Thực tế này đã đặt ra những yêu cầu khắt khe về năng lực sáng tạo, trình độ công nghệ đối với doanh nghiệp Việt Nam khi bắt đầu khởi nghiệp, dẫn đến việc chính phủ cần có các biện pháp h
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐÀO THỊ HƯƠNG TRÀ
CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÁC TỔ CHỨC HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP KHỞI NGHIỆP, ĐỔI MỚI SÁNG TẠO, KINH NGHIỆM
QUỐC TẾ VÀ GỢI SUY CHO VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
HÀ NỘI, 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐÀO THỊ HƯƠNG TRÀ
CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÁC TỔ CHỨC HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP KHỞI NGHIỆP, ĐỔI MỚI SÁNG TẠO, KINH NGHIỆM
QUỐC TẾ VÀ GỢI SUY CHO VIỆT NAM
Ngành: Quản lý Khoa học và Công nghệ
Mã số: 8 34 04 12
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS HỒ VIỆT HẠNH
HÀ NỘI, 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của
cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS HỒ VIỆT HẠNH
Các số liệu sử dụng trong luận văn có trích dẫn nguồn rõ ràng, không sao chép của người khác Các kết luận nghiên cứu trong luận văn được đúc kết từ cơ sở lý luận đến thực tiễn của vấn đề luận văn cần giải quyết
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình./
Học viên
ĐÀO THỊ HƯƠNG TRÀ
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÁC
TỔ CHỨC HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP KHỞI NGHIỆP, ĐỔI MỚI SÁNG TẠO 6
1.1 Các khái niệm và đặc điểm của các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo 6 1.2 Những vấn đề cơ bản và quy trình về chính sách phát triển các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo 12 Quy trình chính sách phát triển các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo: 13 1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chính phát triển tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo 17
Chương 2: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÁC TỔ CHỨC HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP KHỞI NGHIỆP, ĐỔI MỚI SÁNG TẠO HIỆN NAY 21
2.1 Bối cảnh chung về khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo tại Việt Nam giai đoạn 2013 – 2019 21 2.2 Chính sách phát triển các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, ĐMST giai đoạn 2013-2018 25 2.3 Đánh giá chính sách phát triển các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo ở Việt nam hiện nay 32
Chương 3: KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÁC TỔ CHỨC HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP KHỞI NGHIỆP, ĐỔI MỚI SÁNG TẠO VÀ GỢI SUY CHO VIỆT NAM 40
3.1 Một số kinh nghiệm quốc tế về chính sách phát triển các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo 40
Trang 53.2 Bài học cho chính sách phát triển các tổ chức doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo của Việt Nam 52 3.3 Định hướng các giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo ở Việt Nam hiện nay 55
KẾT LUẬN 61 TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
4 Khoa học và Công nghệ KH&CN
Trang 7DANH MỤC BẢNG VÀ SƠ ĐỒ
Bảng 1.1: (Nguồn – Tự sưu tầm và phân tích) 7 Bảng 2.2: Thực trạng các tổ chức hoạt động và hỗ trợ phát triển doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam 30 Bảng 2.3 Tổng hợp các biện pháp hỗ trợ startup trong các chính sách của Việt Nam 35
Sơ đồ 1.1: (Nguồn – Internet) 11
Sơ đồ 1.2: Quy trình chính sách – (Nguồn Internet) 13
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu hướng phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 trên thế giới hiện nay, các nước phát triển đều tích cực đầu tư cho hoạt động ứng dụng và khởi nghiệp đổi mới sáng tạo để phát triển nền kinh tế quốc gia, chiếm lĩnh các vị trí dẫn đầu trong các chuỗi sản xuất và cung ứng dịch
vụ toàn cầu Tại Việt Nam, Chính phủ coi khởi nghiệp sáng tạo là một trong những mục tiêu cấp quốc gia nhằm khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệpkhởi nghiệp không ngừng phát triển, tăng tính cạnh tranh trên thị trường quốc tế Khác với khởi nghiệp thông thường, doanh nghiệp hay dự án khởi nghiệp sáng tạo (startups) có khả năng tăng trưởng nhanh về quy mô khách hàng, doanh thu, lợi nhuận dựa trên khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ, mô hình kinh doanh mới nên khởi nghiệp sáng tạo luôn chứa đựng các yếu tố rủi ro cao, nhưng một khi doanh nghiệp khởi nghiệp vượt qua các khó khăn, thách thức ban đầu sẽ đem lại các giá trị xứng đáng góp phần cho sự phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước Theo thống kê của tạp chí Echelon, Singapore (một trong những tạp chí truyền thông trực tuyến lớn nhất về khởi nghiệp ở Đông Nam Á) hiện có khoảng 3000 doanh nghiệp khởi nghiệp ĐMST tại Việt Nam, tăng gần gấp đôi so với số liệu ước tính cuối năm 2015 (khoảng 1800 doanh nghiệp) Đồng thời, số lượng và chất lượng của các doanh nghiệp khởi nghiệp ĐMST cũng ngày càng tăng cao, thể hiện ở số lượng các tổ chức đầu tư, số lượng vườn ươm, khu làm việc chung phát triển mạnh mẽ trong năm 2017 Trong một báo cáo được công bố tại Diễn đàn Khởi nghiệp trẻ năm 2017, Việt Nam được đánh giá dẫn đầu thế giới về chỉ số tinh thần khởi nghiệp và thứ hai về thái độ tích cực với khởi nghiệp
Tuy vậy, phần lớn các doanh nghiệp khởi nghiệp Việt Nam hiện nay đều đang ở giai đoạn đầu của vòng đời phát triển, với giá trị doanh nghiệp còn
Trang 9tương đối thấp Ngoại trừ một số doanh nghiệp tên tuổi có thời gian hoạt động tương đối dài và một số doanh nghiệp nhận được vốn đầu tư trong khoảng vài chục nghìn đến vài triệu đô-la Mỹ, thì phần lớn doanh nghiệp khởi nghiệp ĐMST Việt Nam vẫn chỉ nằm ở giai đoạn ươm mầm Thực tế này đã đặt ra những yêu cầu khắt khe về năng lực sáng tạo, trình độ công nghệ đối với doanh nghiệp Việt Nam khi bắt đầu khởi nghiệp, dẫn đến việc chính phủ cần
có các biện pháp hỗ trợ, đặc biệt cấp thiết hình thành và phát triển các tổ chức
hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, ĐMST đồng thời đòi hỏi phải tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, tạo điều kiện, môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp khởi nghiệp, nhất là nhóm chính sách về đầu tư, vườn ươm khoa học công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực và đổi mới sáng tạo trong điều kiện chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa trên nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và sức cạnh tranh doanh nghiệp
