Bên cạnh những kết quả nêu trên, hệ thống tư pháp, trong đó có tư pháp hình sựcòn bộc lộ những bất cập, hạn chế như chưa có sự phân định hợp lý giữa các chức năng cơ bản của tố tụng, dẫn
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-NGUYỄN TẤN CHINH
XÉT HỎI TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
HÀ NỘI, năm 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian học tập và nghiên cứu, đến nay tôi đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp Cao học chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự với đề tài:
“Xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Tòa
án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh” Trước hết tôi xin chân thành cảm ơnquý thầy cô trong Khoa Luật hình sự và tố tụng hình sự đã định hướng cho tôi trongviệc chọn lựa đề tài trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến PGS.TS Nguyễn Tất Viễn –người đã dành nhiều thời gian và tâm huyết, tận tình hướng dẫn và góp ý cho tôitrong suốt quá trình tôi thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2019
Học viên
Nguyễn Tấn Chinh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan luận văn tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, do tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Tất Viễn Các số liệu, kết quả trong luận văn này là trung thực và chưa được
sử dụng trong bất cứ một nghiên cứu nào khác.
Tôi cam đoan mọi tham khảo trong luận văn này đều được ghi rõ nguồn gốc, trích dẫn rõ ràng Mọi sao chép không hợp lệ, vi phạm quy định viết luận văn, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2019
Học viên
Nguyễn Tấn Chinh
Trang 5MỤC LỤ C
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ XÉT HỎI TẠI PHIÊN TÒA HÌNH SỰ SƠ THẨM 6
1.1 Đặc điểm của phiên tòa sơ thẩm hình sự và tính chất của việc xét hỏi 6
1.1.1.Đặc điểm của phiên tòa sơ thẩm hình sự 6
1.1.2 Tính chất của việc xét hỏi 8
1.1.3 Vai trò của Tòa án trong việc xét hỏi 10
1.1.4 Các nguyên tắc của việc xét hỏi 12
1.2 Mối tương quan giữa xét hỏi và các thủ tục tố tụng khác trong phiên tòa hình sự sơ thẩm 17
1.2.1 Xét hỏi và thủ tục bắt đầu phiên tòa 17
1.2.2 Xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa 18
1.2.3 Xét hỏi và thủ tục nghị án, tuyên án 18
1.3 Khái quát các quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ 1945 đến nay về xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm hình sự 19
1.3.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự 1988 19
1.3.2 Giai đoạn từ năm 1988 đến trước khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự 2003 21
1.3.3 Giai đoạn từ 2003 đến trước khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự 2015. 23
1.3.4 Xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 24
Chương 2: THỰC TIỄN THI HÀNH CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 2015 VỀ XÉT HỎI TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, TP HỒ CHÍ MINH 27
2.1 Chủ thể thực hiện quyền xét hỏi 27
2.1.1 Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa 27
Trang 62.1.2 Hội thẩm nhân dân 29
2.1.3 Kiểm sát viên 31
2.1.4 Người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự 34 2.1.5 Người giám định 38
2.1.6 Người định giá tài sản 39
2.2 Thi hành các quy định về nội dung xét hỏi 40
2.3 Thi hành các quy định về trình tự xét hỏi 47
2.4 Thi hành các quy định về công bố lời khai, xem xét vật chứng tại phiên tòa 52 2.5 Nguyên nhân và những hạn chế, vướng mắc 57
Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THI HÀNH ĐÚNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ XÉT HỎI TẠI PHIÊN TÒA HÌNH SỰ SƠ THẨM 59
3.1 Tiếp tục hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về xét hỏi 60
3.2 Tăng cường hướng dẫn thực hiện các quy định của BLTTHS về xét hỏi 63
3.3 Nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng xét hỏi của Thẩm phán, Kiểm sát viên, Hội thẩm tại phiên tòa 66
3.4 Đề cao trách nhiệm và đảm bảo quyền của người bào chữa trong xét hỏi 73
KẾT LUẬN 77 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7Hội thẩm nhân dânKiểm sát viênTòa án nhân dânViện kiểm sát
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cải cách tư pháp là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước
ta từ khi Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới được ban hành, công tác tư pháp đã có những
chuyển biến nhất định Sau khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 49-NQ/TW,ngày 02-6-2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 thì công tác tư pháp
đã có những đổi mới căn bản Tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ và cơ chế hoạtđộng của các cơ quan tư pháp được xác định rõ hơn và từng bước được củng cố,kiện toàn; Chất lượng điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án có chuyển biến tốt; Côngtác xét xử được xem xét thận trọng, đúng pháp luật, tình trạng tồn đọng án phúcthẩm đã cơ bản được khắc phục; Tỷ lệ khám phá án, điều tra, truy tố, xét xử đạt cao
và năm sau đều cao hơn năm trước; Chủ trương “nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên toà” được triển khai thực hiện, tạo không khí dân chủ trong các phiên toà, vai trò của các luật sư được nhìn nhận tích cực hơn
Bên cạnh những kết quả nêu trên, hệ thống tư pháp, trong đó có tư pháp hình sựcòn bộc lộ những bất cập, hạn chế như chưa có sự phân định hợp lý giữa các chức năng
cơ bản của tố tụng, dẫn đến việc quy định vai trò, thẩm quyền cụ thể của từng chủ thể
tố tụng và trình tự tiến hành các thủ tục tố tụng chưa phù hợp, cơ chế bảo đảm thựchiện quyền của những người tham gia tố tụng, đặc biệt là cơ chế bảo đảm quyền bàochữa của bị can, bị cáo chưa hoàn thiện; ý kiến tranh luận, tranh tụng của các luật sưvẫn chưa thực sự được coi trọng, không ít bản án, quyết định của Tòa án chưa thực sựdựa trên kết quả tranh tụng tại phiên tòa, dẫn đến số lượng các bản án bị huỷ, sửa cònchiếm tỷ lệ khá cao; Phương pháp điều tra, xét hỏi vẫn là phương pháp chủ yếu được ápdụng trong tất cả các giai đoạn tố tụng v.v… Những vướng mắc, bất cập nêu trên đãảnh hưởng đến kết quả đấu tranh phòng, chống tội phạm và yêu cầu bảo vệ công lý, bảo
vệ quyền con người, quyền công dân trong hoạt động tư pháp
Thủ tục xét hỏi tại phiên tòa hình sự là thủ tục trọng tâm, quan trọng của giaiđoạn xét xử vụ án hình sự Bộ luật tố tụng hình sự 2015 có những thay đổi về quy
Trang 9định thủ tục xét hỏi so với các Bộ luật tố tụng hình sự được ban hành trước đó,nhưng vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề về pháp luật thực định và cả việc áp dụng phápluật trên thực tế Đổi mới và hoàn thiện thủ tục xét hỏi không phải là vấn đề mớiđược đặt ra, nhưng những gì đạt được hiện nay chưa đáp ứng được cao nhất yêu cầucải cách tư pháp, vẫn còn tồn tại nhiều tranh luận khi áp dụng các quy định của Bộluật TTHS trong xét xử Do đó, trên cơ sở phân tích những mặt ưu điểm, tiến bộ củaquy định thủ tục xét hỏi hiện hành, bên cạnh đó cũng chỉ ra những hạn chế, bất cậpcần bổ sung, sửa đổi để hoàn thiện pháp luật, nâng cao chất lượng xét hỏi cũng làmột trong những giải pháp nâng cao chất lượng xét xử các vụ án hình sự sơ thẩm.
Từ những phân tích nêu trên, học viên chọn đề tài: “Xét hỏi tại phiên tòa sơthẩm theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Tòa án nhân dân Quận
10, Thành phố Hồ Chí Minh” để làm luận văn thạc sỹ luật học
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề xét hỏi tại phiên tòa hình sự được một số tác giả đề cập trong các bàiviết đăng trên tạp chí chuyên ngành, các luận án, luận văn, sách chuyên khảo, cụ thểlà:
- Luận văn thạc sỹ Luật học của Nguyễn Trương Tín (2007), Tranh tụng tạiphiên tòa hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam,bảo vệ tại Trường Đại Học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
- Luận văn thạc sỹ Luật học của Võ Hồng Phúc (2016), Hoàn thiện thủ tụcxét hỏi tại phiên tòa hình sự theo tinh thần cải cách tư pháp, bảo vệ tại trường ĐạiHọc Luật Thành phố Hồ Chí Minh
- Luận văn thạc sỹ Luật học Đặng Minh Phương (2013), Hoạt động xét hỏicủa Kiểm sát viên trong Tố tụng hình sự Việt Nam) bảo vệ tại trường Đại Học LuậtThành phố Hồ Chí Minh
- Luận án TS của Nguyễn Văn Hiển (2011), Nguyên tắc tranh tụng trong tốtụng hình sự Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án tiến sĩ Luật học, Học viện Khoa học xã hội
Trang 10- Bài viết “Một số vấn đề về thủ tục xét hỏi tại phiên tòa hình sự theo Bộ luật
tố tụng hình sự 2003” của tác giả Đinh Văn Quế
- Bài viết “Thủ tục xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm,” của Lê Thị Thúy
- Bài viết của PGS.TS Hoàng Thị Minh Sơn “Hoàn thiện một số quy địnhcủa Bộ luật tố tụng hình sự về thủ tục phiên tòa sơ thẩm đáp ứng yêu cầu cải cách tưpháp”, Tạp chí Luật học, số 10/2009
- Bài viết “Quá trình hình thành và phát triển thủ tục xét hỏi, tranh luận tạiphiên tòa hình sự sơ thẩm của pháp luật hình sự Việt Nam qua các thời kỳ” của tácgiả Nguyễn Ngọc Kiên, Tạp chí Kiểm sát số 11/2014
- Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự, Chủ biên GS.TS Võ Khánh
- Thủ tục tranh tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm, TS Nguyễn Ngọc Kiên, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2017 và một số công trình khác có liên quan
Các công trình nghiên cứu nêu trên đã đề cập nhiều vấn đề về thủ tục xét hỏiliên quan đến áp dụng Bộ luật tố tụng hình sự 2003 Bộ luật tố tụng hình sự năm
2015 được ban hành cũng bắt đầu bộc lộ vướng mắc Để đáp ứng yêu cầu thực tiễn
áp dụng pháp luật TTHS cần tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện thủ tục xét hỏi trongphiên tòa sơ thẩm hình sự
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích
Trên cơ sở lý luận và các quy định pháp luật TTHS về xét hỏi tại phiên tòa sơthẩm, đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định này từ thực tiễn TAND Quận 10, TP
Hồ Chí Minh, đề xuất các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các quy định pháp luật
về thủ tục xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm hình sự
3.2 Nhiệm vụ
Để đạt được những mục đích trên, luận văn cần thực hiện những nhiệm vụ cơbản sau đây:
Trang 11- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và pháp luật của thủ tục xét hỏi tại phiêntòa sơ thẩm hình sự.
