Trong giai đoạn hiện nay, Viện tập trung vào các nhiệm vụ nghiên cứu, ứng dụng năng lượng nguyên tử, xây dựng lò nghiên cứu, các phòng thí nghiệm đồng bộ về nghiên cứu công nghệ, thiết k
Trang 1VIÊN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ LIÊN
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ NGÀNH NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ TRONG BỐI CẢNH MỚI (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP VIỆN NĂNG
LƯỢNG NGUYÊN TỬ VIỆT NAM)
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
HÀ NỘI, 2019
Trang 2VIÊN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ LIÊN
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ NGÀNH NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ TRONG BỐI CẢNH MỚI (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP VIỆN NĂNG
LƯỢNG NGUYÊN TỬ VIỆT NAM)
Ngành:Quản lý khoa học và công nghệ
Mã số: 8340412
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS PHẠM QUANG TRÍ
HÀ NỘI, 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá
nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Phạm Quang Trí
Các số liệu sử dụng trong luận văn có trích dẫn nguồn rõ ràng, có tham khảo
và sử dụng các dữ liệu về lịch sử ngành Năng lượng nguyên tử Việt Nam Các kết luận nghiên cứu trong luận văn được đúc kết từ cơ sở lý luận đến thực tiễn của vấn
đề luận văn cần giải quyết
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình./
TÁC GIẢ
Nguyễn Thị Liên
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến Ban Giám đốc Học viện Khoa học Xã hội, Viện hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã tổ chức thành công khóa học
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến toàn thể quý thầy, cô giảng dạy chương trình thạc sỹ Quản lý Khoa học và Công nghệ, những người đã truyền đạt cho tôi những kiến thức hữu ích về Khoa học và Công nghệ nói chung, chính sách Khoa học và Công nghệ nói riêng, đó là cơ sở giúp tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc, lời chúc sức khỏe đến TS Phạm Quang Trí, người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn Những góp
ý, chỉ bảo của thầy không chỉ giúp tôi hoàn thành luận văn mà còn là kinh nghiệm trong công tác trong ngành năng lượng nguyên tử sau này
Sau cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Trung tâm Đào tạo hạt nhân nơi tôi đang công tác và gia đình đã luôn tạo điều kiện tốt nhất về mặt tinh thần cho tôi yên tâm học tập, những học viên khóa 8 chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ đã luôn quan tâm, chia sẻ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập
Do thời gian có hạn cũng như kinh nghiệm nghiên cứu chưa nhiều, nên luận văn không tránh khỏi thiếu sót, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của thầy, cô và anh chị học viên./
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
TÁC GIẢ
Nguyễn Thị Liên
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1.CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 7
1.1 Khái niệm nhân lực khoa học công nghệ 7 1.2 Nguồn nhân lực khoa học và công nghệ năng lượng nguyên tử 8 1.3 Giải pháp phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ lĩnh vực năng lượng nguyên tử 13
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ NGÀNH NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ TRƯỜNG HỢPVIỆN NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ VIỆT NAM 22
2.1 Giới thiệu tổng quan về Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam 22 2.2 Thực trạng công tác phát triển nhân lực tại Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam (2014-2017) 28 2.3 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến công tác phát triển nhân lực tại Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam 40 2.4 Đánh giá tổng hợp công tác phát triển nhân lực ngành NLNT tại Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam 47
CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ VIỆT NAM 52
3.1 Bối cảnh mới trong phát triển năng lượng nguyên tử, nghiên cứu trường hợp Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam 52 3.2 Giải pháp phát triển nhân lực khoa học và công nghệ năng lượng nguyên tử trường hợp Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam 64
KẾT LUẬN 71 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 66 KH&KTHN Khoa học và kỹ thuật hạt nhân
13 RCA Hợp tác vùng Châu Á - Thái Bình Dương về hạt nhân
15 Viện NLNTVN Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Nhu cầu tuyển dụng nhân lực giai đoạn 2015 - 2020 32
Bảng 2.2.Nhu cầu đào tạo nhân lực trong lĩnh vực NLNT năm 2015-2017 35
Bảng 2.3.Các khóa đào tạo bồi dưỡng cán bộ 36
Bảng 2.4 Kết quả đào tạo và mức độ đáp ứng nhu cầu đào tạo 37
Bảng 2.5.Phân bố nhân lực theo trình độ, ngạch bậc, độ tuổi 45
Bảng 2.6.Trình độ Lý luận chính trị tính đến 15/12/2017 46
Bảng 2.7 Bảng tổng hợp nhân lực tuyển dụng được trong giai đoạn 2013 – 2017 của Viện NLNTVN 47
DANH MỤC HÌNH Hình 2.1.Sơ đồ Tổ chức bộ máy của Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam 26
Hình 2.2.Quy trình đào tạo các khóa ngắn hạn của Viện NLNTVN 35
Hình 2.3.Quy trình phân tích 35
Hình 2.4.Nội dung của giai đoạn thiết kế 36
Hình 2.5.Phân bổ trình độ nhân lực của Viện NLNTVN (2017) 37
Hình 2.6 Sơ đồ quản lý Nhà nước và nhân lực ngành hạt nhân 44
Hình 3.1 Mô hình tổ chức dự kiến của Trung tâm KH&CN 59
hạt nhân phía Nam 59
Hình 3.2 Các phòng thí nghiệm phục vụ nghiên cứu và đào tạo 63
của Thành phần phía Bắc tại Hà Nội 63
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, trong bối cảnh phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ (KH&CN), ngày càng nhiều lĩnh vực KH&CN mới được hình thành ở những vùng giao thoa giữa các lĩnh vực KH&CN được xem như tách biệt trước đây, ví dụ ứng dụng tin học trong lĩnh vực công nghệ sinh học, ứng dụng tin học trong công nghệ điện tử và viễn thông, ứng dụng vật liệu nano trong y tế, vật liệu mới mà ở đó, vai trò quan trọng của đội ngũ nhân lực KH&CN là không thể phủ nhận Chính vì vậy, trên quan điểm quản lý nhân lực KH&CN, công tác phát triển nguồn nhân lực KH&CN phải đi trước một bước, tăng cường đào tạo để nâng cao chất lượng, số lượng nhân lực KH&CN, đáp ứng yêu cầu mới
Ngành năng lượng nguyên tử Việt Nam cũng đang đứng trước nhiều cơ hội
và thách thức cho sự phát triển Nhiều mục tiêu ngành đã được đặt ra như phát triển hoạt động nghiên cứu và phát triển, đẩy mạnh ứng dụng năng lượng nguyên
tử (NLNT) phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế, cũng như đảm bảo an toàn, an ninh trong lĩnh vực NLNT, đã được đặt ra Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng, nếu đánh giá về tính đáp ứng về cơ cấu nhân lực thì hiện nay nhân lực trong lĩnh vực NLNT của Việt Nam đang ở vạch xuất phát Theo đánh giá của Cơ quan NLNT quốc tế (IAEA) tháng 12/2012, Việt Nam cần xây dựng và thực hiện chiến lược,
kế hoạch tích hợp phát triển nguồn nhân lực trong giai đoạn hiện nay
Sau 9 năm thực hiện kế hoạch phê duyệt và hàng loạt các chính sách ưu đãi đào tạo cán bộ về NLNT để phục vụ cho dự án điện hạt nhân (ĐHN) trong tương lai Ngày 22 tháng 11 năm 2016 Quốc hội đã phê duyệt Nghị quyết số 31/2016/QH14 về việc dừng thực hiện chủ trương đầu tư dự án điện hạt nhân Ninh Thuận Với nghị quyết này của Quốc hội yêu cầu Viện Năng lượng nguyên tử cũng cần có những định hướng phát triển lại cho việc ứng dụng NLNT vào phát triển kinh tế xã hội khi dừng xây dựng Nhà máy điện hạt nhân
Lĩnh vực NLNT của Việt Nam được hình thành và phát triển hơn 40 năm nay, thực sự đã đóng góp quan trọng cho phát triển kinh tế xã hội Ứng dụng kỹ thuật hạt nhân và công nghệ bức xạ đã góp phần phát triển ngành y học hạt nhân, điều trị ung thư trong các bệnh viện, tạo ra các giống lúa, đậu tương,…bằng đột biến phóng xạ trong nông nghiệp, phát triển các kỹ thuật chiếu xạ thanh trùng giúp mở rộng việc
Trang 9xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp, dịch vụ sang các nước tiên tiến được thực hiện Trong công nghiệp, ứng dụng kỹ thuật hạt nhân để đánh giá chất lượng, hỏng hóc, lão hóa các thiết bị công nghiệp, các công trình giao thông v.v đang ngày càng được phổ biến rộng rãi Ngoài việc thúc đẩy các ứng dụng vào đời sống, ngành hạt nhân còn đóng góp tích cực cho nghiên cứu cơ bản như vật lý hạt nhân, thủy nhiệt,
cơ học dòng chảy, khoa học vật liệu thép hợp kim … và đưa nền tảng khoa học công nghệ Việt Nam lên một trình độ cao hơn
Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam (NLNTVN) tiền thân là Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt, đảm nhận các nhiệm vụ chính trong nghiên cứu và ứng dụng NLNT, bao gồm cả phát triển điện hạt nhân (ĐHN) của đất nước Trong giai đoạn hiện nay, Viện tập trung vào các nhiệm vụ nghiên cứu, ứng dụng năng lượng nguyên tử, xây dựng lò nghiên cứu, các phòng thí nghiệm đồng bộ về nghiên cứu công nghệ, thiết kế nhà máy điện hạt nhân, phân tích an toàn các công nghệ thiết