Theo nghiên cứu và khảo sát những năm gần đây có rất nhiều các đề tài, đề án nghiên cứu về các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp ĐMST, tuy nhiên nghiên cứu về chính sách phát triển các tổ chức chuyên sâu
về hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp thì hầu như chưa có nghiên cứu nào thực
sự chuyên sâu, vì vậy, đề tài này sẽ đề cập và nghiên cứu về chính sách phát triển các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, ĐMST trong lĩnh vực KH&CN đồng thời nghiên cứu thực trạng hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Hiện nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu về chính sách phát triển các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo như
là một chủ thể, đối tượng nghiên cứu Một số đề tài liên quan đến doanh nghiệp khởi nghiệp chỉ mới đề cập đến chủ đề quỹ đầu tư mạo hiểm hay việc ươm tạo công nghệ như:
Trang 10- Đề tài cấp bộ năm 2015 “Nghiên cứu xây dựng chính sách khuyến khích tư nhân thành lập hoặc liên kết với nhà nước để thành lập các quỹ đầu
tư mạo hiểm phát triển công nghệ mới, công nghệ cao”
- Đề án “Hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo trên địa bàn thành phố Hà Nội
giai đoạn 2019-2025”.(Thủ tướng chính phủ phê duyệt tại quyết định số
844/QĐ-TTg ngày 18/5/2016)
- Đề án “Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025”;
- Đề án “Vườn ươm doanh nghiệp Công nghệ thông tin đổi mới sáng
tạo Hà Nội” (Quyết định số 6156/QĐ-UBND ngày 07/11/2016)
Ngoài ra còn có những bài viết nghiên cứu về khởi nghiệp trên các tạp chí doanh nghiệp, khoa học và công nghệ Việt nam, ví dụ như: “Cần có chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo khởi nghiệp cấp quốc gia –Trần Thị Thu
Hà – trích số 3 năm 2019” hay “Mô hình ươm tạo ảo hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp tại các làng nghề truyển thống của tác giả Vũ Thị Xen trích số 7 năm 2019” …v.v
Qua những ví dụ cụ thể trên có thể thấy việc chọn nghiên cứu về chính sách phát triển các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, ĐMST như một chủ thể là vô cùng cấp thiết và đúng đắn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng chính sách
và nghiên cứu một số bài học kinh nghiệm quốc tế, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình chính sách phát triển các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo ở Việt Nam
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ cơ sở lý luận của chính sách phát triển các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo và nghiên cứu một số bài học
Trang 11kinh nghiệm về chính sách phát triển các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp của một số quốc gia trên thế giới và gợi suy cho Việt Nam
- Làm rõ thực trạng và nguyên nhân của chính sách phát triển các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo ở Việt Nam hiện nay
- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện chính sáchphát triển các tổ chức
hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo ở Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
- Các chính sách, quy định của Nhà nước trong việc phát triển các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo KH&CN, sau đó đi sâu phân tích một số kinh nghiệm quốc tế và gợi suy cho Việt Nam;
- Một số tổ chức cung cấp dịch vụ, cơ sở vật chất – kỹ thuật, truyền thông, đầu tư cho doanh nghiệp khởi nghiệp, ĐMST KH&CN của Việt Nam (vườn ươm doanh nghiệp, tổ chức tăng tốc kinh doanh, trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học,…);
- Các quỹ đầu tư, nhà đầu tư trong nước và quốc tế
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi đối tượng:
+ Khách thể chính: Cơ chế, chính sách của nước ta nhằm hỗ trợ, hoàn thiện và phát triển các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, ĐMST KHCN trong khuôn khổ các cơ chế chính sách chung của nhà nước;
+ Khách thể phụ: Các chính sách phát triển tổ chức hỗ trợ và các doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo trên thế giới
- Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu khảo sát ở bộ KH&CN, một
số bộ, ngành liên quan, một số tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo trên địa bàn thành phố Hà Nội và tại một số quốc gia cụ thể
- Phạm vi thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu các chính sách của nhà nước từ năm 2013 đến nay
Trang 125 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch
sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và một số thành tựu của khoa học chính sách công, khoa học quản lý, khoa học tâm lý, văn hóa, xã hội, kinh tế, chính trị, pháp luật…
5.2 Phương pháp nghiên cứu lý luận: phân tích, tổng hợp, qui nạp, diễn dịch, đánh giá.v.v…
5.3 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: khảo sát, phỏng vấn sâu, thực nghiệm v.v…
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Làm sáng tỏ thêm cơ sở lý luận liên quan đến bản chất, đặc điểm của các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo;
- Làm rõ quy trình chính sách của nhà nước trong việc phát triển các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo từ khâu phân tích, hoạch định chính sách đến ban hành, thực thi chính sách và đánh giá chính sách phát triển các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo;
- Làm rõ một số kinh nghiệm quốc tế và gợi suy cho Việt Nam;
- Chỉ ra được một số vấn đề thực tiễn của chính sách làm cơ sở cho việc
đề xuất một số giải pháp có tính khả thi để nhằm hoàn thiện chính sách của nhà nước trong việc phát triển các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo
6 Kết cấu của luận văn
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÁC TỔ CHỨC
HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP KHỞI NGHIỆP, ĐỔI MỚI SÁNG TẠO
1.1 Các khái niệm và đặc điểm của các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo
1.1.1 Các khái niệm cơ bản
- Tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp: Là cơ quan, tổ chức hỗ trợ
các doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo được cấp có thẩm quyền giao nhiệm vụ xây dựng, tổ chức thực hiện, phối hợp, giám sát, đánh giá việc thực hiện chính sách hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp
- Doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo: Khởi nghiệp (tiếng
Anh là: startup hoặc start-up) là thuật ngữ chỉ về những công ty đang trong giai đoạn bắt đầu kinh doanh nói chung (Startup company), nó thường được dùng với nghĩa hẹp chỉ các công ty công nghệ trong giai đoạn lập nghiệp Doanh nghiệp khởi nghiệp là một tổ chức được thiết kế nhằm cung cấp sản phẩm và dịch vụ đột phá, sáng tạo trong những điều kiện kinh doanh chưa chắc chắn
