1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH THÚC đẩy đầu tư mạo HIỂM đối với HOẠT ĐỘNG ươm tạo DOANH NGHIỆP KHOA học và CÔNG NGHỆ tại VIỆT NAM

75 63 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 759,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, hoạt động ươm tạo doanh nghiệp KH&CN được thực hiện ở một số dạng chính sau: 1 hoạt động hỗ trợ hoàn thiện công nghệ; 2 hoạt động đào tạo, tư vấn về mô hình kinh doanh, quản tr

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HÀ NỘI, 2019

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHÙNG VĂN QUÂN

GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY ĐẦU TƯ MẠO HIỂM ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ƯƠM TẠO DOANH NGHIỆP KHOA HỌC

VÀ CÔNG NGHỆ TẠI VIỆT NAM

Ngành: Quản lý Khoa học và Công nghệ

Mã số: 8 34 04 12

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS TẠ DOÃN TRỊNH

HÀ NỘI, 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS.Tạ Doãn Trịnh Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này hoàn toàn trung thực.Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Học viên

Phùng Văn Quân

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: VAI TRÒ ĐẦU TƯ MẠO HIỂM ĐỐI VỚI VIỆC ƯƠM TẠO DOANH NGHIỆP KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 19

1.1.Doanh nghiệp khoa học và công nghệ 19

1.2.Ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ 30

1.3.Đầu tư mạo hiểm 19

Chương 2: ĐẦU TƯ MẠO HIỂM CHO ƯƠM TẠO DOANH NGHIỆP KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TẠI VIỆT NAM VÀ CÁC BÀI HỌC KINH NGHIỆM QUỐC TẾ 35

2.1 Thực trạng hoạt động đầu tư mạo hiểm đối với hoạt động ươm tạo doanh nghiệp KH&CN ở Việt Nam và quốc tế 35

2.2 Thực tiễn đầu tư của nhà đầu tư Việt Nam khi đầu tư vào dự án/công ty KH&CN khởi nghiệp 46

2.3.Những thuận lợi và khó khăn trong việc hình thành và phát triển ĐTMH vào ươm tạo doanh nghiệp KH&CN ở Việt Nam 51

2.4.Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 55

Chương 3 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY ĐẦU TƯ MẠO HIỂM CHO HOẠT ĐỘNG ƯƠM TẠO DOANH NGHIỆP KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 58

3.1 Nguyên tắc đề xuất vào các văn bản quy phạm pháp luật 60

3.2.Các đề xuất chính sách 61

KẾT LUẬN 65

TÀI LIỆU THAM KHẢO 67

Trang 5

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

KH&CN Khoa học và công nghệ

ĐTMH Đầu tư mạo hiểm

PTTTDN Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp khoa học và

công nghệ OECD

IPO

Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế Phát hành công khai lần đầu ( Initial Public Offering)

VC Venture capital funds

GVC Government venture capital

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH

Hình 1: Các giai đoạn khởi nghiệp phân loại theo nhu cầu vốn 6Hình 2: Giai đoạn cần vốn đầu tư mạo hiểm 27Hình 3: Các chủ thể trong hệ sinh thái khởi nghiệp 33Hình 4: Vốn đầu tư mạo hiểm các doanh nghiệp Châu Âu huy động được 43Hình 5: Số lượng các khoản đầu tư vào doanh nghiệp khởi nghiệp tại

Việt Nam từ năm 2011 đến năm 2015 50Hình 6: Số lượng giao dịch và tổng số tiền đầu tư mạo hiểm vào doanh

nghiệp khởi nghiệp (đơn vị triệu đô la) 51

Trang 7

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việc xây dựng và phát triển thị trường KH&CN là mục tiêu đặt ra cho rất nhiều quốc gia trên thế giới, nhất là những nước đang phát triển.Chính phủ các nước đó đều hiểu rằng một thị trường KH&CN hoạt động hiệu quả và mạnh mẽ sẽ trở thành đòn bẩy đưa nền kinh tế phát triển một cách nhanh chóng và bền vững

Trên thế giới, một trong những phương pháp phổ biến để thúc đẩy thị trường KH&CN phát triển chính là việc đầu tư cho hoạt động ươm tạo doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực khoa học – công nghệ nhằm phát triển hệ sinh thái hỗ trợ khởi nghiệp Trong các nghiên cứu về đầu tư cho hoạt động này nổi bật lên 2 vấn đề chính: (1) nghiên cứu về đầu tư cho hoạt động ươm tạo nói chung và (2) nghiên cứu về đầu tư trực tiếp cho đối tượng doanh nghiệp KH&CN khởi nghiệp

Hiện nay, hoạt động ươm tạo doanh nghiệp KH&CN được thực hiện ở một số dạng chính sau: (1) hoạt động hỗ trợ hoàn thiện công nghệ; (2) hoạt động đào tạo, tư vấn về mô hình kinh doanh, quản trị doanh nghiệp, xây dựng thương hiệu, phát triển thị trường, sở hữu trí tuệ…; (3) Hoạt động hỗ trợ gọi vốn đầu tư cho doanh nghiệp; và (4) hoạt động trực tiếp đầu tư cho doanh nghiệp khởi nghiệp

Xuất phát từ nhu cầu khác nhau trong các giai đoạn ươm tạo, phát triển của doanh nghiệp KH&CN khởi nghiệp, Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp khởi nghiệp thông qua hoạt động của các cơ sở ươm tạo (incubators) và hỗ trợ các doanh nghiệp non trẻ thông qua hoạt động của các

tổ chức thúc đẩy kinh doanh (business accelarators) Nhà nước cũng cần có chính sách đầu tư ban đầu dưới dạng cấp vốn mồi (seed money) cho các nhóm khởi nghiệp và hỗ trợ tài chính, tín dụng cho các doanh nghiệp khởi nghiệp

Trang 8

Nhà nước cần liên kết với khu vực tư nhân để đầu tư phát triển mạng lưới các cơ sở ươm tạo, tổ chức thúc đẩy kinh doanh.Đồng thời, các chương trình hỗ trợ đầu tư của Nhà nước dành cho các doanh nghiệp khởi nghiệp cần được quản lý hiệu quả với cơ chế đặc thù để thực sự trở thành các nhân tố tiền đề tạo nên hệ sinh thái hỗ trợ doanh nhân công nghệ khởi nghiệp tại Việt Nam

Ở Việt Nam, hầu hết các hoạt động ươm tạo doanh nghiệp KH&CN diễn ra ở các cơ sở ươm tạo doanh nghiệp KH&CN công lập Tuy nhiên, hình thức ươm tạo ở các cơ sở này hầu hết chỉ dừng lại ở việc cung cấp mặt bằng

và một số cơ sở vật – chất dùng chung hoặc cung cấp tài chính cho việc nghiên cứu, phát triển hoàn thiện công nghệ, chứ chưa có hoạt động trực tiếp cung cấp nguồn tài chính cho doanh nghiệp khởi nghiệp Hoạt động của những cơ sở ươm tạo này được đánh giá là chưa có hiệu quả bởi số lượng và chất lượng của các doanh nghiệp tốt nghiệp khởi các cơ sở này là chưa cao Trong khi đó, hầu hết những doanh nghiệp đã đăng ký doanh nghiệp KH&CN

mà Cục PTTTDN tổng hợp được đều không đi qua quá trình ươm tạo doanh nghiệp KH&CN chuyên nghiệp nào

Theo phân tích ban đầu của nhóm nghiên cứu, hoạt động cấp vốn trực

Trang 9

3

tiếp cho doanh nghiệp được coi là hoạt động không thể thiếu được trong quá trình ươm tạo doanh nghiệp và nhất là đối với doanh nghiệp khởi nghiệp dựa trên công nghệ Trong hoạt động này, vai trò tham gia của Nhà nước là vô cùng quan trọng bởi thời kỳ khởi nghiệp của doanh nghiệp KH&CN là thời

kỳ rủi ro nhất trong quá trình phát triển của doanh nghiệp mà các nhà đầu tư

tư nhân, nhất là những nhà đầu tư tại Việt Nam không muốn tham gia

Ở Việt Nam hiện nay, hoạt động đầu tư mạo hiểm thực tế hầu hết được thực hiện bởi các quỹ đầu tư mạo hiểm của nước ngoài như IDG Ventures hay Cyber Agents và bản thân họ chỉ chú trọng vào đầu tư cho doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực công nghệ thông tin với chu kỳ đầu tư ngắn và khoản đầu tư ban đầu không cao Như vậy có thể nói doanh nghiệp khởi nghiệp trong các lĩnh vực KH&CN không phải công nghệ thông tin như lĩnh vực vật

lý, hóa học, công nghệ sinh học, hay những lĩnh vực công nghệ mới, công nghệ cao, công nghệ có giá trị đối với người nông dân, xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường,… đang bị các nhà đầu tư tư nhân “lãng quên” vì lý do lợi nhuận, rất cần được Nhà nước quan tâm trong chính sách đầu tư phát triển các cơ sở ươm tạo, tổ chức thúc đẩy kinh doanh, hỗ trợ nguồn vốn khởi nghiệp ban đầu và hỗ trợ thúc đẩy kinh doanh của các doanh nghiệp KH&CN khởi nghiệp