- Đánh giá thực tiễn thi hành các quy định về xét hỏi trong hoạt động xét xử
sơ thẩm từ thực tiễn TAND Quận 10, TP Hồ Chí Minh
- Đề xuất các giải pháp bảo đảm thi hành đúng các quy định pháp luật về thủtục xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm hình sự, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Thủ tục xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm hình sự theo pháp luật TTHS Việt Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Tòa án nhân dân Quận 10, TP Hồ Chí Minh
- Phạm vi thời gian: từ năm 2014 đến năm 2019
5 Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu cụ thể
5.1 Phương pháp luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vậtbiện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến đượcvận dụng để nghiên cứu tính thống nhất của toàn bộ quá trình tố tụng hình sự, tínhthống nhất nội tại của thủ tục xét xử sơ thẩm hình sự Nguyên lý về sự phát triển,quy luật lượng đổi-chất đổi được sử dụng để nghiên cứu quá trình hoàn thiện chếđịnh pháp luật về xét hỏi trong TTHS Các phạm trù nội dung và hình thức, khảnăng và hiện thực được sử dụng để nghiên cứu về xét hỏi trong các mô hình tố tụnghình sự
5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể trong Luận văn gồm: phương pháp hệthống, thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh luật học, phương pháp chuyên gia
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1 Ý nghĩa lý luận của đề tài
Kết quả nghiên cứu của Luận văn góp phần vào quá trình nghiên cứu mộtcách có hệ thống, toàn diện các vấn đề của thủ tục xét hỏi qua đó đề ra các kiến nghị
Trang 12giải pháp bảo đảm áp dụng đúng đắn các quy định pháp luật TTHS về xét hỏi tạiphiên tòa sơ thẩm.
6.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Đề tài có ý nghĩa thực tiễn trong việc nâng cao chất lượng xét hỏi tại phiêntòa sơ thẩm hình sự ở TAND Quận 10, TP Hồ Chí Minh và có thể là tài liệu thamkhảo cho một số TAND cấp quận
7 Cơ cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung của Luận văn được cấu trúc thành 3 Chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về xét hỏi tại phiên tòa hình sự
sơ thẩm
Chương 2: Thực tiễn thi hành các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2015
về xét hỏi tại Tòa án nhân dân Quận 10
Chương 3: Các giải pháp bảo đảm thi hành đúng các quy định của Bộ luật TTHS về xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm
Trang 13Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ XÉT HỎI TẠI PHIÊN
TÒA HÌNH SỰ SƠ THẨM 1.1 Đặc điểm của phiên tòa sơ thẩm hình sự và tính chất của việc xét hỏi
1.1.1.Đặc điểm của phiên tòa sơ thẩm hình sự
Xét xử sơ thẩm được xem là việc xét xử lần thứ nhất do Tòa án có thẩmquyền thực hiện theo quy định pháp luật Đây là một giai đoạn của tố tụng hình sự,sau khi đã kết thúc giai đoạn điều tra, truy tố Xét xử được thực hiện bằng một phiêntòa mà tại đó, các tài liệu, chứng cứ, lời trình bày, tranh luận và cả các tình tiết, nộidung chưa từng công bố hay thu thập trước đó được xem xét, đánh giá công khaingay tại phiên tòa để đi đến việc xác định tội phạm và hành vi phạm tội Xét xử sơthẩm được xem là giai đoạn quan trọng nhất của việc thực hiện quyền tư pháp, vì làxem xét vụ án về nội dung Giai đoạn này có vai trò đặc biệt quan trọng, tác độngđến toàn bộ hệ thống tư pháp Nếu xét xử tốt, khách quan, đúng pháp luật, công lýđược thực hiện ngay ở cấp sơ thẩm, quyền lợi của người dân sẽ được thực hiệnnhanh chóng, thuận lợi, hạn chế việc xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm.Việc nâng cao chất lượng xét xử ở cấp cơ sở là yêu cầu hàng đầu của cải cách tưpháp, là khâu đột phá của cải cách tư pháp, có ý nghĩa quyết định đến các nội dungkhác của cải cách, bắt buộc phải thực hiện tại phiên tòa sơ thẩm có thể đánh giáđược sự công bằng, bình đẳng giữa bên buộc tội và bên gỡ tội mà trong đó, Tòa án ởgiữa có quyền “cầm cân nảy mực”, những quyền và lợi ích hợp pháp mà bên yếu thếhơn nhận được, quyền con người có được đề cao hay không, khả năng của cơ quantiến hành tố tụng và của những người tham gia tố tụng đến đâu trong việc tìm ra sựthật khách quan để không bỏ lọt tội phạm và cũng không làm oan người vô tội.Phiên tòa sơ thẩm không chỉ xem xét chứng cứ mà còn đòi hỏi các chủ thể tham gia
tố tụng phải đưa ra các lý lẽ thuyết phục, sắc bén, nhanh chóng phù hợp với diễnbiến phiên tòa và các tài liệu có liên quan thu thập được Do đó, tổ chức tốt mộtphiên tòa sơ thẩm cũng là phương pháp để nâng cao kinh nghiệm xét xử, nâng
Trang 14cao khả năng tranh tụng, bảo vệ quan điểm của các chủ thể tham gia như luật sư,người bào chữa, kiểm sát viên.
Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, lần đầu tiên vụ án hình sự đượcđưa ra xem xét công khai với tất cả các chứng cứ thu thập được trong giai đoạn điềutra cùng với các chứng cứ mới được xem xét một cách khách quan, toàn diện, trựctiếp Tại phiên tòa bị cáo thực hiện quyền của mình như tự mình bào chữa hoặc nhờngười khác bào chữa, được quyền trình bày quan điểm gỡ tội của mình trước Hộiđồng xét xử
Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng khác phải thực hiện nhiệm
vụ theo đúng quy định của pháp luật, tạo điều kiện cho bị cáo sử dụng các quyềncủa mình, tránh sự xâm phạm các quyền đối với bị cáo Phiên tòa sơ thẩm là cơ hội
để bị cáo sử dụng các quyền của mình lần đầu tiên tại phiên tòa một cách công khai.Đây là điểm khác với giai đoạn điều tra Vì vậy phiên tòa HSST trước hết phải tuânthủ những nguyên tắc cơ bản được quy định trong Bộ luật TTHS: Bảo đảm phápchế xã hội chủ nghĩa, tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợppháp của cá nhân, bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật, bảo đảm quyền bàochữa của người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự,xác định sự thật của vụ án và nguyên tắc suy đoán vô tội…Trong những nguyên tắcchung được quy định tại BLTTHS 2015 thì hiện nay, nguyên tắc suy đoán vô tội vànguyên tắc tranh tụng trong xét xử tại các phiên tòa sơ thẩm của Việt Nam chưathực sự được đảm bảo Việc xét hỏi trong thủ tục tranh tụng tại phiên tòa đã bộc lộnhiều hạn chế, dẫn đến phiên tòa hình sự sơ thẩm tập trung vào việc luận tội, xét hỏidựa trên những chứng cứ thu thập được tại các giai đoạn tố tụng trước đó, các cơquan tiến hành tố tụng về một phía và bị can, bị cáo, người bảo vệ quyền lợi ích cho
bị can, bị cáo về một phía yếu hơn
Ở giai đoạn xét xử sơ thẩm, theo quy định của Hiến pháp và Bộ luật tố tụnghình sự, Hội đồng tham gia xét xử phải có sự tham gia của Hội thẩm nhân dân vàHội thẩm ngang quyền với Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử biểuquyết theo đa số Tuy nhiên, trên thực tế Hội thẩm chưa phát huy hết vai trò chủ
Trang 15động, tích cực của mình trong quá trình xét xử, đặc biệt ở việc xét hỏi gần như phụthuộc hoàn toàn vào Thẩm phán, hỏi không làm rõ được nội dung vụ án, hỏi khôngđúng trọng tâm hoặc không tham gia xét hỏi Do đó trong công tác chuẩn bị xét xử
và điều hành diễn biến tại phiên tòa, trách nhiệm của Chủ tọa phiên tòa rất nặng nề.Kết thúc phiên tòa hình sự sơ thẩm cũng là lúc ban hành các phán quyết liên quanđến hành vi phạm tội, tội phạm và hình phạt bị cáo phải chịu hay giải phóng bị can,
bị cáo khỏi sự trừng phạt của pháp luật
Những yếu tố trên cho thấy, xét xử sơ thẩm hình sự có vị trí quan trọng trongsuốt quá trình tố tụng, khi lần đầu tiên các chứng cứ thu thập được trong hồ sơ đượckiểm chứng công khai tại phiên tòa, các quan điểm chính thức của Viện kiểm sátđược đưa ra, những lập luận để bảo vệ quyền lợi của bị can, bị cáo được trình bày.Tòa án với tư cách là cơ quan thực hiện quyền tư pháp giữ vị trí trung tâm trongviệc điều hành và kiểm soát diễn biến phiên tòa, xem xét các tình tiết tăng nặng,giảm nhẹ, xem xét tội danh và điều khoản áp dụng, đồng thời giải quyết quyền lợicủa nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người bị hại…trong cùng một vụ án Quantrọng nhất là kết thúc phiên tòa hình sự sơ thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm đưa ra quyếtđịnh bị cáo có tội hay không có tội, tội phạm và hình phạt cụ thể dành cho bị cáo.Cũng tại giai đoạn này, quyền kháng cáo của bị cáo được đặt ra Trong khi ở cấpphúc thẩm, bị cáo đã không còn quyền kháng cáo Đề cao tính chất đặc biệt của xét
xử sơ thẩm hình sự, qua đó cho thấy việc xét hỏi theo đúng trình tự thủ tục, xét hỏi
có khoa học và bám sát nội dung vụ án là tiền đề chuẩn bị cho việc nghị án, tuyên
án chính xác, khách quan, đúng người đúng tội, hạn chế tối đa oan sai cũng như hạnchế tiến hành giải quyết thủ tục kháng cáo sau phiên tòa sơ thẩm, làm kéo dài thờigian giải quyết một vụ án hình sự
1.1.2 Tính chất của việc xét hỏi
Bộ luật TTHS không đưa ra định nghĩa thế nào là thủ tục xét hỏi mà chỉ quyđịnh về trình tự, thủ tục, nội dung xét hỏi và các vấn đề khác có liên quan đến thủtục hỏi tại một phiên tòa hình sự Tuy vậy, trong các tài liệu nghiên cứu và giảngdạy, các tác giả đã đưa ra định nghĩa về thủ tục xét hỏi, Giáo trình Luật TTHS Việt
Trang 16Nam của trường Đại học Luật Hà Nội định nghĩa: “Thủ tục xét hỏi tại phiên tòa được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự nhằm xem xét công khai những chứng
cứ đã thu thập được ở giai đoạn điều tra và chứng cứ mới để chứng minh vụ án”.