- Cơ sở ươm tạo (Incubator):Là các cơ sở cung cấp các điều kiện thuận
lợi về hạ tầng kỹ thuật, nguồn lực và dịch vụ cần thiết phục vụ việc ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao (Theo Luật công nghệ cao số 21/2008/QH12)
- Tổ chức thúc đẩy kinh doanh (Accelerator): là các tổ chức cung cấp
các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp thông qua đào tạo, cấp vốn mồi và tổ chức các sự kiện kêu gọi đầu tư Một chương trình hỗ trợ của các tổ chức này thường kéo dài từ 3 – 4 tháng, tổ chức thúc đẩy sẽ sở hữu một phần
cổ phần của doanh nghiệp khởi nghiệp sau khi cấp vốn mồi
Trang 14- Đầu tư mạo hiểm (Venture Capital): Ở Việt Nam, khái niệm đầu tư
mạo hiểm được chính thức định nghĩa trong Luật Công nghệ cao, năm 2008:
“đầu tư mạo hiểm cho phát triển công nghệ cao là đầu tư cho nghiên cứu phát triển công nghệ cao, hình thành và phát triển doanh nghiệp ứng dụng, sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ công nghệ cao, được thực hiện bằng hình thức góp vốn và tư vấn cho tổ chức, cá nhân nhận đầu tư”
- Quỹ đầu tư mạo hiểm (Venture Capital Fund): Thực hiện đầu tư vào
hoạt động đổi mới công nghệ của một doanh nghiệp hoặc đầu tư để lập ra một doanh nghiệp mới, mà đặc trưng cơ bản của nó là còn thiếu độ tin cậy về kết quả kinh doanh, chưa tỏ rõ khả năng sinh lợi của mình, những nơi mà các thể chế tài chính truyền thống (tín dụng, ngân hàng ) không để ý đến Thay vì cho vay, họ đầu tư vốn để một công ty có thể phát triển, đồng thời có thể nhận lấy một tỷ lệ cổ phần không có lãi cố định hoặc quyền sở hữu cổ phần trong công ty mà họ đầu tư Xét về bản chất, hệ thống tín dụng thông thường không thể thúc đẩy đổi mới công nghệ khi mà khả năng thành công về kỹ thuật và thương mại còn chưa rõ ràng
1.1.2 Một số đặc điểm của doanh nghiệp khởi nghiệp và các tổ chức
hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo
- Đặc điểm nổi bật của doanh nghiệp khởi nghiệp:
Những đặc điểm nổi bật phân biệt doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo với doanh nghiệp vừa và nhỏ thể hiện trong bảng dưới đây:
Bảng 1.1: (Nguồn – Tự sưu tầm và phân tích)
Doanh nghiệp vừa và nhỏ Doanh nghiệp khởi nghiệp,
đổi mới sáng tạo
Ví dụ
-Steve quyết định đã đến lúc theo
đuổi ước mơ của mình và mở
một nhà hàng pizza toàn sử dụng
-Vui mừng bởi những tiềm năng của các kết quả nghiên cứu gần đây của mình, Karen, một giáo sư
Trang 15nguyên liệu hữu cơ từ một công
thức có sẵn Đối với Steve, nhà
hàng là cơ hội để làm việc trở lại
sau thời gian ba năm không có
việc làm toàn thời gian
-Steve coi thành công là một nhà
hàng địa phương thịnh vượng
-Steve đổi mới thành phần độc
đáo của lớp vỏ pizza và công
thức nấu ăn của mình, nhưng
pizza của anh cũng chỉ được
công nhận là một chiếc bánh
pizza
-Steve chủ yếu làm việc một
mình trong một doanh nghiệp cá
thể
Mặc dù việc mở nhà hàng chắc
chắn có những rủi ro nhất định,
tuy nhiên Steve sẽ có cơ hội
thành công khiêm tốn nếu anh
thực hiện tốt công việc của mình
Nếu thành công, anh có thể sẽ
-Karen hy vọng sẽ phục vụ nhiều khách hàng trong các thị trường toàn cầu
-Ngược lại, các tấm năng lượng mặt trời mỏng như tờ giấy của nhóm Karen sẽ làm thay đổi cách thức hoạt động của những người tham gia trong lĩnh vực này
-Karen có một đội ngũ sáng lập viên và sẽ sớm có một hội đồng quản trị và các nhà đầu tư
Việc kinh doanh của Karen rất mạo hiểm và có khả năng (giống như rất nhiều công ty khởi nghiệp công nghệ cao) cô sẽ thất bại, không tạo ra việc làm nào cả Mặt khác, nếu thành công, cô sẽ tạo ra hàng chục đến hàng trăm việc làm cho các tiến sĩ và thạc sỹ về hóa học, kỹ thuật và kinh doanh Cô cũng có thể tạo ra các công việc
Trang 16chế tạo và bán hàng trên khắp thế giới
Kết
quả
Loại hình đầu tiên là khởi sự
kinh doanh với doanh nghiệp
trong phạm vi địa phương đó
Doanh nghiệp thường được tổ
chức theo một nhóm nhỏ, có
quan hệ mật thiết với nhau, có
thể là một doanh nghiệp gia
đình, nơi việc kiểm soát chặt chẽ
doanh nghiệp là rất quan trọng
“Phần thưởng” cho các thành
viên sáng lập doanh nghiệp loại
này là sự tự do cá nhân và dòng
tiền từ việc kinh doanh Về cơ
bản, loại hình doanh nghiệp này
không cần kêu gọi nhiều vốn
Khi rót thêm tiền vào doanh
nghiệp thì nhanh chóng có được
kết quả là tăng thêm doanh thu
và tạo ra công ăn việc làm Như
vậy, doanh nghiệp có thể được
Các hoạt động của Karen thể hiện một loại hình khởi sự được gọi là DNKN ĐMST - sáng lập ra “các doanh nghiệp định hướng ĐMST” theo đuổi các cơ hội toàn cầu dựa trên việc mang đến cho khách hàng những cải tiến mới có lợi thế cạnh tranh rõ ràng và tiềm năng tăng trưởng cao
Vậy thế nào là đồi mới sáng tạo (Innovation)? Khái niệm ĐMST
đã trở thành một thuật ngữ ngày càng sáo rỗng, nhưng có một định nghĩa rất đơn giản mà Bill Aulet của Viện Công nghệ Massachusetts tiếp nhận từ Giáo
sư Ed Roberts cũng của Viện này,
đó là: Đổi mới sáng tạo = Sáng chế × Thương mại hóa
Trang 17phát triển tại địa phương và công
việc mà họ tạo ra hầu hết là các
việc không thể vươn ra toàn cầu
DNNVV thường là các doanh
nghiệp dịch vụ hoặc nhà bán lẻ
các sản phẩm của công ty khác
Yếu tố chính để phân biệt là họ
tập trung vào các thị trường địa
- Rủi ro lớn, mạo hiểm cao
- Đặc điểm về cơ cấu của các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo:
Các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, ĐMST bao gồm nhiều dạng tổ chức như các quỹ phi lợi nhuận, các cơ quan tổ chức của nhà nước, các tổ chức được tạo bởi doanh nghiệp, các mô hình ươm tạo v v Mỗi một
tổ chức có một hình thái, cơ cấu, nguồn vốn riêng, cụ thể như sau:
- Các quỹ phi lợi nhuận là một hình thức pháp nhân độc lập, có con dấu, tài khoản riêng; cung cấp khoản tiền tài trợ hoặc các hỗ trợ cho các tổ chức, cá nhân khác, quỹ có thể được điều hành bởi một tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp như một dạng quỹ cộng đồng hoặc dưới hình thức quỹ cá nhân, thường được tài trợ bởi một cá nhân hoặc gia đình Một số quỹ phi lợi nhuận
Trang 18trên thế giới đầu tư cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo như CFF (Cystic Fibrosis Foundation – Mỹ), Bill & Melinda Gates foundation (quỹ từ thiện lớn nhất thế giới) hay Michael J fox foundation
- Các mô hình ươm tạo: là các nhà cung cấp các dịch vụ nhằm hỗ trợ, đẩy nhanh quá trình phát triển của một doanh nghiệp khởi nghiệp Hiện chính phủ đang đẩy mạnh triển khai dự án xây dựng chính sách đổi mới và phát triển các cơ sở ươm tạo (BIPP)
Đặc điểm về cơ cấu của các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp trong bộ máy nhà nước theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp:
