn nhất định; thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu và đào tạo tại một đơn vị hạt nhân (hay xoay quanh đơn vị hạt nhân đó); được dẫn dắt bởi một (hay một vài) nhà nghiên cứu có uy tín khoa học, đạo đức và đồng thời phải có khả năng
tổ chức, giao tiếp, tập hợp ; có văn hóa nhóm riêng biệt Nói một cách khái quát, mọi thành quả của nhóm phải xuất phát từ năng lực nội sinh
Tiêu chí đánh giá mức độ thành công đối với nhóm NCKH đòi hỏi rất cao Trước hết, nhóm phải hoàn thành được nhiệm vụ chuyên môn, tức là phải tạo ra được công trình khoa học có chất lượng cao Thứ hai, phải tạo ra được một đội ngũ những người tài làm việc có tinh thần đồng đội Thứ ba, phải có ảnh hưởng tới nền kinh tế - xã hội ở một mức độ nào đó, trong một phạm vi nào đó Và cuối cùng, với vai trò trung tâm, nhóm phải tạo dựng được một môi trường học thuật
tự do, công bằng, sáng tạo, có tinh thần tập thể trong đào tạo và nghiên cứu khoa
Trang 24học Ðiều này phải có sức lan tỏa và lũy tiến, tác động tốt trong cơ quan hay trong địa phương
1.2.4 Quản lý các nguồn lực thực hiện nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ
Để một nhiệm vụ KH&CN triển khai được tốt, nó liên quan đến vấn đề quản lý nguồn lực của một Viện nghiên cứu Đó là: quản lý nguồn nhân lực làm KH&CN, tài chính dành cho thực hiện nhiệm vụ KH&CN, cơ sở vật chất và thông tin cung cấp cho hoạt động nghiên cứu KH&CN [5]
Quản lý nguồn nhân lực KH&CN đóng vai trò mấu chốt để phát huy năng lực từng cá nhân nhà khoa học đóng góp nhiều nhất cho sự phát triển KH&CN của Viện nghiên cứu khoa học Cơ cấu nguồn nhân lực KH&CN của một Viện liên quan đến chức vụ, chức danh của nhân lực KH&CN, cơ cấu chuyên môn, cơ cấu trình độ, cơ cấu tuổi tác, cơ cấu trí năng và cơ cấu về giới Cơ cấu tốt là chỗ dựa cho việc tuyển chọn và phối hợp nhân tài, tổ chức và điều chỉnh hợp lý đội ngũ KH&CN; là điểm then chốt để phát huy đầy đủ tác dụng của lực lượng KH&CN hiện có và nâng cao hiệu quả tập thể KH&CN; là điều kiện trưởng thành và phát huy tài năng, chỗ dựa cho quy hoạch nhân tài Xuất phát từ cơ cấu tốt của nhân lực KH&CN cho thấy công tác quản lý nguồn nhân lực KH&CN của một viện phải được thực hiện có quy hoạch, kế hoạch; tiến hành tuyển chọn
và sử dụng hợp lý, đúng người đúng việc; đánh giá, đề bạt kịp thời, minh bạch; đào tạo lại và tạo môi trường làm việc thuận lợi cho nhân lực KH&CN nhằm động viên kịp thời đội ngũ nhân lực KH&CN cống hiến cho sự nghiệp KH&CN
Công tác quản lý tài chính, kinh phí: Kinh phí là một nguồn lực cơ bản cho việc thực hiện nhiệm vụ KH&CN của một viện, được ví như dòng máu để nuôi cơ thể con người, thiếu kinh phí đề tài không thể triển khai Các nguồn kinh phí, tài chính của viện thường bao gồm kinh phí cho việc thực hiện chưc năng, nhiệm vụ thường xuyên; kinh phí do tham gia, đấu thầu, thực hiện các hợp đồng KH&CN do bên thứ ba cung cấp Công tác quản lý kinh phi, tài chính được tiến hành từ khâu lập dự toán, phê duyệt, phân bổ, giải ngân và thanh quyết toán cho từng loại nhiệm vụ KH&CN theo các quy định liên quan đến từng nguồn Trong
Trang 25đó, cần quan tâm đến tính thời điểm cấp phát và tính hiệu quả của việc sử dụng kinh phí, tài chính
Công tác quản lý vật tư, thiết bị KH&CN: Vật tư thiết bị KH&CN là điều kiện vật chất không thể thiếu được trong việc thực hiện nhiệm vụ KH&CN Xét
