Hội nghị này với các chủ đề: Công tác QLNN về bảo đảm an toàn bức xạ, an ninh hạt nhân và ứng phó sự cố; Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và thông tin tuyên truyền trong lĩnh
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN BÁCH VIỆT
GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HIỆU LỰC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ AN TOÀN BỨC XẠ VÀ HẠT NHÂN QUA TRƯỜNG HỢP
VIỆN NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
HÀ NỘI, 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN BÁCH VIỆT
GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HIỆU LỰC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ AN TOÀN BỨC XẠ VÀ HẠT NHÂN QUA TRƯỜNG HỢP
VIỆN NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ VIỆT NAM
Ngành: Quản lý Khoa học và Công nghệ
Mã số: 8 34 04 12
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS NGUYỄN TUẤN KHẢI
HÀ NỘI, 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn tốt nghiệp này là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu khoa học độc lập và nghiêm túc Các số liệu, kết quả trích dẫn trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, trung thực
Tác giả
Nguyễn Bách Việt
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Quý thầy, cô Học viện Khoa học Xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam đã tận tình giảng dạy và hướng dẫn cho tôi nhiều kiến thức quý báu trong suốt thời gian học tập tại trường Tôi cũng trân trọng cám các anh chị em trong Ban Hợp tác quốc tế, Viện NLNTVN đã tạo mọi điều kiện và giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với PGS TS Nguyễn Tuấn Khải – Cục Trưởng Cục An toàn bức xạ và hạt nhân, Bộ Khoa học và Công nghệ đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn thạc sỹ này
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn tất cả những người thân yêu trong gia đình và bạn
bè đã giúp đỡ, khuyến khích và động viên tôi rất nhiều về tình cảm và tinh thần để tôi hoàn thành được luận văn này
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 8 năm 2019
Tác giả
Nguyễn Bách Việt
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐÁNH GIÁ AN TOÀN BỨC XẠ, HẠT NHÂN 5
1.1 Những khái niệm cơ bản về hiệu lực quản lý nhà nước về ATBXHN 5
1.2 Những khái niệm cơ bản của an toàn bức xạ và hạt nhân 9
1.3 Tác động của bức xạ đối với con người và môi trường 15
1.4 Các quy định về an toàn bức xạ và hạt nhân trong QLNN 20
Chương 2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN TOÀN BỨC XẠ, HẠT NHÂN 35
2.1 Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam – Một cơ sở bức xạ đa chức năng 35
2.2 Đánh giá các chính sách, pháp luật điều chỉnh về ATBXHN 43
2.3 Thành quả và những khó khăn 49
Chương 3 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HIỆU LỰC QUẢN LÝ VỀ AN TOÀN BỨC XẠ VÀ HẠT NHÂN 54
3.1 Đối với các cơ sở bức xạ và hạt nhân 55
3.2 Đối với hệ thống văn bản quy phạm pháp luật 56
3.3 Đối với công tác hỗ trợ kỹ thuật 57
3.4 Đối với đội ngũ quản lý 58
KẾT LUẬN 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
Trang 66 IAEA International Atomic Energy Agency
Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế
7 ICRP International Commission on Radiological Protection
Ủy ban Quốc tế về Bảo vệ Phóng xạ
8 KH&CN Khoa học và Công nghệ
9 LPƯNC Lò phản ứng nghiên cứu
10 NCHN Nghiên cứu hạt nhân
11 NDT Non-Destruction Evaluation
Đánh giá không phá hủy
12 NLNT Năng lượng nguyên tử
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 - Trọng số bức xạ của các loại bức xạ ……….…… 7
Hình 1.2 - Khả năng thâm nhập của các tia bức xạ ……… ……… 14
Hình 1.3 - Khuôn khổ pháp lý quốc gia ……… … 16
Hình 1.4 - Cơ cấu tổ chức Cục ATBXHN ……… … 19
Hình 1.5 - Phân loại các tiêu chuẩn an toàn ……… …….21
Hình 1.6 - Cấu trúc bộ văn bản về tiêu chuẩn an toàn IAEA ……… 22
Hình 2.1 - Sơ đồ tổ chức Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam ………… 44 Hình 2.2 - Số lượng giấy phép đã cấp năm 2017 theo lĩnh vực hoạt động… 51
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, ứng dụng năng lượng nguyên tử (NLNT) và
kỹ thuật hạt nhân trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội đã đạt được nhiều thành tựu to lớn Trong công nghiệp, Việt Nam đã chế tạo, thử nghiệm thành công các thiết bị đo độ tro than, thiết bị phân tích nhanh thành phần nguyên tố trong ngành công nghiệp xi măng, thiết bị chụp X-quang công nghiệp, thiết bị quan trắc phóng xạ môi trường Đặc biệt, các ứng dụng năng lượng nguyên tử trong lĩnh vực y tế đã có sự phát triển vượt bậc và mở rộng trên phạm vi toàn quốc Hiện tại, cả nước có 41 cơ sở y học hạt nhân được trang bị 45 thiết bị xạ hình (35 máy SPECT và SPECT/CT, 10 PET/CT) [7], trong đó, kỹ thuật xạ hình tiên tiến hiện nay trên thế giới như PET/CT sử dụng 18F-FDG đã được áp dụng trong chẩn đoán thường quy để điều trị các bệnh về ung thư, tim mạch và thần kinh tại Việt Nam Kỹ thuật xạ trị sử dụng máy gia tốc điện tử tuyến tính mang tầm quốc tế đã được triển khai tại 27 cơ sở xạ trị trên cả nước
Cùng với sự phát triển nhanh chóng của các ứng dụng bức xạ trong y tế, việc cung cấp đủ dược chất phóng xạ (DCPX) đang là một nhu cầu cấp thiết Đến hết năm 2017, tổng nhu cầu DCPX là 1400Ci/năm, trong đó Viện nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt sản xuất 400Ci/năm trong đó 250Ci/năm từ các máy gia tốc Như vậy, các nguồn cung cấp DCPX trong nước mới đạt gần 50% nhu cầu [7] Như vậy việc phát triển NLNT hơn nữa là việc phải làm để đáp ứng nhu cầu cấp thiết của người dân Từ đó cho thấy việc ứng dụng NLNT đã đi sâu, rộng và càng ngày
là phần không thể thiếu trong đời sống
Tuy vậy, song song với việc phát triển ứng dụng NLNT là việc bảo đảm an toàn là điều không thể bỏ qua Những tai nạn như: rò rỉ chất phóng xạ, thất lạc nguồn phóng xạ, là những vấn đề được cả thế giới quan tâm Hiện nay nhiều ngành ở Việt Nam đã đưa vào sử dụng nhiều thiết bị hạt nhân tiên tiến đồng thời việc quản lý các thiết bị liên quan đến bức xạ này gặp nhiều bất cập do các Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia chưa cập nhật kịp Bên cạnh đó, hiện tượng thất lạc nguồn
Trang 9phóng xạ vẫn còn tồn tại gây ảnh hưởng đến cuộc sống người dân Do đó ngành NLNT luôn cần những chế tài chặt chẽ thuộc công tác quản lý nhà nước để đảm bảo về ATBXHN
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Hiện nay, những nghiên cứu ở Việt Nam về các giải pháp tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về an toàn bức xạ và hạt nhân nằm ở các tham luận trong các buổi hội thảo Đáng kể nhất là các Hội nghị Pháp quy hạt nhân toàn quốc do Cục An toàn bức xạ và hạt nhân tổ chức:
Lần thứ I vào năm 2013, Hội nghị được tổ chức với nội dung chính: Thẩm định an toàn phê duyệt địa điểm nhà máy điện hạt nhân; Quản lý
an toàn bức xạ, phóng xạ môi trường và ứng phó sự cố tai nạn bức xạ
và hạt nhân; Quản lý an ninh và thanh sát hạt nhân; và Đào tạo phát triển nguồn nhân lực
Lần thứ II năm 2015, Hội nghị với các nội dung chính nhằm đánh giá hiện trạng công tác quản lý nhà nước về an toàn bức xạ và hạt nhân, trên cơ sở đó kiến nghị các giải pháp và kế hoạch tăng cường công tác quản lý nhà nước; Quản lý an toàn bức xạ, chuẩn đo lường bức xạ, hoạt động đo liều bức xạ và hoạt động kiểm định, hiệu chuẩn
Lần thứ III năm 2018, với mục đích đánh giá thực trạng, đề xuất các giải pháp, kế hoạch tăng cường công tác quản lý nhà nước về an toàn bức xạ, hạt nhân Hội nghị này với các chủ đề: Công tác QLNN về bảo đảm an toàn bức xạ, an ninh hạt nhân và ứng phó sự cố; Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và thông tin tuyên truyền trong lĩnh vực an toàn bức xạ và hạt nhân; Liều lượng bức xạ, kiểm định thiết bị bức xạ và hiệu chuẩn thiết bị ghi đo bức xạ; Hoạt động dịch vụ hỗ trợ ứng dụng năng lượng nguyên tử
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Ngày nay, khả năng sự cố trong các cơ sở bức xạ, vấn đề quản lý, vận chuyển và lưu giữ chất thải phóng xạ, ảnh hưởng của chất thải từ các cơ sở
Trang 10bức xạ ra môi trường là chủ đề lặp đi lặp lại trên báo chí, trong các chương trình truyền hình và trong câu chuyện hàng ngày Do đó, cùng với việc đẩy mạnh các ứng dụng triển khai năng lượng nguyên tử trong các ngành kinh tế-
xã hội, chúng ta cần hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước, xây dựng hệ thống các văn bản qui phạm pháp luật và tăng cường năng lực cho cơ quan pháp quy trên các phương diện thanh tra, cấp phép, năng lực về đánh giá an toàn, an ninh, thanh sát và các hoạt động hợp tác quốc tế
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài hướng đến các đối tượng nghiên cứu sau:
Tìm hiểu thực trạng công tác quản lý ATBXHN tại các đơn vị thuộc Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam
Nghiên cứu Bộ tiêu chuẩn ATBXHN của cơ quan Nguyên tử năng quốc tế (IAEA)
Nghiên cứu các quy định và hướng dẫn của IAEA về quản lý, hỗ trợ công tác bảo đảm an toàn bức xạ và hạt nhân;
Tìm hiểu các văn bản Luật, Nghị định Thông tư hướng dẫn về công tác bảo đảm ATBXHN Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam (NLNTVN);
Nghiên cứu, lựa chọn giải pháp tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về ATBXHN
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở các chủ trương đường lối của Đảng, Chính sách pháp luật của nhà nước về việc tạo nên móng cho một ngành năng lượng nguyên tử an toàn
Đề tài sẽ dùng phương pháp nghiên cứu tổng hợp những thực trạng quản lý ATBXHN tại các đơn vị trực thuộc Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam, đồng thời thu thập thông tin và phân tích dữ liệu có được từ các quốc gia có các cơ quan hoạt động về năng lượng nguyên tử tiêu biểu trên thế giới thông qua Cơ quan Nguyên tử năng quốc tế (IAEA) Từ cơ sở học hỏi những kinh nghiệm đó, luận
Trang 11văn sẽ nghiên cứu và đưa ra giải pháp cho công tác quản lý ATBXHN ở Việt Nam
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Là một cán bộ tham gia trực tiếp trong việc quản lý công tác bảo đảm an ninh, toàn bức xạ của Viện NLNTVN, tôi muốn nghiên cứu thực trạng công tác ATBXHN trong nước đồng thời dựa vào kinh nghiệm của các quốc gia có
bề dày trong hoạt động hạt nhân để đưa ra một số giải pháp giúp công tác quản lý ATBXHN tại Viện NLNTVN được hiệu quả hơn
7 Kết cấu luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo Luận văn được kết cấu thành 3 chương
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn đánh giá an toàn bức xạ, hạt nhân Chương 2 Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về an toàn bức xạ, hạt nhân
Chương 3 Giải pháp tăng cường công tác quản lý an toàn bức xạ, hạt nhân
Trang 12Quản lý nhà nước là hoạt động mang tính tổ chức điều hành và điều chỉnh hay nói cách khác nó chính là việc xây dựng và điều chỉnh các mối quan hệ giữa con người với con người nhằm thực hiện những mục đích nhất định, đồng thời, nó cũng là hoạt động điều chỉnh các quan hệ xã hội và điều hành các quan hệ xã hội ấy Đặc trưng này cho thấy, quản lý nhà nước không đơn giản là sự “cai trị”, kiểm soát, mà nó là một quá trình tổ chức điều hành và điều chỉnh các quá trình xã hội
Trang 131.1.2 Hiệu lực quản lý nhà nước:
Có thể hiểu rằng Nhà nước thể hiện quyền lực của bộ máy nhà nước chi phối xuống các đối tượng bị quản lý trong hệ thống bằng những công cụ pháp
lý, chính sách, quyết định phù hợp với những quy luật khách quan nhằm đạt mục tiêu quản lý và thỏa mãn nhu cầu thực tiễn xã hội [36]
Trong phạm vi nhất định, hiệu lực quản lý của nhà nước thể hiện tập trung trong việc hoạch định chính sách, quyết định quán xuyến hoạt động thực thi một cách nghiêm ngặt theo khuôn khổ nhất định nhằm đạt mục tiêu quản lý như mong muốn Như vậy, hiệu lực quản lý của nhà nước liên quan tới nhiều khâu cơ bản trong chu trình quản lý, gồm: (i) Chính sách (ii) Hoạt động thực thi và (iii) Giám sát, xử lý
Nếu chỉ đưa ra chính sách, quyết định đúng đắn thì chưa đủ phản ánh hiệu lực quản lý nhà nước Năng lực quản lý nhà nước còn thể hiện ở việc lựa chọn thời điểm và quá trình kinh tế - xã hội phù hợp để đưa chính sách vào cuộc sống một cách tốt nhất, thỏa mãn những yêu cầu thực tiễn đang đòi hỏi Ngược lại, việc vận dụng chính sách, quyết định vào cuộc sống đúng vào thời điểm có nhiều khó khăn hay thiếu các công cụ bổ trợ cần thiết sẽ không đem lại hiệu quả cao, tức là hiệu lực của chính sách đó cũng giảm đáng kể so với yêu cầu thực tiễn [36]
1.1.3 Hiệu lực quản lý nhà nước về an toàn bức xạ và hạt nhân:
Quản lý nhà nước về an toàn bức xạ và hạt nhân (ATBXHN) trong lĩnh vực NLNT là quản lý nhà nước đối với một lĩnh vực công nghệ cao, có tính rủi ro cao Mọi lĩnh vực, bất kể tính chất phức tạp đến đâu, nếu có quan hệ đến lợi ích quốc gia, nhà nước đều chủ trương quản lý ở những mức độ khác nhau Bên cạnh những lĩnh vực như kinh tế, an ninh, quốc phòng, tài nguyên, môi trường, thì lĩnh vực NLNT ngày nay đã trở thành nhân tố góp phần thúc
Trang 14đẩy phát triển kinh tế - xã hội và chăm sóc sức khoẻ con người, đáp ứng nhu cầu điện năng và góp phần đảm bảo bảo an ninh năng lượng và dự trữ nguồn tài nguyên của đất nước đồng thời góp phần nâng cao tiềm lực khoa học và công nghệ, tiềm lực công nghiệp quốc gia phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; gìn giữ, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững
Năng lượng nguyên tử không chỉ là một lĩnh vực công nghệ cao, mang lại hiệu quả rất to lớn mà nó còn có tính rủi ro cao, nếu không tuân thủ các quy tắc an toàn NLNT có thể gây ra những mối nguy hiểm ảnh hưởng tới sức khoẻ con người và môi trường Các mối nguy hiểm và rủi ro bức xạ có nhiều nét đặc thù riêng Chúng có thể gây ra các hiệu ứng sinh học bức xạ tất nhiên
và hiệu ứng ngẫu nhiên như các bệnh có khả năng xảy ra sau một thời gian dài sau khi bị chiếu xạ, ví dụ khả năng bị bệnh ung thư của các đối tượng bị chiếu xạ hoặc ảnh hưởng di truyền đến thế hệ con cháu của họ Chính điều này làm cho vấn đề đảm bảo ATBXHN trở nên phức tạp hơn so với các loại hình an toàn khác và nó đòi hỏi sự quan tâm, quản lý chặt chẽ của các cấp, các ngành khác nhau Nếu việc ứng dụng năng lượng bức xạ không được quản lý chặt chẽ thì hậu quả do năng lượng bức xạ gây ra sẽ phải mất một thời gian dài mà không dễ gì khắc phục được Nhiều sự cố, tai nạn bức xạ xảy ra gần đây trên thế giới có thể xảy ra bất kỳ lúc nào nếu công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực này bị gián đoạn, bị lơi lỏng Chúng có thể gây tổn thất đến tính mạng, sức khoẻ con người, gây thiệt hại kinh tế và có ảnh hưởng lớn đến môi trường
1.1.4 Khung đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu lực QLNN về
ATBXHN:
Việc đánh giá về hiệu lực quản lý nhà nước về ATBXHN được xem xét
từ ba phần: (i) – Vấn đề chính sách; (ii) – Vấn đề thực thi và (iii)- vấn đề kiểm
Trang 15tra việc thực thi và phản hồi Để cụ thể hơn, có thể khái quát 4 yếu tố chính sau:
(i) - Nền quản trị công:
- Tính chuyên nghiệp của hệ thống về phương diện tổ chức bộ máy, văn hóa ứng xử của đội ngũ công chức nhà nước cho tới quy trình quản lý tổng thể
- Tính tương thích với sự biến đổi của thực tiễn trong nước và thế giới
- Sự ăn khớp của ý tưởng quản lý với nhu cầu thực tiễn cuộc sống Việc lấy thực tiễn làm cơ sở hình thành những ý tưởng chính sách
(ii) - Vấn đề trách nhiệm, lương tâm và chuyên môn của công chức:
- Chế tài cưỡng chế trong bộ máy quản trị
- Trách nhiệm giao phó cụ thể cho cá nhân và công chức
(iii)- Hệ thống công cụ và điều kiện thực thi:
- Hiện tượng chồng chéo, mâu thuẫn trong các văn bản chính thức của nhà nước
- Sự thiếu đồng nhất về văn bản quản lý trong Quy trình hành chính nhà
nước
(iv)- Vấn đề giám sát và hiệu lực xử lý, cưỡng chế sai phạm
- Thời điểm của công tác kiểm tra và giám sát,
- Sự phối hợp của các cơ quan chức năng thanh tra và kiểm toán
- Công tác xử lý hay cưỡng chế sai phạm, truy cứu trách nhiệm công vụ
Trang 161.2 Những khái niệm cơ bản của an toàn bức xạ và hạt nhân
Để đánh giá một cách tường minh các mặt an toàn về bức xạ và hạt nhân, chúng ta cần hiểu rõ bản chất các vấn đề gây nguy hiểm, làm tăng nguy
cơ rủi ro, việc mất an toàn cho con người Phần viết này đưa ra một số khái niệm về các nguyên nhân cũng như các mức độ rủi ro về bức xạ và hạt nhân
mà con người có thể bị ảnh hưởng Từ đó chúng ta có thể đánh giá được các quy định cũng như việc tuân thủ các quy định nhằm bảo đảm an toàn về bức
xạ và hạt nhân
1.2.1 Chất phóng xạ - bức xạ
Những chất phóng xạ từ thuở sơ khai đã là những thành phần tất yếu trên trái đất Các chất phóng xạ có thể tồn tại trong thức ăn, nước uống, không khí Ngay cả bản thân chúng ta, các mô, cơ, xương cũng đều có chứa một lượng chất phóng xạ nhất định [19] Bức xạ phát ra từ phóng xạ của hạt nhân nguyên tử cũng tương tự như các bức xạ từ mặt trời, các tia vũ trụ, từ gỗ, đá… chúng đều là những hiện tượng rất gần trong cuộc sống con người Con người cũng như mọi loại sinh vật khác đều phải hứng chịu mọi loại bức xạ từ môi trường xung quanh
Chúng ta sẽ đi sâu một chút để hiểu thêm về bản chất bức xạ Một nguyên tố được xác định bởi số lượng Proton trong hạt nhân Số lượng Proton lớn hơn, thì hạt nhân nặng hơn Số lượng các nơtron quyết định hạt nhân có mang tính phóng xạ hay không Để các hạt nhân ổn định, số lượng nơtron thông thường đều phải lớn hơn số lượng Protron Các hạt nhân trong trạng thái ổn định thì protron và nơtron liên kết với nhau bởi lực hút rất mạnh của hạt nhân mà không phần tử nào thoát ra ngoài Trong trường hợp như vậy, hạt nhân sẽ tồn tại bền vững Tuy nhiên nếu số lượng nơtron cao hơn mức cân bằng Trong trường hợp này, thì hạt nhân sẽ có năng lượng dư và sẽ không thể liên kết với nhau Điều này làm cho nó có xu hướng giải tỏa phần năng lượng
dư thừa đó Các hạt nhân khác nhau thì việc giải tỏa năng lượng dư cũng khác
Trang 17nhau, dưới dạng các sóng điện từ và các dòng phân tử Năng lượng đó được gọi là bức xạ [37]
Phân rã phóng xạ
Quá trình phân rã phóng xạ xảy ra ở các hạt nhân nguyên tử không bền Như mô tả trong phần trên, quá trình nguyên tử giải phóng năng lượng dư đó gọi là quá trình phân rã phóng xạ Những hạt nhân nhẹ với ít proton và nơtron, chúng sẽ dễ dàng được ổn định sau một phân rã Trong khi hạt nhân nặng như Radium hay Uranium, những hạt nhân mới sau phân rã được tạo ra có thể vẫn chưa bền mà phải sau một số lần phân rã, các hạt nhân này mới đạt được trạng thái
ổn định
Hoạt độ phóng xạ
Hoạt độ phóng xạ của một chất phóng xạ được xác định bằng số hạt nhân phân rã (decay) trong một đơn vị thời gian Hoạt độ phóng xạ chỉ mức
độ phát ra bức xạ của một chất Hoạt độ không có nghĩa là cường độ của bức
xạ được phát ra hay những rủi ro có thể xảy ra đối với sức khoẻ con người Đơn vị hoạt độ là Bq (Becquerel) Giả sử số lượng phân rã là một phân rã trên
1 giây, thì hoạt độ của chất đó là 1 Bq Hoạt độ không phụ thuộc vào kích thước hay khối lượng của chất Như vậy, một nguồn phóng xạ có độ lớn bằng đầu ngón tay có thể có hoạt độ lớn hơn hàng tỷ lần hoạt độ của cả thùng lớn chất thải phóng xạ [37]
Liều bức xạ
Liều hấp thụ: là năng lượng bức xạ được hấp thụ trong một đơn vị khối
lượng của chất bị chiếu xạ Liều hấp thụ cho biết có bao nhiêu năng lượng bức xạ có thể được hấp thụ trong một đơn vị khối lượng của khối chất bị chiếu xạ Đơn vị đo lường tiêu chuẩn của liều hấp thụ bức xạ là joule trên
kilogram (J/Kg) Đơn vị 1 J/Kg còn được gọi là 1 gray (ký hiệu là Gy)
Liều tương đương: Vì liều hấp thụ chưa phản ảnh được thực tế là cùng
một liều hấp thụ của các loại bức xạ khác nhau không nhất thiết gây ra cùng