Sơ đồ 1.1: (Nguồn – Internet)
Trang 191.2 Những vấn đề cơ bản và quy trình về chính sách phát triển các
tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo
Khái niệm về chính sách công:
“Chính sách công là những định hướng mục tiêu và biện pháp hành động, được Nhà nước lựa chọn và ban hành như một công cụ quản lý của Nhà nước, nhằm giải quyết các vấn đề công cộng được lựa chọn, và được bảo đảm thực thi bởi các chủ thể có thẩm quyền”
Từ những nghiên cứu về chính sách công và hoạt động phát triển các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, hiện nay vẫn chưa
có khái niệm cụ thể về chính sách phát triển các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo Vì thế, tác giả xin phép được đưa ra quan điểm
cá nhân của mình, quan điểm sẽ xuyên suốt toàn bộ quá trình nghiên cứu
Luận văn này Theo đó, tác giả hiểu rằng chính sách phát triển các tổ chức
hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo là những định hướng, mục tiêu và biện pháp hành động, được Nhà nước lựa chọn và ban hành như một công cụ quản lý của Nhà nước, nhằm giải quyết các vấn đề có liên quan
và thúc đẩy sự phát triển của các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, được bảo đảm thực thi bởi các chủ thể có thẩm quyền
Mục tiêu của chính sách:
Với mục tiêu cụ thể là giải quyết các vấn đề còn tồn tại và khuyến khích sự phát triển của các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, nhằm giúp cho các tổ chức này có một cơ chế hoạt động và môi trường chính sách linh hoạt, tạo động lực để các tổ chức hoạt động và phát huy được những thế mạnh thúc đẩy các doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo Chính sách sẽ tạo động lực và định hướng phát triển cho nhóm tổ chức này và gián tiếp thúc đẩy việc phát triển của các doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo
Trang 20Quy trình chính sách phát triển các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo:
Quy trình chính sách là một chuỗi các giai đoạn kế tiếp có liên quan với nhau từ khi lựa chọn được vấn đề chính sách công đến khi kết quả của chính sách được đánh giá Một quy trình chính sách có thể quy về 3 giai đoạn cơ bản là: hoạch định chính sách, thực thi chính sách, đánh giá chính sách và đan xen trong đó là quá trình phân tích chính sách tại từng giai đoạn
Sơ đồ 1.2: Quy trình chính sách – (Nguồn Internet)
Các giai đoạn này có liên hệ chặt chẽ với nhau theo nguyên tắc: giai đoạn trước là nền tảng cho giai đoạn tiếp theo và kết quả của giai đoạn trước
là thông tin cần và đủ cho giai đoạn tiếp theo Về thực chất, khó có thể mô tả tiến trình chính sách một cách đơn giản và rõ ràng, vì vừa có tính liên tục, vừa
có tính biến động Thực tế cho thấy rất khó xác định một chính sách nào đó hoàn toàn ổn định trong một thời gian dài vì chính sách thay đổi thường xuyên và cần được điểu chỉnh, bổ sung theo hướng ngày càng hoàn thiện
a Hoạch định chính sách
Hoạch định chính sách: Là toàn bộ quá trình nghiên cứu, xây dựng và ban hành đầy đủ một chính sách Đây được coi là một loại quyết định quản lý đặc biệt cho cả một giai đoạn tồn tại phát triển của xã hội nhằm đạt mục tiêu quản lý
Hoạch định chính sách có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với một chính sách: Mở đường cho cả tiến trình chính sách; Khởi xướng được những
Hoạch định chính sách
Thực thi chính sách Đánh giá
chính sách
Trang 21vấn đề mà xã hội cần giải quyết bằng chính sách và giúp cho việc củng cố niềm tin của dân chúng vào nhà nước; Thu hút được các bộ phận chức năng của toàn hệ thống quản lý vào những hoạt động theo định hướng và truyền đạt được cơ chế quản lý của nhà nước đến nền kinh tế trong từng thời kỳ
Hoạch định chính sách gồm có các bước: Xác định mục tiêu hoạch định chính sách; Xây dựng dự thảo các phương án chính sách; Lựa chọn phương án
dự thảo tốt nhất; Hoàn thiện phương án lựa chọn; Thẩm định phương án chính sách công; Quyết định ban hành chính sách công và công bố chính sách
Công tác hoạch định chính sách phát triển tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo là toàn bộ quá trình từ khi xác định được tính cấp thiết của việc cần có những chính sách, cơ chế cụ thể đối với những tổ chức này nhằm thúc đẩy các hoạt động của tổ chức, từ đó đẩy nhanh quá trình khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo của các doanh nghiệp Đây là bước rất quan trọng trong quy trình chính sách, thông qua nghiên cứu, điều tra và rút ra kết luận về những vấn đề còn tồn tại trong hoạt động của các tổ chức hỗ trợ đoanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, thăm dò ý kiến, nguyện vọng của các tổ chức này, từ đó đề xuất các giải pháp khắc phục một cách phù hợp với tình hình phát triển chung của nền kinh tế, tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển của các tổ chức này
b Tổ chức thực thi chính sách
Tổ chức thực thi chính sách là một khâu hợp thành quy trình chính sách, là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể trong chính sách thành hiện thức với các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu định hướng Nếu đưa vào thực thi một chính sách tốt mang lại lợi ích to lớn cho các nhóm đối tượng thụ hưởng, góp phần làm tăng uy tín của Nhà nước
Các bước tổ chức thực thi chính sách: Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách công: Phổ biến, tuyên truyền chính sách công; Phân
Trang 22công, phối hợp thực hiện chính sách công; Duy trì chính sách công; Điều chỉnh chính sách công; Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách công; Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm
Những yêu cầu cơ bản đối với tổ chức thực thi chính sách: Thực hiện mục tiêu: Bảo đảm tính hệ thống; Các cơ quan nhà nước phải bảo đảm tính pháp lý, khoa học và hợp lý trong tổ chức thực hiện chính sách công; Yêu cầu bảo đảm lợi ích thật sự cho các đối tượng thụ hưởng
Sau khi xây dựng và ban hành chính sách phát triển các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, quá trình chuyển hóa những quyết định này thành hành động thực tế chính là bước thực thi chính sách trong quy trình Tại đây, chính sách được cụ thể hóa bằng các kế hoạch, chương trình triển khai cụ thể qua các thông tư, văn bản điều hành và bắt đầu