Nguồn gốc sâu xa của đầu tư mạo hiểm đối với ươm tạo doanh nghiệp KH&CN là nuôi dưỡng nguồn thu cho tương lai với những đối tượng tiềm năng lớn Tuy nhiên, hoạt động đầu tư luôn hàm chứa yếu tố rủi ro Hay nói cách khác, rủi ro cao luôn song hành với đầu tư mạo hiểm Việc chấp nhận điều này, đồng thời có cơ chế quản lý và xử lý rủi ro phù hợp là cần thiết trong khuyến khích đẩy mạnh các hình thức đầu tư mạo hiểm đối với ươm tạo doanh nghiệp KH&CN Hiện tại các luật như Luật doanh nghiệp, Dự thảo Luật quản lý sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, Luật đầu tư, Bộ

Trang 10

4

Luật hình sự (trong mối liên quan với các luật nội dung) vẫn chưa thể hiện rõ các chính sách khuyến khích nói trên, thậm chí còn có một số rào cản đối với các chủ thể tham gia trong hệ sinh thái hỗ trợ khởi nghiệp Ví dụ, việc Nhà nước đầu tư “vốn mồi” cho doanh nghiệp khởi nghiệp chưa được cho phép trong bất kỳ văn bản luật hay dự luật nào nói trên Mặc dù tại Luật Đầu tư

2014 đã có quy định ưu đãi đầu tư mạo hiểm, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao, tuy nhiên các quy định về đầu tư của Nhà nước trong các hoạt động này chưa được quy định cụ thể[18] Mặt khác, ở cả Luật doanh nghiệp (sửa đổi) và Dự thảo Luật quản lý sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp đều có những quy định chặt chẽ buộc người đại diện vốn nhà nước chịu trách nhiệm bảo toàn và phát triển vốn đầu tư của Nhà nước trong doanh nghiệp, không có ngoại lệ nào cho hoạt động đầu tư ươm tạo doanh nghiệp nghiệp khoa học và công nghệ Quy định đó sẽ làm nản lòng những cơ sở ươm tạo, tổ chức thúc đẩy kinh doanh, người được giao quản lý các chương trình hỗ trợ đầu tư cho các doanh nghiệp khởi nghiệp

Chính vì những lý do nêu trên, để tạo điều kiện cho đầu tư của Nhà nước/đầu tư có sự tham gia của Nhà nước cho hoạt động ươm tạo doanh nghiệp KH&CN, Luận văn này tập trung vào các nội dung chính sau:

- Nghiên cứu kinh nghiệm một số nước về các loại hình đầu tư của Nhà nước cho hoạt động ươm tạo và phát triển doanh nghiệp KH&CN và tác động của nó trong hình thành hệ sinh thái hỗ trợ khởi nghiệp trong nước

- Nghiên cứu thực trạng chính sách, thực tiễn hoạt động đầu tư của Nhà nước và của tư nhân cho ươm tạo và phát triển doanh nghiệp KH&CN ở Việt Nam; nhu cầu phát triển hệ sinh thái hỗ trợ khởi nghiệp trong nước

- Đề xuất một số chính sách cụ thể khuyến khích đầu tư của Nhà nước

và thúc đẩy đầu tư mạo hiểm từ xã hội cho hoạt động ươm tạo doanh nghiệp KH&CN tại Việt Nam

Trang 11

5

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

* Tình hình nghiên cứu quốc tế:

Theo các nghiên cứu nước ngoài, hoạt động đầu tư mạo hiểm thường được gắn liền với các doanh nghiệp KH&CN trong giai đoạn đầu, hay còn gọi

là doanh nghiệp KH&CN khởi nghiệp (technology startup) Có thể phân loại các loại hình đầu tư cho doanh nghiệp KH&CN khởi nghiệp theo đối tượng đầu tư như sau: (1) Sáng lập viên khởi nghiệp, gia đình, bạn bè của doanh nghiệp khởi nghiệp; (2) Nhà đầu tư thiên thần (business angels), là nhà đầu tư

cá nhân không phải gia đình, bạn bè nhưng là những người giàu có đầu tư cho doanh nghiệp khởi nghiệp trong giai đoạn đầu phát triển; (3) Các trung gian gọi vốn cộng đồng (crowdfunding) là nơi thu hút vốn đầu tư từ mọi người dân cho doanh nghiệp khởi nghiệp; (4) Các công ty, tập đoàn đầu tư cho khởi nghiệp (corporate ventures); (5) Các quỹ đầu tư mạo hiểm (venture capital funds - VC); và (6) Nhà nước đầu tư cho khởi nghiệp (OECD, 1996; Lerner, 2002)

Các loại hình đầu tư này đóng các vai trò khác nhau trong từng bước phát triển của startups, bao gồm: ươm mầm, bắt đầu khởi nghiệp, phát triển và

mở rộng, thoái vốn bằng mua bán & sáp nhập và chuẩn bị IPO Nếu ở giai đoạn ươm mầm, các nhà đầu tư thiên thần với các khoản tiền nhỏ nhưng rủi ro cao đóng vai trò quan trọng trong việc cấp vốn ĐTMH cho startup thì ở giai đoạn sau, các quỹ ĐTMH thường là đối tượng chính để cấp vốn cho doanh nghiệp khởi nghiệp Trong khi đó, các tập đoàn đầu tư có thể vừa đóng vai trò của người cung cấp vốn đầu tư cho startups, vừa có thể thực hiện các khoản mua bán và sáp nhập, chính là lúc các khoản đầu tư có thể thoái vốn Nhà nước thường tham gia vào giai đoạn ban đầu, cung cấp vốn cho doanh nghiệp dưới dạng tài trợ hoặc đầu tư bằng cổ phần trực tiếp, hoặc đầu tư thông qua một quỹ đầu tư tư nhân mà nhà nước góp vốn

Trang 13

- Crowdfunding được coi là mô hình trung gian mới, hiệu quả, cho phép sử dụng hạ tầng internet để các doanh nghiệp khởi nghiệp ở giai đoạn đầu có thể thu hút vốn đầu tư rất nhiều người, hầu hết là các khoản đầu tư nhỏ

từ vài trăm đến khoản vài ngàn USD mà không cần đi qua các trung gian tài chính truyền thống (Mollick, 2013) Trong gọi vốn cộng đồng lại có 3 loại hình chính là: (1) gọi vốn cộng đồng bằng tài trợ (donation-based crowdfunding); (2) gọi vốn cộng đồng bằng phần thưởng (reward-based crowdfunding); (3) gọi vốn cộng đồng bằng vốn vay (lending-based crowdfunding) và (4) gọi vốn cộng đồng bằng cổ phần (equity-based crowdfunding) (McCahery & Vermeulen, 2014; World Bank, 2013) World Bank (2013) cho rằng nếu biết cách tạo môi trường thuận lợi, crowdfunding

sẽ là một loại hình trung gian phù hợp để thu hút vốn đầu tư cho các doanh nghiệp KH&CN khởi nghiệp ở các nước đang phát triển

- Quỹ ĐTMH: là loại hình tổ chức đầu tư chuyên nghiệp, chuyên đầu tư vào các công ty mới thành lập và có tiềm năng phát triển nhanh Khác với các

tổ chức đầu tư tài chính truyền thống, VC có quy trình đánh giá, lựa chọn startup rất kỹ lưỡng, không chỉ đầu tư mà còn hỗ trợ startups trong việc quản

lý doanh nghiệp, tìm kiếm các vòng đầu tư sau và chuẩn bị cho việc thoái vốn thông qua mua bán & sáp nhập hoặc IPO (Lerner, 2009) Nhiều nghiên cứu cho rằng VC có sự ảnh hưởng lớn và tích cực đến việc phát triển hoạt động đổi mới sáng tạo (Hellmann & Puri, 2000) Các công ty được đầu tư từ VC (VC-backed companies) hầu hết đóng vai trò quan trọng, dẫn đầu trong các