từ ý nghĩa nào đó, vật tư và thiết bị là biểu hiện trình độ hiện đại hóa và phát triển KH&CN của mộ đơn vị nghiên cứu Quản lý vật tư, thiết bị KH&CN là chỉ các loại hoạt động quản lý đối với công việc cung ứng, bảo quản, sử dụng các loại vật tư cần thiết để triển khai các hoạt động KH&CN Trong đó bao gồm kế hoạch mua bán, cấp phát vật tư thiết bị KH&CN, phân loại kho chứa, sử dụng, duy trì, bảo dưỡng thiết bị KH&CN Công tác quản lý này cũng được thực hiện theo kế hoạch, sử dụng có hiệu quả, không lãng phí, nhất là những vật tư, thiết bị đắt tiền
Quản lý thông tin KH&CN: Thông tin KH&CN là việc sử dụng các hình thức như văn bản, hình ảnh, phù hiệu, ngôn ngữ, để phản ánh thành quả KH&CN của hoạt động NC&TK Nó là tài sản tri thức chung của loài người, là một nguồn chủ yếu để phát triển KH&CN hiện đại, là sự phản ánh đặc trưng và trạng thái vận động của sự vật khách quan Nội dung quản lý thông tin bao gồm: i- thu thập cung cấp thông tin KH&CN dựa trên căn cứ vào nhu cầu của công tác nghiên cứu KH&CN, thu thập rộng rãi một cách có tính mục địch những tư liệu KH&CN; ii- chỉnh lý, phân tích thông tin, cụ thể là tiến hành đánh giá, phân loại, lựa chọn ra những thông tin có giá trị sử dụng cho chuyên môn nghiên cứu của viện; iii- xử lý thông tin KH&CN dựa trên cơ sở thu thập, phân tích, tiến hành trình bày có tính chuyên ngành, tổng thuật đối với thông tin KH&CN, hình thành các báo cáo chuyên đề, báo cáo nghiên cứu; iv- truyền đạt và phục vụ thông tin thông qua các con đường khác nhau đến các nhân lực KH&CN để họ tham khảo,
sử dụng phục vụ cho thực hiện các nhiệm vụ KH&CN của viện
Trang 261.3 Nội dung và đặc điểm của công tác quản lý nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ của Viện nghiên cứu khoa học
1.3.1 Đặc điểm của quản lý hoạt động nghiên cứu và triển khai
1.3.1.1 Đặc thù của hoạt động nghiên cứu và triển khai/lao động khoa học Hoạt động NC&TK là một loại lạo động phức tạp, có tính đặc thù [5] Nó
là những hoạt động của những người có tri thức chuyên môn sâu Họ tiến hành thu thập, chỉnh lý, gia công, nghiên cứu đối với những thông tin về tự nhiên hoặc
sự vật tự nhiên, về xã hội, con người để có được lý luận, phương pháp nhận biết thế giới và tìm cách cải tạo thế giới phục vụ cho mục đích của con người Đặc thù của hoạt động NC&TK là như sau:
- Công tác nghiên cứu khoa học là một loại lao động trí óc, mang tính sáng tạo, đặc điểm nổi bật nhất là tính sáng tạo Đó chính là linh hồn của nghiên cứu khoa học, là điểm cơ bản nhất phân biệt với lao động sản xuất mang tính lặp đi lặp lại Quá trình nghiên cứu khoa học chính là quá trình sáng tạo ra tri thức Do
đó, đánh giá trình độ cao thấp của thành quả nghiên cứu khoa học chủ yếu là xem độ lớn nhỏ của thành phần sáng tạo trong đó
- Vì lao động nghiên cứu khoa học là lao động mang tính sáng tạo, tìm kiến cái mới, cái chưa biết, do đó cũng có thể thành công và cũng có thể thất bại Thông thường, những nghiên cứu có nhiều thông số, đi sâu vào bản chất của sự vật như nghiên cứu cơ bản thì độ rủi ro thất bại càng lớn Bảng 1.1 chỉ rõ sự thành công và thất bại đối với từng loại hoạt động NC&TK
Bảng 1.1 Tỷ suất thành công, thất bại của hoạt động NC&TK
Trang 27Sự rủi ro, thất bại của nghiên cứu khoa học là không thể tránh khỏi và nó gia tăng cùng với sự gia tăng trình độ phức tạp số lượng các nghiên cứu khoa học Đương nhiên, thất bại cũng là một loại thu hoạch, nó giúp cảnh tỉnh cho người sau trong tiến hành nghiên cứu khoa học
- Đặc trưng tiếp theo của lao động NC&TK là tính kế thừa và tích lũy: Hoạt đông nghiên cứu khoa học hiện đại đều không thể tách rời sự kế thừa thành quả lao động KH&CN của người đi trước Nó đều được tiến hành trên cơ sở sáng tạo của người khác hoặc của người đi trước Những tri thức mới mà họ sáng tạo ra cũng sẽ được người khác hoặc người đời sau kê thừa