có hiệu lực thi hành tại thời điểm ban hành chính sách Các tổ chức nắm vai trò thực thi và đối tượng thực thi sẽ phân công, phối hợp việc thực hiện, cụ thể ở đây là Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch & Đầu tư, Bộ Khoc học & Công nghệ cùng các ban ngành có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Bên cạnh đó, đối tượng chính sách (các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo) sẽ chịu tác động trực tiếp từ chính sách Chính sách được triển khai thí điểm tại địa phương hay một nhóm doanh nghiệp, tổ chức trong giai đoạn đầu nhằm đưa ra được những đánh giá cơ bản về mức độ phù hợp, tính hiệu quả của chính sách và tiếp tục được duy trì, mở rộng phạm vi triển khai nhằm thu được nhưng kết quả, nhận định ban đầu về hiệu quả chính sách Cũng trong bước thực thi chính sách, việc phân tích, đánh giá chính sách được đan xen trong suốt quá trình, khi nhận thấy được những vấn đề còn tồn tại trong quá trình triển khai, đơn vị, ban ngành chịu trách nhiệm hoạch định, triển khai sẽ rút ra được những hạn chế, thiếu xót của chính sách, từ đó tổng hợp, làm nền tảng cho việc đánh giá tổng thể, chỉnh sửa, bổ sung sau quá trình thực hiện
Trang 23c Đánh giá chính sách
Đánh giá chính sách: là việc kiểm tra thực tế một cách có hệ thống những tác động của việc thực hiện các giải pháp chính sách để từ đó xác định liệu có đạt mục tiêu mong muốn hay không Thông qua việc đánh giá chính sách, các nhà hoạch định chính sách có thể rút ra những bài học về thiết lập chương trình xây dựng chính sách hoặc các công cụ chính sách
Sử dụng các tiêu chí đánh giá chính sách: Qua việc phân tích các tiêu chí đánh giá chính sách có thể biết được khi nào thì vấn đề sẽ được giải quyết khi nào một chính sách hợp lý đã xây dựng xong; Nhà phân tích có thể so sánh được các phương án chính sách đệ trình để đưa ra lời khuyến nghị lựa chọn tốt nhất; Các tiêu chí được xem như các quy tắc bắt buộc phải tuân thủ,
do đó nó giúp cho các nhà phân tích tránh được những sự chi phối hoặc cám
dỗ trong quá trình xây dựng và lựa chọn các phương án chính sách; Các tiêu chí cùng với hệ công cụ đo lường giúp cho các nhà phân tích xác định rõ các giá trị, các mục đích, và các mục tiêu của nhóm đối tượng chịu sự tác động của chính sách lựa chọn, xác định rõ những kết quả đầu ra của mỗi giải pháp
Nội dung đánh giá chính sách bao gồm: Đánh giá đầu vào; Đánh giá đầu ra; Đánh giá hiệu lực; Đánh giá hiệu quả; Đánh giá quá trình
Đây là bước cuối cùng trong quy trình chính sách và cũng là nền tảng
để thực hiện quy trình chính sách mới Thông qua quá trình triển khai, thực hiện, các đối tượng hoạch định, thực thi, giám sát chính sách sẽ đưa ra được những đánh giá quan trọng về tính hiệu lực, hiệu quả của chính sách Dựa trên các tiêu chí đánh giá được xây dựng chính sách được đánh giá trong suốt quá trình từ hoạch định đến thực thi trong thực tế từng giai đoạn và phân tích kết quả đầu ra Từ đó rút ra kết luận chính sách có đạt hiệu quả hay không, chính sách mang lại những thành tựu, tác động tích cực nào đến nhóm đối tượng chính sách cụ thể ở đây là tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo và những hạn chế, tồn tại của chính sách trong quá trình thực hiện
Trang 24Kết quả đánh giá này là cơ sở để các tổ chức, cá nhân trực tiếp thực hiện, triển khai các quy trình chính sách có nền tảng để xem xét, chỉnh sửa, bổ sung trong thời gian tiếp theo để chính sách ngày một hoàn thiện hơn
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chính phát triển tổ chức hỗ trợ
doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo
- Môi trường thể chế, pháp luật: Hệ thống pháp luật tạo nên những khuôn khổ pháp lý quy định và điều chỉnh tất cả các quan hệ xã hội, vì vậy các chính sách phát triển tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo khi ban hành phải căn cứ vào hệ thống pháp luật hiện hành, không được trái với quy định pháp luật hiện hành, bên cạnh đó, chính sách cũng là một nguồn tạo ra những thể chế pháp luật mới
- Điều kiện kinh tế chính trị, văn hóa xã hội nơi chính sách được xây dựng: Tại Việt Nam, các chính sách tồn tại với môi trường phong phú, đa dạng bao gồm môi trường kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, tự nhiên Các môi trường này lại biến động không đều nhau trong từng thời kỳ phát triển, chúng đan xen vào nhau, tác động phức tạp đến sự tồn tại của chính sách Vì thế, căn cứ vào môi trường tồn tại trong thực tế và tương lai để xây dựng những chính sách phù hợp trong từng giai đoạn phát triển
- Năng lực thực tế của các cơ quan hoạch định chính sách: Kết quả của chính sách phát triển tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo phụ thuộc rất nhiều vào năng lực hoạch định, tổ chức, điều hành của hệ thống các cơ quan công quyền cũng như khả năng huy động và sử dụng các nguồn lực công để phục vụ cho công tác hoạch định, tổ chức, điều hành chính sách của các cơ quan này Năng lực hoạch định chính sách của đội ngũ cán bộ lãnh đạo nhà nước đóng một vai trò quan trọng, đòi hỏi đội ngũ lãnh đạo phải luôn nâng cao năng lực chuyên môn cũng như khả năng lãnh đạo điều hành chính sách, phải thường xuyên rèn luyện, bồi dưỡng nhằm nâng cao năng lực
Trang 25phân tích, quản lý, lựa chọn, giải quyết vấn đề và ra quyết định, v.v… Ngoài
ra, quá trình ra quyết định chính sách có thể cho kết quả tích cực hoặc tiêu cực tùy thuộc vào khả năng của các cơ quan này trong việc huy động, bố trí
và sử dụng nguồn nhân lực
- Năng lực thực tế của đối tượng thực thi chính sách: Chính sách cần căn cứ vào trình độ của các đối tượng thực thi để xác định mục tiêu, biện pháp cho thích hợp Cụ thể, đối với những đối tượng có trình độ chuyên môn thấp, cần phải đưa ra những chính sách cụ thể, rõ ràng, kèm theo đó là những hướng dẫn chi tiết về quá trình thực hiện Đối với những đối tượng có trình
độ, năng lực tốt hơn, cần tạo ra những không gian chính sách để họ có cơ hội vận dụng khả năng sáng tạo, tìm kiếm các biện pháp, công cụ chính sách phù hợp và cụ thể đối với chính sách này, đối tượng thực thi là các tổ chức, doanh nghiệp hỗ trợ khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo thì đa số thuộc nhóm đối tượng
có năng lực, trình độ tốt Ngoài ra, mỗi đối tượng thực thi chính sách hay một cộng đồng chính sách đều chứa đựng những tiềm lực kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội Nếu các nhà hoạch định chính sách biết khai thác và sử dụng đúng những tiềm lực này thì quá trình ra quyết định chính sách sẽ diễn ra thuận lợi
và thông suốt
- Nhân tố tự thân chính sách: tính chất của vấn đề chính sách là yếu tố gắn liền với mỗi vấn đề chính sách, có tác động trực tiếp đến cách giải quyết vấn đề bằng chính sách và tổ chức thực thi chính sách Nếu vấn đề chính sách
là đơn giản, liên quan đến ít đối tượng chính sách thì công tác tổ chức thực thi chính sách sẽ thuận lợi hơn