Trang 14

8

ngành như công nghệ sinh học, máy tính, bán dẫn (Lerner, 2009) Ngoài ra, theo thống kê của các công ty đã niêm yết trên sàn chứng khoán Hoa Kỳ, các công ty được đầu tư bởi VC cũng có xu hướng phát triển nhanh hơn (thời điểm niêm yết kể từ khi thành lập), phát triển bền vững hơn sau khi phát hành IPO và tạo ra nhiều việc làm hơn so với các công ty không được đầu tư bởi các quỹ này (Lerner, 2009)

Về mặt các chính sách liên quan đến đầu tư của nhà nước, đã có một số nghiên cứu như sau:

Có hai cách chính mà Nhà nước sử dụng để ảnh hưởng đến nguồn vốn đầu tư mạo hiểm: (1) đầu tư trực tiếp cho doanh nghiệp khởi nghiệp hoặc (2) gián tiếp hỗ trợ cho các khoản đầu tư từ các nhà đầu tư tư nhân (Lerner, 2002) Đối với hình thức thứ nhất, Nhà nước mở ra các chương trình ĐTMH riêng (government venture capital – GVC), trong khi đó đối với hình thức thứ hai, nhà nước thường đầu tư dưới dạng cổ đông trách nhiệm hữu hạn (limited partner) của các quỹ ĐTMH tư nhân hoặc đầu tư đối ứng với các nhà đầu tư

tư nhân, bao gồm cả quỹ ĐTMH, nhà đầu tư thiên thần, công ty đầu tư lẫn các

cơ sở ươm tạo

Nhà nước đầu tư vốn cho doanh nghiệp khởi nghiệp vì một số giả định rằng: (1) khu vực tư nhân không cung cấp đủ nguồn vốn đầu tư mạo hiểm cho các doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ; (2) nhà nước có khả năng lựa chọn các khoản đầu tư có tiềm năng mang lại lợi ích xã hội hoặc lợi ích kinh tế cao hoặc có thể khuyến khích để các trung gian làm việc này và (3) đầu tư của nhà nước vào những lĩnh vực liên quan đến nhiều đến nghiên cứu và phát triển có thể tạo ra được những ảnh hưởng lan tỏa tích cực đến thị trường, ví

dụ thông qua việc các đối thủ trên thị trường bị sức ép cạnh tranh khiến cho phải thường xuyên cập nhật, đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm (Lerner, 2002)

Trang 15

9

Tại Châu Âu, Nhà nước đóng góp khoảng 40% vào tổng số vốn đầu tư cho khởi nghiệp trong năm 2012 (so với 10-15% từ những năm trước suy thoái kinh tế) (Vlerick Business School, 2013) Các GVC hầu hết đầu tư vào giai đoạn ươm mầm (seed stage) và giai đoạn ban đầu (early stage) của startups Có một số nghiên cứu cho rằng việc đầu tư từ nhà nước cho startups

có ảnh hưởng tích cực đến việc phát triển hoạt động ĐTMH (Leleux & Surlemont, 2003; Cumming, 2011; del-Palacio, Zhang & Sole, 2012; Cumming & Li, 2013; Brander, Du & Hellmann, 2013)

Mặc dù vậy, việc xây dựng các chính sách về trực tiếp đầu tư từ các GVC là rất khó khăn trên các cơ sở lý thuyết cũng như thực tế, ví dụ:

+ Hầu hết những người quản lý GVC là công chức, cán bộ nhà nước, chính vì vậy họ sẽ thiếu kinh nghiệm và động lực (tài chính) phù hợp để có thể lựa chọn và cung cấp các hỗ trợ cần thiết cho các doanh nghiệp được đầu

tư (Leleux & Surlemont, 2003)

+ Rất nhiều nghiên cứu như Olson (1965) and Stigler (1971), Peltzman (1976) and Becker (1983) đều cho thấy kết quả là hầu hết các hỗ trợ của Nhà nước cho các tổ chức trung gian đều bị lợi dụng bởi các tổ chức có quan hệ chính trị tốt chứ không dựa trên năng lực thực sự của các tổ chức đó

+ Do GVC thường có các mục tiêu về xã hội như việc làm tạo ra, kết quả nghiên cứu được thương mại hóa, hơn là mục tiêu về tài chính nên các quỹ này có xu hướng đầu tư dưới giá thị trường, do đó thu hút hầu hết các dự

án startup tốt, để lại những dự án chất lượng thấp hơn cho các nhà đầu tư tư nhân (Leleux & Surlemont, 2003) Có một số nghiên cứu thực nghiệm cho thấy thực sự đầu tư từ nhà nước đã có ảnh hưởng tiêu cực đến đầu tư tư nhân

ở một số nước Châu Âu, Hoa Kỳ và Canada (Armour & Cumming, 2006; Cumming & MacIntosh, 2006; Da Rin et al ,2006)

Chính vì các lý do nêu trên, nhiều nghiên cứu cho rằng GVC thường ít

Trang 16

10

khi thành công (Lerner, 2002)

Tuy nhiên, hình thức đầu tư gián tiếp tư nhà nước được coi là có hiệu quả hơn so với hình thức đầu tư trực tiếp từ GVC (OECD, 2013).Khi đó, nhà nước đầu tư phần vốn của mình vào các quỹ ĐTMH của tư nhân như vậy nhà nước có thể tận dụng bộ lọc và kinh nghiệm của các quỹ tư nhân trong việc lựa chọn và hỗ trợ các startup phát triển (Cumming, 2007; Munari & Toschi, 2011).Các quỹ tư nhân cũng sẽ làm tốt hơn các GVC trong việc hỗ trợ thoái vốn từ startup (Luukkonen, Deschryvere & Bertoni, 2013) Tại Israel, Chương trình hỗ trợ đầu tư mạo hiểm Yozma từ năm 1993 đến 1998, được coi là động lực quan trọng nhất để phát triển ngành đầu tư mạo hiểm tại nước này Yozma

đã đầu tư 80 triệu USD để góp vốn vào 10 quỹ đầu tư mạo hiểm của tư nhân

và 20 triệu USD để hỗ trợ, đầu tư trực tiếp cho doanh nghiệp KH&CN khởi nghiệp Với sự tham gia đầu tư của Yozma mà lượng vốn đầu tư mạo hiểm trên thị trường của Isarel tăng từ 27 triệu USD năm 1992 lên đến 2,712 triệu USD vào năm 2000 Sau 5 năm, nhà nước đã thoái vốn thành công (bảo toàn vốn) tại tất cả 10 quỹ được nhận đầu tư (Avnimelech, 2009)

* Tình hình nghiên cứu trong nước:

Các nghiên cứu trong nước hầu hết tập trung vào vấn đề chính sách của nhà nước đối với doanh nghiệp KH&CN và gần đây là một số nghiên cứu về tình hình đầu tư mạo hiểm trong nước, cụ thể là:

Về các chính sách của nhà nước đối với doanh nghiệp KH&CN

Doanh nghiệp KH&CN là doanh nghiệp thực hiện sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khoa học và công nghệ để tạo ra sản phẩm, hàng hoá từ kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (Luật KH&CN 2013) [19]

Năm 2007, Chính phủ ban hành Nghị định số 80/2007/NĐ-CP về phát triển doanh nghiệp KH&CN: quy định tiêu chí, điều kiện thành lập và các chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp KH&CN Tại Quyết định số

Trang 17

11

1244/QĐ-TTg Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ khoa học và công nghệ giai đoạn 2011-2015 và định hướng trong giai đoạn 2015-2020 sẽ phát triển 3.000 doanh nghiệp KH&CN Trong đó, số lượng doanh nghiệp KH&CN hình thành từ các trường đại học, viện nghiên cứu chiếm khoảng 70%[16] Gần đây nhất, Luật KH&CN số 29/2013/QH13 ngày 18/6/2013 quy định về doanh nghiệp KH&CN (Điều 58) đã góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý thúc đẩy sự hình thành và phát triển doanh nghiệp KH&CN

Các chính sách đưa ra các ưu đãi cho doanh nghiệp KH&CN như sau:

- Được xem xét, giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ thuộc sở hữu nhà nước;

- Được hưởng chính sách ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp, miễn

lệ phí trước bạ khi đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà;