Ba đặc thù của lao động nghiên cứu khoa học nêu trên có ảnh hưởng có tính quyết định công tác quản lý lao động nghiên cứu khoa học
1.3.1.2 Đặc điểm của quản lý hoạt động nghiên cứu và triển khai
Với ba đặc thù của hoạt động nghiên cứu khoa học dẫn đến các đặc diểm
của quản lý hoạt động KH&CN như sau:
- Quản lý hoạt động KH&CN có tính linh hoạt lớn (còn gọi là tính co giãn đàn hồi, tính mềm, tính cơ động của quản lý) Nguyên nhân trước hết là do sự thay đổi nhanh chóng, các nhân tố chưa biết quá nhiều của công tác nghiên cứu khoa học cùng với sự chuyển dịch, tốc độ thay đổi rất nhanh trong hoạt động KH&CN Thứ hai là do đặc điểm tự thân của lao động KH&CN quyết định Bởi
lẽ, lao động KH&CN là lao động trí óc, mang tính thăm dò, tìm kiếm và tính sáng tạo là chính Sau khi chọn đề tài, nhà nghiên cứu căn cứ vào lý luận khoa học để hoạch định phương án nghiên cứu và xây dựng kế hoạch thực thi đề tài Khi triển khai nghiên cứu, thường hay xuất hiện những vấn đề không lường trước được Do vậy, lúc đó cần phải căn cứ vào tình hình thực tế để thay đổi phương án, kế hoạch Thứ ba là quyết định bởi độ tự do của bản thân lao động KH&CN (độ tự do khác nhau giữa NCCB, NCƯD và TKTN) Sự khác biệt này quyết định đến độ tự do của quản lý chúng Không những cho phép về sự thay đổi về phương án, kế hoạch của một nghiên cứu, thậm chí cho phép thất bại Chỉ
có như vậy mới khơi dậy hết mức và phát huy đầy đủ tính tích cực và tính sáng tạo cuả người làm khoa học
Trang 28- Quản lý KH&CN mang tính tổng thể và tính điều hòa phối hợp Đặc điểm này là nhằm thích ứng với sự đan xen lẫn nhau, sự hòa trộn thâm nhập vào nhau giữa các bộ môn khoa học và sự xuất hiện của khoa học có tính tổng hợp Quản
lý khoa học phái phản ánh đầy đủ quan hệ nội tại của lĩnh vực khoa học KH&CN, đồng thời có năng lực điều hòa phối hợp thống nhất, làm cho toàn bộ
cơ cấu nghiên cứu khoa học hình thành một tổng thể hữu cơ, trở thành một hệ thống công tác điều hòa phối hợp thống nhất
- Quản lý KH&CN mang tính dự báo và tính lâu dài Quản lý khoa học, bất luận một quốc gia hay một cơ quan nghiên cứu khoa học cụ thể nào đó , đều phải có mục tiêu chiến lược lâu dài và quy hoạch dài hạn và tiến hành dự công việc dự báo dài khoa học (xu thế phát triển khoa học, thế mạnh của bản thân, chiến lược phát triển bắt kịp xu hướng mới, sắp xếp tổ công tác nghiên cứu trước mắt và lâu dài) Đặc biệt cơ cấu nghiên cứu, tuyển chọn đề tài và sắp xếp kế hoạch đều tương đối phức tạp, trong quản lý chủ yếu thể hiện trong dự báo kế hoạch rất mạnh, tính thay đổi và cạnh tranh lớn Trong điều kiện ấy cần phải làm chu đáo kế hoạch lâu dài, phát huy đầy đủ công tác thông tin KH&CN và công tác dự báo KH&CN
1.3.2 Nội dung quản lý nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ
1.3.2.1 Xác định nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ
Cơ quan chủ quản KH&CN thông qua việc lấy ý kiến đề xuất các nhiệm
vụ KH&CN của các tổ chức, cá nhân các nhà khoa học, các nhà sản xuất để xác định nhiệm vụ thực hiện trong kế hoạch 5 năm và hằng năm Việc đề xuất cũng như xác định các nhiệm vụ KH&CN phải căn cứ vào các hướng KH&CN ưu tiên; chiến lược, quy hoạch phát triển KH&CN; các nhiệm vụ KH&CN chủ yếu của cơ quan quản lý KH&CN đã công bố [7] Kết quả của đề tài, dự án sản xuất thử nghiệm phải có khả năng ứng dụng được vào thực tiễn sản xuất và đời sống (đối với dự án sản xuất thử nghiệm còn yêu cầu phải được thị trường chấp nhận), đáp ứng các mục tiêu của chương trình (đối với các đề tài thuộc chương trình) Việc xác định, lựa chọn nhiệm vụ KH&CN thông thường được thực hiện thông
