1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SỰ điều CHỈNH CHIẾN lược của TRUNG QUỐC đối với TIỂU VÙNG SÔNG mê KÔNG mở RỘNG từ năm 2006 đến NAY và đối SÁCH của VIỆT NAM

103 292 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bước vào thế kỷ XXI, thế giới đang chứng kiến sự trỗi dậy mạnh mẽ của nền kinh tế Trung Quốc với tốc độ phát triển, những biến đổi mạnh mẽ trong đời sống xã hội. Theo dữ liệu tổng hợp từ Bloomberg (Mỹ), tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Trung Quốc được dự báo chạm mức 13,2 ngàn tỷ USD trong năm 2018, vượt qua cả tổng GDP của 19 quốc gia thuộc Eurozone là 12,8 ngàn tỷ USD . Các chuyên gia dự đoán, đến năm 2040 Trung Quốc sẽ vượt qua Mỹ để trở thành nước có quy mô GDP lớn nhất thế giới. Trung Quốc ngày càng mở rộng ảnh hưởng trên chính trường quốc tế thông qua hàng loạt các dự án đầu tư trị giá hàng tỷ USD trên khắp các châu lục. Và khu vực Đông Nam Á, hay hẹp hơn là tiểu vùng sông Mê Kông là đối tác mà Trung Quốc không thể bỏ qua. Cũng trong giai đoạn này, các nước lớn gia tăng sự cạnh tranh chiến lược ở khu vực Đông Nam Á, điều đó đã tác động rất lớn đến tình hình chính trị khu vực, đặc biệt là chiến lược của Trung Quốc ở Đông Nam Á. Tháng 101992, Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) đã tổ chức Hội nghị Bộ trưởng đầu tiên với sự tham gia của 6 quốc gia thuộc Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng tại Manila, Philippines nơi đặt trụ sở ADB. Hội nghị đã chính thức ra mắt các cơ chế hợp tác Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng (GMS) bao gồm các quốc gia là: Trung Quốc (ban đầu là tỉnh Vân Nam và sau đó thêm khu tự trị dân tộc Choang ở Quảng Tây), Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam. GMS ưu tiên phát triển cơ sở hạ tầng, năng lượng, viễn thông, du lịch, thương mại đầu tư, phát triển nguồn nhân lực và môi trường. Sự ra đời của GMS không những đánh dấu bước phát triển kinh tế xã hội trong hợp tác khu vực, mà đây cũng như bước khởi đầu đánh dấu sự có mặt của yếu tố Trung quốc trong hợp tác khu vực tiểu vùng. Mặc dù tham gia hợp tác tiểu vùng sông Mê Kông đồng nghĩa với việc Trung Quốc sẽ tăng cường quan hệ với 510 nước thuộc hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN), nhưng hai tỉnh Vân Nam, Quảng Tây – đầu tuyến tham gia hợp tác GMS của Trung Quốc sẽ như một cửa ngõ quan trọng của Trung Quốc với khu vực Đông Nam Á, mở rộng ảnh hưởng của Trung Quốc tại khu vực này. Không dừng lại ở đó, vào tháng 72016 Trung Quốc đã có một bước chuyển đổi chính sách đối với khu vực này khi tại diễn đàn hợp tác kinh tế vịnh Bắc Bộ mở rộng lần thứ nhất tổ chức tại thành phố Nam Ninh (Trung Quốc), Bí thư đảng Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây lần đầu tiên đưa ra sáng kiến “Một trục, hai cánh”. Theo đó, Trung Quốc chủ trương hình thành hai mảng hợp tác lớn trong khu vực: Một trục là hành lang kinh tế Nam Ninh – Singapore và “hai cánh” gồm vịnh Bắc Bộ mở rộng và hợp tác lưu vực sông Mê Kông . Xây dựng cục diện hợp tác “một trục hai cánh” đã mang một ý nghĩa to lớn, lâu dài đối với quan hệ hợp tác khu vực Trung Quốc – ASEAN. Trên thực tế, trước khi tham gia vào sáng kiến này, Trung Quốc đã có những khoản đầu tư không nhỏ và tăng cường hợp tác với các nước trong khu vực Đông Nam Á như Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam. Đặc biệt, sự điều chỉnh chiến lược của Trung Quốc đối với GMS được đưa ra trong thời kỳ quan hệ Trung Quốc – ASEAN đang phát triển mạnh mẽ, hình thành nhiều hình thức hợp tác, đa dạng hơn. Đáng chú ý, trong bối cảnh, chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump tuyên bố tiếp tục trọng tâm chiến lược về châu Á, đẩy mạnh hợp tác với các nước trong khối ASEAN thì việc cạnh tranh ảnh hưởng của Trung Quốc hay cụ thể hơn là sự hợp tác của Trung Quốc với GMS lại càng mang ý nghĩa quan trọng. Không chỉ các nước liên quan đến khu vực sông Mê Kông tham gia vào sáng kiến GMS, mà nhiều nước trên thế giới cũng nhận thấy tầm quan trọng tham gia vào diễn đàn này. Cuối năm 2013, Trung Quốc công bố chiến lược “một vành đai, một con đường”, trong đó ASEAN là đối tác quan trọng và nội dung hợp tác với GMS cũng được Trung Quốc điều chỉnh như một bộ phận của sáng kiến “một vành đai, một con đường” theo tính toàn cầu của Trung Quốc. Theo đó, hợp tác GMS bên cạnh mục tiêu kinh tế còn như một cách thức để quốc gia này đẩy mạnh việc triển khai sáng kiến mang tầm vóc thế giới. Trung Quốc muốn thông qua khuôn khổ hợp tác này để thúc đẩy quan hệ song phương với từng nước ASEAN và lôi kéo ngày càng nhiều nước ASEAN tham gia vào quỹ đạo ảnh hưởng của mình, qua đó góp phần ngăn chặn ảnh hưởng của Mỹ và các nước lớn hợp tác với ASEAN. Sự điều chỉnh chiến lược của Trung Quốc với GMS đã và đang có những tác động mạnh tới kinh tế và quan hệ đối ngoại trong khu vực. Do vậy, việc nghiên cứu sự điều chỉnh chiến lược của Trung Quốc đối với GMS từ năm 2006 đến nay, cùng với đó việc phân tích và dự báo triển vọng hợp tác trong thời gian tới sẽ giúp làm rõ tác động của sáng kiến hợp tác này đối với Việt Nam. Kết quả nghiên cứu sẽ làm rõ hơn các mối quan hệ quốc tế đang diễn biến phức tạp trong khu vực, đồng thời cung cấp những cơ sở khoa học để từ đó đề xuất những kiến nghị giúp nâng cao hiệu quả của Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế và khu vực, đặc biệt trong quan hệ nước lớn – láng giềng Trung Quốc.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-NGUYỄN THỊ PHƯƠNG ANH

SỰ ĐIỀU CHỈNH CHIẾN LƯỢC CỦA TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI TIỂU VÙNG SÔNG MÊ KÔNG MỞ RỘNG

TỪ NĂM 2006 ĐẾN NAY VÀ ĐỐI SÁCH CỦA VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUỐC TẾ HỌC

Hà Nội - 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-NGUYỄN THỊ PHƯƠNG ANH

SỰ ĐIỀU CHỈNH CHIẾN LƯỢC CỦA TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI TIỂU VÙNG SÔNG MÊ KÔNG MỞ RỘNG

TỪ NĂM 2006 ĐẾN NAY VÀ ĐỐI SÁCH CỦA VIỆT NAM

Chuyên ngành: QUAN HỆ QUỐC TẾ

Mã số: 60 31 02 06

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUỐC TẾ HỌCNGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS NGUYỄN THỊ QUẾ

Hà Nội - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, luận văn với đề tài: “Sự điều chỉnh chiến lược của Trung Quốc đối với Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng từ năm 2006 đến nay”

là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Luận văn có sự kế thừa, tham khảo các công trình nghiên cứu của những người đi trước và có sự bổ sung những tư liệu, số liệu, kết quả nghiên cứu mới chưa được công bố bất cứ công trình nào Các số liệu, trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, được sử dụng trung thực.

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Phương Anh

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU 5

MỞ ĐẦU 6

Chương 1: NHỮNG NHÂN TỐ THÚC ĐẨY SỰ ĐIỀU CHỈNH CHIẾN LƯỢC CỦA TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI TIỂU VÙNG SÔNG MÊ KÔNG MỞ RỘNG TỪ NĂM 2006 ĐẾN NAY 19

1.1 Quan niệm về hợp tác tiểu vùng và khái quát về Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng 19

1.1.1 Quan niệm về hợp tác tiểu vùng 19

1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng 20

1.2 Sự can dự của các nước lớn đối với Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng 25

1.3 Chiến lược của Trung Quốc đối với Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng trước năm 2006 32

1.4 Bối cảnh quốc tế và khu vực tác động đến sự điều chỉnh chiến lược của Trung Quốc đối với Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng 36

1.4.1 Bối cảnh quốc tế 36

1.4.2 Tình hình khu vực 37

Chương 2: SỰ ĐIỀU CHỈNH CHIẾN LƯỢC CỦA TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI TIỂU VÙNG SÔNG MÊ KÔNG MỞ RỘNG TỪ NĂM 2006 ĐẾN NAY 45

2.1 Nội dung điều chỉnh chiến lược của Trung Quốc đối với Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng từ năm 2006 đến năm 2018 45

2.1.1 Mục đích của Trung Quốc khi điều chỉnh chiến lược đối với Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng 45

2.1.2 Biện pháp thực hiện chiến lược của Trung Quốc đối với Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng 50

2.2 Sự triển khai chiến lược của Trung Quốc đối với Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng 55

2.2.1 Xây dựng cơ sở hạ tầng các nước trong Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng 55

Trang 5

2.2.2 Tăng cường viện trợ cho các nước Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng 57

2.2.3 Tích cực tham gia thúc đẩy phát triển thương mại nội vùng Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng 61

2.2.4 Phát triển kinh tế song phương giữa Trung Quốc và các nước Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng 62

2.2.5 Dùng chính trị để tạo chỗ đứng trong Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng 67

2.2.6 Dùng “sức mạnh mềm” - văn hóa Hán tạo ảnh hưởng 69

Chương 3: TÁC ĐỘNG, TRIỂN VỌNG SỰ ĐIỀU CHỈNH CHIẾN LƯỢC CỦA TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI TIỂU VÙNG SÔNG MÊ KÔNG MỞ RỘNG ĐẾN NĂM 2025 VÀ ĐỐI SÁCH CỦA VIỆT NAM 73

3.1 Tác động của sự điều chỉnh chiến lược của Trung Quốc đối với Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng từ 2006 đến nay 73

3.1.1 Tác động tích cực đối với Trung Quốc và các nước Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng 73

3.1.2 Tác động tiêu cực đối với hợp tác của Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng 76

3.2 Dự báo xu hướng chiến lược của Trung Quốc đối với Tiểu vùng đến năm 2025, tầm nhìn hướng tới 2030 83

3.3 Đối sách của Việt Nam trên các lĩnh vực 87

3.3.1 Trên lĩnh vực kinh tế 87

3.3.2 Trên lĩnh vực chính trị - ngoại giao 89

3.3.3 Trên lĩnh vực an ninh – quốc phòng 90

3.3.4 Trên lĩnh vực văn hóa – xã hội 91

KẾT LUẬN 93

TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ACFTA Khu vực thương mại tự do

ASEAN – Trung Quốc

ASEAN-China Free Trade Area

ACMECS Hợp tác kinh tế gồm 5 nước

Campuchia, Lào, Thái, Myanmar

và Việt Nam

Chao Phraya - Mekong Economic Cooperation Strategy

ADB Ngân hàng phát triển châu Á The Asian Development BankAPEC Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á –

ASEAN+1 ASEAN và Trung Quốc Association of South East

Asian Nations and ChinaBRI Sáng kiến Vành đai, con đường China’s Belt and Road

InitiativeCLV Campuchia, Lào, Việt Nam Campuchia, Laos, VietnamFTA Hiệp định thương mại tự do Free Trade Agreement

FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài Foreign Direct InvestmentGDP Tổng sản phẩm quốc nội Gross Domestic Product

GMS Hợp tác tiểu vùng sông Mê Kông

mở rộng

The Greater Mekong Subregion

IMF Quỹ tiền tệ quốc tế International Monetary Fund

MGC Hợp tác sông Mê Kông – sông

Hằng

Mekong – Ganga Cooperation

TPP Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình

Dương

Trans - Pacific Partnership Agreement

WTO Tổ chức thương mại thế giới The World Trade Organization

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

Hình 1.1: Bản đồ các quốc gia thuộc GMS

Bảng 1.1: Lưu vực sông Mê Kông và 6 nước ven sông

Hình 1.2: Chiến lược hợp tác, các lĩnh vực hợp tác trong GMSHình 3.1: Các đập thủy điện chính trên sông Mê Kông