- Được ưu tiên thuê đất, cơ sở hạ tầng trong khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, khu công nghệ cao;

- Được hưởng chính sách ưu đãi về tín dụng đầu tư của Ngân hàng phát triển Việt Nam, Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia và các quỹ khác để thực hiện dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh;

- Được ưu tiên sử dụng trang thiết bị phục vụ cho hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ tại phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia,

cơ sở ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu khoa học

và công nghệ của Nhà nước

Tuy nhiên, trên thực tế việc hỗ trợ phát triển doanh nghiệp KH&CN còn nhiều khó khăn, vướng mắc, cụ thể:

- Vấn đề đăng ký chứng nhận doanh nghiệp KH&CN còn rất phức tạp, mất thời gian để doanh nghiệp chứng minh được quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp đối với kết quả nghiên cứu, đặc biệt là các kết quả nghiên cứu

Trang 18

- Phần “công nghệ” trong doanh nghiệp chưa thực sự phát triển Hằng năm có quá ít các kết quả nghiên cứu từ người Việt Nam được đăng ký bảo hộ

sở hữu trí tuệ (Báo cáo hằng năm, Cục Sở hữu trí tuệ, 2015; Mai Hà, Mai Hà, Hoàng Văn Tuyên, Đào Thanh Trường, 2015)

- Các chính sách về hỗ trợ tài chính, ví dụ thông qua ưu đãi thuế, cho doanh nghiệp KH&CN rất khó để có thể tiếp cận, chưa thực sự tạo được động lực cho các doanh nghiệp đó (Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp KH&CN, 2013b)

- Để phát triển các doanh nghiệp KH&CN mới thành lập, vai trò của các cơ sở ươm tạo doanh nghiệp KH&CN là rất quan trọng.Tuy nhiên, hầu hết các cơ sở ươm tạo tại các trường đại học, viện nghiên cứu của Việt Nam hoạt động chưa thật hiệu quả Nguồn tài chính đầu tư hiện nay cho các vườn ươm chủ yếu từ ngân sách nhà nước nên còn nhiều hạn chế, đặc biệt khó thu hút nhân lực có kinh nghiệm để làm việc Các vườn ươm hiện có chưa thu hút được sự quan tâm của các quỹ đầu tư và các doanh nghiệp lớn để đầu tư cho các doanh nghiệp được ươm tạo (Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp khoa học và công nghệ, 2013b)

- Các chính sách về hỗ trợ tài chính, thuế đối với doanh nghiệp KH&CN còn chưa thực đồng bộ, gây khó khăn trong quá trình thực hiện Ví

dụ, điều kiện để doanh nghiệp KH&CN được nhận hỗ trợ theo Nghị định số 80/2007/NĐ-CP về doanh nghiệp KH&CN và Thông tư liên tịch số 06/2008/TTLT-BKHCN-BTC-BNV hướng dẫn Nghị định tập trung vào tỷ lệ

Trang 19

13

doanh thu của việc sản xuất, kinh doanh hàng hóa hình thành từ kết quả nghiên cứu KH&CN trên tổng doanh thu của doanh nghiệp, trong khi điều kiện được nhận hỗ trợ của những doanh nghiệp có hoạt động đổi mới công nghệ tại Luật chuyển giao công nghệ lại không phụ thuộc vào các điều kiện như vậy mà vào địa bản, lĩnh vực (Nguyễn Thị Vân Anh, 2013)

Do còn có nhiều vướng mắc, số lượng doanh nghiệp KH&CN được cấp chứng nhận đến cuối năm 2015 mới đạt 204 doanh nghiệp, thấp hơn rất nhiều

so với chỉ tiêu 3000 doanh nghiệp KH&CN đến năm 2015 và 5000 doanh nghiệp KH&CN đến năm 2020 đề ra trong Quyết định số 1244/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 25/7/2011 về việc phê duyệt phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ khoa học và công nghệ chủ yếu giai đoạn 2011-2015 (Hội nghị

“Phát triển doanh nghiệp doanh nghiệp khoa học và công nghệ năm 2015”)

Về tình hình đầu tư mạo hiểm

- Trong khi các dự án về phát triển, thương mại hóa công nghệ mới, công nghệ cao khó có thể tiếp cận được các tổ chức tài chính truyền thống thì

họ có thể tiếp cận đầu tư từ các quỹ ĐTMH Ở nhiều nước trên thế giới, ĐTMH đã được chứng minh là đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển các công ty có tiềm năng phát triển nhanh dựa trên công nghệ.Cũng có nhiều chính sách liên quan đến phát triển ĐTMH Tuy nhiên, tác giả của các nghiên cứu trong nước về vấn đề này cho rằng biện pháp hiệu quả nhất là phải khuyến khích được tư nhân cùng tham gia với nhà nước để thành lập các quỹ ĐTMH phối hợp công – tư (Viện Chính sách và Chiến lược khoa học và công nghệ, 2015)

- Từ năm 2000 đến nay, mới chỉ có khoảng 3 – 4 quỹ đầu tư mạo hiểm

ở Việt Nam và tất cả là quỹ nước ngoài, có văn phòng đại diện ở Việt Nam Trong năm 2016, Tập đoàn công nghệ FPT mở quỹ đầu tư FPT Ventures tuy nhiên vẫn chưa rõ đây là mô hình công ty đầu tư hay quỹ đầu tư (được phép

Trang 20

14

phát hành chứng chỉ quỹ để huy động vốn) Điều này thể hiện một số thực tế sau: (1) Trong các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam chưa có quy định về đăng ký hoạt động của quỹ đầu tư mạo hiểm dành cho khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trong khi đó ở các nước phát triển trên thế giới, việc thành lập và hoạt động của các quỹ này được quy định riêng biệt và có những điều kiện thấp hơn nhiều về vốn và các nguyên tắc đầu tư hơn so với điều kiện của quỹ đầu tư chứng khoán thông thường; (2) Cũng chưa có các ưu đãi thuế dành cho nhà đầu tư từ quy mô cá nhân (nhà đầu tư thiên thần) đến quy mô quỹ trong khi đó các nước như Hồng Kông, Singapore đều có các ưu đãi rất lớn cho nhà đầu tư mạo hiểm; (3) Hệ thống tài chính của Việt Nam chưa thật sự phát triển, chính vì vậy các công cụ đầu tư, cách thức đầu tư và cấu trúc tài chính của doanh nghiệp chưa được chuyên nghiệp, chưa thực sự thu hút nhà đầu tư nước ngoài; (4) đặc biệt, thị trường mua bán và sáp nhập cũng như thị trường chứng khoán của Việt Nam chưa thực sự phát triển, do đó nhà đầu tư chưa nhìn thấy được “đầu ra”, chính là việc thoái vốn từ các khoản đầu tư mạo hiểm cho các doanh nghiệp khởi nghiệp ở Việt Nam Chính vì những lý

do trên mà các nhà đầu tư mạo hiểm ở nước ngoài cảm thấy “quen” làm việc hơn với các thị trường phát triển như Singapore, Hồng Kông hay ở Hoa Kỳ hơn là mất công tìm hiểu và vượt qua các rào cản để đầu tư vào Việt Nam

Ngoài ra, trong 67 phi vụ đầu tư mạo hiểm thống kê được trong năm

2015 bởi Topica Founder Institute, khoảng ½ là các khoản đầu tư mà trong đó nhà đầu tư yêu cầu doanh nghiệp khởi nghiệp phải đăng ký trụ sở tại nước ngoài trước khi thực hiện đầu tư Nói cách khác, đó không còn là những doanh nghiệp đúng nghĩa Việt Nam mà là doanh nghiệp nước ngoài có người sáng lập là người Việt Nam

*Bình luận, đánh giá

Các tài liệu và nghiên cứu trong nước hầu hết tập trung vào các chính

Trang 21

15

sách phát triển doanh nghiệp KH&CN Có rất ít các nghiên cứu về nội dung đầu tư mạo hiểm Chỉ có một số nghiên cứu như Đề tài “Nghiên cứu xây dựng chính sách khuyến khích tư nhân thành lập hoặc liên kết với nhà nước để thành lập các quỹ đầu tư mạo hiểm phát triển công nghệ mới, công nghệ cao”, Viện Chính sách và Chiến lược khoa học và công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ (2015) là tổng kết được các chính sách nước ngoài về vấn đề ĐTMH và cho rằng Việt Nam nên học tập mô hình liên kết giữa nhà nước và

tư nhân để thành lập các quỹ này Tuy nhiên, các mô hình ĐTMH là gì, điểm mạnh, yếu của từng mô hình, các chính sách liên quan và việc tham gia của nhà nước vào từng hình thức đầu tư mạo hiểm đóchưa được nghiên cứu sâu