Trang 29qua hình thức các Hội đồng KH&CN (gồm các nhà khoa học, nhà quản lý và nhà hoạt động thực tiễn SX-KD,…) tư vấn xác định nhiệm vụ
1.3.2.2 Đấu thầu, tuyển chọn, giao nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ
Thủ trưởng các cơ quan KH&CN chủ trì khi xác định nhiệm vụ KH&CN phải quyết định việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học theo phương thức tuyển chọn hay giao trực tiếp nhằm đạt được hiệu quả cao nhất
Việc tuyển chọn cũng được thông qua tư vấn của Hội đồng tuyển chọn Người đứng đầu cơ quan quản lý nhà nước về KH&CN các cấp trên cơ sở tư vấn của Hội đồng tuyển chọn, quyết định kết quả tuyển chọn tổ chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ KH&CN Hội đồng tuyển chọn do người đứng đầu cơ quan, tổ chức thành lập
Nhiệm vụ nghiên cứu được giao trực tiếp là các nhiệm vụ thuộc bí mật quốc gia, đặc thù của an ninh, quốc phòng; một số nhiệm vụ nghiên cứu cấp bách và các nhiệm vụ mà nội dung chỉ có một tổ chức KH&CN hoặc cá nhân có
đủ điều kiện về chuyên môn, trang thiết bị để thực hiện nhiệm vụ Cơ quan quản
lý nhà nước về KH&CN các cấp thực hiện việc lựa chọn tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện để giao trực tiếp thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu Tổ chức, cá nhân được giao trực tiếp nhiệm vụ nghiên cứu phải lập đề cương và bảo vệ trước Hội đồng KH&CN do cơ quan quản lý thành lập
1.3.2.3 Triển khai thực hiện, kiểm tra, giám sát
Việc triền khai thực hiện nhiệm vụ KH&CN được thực hiện sau khi ký kết hợp đồng nghiên cứu khoa học và công nghệ Cơ quan quản lý về KH&CN các cấp theo thẩm quyền phải tiến hành kiểm tra định kỳ và đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN về nội dung khoa học, tiến độ thực hiện và việc sử dụng kinh phí Trong trường hợp cần thiết có thể điều chỉnh nội dung nghiên cứu cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn, hoặc chấm dứt việc thực hiện nhiệm vụ đó
1.3.2.4 Đánh giá, nghiệm thu kết quả thực hiện nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ
Việc đánh giá, nghiệm thu kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN được thực hiện khi nhiệm vụ KH&CN kết thúc Cơ quan quản lý KH&CN thành lập Hội
Trang 30đồng đánh giá nghiệm thu kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN Hội đồng tiến hành đánh giá và nghiệm thu theo mục đích, yêu cầu, nội dung, kết quả, tiến độ ghi trong hợp đồng đã được ký kết và chịu trách nhiệm trước cơ quan quản lý KH&CN có thẩm quyền về đánh giá nghiệm thu kết quả nhiệm vụ KH&CN 1.3.2.5 Đăng ký, công bố kết quả
Việc công bố kết quả nghiên cứu chủ yếu do Chủ nhiệm đề tài hoặc Tổ chức chủ trì đề tài tiến hành Các nội dung công bố có thể là từng phần kết quả, hoặc toàn bộ kết quả nghiên cứu, kể cả những nội dung nghiên cứu còn đang được trao đổi và theo ý kiến riêng của các tác giả
Giá trị khoa học và giá trị vận dụng rất khác nhau giữa các kết quả nghiên cứu trung gian và các kết quả nghiên cứu chính thức Do vậy khi công bố kết quả nghiên cứu cần cân nhắc về hình thức công bố Nói chung, kết quả nghiên cứu
có thể được công bố dưới nhiều hình thức khác nhau:
- Các bài báo đăng trên các tập san, tạp chí;
- Các báo cáo khoa học đăng trên tuyển tập khoa học chuyên ngành, tạp chí, tập san;
Đối với kết quả nghiên cứu chính thức, đã được Hội đồng KH&CN đánh giá nghiệm thu công nhận, và được đăng ký kết quả nghiên cứu tại cơ quan quản