- Nguồn lực chính sách: Điều kiện vật chất cần cho quá trình thực thi chính sách là yếu tố ngày càng có vị trí quan trọng để cùng với yếu tố nhân sự
và các yếu tố khác thực hiện thắng lợi chính sách Để xây dựng và thực thi được chính sách phát triển tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới
Trang 26sáng tạo cần một nguồn lực vật chất và nhân sự đảm bảo, trong đó yếu tố con người (năng lực, nguồn nhân lực) đóng vai trò vô cùng quan trọng, bên cạnh
đó nguồn lực vật chất tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng
- Năng lực của cán bộ quản lý: Năng lực thực thi chính sách của cán bộ công chức trong bộ máy quản lý là yếu tố chủ quan có vai trò quyết định đến kết quả tổ chức thực thi chính sách Năng lực thực thi của cán bộ, công chức
là thước do bao gồm nhiều tiêu chí phản ánh về đạo đức, công cụ, về năng lực thiết kế tổ chức, năng lực thức tế, năng lực phân tích, dự báo để có thể chủ động ứng phó được với những tình huống phát sinh trong tương lai Các cán
bộ công chức khi được giao nhiệm vụ tổ chức thực thi chính sách, cần nêu cao tinh thần trách nhiệm và chấp hành tốt kỷ luật công vụ trong lĩnh vực này mới đạt hiệu quả thực thi Nếu thiếu năng lực thực tế, các cơ quan có thẩm quyền
tổ chức thực thi chính sách sẽ đưa ra những kế hoạch dự kiến không sát thực
tế, làm lãng phí nguồn lực huy động, làm giảm hiệu lực, hiệu quả của chính sách, thậm chí còn làm biến dạng chính sách trong quá trình thực thi
sự hỗ trợ về các nguồn lực và tài chính khác nhau từ nhà nước và các cơ quan quản lý liên quan
Trang 27Từ những phân tích trên, Chính phủ và các bộ ngành liên quan cần đưa ra những chính sách phát triển các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp như sau:
- Thứ nhất, hạn chế các rủi ro cho các tổ chức hỗ trợ, nhà nước cần có biện pháp chia sẻ những rủi ro trong hoạt động đầu tư mạo hiểm:
+ Rủi ro đối với ngân hàng có thể được chia sẻ thông qua hoạt động bảo lãnh công nghệ trong tín dụng;
+ Rủi ro đối với các nhà đầu tư có thể được chia sẻ khi nhà nước đối ứng với vốn đầu tư của các quỹ ĐTMH, các nhà đầu tư thiên thần,…
- Thứ hai, nhà nước cần tham gia vào hoạt động đầu tư mạo hiểm cho các lĩnh vực khoa học và công nghệ có thể mang lại nhiều lợi ích cho xã hội
và kinh tế quốc gia như công nghệ sinh học, vật liệu mới
- Thứ ba, nhà nước cần hỗ trợ đầu tư vào các tổ chức giúp cho doanh nghiệp trong giai đoạn đầu có thể bằng cách trực tiếp đầu tư hoặc đối ứng đầu
tư với các nhà đầu tư thiên thần và các quỹ đầu tư cho giai đoạn đầu
- Thứ tư, nhà nước cần hỗ trợ, đầu tư cho các hoạt động đào tạo, tập huấn khởi nghiệp, nâng cao tinh thần khởi nghiệp nhất là tại các trường đại học, đây chính là đầu vào dồi dào cho các ý tưởng công nghệ khởi nghiệp
- Cuối cùng, nhà nước cần đóng vai trò quan trọng trong việc truyền thông,
kết nối các nhà đầu tư với các sáng chế, các kết quả nghiên cứu có tiềm năng
Trang 28Chương 2 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÁC TỔ CHỨC HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP KHỞI NGHIỆP, ĐỔI MỚI SÁNG TẠO HIỆN NAY
2.1 Bối cảnh chung về khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo tại Việt Nam giai đoạn 2013 – 2019
2.1.1 Thực trạng về doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo
Có thể nói phong trào khởi nghiệp đã bắt đầu hình thành trong một vài năm trở lại đây, đặc biệt với sự thành công của doanh nhân công nghệ Nguyễn Hà Đông với trò chơi Flappy Bird được biết đến trên truyền thông thế giới Ngoài ra, một số điển hình doanh nghiệp khởi nghiệp đã thành công có thể kể đến công ty thương mại điện tử Vatgia với trị giá gần 75 triệu USD, VNG khoảng 1 tỷ USD… và một số doanh nghiệp khởi nghiệp Việt Nam gọi được vốn một vài triệu USD như Tiki, CocCoc, Foody, The Kafe Trong năm
2015 và đầu năm 2016 cũng đã có một số doanh nghiệp mới nổi, nhận được vốn đầu tư khoảng một vài trăm ngàn USD như Lozi, Triip.me, Beeketing, Bigtime,… Đặc điểm chung của các doanh nghiệp này là hầu hết trong lĩnh vực công nghệ thông tin (CNTT) và ứng dụng của thông tin trong các ngành dịch vụ như thương mại điện tử, games, du lịch, truyền thông, giáo dục do quy mô mở rộng thị trường của lĩnh vực khi có thêm một người sử dụng thì chi phí cận biên của sản phẩm tịnh tiến đến không thì lợi nhuận được tối đa Các lĩnh vực khởi nghiệp khác rất thành công trên thế giới như y tế, môi trường, nông nghiệp cũng đã bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam nhưng chưa nhiều và chưa có câu chuyện thành công nổi bật Hiện chưa có thống kê chính thức số lượng doanh nghiệp khởi nghiệp ở Việt Nam, lĩnh vực hoạt động và giai đoạn phát triển của họ Theo thống kê của tạp chí khởi nghiệp Techinasia Đông Nam Á, Việt Nam có khoảng gần 1000 doanh nghiệp khởi nghiệp, hầu hết trong lĩnh vực CNTT
Trang 292.1.2 Thực trạng về các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo ở Việt Nam hiện nay
- Về các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp Khoa học và Công nghệ
Về các đơn vị ươm tạo, hỗ trợ khởi nghiệp có các tổ chức nổi bật trong khu vực tư nhân như Topica Founder Insititute, 5 Desire, Hatch!Program và khu vực công lập như vườn ươm đã được thành lập trong Đại học Bách khoa
Hà Nội, Khu Công nghệ cao Hòa Lạc (Bộ KH&CN), Vườn ươm doanh nghiệp chế biến thực phẩm Hà Nội (HBI), Đại học Bách khoa TP HCM, Khu Nông nghiệp Công nghệ cao TP.HCM, Khu Công nghệ Phần mềm Đại học Quốc gia TP HCM
Về các hoạt động khác của cộng đồng khởi nghiệp, một số sự kiện nổi bật dành cho khởi nghiệp ở Việt Nam cũng như trong khu vực mà doanh nghiệp khởi nghiệp Việt Nam có thể tham gia bao gồm Demo Asean, Startup Asean, BarcampSaigon, Mobile Day, Startup weekend (NEXT), Start me up, Techcamp Saigon, Tech talks, Google for Entrepreneur week, Web Wednesday
Một số cộng đồng khởi nghiệp lớn bao gồm Starthub.vn, Twenty.vn, Startup.vn và Launch, là trung tâm của các hoạt động trao đổi online giữa các nhóm khởi nghiệp, có số người tham gia vượt quá 14.000 người Một số trang thông tin về khởi nghiệp như techinasia.com, techdaily.vn, action.vn, ICTnews.vn, pandora.vn,… cũng là nơi startup có thể cập nhật thông tin thường xuyên về tình hình khởi nghiệp, tình hình phát triển của các doanh nghiệp nói chung, những trường hợp sát nhập, mua bán, gọi vốn lớn cũng như nâng cao kỹ năng quản lý và kinh doanh cho mình
Ngoài ra, những cuộc thi khởi nghiệp dành cho sinh viên, nhà nghiên cứu trẻ như Cuộc thi khởi nghiệp quốc gia do Phòng Thương mại và Công nghiệp (VCCI) tổ chức, Cuộc thi khởi nghiệp cùng Kawai tổ chức bởi Đại