Trang 18một mức độ phá hủy đối với một hệ sinh học nhất định Để đánh giá chính xác hiệu ứng sinh học gây bởi các loại bức xạ khác nhau, định nghĩa liều tương đương (Equivalent dose) được ra đời Liều tương đương là đại lượng dùng để đánh giá liều bức xạ trong một tổ chức mô hoặc cơ quan của cơ thể người, nó dựa trên liều hấp thụ vào một bộ phận cơ thể , được điều chỉnh để tính đến sự ảnh hưởng của loại phóng xạ đến bộ phận cơ thể đó Liều tương đương được xác định theo công thức sau:
H = D x W R
Trong đó: H là Liều tương đương; D là Liều hấp thụ; và WR là Trọng
số bức xạ của bức xạ loại R (Hình 1.1)
Hình 1.1 - Trọng số bức xạ của các loại bức xạ [6]
Thiết bị đo liều: Người ta dùng liều kế để xác định liều bức xạ Tùy
theo yêu cầu công việc và loại bức xạ người ta dùng các loại liều kế khác nhau Có nhiều loại phức tạp hơn, có thể xác định loại nguồn qua việc phân tích phổ năng lượng của chúng Thông thường các cơ sở bức xạ chủ yếu sử
dụng các loại liều kế như: Liều kế cá nhân là loại thường được đeo thường
Trang 19trực trên người chủ yếu theo dõi liều bức xạ hấp thụ vào cơ thể; Liều kế cố
định được đặt cố định tại các vị trí nơi diễn ra các hoạt động bức xạ Ngoài ra,
trong những trường hợp tìm kiếm những nguồn phóng xạ bị thất lạc hoặc để xác định những nguồn vô chủ, không còn mã số, ký hiệu, người ta thường dùng những thiết bị đo cường độ bức xạ và xác định phổ năng lượng chuyên dụng
Chất thải phóng xạ
Để hiểu rõ về các dạng chất thải phóng xạ cũng như ảnh hưởng của chúng với đời sống chúng ta, trước hết ta sẽ tìm hiểu những chất phóng xạ đã được dùng ở đâu, với mục đích gì Từ đó chúng ta sẽ hiểu rõ hơn về nguồn gốc và nguyên nhân sinh ra các dạng chất thải phóng xạ
Lò phản ứng hạt nhân
Các thanh nhiên liệu chứa các chất phóng xạ được dùng để vận hành lò phản ứng hạt nhân, sau một thời gian nhất định, các thanh nhiên liệu này phải được thay thế Những thanh nhiên liệu đã qua sử dụng này chính là một loại chất thải phóng xạ Ngoài ra, nước làm mát và chất phóng xạ bị rò rỉ khi có sự
cố cũng được xem là chất thải phóng xạ Trong quá trình nghiên cứu và ứng dụng kỹ thuật hạt nhân trong các lò phản ứng, có rất nhiều các nguyên liệu, vật liệu liên quan đến nguồn phóng xạ Chúng đều phải được quản lý nghiêm ngặt trong thời gian sử dụng cũng như khi không còn được sử dụng nữa
Trang 20việc kiểm tra chất lượng về độ ẩm, độ dày, độ chặt của các công trình xây dựng Kỹ thuật này còn giúp ích rất nhiều trong việc kiểm soát hàng hóa tại các cửa khẩu Khi các thiết bị trên không còn sử dụng nữa thì các nguồn phóng xạ trong các thiết bị này trở thành chất thải phóng xạ và cần phải được tháo dỡ và quản lý theo quy định
- Kỹ thuật nguồn hở thông thường sử dụng các đồng vị phóng xạ đánh dấu Các chất phóng xạ này không nằm trong các thiết bị đo mà được trộn trực tiếp vào hỗn hợp cần phân tích Chúng được sử dụng trong các công đoạn pha trộn hóa chất, vật liệu trong các nhà máy hóa chất, xi măng
Y tế
Trong y tế, kỹ thuật nguồn kín được ứng dụng trong chẩn đoán và trị bệnh Các nguồn phóng xạ được thiết kế trong các thiết bị chụp chiếu như: PET (Positron emission tomography), SPECT (Single photon emission computed tomography), Gamma knife Với kỹ thuật nguồn hở, các chất phóng xạ được điều chế với các hàm lượng nhất định thành các dược chất phóng xạ Các dược chất này được đưa vào người bệnh nhân giúp phát hiện các khối u bất thường
Như vậy, chất thải phóng xạ trong các cơ sở y tế gồm: nước thải bị nhiễm bẩn phóng xạ từ phòng pha chế, phân liều thuốc phóng xạ; nước rửa chai lọ, dụng cụ làm việc với thuốc phóng xạ; nước thải nhà vệ sinh dùng cho người bệnh đã sử dụng thuốc phóng xạ; giấy, khăn lau nhiễm bẩn phóng xạ; xilanh, kim tiêm thuốc phóng xạ thải bỏ; bao bì, chai lọ đựng thuốc phóng xạ thải bỏ; quần áo, giầy dép nhiễm bẩn chất phóng xạ và các vật thể nhiễm bẩn phóng xạ khác được thải bỏ Các loại chất thải phóng xạ từ các thiết bị xạ trị dùng nguồn phóng xạ như đã nêu ở trên, nguồn phóng xạ không còn sử dụng trong xạ trị áp sát và các nguồn phóng xạ kín khác dùng cho chuẩn thiết bị, nghiên cứu không còn sử dụng [5]
Trang 21Bảo quản thực phẩm
Bức xạ được dùng nhiều trong việc khử trùng các loại rau, củ, quả và các loại thực phẩm việc khử trùng giúp tiêu diệt phần lớn vi khuẩn làm thối rữa thực phẩm, kéo dài thời gian bảo quản Ngoài ra người ta còn dùng các hệ thống chiếu xạ này để khử trùng các loại chai, lọ, hộp, dụng cụ dùng trong y
tế cũng như chứa đựng thực phẩm Các hệ thống chiếu xạ này sử dụng những nguồn bức xạ có hoạt độ cao Sau một thời gian sử dụng, các nguồn này suy giảm và sẽ được thay thế bằng các nguồn mới Các nguồn cũ sẽ được xử lý Chúng ta sẽ nói kỹ hơn về công tác xử lý chất thải phóng xạ ở các mục sau
Các loại công việc bức xạ
Để quản lý công tác An toàn bức xạ một cách chi tiết, người ta phân ra làm 14 công việc bức xạ Việc phân chia này giúp cho việc quản lý thời gian làm việc tiếp xúc với bức xạ và việc đăng ký cấp các loại giấy phép hoạt động được chính xác hơn Sau đây là 14 loại công việc bức xạ được đề cập trong bộ Luật Năng lượng nguyên tử [22]:
i Vận hành lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu và nhà máy điện hạt nhân;
ii Vận hành thiết bị chiếu xạ gồm máy gia tốc; thiết bị xạ trị; thiết bị chiếu xạ khử trùng, xử lý vật liệu và sử dụng các thiết bị bức xạ khác;
iii Sản xuất, chế biến chất phóng xạ;
iv Lưu giữ, sử dụng chất phóng xạ;
v Thăm dò, khai thác, chế biến quặng phóng xạ;
vi Làm giàu urani; chế tạo nhiên liệu hạt nhân;
vii Xử lý, lưu giữ, chôn cất chất thải phóng xạ, nguồn phóng xạ đã qua sử dụng và nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng;
viii Xây dựng, thay đổi quy mô và phạm vi hoạt động, chấm dứt hoạt động của cơ sở bức xạ, cơ sở hạt nhân;
ix Sử dụng vật liệu hạt nhân ngoài chu trình nhiên liệu hạt nhân;
x Nhập khẩu, xuất khẩu chất phóng xạ, vật liệu hạt nhân nguồn, vật liệu hạt nhân và thiết bị hạt nhân;
Trang 22xi Đóng gói, vận chuyển vật liệu phóng xạ;
xii Vận chuyển vật liệu phóng xạ quá cảnh lãnh thổ Việt Nam;
xiii Vận hành tàu biển, phương tiện khác có động cơ chạy bằng năng lượng hạt nhân;
xiv Hoạt động khác tạo ra chất thải phóng xạ
1.2.2 Nguyên tắc quản lý an toàn bức xạ hạt nhân
Ngày nay, các công nghệ mới đã phát triển hỗ trợ hệ thống những quy tắc và biện pháp an toàn bức xạ tiên tiến đã được xây dựng một cách chi tiết Điều này giúp giảm liều tối đa cho phép đối với công chúng nói chung và công nhân trong nghề nói riêng Nhờ các tổ chức quốc tế, các chuẩn an toàn như vậy được trao đổi giữa các quốc gia, vì vậy các quy tắc và giới hạn về liều bức xạ trên thế giới đều tương tự nhau