Định nghĩa này đánh giá hoạt động xét hỏi chủ yếu ở việc xem xét chứng cứ vàchưa nêu bật được những vấn đề quan trọng khác trong thủ tục xét hỏi như về mặtchủ thể và vai trò trung tâm của giai đoạn xét hỏi trong toàn bộ quá trình xét xử sơthẩm một vụ án hình sự
Theo quan điểm của tác giả Đinh Văn Quế: “Xét hỏi là thủ tục chính của phiên tòa sơ thẩm, trong đó Tòa án cùng các bên tranh tụng xem xét, kiểm tra chứng cứ của bên buộc tội, thu thập trong hồ sơ vụ án cũng như các chứng cứ do bên bào chữa đề xuất được Tòa án chấp nhận nhằm làm sáng tỏ các tình tiết, sự kiện khách quan của vụ án” [18, tr.3-10] Tại định nghĩa này, tác giả đã đề cập đến
chủ thể thực hiện hoạt động xét hỏi, trong đó Tòa án đóng vai trò quan trọng trongviệc đánh giá các chứng cứ trong vụ án để đạt được mục đích là tìm ra sự thật kháchquan Tuy nhiên, định nghĩa chưa nêu được đầy đủ các hoạt động khác trong thủ tụcxét hỏi, bởi việc xem xét chứng cứ chỉ là một trong các hoạt động trong thủ tục này
Tác giả Võ Hồng Phúc cho rằng: “Thủ tục xét hỏi là hoạt động trung tâmtrong quá trình xét xử vụ án hình sự và cũng là hoạt động quan trọng nhất để xácđịnh sự thật vụ án Trong đó, Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, người bào chữa vànhững người khác theo quy định của pháp luật thực hiện bằng cách đặt câu hỏi trựctiếp cho bị cáo và những người tham gia tố tụng; xem xét chứng cứ, kết luận điềutra, bản cáo trạng; xem xét hiện trường xảy ra vụ án nhằm kiểm tra công khai tất cảtình tiết liên quan đến vụ án tại phiên tòa” [16, tr.7] Định nghĩa về xét hỏi mà tácgiả Võ Hồng Phúc đưa ra là tương đối toàn diện Qua các ý kiến trên đây, có thểthấy xét hỏi tại phiên tòa hình sự là một hoạt động tố tụng được thực hiện bởi nhữngchủ thể khác nhau như Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, Người bào chữa,Người giám định…việc xét hỏi phải theo một trình tự tố tụng chặt chẽ được quyđịnh tại BLTTHS Mục đích của việc xét hỏi nhằm xem xét lại các chứng cứ đượcthu thập tại giai đoạn điều tra, các chứng cứ mới được đưa ra tại phiên tòa Thông
Trang 17qua việc xét hỏi, xác định được sự thật khách quan của vụ án, đi đến mục đíchchứng minh có hay không tội phạm và hành vi phạm tội.
Việc hỏi và trả lời phải được tiến hành công khai, trực tiếp bằng lời nói tạiphiên tòa và thủ tục hỏi phải diễn ra liên tục bắt đầu từ sau khi Kiểm sát viên đọcbản cáo trạng và chấm dứt tại thời điểm Chủ tọa phiên tòa tuyên bố kết thúc phầnhỏi và chuyển sang phần Kiểm sát viên trình bày luận tội và các chủ thể khác thựchiện quyền bào chữa tại phiên tòa Có thể nói, tại phiên tòa, thủ tục xét hỏi đóng vaitrò vô cùng quan trọng, là bước quyết định để làm sáng tỏ vụ án, xác định lại nhữngngười, những tình tiết có liên quan hoặc không liên quan, qua đó có thể quyết định
có cần thu thập thêm chứng cứ hay không? Giai đoạn này làm tiền đề cho phầntranh luận và tuyên án Khi đã tuyên án, Chủ tọa phiên tòa không được quyền trở lạiphần xét hỏi Do đó, toàn bộ hoạt động chứng minh tội phạm tại phiên tòa và xemxét toàn diện các vật chứng, lời nói, lời bào chữa được diễn ra chủ yếu trong giaiđoạn xét hỏi
Tại giai đoạn xét hỏi, các chủ thể tham gia tố tụng thực hiện quyền hỏi theonhững mục đích khác nhau tùy vào vai trò của mình Chủ tọa, Hội thẩm thực hiệnviệc hỏi để tìm ra sự thật của vụ án, Kiểm sát viên hỏi để bảo vệ cho quan điểmtrong cáo trạng truy tố của mình, người bào chữa hỏi để bảo vệ quyền lợi cho thânchủ của mình Tuy nhiên, tất cả đều đi đến mục đích chung là chứng minh có haykhông tội phạm và việc xét hỏi trên tinh thần tôn trọng sự thật khách quan của vụ
án, không nhằm mục đích che giấu tội phạm hoặc làm sai lệch nhận thức về hành viphạm tội và các dấu hiệu tội phạm
1.1.3 Vai trò của Tòa án trong việc xét hỏi
Trước khi chuyển sang mô hình tố tụng xét hỏi kết hợp với tranh tụng (theotinh thần và nội dung Bộ luật TTHS năm 2015), tố tụng hình sự Việt Nam trong mộtthời gian dài xác định việc tìm kiếm sự thật chủ yếu bằng phương pháp điều tra,thẩm vấn Phương pháp này được sử dụng ở tất cả các giai đoạn tố tụng Phươngpháp điều tra được thực hiện dưới hình thức xét hỏi, chủ thể của việc xét hỏi đầutiên và trước hết sau khi Viện kiểm sát công bố bản cáo trạng thuộc về Hội
Trang 18đồng xét xử và được quyền hỏi toàn bộ các vấn đề liên quan đến nội dung vụ án.Sau việc xét hỏi của Hội đồng xét xử, pháp luật quy định thẩm quyền hỏi của Kiểmsát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự Trong mô hình tốtụng hình sự thẩm vấn, Tòa án có vai trò tích cực, chủ động trong việc xác định sựthật của vụ án, khác với mô hình tố tụng hình sự tranh tụng, mô hình tố tụng thẩmvấn trao cho Tòa án quyền chủ động rất lớn trong toàn bộ quá trình xét xử vụ ánhình sự, việc xét xử tại phiên tòa thực chất là giai đoạn Tòa án tiếp tục củng cố tàiliệu, chứng cứ trên cơ sở dữ liệu do Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát lập nên.Điểm giống nhau trong chức năng, nhiệm vụ của hai cơ quan kể trên với Tòa án làcùng có trách nhiệm chứng minh tội phạm, đảm bảo việc truy tố, xét xử đúng ngườiđúng tội.
Tòa án được tiếp xúc hồ sơ vụ án ngay từ trước khi mở phiên tòa, thời giannghiên cứu hồ sơ tương đối dài Trong quá trình nghiên cứu hồ sơ, Tòa án đượcquyền trả lại hồ sơ cho Viện kiệm sát để điều tra bổ sung, hoặc khi có căn cứ chorằng bị cáo phạm một tội khác hoặc có đồng phạm khác, khi phát hiện có sự viphạm thủ tục tố tụng Hội đồng xét xử thông qua hoạt động xét hỏi, xem xét chứng
cứ, tài liệu tại phiên tòa để đi đến kết luận cuối cùng về tội phạm và hình phạt
Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án tuy có chức năng, nhiệm vụ khácnhau nhưng trong tố tụng hình sự, các nhiệm vụ chức năng của ba cơ quan được quyđịnh cũng đều nhằm mục đích đảm bảo sự minh bạch trong hoạt động chứng minh
sự thật vụ án Các cơ quan này có mối quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ nhau màtrong đó, Tòa án giữ vị trí trung tâm và là cơ quan sau cùng có thẩm quyền quyếtđịnh, kết luận lại tất cả các hoạt động thu thập được ở giai đoạn trước đó, quyết địnhtính hợp pháp và thuyết phục của chứng cứ do các cơ quan đưa ra và tuyên án đểkhép lại vụ án hình sự
Tố tụng hình sự nhiều nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam phân biệt cácchức năng của TTHS bao gồm: buộc tội, xét xử và bào chữa, trong đó Cơ quan điềutra, Viện kiểm sát có trách nhiệm chứng minh bị can phạm tội, Tòa án là cơ quanxét xử và người bào chữa cho bị can, bị cáo thực hiện chức năng bào chữa Việc
Trang 19phân định rõ chức năng nhằm mục đích tạo ra bình đẳng giữa các chủ thể tham gia
tố tụng, chủ yếu là bên buộc tội và bên gỡ tội Sự bình đẳng ở đây không chỉ là địa
vị pháp lý, về quyền và nghĩa vụ của các bên mà thừa nhận khả năng ngang bằngnhau của các bên trong hoạt động chứng minh, đưa ra yêu cầu và giải quyết yêu cầu.Trong phạm vi xét hỏi, nếu bên buộc tội được sử dụng những quyền gì khi tham gia
tố tụng thì bên buộc tội cũng được áp dụng những quyền đó, ví dụ quyền đặt câuhỏi, quyền xem xét chứng cứ Còn về Tòa án, việc phân định chức năng phải xácđịnh Tòa án là cơ quan độc lập và khách quan trong xét xử
Xét hỏi là thủ tục trọng tâm tại phiên tòa sơ thẩm, vì tính chất đặc biệt quantrọng của nó nên BLTTHS năm 2015 đã hướng dẫn thủ tục này khá đầy đủ bằngMục V - Thủ tục tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử cần vận dụng linh hoạtcác quy định trong quá trình xét hỏi để đạt được mục đích chứng minh tội phạm, đổimới việc xét hỏi kết hợp với tranh tụng theo xu hướng tiếp cận gần hơn với các nềnlập pháp tiên tiến trên thế giới, kết hợp giữa mô hình tố tụng hình sự thẩm vấn và
mô hình tố tụng hình sự tranh tụng Qua đó góp phần thực hiện chủ trương và địnhhướng được xác định tại các Nghị quyết số 49-NQ/TW và Nghị quyết số 48 –NQ/TW của Bộ chính trị, đó là cải cách mạnh mẽ các thủ tục tố tụng tư pháp theohướng dân chủ, bình đẳng, công khai, minh bạch, chặt chẽ nhưng thuận tiện; bảođảm sự tham gia và giám sát của nhân dân đối với hoạt động tư pháp; bảo đảm chấtlượng tranh tụng tại Tòa án làm căn cứ quan trọng để phán quyết bản án, coi đây làkhâu đột phá để nâng cao chất lượng của hoạt động tư pháp
1.1.4 Các nguyên tắc của việc xét hỏi
Trong xét hỏi tại phiên tòa, các cơ quan tiến hành TTHS, người tiến hànhTTHS cũng như những người tham gia TTHS cần tuân thủ các nguyên tắc TTHSvới các yêu cầu cụ thể sau đây:
- Việc xét hỏi phải công khai: Công khai phái sinh từ nguyên tắc Hiến định là
Tòa án xét xử công khai…trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước…Tòa án cóthể xét xử kín nhưng phải tuyên án công khai (Điều 67 – Hiến pháp 1946, Điều 101– Hiến pháp 1959, Điều 133 – Hiến pháp 1980, Điều 131 – Hiến pháp 1992, Điều
Trang 20103 – Hiến pháp 2013, Điều 18 BLTTHS 2003) Tòa án đóng vai trò quan trọngtrong công tác xét xử, đại diện cho quyền lực nhà nước, nhân danh Nhà nước trongviệc quyết định số phận pháp lý của một công dân, do đó việc xét xử và xét hỏicông khai là nguyên tắc đầu tiên cần tuyệt đối tuân thủ, có xét xử và xét hỏi côngkhai thì nhân dân và các cơ quan quyền lực khác mới thực hiện được quyền giám sátcủa mình Qua đó mới đánh giá được tính công bằng, khách quan và đảm bảo đượcpháp chế xã hội Việc ghi nhận nguyên tắc này ngay trong Hiến pháp đã thể hiệnquan điểm của nhà lập pháp trong việc bảo vệ quyền con người, với mục đích caonhất là hướng đến một nền tư pháp mà không ai bị đối xử bất công, cho dù người đóđang bị cáo buộc phạm tội và sắp đối mặt với những hình phạt của pháp luật.