Các nghiên cứu cũng chưa phân biệt rõ giữa đầu tư cho dự án KH&CN

và đầu tư dưới dạng góp vốn doanh nghiệp Do đó, các nghiên cứu hầu hết tập trung phân tích khía cạnh KH&CN; trong khi đó những vấn đề về cấu trúc doanh nghiệp, chính sách về doanh nghiệp (ví dụ, quy định về phá sản, bảo hiểm,…), hay những chính sách về thị trường đầu tư (ví dụ: quy định về chứng khoán, các tổ chức tín dụng, ngân sách nhà nước,…) có ảnh hưởng ra sao đến đầu tư vẫn chưa được nghiên cứu Hơn nữa, các nghiên cứu hầu hết

sử dụng phương pháp tổng hợp tài liệu quốc tế để đưa ra những đề xuất cho việc phát triển đầu tư cho công nghệ ở Việt Nam, chứ chưa thực sự dựa trên khung pháp lý hiện có và tình hình văn hóa, xã hội trong nước để đưa ra những đề xuất phù hợp

Từ những nghiên cứu và thực tiễn trên thế giới, tại Việt Nam về đầu tư

mạo hiểm, tôi đã chọn thực hiện Luận văn với chủ đề “Giải pháp chính sách thúc đẩy đầu tư mạo hiểm đối với hoạt động ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ tại Việt Nam”, để có cái nhìn tổng quan về tình hình

đầu tư và chính sách đầu tư cho mô hình startup trên thế giới và những điểm còn cần tiếp tục đào sâu, phân tích đối với thực trạng và chính sách đầu tư cho

Trang 22

16

ươm tạo doanh nghiệp KH&CN ở Việt Nam

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu này làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm đề xuất chính sách khuyến khích đầu tư mạo hiểm có sự tham gia của Nhà nước cho hoạt động ươm tạo doanh nghiệp KH&CN ở Việt Nam

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu kinh nghiệm một số nước về các loại hình đầu tư của Nhà nước cho hoạt động ươm tạo và phát triển doanh nghiệp KH&CN

- Nghiên cứu thực trạng chính sách, thực tiễn hoạt động đầu tư cho ươm tạo và hỗ trợ phát triển doanh nghiệp KH&CN tại Việt Nam

- Đề xuất một số chính sách cụ thể khuyến khích đầu tư mạo hiểm có

sự tham gia của Nhà nước cho hoạt động ươm tạo doanh nghiệp KH&CN tại Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Luận văn này là các chính sách, kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn của Việt Nam liên quan đến thúc đẩy đầu tư mạo hiểm cho ươm tạo doanh nghiệp KH&CN

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi không gian nghiên cứu: chính sách của Việt Nam và một số nước đi trước đã thành công trong việc thúc đẩy đầu tư cho ươm tạo doanh nghiệp KH&CN

Phạm vi thời gian nghiên cứu:

- Đối với nước ngoài: kể từ khi ban hành các chính sách, chương trình của Chính phủ quy định về đầu tư mạo hiểm

- Đối với Việt Nam: trong khoảng 05 năm trở lại đây

Trang 23

- Nêu ra và phân tích thực trạng hoạt động đầu tư mạo hiểm trong nước

và quốc tế, rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu tài liệu: các tài liệu trong nước và nước ngoài

về vấn đề chính sách thúc đẩy đầu tư mạo hiểm cho ươm tạo doanh nghiệp KH&CN

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

6.1 Ý nghĩa lý luận:

Việc nghiên cứu Luận văn với đề tài trên một phần là củng cố tri thức, phương pháp nghiên cứu khoa học cho người nghiên cứu về đầu tư mạo hiểm Đồng thời Luận văn sẽ làm phong phú thêm phạm vi nghiên cứu, lĩnh vực nghiên cứu về đầu tư mạo hiểm cho ươm tạo doanh nghiệp KH&CN

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn góp phần làm rõ được những đặc điểm và cơ chế hoạt động của ĐTMH trong hoạt động ươm tạo doanh nghiệp KH&CN, phân tích thực trạng quốc tế về các loại hình đầu tư của Nhà nước cho hoạt động ươm tạo và phát triển doanh nghiệp khoa học công nghệ và tác động của nó trong hình thành hệ sinh thái hỗ trợ khởi nghiệp trong nước, phân tích thực trạng của Việt Nam và nêu lên một số bài học kinh nghiệm cũng như đề xuất các giải pháp chính sách nhằm phát triển hoạt động ĐTMH ở Việt Nam trong thời gian tới

Trang 24

- Chương 3: Đề xuất giải pháp chính sách thúc đẩy đầu tư mạo hiểm cho hoạt động ươm tạo doanh nghiệp KH&CN

- Kết luận

- Tài liệu tham khảo

Trang 25

19

Chương 1 VAI TRÒ ĐẦU TƯ MẠO HIỂM ĐỐI VỚI VIỆC ƯƠM TẠO

DOANH NGHIỆP KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

1.1 Đầu tư mạo hiểm

1.1.1 Khái niệm:

Khái niệm về đầu tư nói chung được hiểu “là quá trình sử dụng các nguồn lực tài chính, lao động, tài nguyên thiên nhiên và các tài sản vật chất khác nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp tái sản xuất giản đơn, tái sản xuất mở rộng các cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế nói chung, các cơ sở sản xuất kinh

doanh, dịch vụ của ngành, cơ quan quản lý và xã hội nói riêng” (Giáo trình về

đầu tư và dự án đầu tư, Đại học Kinh tế quốc dân)

Việc đầu tư cho doanh nghiệp KH&CN khởi nghiệp cũng tương tự như vậy và có thể được phân biệt theo chủ thể đầu tư như đối với doanh nghiệp khởi nghiệp ĐMST (OECD, 1996; Lerner, 2002), bao gồm: Sáng lập viên khởi nghiệp; Gia đình, bạn bè của doanh nhân KH&CN khởi nghiệp; Nhà đầu

tư thiên thần (business angels), là nhà đầu tư cá nhân không phải gia đình, bạn

bè nhưng là những người giàu có đầu tư cho doanh nghiệp KH&CN khởi nghiệp trong giai đoạn đầu phát triển; Các trung gian gọi vốn cộng đồng (crowdfunding) là nơi thu hút vốn đầu tư từ mọi người dân cho doanh nghiệp khởi nghiệp; Các công ty, tập đoàn lớn trong cùng lĩnh vực (corporate ventures); Các quỹ đầu tư mạo hiểm (venture capital funds - VC); và Nhà nước đầu tư cho khởi nghiệp Đồng thời, cũng bao gồm cả chủ thể đầu tư là tổ chức “mẹ” đối với trường hợp spin-off

Về động lực đầu tư, có thể phân làm các loại sau:

- Sáng lập viên khởi nghiệp đầu tư vào doanh nghiệp KH&CN khởi nghiệp vì tin tưởng vào sản phẩm, dịch vụ của mình; vì mong muốn đưa các sản phẩm, dịch vụ mới được tạo ra từ trí tuệ của mình đến cộng đồng, xã hội;

Trang 26

20

vì mong muốn được làm chủ và được công nhận (Hwang & Horowitt, 2012)

- Gia đình, bạn bè của doanh nhân KH&CN khởi nghiệp đầu tư hầu hết với động lực là niềm tin và sự mong muốn được hỗ trợ doanh nhân KH&CN khởi nghiệp thành công, hơn cả động lực về kinh tế (Hwang & Horowitt, 2012)

- Tổ chức “mẹ” đầu tư cho doanh nghiệp KH&CN khởi nghiệp với mong muốn đưa kết quả nghiên cứu của tổ chức đó ra thị trường

- Nhà nước đầu tư cho doanh nghiệp KH&CN khởi nghiệp vì mong muốn tạo ra công ăn việc làm, đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường và phát triển nền kinh tế dựa trên tri thức (Lerner, 2002)