Tiêu chí của nguyên tắc quản lý chất thải phóng xạ là bảo đảm an toàn cho con người và môi trường Chất thải phóng xạ , nguồn phóng xạ đã qua sử dụng kể từ khi phát sinh từ các cơ sở bức xạ cho đến khi được phép thải bỏ như chất thải thông thường đều phải được quản lý chặt chẽ để bảo đảm không gây hại cho con người và môi trường cả ở hiện tại và tương lai, bảo đảm sao cho tổng liều bức xạ đối với nhân viên bức xạ và công chúng không vượt quá giá trị giới hạn liều quy định [37]
1.3 Tác động của bức xạ đối với con người và môi trường
Phần này đề cập đến một số tính chất cơ bản của các loại bức xạ alpha, beta, gamma, nơtron, tia-X Qua đó dẫn đến một số ảnh hưởng xấu của chúng đến con người và môi trường
1.3.1 Tác động của bức xạ đối với con người
Bức xạ Alpha
Hạt nặng mang điện tích dương bao gồm 2 proton và 2 nơtron được phát xạ bởi các nguyên tử của các nguyên tố nặng như Uran, Radi, Radon và Plutoni [37] Bức xạ alpha không thể truyền xa trong không gian và dễ dàng
Trang 23bị cản hoàn toàn chỉ với một tờ giấy hoặc bởi lớp da Do vậy, alpha không nguy hại khi chiếu ngoài Tuy nhiên, nếu một chất phát tia Alpha được đưa vào trong cơ thể, bức xạ của nó chiếu trực tiếp (gọi là chiếu trong) và gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến các tế bào xung quanh, nơi mà không có lớp bảo vệ bên ngoài giống như da
Bức xạ Beta
Bức xạ Beta có thể xuyên qua được lớp ngoài của da nhưng có thể bị cản lại bởi tấm kim loại hoặc kính Beta bao gồm các electron nhỏ hơn rất nhiều so với các hạt alpha và nó có thể xuyên sâu hơn Nó có thể làm tổn thương lớp da bảo vệ Nếu các bức xạ Beta lọt vào trong cơ thể, nó có thể chiếu xạ và gây nguy hiểm cho các mô của cơ thể Như vậy bức xạ Beta nguy hiểm trong cả trường hợp chiếu trong và chiếu ngoài
Bức xạ Gamma
Như đã giới thiệu ở trên, bức xạ Gamma là năng lượng sóng điện từ
Nó có độ xuyên mạnh và đi được khoảng cách lớn trong không khí Khi tia gamma gặp vật chất, cường độ của nó bị suy giảm Lúc đó chúng va chạm với các nguyên tử của vật chất Đối với tế bào của cơ thể, các va chạm đó sẽ làm tổn hại cho da và các mô ở bên trong Tia Gamma huỷ hoại tế bào ở từng khu vực, vì vậy tế bào vẫn có thể tồn tại và có khả năng hồi phục Để che chắn các tia bức xạ gamma, người ta cần phải dùng các vật liệu như chì, bê tông… Như vậy, bức xạ Gamma rất nguy hiểm khi chiếu ngoài
Bức xạ tia X
Tia gamma được sinh ra từ biến đổi trong hạt nhân, thì tia X được phát
ra khi các điện tử nguyên tử thay đổi quỹ đạo của chúng Tia X được khám phá bởi Wilhelm Rontgen hiện được ứng dụng nhiều để chẩn đoán bệnh trong
y tế, kiểm tra hàng hóa, hóa phân tích, thiên văn học, khảo cổ học…Tia X có tính chất tương tự như bức xạ Gamma, nhưng có thể khống chế mức độ phát
xạ đơn giản hơn bằng cách thay đổi các thông số của thiết bị như cao áp, dòng
Trang 24điện, thời gian, khoảng cách Tùy vào mức độ, con người tiếp xúc với tia X có thể bị ảnh hưởng đến các bộ phận trong cơ thể như: đục thủy tinh thể, suy tim, suy tiền liệt tuyến, ung thư máu…
Bức xạ Nơtron
Bức xạ Nơtron được tạo ra trong quá trình vận hành lò phản ứng hạt nhân, các nguồn Nơtron hoặc, các máy phát nơtron Bản thân nó không mang điện nên nó không thể ion hóa trực tiếp được Cũng giống như bức xạ gamma, các nơtron cũng truyền năng lượng của chúng cho các hạt tích điện Ngoài ra, nơtron còn có thể bị một hạt nhân bắt và thường dẫn đến việc phát xạ gamma hoặc các hạt tích điện thứ cấp Sự suy giảm năng lượng của Nơtron chủ yếu
do các va chạm đàn hồi và không đàn hồi với hạt nhân nguyên tử Sự mất năng lượng mạnh nhất của Nơtron là do va chạm đàn hồi với Proton (hạt có khối lượng tương đương với Nơtron) Do vậy để che chắn bức xạ Nơtron, người ta thường dùng những vật liệu chứa Hydro như nước hoặc Paraphin Nơtron không chỉ gây bức xạ ion hóa gián tiếp, nguy hiểm hơn, bức xạ này còn có khả năng tạo ra các đồng vị phóng xạ phát bức xạ Beta và alpha ngay bên trong cơ thể sinh vật làm tổn hại trực tiếp tới tế bào
1.3.2 Tác động của bức xạ đối với môi trường
Các chất phóng xạ có thể lẫn trong môi trường không khí, đất, và nước theo nhiều cách Các vụ thử hạt nhân hoặc các sự cố tại các cơ sở hạt nhân có thể làm phát tán chất phóng xạ vào không khí Bụi phóng xạ trong không khí
có thể làm ảnh hưởng trực tiếp đến con người qua đường hô hấp Bụi phóng
xạ này có thể lắng đọng trên mặt đất hoặc trong nước Ở môi trường đất, việc
ô nhiễm phóng xạ có thể từ các chất phóng xạ tự nhiên có lẫn trong đất đá hoặc do con người tạo nên trong các trường hợp tai nạn ở các cơ sở hạt nhân, các vụ thử hạt nhân hay do thất lạc nguồn phóng xạ Như vậy, những sinh vật sống trong những vùng đất bị ô nhiễm này cũng sẽ phải hấp thụ chất phóng
xạ Thực vật hấp thụ qua đường trao đổi chất từ trong đất còn động vật trong quá trình tiêu hóa cũng đưa vào cơ thể một lượng chất phóng xạ gây nên liều
Trang 25chiếu trong Đối với môi trường nước, cường độ bức xạ cao có thể làm cho sinh vật sống dưới nước giảm khả năng sinh sản Lượng thức ăn trong nước
và oxy do các sinh vật phù du tạo ra cũng bị suy giảm
Hình 1.2 - Khả năng thâm nhập của các tia bức xạ
Một số khuyến cáo
Uỷ ban Quốc tế về An toàn bức xạ - ICRP (International Commission
on Radiological Protection) đưa ra khuyến cáo giới hạn liều để giúp cho nhân viên làm việc trong môi trường bức xạ và công chúng sống ở môi trường ngoài phòng tránh quá liều Đây không phải là giới hạn liều bắt buộc, nhưng
đã được thông qua như là những quy định về an toàn bức xạ ở nhiều nước
Trong nhiều trường hợp, cho dù là bức xạ phông môi trường hay trong điều kiện làm việc ở các nhà máy điện hạt nhân, liều bức xạ thường được phân bố đều trên toàn cơ thể Chiếu xạ cũng có thể hướng vào một bộ phận nào đó của cơ thể (như việc chẩn, trị bệnh bằng tia bức xạ tại các cơ sở y tế)
Trang 26Do các cơ quan nội tạng trong cơ thể có độ nhạy đối với bức xạ là khác nhau nên người ta sử dụng trọng số mô để chỉ các nguy cơ tương đương trong chiếu xạ một phần và chiếu xạ toàn bộ cơ thể Người ta dùng thuật ngữ liều hiệu dụng khi dùng trọng số mô Để rõ ràng hơn, ta ví dụ: ICRP đưa ra trọng
số mô bằng 0,05 đối với tuyến giáp Như vậy nếu tuyến giáp nhận một liều hấp thụ Gamma là 1.000 mGy thì liều hiệu dụng tương đương là 50 mSv (0,05 x 1 x 1.000) [37]
Đối với nhân viên làm việc trong môi trường bức xạ: Theo khuyến cáo của
ICRP, trong một năm, mức liều đối với nhân viên không nên vượt quá 50 mSv và liều trung bình cho 5 năm không được vượt quá 20 mSv/năm Nếu một phụ nữ mang thai làm việc trong môi trường bức xạ, thì giới hạn liều là 2 mSv/năm Người ta xác định giới hạn liều theo nguyên lý ALARA (Thông tư 30/2012/TT-BKHCN ngày 28/12/2012) để bảo đảm rủi ro nghề nghiệp đối với công nhân bức