lý KH&CN, thì khi công bố kết quả nghiên cứu dưới dạng báo cáo khoa học hoặc sách lưu hành rộng rãi, trách nhiệm đối với sản phẩm công bố ngoài các tác
Trang 31giả là chủ yếu, còn có Hội đồng KH&CN đánh giá nghiệm thu và cơ quan quản
lý KH&CN cùng chịu trách nhiệm
1.4 Kinh nghiệm thực tiễn về quản lý nhiện vụ Khoa học và Công nghệ tại Viện nghiên cứu khoa học
1.4.1 Kinh nghiệm thực tiễn về quản lý nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ Viện nghiên cứu khoa học của nước ngoài
1.4.1.1 Kinh nghiệm về quản lý nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ của một số nước châu Âu
Các tổ chức nghiên cứu khoa học, tổ chức nghiên cứu ứng dụng và triển khai của Đức (Max Planck, FhG, ), Phần Lan (TEKES), Hà Lan (TNO) từ lâu
đã áp dụng chế độ tự trị trong quản lý hoạt động KH&CN [24]
Cụ thể, các tổ chức KH&CN của các nước này:
- Các tổ chức KH&CN hoạt động theo nguyên tắc tự xác định, tìm kiếm các nhiệm vụ KH&CN (từ nhà nước, từ xã hội như các quỹ, từ sản xuất, từ hợp tác quốc tế) theo chức năng được giao Các nhiệm vụ KH&CN theo chức năng nghiên cứu thường xuyên được tiến hành tổ chức và quản lý theo quy trình xác định nhiệm vụ; giao người chủ trì, ký hợp đồng; triển khai thực hiện, đôn đốc, điều chỉnh đề tài; báo cáo, công bố kết quả Đối với các nhiệm vụ KH&CN đấu thầu, tuyển chọn, hợp đồng được tổ chức thực hiện và quản lý theo quy định của bên đối tác
- Các tổ chức KH&CN được tự chủ toàn phần hoặc một phần kinh phí hoạt động thường xuyên Phần ngân sách nhà nước phân bổ cho tổ chức KH&CN được (i) thực hiện thông qua đấu thầu tuyển chọn nhiệm vụ KH&CN tại các Chương trình KH&CN, Quỹ KH&CN của nhà nước hoặc (ii) tự xác định nhiệm vụ nghiên cứu của đối với kinh phí giao cho thực hiện nhiệm vụ theo chức nghiên cứu thường xuyên của tổ chức KH&CN Đối với phần kinh phí tự chủ, tổ chức KH&CN thực hiện thông qua việc ký hợp đồng với các tổ chức như doanh nghiệp, các tổ chức khác, thông qua cơ chế đặt hàng
Trang 32- Được chủ động trong việc tổ chức và nhân lực Theo đó, các tổ chức KH&CN được áp dụng cơ chế tổ chức linh hoạt (ít biên chế và chủ yếu là hợp đồng có thời hạn, theo dự án), chủ động trong việc tái cấu trúc, sắp xếp tổ chức chu chuyển nhân lực,…để thực hiện nhiệm vụ KH&CN
- Thực hiện tự chủ trong đánh giá kết quả, hiệu quả và sử dụng kết quả hoạt động KH&CN để trên cơ sở đó triển khai các hợp đồng KH&CN với doanh nghiệp; phát triển bộ phận sản xuất công nghệ mới, sản phẩm mới và trong nhiều trường hợp mở rộng sản xuất và chuyển toàn bộ tổ chức KH&CN thành doanh nghiệp hoặc tách bộ phận có công nghệ mới, sản phẩm mới thành lập doanh nghiệp mới [25]
1.4.1.2 Kinh nghiệm về quản lý nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ ở CHLB Đức
Tại CHLB Đức, các viện nghiên cứu và triển khai đều được Nhà nước (Liên Bang và Bang) đồng tài trợ cho hoạt động KH&CN và tùy theo tính chất của hoạt động KH&CN (nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, triển khai thực nghiệm, dịch vụ KH&CN; nghiên cứu công ích; nghiên cứu phục vụ cạnh tranh của doanh nghiệp) mà được Nhà nước cấp 100% hoặc 30-40% kinh phí hoạt động [12], cụ thể là:
- Các Viện nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu công nghệ nền, công nghệ phục
vụ công ích (dịch vụ y tế, nông nghiệp, môi trường, an toàn lao động), nghiên cứu KHXH&NV được nhà nước đảm bảo 100% kinh phí hoạt động thường xuyên Đây là các Viện nghiên cứu có sản phẩm đầu ra được sử dụng phục vụ cho các mục tiêu công ích của Nhà nước, không có tính thương mại