Hình 3.2: Việt Nam tham gia các chương trình hợp tác của GMS

Trang 8

có quy mô GDP lớn nhất thế giới Trung Quốc ngày càng mở rộng ảnh hưởng trênchính trường quốc tế thông qua hàng loạt các dự án đầu tư trị giá hàng tỷ USD trênkhắp các châu lục Và khu vực Đông Nam Á, hay hẹp hơn là tiểu vùng sông MêKông - là đối tác mà Trung Quốc không thể bỏ qua Cũng trong giai đoạn này, cácnước lớn gia tăng sự cạnh tranh chiến lược ở khu vực Đông Nam Á, điều đó đã tácđộng rất lớn đến tình hình chính trị khu vực, đặc biệt là chiến lược của Trung Quốc

ở Đông Nam Á

Tháng 10/1992, Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) đã tổ chức Hội nghị Bộtrưởng đầu tiên với sự tham gia của 6 quốc gia thuộc Tiểu vùng sông Mê Kông mởrộng tại Manila, Philippines - nơi đặt trụ sở ADB Hội nghị đã chính thức ra mắt các

cơ chế hợp tác Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng (GMS) bao gồm các quốc gia là:Trung Quốc (ban đầu là tỉnh Vân Nam và sau đó thêm khu tự trị dân tộc Choang ởQuảng Tây), Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam GMS ưu tiên pháttriển cơ sở hạ tầng, năng lượng, viễn thông, du lịch, thương mại - đầu tư, phát triểnnguồn nhân lực và môi trường

Sự ra đời của GMS không những đánh dấu bước phát triển kinh tế - xã hộitrong hợp tác khu vực, mà đây cũng như bước khởi đầu đánh dấu sự có mặt của yếu

tố Trung quốc trong hợp tác khu vực tiểu vùng Mặc dù tham gia hợp tác tiểu vùngsông Mê Kông đồng nghĩa với việc Trung Quốc sẽ tăng cường quan hệ với 5/10nước thuộc hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN), nhưng hai tỉnh Vân Nam,

1

http://vneconomy.vn/gdp-cua-trung-quoc-duoc-du-bao-vuot-19-nuoc-chau-au-trong-nam-nay-20180307102241769.htm

Trang 9

Quảng Tây – đầu tuyến tham gia hợp tác GMS của Trung Quốc sẽ như một cửa ngõquan trọng của Trung Quốc với khu vực Đông Nam Á, mở rộng ảnh hưởng củaTrung Quốc tại khu vực này

Không dừng lại ở đó, vào tháng 7/2016 Trung Quốc đã có một bước chuyểnđổi chính sách đối với khu vực này khi tại diễn đàn hợp tác kinh tế vịnh Bắc Bộ mởrộng lần thứ nhất tổ chức tại thành phố Nam Ninh (Trung Quốc), Bí thư đảng Khu

tự trị dân tộc Choang Quảng Tây lần đầu tiên đưa ra sáng kiến “Một trục, hai cánh”.Theo đó, Trung Quốc chủ trương hình thành hai mảng hợp tác lớn trong khu vực:Một trục là hành lang kinh tế Nam Ninh – Singapore và “hai cánh” gồm vịnh Bắc

Bộ mở rộng và hợp tác lưu vực sông Mê Kông2 Xây dựng cục diện hợp tác “mộttrục hai cánh” đã mang một ý nghĩa to lớn, lâu dài đối với quan hệ hợp tác khu vựcTrung Quốc – ASEAN

Trên thực tế, trước khi tham gia vào sáng kiến này, Trung Quốc đã có nhữngkhoản đầu tư không nhỏ và tăng cường hợp tác với các nước trong khu vực ĐôngNam Á như Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam Đặc biệt, sự điềuchỉnh chiến lược của Trung Quốc đối với GMS được đưa ra trong thời kỳ quan hệTrung Quốc – ASEAN đang phát triển mạnh mẽ, hình thành nhiều hình thức hợptác, đa dạng hơn Đáng chú ý, trong bối cảnh, chính quyền Tổng thống Mỹ DonaldTrump tuyên bố tiếp tục trọng tâm chiến lược về châu Á, đẩy mạnh hợp tác với cácnước trong khối ASEAN thì việc cạnh tranh ảnh hưởng của Trung Quốc hay cụ thểhơn là sự hợp tác của Trung Quốc với GMS lại càng mang ý nghĩa quan trọng.Không chỉ các nước liên quan đến khu vực sông Mê Kông tham gia vào sáng kiếnGMS, mà nhiều nước trên thế giới cũng nhận thấy tầm quan trọng tham gia vào diễnđàn này

Cuối năm 2013, Trung Quốc công bố chiến lược “một vành đai, một conđường”, trong đó ASEAN là đối tác quan trọng và nội dung hợp tác với GMS cũngđược Trung Quốc điều chỉnh như một bộ phận của sáng kiến “một vành đai, một

2 Vi Thụ Tiên (2007), “Một trục hai cánh” và “Hai hành lang, một vành đai”, Phát triển hai hành lang một

vành đai kinh tế Việt – Trung trong khuôn khổ hợp tác ASEAN – Trung Quốc, NXB Khoa học xã hội Hà Nội.

Trang 10

con đường” theo tính toàn cầu của Trung Quốc Theo đó, hợp tác GMS bên cạnhmục tiêu kinh tế còn như một cách thức để quốc gia này đẩy mạnh việc triển khaisáng kiến mang tầm vóc thế giới Trung Quốc muốn thông qua khuôn khổ hợp tácnày để thúc đẩy quan hệ song phương với từng nước ASEAN và lôi kéo ngày càngnhiều nước ASEAN tham gia vào quỹ đạo ảnh hưởng của mình, qua đó góp phầnngăn chặn ảnh hưởng của Mỹ và các nước lớn hợp tác với ASEAN.

Sự điều chỉnh chiến lược của Trung Quốc với GMS đã và đang có những tácđộng mạnh tới kinh tế và quan hệ đối ngoại trong khu vực Do vậy, việc nghiên cứu

sự điều chỉnh chiến lược của Trung Quốc đối với GMS từ năm 2006 đến nay, cùngvới đó việc phân tích và dự báo triển vọng hợp tác trong thời gian tới sẽ giúp làm rõtác động của sáng kiến hợp tác này đối với Việt Nam Kết quả nghiên cứu sẽ làm rõhơn các mối quan hệ quốc tế đang diễn biến phức tạp trong khu vực, đồng thời cungcấp những cơ sở khoa học để từ đó đề xuất những kiến nghị giúp nâng cao hiệu quảcủa Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế và khu vực, đặc biệt trong quan hệnước lớn – láng giềng Trung Quốc

Với lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Sự điều chỉnh chiến lược của Trung Quốc đối với Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng từ năm 2006 đến nay và đối sách với Việt Nam” làm luận văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành Quan hệ quốc tế

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Mặc dù, hợp tác GMS ra đời từ năm 1992 và Việt Nam đã có nhiều đóng gópcho sự hợp tác này, nhưng những nghiên cứu về GMS nói chung, về chiến lược củacác nước lớn trong đó có Trung Quốc đối với GMS nói riêng Các công trình nghiêncứu riêng lẻ về hợp tác kinh tế, chính trị, xã hội, y tế, giáo dục, môi trường, dulịch,v.v của GMS hoặc đề cập đến mối quan hệ giữa Trung Quốc với một nướctrong GMS trên các lĩnh vực và trong những khoảng thời gian nhất định Cho đếnnay, cũng chưa có công trình nghiên cứu cụ thể về sự điều chỉnh chiến lược củaTrung Quốc đối với GMS

Trang 11

2.1 Nghiên cứu về Trung Quốc và các nước lớn trong quan hệ với Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng

Ở Việt Nam: Nghiên cứu tổng quan về sự hợp tác các nước trong GMS đã được các học giả quan tâm tìm hiểu, về sách có các công trình tác giả Nguyễn Trần Quế, chủ biên (2007) Hợp tác phát triển tiểu vùng Mê Kông mở rộng hiện tại và tương lai, Nhà xuất bản (Nxb) Khoa học Xã hội Hà Nội Tác giả đã hệ thống hóa

những kết quả hoạt động hợp tác phát triển của GMS thời gian trước năm 2007,phân tích những khó khăn tồn tại của hợp tác GMS và tác động của nó đến pháttriển kinh tế xã hội của các nước thành viên Phân tích những điều kiện mới của hợptác phát triển GMS Đồng thời đưa ra dự báo, phân tích các đặc điểm xu hướng vànhững ưu tiên trong hợp tác GMS trong thời gian tới Qua những nội dung trên tácgiả cho chúng ta thấy Trung Quốc đã tham gia hợp tác với các quốc gia trong GMStrên nhiều lĩnh vực giao thông vận tải, năng lượng, quản lý môi trường và tàinguyên thiên nhiên, phát triển nguồn nhân lực, thương mại và đầu tư, du lịch vànông nghiệp Trong đó có những dự án Trung Quốc đóng vai trò là nhà tài trợ nhằm

hỗ trợ cho GMS phát triển Vấn đề khai thác sông Mê Kông với những hoạt độngcủa Trung Quốc trên vùng thượng nguồn cũng được đề cập rõ ràng Tác giả cũngnêu lên rằng việc thiết lập khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc – ASEAN, chươngtrình hợp tác Trung Quốc – ASEAN nhằm phát triển GMS đã hỗ trợ mạnh mẽ cho

sự phát triển của các nước GMS Khi dự báo các đặc điểm và xu hướng phát triểnhợp tác GMS dưới tác động của các điều kiện mới, tác giả cũng nêu lên vai trò củaTrung Quốc trong hợp tác GMS ở hiện tại và tương lai

Nguyễn Thị Thắm (chủ biên, 2015), Sự can dự của các nước Đông Bắc Á vào Tiểu vùng sông Mê Kông, Nxb khoa học xã hội Hà Nội Nội dung cuốn sách

nhằm tìm hiểu mục đích, chiến lược, chính sách và thực trạng can dự của các nướcĐông Bắc Á và tác động của nó đối với GMS trong thời gian gần đây, đồng thờiphân tích phản ứng chính sách của các nước GMS trước những tác động từ sự can

dự của các nước Đông Bắc Á, qua đó rút ra những căn cứ và gợi ý chính sách choViệt Nam

Trang 12

Lê Văn Mỹ chủ biên (2016), Trung Quốc trong hợp tác tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng: Tác động và ảnh hưởng, Nxb Khoa học xã hội Dưới góc nhìn của

các lý thuyết như: Chủ nghĩa hiện thực, Chủ nghĩa tự do và một số lý thuyết khác,tác giả đã làm rõ vai trò ảnh hưởng của các nước lớn đối với hợp tác GMS, đặc biệt

là vai trò của Trung Quốc – một nước lớn đang trỗi dậy mạnh mẽ, đã và đang tácđộng không nhỏ đối với các quốc gia trong khu vực Tiểu vùng Cuốn sách cũng sosánh vai trò của Trung Quốc trong GMS so với các nước như Mỹ, Nhật Bản, HànQuốc tại khu vực này Đồng thời tiềm hiểu quá trình Việt Nam ra nhập GMS, phảnứng của Việt Nam trước sự cạnh tranh của các nước lớn ở khu vực Tiểu vùng

Về các bài tạp chí, tiêu biểu phải kể tới tài liệu tham khảo đặc biệt của Thông tấn xã Việt Nam (2009),Chiến lược của Trung Quốc tại lưu vực sông Mê Kông Bài

viết đã nêu lên chiến lược đa mục tiêu của Trung Quốc ở GMS, chiến lược pháttriển miền Tây của Trung Quốc liên hệ mật thiết với chương trình hợp tác của tổchức GMS Đồng thời, bài báo cũng phân tích về mối quan hệ song phương và đaphương của Trung Quốc tại GMS Những nỗ lực của Trung Quốc trong việc thamgia hợp tác và những thành công của nước này trong việc thực hiện chiến lược tại