kế ĐHN, xử lý chất thải phóng xạ, nghiên cứu vật liệu thép hợp kim sử dụng trong lò phản ứng và các ngành công nghiệp khác, và các phòng thí nghiệm hiện đại về ứng dụng năng lượng nguyên tử trong lĩnh vực sản xuất đồng vị phóng xạ, khoa học vật liệu, công nghệ bức xạ, công nghệ sinh học và y học.Một số nhiệm
vụ cấp thiết hiện nay như:
- Xây dựng Mạng lưới quan trắc phóng xạ và ứng phó sự cố, nhằm giúp ứng phó với các tình huống sự cố (mặc dù xác suất rất thấp) từ 7 tổ máy ĐHN của Trung Quốc đang vận hành gần biên giới Việt Nam
- Phát triển hoạt động nghiên cứu phóng xạ môi trường biển, đưa kỹ thuật hạt nhân vào nghiên cứu biển, phóng xạ trong nước biển nhằm góp phần bảo vệ môi trường biển Việt Nam
Dự kiến nhu cầu nhân lực của Viện NLNTVN khoảng hơn 1100 người, trong khi hiện tại mới có khoảng 800 người Theo kế hoạch đề ra, đến năm 2025, Viện cần phải thu hút trên 300 người có trình độ từ đại học trở lên
Trong bối cảnh hình thành những lĩnh vực ứng dụng năng lượng nguyên tử mới như vậy, nhu cầu nhân lực đang là một vấn đề cấp bách của Viện NLNTVN
Lý luận và thực tiễn trên đây đặt ra vấn đề phải nghiên cứu, phân tích, đánh giá để xem xét những tồn tại, nguyên nhân nhằm đề xuất một số giải pháp đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ làm việc tại Viện
Trang 10NLNTVN Đề tài “Giải pháp phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ
ngành Năng lượng nguyên tử trong bối cảnh mới (nghiên cứu trường hợp tại Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam)” nhằm góp phần giải quyết vấn đề vừa
mang tính lý luận vừa mang tính thực tiễn
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Tại các nước phát triển về lĩnh vực NLNT như: Hàn Quốc, Nga, Nhật,… được coi là những nước đi tiên phong và thành công trong lĩnh vực này, vì họ có chính sách về phát triển nguồn nhân lực NLNT đã được chú trọng và đầu tư kinh phí rất lớn, đặc biệt là công tác đào tạo, bồi dưỡng để xây dựng nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu cả về số lượng và chất lượng
Ở Việt Nam, trên phạm vi cả nước có một số tác giả nghiên cứu về những vấn
đề liên quan), với đề tài “cải cách chính sách phát triển nhân lực cho hoạt động nghiên cứu – triển khai” đã đề cập tới các vấn đề đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và quản lý nhân lực cho hoạt động nghiên cứu – triển khai ở nước ta trên cơ sở phân tích hiện trạng nhân lực này, kinh nghiệm của các nước trong khu vực và trên thế giới Tác giả đã đề xuất một số cải cách chính sách trong đó đáng lưu ý là giải pháp phối hợp chính sách đào tạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) với chính sách khoa học và công nghệ (KH&CN) Đây là gợi ý có giá trị cho nghiên cứu đề tài luận văn
- Nguyễn Thúy Hà (2013), với đề tài “Chính sách phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ”, trên cơ sở phân tích thực trạng những thành tựu và hạn chế của nguồn nhân lực khoa học công nghệ ở Việt Nam hiện nay, đã đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn lực này, trong đó đặc biệt chú ý đến các chính sách phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế
- Trần Chí Thành (2013) về cần một giải pháp đột phá trong đào tạo nguồn nhân lực ngành hạt nhân đăng trên Tạp chí Tia sáng đã đề cập đến vai trò, thực trạng nguồn nhân lực năng lượng hạt nhân Bài viết giúp tác giả định hướng xây dựng đề xuất chính sách đặc biệt để phát triển nhân lực và thu hút những cán bộ xuất sắc có trình độ trong lĩnh vực NLNT
- Đỗ Thị Mai (2014) về nhân sự cho phát triển năng lượng điện hạt nhân đăng trong tạp chí Tài chính đã bàn chi tiết nhu cầu, một số chính sách tài chính cho thực
Trang 11hiện dự án điện hạt nhân Ninh Thuận Bài viết này giúp luận văn trong việc xây dựng khung phân tích các chính sách phát triển nhân lực cho lĩnh vực năng lượng hạt nhân
Ngoài ra, một số chính sách công bố được Chính phủ đã ban hành tại các văn bản sau:
+ Nghị định 40/2014/NĐ-CP ngày 12/5/2014 của Chính phủ quy định về việc sử dụng, trọng dụng cá nhân hoạt động KH&CN, theo đó nhà nước sẽ tạo điều kiện, môi trường làm việc thuận lợi cho cá nhân hoạt động KH&CN phát huy tối đa năng lực và được hưởng lợi ích xứng đáng với kết quả hoạt động KH&CN;
+ Nghị định số 124/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 14/10/2013 quy định chính sách ưu đãi, hỗ trợ người đi đào tạo trong lĩnh vực NLNT, đối tượng là người
đi đào tạo các chuyên ngành trong lĩnh vực NLNT và các cơ sở giáo dục đại học được giao nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực trong lĩnh vực này;
+ Quyết định số 1558/QĐ-TTg ngày 18/8/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực NLNT”, mục tiêu của Đề án đảm bảo về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực NLNT nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển điện hạt nhân, yêu cầu phát triển, ứng dụng an toàn, an ninh NLNT trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội và tăng cường tiềm lực KH&CN của đất nước;
+ Quyết định số 45/2014/QĐ-TTg ngày 15 tháng 8 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ quy định Chế độ phụ cấp ưu đãi nghề nghiệp đối với người làm việc trong các đơn vị thuộc lĩnh vực NLNT của Bộ KH&CN;
+ Quyết định số 2395/QĐ-TTg ngày 25 tháng 12 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đào tạo, bồi dưỡng nhân lực khoa học và công nghệ ở trong nước và nước ngoài bằng ngân sách nhà nước
Mặc dù các chính sách trên không là các công trình nghiên cứu khoa học nhưng vẫn được tác giả tham khảo trong các phân tích tác động tích cực cũng như tác động không mong đợi đối với những giải pháp dự kiến sẽ đề xuất trong đề tài
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng hợp và hệ thống hoá cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ ngành NLNT
Trang 12- Phân tích thực trạng phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ tại Viện NLNTVN
- Đề xuất giải pháp phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ cho Viện NLNTVN
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề về lý
thuyết và thực tiễn về phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ cho Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam
+ Về nội dung: Luận văn tập trung phân tích, đánh giá thực trạng phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ tại Viện NLNTVN và đề xuất các giải pháp phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ cho Viện NLNTVN
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài kết hợp phương pháp thu thập - tổng hợp và phân tích - diễn giải các thông tin thứ cấp và vận dụng tổng hợp kiến thức chuyên ngành để đề xuất giải pháp
Những thông tin dùng trong phân tích được thu thập gồm:
- Nguồn thông tin thứ cấp: thông tin bên ngoài là sách báo, tài liệu đã xuất bản, mạng internet, các nghiên cứu tổng kết liên quan đến hoạt động thu hút nhân lực trước đây; thông tin bên trong là các báo cáo thường niên của Viện NLNTVN từ năm 2014 đến 2017
- Phương pháp chuyên gia: tham khảo ý kiến chuyên gia về các giải pháp phát triển nguồn nhân lực của Viện NLNTVN
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận văn là cơ sở lý luận quản lý nói chung và quản lý KH&CN nói riêng, đồng thời góp phần vào việc xây dựng cơ sở
lý luận thiết kế và phân tích chính sách
Trang 13Ý nghĩa thực tiễn: Từ những kết quả nghiên cứu chuyên sâu nêu trên, Viện NLNTVN có thể đề xuất các giải pháp phát triển nguồn nhân lực KHCN trong lĩnh vực NLNT với các mục tiêu ứng dụng khác nhau
7 Kết cấu của luận văn
Luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển nhân lực khoa học và
công nghệ
Chương 2: Thực trạng phát triển nhân lực khoa học và công nghệ Năng
lượng nguyên tử trường hợp Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam
Chương 3: Đề xuất giải pháp phát triển nhân lực KH&CN năng lượng
nguyên tử Việt Nam
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
1.1 Khái niệm nhân lực khoa học công nghệ
Nhân lực KH&CN là một khái niệm rộng, được hiểu theo nhiều cách khác
nhau tùy thuộc vào quan điểm và cách nhìn nhận riêng của mỗi quốc gia
Trên thế giới hiện nay có nhiều cách tiếp cận khác nhau, nhưng điển hình hai cách tiếp cận phổ biến về nhân lực KH&CN đó là cách tiếp cận của Tổ chức hợp tác
và phát triển kinh tế(OECD) và Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc (UNESCO)
Theo cách tiếp cận của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) nhân
lực KH&CN gồm những người đáp ứng được một trong những điều kiện sau đây (OECD, 1995):
- Tốt nghiệp cao đẳng trở lên về một lĩnh vực KH&CN;