Nguyên tắc xét hỏi công khai đặt ra yêu cầu xem xét, đánh giá chứng cứ vàđưa ra kết luận cuối cùng, tất cả phải được diễn ra tại phiên tòa, có sự tham gia củacác cơ quan khác ngoài Tòa án, của những người tham gia phiên tòa, tham gia tốtụng như Luật sư, người làm chứng, bị hại, người nhà bị cáo và cả những ngườitham dự phiên tòa mà không có bất kỳ sự liên quan nào đến vụ án Nguyên tắc nàydần trở nên quan trọng trong thời điểm hiện nay khi nhu cầu bảo vệ cao hơn nữaquyền con người, quyền và lợi ích cơ bản, hợp pháp của công dân đang được đặt ratrong xã hội hiện đại
Nguyên tắc xét hỏi công khai không được quy định thành điều luật cụ thểnhưng trong các quy định về thủ tục tại phiên tòa thì được thể hiện ở nhiều nội dungkhác nhau như Kiểm sát viên công bố bản cáo trạng, công bố lời khai trong giaiđoạn điều tra, truy tố Những vấn đề khác như xem xét hiện trường, tài liệu đồ vậtkhông thể đưa đến phiên tòa, cả việc phải công khai các băng ghi âm, ghi hình khi
bị cáo cho rằng bị bức cung, nhục hình, các báo cáo tài liệu của cơ quan, tổ chức vềnhững tình tiết của vụ án trong trường hợp không có đại diện của cơ quan, tổ chứctham dự thì Hội đồng xét xử công bố tài liệu, báo cáo đó tại phiên tòa cũng cho thấyviệc xét xử, xét hỏi công khai gần như được tiến hành và tuân thủ suốt quá trình tốtụng của một vụ án hình sự Nguyên tắc công khai phải được thực hiện nghiêm túc
Trang 21theo trình tự pháp luật quy định là nền tảng cho tính thuyết phục của bản án, quyếtđịnh của Tòa án và đi đến mục đích cuối cùng là chứng minh sự thật khách quan của
vụ án
- Việc xét hỏi phải tiến hành trực tiếp, bằng lời nói: Cũng như nguyên tắc xét
hỏi công khai, nguyên tắc xét hỏi trực tiếp, bằng lời nói và liên tục không được quyđịnh bằng điều luật cụ thể mà xuất phát từ quy định tại Điều 250 BLTTHS 2015:
“Xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục” Nguyên tắc xét hỏi trực tiếp đặt ra yêucầu những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng phải có mặt tạiphiên tòa, trừ những trường hợp đặc biệt được pháp luật cho phép vắng mặt tạiphiên tòa mà không ảnh hưởng đến việc xét xử Trên cơ sở đó, chủ thể thực hiệnviệc hỏi bao gồm thành viên Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên… trực tiếp dùng lờinói để hỏi những người liên quan khác nhằm làm sáng tỏ các tình tiết, khẳng địnhlại các tình tiết và củng cố toàn diện các vấn đề khác để Hội đồng xét xử xem xéttrước khi tuyên án Việc hỏi trực tiếp phải do chính chủ thể hỏi thực hiện, nhưngphạm vi hỏi, nội dung hỏi còn tùy thuộc vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn củamình mà pháp luật cho phép
Việc hỏi trực tiếp tại phiên tòa cũng là một hoạt động cần thiết của Hội đồngxét xử, vì trước khi mở phiên tòa, Hội đồng xét xử chỉ nghiên cứu những tài liệu cótrong hồ sơ vụ án do Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát chuyển đến Thông qua việcxét hỏi trực tiếp bị cáo tại phiên tòa, Hội đồng xét xử mới có thể đánh giá chính xáchành vi phạm tội của bị cáo có phù hợp, có liên quan với chứng cứ trong hồ sơ vụ
án hay không? Việc xét hỏi trực tiếp có thể nói là nhiệm vụ quan trọng, là tráchnhiệm của Hội đồng xét xử khi Hội đồng xét xử không phải là cơ quan thu thậpchứng cứ tại giai đoạn điều tra truy tố, không trực tiếp hỏi cung và tiếp xúc với bịcan, bị cáo, nên để tìm ra sự thật của vụ án, xác định đúng người, đúng tội và tránhoan sai thì không có hoạt động nào thực tế hơn là việc xét hỏi trực tiếp Nguyên tắcnày cũng đảm bảo cho tính độc lập trong xét xử của Tòa án, thông qua việc hỏi trựctiếp, Hội đồng xét xử có thể quyết định khác với cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố,
có thể đề nghị trả hồ sơ điều tra bổ sung hoặc trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa
Trang 22Xét hỏi bằng lời nói là việc hai nhóm chủ thể khác nhau, một bên nêu câu hỏi
và một bên trả lời Để có thể đạt được mục đích trao đổi thông tin thì phải dùng lờinói Và “Chỉ bằng lời nói người ta mới trình bày chính xác những suy nghĩ và nhậnxét của mình Vì vậy, không thể xét xử mà không nghe lời khai về các chứng cứbuộc tội, gỡ tội và yêu cầu của các người có quyền lợi và nghĩa vụ được giải quyếttrong vụ án” [1, tr.145] Bên được hỏi có quyền trả lời hoặc im lặng trước câu hỏicủa Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng khác đặt ra Quyền im lặng làquyền cơ bản và phổ biến của công dân tại nhiều nước trên thế giới nhưng tại ViệtNam chỉ chính thức ghi nhận khi BLTTHS 2015 có hiệu lực thi hành Tuy nhà lậppháp không quy định cụ thể thành “Quyền im lặng của bị can, bị cáo” nhưng tinhthần của quy định này được thể hiện gián tiếp tại Điều 60 – Điểm d, BLTTHS 2015
và Điều 61 – Điểm h: “… Không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mìnhhoặc buộc phải nhận mình có tội” Theo đó, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiêntòa, bị can, bị cáo có thể không khai báo hoặc không bắt buộc trả lời các câu hỏi củaHội đồng xét xử và những người khác nếu nhận thấy có thể bất lợi cho mình Trướctình huống này, Hội đồng xét xử sẽ tiếp tục hỏi những người khác và xem xét nhữngvật chứng, tài liệu có liên quan đến vụ án theo quy định tại Khoản 3 - Điều 309BLTTHS 2015
Hội đồng xét xử bắt buộc phải dùng lời nói trong toàn bộ quá trình xét xử,nhưng bị can, bị cáo có quyền không trả lời là một quy định tiến bộ của pháp luật tốtụng hình sự, đưa tinh thần bảo vệ quyền con người, quyền công dân tiến gần hơnđến các nền pháp luật tiến bộ trên thế giới Trước những cơ quan đại diện cho quyềnlực nhà nước, bị can, bị cáo là bên yếu thế hơn được bảo vệ, không phải đặt mìnhvào tình thế bất lợi khi phải đưa ra câu trả lời để chống lại mình
Nguyên tắc xét hỏi bằng lời nói được pháp luật dự liệu cả trong trường hợp
bị cáo, bị hại, đương sự, người làm chứng không biết tiếng Việt, là người câm,người điếc Khi đó cần phải có người phiên dịch để dịch cho họ nghe, hiểu lời trìnhbày, các câu hỏi, câu trả lời tại phiên tòa, nội dung quyết định của Hội đồng xét xử
và các vấn đề khác có liên quan đến họ
Trang 23Có thể nói xét xử bằng lời nói là cách thức, phương pháp của nguyên tắc xét
xử trực tiếp Phiên tòa nơi thể hiện đầy đủ nhất ba chức năng cơ bản của Tố tụnghình sự là chức năng xét xử, chức năng buộc tội và chức năng gỡ tội Và cả ba chứcnăng này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, để có thể hiểu, lắng nghe ý kiến của cácbên, trình bày quan điểm đối đáp thì cả ba chức năng được các bên truyền đạt, thểhiện ý chí bằng lời nói Qua đó, tính công khai minh bạch của một phiên tòa đượcđảm bảo, là cơ sở nền tảng cho việc bảo vệ quyền con người ngay tại Tòa án
- Việc xét hỏi phải liên tục: Bên cạnh yếu tố trực tiếp, bằng lời nói của việc
xét hỏi thì tính liên tục cũng là yêu cầu không thể thiếu trong quá trình xét xử một
vụ án hình sự Bởi từ khi bắt đầu khai mạc phiên tòa cho đến khi kết thúc phiên tòabằng việc Tòa tuyên án, rất nhiều nội dung cần được làm rõ, nhiều người liên quan
có thể đưa ra nhiều chứng cứ, tài liệu khác nhau, do đó tính liên tục của việc xét hỏi
sẽ đảm bảo cho quá trình tố tụng đi theo một trình tự chặt chẽ, nhanh gọn, hạn chếkéo dài phiên tòa và cũng nhằm mục đích để cơ quan tiến hành tố tụng, nhữngngười tham gia tố tụng tập trung vào các tình tiết của vụ án, có cái nhìn khách quan,
cô đọng, rõ ràng không mơ hồ về việc xét xử của Tòa án cho đến giai đoạn kết thúc.Quá trình xét xử gồm nhiều thủ tục nối tiếp nhau, thủ tục trước đó là căn cứ để phátsinh các nội dung cần xem xét ở thủ tục sau, có mối quan hệ nhân quả với nhau, vìvậy nếu để phiên tòa gián đoạn hoặc tạm ngừng quá lâu, khi bắt đầu lại một phiêntòa mới sẽ gây khó khăn cho những người tham gia trong việc xâu chuỗi các tìnhtiết, thiếu sót trong việc đánh giá toàn diện chứng cứ sẽ dễ dẫn đến phán quyết sailầm hoặc nhận định vấn đề chưa đầy đủ, ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của bịcan, bị cáo Hội đồng xét xử phải làm việc liên tục, trừ thời gian nghỉ theo luật định,giai đoạn nghị án cũng là lúc Hội đồng xét xử làm việc và trong suốt quá trình diễn
ra phiên tòa, có thành viên Hội đồng xét xử dự khuyết tham gia nếu thành viênchính thức của Hội đồng xét xử không thể có mặt Trong khi đang tham gia xét xửmột vụ án, Hội đồng xét xử không được tham gia tố tụng đối với một vụ án khác
Như vậy, tại phiên tòa sơ thẩm với vị trí là cấp xét xử thứ nhất, nguyên tắcxét hỏi công khai, bằng lời nói và liên tục được thể hiện toàn diện nhất, dựa trên cáo
Trang 24trạng của Viện kiểm sát thì phiên tòa được tiến hành, “ Không có buộc tội thì không
có xét xử” Để phiên tòa sơ thẩm diễn ra nhanh chóng, khách quan thì nhữngnguyên tắc cơ bản trong tố tụng hình sự cần được thực thi nghiêm túc trong các giaiđoạn của một vụ án hình sự, đặc biệt chú trọng đến các hoạt động công khai diễn rangay tại phiên tòa