GMS và Đông Nam Á; Đỗ Tiến Sâm (2005), Trung Quốc với việc tham gia hợp tác Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng, tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc Tác giả đã cho

biết, tầm quan trọng của việc Trung Quốc tham gia hợp tác trong GMS, quan niệm

và nguyên tắc của Trung Quốc khi tham gia hợp tác GMS Đồng thời tác giả cũngtrình bày và phân tích tình hình hợp tác thương mại đầu tư giữa Trung Quốc với cácnước GMS giai đoạn 2002 – 2004 với số liệu rất cụ thể, rõ ràng Trong phần nhữngtiến triển trong hợp tác Trung Quốc – GMS, tác giả đã nêu ra cụ thể từng lĩnh vực

mà Trung Quốc tham gia hợp tác: Giao thông vận tải, điện lực, viễn thông, nôngnghiệp, môi trường, du lịch, y tế, phát triển nguồn nhân lực, thương mại và đầu tư.Tác giả cũng đưa ra những nhận định về vai trò và tác động của việc Trung Quốctham gia hợp tác trong GMS Ngoài ra còn một số bài viết khác như: Nguyễn

Thương Huyền (2015), Những thành tựu chính trong kết nối cơ sở hạ tầng của hợp tác tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng hơn hai thập niên qua, tạp chí Nghiên cứu

Trang 13

Đông Nam Á; Nguyễn Thị Minh Phương (2015), Chương trình hợp tác tiểu vùng

Mê Kông mở rộng: Những biến chuyển và một số gợi ý đối với Việt Nam, tạp chí Nhịp cầu tri thức; Nguyễn Thị Hồng Nhung (2007), Việt Nam trong hợp tác tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng, tạp chí Những vấn đề Kinh tế và Chính trị thế giới; Phạm Thái Quốc và Trần Văn Duy (2007), Hợp tác tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng và quan hệ Việt Nam – Trung Quốc, tạp chí Những vấn đề Kinh tế và Chính trị

thế giới v.v

Nước ngoài, nhiều công trình nghiên cứu, đặc biệt là của các học giả của khu

vực Đông Á đã được triển khai nhằm tìm hiểu sự cạnh tranh chiến lược của ba nước

lớn ở khu vực GMS Hidetaka Yoshimatsu (2015), “The United States, China, and Geopolitics in the Mekong Region” (Mỹ, Trung Quốc và Địa Chính trị ở vùng sông

Mêkong), Asian Affairs: An American Review, Vol 42, Issue 4.2015 tác giả đã làmsáng tỏ vai trò chính trị của các siêu cường trong vùng sông Mê Kông thông quaviệc tìm hiểu Trung Quốc đã cam kết đối với sự phát triển của các nước Mê Kôngnhư thế nào và các cam kết đó có những đặc điểm gì

Masaya Shiraishi (2012), Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng với Trung Quốc, Nhật Bản và Mỹ Hiện nay GMS là tâm điểm chú ý trong chính sách đối ngoại của

ba cường quốc Mỹ, Nhật Bản và Trung Quốc ở khu vực châu Á – Thái BìnhDương Theo Masaya, Nhật Bản và Trung Quốc coi nhau như đối thủ cạnh tranhtrong GMS Tuy nhiên, hai bên đã đồng ý tiếp tục đồng ý thương lượng về việc phốihợp với nhau cùng thực hiện một số dự án sinh thái, chăm sóc sức khỏe và đào tạocon người Trong khi đó, Mỹ và Trung Quốc chưa đạt được sự nhất trí trong thamgia hợp tác khu vực tiểu vùng

Cũng trong chủ đề này, các Báo cáo nhà nước về việc Trung Quốc tham gia hợp tác Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng 3 năm 2008 và 2011 đã trình bày rất cụ

thể vấn đề Trung Quốc tham gia hợp tác đầu tư cả về song phương và đa phươngvới các quốc gia GMS trên tất cả các lĩnh vực thuộc khuôn khổ hợp tác của chươngtrình hợp tác GMS Nêu lên những tiến triển mới trong hợp tác, cùng sự tham gia

3 Đăng trên Cổng Thông Tin điện tử Chính phủ Trung Quốc và trang web http: //news.xinhuanet.com.vn của Tân Hoa Xã Trung Quốc

Trang 14

hợp tác của hai tỉnh Vân Nam và Quảng Tây khi tham gia vào hợp tác GMS Báocáo đưa ra những khả năng tham gia hợp tác của Trung Quốc trong tương lai

Ngoài ra, còn một số công trình khác như: Richard Cronin and Timothy

Hamlin (2010), Mekong Tipping Points: Hydropower dams, Human Security, and regional stability, The Henry L Stimson Center, Prashanth Parameswaran (2010), The Mekong in Peril, Asia Sentinel; C.T Hoành, Guttman H Droogers P and Aerts

J, Water (2003), Climate, food and environment in the Mekong Basin in South East Asia, Institute for Environmental Studies, Free University of Amsterdam, Amsterdam, Netherlands; Milton Osborne (2004), River at Risk: The Mekong and the Water Politics of China and Southeast Asia, Lowy Institute Paper (2004), China’s alarming ‘water diplomacy’ on the Mekong v.v…

2.2 Nghiên cứu Việt Nam với hợp tác với Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng và những vấn đề đặt ra

Việt Nam tham gia vào GMS từ những năm 90 của thế kỷ XX khi chươngtrình mới bắt đầu khởi động Tuy nhiên, trong giai đoạn này hầu như chưa có côngtrình nào nghiên cứu về chủ đề này Cùng với việc triển khai toàn bộ các kế hoạchhợp tác GMS, cơ chế hợp tác tiểu vùng này đã thu hút sự quan tâm của các nướcphát triển, các tổ chức quốc tế và nhiều học giả trong nước và quốc tế

Đi tiên phong trong vấn đề này có thể kể tới các công trình như: Nguyễn

Trần Quế và Kiểu Văn Trung (2001), Sông và tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng do

Nxb Khoa học xã hội Hà Nội Cuốn sách đã khái quát về điều kiện tự nhiên, đặcđiểm kinh tế xã hội có tác động đến sự phát triển của GMS Trên có sở đó, tác giả

đã kiến nghị các thành viên GMS trong đó có Việt Nam cần tăng cường hợp tác,quản lý dòng sông quốc tế này mới có thể duy trì sự phát triển bền vững của khuvực GMS Bên cạnh đó, tác giả cũng giới thiệu về chức năng của Ủy ban Quốc giasông Mê Kông, phân tích vai trò quan trọng của Việt Nam trong tổ chức này Đây làcông trình đặt nền móng cho các nghiên cứu về hợp tác GMS

Theo sự biến động của tình hình chính trị thế kỷ XXI, tác giả Nguyễn Hồng

Nhung (2010), Xác định lại vị trí địa kinh tế của tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng

Trang 15

và hàm ý cho Việt Nam đăng trên trang mạng chính thức của Liên hiệp các Hội

Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam Tác giả đã nêu bật những thay đổi tình hình chínhtrị khu vực và thế giới tác động tới GMS Tác giả cho rằng, những biến động trongGMS sẽ ngày càng thu hút sự quan tâm của các nước lớn như Nhật Bản, Mỹ vàTrung Quốc Và Việt Nam, là một nước thành viên trong GMS có nền kinh tế tươngđối phát triển cần phải nâng cao vai trò trong việc tham gia vào các dự án cụ thể củaGMS, cần phải coi các vấn đề an ninh phi truyền thống như lương thực, an ninh conngười, môi trường là trọng điểm hợp tác Cũng trong góc nhìn đó, tác giả Nguyễn

Hồng Nhung, Việt Nam trong Hợp tác tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng, đã phân

tích rõ tầm quan trọng của hợp tác đối với Việt Nam, đi sâu thảo luận những vấn đềtồn tại khi Việt Nam tham gia hợp tác này

Nước ngoài, học giả Trung Quốc Tất Thế Hồng (2006), Việt Nam tham gia hợp tác kinh tế Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng – Nhìn lại và triển vọng, tác giả

đã tóm lược tiến trình Việt Nam gia nhập GMS và cho rằng, hợp tác này có lợi choViệt Nam nhất là trong bối cảnh kinh tế nước này đang trên đà phát triển, tăngcường quan hệ với các nước láng giềng như Lào, Campuchia, Trung Quốc Ngoài

ra, tác giả còn phân tích những mục tiêu chính trị của Việt Nam khi tham gia vàoGMS, nêu rõ những thách thức của Việt Nam khi tham gia vào hợp tác này

Oliver Henengerth đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này như

(2004), Chính sách đối ngoại Việt Nam và tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng

(Vietnam’s foreign Policy and the Greater Mekong Subregion); (2006) luận án tiến

sĩ Chủ nghĩa khu vực và chính sách đối ngoại: Quan hệ Trung Quốc – Việt Nam và việc xây dựng cơ chế ở tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng (Regionalism in China –

Vietnam Relations: Institution-building in the the Greater Mekong Subregion) v.v Trong các công trình này, tác giả đứng dưới các góc độ lý thuyết quan hệ quốc tế đisâu vào phân tích chính sách đối ngoại Việt Nam đối với hợp tác GMS, phân tíchmục tiêu kinh tế, an ninh của Việt Nam khi tham gia vào GMS, phản ứng của ViệtNam trước sự gia tăng ảnh hưởng của Trung Quốc tại GMS Tác giả cho rằng,

Trang 16

trong tương lai Việt Nam cần giữ quan hệ cân bằng với các quốc gia lớn tham giaGMS để đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế, chính trị.

Ngoài ra, còn phải kể đến những bài báo trên tạp chí Nghiên cứu Đông Nam

Á, Nghiên cứu Trung Quốc, Nghiên cứu Đông Bắc Á, một số sách về quan hệ quốc

tế ở Đông Nam Á, quan hệ song phương và đa phương trên các lĩnh vực giữa TrungQuốc và các nước Đông Nam Á, Trung Quốc và các nước trong tiểu vùng MêKông, các tài liệu tham khảo đặc biệt từ Trung tâm dữ kiện - tư liệu của Thông Tấn

Xã Việt Nam Vấn đề này còn được biết tới qua những trang web, những báo cáocủa hgân hàng phát triển châu Á (ADB), của Ủy hội sông Mê Kông quốc tế, Ủy bansông Mê Kông Việt Nam, Hợp tác ASEAN phát triển lưu vực sông Mê Kông(AMBDC), Kỷ yếu hội thảo về Tiểu vùng Mê Kông, các bài báo cáo của các nhàkhoa học, v.v bao gồm bằng cả tiếng Anh và tiếng Việt, trong nước và quốc tế

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã phần nàophác họa được những nét cơ bản trong chiến lược của Trung Quốc đối với GMS.Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu đó vẫn chưa thật sự hệ thống, chưa đặtnhững nội dung trong sự điều chỉnh chiến lược của Trung Quốc trong bối cảnh thayđổi nhanh chóng và phức tạp của tình hình thế giới và khu vực Đồng thời chưa cónhiều kiến giải, đề xuất, kiến nghị cho Việt Nam trước những tác động của sự điềuchỉnh này Kế thừa các công trình nghiên cứu trên để tác giả thực hiện đề tài

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục tiêu của đề tài

Đề tài làm rõ nội dung và sự triển khai điều chỉnh chiến lược của TrungQuốc đối với tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng từ năm 2006 đến nay Từ đó đánhgiá tác động đối với Trung Quốc, các nước GMS và đối sách của Việt Nam

3.2 Nhiệm vụ của đề tài

- Khái quát các lý thuyết về liên kết khu vực, liên kết tiểu vùng.

- Phân tích những nhân tố tác động đến sự điều chỉnh chiến lược của Trung

Quốc đối với GMS từ năm 2006 đến nay

Trang 17

- Phân tích nội dung và quá trình triển khai điều chỉnh chiến lược của Trung

Quốc đối với GMS từ năm 2006 đến nay

- Phân tích tác động sự điều chỉnh chiến lược của Trung Quốc đối với GMS.

- Dự báo triển vọng về sự điều chỉnh chiến lược của Trung Quốc đối với

GMS đến năm 2025

- Đề xuất đối sách của Việt Nam trước tác động từ sự điều chỉnh chiến lược

của Trung Quốc đối với GMS đến năm 2025

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là sự điều chỉnh chiến lược của TrungQuốc đối với GMS

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi thời gian: Từ năm 2006 – thời điểm Trung Quốc đưa ra sáng kiến

Một trục, Hai cánh cho tới hiện nay (2018)

- Phạm vi không gian: Sự điều chỉnh chiến lược của Trung Quốc đối với

GMS (Việt Nam, lào, Campuchia, Myanmar)

- Phạm vi nội dung: Nội dung và sự triển khai chiến lược trong chính sáchđối ngoại của Trung Quốc đối với GMS từ năm 2006 đến nay (bao gồm mục tiêu,biện pháp và sự triển khai)

5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

- Phương pháp tổng hợp: Phương pháp này được dùng để tổng hợp, làm rõhơn tình hình, thực trạng hợp tác của Trung Quốc với các quốc gia trong GMS từ đórút ra đánh giá, nhận định về tác động của hợp tác GMS

- Phương pháp hệ thống – cấu trúc: Với tư các là một hệ thống hình thành từnhiều yếu tố có tác động qua lại lẫn nhau, tác giả sử dụng phương pháp hệ thống,cấu trúc để xác định nghiên cứu GMS dưới vai trò như vậy Trong đó, một hệ thốngcác yếu tố có quan hệ tương tác lẫn nhau gồm: Kinh tế, chính trị, đối ngoại, anninh…

Trang 18

- Phương pháp phân tích: Trong luận văn, phương pháp này được sử dụng đểđánh giá hướng, cường độ, mức độ của các tác động cũng như khả năng chịu tácđộng của Việt Nam và các nước ASEAN trong bối cảnh Trung Quốc triển khai hợptác GMS và các nước lớn khác cũng tăng cường hợp tác GMS.