- Ngoài các đối tượng trên, hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư thiên thần, công ty đầu tư và quỹ đầu tư được gọi là hoạt động ĐTMH, có thể hiểu đơn giản là đầu tư dưới hình thức góp vốn bằng cổ phần vào các doanh nghiệp KH&CN khởi nghiệp có rủi ro cao để đổi lấy lợi nhuận vượt trội trong tương lai (Cơ quan hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ Hoa Kỳ SBA [7], Hiệp hội vốn

cổ phần và vốn ĐTMH của Hà Lan – NVP [7], Hiệp hội đầu tư mạo hiểm Phần Lan – FVCA [7]) Hoạt động ĐTMH thường hướng đến một số lĩnh vực chính bao gồm vực công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) và công nghệ sinh học, công nghệ sạch (OCED, 2011; Hiệp hội đầu tư mạo hiểm và đầu tư cổ phần cá nhân Vương quốc Anh – BVCA [7])

Các loại hình và tính chất của ĐTMH:

- Đầu tư mạo hiểm (ĐTMH) được hiểu là một loại hình tài chính đặc thù được cung cấp bởi một số công ty có hoạt động vừa đầu tư, vừa quản lý các công ty mới thành lập chưa có mặt trên sàn chứng khoán Trong đó, có 3 đối tượng chính tham gia vào ngành ĐTMH là: (1) các tổ chức đầu tư; (2) các doanh nghiệp khởi nghiệp được nhận đầu tư và (3) các tổ chức và cá nhân trung gian thực hiện nhiệm vụ đánh giá, lựa chọn, giao dịch, quản lý các dự

án đầu tư và thu hút các khoản đầu tư (OECD, 1996)

Trang 27

21

- Có 3 loại hình đầu tư mạo hiểm chính là quỹ ĐTMH (venture capital funds), nhà đầu tư thiên thần (business angels hoặc angel investors) và tập đoàn đầu tư mạo hiểm (corporate venture) Các hình thức thoái vốn bao gồm: mua bán, sáp nhập hoặc phát hành cổ phiếu ra thị trường (IPO) Các bước phát triển khởi nghiệp công nghệ bao gồm: ươm mầm, bắt đầu khởi nghiệp, phát triển và mở rộng, thoái vốn bằng mua bán & sáp nhập, IPO Đặc điểm của ĐTMH là đầu tư dài hạn từ 5-10 năm vào các dự án có rủi ro cao nhưng

có thể mang lại lợi ích lớn, chính vì vậy ĐTMH đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối nguồn tài chính cần thiết cho các dự án đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp KH&CN khởi nghiệp (OECD, 1996)

- Ngoài các hình thức kể trên, trong hoạt động ĐTMH, gọi vốn cộng đồng (crowdfunding) là mô hình trung gian cho phép các doanh nghiệp khởi nghiệp ở giai đoạn đầu có thể đưa thông tin về dự án của mình lên mạng và thu hút vốn đầu tư rất nhiều người, hầu hết là các khoản đầu tư nhỏ từ vài trăm đến khoản vài ngàn USD Trong gọi vốn cộng đồng lại có 3 loại hình chính là: (1) gọi vốn cộng đồng bằng tài trợ (donation-based crowdfunding); (2) gọi vốn cộng đồng bằng phần thưởng (reward-based crowdfunding); (3) gọi vốn cộng đồng bằng vốn vay (lending-based crowdfunding) và (4) gọi vốn cộng đồng bằng cổ phần (equity-based crowdfunding) (McCahery & Vermeulen, 2014; World Bank, 2013) World Bank (2013) cho rằng nếu biết cách tạo môi trường thuận lợi, crowdfunding sẽ là một loại hình trung gian phù hợp để thu hút vốn đầu tư cho các doanh nghiệp KH&CN khởi nghiệp ở các nước đang phát triển

Do mục tiêu và tính chất của đầu tư gắn liền với đối tượng đầu tư, do

đó trong Luận văn này, “đầu tư mạo hiểm cho ươm tạo doanh nghiệp KH&CN” được hiểu như sau:

“Đầu tư mạo hiểm cho ươm tạo doanh nghiệp KH&CN là việc vừa đầu

Trang 28

22

tư vốn cổ phần vào các doanh nghiệp KH&CN, vừa hỗ trợ các doanh nghiệp

đó trong thời gian ban đầu hoạt động để các doanh nghiệp có thể giảm thiểu rủi ro và phát triển nhanh chóng.”

Các chủ thể đầu tư bao gồm:Gia đình, bạn bè của doanh nhân KH&CN khởi nghiệp; Nhà đầu tư thiên thần; Các công ty công ty lớn trong cùng lĩnh vực; Các quỹ đầu tư mạo hiểm; Trung gian gọi vốn cộng đồng; Tổ chức thành lập ra doanh nghiệp đó (nếu có); và Nhà nước.”

Vai trò của đầu tư mạo hiểm trong tổng thể hệ sinh thái phát triển doanh nghiệp khởi nghiệp

Nhiều người cho rằng ĐTMH là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong việc quyết định sự thành công của một doanh nghiệp KH&CN khởi nghiệp Tuy nhiên, nếu không có sự phát triển toàn diện và liên kết chặt chẽ giữa các thành phần của hệ sinh thái khởi nghiệp thì cũng khó có thể tạo ra được những doanh nghiệp KH&CN khởi nghiệp mạnh Chính vì vậy, ngành ĐTMH không thể chỉ được nghiên cứu một cách độc lập mà cần được đặt trong tổng thể các hoạt động của hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp KH&CN khởi nghiệp nói chung (Field, 2012; Hwang & Horowitt, 2012; Senor & Singer, 2011)

Cuốn sách “The Rainforest: the secret to building the next Silicon Valley” của tác giả Victor W Hwang và G Horowitt năm 2012 và cuốn sách

“Startup Communities:Building an entrepreneurial ecosystem in your city” của tác giả Brad Field năm 2012, mỗi tác giả mô tả đặc tính của một hệ sinh thái khởi nghiệp cách xa nhau, ở thung lũng Silicon, Sanfrancisco, và một hệ sinh thái khởi nghiệp ở Boulder, Colorado nhưng có những điểm rất chung

Đó là, mỗi cá nhân, tổ chức trong hệ sinh thái khởi nghiệp phải luôn sẵn sàng giúp đỡ nhau, bỏ qua lợi ích cá nhân, không chỉ làm việc vì mục tiêu lợi nhuận của riêng mình mà còn vì lợi ích chung của cộng đồng khởi nghiệp

Trang 29

hỗ trợ các doanh nghiệp khởi nghiệp, kể cả nếu không đi đến hợp tác đầu tư thành công thì họ vẫn sẵn sàng giới thiệu doanh nghiệp khởi nghiệp đó cho nhà đầu tư phù hợp hơn

Tuy nhiên, trong khi Field (2012) đánh giá rất thấp vai trò của nhà nước trong hệ sinh thái khởi nghiệp, cho rằng các chính phủ, với tính chất làm việc dựa trên nhiệm kỳ, sẽ không thể đưa ra chính sách gì hỗ trợ được sự phát triển lâu dài của hệ sinh thái khởi nghiệp, thì Hwang & Horowitt (2012) lại cho rằng tất cả các đối tượng trong hệ sinh thái, bao gồm cả Chính phủ, đều có thể

hỗ trợ khởi nghiệp nếu họ làm đúng cách và không vụ lợi

Senor & Singer (2011) trong cuốn sách “Quốc gia khởi nghiệp” phân tích các bí quyết trở thành quốc gia khởi nghiệp của Ixaren nhưng không dưới góc độ chính sách mà dưới góc độ văn hóa, con người Các tác giả cho rằng chính lịch sử thường xuyên bị đe dọa bởi các thế lực thù địch, ai cũng phải thực hiện nghĩa vụ quân sự, đã rèn rũa người Ixaren trở thành những chiến binh dũng cảm, mưu trí, tự chủ trên cả chiến trường lẫn thương trường Nghĩa

vụ tham gia quân sự bắt buộc và việc phải hằng năm quay trở lại phục vụ quân đội trong thời gian ngắn đã làm mối quan hệ của những người Ixaren trở nên thân thiết, và trở thành nguồn lực rất quý giá về mạng lưới hỗ trợ mỗi khi người Ixaren nào muốn khởi nghiệp Sự kết nối này cũng khiến các nhà ĐTMH có thể đặt lòng tin ở các doanh nhân khởi nghiệp và sẵn sàng giúp đỡ

họ trong hoạt động kinh doanh Sự chấp nhận thất bại, cho phép thách thức các quy luật có sẵn, cách hành xử không đặt nặng vấn đề vị trí xã hội mà tôn