1.2 Mối tương quan giữa xét hỏi và các thủ tục tố tụng khác trong phiên tòa hình sự sơ thẩm.
1.2.1 Xét hỏi và thủ tục bắt đầu phiên tòa
Thủ tục bắt đầu phiên tòa là thủ tục bắt buộc phải có đối với bất kỳ phiên tòa
sơ thẩm hình sự nào được mở Thủ tục xét hỏi và thủ tục bắt đầu phiên tòa được quyđịnh trong Mục V Hai thủ tục này độc lập với nhau nhưng có mối quan hệ chặt chẽ,được tiến hành theo trình tự liên tiếp Xét hỏi vừa tiếp nối thủ tục bắt đầu phiên tòanhưng cũng là tiền đề cho thủ tục nghị án và tuyên án Trước khi tiến hành thủ tụcxét hỏi, phải đảm bảo đúng thành phần những người tham gia tố tụng và nhữngngười tiến hành tố tụng, đây là yếu tố đảm bảo việc xét xử trước hết phải đúngngười, xác định những người có liên quan đến vụ án như nguyên đơn dân sự, bị đơndân sự, người làm chứng… Tại thủ tục khai mạc phiên tòa, Thẩm phán – chủ tọaphiên tòa phải đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử, nội dung của Quyết định này ghinhận gần như đầy đủ thành phần tham gia xét xử và những người được triệu tập đếnphiên tòa, xét xử vụ án gì và tư cách tham gia tố tụng của từng người Những người
có mặt, vắng mặt tại phiên tòa đều có những quyền, nghĩa vụ riêng biệt tùy thuộcvào tư cách tham gia tố tụng Thẩm phán phải phổ biến quyền và nghĩa vụ cho họbiết Thủ tục bắt đầu phiên tòa sẽ là cơ sở để Tòa án xét hỏi và nghe ý kiến trình bàycủa những người có mặt tại phiên tòa ở các phần thủ tục tiếp theo
Tại giai đoạn này, có thể phiên tòa sẽ được tiếp tục hoặc Hội đồng xét xửquyết định hoãn nếu xét thấy không đảm bảo về thủ tục tố tụng và việc xét xử sẽảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của những người vắng mặt và có mặt Do
đó, khi phiên tòa phải hoãn thì cũng không thể tiến hành thủ tục xét hỏi Thủ tục bắtđầu phiên tòa có thể cung cấp thêm những người làm chứng hoặc những tài liệu, đồ
Trang 25vật mới…mà trước đó không được đề cập trong Quyết định đưa vụ án ra xét xử.Những người được kiểm tra căn cước trong giai đoạn này sẽ được xét hỏi hoặc đượctrình bày ở các giai đoạn tiếp theo Vì vậy, để phiên tòa được tiến hành xuyên suốt,liên tục thì cũng cần kiểm tra đầy đủ thủ tục bắt đầu.
1.2.2 Xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa
Xét hỏi và tranh luận là hai thủ tục riêng biệt, độc lập, tuy cùng nằm trongphần tranh tụng tại phiên tòa Thủ tục xét hỏi theo mô hình tố tụng hiện nay thuộcnhiệm vụ chính của Hội đồng xét xử gồm Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa, các hộithẩm và Kiểm sát viên Tranh luận là thủ tục tố tụng được thực hiện sau phần xéthỏi, sau khi các nội dung chủ yếu về mặt chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét, trừkhi thấy cần thiết, thì Hội đồng xét xử có thể quay trở lại phần xét hỏi, thông thườngkhi Chủ tọa phiên tòa tuyên bố kết thúc phần hỏi thì mới chuyển sang phần tranhluận Phần thủ tục tranh luận thể hiện rõ nhất ý chí, các quan điểm, lập luận để bảo
vệ quyền và lợi ích cho bị cáo, bác bỏ quan điểm buộc tội của Viện kiểm sát hoặcđưa ra các tình tiết, chứng cứ nhằm mục đích giảm nhẹ hình phạt mà bị cáo phảichịu, thường phần tranh luận, người bào chữa sẽ đưa ra quan điểm về tội phạm vàhình phạt dưới mức án đề nghị của Viện kiểm sát
Thủ tục xét hỏi và thủ tục tranh luận có mối quan hệ mật thiết với nhau, vìchứng cứ, tài liệu của vụ án được kiểm tra, đánh giá tính đúng đắn tại phần xét hỏi.Đây là cơ sở để các bên đưa ra lập luận của mình tại phần tranh luận dựa trên cácchứng cứ được Hội đồng xét xử xem xét tại phiên tòa Có thể nói xét hỏi là tiền đềcủa tranh luận, là cơ sở để các bên xây dựng luận cứ cho phần tranh luận Do đó đểviệc tranh luận thật sự có hiệu quả, đáp ứng được ý chí của các bên thì phần xét hỏiphải chi tiết, cụ thể, đi vào những nội dung chính, quan trọng của vụ án
1.2.3 Xét hỏi và thủ tục nghị án, tuyên án
Thủ tục nghị án và tuyên án là phần thủ tục cuối cùng của một phiên tòa hình
sự, được tiến hành liền ngay sau thủ tục tranh luận Đến giai đoạn này, Tòa án, bênbuộc tội và bên gỡ tội đã nắm được toàn bộ diễn biến, chứng cứ, nội dung và quanđiểm của các bên Thủ tục nghị án và tuyên án, vai trò chính thuộc về Hội đồng xét
Trang 26xử, Viện kiểm sát không tham gia vào phần thủ tục này.Kết quả của thủ tục xét hỏi,tranh luận là cơ sở để Hội đồng xét xử nghị án đưa ra quyết định cuối cùng của vụ
án Hội đồng xét xử biểu quyết theo đa số từng vấn đề và chỉ được căn cứ vàonhững chứng cứ, tài liệu được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàndiện chứng cứ của vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, ngườitham gia tố tụng khác Việc đánh giá chứng cứ khách quan, toàn diện là cơ sở đểHội đồng xét xử ban hành một bản án thuyết phục
1.3 Khái quát các quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ
1945 đến nay về xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm hình sự.
1.3.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự 1988
Luật tố tụng hình sự được hình thành và dần dần phát triển thành một ngànhluật độc lập Trong pháp luật TTHS, thủ tục xét hỏi cũng có những thay đổi theo sựphát triển của ngành luật này Bộ luật tố tụng hình sự đầu tiên của Việt Nam đượcban hành năm 1988, thủ tục xét hỏi cũng được ghi nhận thành thủ tục riêng biệt
Trong những năm đầu của nền tư pháp dân chủ nhân dân, các văn bản phápluật về tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp đã được ban hành Sắc lệnh33C ngày 13/9/1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ cộng hòa
về thành lập Tòa án quân sự, sau đó được bổ sung bằng Sắc lệnh số 21 ngày14/2/1946; Sắc lệnh 46-SL ngày 10/10/1945 về tổ chức đoàn thể luật sư, Sắc lệnh
13 ngày 24/1/1946 về tổ chức tòa án và các ngạch thẩm phán, theo đó có Tòa án sơcấp (đặt ở cấp huyện, quận, châu), Tòa án đệ nhị cấp (đặt ở cấp tỉnh, thành phố),Tòa thượng thẩm (đặt ở 3 kỳ) Sau Tổng tuyển cử, Hiến pháp năm 1946 được banhành, quy định cơ quan tư pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa gồm: Toà ántối cao; các Toà án phúc thẩm; các Toà án đệ nhị cấp và sơ cấp Sắc lệnh 69/SLngày 18/6/1949 được cụ thể hóa bằng Nghị định số 01/NĐ ngày 12 tháng 1 năm
1950 của Bộ tư pháp về mở rộng quyền bào chữa Để đáp ứng yêu cầu dân chủ hóanền tư pháp, Sắc lệnh 85 ngày 22/5/1950 đổi tên tòa án sơ cấp thành “Tòa án nhândân”; Phụ thẩm được đổi thành Hội thẩm nhân dân Qua đó, thủ tục xét hỏi còn
Trang 27được thể hiện gián tiếp trong các văn bản liên quan đến quyền bào chữa của bị can
do Hội nghị tư pháp thông qua ngày 20/6/1956 Thông tư 22 – HCTP ngày18/12/1957 của Bộ Tư pháp trả lời một số điểm về quyền bào chữa
Vào cuối những năm 1950 đã có những thay đổi lớn về hệ thống tư pháp.Năm 1958, Quốc hội quyết định thành lập Tòa án nhân dân tối cao và Viện công tốTrung ương, là các cơ quan thuộc Chính phủ Đến năm 1959, Hiến pháp mới đượcban hành, trên cơ sở đó, Luật tổ chức Tòa án nhân dân và Luật tổ chức Viện kiểmsát nhân dân 1960 ra đời, với việc thành lập hệ thống Tòa án nhân dân và Viện kiểmsát nhân dân Trong đó Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao làcác thiết chế thuộc Quốc hội Sau khi giải phóng miền Nam 91975), Chính phủCách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã ban hành Sắc luật số 01 –SL/67 ngày 15/3/1976 về tổ chức Tòa án nhân dân Khi đất nước thống nhất về mặtnhà nước (1976) thì hệ thống Tòa án và Viện kiểm sát được hướng dẫn hoạt độngtheo Luật tổ chức Tòa án nhân dân và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 1960.Hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự trong giai đoạn này được Tòa án nhândân Tối cao hướng dẫn bằng “Bản hướng dẫn trình tự sơ thẩm về hình sự” và Thông
tư số 16-TATC ngày 17/9/1974 Sau khi Hiến pháp 1980 ra đời, Luật Tổ chức Tòa
án nhân dân và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 1981 được ban hành cho phùhợp với Hiến pháp mới
Theo quy định trong các văn bản nói trên thì trình tự xét hỏi trong phiên tòa
sơ thẩm hình sự được bắt đầu là việc xét hỏi của Hội đồng xét xử, tiếp theo là Kiểmsát viên, người bào chữa, nguyên đơn dân sự Thủ tục xét hỏi được bắt đầu bằngviệc Thư ký được Chủ tọa phiên tòa yêu cầu đọc bản cáo trạng Việc xét hỏi bắt đầu
từ hỏi bị cáo, người bị hại, người làm chứng Vai trò của Hội đồng xét xử tại thủ tụcxét hỏi trong giai đoạn này cũng giống như hiện nay khi vẫn giữ quyền hỏi chính vàhỏi toàn bộ nội dung vụ án Khi xét hỏi: “Hội đồng xét xử phải lắng nghe những lờikhai của bị cáo nhưng chủ tọa phiên tòa phải kịp thời căn cứ vào những chứng cứ và
lý lẽ vững chắc, vạch ra những điều mà bị cáo khai không đúng, nhưng cần tránhviệc tranh cãi tay đôi với bị cáo” Vai trò của Kiểm sát viên theo hướng dẫn này rất
Trang 28mờ nhạt, không thực sự có hiệu quả trong thủ tục xét hỏi tại phiên tòa, chỉ thực hiệnquyền hỏi những người tham gia tố tụng khác sau phần hỏi của Chủ tọa phiên tòa:
“Sau khi Hội đồng xét xử hỏi xong một việc thì chủ tọa phiên tòa cần hỏi đại diệnViện kiểm sát và người bào chữa có hỏi thêm gì không” Trong trường hợp bị cáokhông thừa nhận thì “ nên yêu cầu Viện kiểm sát nhân dân phát hiểu thêm về vấn đềnào bị cáo còn chối cãi” [26] Một điểm bất hợp lý tại giai đoạn này là phần công bốcáo trạng lại do thư ký phiên tòa đọc Điều này chưa phù hợp với chức năng, nhiệm