- Phương pháp dự báo: Phân tích, dự báo xu hướng điều chỉnh chiến lược củaTrung Quốc đối với Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng trong tình hình thế giới, khuvực và trong nước Trung quốc đến năm 2025 trên cơ sở những cứ liệu khoa họcđáng tin cậy Từ đó đề xuất những giải pháp, kiến nghị chính sách nhằm xử lýnhững tác động từ sự điều chỉnh này đối với Việt Nam trong những năm tới

- Phương pháp so sánh: Phương pháp này được sử dụng để so sánh tươngquan thực tế, tiềm lực kinh tế giữa các bên trong hợp tác kinh tế GMS So sánh kếtquả hợp tác kinh tế giữa các đối tác trong các thời kỳ khác nhau, thương mạiASEAN và Trung Quốc cũng như các đối tác khác để đánh giá mức độ quan trọngcủa Trung Quốc với các quốc gia GMS và ngược lại

- Phương pháp nghiên cứu kết hợp lịch sử với logic: Vận dụng quan điểmlịch sử để thấy rõ tính khác biệt của các giai đoạn trong chiến lược của Trung Quốcđối với Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng Đồng thời, nghiên cứu sự điều chỉnhchiến lược của Trung Quốc đối với Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng được đặttrong bối cảnh lịch sử cụ thể của khu vực Đông Nam Á từ 2006 đến nay và trongmối liên hệ hữu cơ với cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn trên phạm vi thếgiới trong cùng thời gian

- Phương pháp nghiên cứu quốc tế: Đặt sự điều chỉnh chiến lược của TrungQuốc đối với GMS trong chiến lược đối ngoại chung của Trung Quốc và trong xuthế chung của quan hệ quốc tế đương đại, để từ đó phân tích các nhân tố tác độngvào mối quan hệ đó

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

* Về lý luận

- Đề tài luận giải một cách khoa học và làm rõ tính phức tạp trong sự điều chỉnhchiến lược của Trung Quốc đối với GMS và tác động của nó đối với môi trường địa -chính trị, an ninh và phát triển ở khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam

- Góp phần bồi dưỡng, nâng cao trình độ nghiên cứu về địa - chính trị, quan hệ

Trang 19

quốc tế và chiến lược đối ngoại của Trung Quốc thông qua việc nghiên cứu một vấn đềquốc tế cụ thể là sự điều chỉnh chiến lược của Trung Quốc đối với GMS.

- Đối với các ngành khoa học có liên quan, đề tài góp phần cung cấp những trithức mới về sự điều chỉnh chiến lược của Trung Quốc, tiếp cận dưới góc độ cạnh tranhquyền lực địa - chính trị Mặt khác, góp phần nâng cao thêm nhận thức về những vấn đềđang đặt ra đối với Việt Nam - một nước nhỏ ở khu vực - dưới tác động nhiều chiều từ

sự điều chỉnh chiến lược của các nước lớn đối với Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng

* Về thực tiễn

- Góp phần cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn đối với việc hoạch định chínhsách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam trước những tác động từ sự điều chỉnhchiến lược của Trung Quốc đối với GMS

- Đề tài là tài liệu tham khảo đối với những cán bộ hoạt động trong lĩnh vực đốingoại, quốc phòng và an ninh; là nguồn tư liệu phục vụ thiết thực công tác giảng dạy,nghiên cứu về chính trị quốc tế, địa - chính trị thế giới, khu vực học, quan hệ quốc tế vàchính sách đối ngoại trong hệ thống các Viện và các khoa quan hệ quốc tế tại Việt Nam

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 3 chương

Chương 1: Những nhân tố thúc đẩy việc điều chỉnh chiến lược của Trung

Quốc đối với GMS từ năm 2006 đến nay Nội dung chính của Chương 1 là làm rõcác khái niệm tiểu vùng, hợp tác tiểu vùng Đồng thời, phân tích những nhân tố tácđộng đến sự điều chỉnh chiến lược của Trung Quốc đối với GMS từ năm 2006 đến nay

Chương 2: Nội dung triển khai sự điều chỉnh chiến lược của Trung Quốc đối

với GMS từ năm 2006 đến nay Chương này chủ yếu khái quát toàn bộ mục tiêu,biện pháp, quá trình triển khai hợp tác của Trung Quốc với GMS trên các lĩnh vực:Chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội, quốc phòng, an ninh và trên các lĩnh vực khác

Chương 3: Chiến lược của Trung Quốc đối với GMS và đối sách với Việt

Nam Chương này tập trung đánh giá các tác động tích cực, tiêu cực của hợp tácTrung Quốc với GMS trong quan hệ quốc tế khu vực; dự báo xu hướng của sự điềuchỉnh chiến lược của Trung Quốc đối với GMS đến năm 2025; đề xuất đối sách củaViệt Nam

Trang 20

Chương 1: NHỮNG NHÂN TỐ THÚC ĐẨY SỰ ĐIỀU CHỈNH CHIẾN LƯỢC CỦA TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI TIỂU VÙNG SÔNG MÊ KÔNG MỞ

RỘNG TỪ NĂM 2006 ĐẾN NAY 1.1 Quan niệm về hợp tác tiểu vùng và khái quát về Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng

1.1.1 Quan niệm về hợp tác tiểu vùng

Kể từ cuối thế kỷ XX, xu thế hợp tác, hội nhập quốc tế được thúc đẩy và pháttriển mạnh mẽ và hợp tác tiểu vùng, liên kết khu vực cũng không nằm ngoài xu thế

đó Hợp tác GMS là một trong những sáng kiến hợp tác được triển khai trong xu thếnêu trên4 Tuy nhiên, các sáng kiến hợp tác tiểu vùng ở từng khu vực, từng giai đoạnlịch sử thường mang những nét đặc trưng khác nhau và cho tới nay, giới nghiên cứucũng chưa đưa ra một khái niệm chung, thống nhất về hợp tác tiểu vùng

Theo từ điển Tiếng Việt thì tiểu vùng được xác định là một khu vực địa lýnhỏ, có đặc điểm riêng so với các vùng địa lý nhỏ khác, ví dụ như: tiểu vùng kinhtế; tiểu vùng khí hậu; Vịnh Bắc Bộ mở rộng, v.v Trong khi đó, từ điển Tiếng Anh5

đưa ra định nghĩa về tiểu vùng là một phân khu của một khu vực nào đó (asubdivision of a region); hoặc một trong những bộ phận chính của một vùng địasinh học (one the primary division of a biogeographic region) Dù cả hai định nghĩatrên có cách diễn đạt khác nhau, song chúng đều có điểm chung khi cho rằng, tiểuvùng là một phần, một bộ phận của một khu vực địa lý rộng lớn hơn

Hợp tác tiểu vùng (Subregion coopreration): Trong báo cáo nghiên cứu tính

khả thi hợp tác Vịnh Bắc Bộ mở rộng6 của nhóm chuyên gia Trung Quốc – ASEANdẫn định nghĩa của Giáo sư Chao Han (Singapore) cho rằng: Hợp tác tiểu vùngthông thường bắt đầu từ sự ghép nối giữa các quốc gia thông qua sự liên kết biển(sea link), liên kết trên bộ (land link), liên kết sông (river link) hình thành nên hợptác mang tính khu vực Các chủ thể hợp tác tiểu vùng có thể là quốc gia, cũng có thể

là một tỉnh hoặc một số tỉnh của nước lớn Hợp tác tiểu vùng là hợp tác cùng có lợi,

4 Nguyễn Quốc Trường (2017), Sáng kiến hợp tác kinh tế Vịnh Bắc Bộ mở rộng và tác động tới quan hệ quốc

tế ở Đông Nam Á, Luận án Tiến Sĩ chuyên ngành Quan hệ quốc tế, Đại học KHXH&NV (ĐHQGHN)

5 http://www.merriam-webster.com/dictionary/subregion

6 Bộ Ngoại Giao (2006), Báo cáo nghiên cứu tính khả thi của hợp tác kinh tế VBBMR, tháng 6/2006.

Trang 21

được xây dựng trên cơ sở tôn trọng chủ quyền quốc gia, phát huy đầy đủ ưu thế sosánh của địa phương Hình thức hợp tác này chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố trêncác mặt kinh tế, chính trị, an ninh.

Trong khi đó, Đại sứ Phạm Quốc Trụ giải thích rằng hợp tác khu vực/vùng là

“hình thức hội nhập trên cơ sở một số vùng của hai hay một số nước khác nhau gầngũi về mặt không gian địa lý thực hiện một số liên kết kinh tế hay kết nối cơ sở hạtầng nhằm phát huy sự bổ trợ lẫn nhau về nguồn lực của các vùng này để phát triểnkinh tế”7

Nhìn chung, mỗi quan niệm đều đưa ra một khía cạnh của hợp tác tiểu vùngtuy nhiên từ tổng quan các khái niệm, định nghĩa tiểu vùng, hợp tác tiểu vùng nêutrên, có thể khái quát hợp tác tiểu vùng như sau: Hợp tác tiểu vùng là hình thức hợptác xuyên quốc gia giữa các vùng lãnh thổ của quốc gia hoặc giữa các quốc giatrong cùng một tiểu khu vực có sự gần gũi nhau về địa lý Hợp tác này sẽ thông quaviệc mở của, giảm các rào cản thương mại, đầu tư, tăng cường kết nối nhằm thúcđẩy phát triển kinh tế, xã hội cho các bên tham gia hợp tác Các bên tham gia sẽ dựatrên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi và thống nhất nội dung, hợp tác thông quaHội nghị cấp cao, Hội nghị cấp Bộ trưởng hoặc thông qua các diễn đàn đa phươngđịnh kỳ

1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng

Sông Mê Kông là con sông dài nhất ở khu vực Đông Nam Á và lớn thứ 12trên thế giới (4.800km), khởi nguồn từ cao nguyên Tây Tạng chảy theo hướng BắcNam qua 6 quốc gia: Trung Quốc, Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia và ViệtNam Đây là con sông được đánh giá có lưu lượng nước, tính đa dạng sinh học rấtcao8 (Xem hình 1.1)

7 ly-luan-va-thuc-tien (Phạm Quốc Trụ (2014), Hội nhập quốc tế: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn)

http://www.nghiencuubiendong.vn/toan-cau-hoa-hoi-nhap-kinh-te/2014-hoi-nhap-quoc-te-mot-so-van-de-8 https://vi.wikipedia.org/wiki/M%C3%AA_K%C3%B4ng

Trang 22

Hình 1.1: Bản đồ các quốc gia thuộc GMS (Nguồn: TTXVN 9 )

Xét về những giá trị lợi ích của sông Mê Kông mang lại cho các quốc giathuộc khu vực này phải kế đến đầu tiên chính là giá trị thủy điện Hiện nay, cáccông trình thủy điện trên dòng nhánh và dòng chính sông Mê Kông ở Trung Quốc

có công suất khoảng 16.000 MW, chủ yếu cung cấp điện cho các đô thị và côngnghiệp ngoài lưu vực Cũng chính nhờ dòng sông này, các quốc gia trong khu vựcsông Mê Kông có thể phát triển các hoạt động kinh tế (nông nghiệp, thủy sản, v.v ),giao thông, thương mại và du lịch10

Xét về mặt hợp tác khu vực sông Mê Kông, có thể thấy rằng sự hợp tác đầutiên phải kể đến chính là việc khai thác nguồn nước trên sông với sự ra đời của Ủyhội sông Mê Kông quốc tế vào năm 1957 (hay Ủy hội Mê Kông) với sự tham gia

9 https://infographics.vn/3-tru-cot-hop-tac-kinh-te-tieu-vung-mekong-mo-rong/9940.vna

10 TS Lê Văn Mỹ (2016), Trung Quốc trong hợp tác Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng: Tác động và ảnh

hưởng, Nxb Khoa học Xã hội.