- Các Viện NCƯD, nghiên cứu công nghệ công nghiệp được Nhà nước cấp
30-40% kinh phí hoạt động thường xuyên để thực hiện các nghiên cứu triển khai tự lựa chọn, đi trước tạo ra những sản phẩm chuẩn bị cho các nghiên cứu theo hợp đồng với doanh nghiệp Phần kinh phí còn lại (60-70%) của các Viện loại này phải tự trang trải bằng cách ký kết các hợp đồng NC&PT, dịch vụ kỹ thuật
- Các tổ chức dịch vụ KH&CN công lập thì tùy theo nhu cầu của thị trường mà các tổ chức dịch vụ KH&CN này được Nhà nước cấp khoảng 75% và yêu cầu tự trang trải khoảng 25% kinh phí hoạt động [11]
Trang 331.4.1.3 Kinh nghiệm về tổ chức nhóm nghiên cứu của Nga và Hà Lan
- Trường Đại học tổng hợp Mátxcơva mang tên Lômônôxốp, có hệ thống
tổ chức điển hình cho một đại học hiện đại: Trường, rồi đến Khoa, dưới Khoa là các Bộ môn và trong Bộ môn là các Nhóm nghiên cứu Bộ môn Côn trùng, ĐHTH Lômônôxốp là một Trường phái lớn của Thế giới về Phỏng sinh học với
ba tập thể nghiên cứu khoa học mạnh do ba giáo sư chủ trì, nghiên cứu về cơ chế Thị giác, Thính giác và Cơ quan cảm giác hóa học của côn trùng Ngoài các tập thể như vậy trong mỗi Bộ môn, trong Trường còn có các Tập thể nghiên cứu khoa học liên bộ môn, Liên khoa, các Viện và Trung tâm, tạo nên Hệ thống NCKH rất vững mạnh của trường
- Chương trình Hợp tác giữa các trường ĐH Hà Lan và Việt Nam, trong
đó có Đại học Tổng hợp trước đây Các Chương trình này cũng đã được tổ chức dưới hình thức các Nhóm nghiên cứu khoa học Mỗi nhóm theo một chủ đề chuyên môn được lựa chọn (thường là các vấn đề hiện đại) và bao gồm các cán
bộ của Việt Nam và Hà Lan cùng tham gia Nội dung hợp tác bao gồm các chương trình trao đổi và đào tạo cán bộ, cung cấp trang thiết bị và nghiên cứu khoa học Hiệu quả của Chương trình rất to lớn, nhất là trong hoạt động xây dựng năng lực như: đào tạo nhân lực và cung cấp trang thiết bị
1.4.2 Kinh nghiệm thực tiễn về quản lý nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ Viện nghiên cứu khoa học của Việt Nam
- Tại Viện Hóa học – Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, việc xác định, lựa chọn, quản lý các đề tài được tổ chức hàng năm của Viện Hóa học được tiến hành theo văn bản hướng dẫn của Bộ KH&CN, của Viện HL KHCNVN Việc xác định nhiệm vụ KH&CN được giao cho Hội đồng KH&CN của Viện thực hiện Công tác nghiệm thu nhiệm vụ KH&CN được đánh giá quan trọng, trong đó bước Kiểm tra trước nghiệm thu là một bước chính thức được đưa vào quy trình quản lý thực hiện nhiệm vụ KH&CN của Viện Hóa học
- Kinh nghiệm quản lý nhiệm vụ KH&CN của Viện Công nghệ sinh học Ngoài việc tuân thủ các quy định của Bộ KH&CN về quản lý nhiệm vụ KH&CN, của Viện Hàn lâm KHCNVN thì còn là Viện quy định hình thức xử lý vi phạm
Trang 34nghiêm khắc trong công tác quản lý nhiệm vụ KH&CN Đối với các nhiệm vụ KH&CN được đánh giá “không đạt” thì chủ nhiệm nhiệm vụ không được đăng ký thực hiện nhiệm vụ KH&CN trong 02 năm tiếp theo tính từ thời điểm nghiệm thu
và đánh giá thi đua cuối năm chỉ xếp loại “hoàn thành nhiệm vụ” Ngoài ra, Viện Công nghệ sinh học còn áp dụng mức phạt tiền khác nhau đối với việc vi phạm về đăng ký, giao nộp kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN sử dụng ngân sách nhà nước; vi phạm quy định trong hoạt động KH&CN; vi phạm quy định về quản lý, sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước dành cho hoạt động KH&CN
Trang 35Tiểu kết chương
Chương 1 về Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhiệm vụ KH&CN đã