xạ không cao hơn rủi ro nghề nghiệp trong các ngành công nghiệp khác
Đối với công chúng: Giới hạn liều đối với công chúng nói chung thấp
hơn đối với công nhân ICRP khuyến cáo rằng giới hạn liều đối với công chúng không nên vượt quá 1 mSv/1 năm
Đối với bệnh nhân: ICRP không có khuyến cáo giới hạn liều đối với bệnh
nhân Do việc chẩn trị bệnh đòi hỏi bệnh nhân phải chiếu liều cao hơn nhiều lần so với giới hạn liều cho công chúng như khi chụp X quang Trong xạ trị, liều chiếu
có thể tăng gấp hàng trăm lần so với giới hạn liều đối với nhân viên bức xạ Bởi vì liều xạ được dùng là để xác định bệnh và để chữa bệnh, nên hiệu quả của điều trị được xem là cần thiết hơn ngay cả khi phải dùng đến liều cao
Các tiêu chuẩn an toàn cũng được áp dụng trong ngành năng lượng nguyên tử để những rủi ro bức xạ đối với nhân viên được giữ ở mức thấp nhất
Trang 271.4 Các quy định về an toàn bức xạ và hạt nhân trong QLNN
1.4.1 Chính sách và pháp luật của Việt Nam
Quản lý nhà nước (QLNN) trong ngành Năng lượng nguyên tử được chia làm hai lĩnh vực chính Đó là:
Quản lý về Nghiên cứu, phát triển và ứng dụng năng lượng nguyên
tử, bao gồm ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ và điện hạt nhân
Quản lý về bảo đảm an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân; an toàn chất thải phóng xạ và hạt nhân; quản lý phóng xạ môi trường; ứng phó sự cố; quản
lý chiếu xạ dân chúng, chiếu xạ nghề nghiệp và chiếu xạ y tế
Để thực hiện nhiệm vụ QLNN về An toàn bức xạ và hạt nhân (ATBXHN), Có bốn điều kiện như sau:
i Khuôn khổ luật pháp,
ii Cơ quan pháp quy hạt nhân quốc gia,
iii Năng lực hỗ trợ kỹ thuật (An toàn bức xạ, An toàn hạt nhân, Ứng phó sự cố, Phóng xạ môi trường, An ninh hạt nhân, Thanh sát hạt nhân, Chuẩn đo lường bức xạ quốc gia, Thông tin hạt nhân, Đào tạo cán bộ),
iv Hợp tác quốc tế [24]
Khuôn khổ luật pháp
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về an toàn bức xạ và hạt nhân của Việt Nam cũng tương tự như các hệ thống văn bản pháp luật khác Sơ đồ xây dựng Khuôn khổ pháp lý quốc gia được thể hiện ở hình 1.3
Trên hết là các điều luật do Quốc hội thông qua, các Nghị định của Chính phủ Từ đó Thủ tướng Chính phủ sẽ đưa ra những Quyết định Các Bộ trưởng phối hợp đưa ra các Thông tư liên bộ và sau đó là các Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia Từ Quy chuẩn này, các cơ quan đơn vị trong ngành sẽ đề xuất những Tiêu chuẩn kỹ thuật và các hướng dẫn kỹ thuật cho các cơ sở trực tiếp
Trang 28Hình 1.3 - Khuôn khổ pháp lý quốc gia
Năm 1996, căn cứ vào Nghị quyết Quốc hội Khoá IX, kỳ họp thứ 8 về công tác xây dựng pháp luật, Pháp lệnh An toàn và kiểm soát bức xạ ra đời [21]
Năm 2008, Bộ luật Năng lượng nguyên tử [22] đầu tiên được Quốc hội phê chuẩn Sau đây là 30 Nghị định và Thông tư đã ban hành để hỗ trợ công tác quản
lý ATBXHN Các Thông tư hướng dẫn này được soạn thảo dựa trên bộ Tiêu
chuẩn an toàn của Cơ quan Nguyên tử năng quốc tế (IAEA Safety Standards
[10]): (xem thêm Phụ lục 3 Thống kê các văn bản pháp quy nhà nước và các Quy
chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn bức xạ)
Quy định chung
Nghị định số 7 / ND-CP ngày 25 tháng 1 năm 2010 hướng dẫn thực hiện một số điều khoản trong Luật Năng lượng nguyên tử
Nghị định 107 / ND-CP ngày 20 tháng 9 năm 2013 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử
Trang 29Thông tư số 08 / TT-BKHCN ngày 22 tháng 7 năm 2010 về Hướng dẫn khai báo và cấp phép công việc bức xạ và giấy chứng nhận nhân viên bức xạ
Thông tư số 287 / TT-BTC ngày 15 tháng 11 năm 2016 về Phí và lệ phí trong ngành năng lượng nguyên tử
Thông tư 19 / TT-BKHCN ngày 28/12/2010 về thanh tra chuyên ngành về
an toàn bức xạ và hạt nhân
Thông tư số 31 / TT-BKHCN ngày 31 tháng 12 năm 2007 hướng dẫn thực hiện chế độ thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi đối với người lao động làm các công việc bức xạ, hạt nhân
An toàn hạt nhân
Nghị định số 70 / ND-CP ngày 22 tháng 6 năm 2010 quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Năng lượng nguyên tử liên quan đến Nhà máy điện hạt nhân;
Thông tư số 13 / TT-BKHCN ngày 20 tháng 5 năm 2009 hướng dẫn đánh giá sơ bộ về an toàn hạt nhân đối với địa điểm nhà máy điện hạt nhân trong giai đoạn quyết định chủ trương đầu tư;
Thông tư số 28 / TT-BKHCN ngày 28 tháng 10 năm 2011 về yêu cầu an toàn hạt nhân đối với địa điểm nhà máy điện hạt nhân;
Thông tư số 28 / TT-BKHCN ngày 28 tháng 12 năm 2012 Quy định về công bố hợp chuẩn, công bố hợp quy và phương thức đánh giá sự phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật;
Thông tư số 30 / TT-BKHCN về các yêu cầu về thiết kế an toàn hạt nhân của nhà máy điện hạt nhân;
Thông tư số 20 / TT-BKHCN ngày 6 tháng 9 năm 2013 về kiểm tra quy định về an toàn hạt nhân trong khảo sát và đánh giá địa điểm của nhà máy điện hạt nhân;
Trang 30Thông tư số 21 / QĐ-BKHCN ngày 12 tháng 9 năm 2013 về các ứng dụng của Bộ luật và Tiêu chuẩn về an toàn hạt nhân
Thông tư số 23 / TT-BKHCN ngày 18 tháng 10 năm 2013 về Cung cấp nội dung, Quy trình đánh giá và Quy trình phê duyệt thiết kế nhà máy điện hạt nhân
Thông tư số 08 /2014 TT-BKHCN ngày 26 tháng 5 năm 2014 về Quy định nội dung Báo cáo phân tích an toàn trong hồ sơ phê duyệt dự án đầu tư xây dựng nhà máy điện hạt nhân
Thông tư số 12 / TT-BKHCN ngày 20 tháng 7 năm 2015 về Yêu cầu phân tích an toàn cho các nhà máy điện hạt nhân
An toàn phóng xạ
Thông tư số 24 / TT-BKHCN ngày 29 tháng 12 năm 2010 ban hành và thực hiện “quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn bức xạ - phân nhóm và phân loại nguồn phóng xạ”
Thông tư số 19 / TT-BKHCN ngày 18 tháng 11 năm 2012 quy định về kiểm soát và bảo đảm an toàn bức xạ trong chiếu xạ nghề nghiệp và chiếu xạ công chúng;
Thông tư số 23 / TT-BKHCN ngày 23 tháng 11 năm 2012 về Hướng dẫn
Vận chuyển & Quản lý chất thải phóng xạ
Thông tư số 23 / TT-BKHCN ngày 23 tháng 11 năm 2012 về Hướng dẫn
an toàn vận chuyển chất phóng xạ
Thông tư số 22 / TT-BKHCN về quản lý chất thải phóng xạ và nguồn đã qua sử dụng
Trang 31 Ứng phó sự cố
Thông tư số 25/2014/TT-BKHCN Quy định việc chuẩn bị ứng phó và ứng phó sự cố bức xạ và hạt nhân, lập và phê duyệt kế hoạch ứng phó sự cố bức xạ và hạt nhân;
Thông tư chung số 112 /2015 TTLT-BTC-BKHCN ngày 29 tháng 7 năm
2015 về Hướng dẫn cơ chế phối hợp và xử lý trong việc kiểm tra, phát hiện chất phóng xạ tại các cửa khẩu
Tham gia các điều ước quốc tế
Cho đến nay, Việt Nam đã tham gia 2 Công ước quan trọng, đó là:
Công ước An toàn hạt nhân (Convention on Nuclear Safety – CNS)
được Hội đồng của IAEA thông qua năm 1994, tại Vienna, Áo [11] Việt Nam bắt đầu tham gia vào năm 2010 [24]