- Hoặc chưa đạt được điều kiện nêu trên, nhưng làm việc trong một lĩnh vực KH&CN đòi hỏi phải có trình độ tối thiểu là cao đẳng trở lên
Như vậy, kể cả những người có bằng cấp nhưng không làm việc trong lĩnh vực KH&CN cũng được coi là nhân lực KH&CN Theo OECD, những người đáp ứng cả 2 yêu cầu trên đây, tức là vừa có bằng cấp trong lĩnh vực KH&CN vừa làm một nghề về KH&CN được coi là nhóm nhân lực then chốt trong lĩnh vực KH&CN (key group of HRST)
Theo cách tiếp cận của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc (UNESCO), “Nhân lực KH&CN là những người trực tiếp tham gia vào hoạt động
KH&CN trong một cơ quan, tổ chức và được trả lương hay thù lao cho lao động của mình, bao gồm các nhà khoa học và kỹ sư, kỹ thuật viên và nhân lực phụ trợ”
Theo quan niệm của một số quốc gia, nhân lực phụ trợ là yếu tố quan trọng góp phần để các hoạt động KH&CN được tiến hành thuận lợi Chính vì vậy, Chính phủ ở các quốc gia này rất quan tâm đến đội ngũ nhân lực phụ trợ để họ có điều kiện thuận lợi thực hiện các hoạt động hỗ trợ cho KH&CN
Nhìn vào 2 cách tiếp cận trên đây, khái niệm nhân lực KH&CN giữa OECD
và UNESCO có khác biệt, thể hiện ở chỗ:
Trang 15- Theo UNESCO, nhân lực KH&CN bao hàm cả đội ngũ nhân lực phụ trợ, trong khi đó OECD không tính bộ phậnnàyvà nhân lực KH&CN, trừ trường hợp họ
có bằng cấp
- Theo OECD nhân lực KH&CN không nhất thiết phải làm việc trong lĩnh vực KH&CN, còn theo UNESCO nhân lực KH&CN phải làm việc trong lĩnh vực KH&CN
Trong khi đó, đề cập tới "nguồn" hàm ý khả năng huy động trong tương lai, nếu người sử dụng có nhu cầu
Từ những quan điểm về nhân lực KH&CN trên ta có thể khái quát Nguồn
nhân lực KH&CN là toàn bộ những người có bằng cấp chuyên môn nào đó trong một lĩnh vực khoa học và công nghệ và những người có trình độ kỹ năng thực tế tương đương mà không có bằng cấp và tham gia một cách thường xuyên (hệ thống) vào hoạt động KH&CN mà chúng ta có thể khai thác và sử dụng trong hoạt động KH&CN
1.2 Nguồn nhân lực khoa học và công nghệ năng lượng nguyên tử
1.2.1 Khái niệm
Theo cách hiểu đề tài đề cập ở 1.1, nguồn nhân lực KH&CN NLNT sẽ được hiểu là mọi nguồn lực về nhân lực KH&CN có trình độ và kỹ năng NLNT phù hợp
mà chúng ta có thể khai thác và sử dụng
Theo Luật năng lượng nguyên tửtại kỳ họp thứ 3, số 18/2008/QH12 ngày 03
tháng 6 năm 2008 của Quốc hội khóa XII quy định hoạt động trong lĩnh vực năng
lượng nguyên tử là hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ trong
lĩnh vực năng lượng nguyên tử; xây dựng, vận hành, bảo dưỡng, khai thác, quản lý
và tháo dỡ cơ sở hạt nhân, cơ sở bức xạ; thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng quặng phóng xạ; sản xuất, lưu giữ, sử dụng, vận chuyển, chuyển giao, xuất khẩu, nhập khẩu nguồn phóng xạ, thiết bị bức xạ, nhiên liệu hạt nhân, vật liệu hạt nhân nguồn, vật liệu hạt nhân và thiết bị hạt nhân; xử lý, lưu giữ chất thải phóng xạ và các dịch vụ hỗ trợ ứng dụng năng lượng nguyên tử
Các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước cho rằng, nhân lực KH&CN trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử là nhân lực KH&CN trình độ cao tham gia trực tiếp vào phát triển khoa học và công nghệ trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử
Trang 16Như vậy, nhân lực KH&CN lĩnh vực NLNT được hiểu theo nghĩa rộng, bao hàm cả nhân lực KH&CN có trình độ được xác định thông qua bằng cấp và nhân lực KH&CN có kỹ năng, đã, đang và sẽ hoạt động trong lĩnh vực NLNT
1.2.2 Vai trò của nhân lực khoa học và công nghệ trong lĩnh vực NLNT
và yêu cầu phát triển nhân lực khoa học và công nghệ trong lĩnh vực NLNT
Việt Nam đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, vai trò của nhân lực KH&CNlĩnh vực NLNT càng thể hiện rõ nét hơn Nhân lực KH&CN lĩnh vực NLNT là một trong những yếu tố quyết định
sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện nền kinh tế
từ dựa vào nông nghiệp và thủ công sang máy móc công nghiệp là chính Đây là quá trình sử dụng nguồn lao động được đào tạo, kết hợp với công nghệ, phương pháp tiên tiến nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao
Nhân lực KH&CN lĩnh vực NLNT là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển
và ứng dụng khoa học - công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, đảm bảo cho phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững
1.2.3 Vai trò của nguồn nhân lực KH&CN lĩnh vực năng lượng nguyên tử Việt Nam
Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ khi năng lượng hạt nhân hay năng lượng nguyên tử được phát triển và sử dụng trên toàn thế giới, năng lượng nguyên tử đã trở thành một trong những nguồn cung cấp năng lượng quan trọng cho ngành điện lực tại các nước công nghiệp phát triển Việc ứng dụng công nghệ bức xạ một cách rộng rãi trong các lĩnh vực như: công nghiệp, y học, nông nghiệp, cũng đã mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội to lớn
Tại Việt Nam những nghiên cứu, ứng dụng NLNT đã có nhiều đóng góp phục vụ trong phát triển kinh tế - xã hội, nhất là trong lĩnh vực y tế và nông nghiệp
Ở lĩnh vực nông nghiệp, có hơn 50 giống cây trồng được tạo ra bằng phương pháp chiếu xạ gây đột biến bao gồm giống lúa, đậu tương, bưởi Riêng đậu tương có tới trên 50% diện tích được trồng là các giống được tạo ra bằng phương pháp chiếu xạ đem lại hiệu quả năng xuất cao góp phần tăng tổng thu nhập quốc dân của toàn quốc Trong lĩnh vực y tế, năng lượng nguyên tử với các thành tựu về hình ảnh và
Trang 17kỹ thuật xạ trị trong điều trị ung thư, các bệnh tim mạch, hệ tiêu hóa, xương khớp,
hô hấp… đã và đang được thực hiện có kết quả cho hàng ngàn bệnh nhân mỗi năm Ngoài ra, ứng dụng NLNT trong công nghiệp đã chế tạo thử nghiệm thành công các thiết bị đo trong ngành công nghiệp than, thiết bị phân tích nhanh, máy chụp X quang công nghiệp Trong quy hoạch tổng thể phát triển, ứng dụng NLNT vì mục đích hòa bình đến năm 2020, Việt Nam tiếp tục thực hiện 3 mục tiêu lớn là ứng dụng dụng rộng rãi, an toàn, hiệu quả bức xạ trong cách ngành, lĩnh vực kinh tế xã hội, đảm bảo tỉ lệ dân số được điều trị, chuẩn đoán bằng y học hạt nhân, xạ trị, X quang theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới, nâng cao đáng kể tỉ lệ giống cây trồng đột biến phóng xạ trong cơ cấu cây trồng quốc gia; chế tạo được một số thiết
bị bức xạ
Để đạt được những thành tựu vượt bậc trong phát triển kinh tế xã hội những năm qua không thể không kể đến những đóng góp lớn của cả đội ngũ nhân lực KH&CN trong lĩnh vực NLNT Có thể khẳng định KH&CN trong lĩnh vực NLNT nước ta đã thực sự góp phần đáng kể vào đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
1.2.4 Phát triển nguồn nhân lực KH&CN
1.2.4.1 Phát triển nguồn nhân lực KH&CN nói chung
Trên thế giới hiện nay có khá nhiều định nghĩa về nguồn nhân lực, Nadler và đồng nghiệp [18, tr 82] cho rằng phát triển nguồn nhân lực và giáo dục, đào tạo là
những thuật ngữ có cùng nội hàm Tác giả này định nghĩa “Phát triển nguồn nhân
lực nói chung và nguồn nhân lực KH&CN nói riêng là làm tăng kinh nghiệm học được trong một khoảng thời gian xác định để tăng cơ hội nâng cao năng lực thực hiện công việc” Trong khi đó, UNESCO sử dụng khái niệm phát triển nguồn nhân
lực theo nghĩa hẹp và cho rằng phát triển nguồn nhân lực là làm cho toàn bộ sự lành nghề của dân cư luôn phù hợp yêu cầu phát triển của đất nước Theo tổ chức Lao động Thế giới (ILO), phát triển nguồn nhân lực bao hàm phạm vi rộng hơn, không chỉ là sự chiếm lĩnh trình độ lành nghề hoặc vấn đề đào tạo nói chung, mà còn là sự phát triển năng lực và sử dụng năng lực đó vào việc làm có hiệu quả, cũng như thỏa mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân Liên hiệp Quốc thì nghiêng về sử dụng khái niệm phát triển nguồn nhân lực theo nghĩa rộng, bao gồm giáo dục, đào tạo và sử
Trang 18dụng tiềm năng con người nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống
Như vậy, tựu trung lại, nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực KH&CN nói riêng dùng để chỉ sức người gồm cả khả năng và phẩm chất tham gia vào lao động sản xuất Nói đến nguồn nhân lực tức là nói tới những gì cấu thành khả năng, năng lực và sức mạnh sáng tạo của con người và nguồn nhân lực thì chất lượng là điều quan trọng chứ không phải số lượng
1.2.4.2 Phát triển nguồn nhân lực KH&CN trong lĩnh vực NLNT
Chiến lược phát triển KH&CN giai đoạn 2011-2020 (theo Quyết định số 481/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ) đã đưa ra quan điểm:
Phát triển KH&CN cùng với giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển đất nước nhanh và bền vững KH&CN phải đóng vai trò chủ đạo để tạo được bước đột phá về lực lượng sản xuất, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Mục tiêu đến năm 2020 đưa KH&CN thực