Trang 23

của 4 quốc gia là Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam Cộng hòa Cơ quan này đãtrở thành Ủy ban lâm thời về điều phối nghiên cứu Hạ lưu lưu vực sông Mê Kôngvào năm 1978 Tuy nhiên, hoạt động của ủy ban này bị gián đoạn do chiến tranhmãi tới năm 1995, Ủy hội sông Mê Kông quốc tế mới tái thành lập với sự tham giacủa 4 thành viên Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam (Xem bảng 1.1)

lưu vực (km2)

% so vớitoàn lưu vực

Đóng góp(%) dòng chảy lưuvực

Bảng 1.1: Lưu vực sông Mê Kông và 6 nước ven sông (Nguồn: Ủy hội sông Mê Kông)

Tiếp đến, từ đầu thập kỷ 90, xu thế hợp tác, phát triển và hội nhập đã trởthành xu thế chủ đạo, điều này đã tạo điều kiện cho các quốc gia thuộc Tiểu vùngsông Mê Kông xích lại gần nhau Theo đó, việc liên kết, phát triển kinh tế, xóa đóigiảm nghèo, bảo vệ môi trường, nguồn nước là những động lực thôi thúc các nướctrong lưu vực sông Mê Kông tìm kiếm các cơ chế hợp tác song phương, đa phương.Trong bối cảnh đó, Chương trình hợp tác tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng(Greater Mekong Subregion - GMS) được ra đời năm 1992 theo sáng kiến của ngânhàng phát triển châu Á ADB Ban đầu GMS bao gồm các nước nằm trong lưu vựcsông Mê Kông: Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanmar, tỉnh Vân Nam(Trung Quốc); năm 2004 thêm tỉnh Quảng Tây tham gia vào hợp tác này Hợp tácGMS được đánh giá là hợp tác hiệu quả nhất trong các cơ chế hợp tác Tiểu vùng.Các sáng kiến và hoạt động trong chương trình GMS tập trung vào 9 lĩnh vực hoạtđộng bao gồm: Giao thông vận tải, môi trường, du lịch, bưu chính viến thông,thương mại, đầu tư, phát triển nguồn nhân lực, nông nghiệp và phát triển nông thôn.(Xem hình 1.2)

Trang 24

Hình 1.2: Chiến lược hợp tác, các lĩnh vực hợp tác trong GMS (Nguồn: TTXVN 11 )

* Mục tiêu hoạt động: Vào đầu những năm 90, sau khi nội chiến ở

Campuchia kết thúc, hơn bao giờ hết các nước trong khu vực sông Mê Kông đãnhận thức được tầm quan trọng của hòa bình đối với phát triển kinh tế Đứng trướchàng loạt những khó khăn thách thức như nghèo đói, hạn chế về cơ sở hạ tầng quốcgia, giao thông vận tải, năng lượng, viễn thông, sức khỏe và giáo dục, v.v Chínhphủ các nước GMS nhận thức được rằng chỉ có thông qua tăng cường quan hệ hợptác mới hy vọng vượt qua tình trạng khó khăn Chương trình hợp tác GMS nhằmmục tiêu: Tăng cường hợp tác kết nối sâu rộng giữa các quốc gia trong tiểu khu vựctrên cơ sở bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau, cùng chia sẻ khát vọng về sự thịnhvượng chung của khu vực Nhằm thực hiện tầm nhìn của một tiểu vùng thịnhvượng, hài hòa và thống nhất, tăng trưởng kinh tế nhanh, tiến bộ xã hội và phát triển

11 https://infographics.vn/3-tru-cot-hop-tac-kinh-te-tieu-vung-mekong-mo-rong/9940.vna

Trang 25

bền vững12 Những kết quả ghi nhận được từ thực tiễn hợp tác đã và đang khẳngđịnh thành công của chương trình GMS, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh

tế và tăng cường quan hệ hợp tác giữa các quốc gia trong tiểu vùng

* Nguyên tắc hợp tác và cơ chế hoạt động: Tổ chức hợp tác GMS hình thành

và phát triển dựa trên các nguyên tắc nhất định Nguyên tắc chung của GMS là: tựnguyện, cùng có lợi và tôn trọng chủ quyền quốc gia Năm 1994, tại Hội nghị bộtrưởng lần thứ 3 ở Hà Nội đã thông qua 6 nguyên tắc cụ thể: 1) Hợp tác kinh tếGMS phải tạo điều kiện duy trì tăng trưởng kinh tế và nâng cao mức sống nhân dân,phản ánh sự cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế, phát triển nguồn nhân lực, giảm đóinghèo và bảo vệ môi trường; 2) Các dự án hình thành không nhất thiết phải có sựtham gia của cả 6 nước mà các thỏa thuận song phương cũng được coi như mộtthành tố hợp thành hợp tác đa phương; 3) Giành ưu tiên cao hơn cho việc cải tạohoặc khôi phục những cơ sở hiện có hơn là xây dựng các cơ sở mới 4) Khuyếnkhích tài trợ cho GMS từ nguồn chính phủ và cả nguồn tư nhân; 5) Các nước thànhviên GMS thường xuyên gặp gỡ để duy trì động lực thúc đẩy tiến trình hợp tác pháttriển; 6) Nguyên tắc cuối cùng này ghi rõ: các dự án hợp tác không được làmphương hại đến lợi ích của bất cứ quốc gia nào13

* Cơ cấu tổ chức của chương trình GMS hoạt động theo 5 hình thức: Hội

nghị cấp cao GMS với tư cách là cấp lãnh đạo chính trị, Hội nghị cấp bộ trưởng các

bộ có liên quan có chức năng hoạch định chính sách, Diễn đàn ngành và nhóm côngtác với tư cách là cơ quan tác nghiệp, xây dựng và chỉ đạo thực hiện các dự án, Ủyban điều phối quốc gia GMS có nhiệm vụ phối hợp hoạt động trong phạm vichương trình GMS ở mỗi nước thành viên trực tiếp tham mưu cho chính phủ trongcác hoạt động hợp tác Ban thư kí do ngân hàng ADB đảm nhận, hỗ trợ chung cho

cả chương trình phối hợp chặt chẽ với các Ủy ban điều phối quốc gia GMS

Với tổng diện tích 2,6 triệu km², dân cư khoảng 325 triệu người, đa sắc tộc

và có các nền văn hóa phong phú, đây là một khu vực được đánh giá là giàu tài

12 Xem thêm http://www.who.int/malaria/mpac/mpac-april2018-gms-update-session2-presentation.pdf

13 http://baoquocte.vn/tieu-vung-mekong-lien-vung-rong-mo-11300.html

Trang 26

nguyên thiên nhiên, có lợi thế về nguồn nhân lực14 Tuy nhiên, đây vẫn là một khuvực nghèo, chậm phát triển ở Đông Nam Á và Châu Á, cơ sở hạ tầng kém, đã bị cáccuộc chiến tranh dài tàn phá nặng nề, ngay trong tiểu vùng cũng có những cách biệt

về trình độ phát triển giữa các địa phương Chính những đặc trưng về địa lý, tàinguyên thiên nhiên, xã hội và con người đã giúp tiểu vùng sông Mê Kông ngàycàng trở nên hấp dẫn các nhà tài trợ nước ngoài, thúc đẩy nhà lãnh đạo các nướctrong tiểu vùng tăng cường hợp tác Cho đến nay, có rất nhiều cơ chế hợp tác giữacác nước trong Tiểu vùng sông Mê Kông với các nước đối tác như: Ủy hội MêKông, chương trình GMS của ADB, ACMECS, Hợp tác Mê Kông – sông Hằng,Hợp tác Campuchia – Lào – Myanmar – Việt Nam (CLMV), Hợp tác Mê Kông –Nhật Bản, Mê Kông – Mỹ, Mê Kông – Hàn quốc… Bên cạnh đó, còn có một số cơchế trong ASEAN liên quan đến hợp tác GMS như: Diễn đàn Hợp tác phát triểnchâu thổ sông Mê Kông – ASEAN, các hoạt động hỗ trợ các nước CLMV

1.2 Sự can dự của các nước lớn đối với Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng

* Đối với Mỹ:

- Trước năm 2006, sự can dự của các nước lớn (Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc)

đối với GMS không lớn Đối với Mỹ, sau chiến tranh Việt Nam, đặc biệt là sauChiến tranh Lạnh, Mỹ đã để lại một khoảng trống lớn tại khu vực Đông Nam Á, đâychính là cơ hội để Trung Quốc gia tăng ảnh hưởng trong khu vực Trên thực tế, Mỹchưa bao giờ có ý định từ bỏ bàn cờ Đông Nam Á, nhưng từ sau thất bại ở cuộcchiến tranh Việt Nam cùng với sự kiện Mỹ buộc phải rút khỏi một số căn cứ quân

sự đặc biệt tại Đông Nam Á (Thái Lan, Philippines) Và đặc biệt, sau sự kiện khủng

bố chấn động 11/9, Mỹ ngày càng sa lầy vào cuộc chiến chống khủng bố cũng nhưcác cuộc chiến tranh tại Trung Đông Mỹ chỉ thực sự thấy lo lắng cho vị thế củamình khi chứng kiến Trung Quốc ngày càng gia tăng ảnh hưởng lên trên nhiều línhvực từ kinh tế, văn hóa đến chính trị, an ninh trong khu vực Đông Nam Á nói chung

và các quốc gia hạ lưu sông Mê Kông nói riêng Chính điều này đã khiến chính

14 https://vietnam.vnanet.vn/vietnamese/viet-nam-dong-gop-tich-cuc-vi-hop-tac-phat-trien-tieu-vung-mekong /368378.html

Trang 27

quyền Obama ra quyết định bước ngoặt, tuyên bố chiến lược “xoay trục" sang khuvực châu Á - Thái Bình Dương nhằm đảm bảo và duy trì vai trò lãnh đạo thế giớicủa nước Mỹ

- Từ sau năm 2006, Mỹ càng ngày càng khẳng định vai trò, tầm quan trọng

của mình trong khu vực Tại hội nghị Thượng đỉnh ASEAN (2009) tại Thái Lan,

Mỹ đã công bố sáng kiến Hạ lưu sông Mê Kông với mục đích đẩy mạnh hợp tác, trợgiúp về môi trường, y tế, giáo dục và phát triển cơ sở hạ tầng đối với các nước TháiLan, Lào, Campuchia và Việt Nam15 Từ năm 2009 đến nay, sáng kiến Hạ lưu sông

Mê Kông đã nhận được sự ủng hộ tích cực của các quốc gia trong hạ lưu sông MêKông, Mỹ đã tích cực triển khai, mở rộng nhiều các dự án giúp các nước tiểu vùngnâng cao năng lực quản lý và sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên dosông Mê Kông mang lại Hai sáng kiến tiêu biểu trong hợp tác Mỹ - Mê Kông là

“Chương trình dự báo Mê Kông” (2009) và sáng kiến giữa hai Ủy hội sông MêKông và sông Misissipi (2010)

Cũng trong năm 2009, Mỹ đã tài trợ cho các nước ở hạ lưu sông Mê Kôngtrong: lĩnh vực môi trường 7 triệu USD, Mỹ tài trợ 138 triệu USD cho việc cải thiện

y tế, tập trung điều trị, phòng chống các bênh lây nhiễm, trong lĩnh vực giáo dục

Mỹ cũng tài trợ khoảng 16 triêu USD nhằm hỗ trợ các chương trình trao đổi học giảvới các nước trong tiểu vùng sông Mê Kông thông qua chương trình học bổngFullbright và các chương trình giáo dục khác16 Năm 2010, tại Hà Nội, trong khuônkhổ hợp tác Mỹ - Mê Kông, bộ trưởng ngoại giao các nước đã nhất trí tiếp tục đẩymạnh quan hệ hợp tác giữa Mỹ và các quốc gia tiểu vùng sông Mê Kông Ngoạitrưởng Mỹ Hillary Clintơn còn nhấn mạnh việc tận dụng ưu thế của sông Mê Kôngcũng như đối phó với tình trạng biến đổi khí hậu, nguồn nước vừa là cơ hội vừa làthách thức đối với các quốc gia thuộc tiểu vùng17 Qua mỗi kỳ Hội nghị Bộ trưởngngoại giao sáng kiến hạ nguồn Mê Kông, Mỹ càng giữ vững cam kết đồng hànhcùng các nước trong khu vực tiểu vùng Mới đây nhất, tại hội nghị Bộ trưởng Ngoại

15 http://www.mrcmekong.org/news-and-events/news/usa-mekong-basin-cooperation-follows-asean-meeting/