Trang 32 Công ước chung về An toàn quản lý nhiên liệu đã qua sử dụng và An toàn quản lý chất thải phóng xạ (Joint convention on the safety of spent fuel
management and on the safety of radioactive waste management [12]) được thông qua tại Vienna năm 1997 Năm 2013, Việt Nam đã gia nhập và đã có nhiều hành động thực hiện các cam kết đó Đến nay, Công ước chung này đã
có trên 70 quốc gia tham gia [21]
Ngoài ra Việt Nam đã tham gia Công ước Bồi thường thiệt hại hạt nhân (1987); Công ước về thông báo sớm về tai nạn hạt nhân (1987); Công ước về
bảo vệ thực thể vật liệu hạt nhân (có hiệu lực vào tháng 11 năm 2012); Công ước quốc tế về Ngăn chặn hành động khủng bố hạt nhân (ký ngày 14 tháng 7
năm 2016 và thi hành ngày 23 tháng 10 năm 2016)
Một số Hiệp ước quốc tế về sử dụng hạt nhân vì mục đích hòa bình luôn
được Chính phủ quan tâm Đầu tiên phải kể đến Hiệp định Thanh sát là Hiệp
định giữa chính phủ Việt nam và IAEA năm 1989 về việc áp dụng thanh sát
liên quan đến Hiệp ước Không phổ biến vũ khí hạt nhân (NPT) mà Việt Nam
tham gia từ năm 1982 Năm 1996, Đại hội đồng Liên hiệp quốc đã thông qua
Hiệp ước cấm thử hạt nhân toàn diện (CTBT) Việt Nam đã tham gia ngay từ
ngày đầu mở ký và phê chuẩn Hiệp ước năm 2006 Ngoài ra Việt Nam đã
tham gia Hiệp ước Đông Nam Á về Khu vực tự do vũ khí hạt nhân (1997);
Quy tắc ứng xử về an toàn và bảo mật nguồn phóng xạ và hướng dẫn bổ sung
về xuất nhập khẩu nguồn phóng xạ (2006) và Nghị định thư bổ sung (ký năm
2007, phê chuẩn vào tháng 9 năm 2012)
Cơ quan pháp quy
Hiện nay, Cục An toàn bức xạ và hạt nhân (ATBXHN) là cơ quan pháp quy hạt nhân của Việt Nam được quy định trong Luật Năng lượng nguyên tử [22], có chức năng tham mưu cho Bộ KH&CN và thực thi các nhiệm vụ quản
lý nhà nước về an toàn bức xạ, an ninh và thanh sát hạt nhân trên phạm vi cả
Trang 33nước; và là cơ quan thường trực cho Hội đồng An toàn và hạt nhân quốc gia (ATHNQG) Sau đây là 12 Nhiệm vụ và quyền hạn dựa trên Điều lệ tổ chức
và hoạt động của Cục ATBXHN [4]:
i Tham gia xây dựng văn bản quy phạm pháp luật phục vụ phát triển ngành năng lượng nguyên tử; quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật, hướng dẫn bảo đảm an toàn, an ninh và thanh sát hạt nhân; chế độ, chính sách đặc thù cho những người làm việc trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử
ii Xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách, quy hoạch phát triển, các chương trình, kế hoạch về an toàn, an ninh và thanh sát hạt nhân
iii Tổ chức khai báo chất phóng xạ, thiết bị bức xạ, vật liệu hạt nhân, thiết bị hạt nhân; cấp giấy phép tiến hành công việc bức xạ; cấp chứng chỉ nhân viên bức xạ; tổ chức cấp, thu hồi đăng ký hoạt động và chứng chỉ hành nghề dịch vụ hỗ trợ ứng dụng năng lượng nguyên tử liên quan tới an toàn bức
xạ và hạt nhân, bao gồm: đào tạo nhân viên bức xạ; đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện theo yêu cầu của tổ chức, cá nhân tiến hành công việc bức xạ; đo liều chiếu
xạ cá nhân, đánh giá hoạt độ phóng xạ; kiểm định, hiệu chuẩn các thiết bị ghi đo bức xạ, thiết bị bức xạ, thiết bị hạt nhân; lắp đặt, bảo dưỡng, sửa chữa thiết bị bức
xạ, thiết bị hạt nhân; kiểm xạ, tẩy xạ; thay, đảo nhiên liệu cho lò phản ứng hạt nhân; lắp đặt nguồn phóng xạ và các hoạt động dịch vụ hỗ trợ ứng dụng năng lượng nguyên tử liên quan tới an toàn bức xạ và hạt nhân khác
iv Thẩm định và tổ chức thẩm định an toàn đối với công việc bức xạ; thẩm định và tổ chức thẩm định an ninh đối với nguồn phóng xạ, vật liệu hạt nhân và cơ sở hạt nhân; thẩm định để cấp chứng chỉ hành nghề dịch vụ hỗ trợ ứng dụng năng lượng nguyên tử liên quan tới an toàn bức xạ và hạt nhân
v Kiểm tra, thanh tra chuyên ngành về an toàn, an ninh và thanh sát hạt nhân theo quy định của pháp luật; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về an toàn, an ninh và thanh sát hạt nhân theo thẩm quyền
Trang 34vi Hướng dẫn, chỉ đạo và phối hợp với các Sở Khoa học và Công nghệ, các cơ quan, đơn vị có liên quan thực hiện quản lý nhà nước về an toàn, an ninh và thanh sát hạt nhân
vii Hỗ trợ kỹ thuật cho công tác quản lý nhà nước về an toàn, an ninh và thanh sát hạt nhân; tổ chức nghiên cứu áp dụng tiến bộ khoa học - công nghệ
và triển khai thực hiện các dịch vụ về an toàn, an ninh và thanh sát hạt nhân viii Thực hiện quản lý nhà nước về an toàn, an ninh nguồn phóng xạ, thiết
bị bức xạ và hạt nhân, chất thải phóng xạ, vật liệu hạt nhân, nhiên liệu hạt nhân, nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng, phóng xạ môi trường và ảnh hưởng của bức xạ tới môi trường, ứng phó khẩn cấp và xử lý sự cố bức xạ hạt nhân, kiểm soát chiếu xạ nghề nghiệp, chiếu xạ dân chúng và chiếu xạ y tế; phối hợp với Tổng Cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng trong công tác quản lý hệ thống Phòng chuẩn đo lường bức xạ
ix Tổ chức hoạt động thanh sát hạt nhân
x Xây dựng hệ thống thông tin quốc gia về an toàn, an ninh và thanh sát hạt nhân
xi Thực hiện hoạt động thông tin khoa học và thông tin đại chúng về an toàn, an ninh và thanh sát hạt nhân
xii Chủ trì và phối họp tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ về an toàn, an ninh và thanh sát hạt nhân
Cục ATBXHN bao gồm 7 Phòng chức năng và 2 Trung tâm kỹ thuật (Hình 1.4) Ngoài ra, để quản lý trên 1400 cơ sở bức xạ trên phạm vi cả nước (số liệu thống kê đến hết năm 2018 của Cục ATBXHN), Cục ATBXHN hiện đang phối hợp chặt chẽ với các Sở KHCN tại 63 tỉnh, thành phố để quản lý các hoạt động bức xạ
Trang 35Hình 1.4 - Cơ cấu tổ chức Cục ATBXHN
1.4.2 Các quy định quốc tế
Các hoạt động như sử dụng bức xạ trong y tế, vận hành lắp đặt hạt nhân, sản xuất, vận chuyển và sử dụng vật liệu phóng xạ và quản lý chất thải phóng xạ phải tuân theo các tiêu chuẩn an toàn Điều tiết an toàn là trách nhiệm quốc gia Tuy nhiên, rủi ro phóng xạ có thể vượt ra khỏi biên giới quốc gia, và hợp tác quốc tế phục vụ để thúc đẩy và tăng cường an toàn trên toàn cầu bằng cách trao đổi kinh nghiệm và cải thiện khả năng kiểm soát các mối nguy hiểm, để ngăn ngừa tai nạn, ứng phó với các tình huống khẩn cấp và giảm thiểu mọi hậu quả có hại Các quốc gia có nghĩa vụ thực hiện các cam kết và nghĩa vụ đối với trong nước và quốc tế
Cơ chế an toàn hạt nhân toàn cầu đang được áp dụng và tiếp tục được cải thiện Các tiêu chuẩn an toàn của IAEA (IAEA Safety Standards [10]) là nền tảng của cơ chế toàn cầu này Chúng hỗ trợ thực hiện các công cụ ràng