Trang 30học Ngoại thương Hà Nội và gần đây là Cuộc thi Bánh xe khởi nghiệp 2015 (Startup Wheel) do Trung tâm Hỗ trợ Thanh niên Khởi nghiệp (BSSC) trực thuộc Hội LHTN Việt Nam và Hội doanh nhân trẻ TPHCM (YBA) đồng tổ chức, Ngày hội Khởi nghiệp và Công nghệ (TechFest 2015) do Bộ KH&CN và Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức với hàng trăm nhóm khởi nghiệp tham gia cũng chứng tỏ phong trào khởi nghiệp đang diễn ra khá sôi nổi
- Về tổ chức đầu tư mạo hiểm cho doanh nghiệp khởi nghiệp Khoa
học và Công nghệ
Ở Việt Nam, IDG Ventures Vietnam có thể coi là quỹ đầu tư cho startup trong lĩnh vực công nghệ tồn tại lâu nhất ở Việt Nam và đã mang vào Việt Nam 100 triệu USD để đầu tư cho các start-up tiềm năng trong vòng 10 năm trở lại đây Ngoài ra, CyberAgent Ventures, quỹ đầu tư của Nhật Bản cũng là một trong những quỹ đầu tư tích cực nhất ở Việt Nam Tại thời điểm hiện tại, quỹ đang tìm kiếm cơ hội để đầu tư cho startup trong lĩnh vực thương mại điện tử (e-commerce)
DFJ Vinacapital hay Sumitomo là những tên quỹ đầu tư mới tham gia vào thị trường nhưng cũng đã có những khoản đầu tư lớn vào giai đoạn sau trong quá trình phát triển của startup (series B) Cụ thể, DFJ Vinacapital đầu
tư 2 triệu USD cho công ty xây dựng phần mềm quyết toán thuế TS24 trong khi Sumitomo đầu tư 2 triệu USD cho tiki.vn Có những quỹ/công ty lại lựa chọn đầu tư vào giai đoạn đầu phát triển của startup như PVNI đầu tư cho startup trong lĩnh vực giáo dục, thực phẩm hay OneCapitalWay đầu tư cho một số startup trong lĩnh vực e-commerce Ngoài ra còn một số công ty/quỹ đầu tư khác
từ Việt Nam cũng như trong khu vực như Kusto Tiger IT Fund, IDT, Mekong Capital, Cloud Funding, VI Corporation, Gale Greek Investment
Những quỹ/công ty đầu tư này đã góp phần tạo nên tên tuổi của một số doanh nghiệp khởi nghiệp thành công, nhất là trong lĩnh vực games, internet
và e-commerce
Trang 31Các doanh nghiệp khởi nghiệp KH&CN trong nước thông thường chỉ dựa vào tài chính của gia đình, bạn bè, người thân và trong một số trường hợp là các thầy, cô hướng dẫn tại nhóm khởi nghiệp tại trường đại học Tuy nhiên, những khoản đầu tư này thường không đáng kể và chỉ trong giai đoạn đầu phát triển của doanh nghiệp Hầu hết những nhà đầu tư thuộc loại hình này cũng không giúp được nhóm khởi nghiệp nhiều trong định hướng sản phẩm, phát triển kế hoạch kinh doanh nên rất nhiều nhóm đã rơi vào tình thế khó khăn về mặt tài chính và thị trường
Ngoài những quỹ đầu tư lớn và gia đình, người thân, các doanh nghiệp khởi nghiệp còn có thể dựa vào các nhà đầu tư cá nhân chuyên nghiệp, hay còn gọi là các nhà đầu tư thiên thần (angel investor) Các CLB/ Quỹ của các nhà đầu tư thiên thần (nhà đầu tư cá nhân cho khởi nghiệp) đang dần được hình thành như CLB Hatch!Angels của một số nhà đầu tư thiên thần tại Hà Nội, CLB nhà đầu tư thiên thần thuộc CLB doanh nghiệp dẫn đầu (LBC) tại
TP HCM, Quỹ Khởi nghiệp doanh nghiệp KH&CN Việt Nam (Vietnam Startup Foundation - VSF) do chủ nhiệm Đề án Thương mại hóa công nghệ theo mô hình thung lũng Silicon tại Việt Nam – trực thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ đứng đầu, Quỹ Seed for action (Ươm mầm hành động) do các nhà đầu tư người Việt Nam ở nước ngoài khởi xướng, Tuy nhiên, ở Việt Nam, khái niệm về đầu tư mạo hiểm, đầu tư thiên thần hay đầu tư cho khởi nghiệp là khái niệm mới, đi kèm với rủi ro cao và yêu cầu chuyên môn sâu, do đó trên thị trường chưa có nhiều nhà đầu tư theo hình thức này
Việc thiếu các khoản đầu tư mạo hiểm là một trong những lý do khiến doanh nghiệp khởi nghiệp Việt Nam có nguy cơ thất bại cao Theo đánh giá chung của IDG Ventures Việt Nam, tỷ lệ thất bại của startup ở Việt Nam là khoảng 80% trong ba năm đầu tiên
Trang 322.2 Chính sách phát triển các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, ĐMST giai đoạn 2013-2018
Trong hệ thống chính sách về KH&CN đã có những chính sách liên quan đến việc phát triển các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp ĐMST KH&CN như:
- Chính phủ vừa quy định nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Nghị định số 39/2018/NĐ-CP Theo Nghị định trên, các doanh nghiệp nhỏ và vừa được hưởng nhiều chính sách hỗ trợ từ nhà nước như: hỗ trợ thông tin, tư vấn, phát triển nguồn nhân lực, chuyển đổi từ hộ kinh doanh, khởi nghiệp sáng tạo, tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị
- Dự thảo Nghị quyết 19-2019/NQ-CP: Khuyến khích DN đổi mới sáng tạo Tại Dự thảo Nghị quyết 19-2019, Chính phủ giao nhiệm vụ đối với từng
bộ, ngành nhằm nâng cao trách nhiệm của các đơn vị này
Cụ thể, Đối với Bộ Khoa học và Công nghệ, Chính phủ giao trong quý II/2019 trình Thủ tướng Chính phủ dự thảo Quyết định bổ sung, sửa đổi quy hoạch và chức năng của Khu công nghệ cao Hòa Lạc theo hướng từ năm 2019 chỉ thu hút đầu tư các loại công nghệ của CMCN 4.0; đồng thời hỗ trợ hoạt động của Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia…
Bộ Tài chính được giao chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ sửa đổi ban hành trước tháng 6/2019 thông tư liên tịch hướng dẫn nội dung chi và quản lý quỹ phát triển khoa học và công nghệ của DN theo hướng cho phép DN tự chủ, tự quyết định sử dụng quỹ nghiên cứu và phát triển cho hoạt động nghiên cứu và phát triển của DN; cho phép DN nhà nước sử dụng quỹ phát triển khoa học công nghệ của DN đầu tư vào các DN đổi mới sáng tạo và không
bị coi là làm thất thoát tài sản nhà nước nếu đầu tư không thành công
- Nghị định số 96/2010/NĐ-CP ngày 20/09/2010 Sửa đổi, bổ sung một
số điều của Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 05 tháng 09 năm 2005 của
Trang 33Chính phủ quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức KH&CN công lập và Nghị định số 80/2007/NĐ-CP ngày 19 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ về doanh nghiệp KH&CN (gọi tắt là “Nghị định 96”) Ngoài ra, các chương trình quốc gia như Chương trình hỗ trợ phát triển doanh nghiệp KH&CN và tổ chức KH&CN công lập thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm (Chương trình 592) và Chương trình Phát triển thị trường công nghệ đến năm 2020 (Chương trình 2075) cũng có một số hỗ trợ liên quan gián tiếp đến hoạt động khởi nghiệp như hỗ trợ về mặt ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp KH&CN, sản xuất thử nghiệm, tiếp cận các phòng thí nghiệm trọng điểm, đăng ký sở hữu trí tuệ đối với kết quả nghiên cứu của doanh nghiệp, tổ chức sự kiện, truyền thông về việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu, đào tạo các tổ chức trung gian của thị trường KH&CN