16 US-Lowe Mekong Countries Meeting: US Department of Stale, July 23, 2009

17 truyn-thng

Trang 28

http://nghiencuubiendong.vn/quan-h-quc-t/2012-hp-tac-my-ha-nguon-me-cong-vt-tren-can-bng-quyn-lc-giao sáng kiến hạ nguồn Mê Kông lần thứ 11 tại Singapore (8/2018) với sự tham dựcủa Bộ trưởng ngoại giao các nước Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan, ViệtNam, Mỹ và Tổng thư ký ASEAN, hội nghị đã thông qua Tuyên bố chung, Tài liệu

về tái cơ cấu sáng kiến hạ lưu sông Mê Kông và kế hoạch hành động giai đoạn2016-202018

Có thể thấy rằng, với việc khởi động sáng kiến hạ lưu sông Mê Kông là một

cố gắng nhằm nâng cao vị thế của Mỹ trong khu vực Đông nam Á Giữa thời điểmtình hình thế giới và khu vực có nhiều biến động, đặc biệt sự trỗi dậy của TrungQuốc thì động thái này của Mỹ như gửi tín hiệu “kiềm chế” đối với Trung Quốc.Thêm vào đó, những đóng góp tài trợ mang tính xây dựng của Mỹ đối với các nướcthuộc tiểu vùng cũng giúp Mỹ khẳng định ảnh hưởng của mình đối với khu vựcchâu Á – Thái Bình Dương

* Đối với Hàn Quốc

Từ giữa những thập niên 1990, Hàn Quốc đã quan tâm tới các dự án pháttriển của tiểu vùng sông Mê Kông khi dự án này bắt đầu từ một vài năm trước đó(1992) Một số công ty Hàn Quốc đã tham gia trong việc phát triển các dự án đường

sá và năng lượng Tuy nhiên, việc hợp tác song phương giữa Hàn Quốc và các nướctiểu vùng sông Mê Kông chỉ phát triển mạnh kể từ sau kí kết Hiệp định mậu dịch tự

do Hàn Quốc – ASEAN năm 2007

Kể từ đó tới nay, quan hệ giữa Hàn Quốc và các nước trong khối ASEANkhông ngừng được đẩy mạnh Đầu tư hàng năm của Hàn Quốc vào tiểu vùng MêKông tăng lên mạnh mẽ Trong số các nước Mê Kông, Việt Nam là quốc gia đầutiên đón nhận đầu tư nước ngoài của Hàn Quốc, tiếp theo là Campuchia và TháiLan Theo thống kê, trong giai đoạn 1987-2017, các khoản viện trợ của Hàn Quốcdành cho khu vực Mê Kông chiếm 74% tổng viện trợ ODA của Hàn Quốc choASEAN Ngoài ra, Chính phủ Hàn Quốc cũng tài trợ 4,3 triệu USD cho Quỹ Hợptác Mê Kông - Hàn Quốc (MKCF) giai đoạn 2013-201719 Tại Hội nghị Bộ trưởng

18 http://baoquocte.vn/lmi-la-dong-luc-quan-trong-doi-voi-su-ket-noi-o-tieu-vung-mekong-75439.html

19 https://www.vietnamplus.vn/hoi-nghi-amm-51-han-quoc-cam-ket-tang-tai-tro-cho-cac-nuoc-o-mekong/ 517140.vnp

Trang 29

Ngoại giao Mê Kông - Hàn Quốc lần thứ 8 (8/2018), Hàn Quốc tuyên bố, sẽ triểnkhai Chính sách hướng Nam mới và quyết tâm tăng cường hợp tác với khu vực MêKông cũng như tăng viện trợ phát triển chính thức (ODA) cho các nước ASEAN vànguồn tài chính cho Quỹ Hợp tác Mê Kông -Hàn Quốc (MKCF) Hai bên cũng nhấttrí tiếp tục hợp tác tăng cường kết nối, thu hẹp khoảng cách phát triển và nâng caonăng lực phát triển bền vững; nâng cấp cơ chế làm việc và khả năng tổ chức Hộinghị cấp cao Mê Kông - Hàn Quốc lần thứ nhất vào năm 2019.

Nhìn chung, cho đến nay, các lĩnh vực hợp tác của Hàn Quốc đối với cácquốc gia tiểu vùng sông Mê Kông còn khá khiêm tốn, chưa tương xứng với tiềmnăng của khu vực này và so với mối quan hệ hợp tác Hàn Quốc – ASEAN Trongbối cảnh có sự gia tăng cạnh tranh giữa các nước lớn tại khu vực GMS như TrungQuốc, Nhật Bản, Mỹ… thì Hàn Quốc càng phải đẩy nhanh tiến trình hợp tác hơnnữa để tận dụng tối đa tiềm năng của khu vực này cũng như vai trò của Hàn Quốcđối với GMS Trong tương lai, nếu tiềm năng phát triển của GMS kết hợp với kinhnghiệm phát triển kinh tế của Hàn Quốc được phát huy hiệu quả sẽ đóng góp rấtnhiều cho sự tăng trưởng chung của nền kinh tế khu vực và thế giới20

* Đối với Nhật Bản

Khác với Mỹ và Hàn Quốc, Nhật Bản là quốc gia tích cực và nhất quán can

dự vào khu vực này liên tục nhất Nỗ lực đầu tiên của Nhật Bản là giúp đỡ các nướcCampuchia, Lào, Việt Nam (CLV) tham gia vào ASEAN Và sau khi các nướcCLV lần lượt trở thành thành viên ASEAN, Nhật Bản lại tiếp tục trợ giúp các nướcnày thu hẹp khoảng cách về kinh tế đối với các nước đi trước trong ASEAN Tuynhiên, kể từ khi cuộc khủng hoảng tài chính 1997, mối quan hệ của Trung Quốc đốivới các nước Đông Nam Á ngày càng khăng khít hơn thể hiện qua việc Trung Quốctrở thành một thành viên đối thoại ASEAN +3 và kí kết hiệp định thương mại tự do(FTA) với ASEAN Giữa bối cảnh đó, Nhật Bản cũng thúc đẩy song phương trongcác quan hệ ngoại giao và kinh tế đối với các nước CLV và Thái Lan Quốc gia nàycũng tiến hành đàm phán cho hiệp định đối tác kinh tế đối với ASEAN cũng như

20 Lê Văn Mỹ (2016), Trung Quốc trong hợp tác tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng: Tác động và ảnh hưởng, NXB Khoa học Xã hội Hà Nội, tr221

Trang 30

với từng thành viên của nhóm này trên cơ sở song phương, nhằm tăng cường liênkết kinh tế giữa Nhật Bản và ASEAN Ngay từ năm 1998, khi hội nghị Bộ trưởngGMS đồng ý kế hoạch xây dựng Hành lang kinh tế GMS, chính phủ Nhật Bản đãtích cực viện trợ cho các dự án cơ sở hạ tầng như Hành lang Đông – Tây (EWEC)

và Hành lang phía Nam (SEC) Nhật Bản cũng tỏ rõ quan điểm của mình khi khôngviện trợ cho các dự án trong Hành lang Bắc – Nam vì Nhật Bản không muốn đónggóp để xúc tiến sự liên kết giữa Trung Quốc và các nước Đông Nam Á21 Tháng12/2003, Nhật Bản công bố chính sách “Định hướng mới trong phát triển khu vực

Mê Kông”, theo đó, nước này bắt đầu triển khai hợp tác song phương với các nướctrong khu vực tiểu vùng Thời gian đầu chủ yếu là với Campuchia, Lào và ViệtNam22 Từ năm 2007, đối tượng hợp tác cũng như viện trợ có thêm Myanmar vàThái Lan, qua đó tạo nền tảng ra đời Hội nghị Bộ trưởng cấp cao Mê Kông - NhậtBản, trong đó phía “Mê Kông” không bao gồm Trung Quốc

Cho tới năm 2007, tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 12 tại Philippines,hợp tác Nhật Bản – Mê Kông chính thức được hình thành Tại Hội nghị này, NhậtBản đưa ra chương trình quan hệ đối tác Nhật Bản - Mê Kông, tập trung vào cáclĩnh vực ưu tiên đó là: Hội nhập kinh tế Tiểu vùng, mở rộng thương mại đầu tư giữaNhật Bản và khu vực Mê Kông; theo đuổi các giá trị phổ cập và mục tiêu chung củakhu vực Nhật Bản lần lượt ra tuyên bố xác nhận ý nghĩa và phương hướng hợp tácvới các nước khu vực Mê Kông vào các năm 2009, 2012 và 2015 Khuôn khổ hợptác nhấn mạnh vào các trụ cột như viện trợ đa phương và song phương, phát triển cơ

sở hạ tầng vận tải, năng lượng; thúc đẩy liên kết khu vực; đẩy mạnh công nghiệp vàphát triển nguồn nhân lực, đưa khu vực Mê Kông vào mạng lưới sản xuất của ĐôngÁ; xây dựng cộng đồng bền vững trước thiên tai và biến đổi khí hậu… Bên cạnh đó,định hướng các nước Mê Kông củng cố sâu sắc tính thống nhất trong khu vực, hoànthiện phát triển kinh tế dẫn đến sự ổn định chính trị và thịnh vượng lâu dài toànchâu Á Tại Hội nghị Bộ trưởng Hợp tác Mekong - Nhật Bản lần thứ 11 (8/2018),

21 Masaya Shiraishi (2012), Tiểu vùng sông Mê Kông với Trung Quốc, Nhật Bản và Mỹ, Tạp chí nghiên cứu Trung Quốc, số 5 (129).

22 https://thanhnien.vn/the-gioi/nhan-dien-chinh-sach-me-kong-cua-nhat-ban-966860.html

Trang 31

hội nghị đã công bố các ưu tiên của hợp tác Mê Kông - Nhật Bản trong thời gian tớibao gồm: kết nối con người; và phát triển bền vững Các Bộ trưởng nhất trí tăngcường kết nối tiểu vùng thông qua phát triển “hạ tầng chất lượng” trên cơ sở phùhợp với nhu cầu phát triển của các nước Mê Kông; đồng thời tăng cường hợp tácphát triển nhân lực công nghiệp, y tế và đào tạo Các Bộ trưởng khẳng định quyếttâm tăng cường phối hợp giữa hợp tác Mê Kông - Nhật Bản và Ủy hội sông MêKông, đặc biệt là về quản lý bền vững nguồn nước, bao gồm nguồn nước xuyênbiên giới23

Sự can dự của Nhật Bản vào sự phát triển khu vực Mê Kông cho thấy sự hợptác kinh tế của Nhật Bản với các nước đang phát triển, đồng thời đây cũng khẳngđịnh chiến lược ngoại giao của Nhật Bản Đây như một yếu tố của sự hợp tác kinh

tế của Nhật Bản với các nước đang phát triển Cụ thể, sự thịnh vượng và ổn định ởchâu Á – nằm trong lợi ích quốc gia của Nhật Bản Trong những năm gần đây, NhậtBản cũng củng cố đường hướng của mình, gắn viện trợ phát triển của nước này chokhu vực Mê Kông với các hoạt động thương mại và đầu tư của các công ty tư nhânNhật Bản trong khu vực Thêm vào đó, sự can dự của Nhật Bản liên quan đến chiếnlược ngoại giao của nước này Bởi kể từ sau khi Thủ tướng Shizo Abe lên nhậmchức lần 2 (năm 2012), Nhật Bản đã và đang tăng cường mạnh mẽ các mối quan hệvới “các nước có cùng tư tưởng” như Mỹ, Úc, Ấn Độ và các quốc gia ASEAN,cũng như nâng cấp chính sách an ninh quốc gia của Nhật Bản trong những bước đimang tính tiếp cận, theo nguyên tắc “chủ động đóng góp cho hòa bình” Đươngnhiên, dưới tất cả điều này, thách thức rõ ràng do Trung Quốc gây ra ở Biển Đông

và biển Hoa Đông Bởi vậy, sự hợp tác Mê Kông - Nhật Bản như một phương tiệncải thiện môi trường an ninh ở Đông Á Ngoài ra, những “nước cờ” của Nhật Bảnhiện nay tại khu vực này cũng là động thái của Nhật Bản nhằm cải thiện môi trường

an ninh ở Đông Nam Á trước những thách thức đến từ Trung Quốc

* Đối với Ấn Độ

23 https://vov.vn/chinh-tri/hoi-nghi-bo-truong-hop-tac-mekong-nhat-ban-lan-thu-11-795742.vov