sự trở thành động lực then chốt, đáp ứng các yêu cầu cơ bản của một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, trong đó có một số lĩnh vực KH&CN đạt trình độ tiên tiến, hiện đại của khu vực ASEAN và thế giới Chính phủ cũng đã xác định rõ các định hướng nghiên cứu ứng dụng KH&CN trong các ngành, lĩnh vực, vùng, địa phương Cụ thể trong khoa học và công nghệ năng lương cần chú trọng: Nghiên cứu
cơ sở khoa học và thực tiễn phục vụ xây dựng quy hoạch phát triển năng lượng quốc gia nhằm bảo đảm cơ cấu năng lượng hợp lý, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh
tế - xã hội, đảm bảo an ninh năng lượng; nghiên cứu làm chủ công nghệ chế tạo thiết bị toàn bộ các nhà máy nhiệt điện và thủy điện công suất trung bình và lớn, thiết bị của hệ thống truyền tải và phân phối điện; nghiên cứu phục vụ phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử… Sự phát triển của mọi lĩnh vực KH&CN nói chung và KH&CN trong lĩnh vực NLNT nói riêng đòi hỏi phải có một nguồn nhân lực KH&CN đủ mạnh mới có thể đáp ứng được yêu cầu đề ra
Phát triển nguồn nhân lực KH&CN lĩnh vực năng lượng nguyên tử Việt Nam
đã được khẳng định tại Quyết định số 1558/QĐ-TTg ngày 18/8/2010 về việc Phê duyệt Đề án “Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử”:
Trang 19Phát triển nguồn nhân lực phải đi trước một bước, Nhà nước có chương trình đào tạo, xây dựng nguồn nhân lực, đặc biệt là chuyên gia có trình độ cao đáp ứng yêu cầu của chương trình phát triển điện hạt nhân và yêu cầu nghiên cứu, phát triển, ứng dụng và đảm bảo an toàn, an ninh trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử
Tạo bước chuyển mạnh về phát triển nguồn nhân lực, trọng tâm là xây dựng các cơ sở giáo dục và đào tạo, các tổ chức nghiên cứu và triển khai về KH&CN hạt nhân, đồng thời chú trọng đào tạo cán bộ quản lý, hoạch định chính sách và luật pháp trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử;
Khai thác hiệu quả nguồn lực sẵn có, phát huy khả năng của các chuyên gia trong nước và thu hút các chuyên gia giỏi người Việt Nam ở nước ngoài, đồng thời đẩy mạnh và tranh thủ hợp tác quốc tế để xây dựng và phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử
Nhận thức rõ vai trò của đội ngũ nhân lực KH&CN trong lĩnh vực NLNT, gần đây trong một số văn kiện quan trọng định hướng phát triển nhân lực NLNT đến năm 2020, Đảng và Nhà nước đã đề ra chủ trương phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực NLNT Điển hình là trong Quyết định số 1558 có đề ra:
- Đến năm 2020, đào tạo nguồn nhân lực đủ về số lượng và chất lượng để phục vụ quản lý, ứng dụng và bảo đảm an toàn, an ninh trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử đảm bảo khả năng tiếp nhận chuyển giao công nghệ, vận hành, duy tu, bảo dưỡng, quản lý nhà máy điện hạt nhân, tiến tới từng bước nội địa hóa, tự chủ về công nghệ cụ thể: nhân lực phục vụ nhà máy điện hạt nhân mỗi năm đào tạo 240 kỹ
sư, cử nhân; 35 thạc sĩ, tiến sĩ (trong đó đào tạo tại nước ngoài 20 kỹ sư, cử nhân;
15 thạc sĩ, tiến sĩ)
1.2.4.3 Vấn đề đặt ra trong phát triển nguồn nhân lực KH&CN lĩnh vực NLNT
Quy hoạch phát triển nhân lực KH&CN lĩnh vực NLNT phải gắn kết chặt chẽ với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội; đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực KH&CN tới năm 2020 và tầm nhìn năm 2030
Cần hình thành một mạng lưới tổ chức KH&CN trong lĩnh vực NLNT Xây dựng quy hoạch phát triển nhân lực KH&CN lĩnh vực NLNT trong từng mốc thời gian cụ thể để có kế hoạch triển khai đào tạo Thiết lập mối quan hệ giữa doanh nghiệp – nhà khoa học, bao gồm mạng lưới chuyên gia, để tìm đầu ra cho các sản phẩm ứng dụng trong lĩnh vực NLNT Huy động các nguồn lực từ các doanh nghiệp
Trang 20đầu tư cho nghiên cứu, triển khai các hoạt động trong KH&CN lĩnh vực NLNT Đổi mới việc tuyên truyền các hoạt động KH&CN lĩnh vực NLNT để tôn vinh các cá nhân, tập thể điển hình trong nghiên cứu, sáng tạo ứng dụng KH&CN trong lĩnh vực NLNT Tuyên truyền cho người dân hiểu được tầm quan trọng, những thành tựu trong ứng dụng NLNT
Ban hành chính sách đào tạo, bồi dưỡng, trong dụng, đãi ngộ, tôn vinh đội ngũ cán bộ làm việc trong lĩnh vực NLNT đã có những thành tích nổi bật Tuyển dụng đội ngũ cán bộ nghiên cứu sinh, thực tập sinh, chuyên gia học tập và làm việc
ở trong và ngoài nước, nhất là các chuyên gia giỏi, chuyên gia đầu đàn trong lĩnh vực NLNT
Đổi mới công tác tuyển dụng, bố trí, đánh giá và bổ nhiệm cán bộ hoạt động trong lĩnh vực NLNT dựa trên những giá trị đóng góp nổi bật trong nghiên cứu khoa học và cải tiến kỹ thuật Có chính sách tiếp tục sử dụng cán bộ có trình độ cao đã hết tuổi lao động có tâm huyết và còn sức khỏe tham gia vào công tác nghiên cứu khoa học
Tôn vinh, có chính sách đãi ngộ đúng mức các tổ chức, cá nhân đóng góp cho phát triển sự nghiệp KH&CN, cũng như các tập thể, cá nhân đạt được những kết quả nổi bật trong nhiên cứu ứng dụng NLNT (như áp dụng nâng lương vượt cấp, tăng lương trước thời hạn)
Ban hành chính sách ưu đãi nhằm thu hút các chuyên gia, nhà khoa học ở trong và ngoài nước tham gia hoạt động trong lĩnh vực NLNT
Hiện nay các nhà khoa học quan tâm nhất chính là các chính sách đãi ngộ gắn với chăm lo, bồi dưỡng và sử dụng hiệu quả đội ngũ trí thức Không nên quan niệm đãi ngộ giới trí thức giống như các cơ chế, chính sách với người có công hay đối tượng chính sách
1.3 Giải pháp phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ lĩnh vực năng lượng nguyên tử
1.3.1 Giải pháp đào tạo
Vai trò của hoạt động đào tạo nhân lực NLNT
Hoạt động đào tạo và phát triển nguồn nhân lực KH&CN nói chung và nhân lực KH&CN trong lĩnh vực NLNT nói riêng có vai trò rất to lớn đối với nền kinh tế
xã hội nói chung cũng như đối với tổ chức và người lao động nói riêng:
Trang 21+ Giúp duy trì và nâng cao số lượng, chất lượng nguồn nhân lực
+ Nâng cao hàm lượng chất xám, hướng tới những phát hiện mới, sáng tạo mới Trình độ chuyên môn càng cao, hiểu biết càng sâu rộng thì càng có nhiều cơ hội phát huy tính sáng tạo
+ Giúp người học cập nhật tri thức mới, bổ túc nghề nghiệp, củng cố các kỹ năng trong xử lý công việc
+ Từng bước làm chủ các công nghệ tiên tiến
Chính phủ ban hành đề án phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử là muốn nhấn mạnh phát triển nguồn nhân lực phải đi trước một bước, Nhà nước đầu tư kinh phí để xây dựng chương trình đào tạo, xây dựng nguồn nhân lực, đặc biệt là các chuyên gia có trình độ chuyên môn, đáp ứng yêu cầu nghiên cứu, phát triển, ứng dụng và đảm bảo an toàn, an ninh trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử
Để phát triển nguồn nhân lực Khoa học và Công nghệ trong lĩnh vực NLNT, cần phải tạo được bước chuyển mạnh, trong tâm là xây dựng các cơ sở giáo dục và đào tạo, các tổ chức nghiên cứu và triển khai KH&CN trong lĩnh vực NLNT, đồng thời chú trọng xây dựng các chương trình đào tạo phù hợp nhằm nâng cao trình độ nguồn nhân lực trong lĩnh vực NLNT
Sự cần thiết của việc đào tạo, bồi dưỡng nhân lực
+ Thông qua đào tạo, người lao động có thể bổ sung thêm kiến thức về nghề nghiệp về bảo hộ lao động, giảm bớt các tai nạn lao động, có đủ sức khỏe, phát huy hết khả năng làm việc của mình vì lợi ích chung của đơn vị
+ Số lượng và chất lượng nhân lực thay đổi hợp lý, góp phần nâng cao tính
ổn định và năng động cho tổ chức, tạo ra sức mạnh vững chắc để đơn vị tồn tại và phát triển
+ Làm cho người lao động thêm tự tin vào bản thân, tạo cảm giác yên tâm làm việc, gắn bó lâu dài với công ty, phát huy hết khả năng để cống hiến cho tổ chức, coi lợi ích của tổ chức như chính lợi ích của bản thân mình
Ý nghĩa của việc đào tạo, bồi dưỡng
+ Qua đào tạo, người lao động có hiểu biết hơn về nội quy làm việc, tăng cường ý thức kỷ luật, không những nắm vững được lý thuyết mà còn tiếp thu được
kỹ năng làm việc
Trang 22+ Người lao động tiếp thu và làm quen với các công nghệ mới trong sản xuất kinh doanh và quản lý, tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thể áp dụng các tiến bộ
kỹ thuật vào trong quá trình sản xuất
Đào tạo, bồi dưỡng nhân lực KH&CN ngành NLNT đòi hỏi sự tốn kém thời gian và chi phí nhưng không vì thế mà ta phủ nhận vai trò và sự cần thiết của
nó Thực hiện tốt chính sách đào tạo, bồi dưỡng sẽ góp phần tạo nên hình ảnh đẹp
và uy tín cho doanh nghiệp, đơn vị là công cụ hữu hiệu để thực hiện thu hút nhân lực có chất lượng
Phân loại các hoạt động đào tạo
Hoạt động đào tạo được coi là một trong những giải pháp cơ bản mang tính căn cơ nhằm phát triển nhân lực khoa học và công nghệ Mục đích của quá trình đào tạo nhân lực KH&CN là nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn của người tham gia đào tạo
Có thể phân loại hoạt động đào tạo theo tiêu chí khác nhau: xét về mặt thời gian có đào tạo dài hạn, đào tạo ngắn hạn; xét về phương thức có đào tạo chính quy, đào tạo tại chức; xét về địa điểm có đào tạo trong nước, đào tạo tại nước ngoài; xét