- Ngoài các hỗ trợ từ ngân sách nhà nước, một số chương trình, dự án sử dụng vốn ODA của nước ngoài hiện cũng đang có các dự án hỗ trợ khởi nghiệp, điển hình như:
+ Dự án “Đẩy mạnh đổi mới sáng tạo thông qua nghiên cứu KH&CN” (FIRST) giữa Bộ KH&CN và Ngân hàng thế giới hướng đến mục tiêu hỗ trợ nâng cao năng suất, khả năng cạnh tranh và chất lượng tăng trưởng của nền kinh
tế Việt Nam thông qua việc tăng cường hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển và ứng dụng công nghệ, thúc đẩy mạnh mẽ các hoạt động sáng tạo, đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp để tạo thêm giá trị gia tăng cho nền kinh tế FIRST có nhiều cấu phần, trong đó có cấu phần hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp KH&CN để thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu của mình
+ Chương trình Đối tác đổi mới sáng tạo Việt Nam – Phần Lan (IPP) đang khởi động giai đoạn 2 hầu hết hướng đến việc hỗ trợ các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động ĐMST và các doanh nghiệp KH&CN khởi nghiệp, các tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp IPP hỗ trợ cả bằng tài chính và các khóa đào
Trang 34tạo, tập huấn, tư vấn có sự tham gia của các chuyên gia trong nước và quốc tế nhằm nâng cao năng lực cho các đối tượng thụ hưởng
+ Dự án “Dự án Hỗ trợ xây dựng chính sách đổi mới và phát triển các
cơ sở ươm tạo doanh nghiệp” Việt – Bỉ (BIPP) hỗ trợ Bộ KH&CN xây dựng
và hoàn thiện khung pháp lý để thúc đẩy việc thành lập và vận hành các vườn ươm KH&CN nhằm tăng cường khu vực doanh nghiệp KH&CN NVV; Hỗ trợ hoạt động cho một cơ sở ươm tạo doanh nghiệp KH&CN tại Hà Nội và tại
TP HCM; Hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân, các doanh nghiệp hiện đang hoạt động, đặc biệt là các doanh nghiệp tiềm năng trở thành Doanh nghiệp KH&CN; Cộng đồng KH&CN bao gồm khoảng 1500 tổ chức KH&CN, …
+ Quỹ đổi mới công nghệ Quốc gia (NATIF) và Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp KH&CN và tổ chức KH&CN công lập thực hiện cơ chế tự chủ,
tự chịu trách nhiệm cũng có những nội dung hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp để hoàn thiện công nghệ, sản phẩm của mình cũng như sản xuất thử nghiệm các sản phẩm đó trước khi đưa ra thị trường
Tuy nhiên, các văn bản và chương trình nêu trên chưa hỗ trợ được toàn
bộ quá trình phát triển phát triển của doanh nghiệp khởi nghiệp KH&CN: từ việc hình thành ý tưởng, phát triển ý tưởng thành kế hoạch kinh doanh đến tiếp cận thị trường và mở rộng quy mô Hầu hết các chương trình chỉ hỗ trợ khi doanh nghiệp đã được thành lập và hoạt động được một thời gian chứ chưa hỗ trợ bước hình thành và phát triển ý tưởng khởi nghiệp Ngoài ra, một trong những vấn đề quan trọng nhất cần được quan tâm trong việc hỗ trợ hình thành và phát triển doanh nghiệp khởi nghiệp là đầu tư mạo hiểm lại chưa được quan tâm đúng mức trong các văn bản chính sách và các chương trình Mặc dù Luật Công nghệ cao ra đời năm 2008 có đề cập đến việc “Nhà nước
Trang 35khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế tham gia hoạt động đầu tư mạo hiểm cho phát triển công nghệ cao, thành lập quỹ đầu tư mạo hiểm công nghệ cao tại Việt Nam” và thành lập “Quỹ đầu tư mạo hiểm công nghệ cao quốc gia” nhưng cho đến nay vẫn chưa có cơ chế để thành lập các quỹ nói trên Quy định của Bộ luật hình sự về "tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước", "tội lập quỹ trái phép", "tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng" và các quy định về “bảo toàn và gia tăng giá trị vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp” tại Luật Ngân sách nhà nước và Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp cũng trở thành rào cản vô hình cho việc nhà nước đầu
tư vào việc ươm tạo và phát triển doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo
Nhận thức được vai trò của doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trong việc phát triển nền kinh tế tri thức, đưa các kết quả nghiên cứu sáng tạo vào ứng dụng trong thực tế, ngày 04/6/2013, Bộ KH&CN đã phê duyệt “Đề
án thương mại hóa công nghệ theo mô hình Thung lũng Silicon tại Việt Nam” (VSV) (Quyết định số 1383/QĐ-BKHCN) Mục tiêu của Đề án là thúc đẩy thương mại hóa công nghệ ưu tiên thuộc các lĩnh vực năng lượng, y sinh, cơ khí, tự động hóa, vật liệu mới, công nghệ thông tin và viễn thông theo mô hình Thung lũng Silicon và xây dựng mối quan hệ giữa quỹ đầu tư mạo hiểm
và doanh nghiệp khởi nghiệp
Sau 2 năm triển khai, Đề án đã đạt được nhiều thành công đáng kể Hàng loạt các hội thảo được tổ chức để kết nối giữa doanh nghiệp khởi nghiệp trong nước với các nhà đầu tư trong nước và thế giới Đặc biệt, VSV đã tổ chức thành công khóa tập huấn tập trung (bootcamp) trong vòng 4 tháng để hỗ trợ khởi nghiệp chuyên sâu cho 9 nhóm khởi nghiệp, được lựa chọn từ hơn
Trang 3690 các dự án/doanh nghiệp khởi nghiệp tiềm năng trên cả nước Trong hai năm 2014 - 2015 đã có 4/9 nhóm nhận được lựa chọn tham gia chương trình huấn luyện tâp trung đã gọi thành công vốn đầu tư vòng tiếp theo – Chuỗi A (serie A), trong đó có nhóm Big Time – cung cấp công cụ quản lý sự kiện – nhận được hơn 200.000 USD đầu tư ngay sau Demo Day và được nhà đầu tư định giá là 1,8 triệu USD; nhóm Lozi – phần mềm cung cấp thông tin đa dạng về các địa điểm ăn uống của giới trẻ - vừa gọi được đầu tư lên đến hàng triệu
đô từ quỹ đầu tư mạo hiểm của nước ngoài; Loanvi – phần mềm quản lý cá nhân – được nhận đầu tư 50.000 USD của quỹ Spark Lab Global và được lựa chọn tham gia chương trình khởi nghiệp tại Chi-lê (Startup Chile) dành cho các doanh nghiệp khởi nghiệp tiềm năng trên thế giới; nhóm Jobwise – cung cấp công cụ tuyển dụng và quản lý nhân sự – nhận được đầu tư cá nhân 50.000 USD và ký hợp đồng 20.000 USD với Ngân hàng Quốc tế VIB
Để tiếp tục phát huy hiệu quả của Đề án Silicon Việt Nam và giải quyết các khó khăn vướng mắc đang tồn tại và mở rộng sự hỗ trợ của Nhà nước đối với hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, Bộ KH&CN đã xây dựng “Đề án hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025”, đồng thời làm việc với Bộ Kế hoạch và Đầu tư để đưa các quy định về đầu tư mạo hiểm và hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo vào Dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa Một khi môi trường pháp lý dành cho các tổ chức hay nói cách khác là quỹ đầu tư mạo hiểm và khởi nghiệp đổi mới sáng tạo được xây dựng và đi vào cuộc sống sẽ là nền tảng vững chắc để hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo Việt Nam phát triển