Trang 36buộc về phương diện quốc tế và cơ sở hạ tầng an toàn quốc gia, Các tiêu chuẩn an toàn của IAEA tạo thành một công cụ hữu ích cho các bên ký kết hợp đồng để đánh giá hiệu suất của họ theo các công ước quốc tế này
Các tiêu chuẩn an toàn của IAEA xuất phát từ các điều luật của IAEA Khi cần thì IAEA có thể phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền của Liên hợp quốc và các cơ quan chuyên môn liên quan Với mục tiêu nhằm bảo vệ con người và môi trường khỏi tác hại của bức xạ ion hóa, các tiêu chuẩn an
toàn của IAEA thiết lập các Nguyên tắc, Yêu cầu và Biện pháp an toàn cơ bản
để kiểm soát sự phơi nhiễm phóng xạ của con người và giải phóng chất phóng
xạ ra môi trường, để hạn chế khả năng xảy ra các sự kiện có thể dẫn đến mất kiểm soát lõi lò phản ứng hạt nhân, phản ứng chuỗi hạt nhân, hoặc bất kỳ nguồn phóng xạ nào khác và để giảm thiểu hậu quả của những rủi ro có thể xảy ra Các tiêu chuẩn áp dụng cho các cơ sở bức xạ và áp dụng cho các hoạt động làm phát sinh rủi ro phóng xạ, bao gồm lắp đặt hạt nhân, sử dụng nguồn phóng xạ, vận chuyển vật liệu phóng xạ và quản lý chất thải phóng xạ
Các tiêu chuẩn an toàn của IAEA đã được hầu hết được đại diện chuyên gia các nước trên thế giới đồng thuận nhằm gây dựng mức độ an toàn cao để bảo vệ con người và môi trường khỏi tác hại của bức xạ ion hóa Chúng được ban hành trong Bộ tiêu chuẩn an toàn IAEA Cấu trúc bao gồm
ba phần được mô tả trong Hình 1.5 và Hình 1.6 Các tiêu chuẩn này thường xuyên được IAEA rà soát và cập nhật Những ấn phẩm của IAEA được trình bày trong bản luận văn này được cập nhật đến tháng 5 năm 2019
Nguyên tắc an toàn cơ bản của IAEA
Mục tiêu của ấn phẩm này là thiết lập mục tiêu an toàn cơ bản, các nguyên tắc và khái niệm an toàn cơ bản cung cấp các cơ sở cho các tiêu chuẩn
an toàn của IAEA, và chương trình liên quan đến an toàn của nó
Trang 37Hình 1.5 - Phân loại các tiêu chuẩn an toàn [10]
(Nguồn IAEA)
Các yêu cầu liên quan được thiết lập trong các ấn phẩm Yêu cầu an toàn Hướng dẫn về việc đáp ứng các yêu cầu này được cung cấp trong bộ
Hướng dẫn an toàn liên quan
Ấn phẩm này nêu mục tiêu an toàn cơ bản và mười Nguyên tắc an toàn liên quan, và mô tả ngắn gọn ý định và mục đích của chúng Mục tiêu an toàn
cơ bản áp dụng cho tất cả các trường hợp làm phát sinh rủi ro bức xạ Các nguyên tắc an toàn được áp dụng trong suốt toàn bộ thời gian hoạt động của tất cả các cơ sở bức xạ và được sử dụng cho mục đích hòa bình, và cho các hành động bảo vệ để giảm rủi ro bức xạ hiện có Chúng cung cấp cơ sở cho các yêu cầu và biện pháp bảo vệ con người và môi trường trước các rủi ro phóng xạ và an toàn cho các cơ sở và hoạt động làm phát sinh rủi ro phóng
xạ, đặc biệt là lắp đặt hạt nhân và sử dụng các nguồn phóng xạ và phóng xạ, vận chuyển vật liệu phóng xạ và quản lý chất thải phóng xạ
Trang 38Các biện pháp an toàn và biện pháp an ninh có điểm chung là nhằm bảo
vệ cuộc sống và sức khỏe của con người và môi trường Các nguyên tắc an toàn liên quan đến an ninh của các cơ sở, như:
- Các quy định phù hợp trong thiết kế và xây dựng các cơ sở hạt nhân
và các cơ sở bức xạ khác;
- Kiểm soát việc ra vào vào các cơ sở hạt nhân và các cơ sở bức xạ khác để ngăn chặn việc mất cắp hoặc sở hữu, chuyển giao và sử dụng vật liệu phóng xạ trái phép;
- Sắp xếp để giảm thiểu hậu quả của tai nạn và sự cố, điều này cũng hỗ trợ cho các biện pháp xử lý các vi phạm trong an ninh phòng tránh phát sinh rủi ro phóng xạ;
- Các biện pháp bảo mật quản lý nguồn phóng xạ và chất phóng xạ Các biện pháp an toàn và biện pháp an ninh phải được thiết kế và thực hiện theo cách tích hợp để các biện pháp an ninh không làm tổn hại đến các biện pháp an toàn và an toàn không làm tổn hại đến an ninh [13] Các nội dung chính của mười nguyên tắc an toàn cơ bản được trình bày trong phần
Phụ lục 4
Yêu cầu an toàn tổng quát của IAEA
Bộ Yêu cầu An toàn [10] của IAEA tích hợp và nhất quán thiết lập các yêu
cầu để đảm bảo về bảo vệ con người và môi trường, cả hiện tại và trong tương
lai Các yêu cầu được điều chỉnh bởi mục tiêu và nguyên tắc của Nguyên tắc
an toàn cơ bản Nếu các yêu cầu không được đáp ứng, phải được thực hiện
các biện pháp để đạt mức độ an toàn cần thiết Bộ Yêu cầu này gồm 7 phần
(Xem Hình 1.6)
Phần 1 Khung chính phủ, pháp lý và quy định về an toàn:Phần này
được xuất bản năm 2016 [18] bao gồm 36 yêu cầu
Phần 2 Lãnh đạo và quản lý an toàn Ở phần này bao gồm 14 Yêu cầu
với mục tiêu là thiết lập các yêu cầu hỗ trợ Nguyên tắc 3 của Nguyên
Trang 39tắc an toàn cơ bản liên quan đến việc thiết lập, duy trì và liên tục cải
thiện khả năng lãnh đạo và quản lý để đảm bảo an toàn và hệ thống quản lý hiệu quả
Phần 3 Bảo vệ Bức xạ và An toàn Nguồn Phóng xạ bao gồm 52 yêu
cầu với mục tiêu để bảo vệ con người và môi trường khỏi tác hại của
bức xạ ion hóa và sự an toàn của các nguồn bức xạ
Phần 4 Đánh giá an toàn cho các cơ sở và các hoạt động bức xạ: bao
gồm 24 yêu cầu [10] chú trọng vào mục tiêu thiết lập các yêu cầu áp dụng chung phải được thực hiện trong đánh giá an toàn cho các cơ sở
và các hoạt động bức xạ
Phần 5 Quản lý xử lý chất thải phóng xạ bao gồm 22 Yêu cầu với các
mục tiêu quản lý xử lý chất thải phóng xạ dựa trên cơ sở các nguyên tắc
an toàn Các yêu cầu này được áp dụng cho việc định vị, thiết kế, xây dựng, vận hành và giai đoạn đóng cửa các cơ sở để quản lý chất thải
Phần 7 Chuẩn bị và ứng phó khẩn cấp gồm 26 Yêu cầu về mức độ sẵn
sàng và đáp ứng đầy đủ cho trường hợp khẩn cấp hạt nhân hoặc phóng
xạ Việc áp dụng các yêu cầu này cũng nhằm giảm thiểu hậu quả của trường hợp khẩn cấp hạt nhân hoặc phóng xạ nếu trường hợp khẩn cấp
như vậy xảy ra [17]
Trang 40Hình 1.6 - Cấu trúc bộ văn bản về tiêu chuẩn an toàn IAEA
(Nguồn IAEA)
Các hướng dẫn an toàn của IAEA
Các Hướng dẫn an toàn [10] cung cấp các khuyến nghị và hướng dẫn
về cách tuân thủ các Yêu cầu an toàn, Các Yêu cầu này đã được sự đồng thuận
quốc tế về việc cần phải thực hiện các biện pháp được đề xuất (hoặc các biện pháp
thay thế tương đương) Hướng dẫn an toàn trình bày các thông lệ quốc tế và ngày
càng phản ánh các thực tiễn tốt nhất để giúp người dùng phấn đấu đạt được mức
độ an toàn cao Hướng dẫn an toàn này cung cấp hướng dẫn về các khía cạnh kỹ
thuật của các chức năng cốt lõi của cơ quan quản lý và các quy trình liên quan để đảm bảo kiểm soát các cơ sở và các hoạt động bức xạ Hướng dẫn này đặc biệt
Nguyên tắc an toàn cơ bản
Yêu cầu an toàn tổng quát
1 Đánh giá địa điểm cho cơ sở hạt nhân
2 An toàn của nhà máy điện hạt nhân 2/1 Thiết kế
2/2 Vận hành
3 An toàn của lò phản ứng nghiên cứu
Phần 5 Quản lý xử lý chất thải phóng xạ
Yêu cầu an toàn cụ thể
4 An toàn của các chu trình nhiên liệu hạt nhân