Trang 30

24

trọng sáng kiến, sự hiệu quả cũng chính là các yếu tố khiến người Ixaren trở thành dân tộc rất thành công khi khởi nghiệp, đồng thời tạo nên thái độ chấp nhận rủi ro dễ dàng hơn khi ĐTMH cho doanh nghiệp khởi nghiệp

Những yếu tố ảnh hưởng đến ĐTMH ở một quốc gia

Nghiên cứu định lượng của Jeng (2000) với số liệu của 21 nước trên thế giới từ năm 1986 đến năm 1995 về các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của hoạt động ĐTMH cho thấy:

+ IPO là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến sự phát triển hoạt động ĐTMH

+ Sự ảnh hưởng của các quỹ hưu trí đến hoạt động ĐTMH là có ý nghĩa thống kê theo thời gian nhưng không theo quốc gia

+ Sự ảnh hưởng của GDP và sự tăng trưởng của thị trường vốn lại không có ý nghĩa thống kê

+ Sự can thiệp của nhà nước có ảnh hưởng mang ý nghĩa thống kê đối với hoạt động ĐTMH, từ cả hai phương diện: xây dựng môi trường pháp lý và

hỗ trợ thúc đẩy thị trường trong giai đoạn khủng hoảng, đi xuống

Mỗi giai đoạn ĐTMH bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác nhau Ví dụ: + ĐTMH giai đoạn đầu đầu (early-stage VC investing) bị ảnh hưởng nhiều bởi sự cứng nhắc của thị trường lao động nhưng ĐTMH giai đoạn sau (later-stage VC investing) thì không

+ IPO không có nhiều ảnh hưởng đến ĐTMH giai đoạn đầu nhưng lại

có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của ĐTMH giai đoạn sau theo quốc gia Điều này cho thấy tiềm năng thoái vốn bằng IPO cao chính là yếu tố thúc đẩy ĐTMH ở giai đoạn sau còn trong giai đoạn đầu thì không thoái vốn bằng IPO

+ Các khoản ĐTMH có sự góp vốn của nhà nước thường không bị ảnh hưởng nhiều bởi các yếu tố ảnh hưởng đến ĐTMH của tư nhân

Trang 31

25

1.1.2 Đặc điểm:

Khác với các hình thức đầu tư tài chính thông thường, đối tượng được nhận vốn ĐTMH phần lớn là các doanh nghiệp công nghệ cao, công nghệ tiên tiến có quy mô vừa và nhỏ đang trong giai đoạn khởi nghiệp Vì đầu tư vào công nghệ cao, công nghệ tiên tiến nên độ rủi ro rất lớn, nhưng ngược lại nếu thành công thì lợi nhuận thu được rất cao ĐTMH có một số đặc điểm sau:

Thứ nhất, đầu tư vào các doanh nghiệp mà không cần phải có một khoản đặt cọc hay ký quỹ nào, các chuyên gia quản lý vốn mạo hiểm rót vốn vào doanh nghiệp chủ yếu dựa trên sự tin tưởng vào việc tạo dựng thành công doanh nghiệp của người sáng lập và đội ngũ lãnh đạo doanh nghiệp

Thứ hai, đầu tư mạo hiểm là hình thức đầu tư đặc thù, có quy định riêng biệt và thường có tiêu chuẩn thấp hơn về vốn và nguyên tắc đầu tư

Thứ ba, các chuyên gia quản lý vốn mạo hiểm đầu tư vào một doanh nghiệp nào đó thì có nghĩa là họ sẽ đồng tham dự vào việc kiểm soát điều hành doanh nghiệp.Điều này cũng có nghĩa là họ sẽ phải đối mặt với rủi ro bị mất khoản đầu tư trong trường hợp doanh nghiệp bị phá sản Tuy nhiên, rủi ro cao thì sẽ được bù đắp bởi lợi nhuận cao khi doanh nghiệp đó thành công

Thứ tư, bên cạnh việc cung cấp vốn, các chuyên gia quản lý vốn ĐTMH còn tư vấn ở cấp chiến lược, hướng dẫn, hỗ trợ doanh nghiệp trong quản lý và mở rộng các mối quan hệ nhằm tăng cường năng lực hoạt động kinh doanh, tạo dựng uy tín, xây dựng thương hiệu và phát triển thị trường

Thứ năm, đầu tư mạo hiểm không chỉ cấp vốn tái chính cho đối tượng được chấp nhận, mà còn hỗ trợ về quản lý, các giải pháp công nghệ, phương

án kinh doanh,… nhằm nâng cao tỉ lệ thành công của doanh nghiệp KH&CN

Do tính chất “mạo hiểm” trong hoạt động đầu tư, các chuyên gia quản

lý quỹ ĐTMH thường tiến hành rất kỹ việc sàng lọc hay thẩm định đầu tư nhằm tìm ra các doanh nghiệp tiềm năng để đầu tư Việc thẩm định đầu tư này

Trang 32

26

được tiến hành trên tất cả các mảng của hoạt động kinh doanh, từ việc xem xét đội ngũ lãnh đạo, công nghệ cho đến mô hình kinh doanh

1.1.3 Hình thức hoạt động của đầu tư mạo hiểm

Do ĐTMH có những đặc điểm mang tính đặc thù nên cơ chế và hình thức hoạt động của loại hình đầu tư này cũng có những điểm riêng biệt, khác với các loại hình đầu tư khác Hoạt động ĐTMH có thể được tiến hành theo 3 bước:

Bước 1: Xem xét và thẩm định các dự án đầu tư Các cá nhân hay tổ chức tiến hành ĐTMH thường thực hiện thông qua các quỹ ĐTMH Quỹ ĐTMH sẽ thay mặt nhà đầu tư xem xét, nghiên cứu, thẩm định và tìm ra các doanh nghiệp hay dự án tiềm năng để đầu tư Quỹ ĐTMH có thể được tổ chức dưới nhiều dạng như: Công ty hợp danh hữu hạn, quỹ tín thác, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn…

- Công ty hợp danh hữu hạn: Là hình thức trong đó những nhà đầu tư là các thành viên chính góp vốn, hưởng lợi nhuận và chịu trách nhiệm hữu hạn tương ứng theo tỷ lệ phần trăm vốn góp Còn những người hoặc tổ chức không có vốn nhưng có kinh nghiệm và kỹ năng quản lý đầu tư thì góp một phần vốn rất nhỏ, mang tính chất tượng trưng nhưng được toàn quyền quản lý quỹ và chịu trách nhiệm vô hạn đối với hoạt động của quỹ.Đây là hình thức phổ biến đối với các quỹ ĐTMH ở Mỹ

- Quỹ tín thác (trust fund): Đây không phải là một pháp nhân đầy đủ,

mà chỉ phát hành tín phiếu đầu tư, sau đó uỷ thác cho công ty quản lý quỹ sử dụng nguồn vốn đầu tư đó Trong trường hợp này, ngân hàng sẽ thay mặt nhà đầu tư giữ vai trò giám sát công ty quản lý quỹ nhằm bảo quản vốn và tài sản của quỹ hay đảm bảo quyền lợi của các nhà đầu tư

- Các dạng khác như công ty con của một công ty lớn (corporation venture), công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty tư nhân: So

Trang 33

27

với công ty hợp danh hữu hạn, những hình thức này thường không linh hoạt và không mang lại hiệu quả cao do những người quản lý quỹ hoặc không phải là những người quản lý đầu tư chuyên nghiệp, hoặc không có sự ràng buộc chặt chẽ về lợi ích giữa hiệu quả hoạt động của quỹ và lợi ích của người quản lý

Bước 2: Các quỹ ĐTMH tiến hành đầu tư, rót vốn vào các doanh nghiệp công nghệ cao hay công nghệ tiên tiến có triển vọng, đang trong giai đoạn khởi nghiệp và chưa tham gia niêm yết trên thị trường chứng khoán

Bước 3: Kết thúc đầu tư, hay thu hồi vốn ĐTMH thường có thời gian hoạt động nhất định, khoảng từ 7 đến 10 năm Các khoản ĐTMH được thu hồi thông qua 4 kênh chính: Thị trường chứng khoán (chào bán ra công chúng lần đầu, IPO), bán cổ phần cho nhà đầu tư khác (trade sale), bán lại cổ phần cho doanh nghiệp và bán doanh nghiệp cho doanh nghiệp khác