vụ của Kiểm sát viên
Có thể nói, thủ tục xét xử tại phiên tòa hình sự sơ thẩm trong giai đoạn từnăm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật TTHS năm 1988 chưa được hệ thốngthành một văn bản cụ thể, các quy định còn nằm tản mạn trong các văn bản hướngdẫn thi hành, các sắc lệnh, các công văn hướng dẫn nội bộ Nội dung quy định vềthủ tục cũng chưa thực sự khoa học, đặt vai trò của Hội đồng xét xử là trung tâmcủa thủ tục xét hỏi, vai trò của Kiểm sát viên chưa được đề cao, vai trò của ngườibào chữa cũng chưa đạt được hiệu quả nhất định Giai đoạn đất nước sau giải phóngcòn phải giải quyết nhiều vấn đề còn tồn đọng của chiến tranh, trình độ lập pháp cònhạn chế, vì vậy phiên tòa hình sự sơ thẩm trong giai đoạn này chắc chắn còn nhiềuthiếu sót và tính dân chủ chưa được đề cao đúng mức Tuy nhiên, cũng phải ghinhận sự quan tâm, nỗ lực của Nhà nước ta trong việc xây dựng ngành tư pháp nóichung, không ngừng nâng cao chất lượng xét xử
1.3.2 Giai đoạn từ năm 1988 đến trước khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự 2003
Pháp luật tố tụng hình sự trong giai đoạn này đã có bước phát triển cả về mặtnội dung và hình thức với việc pháp điển hóa pháp luật TTHS lần thứ nhất vào năm
1988 Bộ luật tố tụng hình sự 1988 được thông qua tại kỳ họp thứ ba, Quốc hội khóaVIII đã tập hợp và pháp điển những quy định riêng rẽ, tản mạn được ban hành trongcác văn bản khác nhau về chung một mối – văn bản có giá trị pháp lý cao là Luật.Lần đầu tiên, Bộ luật tố tụng hình sự 1988 quy định trình tự, thủ tục để tiến hànhcác hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự làm tiền đề cho
Trang 29việc phối hợp, thực hiện đồng bộ giữa các cơ quan thực thi pháp luật Công tác xét
xử giai đoạn này cũng được nâng cao về mặt chất lượng cũng như cách thức tổ chứcphiên tòa được chuẩn hóa hơn các giai đoạn trước
Tiếp tục kế thừa và phát huy những nguyên tắc chủ đạo, tinh thần thượng tônpháp luật và đảm bảo quyền con người, quyền được đối xử công bằng trước phápluật của công dân, tiếp thu tinh hoa những tư tưởng tiến bộ của Hiến pháp 1946,Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980, đặc biệt là các Luật Tổ chức TAND và Luật tổchức VKSND năm 1960, năm 1981, Bộ luật tố tụng 1988 đã có nhiều nguyên tắctiến bộ và được ghi nhận như nguyên tắc “ Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản
án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” ( Điều 10), nguyên tắc đảm bảoquyền bào chữa của bị can, bị cáo ( Điều 12), nguyên tắc đảm bảo quyền bình đẳngtrước Tòa án ( Điều 20) và các quy định nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp phápcủa các chủ thể tham gia tố tụng khác Bộ luật tố tụng hình sự 1988 quy định về thủtục xét hỏi tại Chương XIX, từ Điều 180 đến Điều 190 Chủ thể hỏi theo quy định làThẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, Hội thẩm, Kiểm sát viên, người bào chữa, ngườigiám định Trình tự xét hỏi theo thứ tự là Hội đồng xét xử hỏi chính, sau đó Kiểmsát viên, người bào chữa hỏi…cụ thể:
“1- Hội đồng xét xử phải xác định đầy đủ các tình tiết về từng sự việc và vềtừng tội của vụ án theo thứ tự xét hỏi hợp lý
2- Khi xét hỏi từng người, chủ toạ phiên toà hỏi trước rồi đến các hội thẩmnhân dân, sau đó đến kiểm sát viên, người bào chữa Những người tham gia phiêntoà cũng có quyền đề nghị với chủ toạ phiên toà hỏi thêm về những tình tiết cần làmsáng tỏ Người giám định được hỏi về những vấn đề có liên quan đến việc giámđịnh
3- Trong khi xét hỏi, Hội đồng xét xử xem xét những vật chứng có liên quantrong vụ án”
Về cơ bản, thủ tục xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm trong giai đoạn này cũng baogồm việc công bố bản cáo trạng, xác định nội dung và thứ tự xét hỏi, hỏi, công bốlời khai tại cơ quan điều tra, xem xét, kiểm tra chứng cứ Nhưng có thay đổi so với
Trang 30giai đoạn trước ở việc thư ký không còn đọc bản cáo trạng mà là nhiệm vụ củaKiểm sát viên tham gia phiên tòa Quy định này thay đổi là hợp lý, Kiểm sát viênphải đọc bản cáo trạng vì đây chính là quan điểm công khai buộc tội bị cáo của Việnkiểm sát, chức năng này phải do Kiểm sát viên thực hiện mà không phải là đốitượng nào khác Tuy có sự thay đổi lớn về việc quy định trình tự, thủ tục xét hỏi sovới các văn bản trước đó nhưng trong quá trình thi hành, áp dụng cũng đã bộc lộnhiều điểm chưa hợp lý Bộ luật tố tụng hình sự được sửa đổi lần đầu tiên năm
1990, đến năm 1992, sau khi Hiến pháp 1992 được thông qua, Bộ luật tố tụng hình
sự 1988 tiếp tục có sự thay đổi, bằng việc Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sungmột số điều của BLTTHS 1988 cho phù hợp với Hiến pháp Đồng thời, Luật tổ chứcTAND 1992, Luật tổ chức VKSND 1992, Pháp lệnh về Thẩm phán và Hội Thẩm
1993, Pháp lệnh về KSV 1993, Pháp lệnh về Tòa án quân sự 1993, Pháp lệnh vềViện kiểm sát quân sự 1993 Năm 2000, lần thứ ba, BLTTHS 1988 được sửa đổi bổsung nhiều quy định nhưng thủ tục xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm nhìn chung không
có sự thay đổi
Bộ luật tố tụng hình sự 1988 lần đầu tiên tổng hợp và quy định khá chi tiết vềtrình tự thủ tục xét hỏi làm cơ sở cho việc áp dụng thống nhất pháp luật tại phiêntòa, góp phần làm cho phiên tòa sơ thẩm được công khai, minh bạch, nâng cao chấtlượng xét xử cả về nội dung xét hỏi và cách thức tổ chức phiên tòa
1.3.3 Giai đoạn từ 2003 đến trước khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
Bộ luật TTHS năm 2003 được ban hành (thay cho Bộ luật TTHS năm 1988) đãphản ánh những dấu ấn đầu tiên của cải cách tư pháp theo tinh thần và nội dung củaNghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 02-01-2002 của Bộ Chính trị “về một số nhiệm vụtrọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” Việc tiến hành tranh tụng tại phiên tòatheo tinh thần Nghị quyết 08-NQ/TW được bắt đầu thực hiện theo hướng dẫn tại Thôngbáo số 01- TB/BCĐCCTP, ngày 31-5-2002 của Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp Trungương Bộ luật TTHS năm 2003 đã từng bước tiếp cận chủ trương bảo đảm tranh tụng đểviệc xét xử khách quan và toàn diện hơn Về thủ tục xét hỏi tại phiên tòa
Trang 31sơ thẩm, Bộ luật TTHS năm 2003 quy định khi xét hỏi từng người, chủ tọa phiêntòa hỏi trước rồi đến các hội thẩm, sau đó đến kiểm sát viên, người bào chữa, ngườibảo vệ quyền lợi của đương sự Những người tham gia phiên tòa cũng có quyền đềnghị với Chủ tọa phiên tòa hỏi thêm về những tình tiết cần làm sáng tỏ Người giámđịnh được hỏi về những vấn đề liên quan đến giám định.
Thực chất thủ tục này là việc người tiến hành tố tụng bao gồm Hội đồng xét
xử, kiểm sát viên, Luật sư tiến hành hỏi bị cáo, người làm chứng và những ngườiliên quan khác để xác minh các chứng cứ trong hồ sơ vụ án và làm rõ những tìnhtiết có liên quan để xác định sự thật khách quan của vụ án
Như vậy, BLTTHS năm 2003 không quy định phải hỏi ai trước, ai sau Tùytừng vụ án, chủ tọa có kế hoạch xét hỏi hợp lý trên cơ sở nội dung từng vụ án cụ thểcũng như thái độ khai báo của người tham gia tố tụng Nội dung xét hỏi tập trunglàm rõ tình tiết định tội, định khung, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bịcáo…
1.3.4 Xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng hình
sự năm 2015
Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận những thành tựu đậm nét của cải cách tưpháp trong lĩnh vực xét xử Hiến pháp ghi nhận những tư tưởng tiến bộ, hướng đếnmục tiêu bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa và tôn trọng, bảo vệ cao nhất quyềncon người Trên tinh thần đó, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 khẳng định tiếp tụcduy trì và phát huy những ưu điểm của mô hình tố tụng thẩm vấn; đồng thời, thamkhảo kinh nghiệm quốc tế, tiếp thu có chọn lọc những hạt nhân hợp lý của mô hình
tố tụng tranh tụng, phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam, bảo đảm nguyên tắctranh tụng trong xét xử Một trong những mục tiêu quan trọng của việc ban hànhBLTTHS năm 2015 là phải tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đặt ra trong thực tiễn; xáclập đầy đủ cơ sở pháp lý để quá trình phát hiện, xử lý tội phạm được tiến hành chínhxác, kịp thời, góp phần bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ cuộcsống bình yên của nhân dân, thúc đẩy kinh tế đất nước phát triển Từ yêu cầu đó,BLTTHS năm 2015 đã có nhiều sửa đổi, bổ sung quan trọng, trong đó, nhằm thể
Trang 32hiện rõ nguyên tắc tranh tụng trong xét xử, không chia thành thủ tục xét hỏi và thủtục tranh luận như trước đây mà nhập chung thành thủ tục tranh tụng tại phiên tòa(từ Điều 306 đến Điều 325) Điều 307 quy định:
a- Hội đồng xét xử phải xác định đầy đủ những tình tiết về từng sự việc, từngtội trong vụ án và từng người Chủ tọa phiên tòa điều hành việc hỏi, quyết địnhngười hỏi trước, hỏi sau theo thứ tự hợp lý
b- Khi xét hỏi từng người, chủ tọa phiên tòa hỏi trước sau đó quyết định đểThẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp của đương sự thực hiện việc hỏi