đề cập đến các nội dung sau đây:
Thứ nhất, đã làm rõ các khái niệm liên quan đến đề tài như KH&CN, hoạt động KH&CN (NC&TK, dịch vụ KH&CN) và các khái niệm về NC&TK như NCCB, NCUD, TKTN; các thuật ngữ liên quan đến nhiệm vụ KH&CN như đề tài, dự án, đề án; nội hàm của công tác quản lý nhiệm vụ KH&CN (quản lý, kế hoạch; 2 loại nhiệm vụ KH&CN của Viện: loại do đấu thầu, tuyển chọn và loại thường xuyên theo chức năng) và các nguyên tắc cơ bản trong thực thi công tác quản lý nhiệm vụ KH&CN tại viện
Thứ hai, đã đề cập đến tổ chức viện và công tác quản lý nhiệm vụ KH&CN, trong đó đã làm rõ chức năng, vị trí của Viện nghiên cứu khoa học (chủ yếu làm NCCB, NCƯD); cơ cấu tổ chức viện; tổ chức nhóm nghiên cứu trong viện (vai trò của thủ lĩnh); làm rõ về thực trạng nguồn lực (như nhân lực, tài chính, thông tin, vật tư-thiết bị và hợp tác quốc tế) phục vụ cho thực hiện các nhiệm vụ KH&CN của Viện nghiên cứu khoa học
Thứ ba, đã đề cập đến nội dung và đặc điểm của công tác quản lý nhiệm
vụ KH&CN của viện, trong đó đã đề cập đến nội dung quản lý nhiệm vụ (xác định nhiệm vụ; tuyển chọn, giao nhiệm vụ; kiểm tra, giám sát; đánh giá nghiệm thu; đăng ký, công bố) và làm rõ đặc thù của hoạt động NC&TK/lao động khoa học (tự do, sáng tạo; rủi ro; kế thừa người đi trước; tính mới, không như sản xuất) và sau đó đã nêu đặc điểm của quản lý nhiệm vụ KH&CN (có tính linh hoạt cao, tổng hợp, dự báo lâu dài) cho phù hợp với đặc điểm của hoạt động NC&TK
Thứ tư, kinh nghiệm thực tiễn về quản lý nhiệm vụ KH&CN, trong đó đề
cập kinh nghiệm của một số nước châu Âu nói chung (làm rõ Basic funding Project funding), của CHLB Đức (đảm bảo tài chình mức độ khác nhau cho từng loại viện như Viện NCCB, Viện NCƯD, ); và kinh nghiệm của một số viện nghiên cứu khoa học khác của Việt Nam
Trang 36Chương 2 CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
CỦA VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT
TỪ NĂM 2014 ĐẾN 2018 2.1 Tổng quan về Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật
2.1.1 Chức năng, nhiệm vụ
Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (Viện STTNSV) được thành lập theo Quyết định số 65CT/HĐBT ngày 5/3/1990 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ), trên cơ sở Trung tâm sinh thái học thuộc Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia Trải qua hơn 30 năm xây dựng và phát triển, Viện Sinh thái và TNSV đã thực sự trở thành viện nghiên cứu đầu ngành trong lĩnh vực sinh thái và tài nguyên sinh vật ở nước ta
Là một viện thuộc Viện HL KHCNVN, Viện STTNSV có chức năng,
nhiệm vụ cụ thể như sau:
- Điều tra nghiên cứu khu hệ sinh vật, soạn thảo thực vật chí, động vật chí, sách đỏ Việt Nam về động vật, thực vật Kiến nghị và thực hiện những biện pháp bảo vệ, phục hồi và phát triển các loài sinh vật quý hiếm, bảo vệ nguồn gen thiên nhiên, lưu trữ tiêu bản thực vật, động vật
- Nghiên cứu sử dụng và phát triển nguồn tài nguyên sinh vật thiên nhiên nhiệt đới nước ta Ứng dụng các kết quả nghiên cứu và sản xuất, góp phần làm tăng nguồn sản phẩm lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu phục vụ 3 chương trình kinh tế lớn của Nhà nước
- Nghiên cứu đánh giá tổng hợp nguồn tài nguyên sinh vật trên các vùng lãnh thổ và trong cả nước, góp phần xây dựng cơ sở khoa học cho việc phát triển kinh tế xã hội, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên sinh vật
- Nghiên cứu các hệ sinh thái đặc trưng trong thiên nhiên nhiệt đới của Việt Nam, dự báo sinh thái, đề xuất phương hướng và biện pháp sử dụng hợp lý,