về mong muốn động lực của việc đào tạo có hình thức đào tạo chuẩn mực bắt buộc,
tự đào tạo qua công việc; hoặc, đào tạo lý thuyết, đào tạo thực hành Nhưng tựu trung, kết quả của việc đào tạo là nâng cao chất lượng của đội ngũ nhân lực, tăng cường số lượng qua thời gian
Ngày nay, trong hoạt động đào tạo nhân lực KH&CN trình độ cao, ngoài những hình thức đào tạo truyền thống, việc tăng cường cơ hội tiếp xúc với giới khoa học quốc tế thông qua các hội nghị khoa học, được làm việc cùng với các chuyên gia cao cấp, thông qua các chương trình nghiên cứu hợp tác trao đổi với đối tác, cũng là những hình thức đào tạo cần quan tâm và thực sự hiệu quả
Đào tạo, bồi dưỡng nhân lực là quá trình trang bị kiến thức nhất định và chuyên môn nghiệp vụ cho người lao động để họ có thể đảm nhận được một số công việc nhất định Đào tạo được biểu hiện là các hoạt động nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện tốt hơn chức năng nhiệm vụ của mình
Về lý luận, đào tạo nhân lực KH&CN nói chung và nhân lực KH&CN trong lĩnh vực NLNT nói riêng là hoạt động truyền tải thông tin, kỹ năng thực hành, nghề nghiệp hay kiến thức trong lĩnh vực KH&CN nhằm đạt mục tiêu để người học có
Trang 23thể lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng, nghề nghiệp một cách có hệ thống và có thể áp dụng chúng trong hoạt động KH&CN Đào tạo là một biện pháp giúp cho cán bộ nghiên cứu phát huy sự say mê khoa học của mình Do vậy cần có nhiều hình thức đào tạo để người nghiên cứu có thể lựa chọn và không giới hạn độ tuổi
1.3.2 Thu hút nhân lực KH&CN
Công tác thu hút nhân lực có thể được hiểu là các biện pháp, cách thức cần thiết của nhà quản lý nhằm lôi cuốn, phát triển nhân lực khoa học và công nghệ ngành NLNT, đáp ứng yêu cầu phát triển của tổ chức
Nhận thức, thái độ đối với nhân lực KH&CN ngành NLNT
Để thu hút được nguồn nhân lực KH&CNngành NLNT người sử dụng lao động cũng phải có những yêu cầu cần làm rõ Cần trả lời ba câu hỏi theo một trật tự logic nhất định là: Thu hút nhân lực NLNT để làm gì? Thu hút ai? Thu hút như thế nào? Trước hết chọn người phải phù hợp yêu cầu công việc Sau khi trả lời câu hỏi: Thu hút để làm gì? Mới tìm cách trả lời câu hỏi thứ hai là: Thu hút ai? Một cách đơn giản để trả lời câu hỏi thứ hai là việc chọn người thích hợp cho công việc, giải quyết được công việc nhưng lại không phí sức của người sử dụng và không quá tốn kém Sau khi xác định được thu hút ai thì mới có thể trả lời được thu hút như thế nào? Mỗi người, mỗi nhóm, mỗi loại nghề nghiệp khác nhau có câu trả lời khác nhau, không thể có câu trả lời chung
Tuy nhiên, đối với cá nhân và những nguồn nhân lực có chuyên môn về lĩnh vực NLNT họ cũng thật sự cân nhắc nhiều với những câu hỏi: Làm gì? Công việc có phù hợp với năng lực của mình không? Điều kiện làm việc có tốt không? Tương lai có phát triển không? Điều kiện sống và sinh hoạt của bản thân và gia đình như thế nào? Văn hóa tổ chức nơi ấy ra sao? Phải trả lời phần lớn các câu hỏi đó họ mới đưa ra quyết định
Tạo môi trường thu hút nhân lực ngành NLNT
Nhân lực KH&CN mong muốn trước hết là được làm việc và cống hiến Vì vậy, việc tạo môi trường thu hút, hấp dẫn là rất quan trọng đối với nguồn lực này
Về vấn đề này cần quan tâm tới các yếu tố sau:
- Thu hút, giữ chân nhân lực ngành NLNT bằng văn hóa công sở Nhân lực ngành NLNT thường có khuynh hướng gắn bó hơn với những đơn vị có văn hóa phù hợp với những giá trị cá nhân và có thể giúp họ đạt đến thành công trong sự nghiệp
Trang 24- Xây dựngmôi trường lành mạnh trong công tác tuyển dụng, thu hút nhân lực ngành NTNT
Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác thu hút nhân lực ngành NLNT
vị thuộc lĩnh vực năng lượng nguyên tử của Bộ Khoa học và Công nghệ
- Với các đề án, dự án như trên nguồn nhân lực Khoa học và Công nghệ ngành NLNT mỗi năm đào tạo 240 kỹ sư, cử nhân; 35 thạc sĩ, tiến sĩ (trong đó đào tạo tại nước ngoài 20 kỹ sư, cử nhân; 15 thạc sĩ, tiến sĩ)
Riêng đối với lĩnh vực điện hạt nhân, đảm bảo đủ nhân lực cho chủ đầu tư,
cơ quan an toàn hạt nhân, cơ quan nghiên cứu triển khai và hỗ trợ kỹ thuật theo yêu cầu nhiệm vụ của các cơ quan này ở thời điểm năm 2030 Vận hành ổn định các cơ
sở đào tạo đại học, trên đại học chuyên ngành điện hạt nhân
Mặc dù hiện nay chưa có số liệu thống kê cụ thể về nhu cầu nhân lực NLNT đến năm 2030 nhưng dựa trên định hướng phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực NLNT của Chính phủ và căn cứ vào hiện trạng cũng như nhu cầu nhân lực đến năm
2020, có thể dự báo rằng nhu cầu nhân lực NLNT đến năm 2030 của nước ta là rất lớn
Các yêu cầu riêng về thu hút nhân lực trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử
Xuất phát từ đặc thù của ngành NLNT dẫn đến nhân lực NLNT có những đặc điểm riêng so với các ngành nghề khác trong xã hội, cụ thể như sau:
- Nhân lực được đào tạo cơ bản:
Tại Việt Nam, Chính phủ đã thành lập Ban Chỉ đạo Quốc gia về đào tạo nguồn nhân lực và Ban Chỉ đạo Nhà nước Dự án Điện hạt nhân (ĐHN) Ninh Thuận,
Trang 25chức năng và nhiệm vụ của Ban trên là trú trọng phát triển đào tạo nhân lực cho phát triển ngành NLNT Ngoài ra Chính phủ cũng giao cho 05 trường đại học đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho ngành NLNT: Đại học Bách Khoa Hà Nội, Đại học Khoa học tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội), Đại học Điện lực, Trung tâm đào tạo hạt nhân tại Viện NLNT Việt Nam (Bộ KH&CN), Đại học Khoa học tự nhiên (Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh), Đại học Đà Lạt (Thủ tướng Chính phủ, 2007)
Cùng với việc đào tạo trong nước, Chính phủ Viện Nam khai thác kết hợp với các quốc gia có thế mạnh về lĩnh vực NLNT như: Mỹ, Nhật, Nga, Hàn Quốc…
để đưa cán bộ nghiên cứa, sinh viên và các nhà khoa học sang học tập
- Có trình độ ngoại ngữ cao, kỷ luật cao, năng động, sáng tạo và say mê nghiên cứu:
NLNT là ngành công nghệ cao, do đó cần phải thường xuyên cử nhân lực tham gia các khóa đào tạo, tham gia các hội thảo, hội nghị, diễn đàn, đối thoại Để
có thể tham gia các khóa tập huấn ở nước ngoài nhằm nâng cao trình đồ chuyên môn thì phải trải qua các kỳ thi tuyển tiếng Anh do cơ quan hoặc một tổ chức liên quan trong ngành tổ chức
NLNT là một ngành đặc thù, ứng dụng nhiều công nghệ tiên tiến, phức tạp
để tạo ra hiệu quả cao cho nền kinh tế - xã hội, bản thân ngành NLNT được ứng dụng trong những lĩnh vực khó, vì vậy đòi hỏi nguồn nhân lực phải có tính kỷ luật cao, sáng tạo và say mê nghiên cứu
Kinh nghiệm thu hút nhân lực tại các cơ quan năng lượng nguyên tử của một số quốc gia trên thế giới
Với các nước có ngành NLNT phát triển như: Cơ quan Năng lượng nguyên tử Pháp, Tập đoàn Năng lượng hạt nhân Nga, Trung tâm Đào tạo hạt nhân Nhật Bản, họ xây dựng các cơ sở hạt nhân phục vụ đào tạo phát triển nhằm thu hút sinh viên theo học tại các chuyên ngành chuyên sâu trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử, qua đó có một đội ngũ nhân lực sẵn sàng phục vụ cho việc phát triển ứng dụng NLNT
Để phát triển các ngành khoa học ứng dụng, nhất là ứng dụng sản xuất ĐHN, Nga chú trọng đi sâu phát triển nghiên cứu các bộ môn khoa học cơ bản (vật lý lý
Trang 26thuyết, vật lý lượng tử, toán - vật lý…), đồng thời ưu tiên phát triển các cơ sở đào tạo, nghiên cứu chất lượng cao Theo thống kê, hiện nay Liên bang Nga có hơn 20 trường đại học trực thuộc Bộ Giáo dục và Khoa học chuyên đào tạo các ngành nghề liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu, thiết kế, vận hành, sử dụng nhà máy ĐHN
1.3.3 Tuyển dụng nhân lực NLNT
Tuyển dụng nhân lực có vai trò rất quan trọng, nếu công tác tuyển dụng được thực hiện tốt thì sẽ tuyển được những người thực sự có năng lực, trình độ và phẩm chất đạo đức tốt; ngược lại, nếu việc tuyển dụng không được quan tâm đúng mức sẽ không lựa chọn được những người có đức, có tài vào làm việc
Khi tuyển dụng cần có những quy định và đưa ra nguyên tắc cụ thể như: công tác tuyển dụng phải đảm bảo khách quan, công bằng; việc tuyển dụng phải thực hiện trên cơ sở xác định số lượng cần tuyển trong đó cần phân tích các vị trí, công việc để đưa ra các điều kiện, tiêu chuẩn khi tuyển dụngcăn cứ vào nhu cầu công việc để tuyển dụng
Tuyển dụng đủ người và đúng người luôn là một thách thức đối với sự phát triển của các tổ chức Khi tuyển dụng phải chọn đúng người, nếu chọn sai người sẽ rất tốn kém, mất thời gian và phản tác dụng Khi tuyển dụng phải đánh giá được cả tính cách, động lực, chứ không đơn thuần là kỹ năng làm việc của ứng viên
Tuyển dụng mang tính lâu dài và liên tục, đừng đợi đến khi có nhu cầu tuyển dụng mới tìm kiếm Khi tuyển dụng cũng cần chú ý đến việc “tái tuyển dụng” Trong “cơn sốt” thiếu người, các nhà quản lý nhân sự thường tìm kiếm, tranh giành nhân lực lĩnh vực NLNT ở thị trường bên ngoài