Người tham gia tố tụng tại phiên tòa có quyền đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏithêm về những tình tiết cần làm sáng tỏ
Người giám định, người định giá tài sản được hỏi về những vấn đề có liênquan đến việc giám định, định giá tài sản
c- Khi xét hỏi, Hội đồng xét xử xem xét vật chứng có liên quan trong vụ án Như vậy, theo quy định của BLTTHS năm 2015 thì chủ tọa phiên tòa điềuhành việc hỏi, quyết định người hỏi trước, hỏi sau theo thứ tự hợp lý Khi xét hỏi,chủ tọa phiên tòa hỏi trước sau đó quyết định để Thẩm phán (trường hợp Hội đồng3), Hội thẩm, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của đương sự thực hiện việc hỏi
Người tham gia tố tụng tại phiên tòa có quyền đề nghị Chủ tọa phiên tòa hỏithêm về những tình tiết cần làm sáng tỏ Người giám định, người định giá tài sảnđược hỏi về những vấn đề có liên quan đến việc giám định, định giá tài sản Đồngthời BLTTHS năm 2015 bổ sung cho bị cáo quyền được trực tiếp đặt câu hỏi vớicác bị cáo khác, bị hại, đương sự hoặc người đại diện của họ, người làm chứng nếuđược Chủ tọa đồng ý thay vì đề nghị Chủ tọa hỏi (Điểm i khoản 2 Điều 61 các Điều
309, 310 và 311 Bộ luật TTHS 2015) Ý nghĩa của việc làm này để xác định toàndiện, đầy đủ, khách quan nội dung vụ án, tránh oan sai, đảm bảo xét xử đúng quyđịnh của pháp luật
Trang 33Tiểu kết chương 1
Xét hỏi là thủ tục quan trọng trong quá trình xét xử vụ án hình sự, xuất phát
từ việc xét hỏi thì chứng cứ của vụ án được công khai và toàn bộ nội dung vụ ánđược làm sáng tỏ Qua những lần thay đổi pháp luật thực định, thủ tục xét hỏi đang
có sự chuyển biến tích cực khi tiến gần hơn đến việc kết hợp giữa xét hỏi và tranhluận Đây được xem là xu hướng đúng đắn và đem lại hiệu quả tích cực trong hoạtđộng xét xử tại các cấp Tòa án Không thể phủ nhận những quy định về thủ tục xéthỏi đã dần hoàn thiện qua các lần pháp điển hóa, cho đến BLTTHS 2015 đã thể hiện
rõ rệt tinh thần cải cách khi kết hợp xét hỏi và tranh luận thành phần tranh tụng tạiphiên tòa Nhưng trong quá trình thi hành BLTTHS kể từ khi thủ tục xét hỏi đượcquy định chính thức là một thủ tục độc lập, vai trò của Tòa án vẫn chưa được giảiphóng để trở về đúng vị trí trọng tài Các quy định của pháp luật đã bộc lộ hạn chế
về mặt chủ thể thực hiện xét hỏi (đặc biệt vai trò của Hội thẩm và Kiểm sát viên),trình tự xét hỏi, nội dung khi xét hỏi và các quy định về công bố lời khai, xem xétvật chứng tại phiên tòa
Trang 34Chương 2 THỰC TIỄN THI HÀNH CÁC QUY ĐỊNH CỦA
BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 2015 VỀ XÉT HỎI TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, TP HỒ CHÍ
MINH 2.1 Chủ thể thực hiện quyền xét hỏi
Bộ luật tố tụng hình sự 2015 không liệt kê thành nhóm những chủ thể thựchiện quyền xét hỏi mà quy định trong các điều luật có liên quan ở Mục V – Thủ tụctranh tụng tại phiên tòa Theo quy định tại khoản 2, Điều 307 về trình tự xét hỏi thì
có thể phân biệt chủ thể hỏi bao gồm 2 nhóm: Những người tiến hành tố tụng vànhững người tham gia tố tụng Nhóm chủ thể hỏi là những người tiến hành tố tụnggồm: Chủ tọa phiên tòa, Thẩm phán, Hội Thẩm, Kiểm sát viên Và nhóm chủ thểtham gia tố tụng gồm: Người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củađương sự, người giám định, người định giá tài sản, đồng thời người tham gia tố tụngtại phiên tòa được quyền đề nghị chủ tọa hỏi thêm về những tình tiết cần làm sángtỏ
2.1.1 Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa là thành viên của Hội đồng xét xử và làngười điều hành chính thủ tục xét hỏi tại phiên tòa Trách nhiệm của Hội đồng xét
xử nói chung và Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa nói riêng tại mỗi phiên tòa sơ thẩmđược quy định cụ thể: “Hội đồng xét xử phải xác định đầy đủ những tình tiết vềtừng sự việc, từng tội trong vụ án và từng người Chủ tọa phiên tòa điều hành việchỏi, quyết định người hỏi trước, hỏi sau theo thứ tự hợp lý” – khoản 1, Điều 307 Bộluật tố tụng hình sự 2015 Quy định này cho thấy Hội đồng xét xử giữ vị trí rất quantrọng khi tiến hành việc hỏi, phải đi tìm sự thật khách quan của vụ án và giải quyếttất cả các vấn đề, các tình tiết của một vụ án Với mô hình tố tụng hình sự đang ápdụng ở nước ta hiện nay, Hội đồng xét xử được toàn quyền chủ động và tích cực xéthỏi, quyền hạn của Hội đồng xét xử không bị giới hạn trong thủ tục hỏi Nhưngchính quy định này đã tồn tại nhiều bất cập và không hợp lý, khi Bộ luật TTHS năm
2015 thể hiện mô hình TTHS xét hỏi kết hợp với mô hình TTHS tranh tụng Không
Trang 35những thế, Hội đồng xét xử phải làm thay nhiệm vụ của các chủ thể khác khi thamgia phiên tòa, vừa xét hỏi, vừa xem xét chứng cứ, tìm các tình tiết hợp lý và bất hợp
lý trong lời khai của bị cáo và đối khớp với hồ sơ vụ án, xem xét các yếu tố tăngnặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Hội đồng xét xử được traoquyền hạn lớn nhưng cũng chính là rào cản để Hội đồng xét xử không tập trung vàoviệc xem xét, đánh giá chứng cứ và nghe trình bày giữa bên buộc tội và gỡ tội Tínhkhách quan cũng vì thế mà chưa thực sự được đảm bảo
Trong các giai đoạn giải quyết vụ án hình sự, thì chính thủ tục xét hỏi là giaiđoạn quan trọng nhất để các bên được biết quan điểm chính thức của bên đối kháng,các chứng cứ cũng được chính thức công khai kiểm tra lại toàn bộ tại phiên tòa, do
đó, việc quy định không hợp lý về chức năng, nhiệm vụ của cơ quan tiến hành tốtụng có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả giải quyết vụ án Hội đồng xét xử mà trong
đó, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa là người tiến hành TTHS được tiếp xúc với toàn
bộ các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được nghiên cứu hồ sơ với khoảng thời giankhá dài, nên việc quy định Chủ tọa phiên tòa hỏi chính và được hỏi về toàn bộ cáctình tiết có liên quan dễ dẫn đến tâm lý chủ quan, thiên về buộc tội theo hướng cơquan điều tra và Viện kiểm sát xây dựng hồ sơ Đây là điểm chưa hợp lý, có thể gâytâm lý bất ổn cho chính bị cáo về việc Hội đồng xét xử mở phiên tòa chỉ để hợpthức hóa lời khai của họ cho đúng thủ tục Thủ tục xét hỏi được diễn ra công khaitại phiên tòa là cơ hội rất lớn cho bị cáo được thể hiện quan điểm của mình trướccáo buộc của Viện kiểm sát, được trình bày những căn cứ để bảo vệ mình trước các
cơ quan tiến hành tố tụng, trong một vài trường hợp có thể làm đảo ngược hồ sơ vụ
án nếu trước đó bị cáo bị ép cung, nhục hình “Người dân có thể chưa tìm hoặckhông tìm thấy công lý ở giai đoạn trước nhưng được quyền hy vọng sẽ tìm thấycông lý ở phiên tòa xét xử” [7, tr.45] Với vai trò chủ chốt như hiện nay việc xét hỏiđược trao cho Hội đồng xét xử, mà hoạt động chính thuộc về Thẩm phán – chủ tọaphiên tòa đã đặt ra yêu cầu khá cao cho chủ thể này khi phải thực sự phát huy tất cảcác kĩ năng, tâm lý, tâm trí để mục đích xem xét chứng cứ toàn diện nhất tại mộtbuổi xét xử Hội đồng xét xử ở cấp sơ thẩm được quy định tại Điều 22, Điều 23 -
Trang 36Chương II – Những nguyên tắc cơ bản – Bộ luật tố tụng hình sự 2015 về việc thựchiện chế độ xét xử có Hội thẩm tham gia và được xét xử độc lập và chỉ tuân theopháp luật Như vậy, khi xét xử, ngoài Chủ tọa phiên tòa thì Hội Thẩm nhân dâncũng tham gia vào việc xét hỏi và đưa ra quyết định đối với bị cáo Vai trò, tráchnhiệm của Hội thẩm nhân dân theo quy định là rất lớn và ngang quyền với Thẩmphán nhưng trong thực tế lại chưa thực sự phát huy hiệu quả, thậm chí không đưa ra
ý kiến gì về việc đánh giá chứng cứ Thẩm phán vẫn phải chịu trách nhiệm chính,quyết định chính khi xét xử Trong quá trình giải quyết vụ án, nếu có xảy ra sai sótthì chỉ có Thẩm phán mới phải chịu chế tài của quy định về trách nhiệm bồi thường,
kỉ luật Do đó, xét về mặt khách quan, Thẩm phán phải thực sự tập trung tại mỗiphiên tòa và có phần bao quát hết diễn biến phiên tòa để đưa ra quyết định, giữ vaitrò chủ động hơn Hội Thẩm nhân dân cũng là điều dễ hiểu
2.1.2 Hội thẩm nhân dân
Có thể khẳng định, sự tham gia xét hỏi của Hội thẩm nhân dân tại phiên tòahình sự sơ thẩm từ trước đến nay thực sự mờ nhạt, điều này diễn ra ngay cả ở nhữngphiên tòa của những vụ án lớn Trong khi Chủ tọa phải xét hỏi, nghe Viện kiểm sáttrình bày cáo trạng, nghe ý kiến của bị cáo, của người bảo vệ quyền và lợi ích của bịcáo, của đương sự, xem xét chứng cứ các bên đưa ra, đối chất, cân nhắc phải hoạtđộng quá nhiều tại phiên tòa thì Hội thẩm nhân dân chỉ là hình thức, một phiên tòa
sơ thẩm thông thường có hai Hội thẩm, ý kiến của hai Hội thẩm tại thủ tục nghị án
là chiếm đa số so với ý kiến của Chủ tọa phiên tòa, nên việc không phát huy hết tất
cả vai trò, trách nhiệm của Hội thẩm là một thiếu sót lớn
Thực tiễn xét xử, khi Chủ tọa phiên tòa bắt đầu thủ tục xét hỏi, xét hỏi nhữngtình tiết quan trọng có liên quan đến vụ án hết thì thường Chủ tọa sẽ hỏi ý kiến củaHội thẩm về việc có hỏi thêm các bị cáo hoặc hỏi các vấn đề khác nữa không,nhưng Hội thẩm gần như chỉ hỏi cho đúng thủ tục hoặc không hỏi, các câu hỏi cũngkhông tập trung đi sâu vào việc làm sáng tỏ các tình tiết khách quan, thường thì đềcập đến khía cạnh đạo đức để bị cáo ăn năn, hối cải, thành khẩn khai báo Pháp luật
tố tụng hình sự đang trao cho Hội thẩm nhân dân quyền ngang với Thẩm phán