Trang 37cải tạo, phục hồi các hệ sinh thái bị suy thoái, tham gia xây dựng các khu bảo tồn thiên nhiên nhằm bảo vệ tài nguyên và môi trường ở nước ta
- Tham gia đào tạo cán bộ và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực sinh thái học
và tài nguyên sinh vật Tham gia tư vấn khoa học cho cơ quan quản lý về công tác liên quan đến Công ước CITES
2.1.2 Quá trình hình thành cơ cấu tổ chức
Lịch sử thành lập Viện STTNSV có thể chia ra làm các giai đoạn như sau:
- Từ 1985 -1990: thành lập Trung tâm Sinh thái và Tài nguyên sinh vật khi tách ra từ Viện Sinh vật học, để đáp ứng yêu cầu phát triển các hướng nghiên cứu về sinh thái và tài nguyên sinh vật, phát triển khinh tế xã hội trong thời kỳ mới cũng như xu thế phát triển của sinh học thế giới Các đơn vị như: Phòng Quản lý tổng hợp, Phòng Thực vật học, Phòng Động vật học có xương sống, Phòng Ký sinh trùng học, Phòng hệ thống côn trùng, Phòng Sinh thái côn trùng, Phòng Sinh thái thực vật, Phòng Tài nguyên thực vật
- Năm 1990: Thành lập Viện STTNSV trên cơ sở Trung tâm Sinh thái và TNSV theo Quyết định số 65CT/HĐBT ngày 5/3/1990 của Chủ tịch Hội đồng
Bộ trưởng, trực thuộc Viện Khoa học Việt Nam Đây là bước tiến quan trọng, đánh dấu một giai đoạn mới của khối nghiên cứu sinh học cơ bản nói chung và sinh thái tài nguyên sinh vật môi trường nói riêng Các đơn vị mới có thêm như: Phòng Bảo tàng động vật, Phòng Tài nguyên thực vật, Phòng Sinh thái thực vật, Phòng Sinh thái côn trùng
Viện STTNSV được xem là viện nghiên cứu có số lượng cán bộ vào loại lớn của Viện HL KHCNVN Năm 1990, Viện STTNSV được thành lập với 70 cán bộ, trong đó có 4 tiến sĩ khoa học (TSKH), 6 tiến sĩ (TS) và 60 cử nhân, kỹ
sư, kỹ thuật viên với 8 phòng nghiên cứu được phân chia theo các chuyên ngành: Thực vật học, Động vật học, Sinh thái môi trường, Côn trùng học, Ký sinh trùng học, Tài nguyên thực vật,
Trang 38Hình 2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Viện STTNSV tại thời điểm thành lập
và phát triển trong giai đoạn 1990
[20]
- Từ năm 2000-2010, tổng số cán bộ của Viện lúc này là 126 người, trong đó có 38 người có trình độ trên đại học (2 GS, 9 PGS, 22 TS) và tập trung theo 6 hướng nghiên cứu chính:
Phòng Bảo tàng Động vật
Phòng động vật Phòng Thực vật Phòng Sinh thái Côn trùng
Phòng Tài nguyên thực vật
Trang 39Hiện tại, Viện có cơ cấu tổ chức gồm: 16 phòng nghiên cứu chuyên môn,
1 phòng quản lý tổng hợp và 1 Trạm đa dạng sinh học
Hình 2.2 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Viện STTNSV hiện nay
Nguồn [13]
2.1.3 Nhân lực khoa học của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật
Viện Sinh thái và TNSV có: 15 phòng chuyên môn; 01 trạm đa dạng sinh học Mê Linh và Phòng Quản lý tổng hợp (Bảng 2.1)
Phòng Sinh thái môi trường đất
Phòng Sinh thái viễn thám
Phòng Thực vật học Phòng Thực vật dân tộc học Phòng Tuyến trùng học Phòng Hệ thống học phân tử và
Di truyền bảo tồn Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh Phòng Sinh thái môi trường nước Phòng Công trùng học thực nghiệm
Trang 40Bảng 2.1: Nhân lực KHCN Viện STTNSV năm 2018
2.1.4 Công tác tài chính thực hiện các nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ
Trước năm 2005, đầu tư tài chính cho các nhiệm vụ KH&CN của Viện STTNSV được thực hiện theo cơ chế bao cấp của ngân sách nhà nước Từ khi Nghị định 115/2005/NĐ-CP về quy định cơ chế tự chủ tự chịu trách nhiệm của
tổ chức KH&CN công lập, Viện được hoạt động theo quy định của Điều 4 khoản
3 Nghị định này, đó là “Tổ chức nghiên cứu khoa học hoạt động trong lĩnh vực