Tuyển dụng là một quá trình phức tạp, đòi hỏi sự kết hợp nhuần nhuyễn của các chiến lược tức thì cùng với sáng kiến lâu dài nhằm xây dựng và duy trì nguồn nhân lực phục vụ cho sự phát triển của đơn vị
1.3.4 Đánh giá, tôn vinh nhân lực ngành NLNT
Để thu hút nhân lực ngành NLNT, trước hết cần kết hợp chặt chẽ giữa trọng thị, trọng dụng và trọng đãi nhân lực ngành NLNT Ba khâu này có liên quan chặt chẽ với nhau trong từng thời điểm, từng lĩnh vực, những khâu này có thể mạnh, yếu khác nhau nhưng không bỏ qua được khâu nào Việc trọng dụng sẽ là động lực quan
Trang 27trọng thu hút nhân lực về làm việc Trọng đãi là sự trả công xứng đáng cho đóng góp của người lao động với đơn vị sử dụng lao động
Sự sắp xếp những công việc thích hợp nhất với nhân lực KH&CN ngành NLNT để khai thác và sử dụng, phát huy nguồn nhân lực này một cách hợp lý và hiệu quả là một điều hết sức quan trọng đối với bất kỳ một tổ chức nào
1.3.5 Đãi ngộ nhân lực ngành NLNT
Đãi ngộ nhân lực là quá trình chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của người lao động để người lao động có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao và qua
đó góp phần hoàn thành mục tiêu của tổ chức
- Chăm lo về trí tuệ: chính là tạo điều kiện cho đội ngũ nhân lực trình độ cao
có điều kiện tham dự, tham gia, giao lưu học hỏi kinh nghiệm của bạn bè trong nước và thế giới Cần phải tạo thuận lợi không nên hạn chế các điều kiện tham dự của đội ngũ này Khoa học nếu không có cọ sát, tranh luận sẽ không đi đến chân lý Giao lưu với các nhà khoa học thế giới, các nhà khoa học trong nước rút ra được những bài học kinh nghiệm Thực hiện chăm lo về trí tuệ cũng đồng thời là ủng hộ các sáng kiến, phát minh của họ, tạo điều kiện để các công trình nghiên cứu của họ được công bố trên phạm vi quốc tế
- Chăm lo về tinh thần: được thực hiện thông qua việc tạo điều kiện thuận lợi
để động viên, khen thưởng, đánh giá đúng người tài, biết đánh giá đúng giá trị công trình nghiên cứu của họ đóng góp cho xã hội; bảo đảm cho họ quyền chủ động tự do sáng tạo, sáng tác mà không bị các rào cản không đáng có
- Chăm lo về vật chất: Lợi ích của người lao động và động lực lao động luôn
có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Lợi ích tạo ra động lực cho người lao động theo thiên hướng, mức độ thỏa mãn càng cao thì động lực tạo ra càng lớn Tương ứng với nhu cầu vật chất và tinh thần, đồng thời giữa lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần
có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Thông thường sự thỏa mãn một nhu cầu vật chất thường dẫn đến sự thỏa mãn một nhu cầu nào đó về tinh thần và ngược lại
Như vậy có thể thấy rằng nhu cầu con người tạo ra động lực trực tiếp thúc đẩy họ làm việc với hiệu quả cao và gắn bó với công việc, với cơ quan Đòi hỏi người lãnh đạo, quản lý cũng như người quản trị nhân lực đặc biệt quan tâm đến lợi ích của người lao động
Trang 28Tiểu kết chương
Trong Chương 1 của luận văn, tác giả đã làm rõ các nội dung cơ bản về nhân lực, nhân lực Khoa học và công nghệ; vai trò của nhân lực KH&CN và nhân lực ngành NLNT; nội dung của các giải pháp phát triển nhân lực KH&CN, các tiêu chí công tác phát triển nhân lực khoa học và công nghệ ngành Năng lượng nguyên tử; các yêu cầu riêng về phát triển nhân lực trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử; kinh nghiệm phát triển nhân lực trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử tại một số quốc gia trên thế giới
Các nội dung ở trên là tiền đề để tác giả luận văn phân tích, đánh giá thực trạng công tác phát triển nhân lực trình KH&CN lĩnh vực NLNT tại Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam (NLNTVN) trong Chương 2 Từ đó có cơ sở đề xuất các giải pháp phát triển nhân lực KH&CN ngành NLNT cho Viện NLNTVN trong Chương 3
Trang 29Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NHÂN LỰCKHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
NGÀNH NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ TRƯỜNG HỢP
VIỆN NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ VIỆT NAM
2.1 Giới thiệu tổng quan về Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam
Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam được thành lập ngày 23/02/1979 tiền thân là Viện Nghiên cứu hạt nhân thực hiện việc tiếp nhận, xây dựng các cơ sở nghiên cứu trực thuộc Viện và mở rộng lò phản ứng hạt nhân tại Đà Lạt
Sau khi Viện Nghiên cứu hạt nhân (Đà Lạt) được thành lập theo Quyết định
số 64-CP ngày 26/4/1976 của Thủ tướng Chính phủ, nhiều cán bộ từ Viện Vật lý,
Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước, từ các trường đại học đã được chuyển về Viện và nhanh chóng ổn định, triển khai công việc Cơ sở nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt được quân đội chuyển giao cho Viện quản lý Vào năm 1977, nước ta đã đàm phán với Liên Xô về việc khôi phục và mở rộng (nâng công suất) lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt Ngoài các bộ phận nghiên cứu ở Đà Lạt như Phòng Vật lý hạt nhân, Phòng Hóa phóng xạ, Phòng An toàn bức xạ và Sinh học phóng xạ, ở Hà Nội, các
bộ phận nghiên cứu Vật lý lý thuyết, Năng lượng hạt nhân và Hóa phóng xạ cũng được hình thành Năm 1978, Việt Nam tham gia trở lại Cơ quan Năng lượng nguyên tử Quốc tế (IAEA), trên cơ sở tiếp quản ghế thành viên của chính quyền cũ
ở miền Nam và bắt đầu đàm phán với IAEA về trợ giúp kỹ thuật
Sự phát triển của Viện cho thấy rõ hơn tính đa dạng của các hoạt động và Nghị định 59-CP ngày 23/02/1979 của Hội đồng Chính phủ đã nâng quy mô về không gian và nhiệm vụ của Viện Nghiên cứu hạt nhân trên phạm vi toàn quốc, với định hướng trở thành một ngành Năng lượng nguyên tử của Việt Nam Viện đã có những bước phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn này Năm 1982, công trình khôi phục và mở rộng lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt được tiến hành như một công trình trọng điểm của Nhà nước, một số phòng thí nghiệm tại Hà Nội được xây dựng, hợp tác với các nước xã hội chủ nghĩa, Ấn Độ và IAEA được tăng cường Nhiều dự án
Trang 30tài trợ của IAEA được thực hiện Năm 1982, Chính phủ Việt Nam chính thức tham gia Hiệp ước Không phổ biến vũ khí hạt nhân
Sau lễ khánh thành Công trình mở rộng và khôi phục lò phản ứng hạt nhân
Đà Lạt vào ngày 20/3/1984, lò phản ứng chính thức đi vào hoạt động.Đây là mốc lịch sử quan trọng vì sau khi xây dựng, mở rộng cơ sở hạ tầngcông suất hoạt động
đã tăng gấp hai lần so với lò cũ, đã đạt trạng thái tới hạn vào ngày 01/11/1983 Bước phát triển này cùng với các hoạt động khác, đã làm tiền đề cho giai đoạn phát triển mới, được thể chế hóa bằng Nghị định số 87-HĐBT ngày 11/6/1984 của Hội đồng Bộ trưởng, nâng Viện lên một tầm cao hơn về chức năng, nhiệm vụ Viện được đổi tên thành Viện Năng lượng nguyên tử Quốc gia, trở thành đại diện cho một ngành bao gồm cả chức năng hoạch định chính sách, quản lý và nghiên cứu Năm 1988, gần 160 cán bộ của Viện 481 thuộc Tổng cục Kỹ thuật được chuyển ngành và sát nhập vào Viện Năng lượng nguyên tử Quốc gia, nâng tổng số cán bộ công nhân viên của Viện lên mức cao nhất lúc bấy giờ, 720 người
Tới đầu năm 1989, cơ cấu tổ chức của Viện theo Nghị định 87-HĐBT được thực hiện đầy đủ và do đó, Chính phủ đồng ý cho phép Viện dùng tên đối ngoại là
Ủy ban Năng lượng nguyên tử Việt Nam (Vietnam Atomic Energy Commission)
Năm 1989, Chính phủ ủy quyền cho Viện ký Hiệp định Bảo đảm (Safeguard), Việt Nam tham gia vào Hợp tác vùng Châu Á - Thái Bình Dương về hạt nhân (RCA) Thời gian này, ở Hà Nội, sự phát triển về tổ chức, về nhiệm vụ cũng như về cơ sở vật chất đòi hỏi phải có sự phân cấp quản lý mới Do đó, bên cạnh Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt và Trung tâm Hạt nhân thành phố Hồ Chí Minh đều do Thủ tướng hoặc Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng quyết định thành lập, ngày 21/01/1991, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ra quyết định thành lập Viện Khoa học và Kỹ thuật hạt nhân và Viện Công nghệ xạ hiếm tại Hà Nội, tạo thành 4 đơn vị nghiên cứu và triển khai trực thuộc Viện Năng lượng nguyên tử Quốc gia ở 3 miền của đất nước
Ngày 13/9/1993 Chính phủ đã ban hành Nghị định 59/CP chuyển Viện Năng lượng nguyên tử Quốc gia về trực thuộc Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ) và đổi tên thành Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam nhằm tập trung các đơn vị sự nghiệp nghiên cứu khoa học công lập về một mối, thuận tiện trong việc quản lý và điều phối
Trang 312.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam
2.1.2.1 Chức năng
Viện có các chức năng cơ bản sau đây:
- Cơ quan nghiên cứu - triển khai, thúc đẩy ứng dụng công nghệ kỹ thuật cao trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử phục vụ thúc đẩy ứng dụng bức xạ, phát triển
điện hạt nhân và đào tạo cán bộ
- Cơ quan hỗ trợ kỹ thuật quốc gia độc lập về kiểm tra chất lượng các công trình,
thiết bị, bảo đảm an toàn, an ninh và bảo vệ môi trường cho phát triển điện hạt nhân
2.1.2.2 Nhiệm vụ
1) Nghiên cứu xây dựng chính sách, phương hướng, chiến lược, quy hoạch
và kế hoạch phát triển ngành năng lượng nguyên tử; tham gia, phối hợp nghiên cứu xây dựng các dự án, văn bản pháp luật về năng lượng nguyên tử; tham gia, phối hợp thực hiện các chính sách hạt nhân đã được Chính phủ phê duyệt;
2) Thực hiện nghiên cứu cơ bản định hướng ứng dụng trong lĩnh vực năng
6) Đào tạo, hướng dẫn và bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn chuyên ngành năng lượng nguyên tử theo quy định của pháp luật;
7) Tổ chức triển khai thực hiện các hoạt động dịch vụ, tư vấn trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao theo quy định;
8) Thực hiện hoạt động hợp tác, liên kết với các tổ chức, cá nhân thuộc phạm
vi chức năng, nhiệm vụ được giao theo quy định của pháp luật;
9) Thực hiện các hoạt động hợp tác quốc tế trong phạm vi chức năng, nhiệm
vụ được giao và theo quy định của pháp luật; tham gia hoặc là đầu mối đại diện của Việt Nam tại các tổ chức quốc tế theo sự phân công của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ
Trang 322.1.3 Cơ cấu tổ chức của Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam
Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam có 3 cơ quan tham mưu và 9 đơn vị trực thuộc:
- Khối Cơ quan bao gồm: Lãnh đạo Viện, Văn phòng, Ban Kế hoạch và Quản
lý khoa học, Ban Hợp tác quốc tế
- Viện NLNTVN có 9 đơn vị trực thuộc nghiên cứu và triển khai, có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng bao gồm:
- Viện Nghiên cứu hạt nhân;
- Viện Công nghệ xạ hiếm;
- Viện Khoa học và Kỹ thuật hạt nhân;
- Trung tâm Hạt nhân thành phố Hồ Chí Minh;
- Trung tâm Nghiên cứu và Triển khai công nghệ bức xạ;
- Trung tâm Ứng dụng kỹ thuật hạt nhân trong công nghiệp;
- Trung tâm Chiếu xạ Hà Nội;
- Trung tâm Đánh giá không phá huỷ;
- Trung tâm Đào tạo hạt nhân
Trang 33Hình 2.1.Sơ đồ Tổ chức bộ máy của Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam
Nguồn: Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam
Có thể thấy sơ đồ tổ chức bộ máy của Viện NLNTVN tại Hình 2.1 được chia thành 3 Khối chức năng gồm: Khối Cơ quan; Khối nghiên cứu phát triển điện hạt nhân
và hỗ trợ kỹ thuật; Khối nghiên cứu phát triển ứng dụng bức xạ và đồng vị Việc tổ chức
bộ máy như vậy hoàn toàn phù hợp với chức năng và nhiệm vụ của Viện
Trang 342.1.4 Thành tựu phát triển hơn 40 năm qua của Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam
Thành tựu đã đạt được trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử của Viện NLNTVN trong thời gian qua có thể tóm tắt như sau:
2.1.4.1 Khôi phục, mở rộng, khai thác và vận hành lò phản ứng nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt
Với sự giúp đỡ của các chuyên gia Liên xô (cũ), Viện NLNTVN đã thực hiện thành công công trình khôi phục và mở rộng lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt do chế độ cũ
để lại, nâng công suất nhiệt từ 250 kW lên 500 kW và đưa lò vào hoạt động một cách
an toàn từ ngày 20/3/1984 đến nay
Đặc biệt, trong giai đoạn 2005-2013, thực hiện dự án chuyển đổi nhiên liệu của
lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt từ loại có độ giàu uranium cao (36% U-235) sang loại có
độ giàu thấp (19,75% U-235), đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ của Viện đã làm chủ việc tính toán thiết kế, phân tích an toàn, khởi động vật lý và khởi động năng lượng với kết quả cụ thể là lò phản ứng đạt trạng thái tới hạn lần đầu với nhiên liệu độ giàu cao vào lúc 15:35 ngày 30/11/2011, những công việc trước đây phải do các chuyên gia nước ngoài thực hiện
Tháng 3/2019, Viện Nghiên cứu hạt nhân (NCHN) đã long trọng tổ chức buổi Gặp mặt các thế hệ lãnh đạo, cán bộ, viên chức và người lao động của Viện nhân dịp kỷ niệm
30 năm khánh thành Công trình Khôi phục và mở rộng Lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt
2.1.4.2 Đẩy mạnh nghiên cứu cơ bản và công bố quốc gia, quốc tế
Trong năm 2016 số các công trình khoa học được công bố trên các tạp chí, hội nghị quốc tế và trong nước là 190 công trình, bao gồm: 52 công trình đăng tạp chí quốc
tế (có 30 công trình đăng trên các tạp chí có uy tín nằm trong danh sách Thomson Reuters/ISI Web of Science List và có Impact Factor), 28 báo cáo tại hội nghị quốc tế, 42 công trình đăng tạp chí quốc gia, 68 báo cáo tại hội nghị quốc gia, hội nghị cán bộ trẻ
2.1.4.3 Lĩnh vực ứng dụng công nghệ bức xạ
Ngoài lĩnh vực ứng dụng công nghệ bức xạ và các thành tựu đã nêu ở trên, Viện NLNTVN còn nhiều thành tựu đáng phải nói đến là: Lĩnh vực ứng dụng kỹ thuật hạt nhân trong công nghiệp, tài nguyên và môi trường; Ứng dụng kỹ thuật hạt nhân trong nông nghiệp; Lĩnh vực an toàn bức xạ, quan trắc phóng xạ môi trường và xử lý, quản lý chất thải phóng xạ; Lĩnh vực nghiên cứu nhiên liệu, vật liệu hạt nhân
Trang 352.1.4.4 Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực
Việc đào tạo nguồn nhân lực được thực hiện thông qua đào tạo trong nước, ở nước ngoài, đặc biệt Viện NLNTVN đã chú trọng đào tạo thông qua công việc Ngoài
ra, Viện cũng đã sử dụng triệt để các hình thức đào tạo ngoài nước để nâng cao trình độ cán bộ như đào tạo nghiên cứu sinh, cộng tác viên khoa học và thực tập sinh ngắn hạn, dài hạn
2.1.4.5 Hợp tác quốc tế
Mặc dù chỉ là một đơn vị sự nghiệp thực hiện nghiên cứu nhưng thời gian qua, được sự phân công của Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện NLNTVN đã có nhiều đóng góp trong việc nghiên cứu, soạn thảo Luật Năng lượng nguyên tử, Chiến lược ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình đến năm 2020, Quy hoạch tổng thể phát triển ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình đến năm 2020 Các văn bản này là hành lang pháp lý quan trọng, làm cơ sở để định hướng phát triển ngành năng lượng nguyên tử của nước ta Viện đã tham gia tích cực với cương vị là đơn vị chủ trì để nghiên cứu, soạn thảo Luật Năng lượng nguyên tử
Với những thành tích đạt được nêu trên, Viện NLNTVN đã được tặng các phần
thưởng cao quý:
- Huân chương Lao động Hạng Ba năm 2001;
- Huân chương Lao động Hạng Nhì năm 2006;
- Huân chương Lao động Hạng Nhất năm 2011;
- Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ năm 2014;
và nhiều Bằng khen, cờ thi đua của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ
2.2 Thực trạng công tác phát triển nhân lực tại Viện Năng lượng nguyên
Trang 36nhân của nhiều quốc gia mà Việt Nam cần học tập và áp dụng kịp thời, hiệu quả và phù hợp với thực tiễn của đất nước
Xây dựng được đội ngũ cán bộ khoa học cho ngành NLNT cả về chất lượng và
số lượng đảm bảo thực hiện tốt được các chức năng nhiệm vụ được giao cũng như có thể làm tốt nhiệm vụ hỗ trợ kỹ thuật về bảo đảm an toàn, an ninh, bảo vệ môi trường và ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình
Các chủ trương, chính sách cụ thể mà Lãnh đạo Viện NLNTVN dùng để thu hút nhân lực ngành NLNT:
- Đối với những nhân lực KH&CN ngành NLNT mà có trình độ cao, lãnh đạo Viện NLNTVN dùng các biện pháp thu hút để phát triển nguồn nhân lực bằng cách sẽ
bổ nhiệm chức vụ cho người đó để tham gia vào bộ máy quản lý, hoặc trưởng các nhóm nghiên cứu ưu tiên, làm chủ nhiệm hoặc tham gia các đề tài, dự án quan trọng của Viện
- Trong mối quan hệ hợp tác với các cơ quan nghiên cứu trong và ngoài nước,
sẽ có những khóa đào tạo bồi dưỡng, hội nghị, hội thảo, Lãnh đạo Viện NLNTVN cũng tạo điều kiện cho các nhân lực tham giađể có cơ hội trao đổi, học hỏi các chuyên gia trong và ngoài nước, giúp nâng cao kiến thứcvà trình độ chuyên môn
2.2.2 Chính sách về điều kiện, môi trường làm việc tại Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam
Bất cứ ai đều không thể làm tốt công việc nếu không có môi trường và điều kiện làm việc tốt Đối với nhân lực ngành NLNT việc này lại càng trở lên cần thiết Bởi NLNT là ngành công nghệ cao, lao động thường liên quan nhiều đến máy móc và trang thiết bị hiện đại, nếu sơ suất sẽ gây ra không ít nguy hiểm
- Về vị trí địa lý: Viện NLNTVN gồm Trụ sở Viện đặt tại 59 Lý Thường Kiệt
và 9 đơn vị trực thuộc Phía Bắc có 5 đơn vị: Viện Công nghệ xạ hiếm (48 Láng Hạ,
Hà Nội), Viện Khoa học và Kỹ thuật hạt nhân (179 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội), Trung tâm Chiếu xạ Hà Nội (Km12 đường 32, Bắc Từ Liêm, Hà Nội), Trung tâm Đánh giá không phá hủy và Trung tâm Đào tạo hạt nhân (140 Nguyễn Tuân, Thanh Xuân, Hà Nội) Phía Nam có 4 đơn vị: Viện Nghiên cứu hạt nhân (Số 01 Nguyên Tử Lực, Đà Lạt, Lâm Đồng), Trung tâm Hạt nhân TP.HCM (217 Nguyễn Trãi, Quận 1, TP.HCM), Trung tâm Nghiên cứu và Triển khai công nghệ bức xạ (202A đường 11, P