Trang 37nhưng trách nhiệm ràng buộc thì lại xem nhẹ, do đó Hội thẩm cho đến nay chưa có
cơ chế đảm bảo thực hiện Trách nhiệm nghiên cứu hồ sơ của Hội thẩm chưa được
đề cao đúng mức, do Hội thẩm được tuyển chọn từ nhiều nguồn nhân lực khácnhau, có Hội thẩm đang trong quá trình công tác tại các cơ quan ban ngành nên việcnghiên cứu hồ sơ còn chưa chú trọng, mặc dù Hội thẩm không bị ràng buộc về thờigian nghiên cứu hồ sơ, việc xây dựng kế hoạch xét hỏi gần như không có, hoặc nếu
có thì không đạt chất lượng cao Hội thẩm cũng có thể mắc những sai lầm về việcđịnh hình sẵn việc kết tội bị cáo, dẫn đến các phiên tòa chủ yếu xoay quanh việc kếttội thay vì kiểm tra tính hợp pháp của chứng cứ và lời khai của những người thamgia tố tụng “ thói quen khó sửa muốn tạo cho bị cáo khuất phục tại phiên tòa, làmthay việc của Kiểm sát viên, chỉ tìm chứng cứ buộc tội bị cáo nếu sẵn có định kiến
là bị cáo có tội hoặc làm thay việc của luật sư, chỉ tìm những chứng cứ gỡ tội nếusẵn định kiến là bị cáo không có tội” [18, tr.3-10]
Điểm tích cực của chế định Hội thẩm nhân dân hiện nay là để tránh việc tạiphiên tòa, chỉ có Kiểm sát viên thực hiện việc cáo buộc, hoặc Chủ tọa phiên tòa doquá tập trung vào việc xem xét chứng cứ và điều hành phiên xét xử mà mắc một vàithiếu sót về mặt thủ tục, hoặc bỏ qua việc xét hỏi một số đương sự có liên quantrong vụ án, sự có mặt của Hội Thẩm nhân dân tại phiên tòa có thể phát huy hết trítuệ của cả Hội đồng xét xử 3 người, hạn chế những sai lầm không đáng có trong quátrình xét xử
Tại phiên tòa hình sự ngày 04/4/2013, VKS truy tố bị cáo Bùi Quý S và bịcáo Phạm Nguyễn Thế H về tội “Trộm cắp tài sản”, Hội thẩm tham gia phiên tòa chỉhỏi bị cáo: “Bị cáo có hối hận về hành vi trộm cắp của mình không?”, ngoài rakhông hỏi thêm gì về các nội dung khác của vụ án, còn Hội thẩm còn lại khôngtham gia xét hỏi Tại phiên tòa ngày 12/7/2013, Hội thẩm hỏi bị cáo: “Tại sao bị cáokhông đi làm mà lại đi cướp giật?” tác giả cho rằng việc Hội thẩm hỏi bị cáo nhưvậy không đi sâu vào nội dung vụ án và không cần thiết Phiên tòa ngày 19/6/2014,
bị cáo Đỗ Nguyễn Quốc C bị VKSND Quận 10 truy tố về tội “Cố ý gây thươngtích”, cả hai hội thẩm tham gia phiên tòa đều không tiến hành việc xét hỏi Hay tại
Trang 38phiên tòa ngày 12/6/2014, bị cáo Đặng Thanh H bị VKSND Quận 10 truy tố về tội
“trộm cắp tài sản” thì cả hai hội thẩm cũng không hỏi bị cáo bất cứ tình tiết nào của
vụ án Rất nhiều các phiên tòa có hội thẩm tham gia tại Tòa án nhân dân Quận 10 cóHội thẩm nhân dân nhưng Hội thẩm không thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ củamình, nếu có đặt câu hỏi thì cũng không đúng trọng tâm “Bị cáo bỏ nhà đi đượcmấy ngày rồi?” trong vụ án “Mua bán trái phép chất ma túy” , hay “Bị cáo tốtnghiệp năm nào, tốt nghiệp loại gì” tác giả cho rằng những câu hỏi này không liênquan đến việc làm sáng tỏ nội dung vụ án Tại các phiên xử tại Tòa án nhân dânQuận 10, thông thường Hội thẩm hay hỏi bị cáo có hối hận về hành vi của mìnhkhông, và giáo dục đạo đức cho bị cáo ngay tại phiên tòa
Việc quy định Hội đồng xét xử thực hiện quyền xét hỏi tại phiên tòa theo môhình thẩm vấn của nước ta hiện nay ít nhiều đã đạt được những hiệu quả nhất địnhnhưng chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp, nâng cao tính tranhtụng, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của bị cáo tại phiên tòa Không cần thiết phảigiao cho Hội đồng xét xử nhiệm vụ phải hỏi chính và bằng mọi cách tìm ra sự thậtkhách quan của một vụ án chỉ bằng thủ tục hỏi tại phiên tòa, cần thiết phải sửa đổi
Bộ luật tố tụng hình sự, đặt Hội đồng xét xử về đúng chức năng, nhiệm vụ “phânxử” bằng cách lắng nghe ý kiến và xem xét chứng cứ do các bên đưa ra tại phiêntòa
2.1.3 Kiểm sát viên
Kiểm sát viên là chủ thể thực hiện quyền xét hỏi tại phiên tòa – thực hànhquyền công tố bên cạnh quyền kiểm sát hoạt động tư pháp Trong phần xét hỏi tạiphiên tòa: “Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa phải bảo vệ cáotrạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo tại phiên tòa; chứng minh mọi luận điểmtrong cáo trạng bằng việc chủ động xét hỏi, thẩm vấn, đưa ra những chứng cứ trựctiếp và những chứng cứ gián tiếp để chứng minh tội phạm, làm sáng tỏ đầy đủ cáctình tiết từng sự việc của vụ án” [2] Để thực hiện quyền công tố tại phiên tòa –chức năng chính của Viện Kiểm sát khi xét xử, Viện kiểm sát mở đầu thủ tục hỏibằng việc công bố bản cáo trạng Đây là quan điểm buộc tội chính thức của Viện
Trang 39kiểm sát một cách công khai, có buộc tội thì sẽ có xét xử, có buộc tội sẽ có gỡ tội.Bằng cáo trạng của mình, những người tham gia vụ án hình sự có cái nhìn khái quát
về nội dung vụ án và những tình tiết có liên quan giữa hành vi và tội phạm của bịcáo Việc hỏi của Kiểm sát viên để chứng minh cho tính có căn cứ quan điểm buộctội của mình, hỏi để làm rõ bốn yêu tố cấu thành của tội phạm bao gồm chủ thể,khách thể, mặt khách quan, mặt chủ quan Do đó, cáo trạng truy tố được công bố tạiphiên tòa phải rõ ràng và thể hiện được các yếu tố trên, nhất là tính có căn cứ, nhânquả của hành vi và tội phạm của bị cáo
Trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, vai trò của Kiểm sát viên không thật sự nổibật như ở các quốc gia theo mô hình tố tụng tranh tụng Tại phiên tòa, Kiểm sát viênchỉ có quyền công bố cáo trạng, thẩm vấn bị cáo và nhân chứng khi Tòa án đã thẩmvấn xong, đề nghị giám định, yêu cầu về các vấn đề mang tính thủ tục và các chứng
cứ tiếp theo Sau khi các chứng cứ được đưa ra, Kiểm sát viên sẽ trình bày bản luậntội, trong đó nêu tóm tắt kết quả thẩm vấn, các lập luận qua quá trình xét xử cùngvới đề nghị mức hình phạt cụ thể và các biện pháp bổ sung Sau khi bản án có hiệulực pháp luật, tại một số quốc gia còn giao cho Cơ quan Công tố chịu trách nhiệmthi hành bản án, quyết định của Tòa án (Điều 707, 708 Bộ luật tố tụng hình sự CộngHòa Pháp) Vì tính chất, vai trò đặc biệt quan trọng của Kiểm sát viên trong mô hình
tố tụng thẩm vấn như ở nước ta hiện nay, đòi hỏi Kiểm sát viên phải thực thi đúngnhiệm vụ chức trách của mình, phải có trách nhiệm với bản cáo trạng được công bố,
vì đây chính là cơ sở để khởi động những bước xem xét chứng cứ và trình bàynhững bào chữa gỡ tội trong các thủ tục tiếp theo
Cùng với Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên thực hiện việc hỏi bị cáo và nhữngngười tham gia tố tụng khác, xem xét và kiểm tra các chứng cứ có liên quan đến vụ
án Việc xét hỏi toàn diện của Viện kiểm sát tại phiên tòa, tuy được thực hiện sauphần hỏi của Chủ tọa phiên tòa nhưng những câu hỏi để làm rõ thêm các tình tiết vàtiếp cận vụ án ở các khía cạnh khác nhau góp phần làm sáng tỏ vụ án và có khảnăng khai thác được những điểm bất hợp lý trong lời khai so với các chứng cứ cótrong hồ sơ vụ án, qua đó nâng cao hiệu quả xét xử Như đã trình bày ở các phần
Trang 40trên, Hội đồng xét xử theo quy định hiện hành đang là chủ thể giữ quyền xét hỏichính và tích cực nhất, nhưng thực tế để đạt được hiệu quả tốt nhất thì việc xét hỏitại phiên tòa nên quy định là trách nhiệm chính của Viện kiểm sát Vì đây mới chính
là chủ thể thực hiện việc cáo buộc đối với bị cáo, là chủ thể phê chuẩn các quyếtđịnh liên quan đến bị cáo trước khi phiên tòa diễn ra Đồng thời, thực hiện chứcnăng kiểm sát trong giai đoạn điều tra, là cơ quan tiếp xúc với hồ sơ vụ án và nắmcác tình tiết của vụ án trước cả Hội đồng xét xử Pháp luật tố tụng hình sự cần thayđổi thứ tự xét hỏi để nâng cao tính chủ động của Kiểm sát viên
Thực tế tại các phiên tòa, vai trò của Kiểm sát viên mờ nhạt, thậm chí sau khiđọc cáo trạng thì Kiểm sát viên không hỏi thêm bất cứ câu hỏi nào với lý do Hộiđồng xét xử đã hỏi đầy đủ, chi tiết nên Kiểm sát viên không hỏi gì thêm Trong một
số trường hợp, Kiểm sát viên đã hỏi lặp lại các câu hỏi của Hội đồng xét xử, hỏikhông làm sáng tỏ được vấn đề, không đáp ứng được yêu cầu của thủ tục xét hỏi.Trong những trường hợp khác, tại phiên tòa có thêm những chứng cứ mới được bổsung và được Tòa án chấp nhận là chứng cứ có liên quan đến vụ án nhưng Kiểm sátviên cũng đồng ý với ý kiến của Hội đồng xét xử mà không hỏi gì thêm Tại phiêntòa, bên buộc tội và bên gỡ tội cần tranh luận để bảo vệ cho từng quan điểm của mỗibên, tính tranh tụng phải được thể hiện vì đây là cơ hội để các bên chấp nhận haybác bỏ luận điểm của bên còn lại Sau phiên tòa, mọi quan điểm đều là không chínhthống và không được thừa nhận Đối với những vu án khá rõ ràng về mặt chứng cứ,Kiểm sát viên gần như không hỏi và không tranh luận bất cứ nội dung nào khác.Quy định pháp luật hiện nay đang trao cho Hội đồng xét xử quyền được hỏi khánhiều, hỏi đầu tiên nên Viện kiểm sát đã không ý thức được việc xét hỏi của mình,Kiểm sát viên không chuẩn bị được đề cương xét hỏi Xét hỏi tại phiên tòa khác vớixét hỏi trong giai đoạn điều tra cả về nguyên tắc tố tụng, hình thức, đặc điểm và cácthủ tục đối với từng người
Tại phiên tòa hình sự sơ thẩm ngày 18/9/2013, bị cáo Cao Vũ Bảo Tr bị Việnkiểm sát nhân dân Quận 10 truy tố về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, Đại diệnVKS tham gia phiên tòa chỉ hỏi đúng một câu duy nhất: “Cáo trạng truy tố bị cáo