Hiện nay, ở Việt Nam ĐTMH được thực hiện chủ yếu thông qua các quỹ ĐTMH do các nhà đầu tư nước ngoài thành lập Hình thức hoạt động chủ yếu của các quỹ này là công ty hợp danh hữu hạn

Hình 2: Giai đoạn cần vốn đầu tư mạo hiểm [20]

Trang 34

28

1.2 Doanh nghiệp khoa học và công nghệ

Doanh nghiệp KH&CN là khái niệm được các nhà nghiên cứu Việt Nam sử dụng từ năm 2003, trong quá trình nghiên cứu xây dựng chính sách

để phát triển loại hình doanh nghiệp này

Trong đó, định nghĩa của các nghiên cứu hầu hết hướng đến loại hình doanh nghiệp dựa trên kết quả nghiên cứu từ viện nghiên cứu, trường đại học hoặc doanh nghiệp, là các tổ chức “mẹ” của doanh nghiệp và hỗ trợ doanh nghiệp phát triển Cụ thể:

- Theo Bạch Tân Sinh và đồng nghiệp (2003), doanh nghiệp KH&CN

là doanh nghiệp được hình thành trên cơ sở áp dụng/khai thác kết quả nghiên cứu KH&CN được tạo ra ở viện nghiên cứu, trường đại học, tổ chức nghiên cứu tư nhân hoặc bởi một cá nhân hoặc tập thể nhà khoa học, công nghệ và sáng chế

- Theo Trương Hữu Chí (2004), doanh nghiệp KH&CN là loại hình doanh nghiệp chuyên sâu, vừa có chức năng nghiên cứu, vừa có chức năng sản xuất kinh doanh nhằm tạo ra các sản phẩm KH&CN có nhu cầu của thị trường, đồng thời thương mại hóa các sản phẩm này thông qua sản xuất, dịch

vụ và chuyển giao công nghệ

- Theo Võ Văn Tới (2005), doanh nghiệp KH&CN là mô hình doanh nghiệp vừa và nhỏ, đầu tư cho công việc công nghiệp hóa các kết quả nghiên cứu tiên tiến có ý nghĩa thực tiễn và mang lại lợi nhuận cao một cách nhanh chóng

- Theo Phan Xuân Dũng (2006), doanh nghiệp KH&CN được hiểu là những doanh nghiệp được hình thành dựa trên cơ sở: (1) áp dụng và khai thác kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ được tạo ra ở viện nghiên cứu, trường đại học; (2) chuyển đổi toàn bộ hoặc một phận của tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ

Trang 35

29

- Chỉ có Nguyễn Thị Minh Nga và đồng nghiệp (2006) là không đưa yếu tố nguồn gốc thành lập vào định nghĩa doanh nghiệp KH&CN, cụ thể theo các tác giả, doanh nghiệp KH&CN nên được xác định là doanh nghiệp KH&CN vừa và nhỏ, trong đó: (i) sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp phụ thuộc chủ yếu vào việc áp dụng kỹ năng hoặc tri thức KH&CN, áp dụng

đó là một áp dụng mới đầu mới (novel) của công nghệ tiên tiến hoặc sử dụng công nghệ không phải là tiên tiến nhưng theo cách đổi mới (innovative) để đưa ra một sản phẩm hoặc dịch vụ hoàn toàn mới (new); (ii) các hoạt động của doanh nghiệp theo đuổi yếu tố công nghệ như một nguồn lực chính cho lợi thế cạnh tranh Mặc dù trong định nghĩa không nhắc đến vấn đề nguồn gốc của doanh nghiệp KH&CN, tuy nhiên, trong các phân tích về đặc tính của doanh nghiệp KH&CN thì các tác giả lại cho rằng các hầu hết các doanh nghiệp này được hưởng các hỗ trợ từ tổ chức “mẹ”

Ở Việt Nam, Chính phủ đã ban hành Nghị định 80/2007/NĐ-CP về doanh nghiệp KH&CN (gọi tắt là Nghị định 80) để phát triển loại hình doanh nghiệp dựa trên công nghệ tương tự Trong đó định nghĩa về doanh nghiệp KH&CN như sau:

“Doanh nghiệp khoa học và công nghệ quy định tại Nghị định này là doanh nghiệp do tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức cá nhân nước ngoài có quyền sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp các kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (quy định tại khoản 2 Điều 1 Nghị định này) thành lập,

tổ chức quản lý và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Luật Khoa học và Công nghệ.”

“Hoạt động chính của doanh nghiệp khoa học và công nghệ là thực hiện sản xuất, kinh doanh các loại sản phẩm hàng hoá hình thành từ kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ và thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ Ngoài các hoạt động này, doanh nghiệp khoa học và công

Trang 36

30

nghệ có thể thực hiện sản xuất, kinh doanh các loại sản phẩm hàng hoá khác

và thực hiện các dịch vụ khác theo quy định của pháp luật.”

Luật KH&CN 2013 cũng đã luật hóa khái niệm doanh nghiệp KH&CN như sau:

“1 Doanh nghiệp khoa học và công nghệ là doanh nghiệp thực hiện

sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khoa học và công nghệ để tạo ra sản phẩm, hàng hoá từ kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ.”

“2 Doanh nghiệp khoa học và công nghệ phải đáp ứng các điều kiện

sau đây:

a) Là doanh nghiệp được thành lập, đăng ký kinh doanh, tổ chức quản

lý và hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp;

b) Có năng lực thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ;

c) Doanh thu từ việc sản xuất, kinh doanh sản phẩm, hàng hoá hình thành từ kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ đạt tỷ lệ theo quy định.”

Như vậy có thể nói định nghĩa về doanh nghiệp KH&CN tại Nghị định

80 cũng như trong Luật KH&CN có phần khác với định nghĩa về doanh nghiệp KH&CN trong các nghiên cứu về mô hình này trước đây, trong đó, nguồn gốc của doanh nghiệp KH&CN không được quy định, có nghĩa là doanh nghiệp này có thể là doanh nghiệp độc lập, cũng có thể là doanh nghiệp được hình thành từ kết quả nghiên cứu của tổ chức “mẹ”

1.3 Ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ

Trang 37

31

tăng giá trị về mặt quản lý và kinh doanh của doanh nghiệp được ươm tạo (Hackett & Dilts, 2004) Hệ thống hỗ trợ này quản lý, tập hợp và phân bổ các nguồn lực với mục tiêu là hỗ trợ sự phát triển của các doanh nghiệp mới thành lập được ươm tạo, trong khi đó giúp giảm chi phí trong trường hợp doanh nghiệp mới bị thất bại

- Mục tiêu của việc ươm tạo là cung cấp công cụ để hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp KH&CN, khởi nghiệp ĐMST phát triển và giảm thiểu tỷ lệ thất bại (tr 59, Allen &Rahnan, 1980)

- Có các cách phân loại cơ sở ươm tạo khác nhau về nguồn gốc kinh phí (từ nguồn ngân sách nhà nước, phi lợi nhuận, từ trường, viện và từ tư nhân); các dịch vụ cung cấp (không gian làm việc chung, phí thuê thấp, các dịch vụ

hỗ trợ doanh nghiệp); nhu cầu sử dụng của doanh nghiệp được ươm tạo (phát triển sản phẩm, sản xuất, nhu cầu hỗn hợp); loại hình doanh nghiệp được ươm tạo (doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp khởi nguồn) (tr 60) Riêng đối với phân loại về nguồn gốc kinh phí, với trọng tâm của Luận văn này là liên quan đến đầu tư mạo hiểm nghĩa là đầu tư với mục đích vì lợi nhuận thì sẽ không tập trung vào loại hình cơ sở ươm tạo phi lợi nhuận

- Cũng có ý kiến cho rằng hai loại cơ sở ươm tạo chính là: hỗ trợ chỗ ngồi và hỗ trợ kinh doanh (tr 60, 62)

- Theo Luật chuyển giao công nghệ năm 2005, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ là hoạt động hỗ trợ tổ chức, cá nhân hoàn thiện công nghệ, huy động vốn đầu tư, tổ chức sản xuất, kinh doanh, tiếp thị, thực hiện thủ tục pháp

lý và các dịch vụ cần thiết khác để thành lập doanh nghiệp sử dụng công nghệ mới được tạo ra

- Theo Thông tư số 16/2014/TT-BKHCN của Bộ KH&CN ngày 13/6/2014 về các tổ chức trung gian của thị trường KH&CN, cơ sở ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ là loại hình tổ chức

Ngày đăng: 04/12/2019, 10:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w