Trang 32

Tháng 10/2014, Chính phủ Ấn Độ đã chuyển từ Chính sách Hướng Đôngsang Hành động hướng Đông, xem thúc đẩy hợp tác với Tiểu vùng Mê Kông làbước đầu tiên cho chính sách Hành động hướng Đông Ấn Độ đẩy nhanh phát triển

cơ sở hạ tầng nhằm nâng cao hiệu quả hợp tác với khu vực Tháng 7/2017, Ấn Độthông qua kế hoạch trị giá 256 triệu USD nâng cấp tuyến đường dài 1.360 km nốigiữa Đông Bắc Ấn Độ với Myanmar, tới Mae-Sot, Thái Lan và về phía Đông Nam

Á Theo các nhà quan sát, quyết định của Ấn Độ khởi động lại kế hoạch nâng cấpcon đường quốc lộ đã đánh dấu giai đoạn tiếp theo trong cuộc cạnh tranh với TrungQuốc nhằm giành ảnh hưởng chiến lược trong khu vực

Ngoài ta, tuyên bố chung của Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao Hợp tác MêKông – Sông Hằng (MGC) lần thứ 8 diễn ra ở Philippin (8/2017) nêu rõ: “Cần tăngcường nỗ lực hướng tới việc thúc đẩy kết nối giữa Ấn Độ và khu vực tiểu vùng sông

Mê Kông, nhất trí thành lập Nhóm làm việc chung MGC để tìm kiếm các cách thứctăng cường vận tải hàng hóa trên biển và kết nối trên đất liền giữa các nước MGC,trong đó có việc mở rộng đường cao tốc 3 bên (Ấn Độ – Myanmar – Thái Lan) sangCampuchia, Lào và Việt Nam, đồng thời kết nối Hành lang kinh tế Đông – Tây vàHành lang kinh tế duyên hải phía Nam với tiểu lục địa Ấn Độ

Ấn Độ đã và đang thúc đẩy vai trò và ảnh hưởng của mình tại châu Á nóichung và Tiểu vùng Mê Kông nói riêng nhằm cạnh tranh với Trung Quốc về phạm

vi ảnh hưởng tại Ấn Độ – Thái Bình Dương Các nước Đông Nam Á cũng như cácnước thuộc Tiểu vùng Mê Kông đang bám sát chặt chẽ và cẩn trọng những điềuchỉnh chiến lược cùng “độ nóng” của sự cạnh tranh giữa 2 cường quốc này tại khuvực để tìm ra những đối sách thích ứng

1.3 Chiến lược của Trung Quốc đối với Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng trước năm 2006

Sau chiến tranh lạnh, tình hình thế giới có nhiều chuyển biến theo hướng tíchcực Các nước trong lưu vực sông Mê Kông đều chủ động trong việc hội nhập với

xu hướng toàn cầu hóa kinh tế Cũng trong thời gian này, Trung Quốc và ASEANbắt đầu quá trình bình thường hóa quan hệ, tạo ra bầu không khí chính trị hòa dịu

Trang 33

trong khu vực Đây chính là điều kiện thuận lợi để Trung Quốc và các nước tronglưu vực sông Mê Kông thúc đẩy hợp tác cùng phát triển.

Trong lịch sử, ý đồ mở rộng ảnh hưởng của Trung Quốc đối với các nướcGMS bắt đầu manh nha xuất hiện từ năm 1985 Tạp chí “Beijing Review” củaTrung Quốc đăng tải một ý kiến chuyên gia đề cập tới vấn đề Trung Quốc cần thựchiện giải pháp nào để phát triển các tỉnh phía Tây bao quanh bởi đất liền, trong đó

có tỉnh Vân Nam nơi sông Mê Kông chảy qua trước khi đổ vào khu vực Đông Nam

Á Theo ý tưởng đó, Trung Quốc sẽ sử dụng nguồn lực nội địa để thực hiện chươngtrình xây dựng cơ sở hạ tầng mạnh và tạo ra những mối liên hệ xuyên biên giới vớicác nước bao quanh tỉnh Vân Nam Mục tiêu đầu tiên trong kế hoạch này làMyanmar – quốc gia duy nhất ở thời điểm đó Trung Quốc có mối quan hệ tốt đẹp

và ổn định Mục tiêu mở ra mặt trận phát triển tại phía Tây độc lập với các tỉnhduyên hải phía Đông24

Nhưng đó mới dừng lại ở ý đồ manh nha bởi giai đoạn đó Trung Quốc đượcmệnh danh là “một cường quốc khu vực mà không có một chính sách khu vực”.Cho tới giữa thập niên 90, chính phủ Trung Quốc đã từng bước thay đổi khi triểnkhai chính sách “ngoại giao láng giềng tốt” (mulin youhao waijiao) qua đó họ đã cónhững nỗ lực trên nhiều lĩnh vực nhằm cải thiện quan hệ với tất cả các quốc gialáng giềng Cụ thể, cựu Thủ tướng Trung Quốc Chu Dung Cơ (1998 - 2003) chủtrương chủ động trong các mối quan hệ với các nước hạ nguồn sông Mê Kông, vềsau Chủ tịch Hồ Cẩm Đào cũng tiếp tục duy trì chính sách này25

Cũng trong giai đoạn này, ADB khởi động các cuộc đàm phán với các quốcgia dọc sông Mê Kông (Trung Quốc, Lào, Myanma, Thái Lan, Campuchia và ViệtNam) và được Trung Quốc nhiệt liệt chào đón bởi đây như một “cây cầu” giúpTrung Quốc thực hiện chính sách phát triển miền Tây Trung Quốc triển khai chiếnlược phát triển phía Tây (khai phá miền Tây) - đây là khu vực kém phát triển vềkinh tế Vì thế, Trung Quốc đã đầu tư vào xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển mối

24 Thông Tấn Xã Việt Nam, Tài liệu tham khảo đặc biệt, Hợp tác Trung Quốc – ASEAN trong lĩnh vực giao thông sông Mê Kông, 12/04/2006, trang 4

25 Steven I Levine, “China in Asia: The PRC as a Regional Power,” in Harry Harding, ed., China’s Foreign Relations in the 1980s (Yale University Press, 1984),), tr 107.

Trang 34

quan hệ chính trị thân thiện với các quốc gia láng giềng phía Nam nhằm tìm conđường cửa ngõ ra biển, thúc đẩy phát triển kinh tế nơi đây Nói cách khác GMSđược coi là cầu nối quan trọng giữa các tỉnh miền Tây Trung Quốc với các nướcĐông Nam Á

Trung Quốc tiếp tục từng bước hiện thực hóa ý đồ của mình qua những hànhđộng cụ thể Trung Quốc phát triển sự kết nối của mình xuống các quốc gia lánggiềng phía Nam Một loạt các cuộc thăm cấp cao nhà nước đã diễn ra sau khi TrungQuốc thực hiện chính sách thân thiện láng giềng của mình Tháng 10/1989, Tổng BíThư Đảng nhân dân cách mạng Lào, Cayxỏn Phomvihản đến thăm Trung Quốc, haibên chính thức bình thường hóa quan hệ Tháng 11/1991, Tổng Bí Thư Đảng cộngsản Việt Nam Đỗ Mười và Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Võ Văn Kiệt đã đến thămTrung Quốc, hai bên thiết lập mối quan hệ trở lại Trung Quốc và Thái Lan cũng đãthiết lập quan hệ từ năm 1975 đến những năm 90 đã nâng lên quan hệ đối tác chiếnlược toàn diện Quan hệ Trung Quốc - Campuchia phát triển ổn định sau năm 1991,

sự gia tăng hiểu biết lẫn nhau mang lại sự tin tưởng cho cả hai bên Đó chính là nềntảng cho Trung Quốc và các nước GMS tăng cường hợp tác kinh tế26

Từ năm 1992 - 2005, Trung Quốc và các nước GMS đã thực hiện một loạtcác hợp tác trong lĩnh vực giao thông vận tải, năng lượng, viễn thông, du lịch, môitrường, thương mại, đầu tư và phát triển nguồn nhân lực Vào năm 1994, TrungQuốc đã có những hành động thiết thực nhằm thực hiện chương trình hợp tác GMS

Để có hiệu quả trong việc hướng dẫn công việc kịp thời Chính phủ Trung Quốc đãthành lập “Nhóm điều phối quốc gia nghiên cứu về phát triển hợp tác Lan Thương –

Mê Kông” Nhóm chuyên viên cao cấp này cùng với Ủy ban nhà nước về cải cách

và phát triển, Bộ tài chính, Ủy ban nhà nước về khoa học và công nghệ đã triệu tậpnhiều cuộc hội thảo bàn về chính sách, biện pháp cho hợp tác tại khu vực.27

Tại Hội nghị Trung Quốc – ASEAN năm 1997, Trung Quốc và ASEANcũng đã kí tuyên bố chung Theo đó, Trung Quốc và các nước thành viên ASEAN

26 Hao Hongmei, China’s trade and economic relations with CLMV;

http://www.eria.org/uploads/media/Research-Project-Report/RPR_FY2007_4_Chapter_6.pdf

27 Poon Kim Shee, The political economy of china – Myanmar relations: strategic and economic dimensions; http://burmalibrary.org/docs2/Chinese_MM_Eco.pdf

Trang 35

coi trọng quan hệ đối tác láng giềng và tin tưởng lẫn nhau giữa hai bên, tái khẳngđịnh lợi ích chung trong hợp tác GMS và cam kết tăng cường hỗ trợ cho các quốcgia ven sông bằng cách thúc đẩy hoạt động trên nhiều Ngoài ra, Trung Quốc cũng

đã kí rất nhiều hiệp định song phương với các nước GMS Từ năm 1991 – 1995,Trung Quốc và Việt Nam đã kí 16 thỏa thuận liên quan đến hợp tác kinh tế nhưHiệp định về thương mại (11/1991), Hiệp định về tránh đánh thuế hai lần và ngănngừa trốn thuế (5/1995) Trung Quốc và Myanmar đã kí kết một số thỏa thuận songphương như Hiệp định thúc đẩy hợp tác kinh tế (5/1997), Hiệp định hợp tác kinh tế

và kỹ thuật (6/2000) Trung Quốc và Campuchia đã kí kết Hiệp định về bảo hộ đầu

tư (1996), Hiệp định về thành lập Ủy ban hợp tác kinh tế và thương mại giữa TrungQuốc và Campuchia (2000) Trung Quốc và Lào đã kí hiệp định hợp tác về kinh tế

và kỹ thuật (1999), ký kết Bản ghi nhớ chung về hợp tác song phương (11/2000)28

Trên lĩnh vực kinh tế, trong những năm 90, thương mại giữa Trung Quốc vàcác nước GMS tăng lên đều đặn Năm 2000, Trung Quốc là bạn hàng lớn thứ 7 củaThái Lan Thương mại Trung Quốc - Việt Nam vượt qua 1 tỉ USD Thương mạiTrung Quốc - Myanmar năm 1995 cũng đạt giá trị thương mại hai chiều là 1,5 tỉUSD tương đương 60% giá trị ngoại thương của Myanmar Trong thương mạiTrung Quốc – Campuchia, hai bên cũng có những triển vọng phát triển hợp tác kinh

tế từ 121 triệu USD năm 1997 lên tới 277 triệu USD năm 2002 Thương mại TrungQuốc - Lào chiếm khối lượng ít nhất trong 5 nước GMS còn lại, từ năm 1994 mớibắt đầu khởi động, nhưng khối lượng thương mại giữa hai bên cũng tăng lên rấtđều Trong quan hệ đầu tư giữa Trung Quốc với các nước GMS tăng nhanh kể từnăm 1990 Chỉ tính riêng tại Lào, nếu như giai đoạn trước đầu tư của Trung Quốcvào Lào không lớn so với các quốc gia trong GMS, nhưng tính tới năm 2002, TrungQuốc đã giữ vị trí thứ 3 trong số các đối tác nước ngoài tại Lào Số hạng mục đầu tưcủa Trung Quốc vào Lào đạt 83 dự án, vốn đầu tư theo thỏa thuận là hơn 7,4 tỉ USD(2002) Đầu tư của Trung Quốc vào Campuchia tăng nhanh với số vốn đầu tư trựctiếp là 28,4 triệu USD năm 2000 Đối với Việt Nam, trong 9 năm kể từ khi bình

28 Lê Thị Diệp (2013), Luận văn Thạc sĩ ngành Lịch sử, Trung Quốc tham gia hợp tác Tiểu vùng sông Mê

Kông mở rộng 2002 -2012; tr.46.

Trang 36

thường hóa (từ năm 1991 đến năm 1999), Trung Quốc mới có 76 dự án với tổng sốvốn đầu tư theo giấy phép là 120 triệu USD29.