Trang 37Linh Xuân, Q Thủ Đức, TP HCM), Trung tâm Ứng dụng kỹ thuật hạt nhân trong công nghiệp (01 DT723, phường 12, Đà Lạt, Lâm Đồng)
Việc Viện NLNTVN có các cơ sở nghiên cứu ở cả phía Bắc và phía Nam cũng
có những thuận lợi về phạm vi thu hút nhân lực KH&CN ngành NLNT Hiện nay Cơ
sở chiếu xạ tại Đà Nẵng đi vào hoạt động, Viện NLNTVN sẽ có các đơn vị trực thuộc trải khắp 3 miền của đất nước và có điều kiện thuận lợi về vị trí địa lý để thu hút nhân lực lĩnh vực ngành từ khắp các vùng miền
- Về điều kiện vật chất, cơ sở hạ tầng, trang thiết bị: Do có nhiều hướng nghiên cứu trong lĩnh vực NLNT và nhiều cơ sở nghiên cứu nên điều kiện vật chất ở các cơ
sở nghiên cứu của Viện là không đồng đều
Cơ sở hạ tầng: 03 đơn vị mới được thành lập từ năm 2008 trở lại đây như Trung tâm Chiếu xạ Hà Nội, Trung tâm Đào tạo hạt nhân, Trung tâm Đánh giá không phá hủy được xây dựng có cơ sở hạ tầng tương đối tốt Ngược lại, Trụ sở Viện và 06 đơn vị được xây dựng trước năm 2008 thì cơ sở hạ tầng đã xuống cấp,
có những phòng làm việc xuống cấp nghiêm trọng, không đáp ứng được môi trường, điều kiện làm việc cơ bản
Về trang thiết bị: Các trang thiết bị của Viện phần lớn đều được mua đã lâu, nhiều thiết bị đã hết khấu hao nhưng vẫn được sử dụng, điều đó ảnh hưởng đến công việc và các kết quả nghiên cứu Do kinh phí được nhà nước cấp tương đối hạn hẹp nên việc khắc phục là rất khó khăn Do đó, Viện cần lựa chọn và chú trọng đầu
tư trang thiết bị vào các hướng nghiên cứu ưu tiên, phục vụ các ứng dụng thực tiễn như: các dây chuyền thiết bị sản xuất, điều chế đồng vị phóng xạ; các cơ sở sản xuất thử nghiệm quy mô nhỏ (dạng pilot) về xử lý quặng urani và xử lý monazit; thiết bị chiếu xạ công nghiệp dùng nguồn Co-60 hoạt độ 400 kCi tại Thành phố Hồ Chí Minh; thiết bị chiếu xạ bán công nghiệp dùng nguồn Co-60 hoạt độ 200 kCi tại Hà Nội; 2 thiết bị chiếu xạ dùng nguồn Co-60 với hoạt độ 16,5 kCi (1981) và 10 kCi (2007) phục
vụ cho nghiên cứu tại Đà Lạt; máy gia tốc chùm tia điện tử EB để chiếu xạ khử trùng
và bảo quản; máy gia tốc KOTRON 13MeV điều chế dược chất phóng xạ; các hệ thiết
bị phân tích như khối phổ kế AAS, ICP-MS, GC-MS, HPLC-MS, các hệ phổ kế gamma, alpha, ; phòng chuẩn cấp II- kiểm định và hiệu chuẩn thiết bị đo lường bức xạ; phòng thí nghiệm thủy văn đồng vị, phòng thí nghiệm đánh giá không phá hủy… Đây là các trang thiết bị và phòng thí nghiệm hiện đại nhất ở nước ta trong lĩnh vực
Trang 38NLNT, có thể so sánh được với một số nước trong khu vực như Thái Lan, Malaysia, Philippines
- Về điều kiện, môi trường làm việc: môi trường làm việc ở Viện NLNTVN là không giống nhau, tùy vào vị trí việc làm Do tính chất của ngành NLNT nên có những người phải làm việc trong lò phản ứng, có áp suất khác với môi trường bên ngoài, có những người phải thao tác thường xuyên trên các thiết bị nên có nguy cơ bị nhiễm xạ,
có người làm việc trong phòng thí nghiệm tiếp xúc với các hóa chất độc hại,…
Hiện tại, Viện NLNTVN vẫn phân loại và thực hiện chế độ độc hại, nguy hiểm đối với cán bộ, công chức, viên chức theo Thông tư số 07/2005/TT-BNV ngày 05/01/2005 của Bộ Nội vụ (Bộ Nội vụ, 2005) và Quy định Chế độ phụ cấp ưu đãi nghề nghiệp đối với người làm việc trong các đơn vị thuộc lĩnh vực năng lượng nguyên tử của Bộ Khoa học và Công nghệ, ban hành kèm theo Quyết định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/8/2014 (Thủ tướng Chính phủ, 2014)
- Về thư viện tài liệu tham khảo: Viện NLNTVN chưa có thư viện lưu trữ sách
và các tài liệu chung cho toàn Viện, hiện tại các tài liệu được giao cho các cán bộ phụ trách công tác thư viện lưu trữ tại phòng lưu trữ của đơn vị Viện NLNTVN mới xây dựng thư viện điện tử phục vụ cho việc tra cứu, tham khảo cho các cán bộ từ năm
2013, và cho tới nay (12/2018), thư viện điện tử có khoảng trên 10.000 tài liệu các loại trong lĩnh vực NLNT
- Về môi trường làm việc nhóm: Các nhóm nghiên cứu sẽ có những trao đổi và phân công cùng thực hiện nghiên cứu hoặc báo cáo khoa học Khi có thành viên trong nhóm được cử đi nước ngoài để đào tạo, thành viên đó sẽ có trách nhiệm thu thập các tài liệu giảng dạy để gửi cho nhóm và chuẩn bị báo cáo để tổ chức các buổi seminar trình bày những kiến thức mình đã được học với các thành viên khác trong nhóm
Các cơ sở làm việc sẽ đi vào hoạt động trong tương lai gồm: Cơ sở Chiếu xạ tại
Đà Nẵng và Trung tâm Khoa học và Công nghệ hạt nhân Trung tâm Khoa học và Công nghệ hạt nhân được dự toán kinh phí xây dựng rất lớn (540 triệu đô), được định hướng xây dựng trở thành cơ sở nghiên cứu hàng đầu trong khu vực, vì vậy, các thiết
kế xây dựng đều phù hợp theo tiêu chuẩn, cơ sở vật chất, trang thiết bị đều là những trang thiết bị hiện đại, đảm bảo các yếu tố về kỹ thuật và an toàn khi sử dụng, vận hành Khi Trung tâm đi vào hoạt động, với điều kiện cơ sở vật chất như vậy, không chỉ
Trang 39thu hút những nhân lực trình độ cao ở trong nước mà còn cả những chuyên gia từ các nước trên thế giới
Ngoài ra, nguồn nhân lực trẻ khi làm việc tại Viện NLNTVN sẽ được trao đổi
và học hỏi được nhiều kinh nghiệm từ các chuyên gia trong nhiều chuyên ngành chuyên môn trong lĩnh vực NLNT Phần lớn những cán bộ nghiên cứu trong Viện đều
là những người yêu ngành, yêu nghề, đã gắn bó với Viện trong nhiều năm, có nhiều kinh nghiệm nghiên cứu và triển khai, luôn sẵn sàng giúp đỡ, truyền thụ những kinh nghiệm của mình cho các cán bộ trẻ
2.2.3 Chính sách tuyển dụng nhân lực ngành NLNT
Viện NLNTVN luôn có kế hoạch tuyển dụng nhân lực cho từng giai đoạn, từng vị trí công việc phù hợp với định hướng phát triển của Viện Nhân lực khoa học và công nghệ ngành NLNT được Viện NLNTVN tuyển dụng dưới các hình thức như sau:
- Tuyển dụng mới các nhân sự đã được đào tạo cơ bản theo các chuyên môn
ở các trường Đại học, chưa có nhiều kinh nghiệm thực tiễn, sau đó đào tạo để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ
- Tuyển dụng nhân lực trình độ cao ở các cơ quan, đơn vị khác: Những nhân
sự này có trình độ chuyên môn cao, có kinh nghiệm thực tiễn, năng lực chuyên môn
đã được khẳng định Viện NLNTVN sẽ thu hút, sắp xếp họ vào những vị trí quan trọng như trưởng các nhóm nghiên cứu ưu tiên hay các vị trí lãnh đạo quản lý
Bảng 2.1 Nhu cầu tuyển dụng nhân lực giai đoạn 2015 - 2020
Nguồn: Ban Kế hoạch và Quản lý khoa học- Viện NLNTVN (2017)
Chính sách tuyển dụng của Viện NLNTVN chịu sự chi phối từ các quy định, chính sách của Chính phủnhư: Luật viên chức (2010); Nghị định số 29/2012/NĐ-
CP ngày 12/4/2012 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức
Trang 40Viện NLNTVN cũng áp dụng hình thức xét tuyển đặc cách không qua thi tuyển đối với các cá nhân có bằng tiến sĩ tại nước ngoài theo các chuyên ngành của Viện Chính sách này được Viện NLNTVN áp dụng theo Quy định về việc sử dụng, trọng dụng cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ, Ban hành kèm theo Nghị định 40/2014/NĐ-CP ngày 12/5/2014 (Chính phủ, 2014) Theo đó, Trong giai đoạn
từ năm 2015-2017, Viện NLNTVN đã tiến hành xét tuyển đặc cách cho 3 trường hợp, xét đặc cách thăng hạng chức danh khoảng 6 cán bộ Các cán bộ được xét tuyển đặc cách đều hòa nhập tốt với môi trường làm việc tại Viện
2.2.4 Chính sách đào tạo, bồi dưỡng nhân lực tại Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam
2.2.4.1 Về thể chế - pháp luật
Các chính sách đào tạo của Viện NLNTVN chịu sự chi phối từ các quy định, chính sách của Chính phủ, Bộ KH&CN, Bộ Giáo dục và Đào tạo như: Luật Năng lượng nguyên tử (2008), Luật Giáo dục đại học (2012), Quy chế đào tạo trình độ tiến sĩ (2011)
Đối với đào tạo trình độ tiến sĩ, Viện NLNTVN đã xây dựng và ban hành các Quy chế đào tạo trình độ tiến sĩ, với quy chế này Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam đã quy định cách thức tuyển sinh, chương trình học, quy định về số lượng cũng như chất lượng của Hội đồng chấm luận án các cấp, quy định về công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ
2.2.4.2 Về trang thiết bị phục vụ đào tạo
Hiện nay, Viện NLNTVN có 16 phòng thí nghiệm và 5 phòng máy tính phục
vụ đào tạo chuyên ngành Vật lý nguyên tử, Vật lý lý thuyết và vật lý toán, Hóa phân tích, Hóa vô cơ.Trong đó có 7 phòng thí nghiệm được đưa vào sử dụng từ cuối những năm 70 và những năm 80, 9 phòng thí nghiệm được đưa vào sử dụng bắt đầu
từ những năm 90 và 2 phòng máy tính được đưa vào sử dụng từ năm 2011
Có thể thấy về trang thiết bị phục vụ đào tạo của Viện còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế trong việc phục vụ công tác đào tạo Do kinh phí hạn hẹp nên việc mua sắm trang thiết bị mới để phục vụ cho công tác đào tạo chưa được chú trọng tới