Về viện trợ, trước năm 2006 Trung Quốc tăng cường viện trợ xuống ĐôngNam Á cùng với tăng cường sức mạnh tổng thể quốc gia và điều chỉnh chính sáchđối ngoại của mình Ngoài ra, Trung Quốc và các nước GMS nhất trí với sáng kiếnxây dựng các hành lang kinh tế: Bắc – Nam, Đông – Tây và phía Nam Về hợp táckhai thác vận tải trên sông Mê Kông Năm 1994, Chính phủ Trung Quốc phê chuẩnđưa việc khai thác hạ lưu sông Lan Thương – Mê Kông vào dự án ưu tiên của

“Chương trình nghị sự thế kỉ XXI của Trung Quốc” Tháng 11/1994, chính phủTrung Quốc cho thành lập “Tiểu ban lãnh đạo điều hòa, nghiên cứu, khai thác lưuvực sông Lan Thương” cấp nhà nước Sau đó tỉnh Vân Nam cũng thành lập một cơchế tương ứng nhằm chỉ đạo sát việc khai thác tuyến đường thủy trên sông MêKông.30

Tháng 4/2000, 4 nước đạt được nhận thức chung, chính thức kí hiệp địnhthông tàu trên tuyến đường sông Lan Thương - Mê Kông trong đó quy định làmsạch lòng sông đến đoạn chảy qua Luôngphabang của Lào Năm 2000, tại Hội nghịcấp bộ trưởng lần thứ 9 của hợp tác GMS, Hội nghị đã thông qua tuyên bố “Mở cửabiên giới, bắt tay hợp tác”.31 Cũng tại hội nghị này, lãnh đạo tỉnh Vân Nam đã đưa

ra ý tưởng chiến lược tham gia hợp tác kinh tế tiểu vùng nhằm thúc đẩy sự hiểu biếtlẫn nhau, cùng hợp tác khai thác tài nguyên và khắc phục những khó khăn trở ngại

Ngoài ra, trước năm 2006, mối quan hệ Trung Quốc – GMS còn thể hiện trênnhiều lĩnh vực khác: Bảo vệ môi trường, tài nguyên thiên nhiên, văn hóa - giáo dục…

Trang 37

1.4 Bối cảnh quốc tế và khu vực tác động đến sự điều chỉnh chiến lược của Trung Quốc đối với Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng

Là siêu cường thế giới, chính quyền Mỹ cho rằng họ cần chợp thời cơ thiếtlập một trận tự thế giới do Mỹ đứng đầu Trong khi đó, các nước lớn như Nga,Trung Quốc, v.v lại theo đuổi việc đấu tranh cho một thế giới đa cực Và nhữngdiễn biến thế giới đã và đang xảy ra trong giai đoạn hiện nay càng cho thấy rõ, cụcdiện thế giới đa cực ngày càng nổi trội, xu thế dân chủ hóa trong quan hệ quốc tế sẽtiếp tục phát triển những các nước lớn vẫn sẽ đóng vai trò chủ đạo trong mối quan

hệ này Đặc biệt, với tính chất giao lưu quốc tế như hiện nay, các mối quan hệ giữacác quốc gia sẽ chuyển hướng linh hoạt, vừa hợp tác, vừa đấu tranh

* Toàn cầu hóa là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia đã tạo ra sự thay đổi đáng kể trong quan hệ quốc tế

Xu thế này đã hình thành từ đầu thế kỷ XX, được đẩy mạnh trong hai thậpniên cuối thế kỷ và nó đang diễn ra mạnh mẽ hơn trong thế kỷ XXI Không thể phủnhận những tác động tích cực của xu thế này, toàn cầu hóa đã trở thành một xu thếtất yếu của thế giới đương đại, đây là một quá trình diễn ra mà thông qua đó thịtrường và sản xuất ở nhiều nước khác nhau ngày càng phụ thuộc vào nhau Toàncầu hóa có vai trò to lớn trong việc thúc đẩy xu thế hòa bình, hợp tác để phát triểntrong quan hệ quốc tế Toàn cầu hóa tháo dỡ những rào cản đối với thương mại tư

do, làm cho giao lưu kinh tế diễn ra mạnh mẽ Toàn cầu hóa và cách mạng công

Trang 38

nghệ thông tin cũng tạo điều kiện thuận lợi cho các quốc gia kém phát triển hơn tiếpcận nhanh chóng với sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật, đồng thời có điều kiện đónggóp tích cực vào sự phát triển văn minh nhân loại Chính nhờ sự phát triển của xuthế này khiến cho những hợp tác, liên kết khu vực ngày càng đẩy mạnh Ngay trongkhu vực năng động châu Á – Thái Bình Dương, một loạt những hợp tác songphương, đa phương được kí kết đã góp phần thay đổi đáng kể bộ mặt khu vực này.

* Quan hệ giữa các nước lớn – nhân tố quan trọng tác động đến sự phát triển thế giới

Các nước lớn và quan hệ giữa các nước lớn có vai trò đặc biệt đối với sự pháttriển thế giới 12 nước lớn (Mỹ, Canada, Braxin, Nga, anh, Pháp, Đức, Italia, TrungQuốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Nam Phi) chiếm hơn 1/3 lãnh thổ và quá nửa dân số thếgiới, hơn 70% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của thế giới Mỗi nước lớn đều coitrọng việc xác lập và củng cố những điều kiện quốc tế có lợi cho mình, tăng cường

hệ số an toàn quốc gia, xây dựng những mối quan hệ đối tác chiến lược theo cácquy mô khác nhau Vậy nên, các nước lớn đều tích cực tham gia các diễn đàn hợptác khu vực lớn nhỏ, nhằm nâng cao vị trí ảnh hưởng của mình đối với các nướctrên toàn thế giới

1.4.2 Tình hình khu vực

* Các nước lớn có sự điều chỉnh chính sách đối với Đông nam Á

Trong bối cảnh quốc tế mới hình thành sau chiến tranh lạnh Các nước lớnđều từng bước điều chỉnh chính sách đối với Đông Nam Á Mục tiêu chung của cácquốc gia này chính là gia tăng, củng cố ảnh hưởng tại khu vực, tạo tiền đề cho việcthực hiện chiến lược châu Á – Thái Bình Dương của các nước

Đối với Mỹ: Sau Chiến tranh lạnh, mặc dù vị trí Đông Nam Á có phần suy

giảm trong chiến lược toàn cầu của Mỹ, nhưng Mỹ vẫn có những lợi ích chiến lượctại khu vực Mục tiêu mà Mỹ theo đuổi trong chính sách Đông Nam Á chính làngăn chặn không cho các nước lớn khác xác lập quyền ưu thế tuyệt đối tại khu vực,đồng thời duy trì ảnh hưởng và quyền lợi của Mỹ tại đây Để đạt được điều đó, Mỹ

đã tiến hành một loạt các biện pháp: Củng cố tăng cường quan hệ với các nước

Trang 39

đồng minh trong khu vực, tìm mọi cách lôi kéo các nước Đông Nam Á tham gia

“mặt trận thứ hai trong cuộc chiến chống khủng bố” của Mỹ; tăng cường quan hệvới các nước ASEAN làm cho họ ngày càng lệ thuộc vào Mỹ về kinh tế; phản đốitham vọng độc chiếm biển Đông của bất cứ quốc gia nào nhằm đảo bảo quyền tự dohàng hải trên các tuyến giao thông qua biển Đông; tạo điều kiện chi viện cho haiđồng minh Nhật Bản và Hàn Quốc nhằm kiềm chế Trung Quốc

Sau sự kiện 11/9/2001, Mỹ đã gia tăng sự hiện diện và tái can sự tại ĐôngNam Á phù hợp với chiến lược toàn cầu mới (2002) Mỹ đã kí kết hàng loạt cácthỏa thuận quân sự mới với các nước đồng minh truyền thống, cho họ được hưởngQuy chế đồng minh chiến lược ngoài tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương(NATO) như ký Thỏa thuận về các lực lượng viếng thăm (1999), Hiệp định cùngnhau chi viện hậu cần với Philippines (2002), lập trung tâm chống khủng bố vớiThái Lan (2003) Ngoài ra Mỹ còn mở rộng hợp tác an ninh quốc phòng vớiIndonesia và Việt Nam Mỹ cũng tìm cách lôi kéo các nước khác như Campuchia,Lào, Myanmar nhằm tạo một mạng lưới nhằm thực hiện chiến lược toàn cầu mới,trong đó có việc kìm chế sự trỗi dậy Trung Quốc

Đặc biệt, dưới thời chính quyền của Tổng thống Barack Obama, chiến lược

“xoay trục” sang Châu Á, hay còn gọi là “tái cân bằng” khu vực Châu Á – TháiBình Dương (2011) được xem là một trong những di sản đối ngoại nổi bật của vịTổng thống da màu32 Ngay sau đó, Mỹ đã đưa ra một loạt các hành động nhằmkhẳng định cho cam kết này Cùng lúc với rút quân khỏi Iraq và A Phú Hãn, Tổngthống Obama cam kết chuyển 60% lực lượng hải quân về Thái Bình Dương Cácnhà quan sát cho rằng, nguyên nhân chính là do sự trỗi dậy của Trung Quốc làm cácnước trong khu vực ngày càng lo ngại và mong muốn Mỹ tăng cường sự hiện diện

để làm thế lực đối trọng Mặt khác, châu Á - Thái Bình Dương là khu vực có tầmquan trọng về mặt kinh tế và chiến lược trong bối cảnh Mỹ đang trải qua tình trạngkinh tế suy thoái sau cuộc khủng hoảng tài chánh thế giới Nếu quốc gia này khôngchứng minh quyết tâm sát cánh đối với các quốc gia đồng minh và thân thiện tại

32 thai-binh-duong.

Trang 40

http://nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-my/4078-danh-gia-chien-luoc-tai-can-bang-cua-my-tai-cha-a-châu Á, các nước đó có thể phải xét lại lập trường và chuyển hướng đi vào quỹ đạocủa Trung Quốc Từ năm 2009 thì Mỹ đã quyết định ký kết Hiệp ước thân thiện vàhợp tác với ASEAN, đây chính là cánh cửa mở đường cho Tổng Thống BarackObama tham dự cuộc họp thường niên giữa Mỹ và ASEAN đầu tiên và Hội NghịThượng Đỉnh Đông Á vào năm 2011 Cuộc họp các nhà lãnh đạo thường niên đượcnâng cấp thành Hội Nghị Thượng Đỉnh Mỹ - ASEAN vào năm 2013 Vào tháng11/2015, Mỹ và ASEAN công bố quan hệ đối tác chiến lược Theo lời mời củaTổng thống Mỹ Barack Obama, các nhà lãnh đạo ASEAN tham dự Hội nghịThượng đỉnh đặc biệt tại Sunnylands (California) vào tháng 2/2016 Từ năm 2009tới năm 2016, Tổng thống Obama thăm viếng tất cả 14 quốc gia trong khu vực,nhiều hơn tất cả so với các vị tổng thống tiền nhiệm

Nhìn chung, với việc thực hiện chính sách “xoay trục”, Mỹ đưa ra mục tiêutrong quan hệ với Trung Quốc Theo đó, vừa thắt chặt quan hệ hợp tác nhưng cùnglúc tăng cường lực lượng quân sự và ngoại giao để ngăn cản sự trỗi dậy của TrungQuốc đồng thời tạo niềm tin cho các quốc gia khác trong khu vực Đối với Mỹ,Trung Quốc sẽ là một thách thức trường kỳ, kiềm chế sự phát triển của Trung Quốc

sẽ là chính sách chủ chốt của Mỹ Trung Quốc càng lớn mạnh, chiến lược “tái cânbằng Châu Á - Thái Bình Dương” của Mỹ sẽ càng được tăng cường nhằm giữ vững

vị thế chủ đạo của Mỹ trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, ngoại giao ở khu vựcnày

Đối với Nhật Bản: Trong số hơn 200 quốc gia trên thế giới, một số cường

quốc có sức chi phối lớn tới chính trị, kinh tế thế giới và quan hệ quốc tế đương đại.Trong đó Nhật Bản là cường quốc số 3 về kinh tế (GDP năm 2016 của Nhật Bản là4.730,30 tỷ USD) Thu nhập bình quân đầu người ở nước này đạt mức cao,GDP/người năm 2012 của Nhật là 34.870 USD33 Đặc biệt, quốc gia này có sự gắn

bó chặt chẽ với các quốc gia khu vực Đông Nam Á, là đối tác thương mại quantrọng thứ ba của ASEAN sau Trung Quốc và Liên minh Châu Âu (EU), đồng thời lànhà đầu tư thứ hai vào các nền kinh tế khu vực Sau Chiến tranh lạnh, chính sách

33 https://vi.wikipedia.org/wiki/Kinh_t%E1%BA%BF_Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n

Ngày đăng: 03/12/2019, 18:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w